Osho - Con đường bên ngoài mọi
con đường
Chương 11. Vĩnh hằng là gì?
Linh hồn, thực tại tối thượng,
được gọi là twam, ngươi, khi tự
do khỏi mọi tướng mạo
- chân lí, trí huệ, cái vô hạn,
chỗ của phúc lạc -
cũng như vàng khi tự do khỏi
mọi hình dạng vòng đeo hay mũ miện.
Linh hồn vậy được hiển lộ trong
tự tính của riêng nó,
cảm nhận và ý thức.
Brahman, thực tại tối thượng,
là chân lí.
Nó là vô hạn và là chỗ của việc
biết.
Chân lí là không thể huỷ diệt
được.
Cái không bị huỷ diệt, ngay cả
như trung gian của không gian,
thời gian và sự vật bị phá huỷ,
là avinashi, cái không thể bị
huỷ diệt nổi.
Những đồ trang sức có thể được
làm ra từ vàng và nhiều hình dạng là có thể - đẹp hay xấu - nhưng hình dạng
không phải là vàng. Dẫu sao đi chăng nữa thì hình dạng không thể xuất hiện được
nếu không có vàng, nó không thể tồn tại một mình được. Hình dạng không có sự
tồn tại độc lập, nó xuất hiện chỉ khi nó bao cái gì đó.
Cho nên vàng có thể lấy nhiều
hình dạng, nhưng không hình dạng nào là vàng cả. Vàng là tự do với mọi hình
dạng, đó là lí do tại sao hình dạng này có thể đổi thành hình dạng khác. Nếu
như vàng mà có hình dạng cố định, thế thì nó không thể lấy hình dạng khác được.
Tuy nhiên chúng ta chưa bao giờ thấy vàng mà không có hình dạng - bất kì khi
nào chúng ta thấy nó, nó đều có hình dạng. Nhưng vàng cũng có thể thay đổi hình
dạng của nó - hôm nay nó là vòng đeo, ngày mai nó có thể được đúc khuôn thành
hình dạng khác nào đó, và ngày kia lại một cái gì khác nữa. Hình dạng thay đổi,
nhưng bản chất bên trong của vàng là bất biến. Cho nên chúng ta không thể thấy
vàng vô dạng, ấy vậy mà vàng không phải là hình dạng.
Hiền nhân này bắt đầu nói với
ví dụ này. Ông ấy nói: “Bất kì cái gì chúng ta thấy trong thế giới này tất cả
đều là hình dạng. Cơ sở trên đó hình dạng xuất hiện là vô dạng, và việc tìm
kiếm cái vô dạng này là việc tìm kiếm chân lí. Nhưng để tìm nó, hình dạng phải
bị vứt bỏ. Tất cả các hình dạng và tất cả các thuộc tính đều cần bị dẹp đi, tất
cả mọi giới hạn phải được siêu việt lên, chỉ thế thì người ta mới có thể đạt
tới cái vô hạn, cái vô giới hạn, cái vĩnh hằng.”
Tâm trí được bao quanh bởi hình
dạng. Quen biết đầu tiên của người ta chỉ là với hình dạng; hình dạng là cái
đầu tiên được thấy. Cái vô dạng không thấy được ở bên ngoài; bất kì cái gì thấy
được ở bên ngoài thì tất cả đều là hình dạng. Đó là lí do tại sao chúng ta trở
nên bị ám ảnh với hình dạng và quên mất rằng cái đó phải là vô dạng, bằng không
làm sao nó có thể lấy nhiều dạng thế?
Cái là hạt mầm hôm nay sẽ trở
thành cây ngày mai. Hạt mầm mà có thể trở thành cây phải chứa cái gì đó vô dạng
bên trong, cái có thể lấy hình dạng của hạt mầm cũng như hình dạng của cái cây.
Cái vô dạng đó phải ẩn giấu trong hạt mầm bởi vì một hạt mầm đó có thể tạo ra
đủ cây bao phủ toàn bộ trái đất. Một hạt mầm tạo ra một cây, và một cây mang
hàng triệu hạt mầm. Nếu chúng ta gieo hàng triệu hạt mầm, từng và mọi hạt mầm
đến lượt chúng sẽ mang hàng triệu hạt mầm nữa; một hạt mầm có thể bao phủ toàn
bộ trái đất bằng cây cối. Chỉ trái đất mới có thể hết chỗ, từ chối nó và nói,
“Đủ rồi! Đừng thêm nữa.”
Có biết bao nhiêu thứ ẩn chứa
bên trong một hạt mầm mà không thể được chứa bên trong hình dạng vật lí của nó.
Hình dạng của hạt mầm là không có ý nghĩa, gần như là cái không. Cái là vô dạng
phải được ẩn giấu bên trong hạt mầm, bởi vì một hạt mầm có thể mang vô số hạt
mầm. Hình dạng không thể tạo ra cái vô hạn được; bất kì cái gì được sinh ra từ
hình dạng đều sẽ hữu hạn. Hạt mầm phải có khả năng hữu hạn, chỉ thế thì hình
dạng của nó mới có nghĩa gì đó. Nhưng tôi đã bảo các bạn rằng một hạt mầm có
thể tràn đầy cả trái đất - cho dù điều này chỉ là một cách diễn đạt. Bằng
không, nếu chúng ta mở rộng toán học của nó một cách đúng đắn, một hạt mầm có
thể rót đầy cả vũ trụ, và ngay cả vũ trụ cũng trở thành không đủ và hạt mầm yêu
cầu nhiều không gian hơn bởi vì sẽ không có chấm dứt cho nó. Một hạt mầm tạo ra
triệu hạt mầm, và từ triệu đó, lại hàng triệu và hàng triệu hạt mầm... không có
chấm dứt cho nó.
Cho nên cái gì được ẩn kín
trong hạt mầm đầu tiên mà có thể được hàm chứa trong bản thân hình dạng? Cái vô
hạn không thể bị hàm chứa trong cái hữu hạn. Hình dạng chỉ có thể hàm chứa cái
hữu hạn. Bản thân hình dạng là giới hạn, cho nên làm sao nó có thể hàm chứa cái
vô dạng, vô giới hạn được? Cho nên khi chúng ta chỉ thấy hình dạng trong hạt
mầm, đấy là lỗi của tầm nhìn của chúng ta bởi vì chúng ta không có khả năng
thấy toàn bộ hạt mầm với mọi tiềm năng của nó. Cái mà có thể hiện hữu được,
theo một cách nào đó, là vốn có trong nó ngay bây giờ, bằng không thì làm sao
nó có thể biểu lộ được trong tương lai? Nếu một hạt mầm này không hàm chứa tất
cả các hạt mầm của thế giới, làm sao chúng có thể biểu lộ trong tương lai?
Chúng được ẩn kín trong nó hôm nay, ở đây và bây giờ, chỉ mắt chúng ta không có
khả năng thấy chúng. Cho nên hình dạng của hạt mầm là ảo tưởng của chúng ta -
bản chất thực của hạt mầm là vô dạng. Bất kì chỗ nào hình dạng được thấy, đấy
là vì tầm nhìn sai sót của chúng ta.
Cũng giống như nhìn bầu trời
qua cửa sổ. Nếu bạn chưa bao giờ thấy bầu trời bên ngoài, bầu trời sẽ trông
dường như nó bị đóng khung. Hình dạng của cửa sổ sẽ dường như là hình dạng của
bầu trời. Cửa sổ đem hình dạng cho bầu trời - nhưng bầu trời là vô dạng. Ngay
cả khi chúng ta đứng bên ngoài nhà mà nhìn lên trời và không có cửa sổ, thế nữa
thì trái đất lại vận hành giống cửa sổ và bầu trời dường như được uốn vòm. Lí
do duy nhất cho cái dáng uốn vòm của bầu trời là ở tính tròn của trái đất. Bầu
trời không tròn - trái đất trở thành cửa sổ và cho nó hình dạng. Mắt chúng ta
không nhiều hơn cửa sổ; mắt chúng ta sẽ ấn định một hình dạng trên bất kì cái
gì chúng ta thấy.
Cho nên, trong thực tế, nhìn ra
bên ngoài chúng ta bao giờ cũng gặp hình dạng và không thấy cái vô dạng. Để tìm
cái vô dạng chúng ta phải nhìn vào bên trong nơi chúng ta có thể gạt bỏ mọi cửa
sổ. Với mắt nhắm chúng ta không cần nhớ tới cửa sổ - chúng ta không cần mắt
nào, cửa sổ nào, hay thậm chí trái đất nào. Đi vào bên trong, chúng ta đi vào
trong cái vô dạng.
Chân lí tồn tại ở bên trong và
bên ngoài, nhưng trước hết người tìm kiếm phải biết chân lí bên trong. Cái ngày
người đó biết tới cái vô dạng bên trong, cái vô dạng trở thành rõ ràng ở bên
ngoài nữa. Thế thì hình dạng còn lại chỉ trên bề mặt như một dáng vẻ, do tự
người ta tạo ra.
Cái vô dạng này là tự do với
mọi mô tả như chân lí, trí huệ, cái vô hạn, chỗ của phúc lạc, nó là tâm thức và
việc biết tựa vàng ròng. Khi một tâm thức như vậy được kinh nghiệm... lời kinh
này rất quí giá... khi một tâm thức như vậy được kinh nghiệm thì nó được gọi là
twam; nó được gọi là người, không phải tôi.
Khi chân lí vô dạng được kinh
nghiệm, không có cách nào để nói tôi, bởi vì tôi là một giới hạn. Và điều bạn
đã gọi là tôi mãi cho tới nay không tồn tại nữa. Bây giờ phải gọi nó là gì? Nó
bao quanh bạn từ mọi hướng, nó hiện diện bên trong và bên ngoài. Mà chúng ta
chỉ có hai từ chúng ta có thể dùng: hoặc tôi hoặc người. Chúng ta không thể nói
tôi, bởi vì chỉ với sự biến mất của tôi thì vô dạng mới được kinh nghiệm. Cho
nên với sự không thích hợp của ngôn ngữ chỉ còn lại một cách để mô tả nó, và đó
là gọi nó là người. Cho nên những người sùng kính đã gọi thực tại tối thượng là
người.
Lí do đầu tiên để gọi nó là
người là bởi vì không có cách nào gọi nó là tôi cả. Thực tế, gọi nó là người
cũng không phải, bởi vì người bao giờ cũng trong quan hệ với tôi; nó là mối
quan hệ. Chừng nào mà tôi có đó, ai đó tồn tại như người. Và khi người có đó,
tôi nữa cũng tồn tại. Trong những khoảnh khắc như vậy người ta kinh nghiệm cái
vô tích sự của ngôn ngữ. Tôi không thể được nói bởi vì nó không còn nữa; nói
người cũng khó khăn, bởi vì thế thì ai sẽ nói nó? Ai sẽ nói người? Nhưng nếu cái
gì đó phải được nói, thế thì nói người còn đúng hơn là nói tôi. Cho dù điều đó
là không đúng, nói người là không đúng, dầu vậy vẫn tốt hơn khi được so sánh
với nói tôi... ít nhất nó cũng truyền đạt việc vắng bóng của tôi. Đây là lí do
thứ nhất.
Thứ hai là chúng ta có thể đã
gọi nó là cái đó - không tôi, không người, mà là cái đó. Người trí huệ cũng đã
gọi nó là cái đó. Nhưng khi sự tồn tại được gọi là cái đó, dường như không còn
mối quan hệ yêu thương nào trong nó; nó có vẻ dường như là một đối tượng. Chúng
ta dùng 'cái đó' cho sự vật, và người cho cá nhân. Và khi kinh nghiệm về điều
thiêng liêng xảy ra, nó không giống như việc kinh nghiệm một vật, nó giống như
việc kinh nghiệm một thực thể tối thượng - cái sống tối thượng tràn đầy tình
yêu vô hạn đang mưa xuống. Kinh nghiệm này giống như việc ôm choàng người yêu,
cho nên gọi nó là 'cái đó' sẽ là bất kính, còn gọi nó là tôi thì lại ở ngoài
vấn đề. Hiền nhân này gọi điều này là tâm thức thuần khiết, không có mọi thuộc
tính và tự do với mọi hình dạng, twam, hay người.
Martin Buber, một nhà tư tưởng
Do Thái vĩ đại của thế kỉ hai mươi, đã viết một cuốn sách, Tôi và Người. Ông ấy
là một trong số ít những người trong lịch sử nhân loại đã giải nghĩa mối quan
hệ sâu sắc nhất giữa tôi và người.
Con người có thể sống theo ba
cách: giữ tôi ở trung tâm và làm người thành ngoại vi - cách mọi người thường
sống - tôi bao giờ cũng ở trung tâm, người ở ngoại vi. Chúng ta dùng người,
chúng ta khai thác người, và chúng ta thiết lập mối quan hệ với người, nhưng
bao giờ cũng vì tôi. Ngay cả nếu chúng ta đôi khi buông xuôi theo người, đấy là
trong hi vọng để làm cho người buông xuôi vì tôi; nhưng mối quan tâm bao giờ
cũng là tôi. Đây là trạng thái của bản ngã - muốn đem cả thế giới về dưới chân
bạn và trang điểm cho cái tôi của bạn. Tôi đứng ở trung tâm và toàn bộ thế giới
trở thành ngoại vi: đây là trạng thái của tâm trí của người phi tôn giáo.
Trạng thái khác của tâm trí là
giữ người ở trung tâm và tôi ở ngoại vi. Trạng thái này là nơi chỉ một khao
khát còn lại và đó là buông xuôi bản thân mình, xoá bỏ bản thân mình, nơi chỉ
một khát khao còn lại và đó là làm sao làm tan biến cái tôi vì người. Đây là
trạng thái của người sùng kính, của người tôn giáo: người còn lại và tôi cứ lùi
dần, co lại. Tôi trở thành một ngoại vi mỏng, người trở thành trung tâm mạnh.
Đây là trạng thái vô ngã.
Có trạng thái thứ ba mà bao giờ
cũng khó diễn đạt, nơi không người không tôi tồn tại - không ngoại vi không
trung tâm tồn tại. Những người như Phật đã cố gắng diễn đạt trạng thái này
nhưng họ đã thất bại. Không có cách nào diễn đạt nó, bởi vì mọi ngôn ngữ đều
xoay quanh tôi và người. Chính việc sinh thành của ngôn ngữ là trong đối thoại
giữa tôi và người. Do đó ngôn ngữ là không có khả năng truyền đạt cái ở bên
ngoài tôi và người. Đó là lí do tại sao hiền nhân này phải gọi nó là twam,
người.
Tại đây hiền nhân này đang cố
gắng phạm phải lỗi lầm ít nhất, nhỏ nhất. Chân lí toàn bộ không thể được nói
ra, do đó cái phi chân lí gần nhất với nó, cái phi chân lí ít nhất, mới được
nói ra. Trạng thái này không thể được diễn đạt một cách đích xác bởi vì không
tôi không người tồn tại ở đó, nhưng một cách diễn đạt nào đó về nó là điều phải
có, thông điệp phải được truyền đạt. Trở về từ cõi không biết đó hiền nhân này
muốn truyền đạt cho người mình yêu mến điều ông ấy đã biết, điều ông ấy đã
thấy.
Cho nên hiền nhân này gọi nó là
người. Điều này ông ấy nói cho đệ tử những người đang ngồi cùng ông ấy để học,
người đang có đó với niềm khao khát biết. Anh ta được bảo cho rằng khi kinh
nghiệm về tâm thức thuần khiết xảy ra, chúng ta gọi nó là người.
Người là một từ đáng yêu, và
gần gũi hơn với chân lí. Và nếu ai đó bắt đầu sống cuộc sống của mình định tâm
vào việc hiểu về người, điều đó là rất cách mạng.
Toàn bộ công phu tâm linh của
Ramakrishna đều xoay quanh người. Nhà huyền môn tên là Totapuri, thực hành
vedanta, đã tới thăm Dakshineshwar nơi Ramakrishna sống.
Totapuri hỏi ông ấy, “Sao ông
lặp lại người mãi - nhiều người thế? Vứt nó đi, và đến tới nơi không tôi không
người tồn tại.”
Ramakrishna là người khiêm tốn
như những người sùng kính phải vậy. Đôi khi tính khiêm tốn trở thành một hiện
tượng lớn. Ramakrishna nói, “Bầy cho tôi cách thức đi. Tôi chấp nhận lời mời
của ông.”
Ramakrishna là một người đáng
kính. Những người sùng kính của ông ấy gọi ông ấy là paramahansa, con thiên nga
vĩ đại; hàng triệu người cúi mình dưới chân ông ấy. Totapuri chưa bao giờ trông
đợi rằng ông ấy cũng đồng ý học dễ dàng thế. Ngay cả Totapuri, nếu có được hỏi,
cũng không nói có dễ dàng thế. “Ta làbrahman - Ta là Thượng đế,” là mọi điều
ông ấy nói. Khi ai đó tuyên bố, “Ta là brahman, ta là điều thiêng liêng,” thì
chẳng còn lại gì để học nữa. Nếu tuyên bố này là chân lí, không việc học nào là
cần nữa. Nhưng việc tuyên bố này cũng có thể là lừa dối. Nếu nó được nói ra sau
khi kinh nghiệm điều thiêng liêng, tốt, nhưng nếu nó được nói ra trong khi vẫn
dưới cám dỗ của cái tôi, thế thì nó là nguy hiểm. Bất kì ai cũng có thể vui
mừng trong việc nói ra phát biểu này, nhưng nếu kinh nghiệm này thực tế xảy ra,
nói “Ta là brahman” chỉ được dùng như phương tiện diễn đạt. Thực tế, tốt hơn
thì phải nói, “Cái tôi không còn tồn tại nữa và chỉ brahman hiện hữu.”
Totapuri ngạc nhiên, nhưng ông
ấy không nhận biết rằng người giữ người ở trung tâm có thể dễ dàng đồng ý với
bất kì cái gì - miễn là người thực sự ở trung tâm của họ. Không thể có chuyện
tôi là trung tâm được.
Ramakrishna đã đồng ý và nói,
“Đem ta tới nơi mà không tôi không người tồn tại.” Đây là cách thức của ai đó
giữ người ở trung tâm.
Chuyện xảy ra theo cách thật
ngạc nhiên: khi Totapuri hỏi, “Ông có sẵn sàng toàn tâm toàn ý không?”,
Ramakrishna đáp, “Để ta tới đền thờ và hỏi Mẹ, nữ thần Kali, xem liệu ta có thể
từ bỏ bà ấy hay không. Để ta xin phép bà ấy để từ bỏ bà ấy.”
Totapuri nói, “Thế thì tất cả
mọi việc nói đều vô nghĩa. Nếu ông muốn từ bỏ bà ấy, sao ông cảm thấy cần
xin phép? Vậy thì cái gì là cần để xin phép bà ấy ra đi?
Ramakrishna đáp, “Tôi không còn
tồn tại nữa, cho nên làm sao tôi có thể từ bỏ cái gì được? Chỉ bà ấy còn lại -
từ bỏ cái gì đó hay không, điều đó tất cả là tuỳ vào Mẹ. Tôi không hiện hữu,
cho nên tôi không thể ra quyết định này được. Cái ngày tôi bỏ lại mọi thứ cho
bà ấy thì cũng bao hàm ngay cả quyết định này. Nếu bà ấy không cho phép tôi thì
tôi sẽ chết mà không biết, nhưng không có cách nào khác.”
Đây là cảm giác của ai đó người
giữ người ở trung tâm - người đó thậm chí đồng ý chết là kẻ dốt nát. Thậm chí
không gian nhỏ thế này cũng không có cho cái tôi rằng tôi có thể chọn để quyết
định ngay cả về cơ hội cho việc biết tối thượng.
Trong bài hát của mình những
người sùng kính nói rằng họ không khao khát giải thoát, tự do, niết bàn, chỉ
muốn ở trên phố nơi Krishna đã bước đi là đủ, bởi vì giải thoát là cho cái tôi,
còn nhảy múa trên phố Vrindavan là cái gì đó để làm với người. Đó là lí do tại
sao những người sùng kính đã nói, “Chúng tôi không muốn giải thoát, bởi vì giải
thoát nghĩa là giải thoát của tôi - sau rốt, điều thiêng liêng không cần tới
giải thoát nào. Nhớ điều đó: giải thoát là cho tôi, niết bàn là cho tôi, trí
huệ của việc biết là cho tôi. Cho nên họ hát, “Tôi không muốn giải thoát, niết
bàn hay trí huệ của việc biết, cứ để tôi lang thang trên con đường nơi điều
thiêng liêng có lần đã bước qua, điều đó là đủ.” Đây là cảm giác của người chấp
nhận người tại trung tâm.
Có nhiều lí do để gọi tâm thức
thuần khiết là người. Một trong chúng là ở chỗ chấp nhận bản chất của tâm thức
thuần khiết như người là có ích cho người tìm kiếm - nó là một giả thuyết rất
có ích. Nếu tâm thức được cảm nhận có bản chất của cái tôi, nhiều lúc điều đó
có thể là nguy hiểm. Nếu tâm thức thuần khiết được chấp nhận như có bản chất
của cái tôi, có chín mươi chín phần trăm cơ hội là thay vì xoá bỏ đi bản ngã,
bản ngã sẽ trở nên mạnh hơn.
Upanishads là phải khi họ tuyên
bố “Aham brahmasmi, ta là điều thiêng liêng.” Nhưng tuyên bố này chỉ thỉnh
thoảng mới xảy ra, với một trong hàng trăm người đã thấu hiểu. Tuyên bố này là
ngoại lệ. Nó là phát biểu của những người đã làm tan biến mọi thứ vào trong cái
tôi của họ, cái tôi của họ trở thành bao la đến độ ngay cả mọi phân biệt về
người khác, về người, cũng đã trở thành được hàm chứa bên trong nó. Điều này là
cực kì khó bởi vì cái tôi là rất thoả mãn, và toàn bộ thích thú cho cái tôi nằm
ở chỗ tương phản với người - bằng không thì nó mất cái duyên dáng của nó. Cái
gì là mục đích trong việc tuyên bố tôi, nếu tôi là một mình và không có người,
không có người khác tồn tại trên thế giới này?
Đáp ứng cho bản ngã phụ thuộc
vào người khác. Đó là lí do tại sao điều rất thú vị là bản ngã có thể tuyên bố
bản thân nó là tự do, không nhận biết rằng về cơ bản nó là phụ thuộc, rằng nó
không thể tồn tại mà không có người khác. Khi một người nói, “Ta là hoàng đế,”
người đó không nhận biết rằng sự tồn tại của mình phụ thuộc vào thần dân của
mình, rằng người đó phụ thuộc vào chính những người mà ông ta cai trị. Khi ai
đó tuyên bố, “Ta là chủ,” người đó không biết rằng người đó không thể nào là
người chủ mà không có nô lệ - và người đó phụ thuộc vào nô lệ của mình nhiều
thế, làm sao người đó có thể là chủ được? Người chủ là phụ thuộc, người đó bị
gắn với nô lệ của mình. Mọi tuyên bố của cái tôi, của bản ngã, chỉ tồn tại để
làm cho người nhỏ đi. Bản ngã cũng có thể được đáp ứng theo cách này.
Khi Upanishads tuyên bố “Aham
brahmasmi, ta là điều thiêng liêng,” thì thế giới lúc đó do những cư dân hồn
nhiên và đơn giản cư ngụ. Nhưng dần dần vấn đề trở nên rõ ràng là giữ cái tôi ở
trung tâm là nguy hiểm. Trong việc giữ cái tôi ở trung tâm, chín mươi chín phần
trăm mọi người đều đi lạc lối, chỉ một phần trăm mới đạt tới chân lí. Sarvasar
Upanishad này được ngụ ý giúp cho đa số những người tìm kiếm bằng việc diễn đạt
điều tinh tuý của một số lớn chân lí, do đó từ ‘người’ đã được dùng, không phải
“Aham brahmasmi, ta là điều thiêng liêng.”
Cho nên sẵn sàng xoá bỏ cái tôi
để đạt tới chân lí. Cuộc hành trình này là cuộc hành trình của việc làm tan
biến cái tôi. Nếu bạn có thể nhớ trong từng hơi thở rằng cái tôi không tồn tại,
rằng chỉ người, điều thiêng liêng, thực tại tối thượng tồn tại, bạn sẽ thấy
rằng trong một thời gian ngắn tất cả mọi căng thẳng đều rơi rụng đi, tất cả mọi
phiền não của tâm trí đã tiêu tan và lo nghĩ đã biến mất, bởi vì lo nghĩ, phiền
não và căng thẳng tất cả đều yêu cầu cái móc của cái tôi để treo lên, bằng
không thì chúng không thể treo lên được. Nếu cảm giác này sâu sắc thêm, rằng
“Tôi không hiện hữu, chỉ người hiện hữu,” bỗng nhiên một ngày nào đó bạn sẽ
thấy rằng những lo nghĩ của bạn đã biến mất, và cho dù bạn có muốn được lo nghĩ
thì bạn cũng không thể làm được, bởi vì lo nghĩ là cái bóng của cái tôi. Với
biến mất của cái tôi, lo nghĩ cũng biến mất. Thanh bình là cái bóng của người -
với việc làm sâu sắc người, thanh bình tự nó nở hoa.
Nietzsche đã cố gắng cả đời
mình để sống dường như không có Thượng đế. Ông ấy tuyên bố rằng nếu Thượng đế
mà đã từng tồn tại, bây giờ ngài chết rồi. Nietzsche là một thiên tài vĩ đại,
ngang hàng với bất kì Phật hay Krishna nào. Ông ấy có một trí tuệ thấu suốt,
nhưng việc phủ nhận Thượng đế đã biến trí tuệ của ông ấy thành phiền não, tài
hoa của ông ấy biến thành lo nghĩ. Cũng đáng chú ý rằng khi một người tầm
thường mà bị lo nghĩ, lo nghĩ của họ nhỏ mọn; khi một người thiên tài vĩ đại mà
lo nghĩ, lo nghĩ của người đó cũng theo cùng tỉ lệ to lớn. Không có phương án
nào cho Nietzsche ngoại trừ việc phát điên, loạn trí là kết quả của phủ nhận
của ông ấy. Những thiên tài lớn không có mối lo nhỏ, họ có lo nghĩ lớn.
Nietzsche có thể đã đạt tới an
bình của vị phật, ông ấy chẳng thiếu cái gì, nhưng ông ấy chỉ đạt tới cùng điên
khùng như hàng nghìn người điên. Và lí do cho điều đó là ở chỗ ông ấy đã cố
gắng xây dựng toàn bộ nhân cách của mình trên cái tôi.
Nietzsche đã viết trong nhật kí
của mình: “Nếu Thượng đế tồn tại, tôi muốn trở thành Thượng đế số một, và ông
ấy có thể được đặt sau tôi. Nếu ai đó có thể trở thành Thượng đế, sao tôi lại
không - tôi thiếu cái gì? Hay nếu Thượng đế tồn tại, tôi có thể công bố phủ
nhận của mình - tôi tự do để phủ nhận ông ấy. Ít nhất thì tôi cũng toàn bộ
trong việc phủ nhận sự tồn tại của ông ấy, tôi không thể bị bó buộc phải chấp
nhận sự tồn tại của ông ấy. Ngay cả Thượng đế cũng không thể buộc tôi phải chấp
nhận ông ấy. Về điểm này tôi còn cao hơn Thượng đế - ông ấy yêu cầu sự thừa
nhận của tôi để tồn tại. Nhưng nếu tôi phủ nhận ông ấy, ông ấy chẳng có cách
nào làm cho tôi chấp nhận sự tồn tại của ông ấy.” Đây là kết quả của việc sống
với cái tôi ở trung tâm.
Rất khó hiểu phiền não của
Nietzsche, nhưng chúng ta có thể hiểu những mối lo nghĩ nhỏ mọn bởi vì chúng ta
cũng sống với bản ngã.
Thỉnh thoảng làm một thực
nghiệm nhỏ; loại bỏ cái tôi ra khỏi trung tâm trong hai mươi tư giờ, và đặt
người vào trung tâm. Chỉ trong hai mươi tư giờ nhớ tới người một cách liên tục.
Cho dù viên đá có đâm vào chân bạn, cho dù bạn bị xúc phạm, cho dù ai đó ném
than hồng vào bạn, cho dù bạn được ca ngợi, cho dù ai đó cúi mình dưới chân bạn
- chỉ trong hai mươi tư giờ, nhớ rằng người là ở trung tâm, không phải tôi.
Điều đó sẽ là việc bắt đầu mới trong cuộc sống của bạn. Nếu việc nhớ này có thể
thực hiện được trong hai mươi bốn giờ - hay thậm chí nếu bạn không thể làm được
điều đó, nếu điều đó chỉ trong hai mươi tư phút, bạn sẽ không còn như cũ nữa.
Một khi bạn biết tới những khoảnh khắc của thanh bình của người, bạn sẽ không
bao giờ muốn sống với cái tôi nữa.
Khi sự nhấn mạnh dịch chuyển từ
tôi sang người, điều đó trở thành dễ dàng hơn để nhận ra tâm thức thuần khiết.
Hay, nếu tâm thức thuần khiết được đạt tới, thế thì cảm giác ngay lập tức dịch
chuyển từ tôi sang người; đó là lí do tại sao tâm thức thuần khiết được gọi là
twam, người.
Brahman, thực tại tối thượng,
là chân lí.
Nó là vô hạn và là chỗ của việc
biết.
Chân lí là không thể huỷ diệt
được.
Nhiều người đã cố gắng nêu một
định nghĩa cho chân lí. Chân lí là gì? Con người đã suy tư về nó từ nhiều khía
cạnh. Chân lí là gì? Chúng ta ngụ ý gì bởi ‘chân lí’?
Khoa học coi sự kiện là chân
lí, và định nghĩa này ngày nay được chấp nhận rộng rãi. Khoa học nói: sự kiện
là chân lí. Sự kiện là cái có thể được kiểm nghiệm và kiểm tra bằng thực
nghiệm, với sự kiện có bằng chứng trong thế giới vật chất.
Giả sử tôi giơ tay lên và chỉ
một người trong nhiều người ngồi đây nói rằng người đó thấy tay tôi giơ lên còn
số còn lại trong các bạn không thấy nó. Khoa học sẽ nói rằng người đó đang mơ,
bởi vì người đó không có bằng chứng khác. Nó không phải là sự kiện, bằng không
thì người khác những người có mặt đã trông thấy bàn tay giơ lên. Nó phải là mơ.
Mơ mang tính cá nhân, sự kiện mang tính tập thể.
Cái bàn trong phòng bạn có thể
được mọi người thấy, được mọi người đồng ý, nhưng nếu bạn nói rằng Thượng đế
hiện diện trong phòng bạn thì họ sẽ nói, "Anh có thể thấy ông ấy, nhưng
chúng tôi không thấy. Anh phải đang tưởng tượng mọi thứ, anh phải đang mơ.”
Điều rất thú vị là không thể
chia sẻ mơ được. Hai người không thể thấy cùng một giấc mơ, hay họ có thể tạo
ra được? Điều đó chưa xảy ra! Không cộng tác nào, không tình bạn nào là có thể
trong mơ, mơ bao giờ cũng mang tính cá nhân. Với khoa học, cái mang tính cá
nhân là mơ thì không phải là sự kiện, còn cái mang tính tập thể mới là sự kiện.
Với khoa học, chân lí được định nghĩa như là sự kiện.
Upanishads không phản đối gì về
định nghĩa này, trí huệ phương Đông không phản đối gì về định nghĩa này. Nhưng
trí huệ phương Đông nêu ra một câu hỏi sâu sắc hơn, một câu hỏi mà khoa học
không thể nào trả lời được. Trí huệ phương Đông nói: “Chúng ta chấp nhận rằng
hiện tượng hiện diện khách quan là chân lí. Nhưng cái hiện diện hôm nay có thể
vắng bóng ngày mai và cái vắng bóng hôm qua có thể hiện diện hôm nay. Tại
phương Đông chúng ta gọi chỉ những hiện tượng không bao giờ vắng bóng mới là
chân lí. Khi nó là vĩnh hằng, chúng ta gọi nó là chân lí - cái còn lại chúng ta
chỉ gọi là sự kiện.”
Trí huệ phương Đông tạo ra ba
phân chia: mơ là cái thuộc vào tưởng tượng của một cá nhân; sự kiện là cái
thuộc vào kinh nghiệm tập thể; chân lí là cái vĩnh hằng. Bởi vì sự kiện không
phải bao giờ cũng vẫn còn là sự kiện.... Hôm qua bạn còn trẻ và mọi người đã
chứng kiến điều đó; hôm nay bạn không trẻ. Điều gì đã xảy ra cho chân lí? Và
nếu chân lí có thể thay đổi giống như thế qua một thời kì mười năm, thế thì sự
khác biệt giữa chân lí này và mơ mà vẫn tiếp tục cả đêm và thay đổi qua một
khoảng thời gian mười giờ chỉ là khác biệt về thời gian.
Một người mơ trong tám giờ rằng
mình là hoàng đế và đến sáng người đó lại trở thành kẻ nghèo túng - nhưng người
đó đã là hoàng đế trong tám giờ. Bạn có thể nói rằng bạn đã không là nhân chứng
cho điều đó, nhưng tất cả những người hiện diện trong mơ đều là nhân chứng -
người mơ không một mình trong mơ; người đó có người hầu và người phục vụ, các
quan thượng thư, quân đội, kinh đô lớn - tất cả trong số họ đều là nhân chứng
của người đó, và họ đã chấp nhận người đó làm hoàng đế.
Cho nên khác biệt là ở chỗ mơ
kéo dài chỉ tám giờ, trong khi tuổi thanh niên của bạn kéo dài mười hay hai
mươi năm... khác biệt chỉ về thời gian. Giả sử ai đó còn trong cơn mê trong hai
mươi năm và tiếp tục mơ rằng mình là hoàng đế... Điều đó đôi khi xảy ra.
Tôi đã tới một làng nơi một phụ
nữ đã trong cơn mê trong chín tháng, và các bác sĩ đều có ý kiến rằng cô ấy có
thể còn mê theo cách đó thêm ba năm nữa, sống nhưng trong cơn mê. Nếu người phụ
nữ này mà mơ trong chín tháng - và cô ấy phải đã mơ, thứ nhất bởi vì cô ấy vô ý
thức, và thứ hai bởi vì cô ấy là phụ nữ, cô ấy phải đang mơ! Và không có cách
nào cho cô ấy biết rằng điều cô ấy đang thấy trong chín tháng chỉ là mơ - và
mọi người hiện diện trong mơ đều đồng ý. Mơ có trở thành chân lí chỉ bởi vì nó
đã diễn ra trong chín tháng không? Cũng có thể xảy ra là mơ hôm nay có thể trở
thành chân lí cho đám đông ngày mai.
Abraham Lincoln có một giấc mơ
ba ngày trước cái chết của ông ấy. Ông ấy thức dậy nửa đêm, lay vợ dậy và bảo
với bà ấy, “Tôi đã có một giấc mơ gây bối rối trong đó tôi bị ám sát, và xác
tôi nằm trong phòng nào đó của Nhà Trắng. Bà đang đứng gần đầu tôi, hai người
đàn ông đứng gần chân tôi, một người mặc quần áo đen, nhưng anh ta trông không
quen với tôi.”
Bà vợ đáp, “Ông ngủ lại đi, đấy
chỉ là mơ.”
Lincoln nói, “Tôi chỉ muốn kể
cho bà, có vậy thôi,” và trở lại giấc ngủ.
Ba ngày sau, Lincoln bị ám sát.
Ông ấy nằm chết trong chính cái phòng đó. Vợ ông ấy đứng gần đầu ông ấy và hai
người đàn ông đứng gần chân ông ấy, một người mặc quần áo đen, và bà vợ biết
rằng người đó không quen với Lincoln. Toàn bộ cảnh này là hệt nhau.
Cho nên điều gì đó đã là mơ ba
ngày trước đã trở thành sự kiện tập thể sau ba ngày. Cho nên có khác biệt mấy
giữa mơ và sự kiện? Khác biệt chỉ là ba ngày. Khác biệt chỉ là về một khoảng
thời gian nào đó.
Mơ xảy ra đúng, và chân lí trở
thành mơ. Điều chúng ta biết như sự kiện thì có thể một ngày nào đó biến mất và
rơi vào quên lãng. Hôm nay bạn yêu ai đó và bạn nói, “Anh sẵn sàng chết vì em -
tình yêu này là thực.” Rồi ngày mai? - ngày mai thậm chí đến tro của tình yêu
cũng mất rồi. Tình yêu này cháy nhiều tới mức nó đáng phải để lại chút khói
đằng sau, nhưng sau đó thậm chí cũng chẳng còn dấu vết của khói nữa. Nó chẳng
để lại dấu vết gì! Tình yêu này thật thế, thật tới mức bạn đã cho nó cả cuộc
sống của mình - bây giờ ai quan niệm nổi rằng tình yêu đó sẽ trở thành không
thật vậy?
Người duy vật chỉ làm hai phân
chia: một là mơ, không thực, hư cấu; và cái kia là sự kiện, sự kiện bản chất.
Sự kiện là cái được đám đông đồng ý, cái có sự tồn tại vật chất, cái chúng ta
có thể kiểm nghiệm và kiểm tra một cách khách quan. Nhưng hiền nhân Upanishad
này nói rằng chân lí là cái bất diệt, không thể huỷ diệt được.
Chúng ta tạo ra ba phân chia.
Chúng ta gọi cái là kinh nghiệm cá nhân là mơ; nó có thể không nhất thiết là hư
cấu, nó có thể lấy hình dạng của sự kiện. Thế rồi cái là kinh nghiệm tập thể
được gọi là sự kiện, nhưng nó bao giờ cũng có thể không còn là sự kiện nữa, nó
có thể trở thành mơ. Hai điều này không thể được gọi là chân lí: chân lí là cái
bao giờ cũng còn lại y hệt - nó không phải là mơ, cũng không là sự kiện. Nó
không bao giờ thay đổi, nó không bao giờ biến đổi bản thân mình - nó đơn giản
hiện hữu. Không cái gì kém hơn thế lại được chấp nhận là chân lí. Định nghĩa
của phương Đông về chân lí đặt nền tảng của nó vào tính vĩnh hằng và tính không
thể huỷ diệt được. Đó là lí do tại sao chúng ta gọi thế giới này là maya, ảo
vọng; không có lí do khác đằng sau nó.
Khi chúng ta nói thế giới này
là ảo tưởng, hay như Shankara nói, “Thế giới là ảo tưởng,” thì điều đó không có
nghĩa là thế giới này không tồn tại, nó có nghĩa là bản chất của thế giới này
là ở chỗ nó sẽ không còn lại y nguyên vĩnh viễn. Khi Shankara gọi thế giới này
là maya, mọi người đã hiểu lầm nó có nghĩa là ảo tưởng, dường như thế giới này
là không tồn tại... cây trước bạn là không tồn tại, bạn ngồi đây nhưng bạn lại
không hiện hữu... Không! Shankara không ngụ ý điều này. Shankara đang nói rằng
bạn có tồn tại, nhưng bản tính của bạn là ở chỗ bạn tồn tại bây giờ và sẽ dừng
tồn tại vào ngày mai. Cho nên chúng ta không nói rằng bạn là thực, chúng ta nói
rằng bạn là ảo tưởng. Chúng ta gọi chân lí là yếu tố bên trong bạn đang tồn tại
bây giờ, sẽ tồn tại ngày mai khi bạn biến mất, cái đã tồn tại thậm chí trước cả
việc sinh ra của bạn và sẽ tồn tại khi bạn chết; sẽ tồn tại trong tuổi thanh
niên của bạn, trong tuổi già của bạn; cái tồn tại khi bạn ở cực điểm tiếng tăm
lừng lẫy và khi bạn rơi vào vực thẳm của nhục nhã, cái tồn tại trong mọi tình
huống... trong mọi tình huống không tình huống nào tạo ra bất kì khác biệt nào
cho sự tồn tại của nó. Chỉ cái đó chúng ta mới gọi là chân lí, tất cả các cái
còn lại đều là ảo tưởng.
Cho nên cái gì là khác biệt
giữa ảo tưởng và mơ? Với trí huệ phương Đông, mơ tập thể được gọi là thế giới
còn thế giới cá nhân được gọi là mơ. Mơ tập thể là thế giới còn thế giới cá
nhân là mơ... và chân lí vắng bóng từ cả hai điều này.
Nhưng chúng ta nhìn vào nó xa
thêm nữa. Không cái gì dường như là không thể bị huỷ diệt - bạn đã bao giờ thấy
một vật không huỷ diệt được chưa? Không cái gì dường như không thể bị huỷ diệt;
mọi thứ dường như đều huỷ diệt được, mọi thứ đều tạm thời. Không cái gì vượt
qua được giới hạn của thời gian vào vô thời gian, không cái gì vượt lên trên
thời gian; mọi thứ đều tàn lụi đi theo thời gian. Chẳng chóng thì chầy mọi thứ
đều tàn lụi đi, thời hạn không thành vấn đề - theo thời gian mọi thứ đều bị
triệt tiêu.
Bạn đã bao gì thấy một vật bất
diệt, một vật sẽ không bao giờ hữu diệt không? Chúng ta không thể thấy một vật
như vậy trong thế giới bên ngoài bởi vì bản thân vật trung gian không phải là
bất diệt, đôi mắt mà qua đó chúng ta thấy được là hữu diệt. Cái bất diệt không
thể được thấy qua cái hữu diệt. Đây là một sự kiện đơn giản, rằng cái bất diệt
không thể được thấy qua cái trung gian hữu diệt. Mắt không thể thấy được cái
cao hơn bản thân chúng. Mắt có thể thấy được bên trong giới hạn của chúng - mắt
là hữu diệt, do đó người ta chỉ có thể thấy cái hữu diệt. Tai là hữu diệt, do
đó người ta chỉ có thể nghe thấy cái hữu diệt. Tay là hữu diệt, do đó người ta
chỉ có thể chạm vào cái hữu diệt. Làm sao tay có thể chạm vào cái bất diệt
được? Làm sao nó có thể chạm vào cái bất diệt được?
Vật trung gian bất diệt được là
cần để tìm kiếm cái bất diệt; một vật trung gian hữu diệt sẽ không tìm được cái
bất diệt, và tất cả các giác quan của thân thể chúng ta đều hữu diệt. Cho nên hiền
nhân này nói rằng cuộc hành trình tới cái bất diệt là cuộc hành trình vào
trong, nơi các giác quan không có chỗ dùng. Khả năng để thấy không có mắt,
không có ánh sáng, để nghe không có tai, để sờ không có tay, là tồn tại ở bên
trong.
Những linh ảnh, âm thanh và cảm
giác có thể được kinh nghiệm bên trong, không cần sự giúp đỡ của các giác quan
hữu diệt. Nhưng cái không được biết qua các giác quan có nhất thiết là bất diệt
không? - bởi vì linh ảnh dường như ở bên trong có thể thấy được hôm nay, nhưng
chúng vẫn có thể biến mất vào ngày mai.
Một người bạn hôm qua tới và
nói rằng vào ngày thiền đầu tiên một ánh sáng lớn đã xuất hiện bên trong, nhưng
vào ngày thứ hai nó không xuất hiện. Chắc chắn ánh sáng đã xuất hiện rồi biến
mất không thể nào là bất diệt - cái mà có lần tồn tại và rồi mất đi chỉ là hình
dạng.
Tôi bảo anh ta rằng dù có thấy
ánh sáng hay không, một điều vĩnh viễn trong cả hai tình huống là người thấy,
người quan sát. Người quan sát quan sát cả sự hiện diện của ánh sáng và sự
thiếu vắng của ánh sáng: nó tồn tại trong cả hai tình huống.
Kinh nghiệm bên trong không
nhất thiết là bất diệt, bởi vì chúng có thể tồn tại hôm nay và biến mất ngày
mai. Nhưng một phẩm chất bao giờ cũng có đó: người biết, người quan sát, cái đó
là vĩnh hằng. Cái đó là bất diệt bên trong chúng ta. Nếu chúng ta nhận ra cái
đó, chúng ta có thể nhận ra yếu tố bất diệt trong thế giới này. Khác hơn cái
đó, mọi cái khác đều hữu diệt.
Có thời bạn đã là đứa trẻ, bây
giờ thời thơ ấu của bạn đã trôi qua... nhưng người đã kinh nghiệm thời thơ ấu
này vẫn còn tồn tại bên trong. Bạn đã là thanh niên, bây giờ thời thanh xuân
của bạn đã trôi qua... nhưng người đã kinh nghiệm thời thanh xuân này vẫn ở bên
trong. Bây giờ bạn già, thời già sẽ qua đi... nhưng người đang kinh nghiệm thời
già này sẽ vẫn còn bên trong. Ngươi đang kinh nghiệm cả ba thời này - thơ ấu,
thanh niên và già lão - dường như có sự thường trực; mọi thứ khác đều tới rồi
đi. Cái ta chứng kiến quan sát vui và buồn, phẩm giá và sỉ nhục; người quan sát
này còn lại - tất cả những cái khác tàn lụi đi.
Nếu bạn dù chỉ có một thoáng
nhìn nhỏ về cái ta chứng kiến này, bạn có thể biết rằng nhân chứng này đã chứng
kiến sinh và cũng sẽ chứng kiến chết; theo cách này bạn sẽ tìm thấy sợi dây
vĩnh hằng. Với việc đạt tới sợi dây này, hiểu biết này, sự tồn tại lập tức trở
thành vĩnh hằng; với việc nhận ra sợi dây vĩnh hằng này chúng ta đạt tới tầm
nhìn có thể nhận ra tất cả những cái vĩnh hằng và tất cả những cái tạm thời.
Thế thì tất cả các hình dạng đều trở thành tạm thời và cái vô dạng ẩn đằng sau
chúng được thấy là vĩnh hằng.
Sự kiện là hình dạng, chân lí
là vô dạng. Đó là lí do tại sao tôn giáo cho định nghĩa về chân lí sắc sảo hơn,
định nghĩa rộng khắp hơn định nghĩa của khoa học về sự kiện.
Brahman, thực tại tối thượng,
là chân lí.
Nó là vô hạn và là chỗ của việc
biết.
‘Nó là chân lí’ nghĩa là nó là
bất diệt, ‘nó là vô hạn’, nghĩa là nó là vô giới hạn, bởi vì bất kì cái gì có
giới hạn đều sẽ hữu diệt. Thực tế, tan rã bắt đầu với chính sự tồn tại của bất
kì giới hạn nào. Bản thân biên giới bắt đầu tan rã. Bởi vì khi bạn lập quan hệ
với các cái khác, có biên giới, và đây là nơi cọ xát xảy ra. Nếu thân thể bạn
mà vô giới hạn, không cái chết nào là có thể bởi vì thân thể vô giới hạn nghĩa
là không cái gì bị bỏ ra ngoài nó, ngoài thân thể của bạn. Cho nên làm sao nó
chết được? Cái chết tới từ đâu? Sẽ không có bệnh tật, không có người báo trước
cái chết, bởi vì không cái gì khác hơn bạn sẽ tồn tại.
Thân thể suy tàn bởi vì có quá
nhiều thứ bên ngoài thân thể và do đó có cọ xát vào mọi khoảnh khắc. Các nhà
khoa học nói rằng thân thể con người có thể sống bốn trăm năm nhưng nó suy tàn
chỉ bởi vì cọ xát, vật lộn. Cũng giống như sắt mục nát bởi vì nó gỉ và gió thổi
làm yếu cây, hay ánh mặt trời... tất cả xung quanh đều có vật lộn và những cú
đánh vào thân thể bạn làm mòn mỏi nó dần. Nó trở thành kiệt quệ sau bẩy mươi
năm. Cái chết đơn giản có nghĩa là thân thể của bạn đã không chịu nổi những tác
động của biên giới của nó.
Cái hữu hạn tự nhiên trở nên
cạn kiệt; nó không thể là bất diệt được, bởi vì vật lộn và xung đột này từ bên
ngoài biên giới của nó mang đặc trưng đều đặn. Cọ xát là liên tục. Nếu chúng ta
làm đông cứng một thân thể đặc biệt, giải thoát nó khỏi mọi vật lộn và cọ xát,
chúng ta có thể gìn giữ thân thể này trong hàng nghìn và hàng nghìn năm. Không
có vấn đề gì trong nó, bởi vì cái chết chỉ xuất hiện bởi cọ xát bên ngoài này.
Nhưng cho dù thế, sau hàng nghìn năm, nó cũng trở nên bị cạn kiệt. Sau rốt, nó
có giới hạn. Sự kéo dài của nó có thể lâu, nhưng nó không thể vĩnh hằng được.
Đây là lí do tại sao chúng ta
nói rằng brahman, thực tại tối thượng, là vô hạn - không có giới hạn nào, không
có biên giới nào. Chỉ cái không có biên giới mới có thể là cái toàn thể, còn
cái có kết thúc, có biên giới, tạo ra biên giới bởi vì cái khác, không phải bởi
vì chính nó.
Nhà của bạn kết thúc nơi nhà
người khác bắt đầu. Nếu như không có nhà người khác trên trái đất, bạn sẽ chẳng
cần xây dựng hàng rào quanh nhà mình, toàn bộ trái đất sẽ là nhà bạn. Hàng rào
là cần bởi vì hàng xóm của bạn; các giới hạn và biên giới đi vào hiện hữu bởi
vì sự tồn tại của người khác.
Nếu điều thiêng liêng là cái
toàn thể, nó chỉ có thể hiện hữu không có giới hạn. Tất cả những cái không là
toàn thể không thể nào bất diệt được, bởi vì bất kì giới hạn nào cũng đều mang
tan rã, huỷ diệt bên trong bản thân nó, bất kì giới hạn nào cũng đều mang cái
chết. Đây là lí do tại sao brahman được gọi là chân lí, cái vô hạn và chỗ của
việc biết.
Kinh nghiệm vĩ đại nhất cho con
người là kinh nghiệm về việc biết. Điều này sẽ khó cho việc hiểu. Người này có
thể nói kinh nghiệm vĩ đại nhất là kinh nghiệm về tình yêu, người khác có thể
nói rằng kinh nghiệm vĩ đại nhất là kinh nghiệm về phúc lạc, hay cái gì đó
khác, nhưng trong thực tế cái vĩ đại nhất là việc biết - không có nó thì tình
yêu không thể còn lại được, không có nó thì phúc lạc không thể được cảm thấy.
Việc biết siêu việt lên trên cả hai; không có nó thì cả tình yêu lẫn phúc lạc
đều không thể được biết tới. Việc biết có thể tồn tại mà không có tình yêu và
phúc lạc, nhưng tình yêu và phúc lạc không có sự tồn tại nếu không có việc
biết. Cho nên hiền nhân này đã gọi điều thiêng liêng là 'chỗ của việc biết’.
Jesus đã nói, “Thượng đế là
tình yêu.” Điều này là rất có ý nghĩa: “Thượng đế là tình yêu.” Định nghĩa này
là bởi vì một tình huống đặc biệt; mục đích của nó là hoàn toàn khác. Nó chỉ
tái khẳng định cho bạn rằng điều thiêng liêng là tình yêu để cho bạn có thể hi
vọng vào lòng nhân từ, sự giúp đỡ... rằng bạn không một mình và bất lực. Hỏi
xin tình yêu và nó sẽ được ban cho bạn. Jesus định nghĩa Thượng đế là tình yêu
để cho con người có thể được tái đảm bảo.
Tôi cũng nói rằng Thượng đế là
tình yêu, hay tình yêu là Thượng đế, chỉ bởi vì nói “Thượng đế là việc biết”
chẳng phục vụ cho mục đích gì. Chúng ta không thể đặt quan hệ với 'việc biết';
với 'việc biết' một khoảng cách, một lỗ hổng giữa bản thân chúng ta và việc
biết bao giờ cũng còn. Khó mà chạm tới nó, không có cây cầu nào giữa việc biết
này và chúng ta. Đó là lí do tại sao chúng ta nói Thượng đế là tình yêu.
Chắc chắn Thượng đế là tình
yêu, nhưng đó không phải là định nghĩa tối thượng. Định nghĩa tối thượng là như
hiền nhân này nói: “Thượng đế là chỗ của việc biết.” ‘Thượng đế là tình yêu’ là
một định nghĩa tình huống giữ con người trong tâm trí, vì ích lợi cho con
người, bởi vì việc biết không có mục đích, không có sức hấp dẫn, mặc dù nó là
định nghĩa đúng nhất, định nghĩa phải nhất.
Một số người đã nói Thượng đế
là phúc lạc, chỗ của phúc lạc - điều này cũng là một định nghĩa tình huống. Con
người đang trong đau khổ nhiều tới mức chừng nào Thượng đế không là phúc lạc
thì không cuộc hành trình nào là có thể; nếu nó không như vậy thì sao bạn phải
đi tìm điều thiêng liêng ?
Triết lí của Phật đã bị nhổ bật
rễ khỏi Ấn Độ trong vòng năm trăm năm; lí do là ở chỗ Phật đã không cho bất kì
định nghĩa tình huống nào. Phật đã nói rằng nó tất cả là shunya, trống rỗng và
hư không. Không ai muốn đi tới cái trống rỗng cả. Trong thực tế người ta sẽ
tránh đi tới đó, tránh mối nguy hiểm này. Trống rỗng... bạn sẽ làm gì ở đó?
Bất kì khi nào Phật được hỏi,
“Thượng đế có là phúc lạc không?” - ông ấy sẽ nói, “Không, chỉ có vắng bóng của
đau khổ, vắng bóng của buồn, có vậy thôi.”
Điều này không gây hứng khởi
cho bạn đi tìm điều thiêng liêng. Cũng tốt là không có buồn, nhưng điều này
không phải là lí do đủ để bắt đầu cuộc hành trình. Con người đang trong đau
khổ, đau khổ sâu sắc, do đó mới có định nghĩa tình huống này rằng Thượng đế là
phúc lạc.
Nhưng đây không phải là định
nghĩa tuyệt đối. Nếu chúng ta không tính tới con người thế thì định nghĩa chính
xác là: Thượng đế là chỗ của việc biết, việc biết thuần khiết.
Upanishads chưa bao giờ là phổ
cập cho quần chúng bởi vì những định nghĩa tuyệt đối này, bởi vì mọi người
không thể có quan hệ với các định nghĩa tuyệt đối. Kinh Thánh thấm sâu vào con
người hơn Upanishads. Mặc dầu Kinh Thánh không đứng được ở đâu trong so sánh
với Upanishads, nhưng bởi vì định nghĩa tình huống của nó là rất gần với con
người, nên nó có tiện dụng của nó. Mặt trời có thể cháy bỏng nơi xa, xa xăm, xa
hàng tỉ dặm, nhưng nó chẳng hữu dụng cho chúng ta. Chỉ một ngọn đèn nhỏ cũng
trở nên có ích bởi vì bạn phải bước đi ở đây trên trái đất. Bạn phải bước ở
đây, lấy từng bước trong bóng tối, cho nên sao lại bận tâm về mặt trời ở nơi xa
xăm kia? Nó có thể có đó, nhưng nó không giúp chúng ta bước đi dù chỉ một li trong
đêm tối. Ngọn đèn của bạn có thể không là mặt trời, vâng, ngọn đèn của bạn là
rất nhỏ, nhưng nó giúp bạn lấy từng bước và đi trên con đường, và những bước
nhỏ này có thể đưa bạn tới mặt trời nơi tất cả mọi ngọn đèn đều có thể được vứt
bỏ đi.
Nhưng Upanishads cho định nghĩa
tối thượng, bởi vì vào lúc Upanishads được sinh ra thì mọi người không trong
đau khổ nhiều thế mà phải được an ủi bằng phúc lạc, cũng không bất lực đến mức
phải được an ủi bằng tình yêu. Con người hoàn toàn hồn nhiên và bằng lòng trong
bản thân mình. Định nghĩa tối thượng và tuyệt đối là có thể trong những ngày
đó: rằng Thượng đế là chỗ của việc biết.
Và việc biết thuần khiết này là
chân lí, nó là bất diệt.
Cái không bị huỷ diệt, ngay cả
như trung gian của không gian,
thời gian và sự vật bị phá huỷ,
là avinashi, cái không thể bị
huỷ diệt nổi.
Cái mà bao giờ cũng còn lại,
cho dù thời gian và không gian có biến mất, cho dù tất cả vật chất và vũ trụ có
biến mất, cái mà là cốt lõi bản chất của tất cả cái đang đó được gọi là
avinashi, cái bất diệt.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment