Osho - Con đường bên ngoài mọi
con đường
Chương 15. Kẻ hầu đã trở thành
chủ
Ta chưa hề sinh
Ta không là thân thể, ta không
là mười giác quan.
Ta không là trí tuệ. Ta không
là tâm trí.
Ta thậm chí không là bản ngã
vĩnh hằng.
Ta hiện hữu không có prana, hơi
thở sống của cuộc sống.
Ta hiện hữu không tâm trí.
Ta là tự tính thuần khiết .
Ta là nhân chứng bên ngoài trí
tuệ.
Ta là bản thân tâm thức vĩnh hằng.
Về điều này không có hoài nghi.
Cái 'tôi đây' thực chỉ có thể
được nói tới khi cái tôi bị xoá bỏ. Chúng ta quen với một cái tôi, và cái tôi
này mà chúng ta biết thì chẳng là gì ngoài tổng số của tất cả các ảo tưởng của
chúng ta. Chúng ta tạo ra cái tôi này, chúng ta nuôi dưỡng, chăm nom, làm giầu
và làm mạnh thêm cho nó và làm cho nó thành mạnh mẽ. Nhưng bởi vì nó là giả và
là bịa đặt riêng của chúng ta nên chúng ta bị rắc rối bởi nó, chúng ta trở nên
lo nghĩ, phiền não, bởi vì cái không phải là bản chất của chúng ta thì bao giờ
cũng trở thành gánh nặng.
Các nhà khoa học nói rằng mười
triệu năm trước, con vật với thân thể khổng lồ đã tồn tại trên trái đất. Voi
chưa là gì khi so với chúng, chúng mười lần lớn hơn voi. Các nhà nghiên cứu
điều tra tiến hoá của cuộc sống đã gặp khó khăn lớn trong việc tìm ra tại sao
những con vật này lại bị tuyệt chủng. Không có manh mối rõ rệt về một thảm hoạ
lớn nào đó trên trái đất gây ra sự tuyệt chủng của chúng. Sự biến mất hoàn toàn
của chúng đáng lí là không thể được, cho dù đã có động đất hay phun trào núi
lửa ảnh hưởng tới toàn thể trái đất. Cho nên điều gì đã xảy ra?
Gần đây, trong năm mươi năm
qua, một manh mối mới tới trong tâm trí họ. Có thể là những con vật này làm to
thân thể của mình đến mức chúng chết dưới trọng lượng của thân thể riêng của
chúng. Không có lí do rõ rệt khác có thể đã là nguyên nhân cho cái chết của
chúng. Thân thể của những con vật này trở nên khổng lồ quá - thân thể là phương
tiện sống của chúng - những thân thể này lớn vượt ra ngoài giới hạn và trở
thành nguyên nhân cho cái chết của chúng. Chúng trở nên khó di chuyển với trọng
lượng như vậy và việc nuôi dưỡng thân thể này cũng thậm chí trở nên khó hơn khi
nhu cầu về thức ăn tăng lên. Nhu cầu thức ăn này cứ tăng lên với sự phát triển
của thân thể chúng. Cho nên thân thể, theo một cách nào đó, là phương tiện cho
sự tiếp tục của cuộc sống, một phương tiện cho cuộc sống, nhưng chỉ tới một
giới hạn nào đó; nó có thể trở thành định mệnh bên ngoài chừng mực đó.
Tôi đã nói với các bạn điều này
để giúp bạn hiểu rằng bản ngã, cái tôi của chúng ta, cũng là một phần và một
bọc chủ yếu của hệ thống cuộc sống của chúng ta. Nhưng nó cứ to mãi lên và
chúng ta quên mất rằng cái chúng ta chọn để dùng làm phương tiện bây giờ đang
dùng chúng ta như một phương tiện. Cái chúng ta đã muốn dùng thì lại đang dùng
chúng ta, và cái chúng ta đã tạo ra để bảo vệ mình, chúng ta bây giờ lại đang
bảo vệ bằng giá của cuộc sống của mình. Nhưng rất khó biết khi nào biên giới đã
bị vượt qua, khi nào người chủ trở thành người hầu cho người hầu của mình, khi
người lãnh đạo trở thành người theo của người theo của mình. Nhưng điều đó xảy
ra - nó xảy ra bởi vì hạt mầm của điều này là ở bên trong hệ thống của nó.
Như tôi đã nói với bạn, khó mà
biết khi nào người lãnh đạo trở thành người theo của người theo của mình. Để
trở thành lãnh đạo người đó phải thoả mãn cho những người theo mình, và trong
khi cố gắng thoả mãn họ thì người đó phải đi theo người theo mình; để vẫn còn ở
phía trước, đầu tiên người đó phải đi theo. Nếu bạn không theo những người đi
theo mà bạn lãnh đạo, họ sẽ không sẵn sàng chấp nhận bạn làm người lãnh đạo của
họ. Đây là điều rất thú vị xảy ra: người lãnh đạo phải theo bởi vì người đó
phải lãnh đạo. Người lãnh đạo bị mất hút trong chính quá trình trở thành người
lãnh đạo, bởi vì người đó phải nhân nhượng với những người mình điều khiển và
không để ý tới điều đó, dần dần trong nhân nhượng này, người đó trở nên bị làm
thành nô lệ.
Cùng điều đó xảy ra với cái
tôi. Nó được cần tới. Như tôi đã nói với bạn nó là cần thiết cho hệ thống của
chúng ta, nó vận hành. Nhưng cái tôi không có sự tồn tại, nó chỉ vận hành - vận
hành theo nghĩa là nó đại diện cho và chỉ báo về cái gì đó. Nó cũng giống như
cái tên của chúng ta vậy - người này được gọi là Rama và người kia được gọi là
Krishna; không ai được sinh ra mà không có tên, cái tên nói chung là một ước lệ
sai lầm. Nhưng rất khó vận hành mà không có tên. Có sáu tỉ người trên trái đất
khổng lồ này, và nếu chúng ta cố gắng sống mà không tên thì sẽ rất khó, sẽ
không thể nào biết được ai vào với ai. Cho nên chúng ta phải được dán nhãn.
Nhãn là giả, nhưng chúng lại vận hành.
Khi tôi nói chúng vận hành, tôi
ngụ ý rằng nó là tiện lợi. Chúng ta biết rằng người này được gọi là Krishna và
người kia được gọi là Rama - mặc dầu không ai là Rama và không ai là Krishna;
tất cả mọi cái tên đều hoàn toàn giả. Chúng ta được sinh ra không tên và chúng
ta chết đi không tên. Chúng ta chấp nhận cái tên trên trái đất này và chúng ta
bỏ nó khi chúng ta ra đi, nhưng nó có tiện ích ở giữa. Chẳng có hại gì trong nó
cả, chừng nào có hiểu biết về tiện ích của nó. Nhưng bạn biết bạn có thể dễ
dàng quên mất rằng cái tên chỉ có mục đích tiện dụng.
Khi một người sẵn sàng chết vì
cái tên của mình, rắc rối phát sinh. Người đó nói, “Chính vấn đề là cái tên của
tôi. Tôi sẽ không để cho tên mình bị bôi nhọ thậm chí với cái giá của cuộc đời
tôi.” Điều này chỉ ra rằng cái tên đã không còn là một tiện ích đơn thuần nữa.
Bạn đang bị cái tên đó sử dụng; cứu lấy cái tên và bạn được cứu, mất cái tên và
bạn mất.
Một buổi tối, khi Swami
Ramateertha ở Mĩ, ông ấy trở về nhà cười to và bạn ông ấy hỏi, “Có chuyện gì
vậy? Ông cười cái gì thế?”
Ông ấy đáp, “Người nào đó đã
gặp ta trên đường và họ bắt đầu sỉ nhục Rama. Ta đã cười to bởi vì họ đang sỉ
nhục Rama - cứ như là ta là Rama.”
Bạn bè ông ấy đều là những
người mới, không quen với cách nói của ông ấy, cho nên họ hỏi, “Ông đang nói gì
vậy? Ông không phải là Rama sao? Ông là Rama chứ. Nếu họ mà sỉ nhục ai đó, họ
đang sỉ nhục ông ấy.”
Ramateertha đáp, “Nếu cái tên
không chỉ là tiện dụng và ta bị đồng nhất bản thân mình với cái tên này thế thì
sỉ nhục là ngụ ý nói về ta, thế thì ta phải phản ứng. Nhưng ta biết rõ rằng cái
tên chỉ là để vận hành. Nếu ngày mai ta trở thành Krishna thay vì Rama, điều đó
cũng chẳng khác biệt gì; chỉ cái tên sẽ thay đổi và ta sẽ vẫn còn như cũ. Ta có
thể có một nghìn cái tên và chúng tất cả đều bề mặt. Sỉ nhục cái tên không có
nghĩa sỉ nhục ta. Ta còn nhiều hơn cái tên, và tách biệt khỏi cái tên.”
Nếu chúng ta có thể nhớ điều
này cũng trong quan hệ với cái tôi, thế thì cái tôi cũng chỉ là một tiện dụng.
Nhưng chúng ta không biết về một hiện tượng thú vị: chúng ta gọi người khác
bằng tên, nhưng nếu chúng ta gọi bản thân mình bằng tên thì điều đó lại thành
bất tiện. Nếu tôi mà gọi bản thân mình bằng tên thì điều đó sẽ dường như tôi
gọi ai đó khác, do đó cách thông thường chúng ta mô tả bản thân mình là như
tôi. Chúng ta dùng tên để mô tả người khác và chúng ta dùng tôi để mô tả cho
bản thân mình. Do đó tôi có tác dụng cho từng người để trỏ tới chính mình. Khi
chúng ta dùng tôi, chúng ta biết rằng chúng ta đang trỏ tới bản thân mình, khi
chúng ta dùng một cái tên thì nó trỏ tới ai đó khác.
Đó là lí do tại sao những người
quanh Ramateertha lại thấy khó hiểu ông ấy, bởi vì khi ông ấy nói thì ông ấy
không dùng cái tôi. Ông ấy hay nói, “Rama đang bước đi trên làn đường và vài
người bắt đầu sỉ nhục ông ta.” Ông ấy sẽ nói, “Rama đang đi tới thị trấn để nói
trong buổi nói chuyện.” Ông ấy không nói, “Tôi đang đi tới buổi nói chuyện.”
Nghe ông ấy, cứ dường như là ông ấy đang nói về ai đó khác.
Không có gì sai trong việc dùng
từ tôi; không có tội lỗi hay tội ác gì trong việc dùng tôi, nó là thực tế và
tiện dụng. Chỉ mỗi điều này cần phải nhớ: cái tôi là để cho thuận tiện và nó
không phải là thực. Thế thì cái gì là vấn đề trong việc gạt bỏ cái tôi? Vấn đề
nảy sinh khi cái nhãn trở thành linh hồn chúng ta; chừng nào nó chỉ là ở bề mặt
thì không vấn đề gì nảy sinh.
Nhưng chúng ta trở nên gắn bó
với cái nhãn tới mức chúng ta dán những cái nhãn này trên khắp mình. Tại khắp
nơi chúng ta chỉ là cái nhãn và nhãn, việc tìm ra con người đâm thành khó.
Những cái nhãn đơn thuần tiện dụng này dính nhanh vào chúng ta tới mức đôi khi,
thay vì có ích, nhãn lại trở thành có hại.
Tôi đã từng nghe:
Nasruddin làm việc ở một văn
phòng lớn. Một số đồ thuỷ tinh cần đưa đi phân phát và ông chủ yêu cầu anh ta
dán nhãn lên hộp để chỉ ra cách hộp để thẳng đứng, cho nên nó sẽ không bị đặt
lộn ngược. Thế là anh ta dán nhãn lên hộp và hộp được gửi đi. Khi ông chủ hỏi
anh ta, “Anh đã quên không đặt nhãn vào phải không?”
Nasruddin đáp, “Quên mất rồi!
Tôi đã dán chúng khắp mọi chỗ rồi - chúng là thấy được từ mọi phía.”
Đấy cũng là tình huống của
chúng ta. Cái nhãn sẽ có ích nếu như nó được đặt chỉ vào một phía, phía dựng
đứng lên, để cho người ta có thể chăm nom tới, Nhưng Nasruddin lại dán chúng ở
mọi phía, thấy được ở mọi bên. Bây giờ cái hộp này không thể nào được chăm nom
nữa vì phía bên nào cũng là phía 'dựng lên'.
Với chúng ta khía cạnh tiện
dụng cũng trở thành tự tử. Nó có thể đã có tác dụng, nhưng thực thể có tên đó
lại bị quên mất và chỉ cái tên còn lại. Nó sẽ là phải chỉ nếu những người khác
cũng rơi vào trong ảo tưởng này, nhưng việc xảy ra là bản thân người này cũng
lại rơi thành con mồi cho ảo tưởng này và nó cứ đi sâu bên trong người đó.
Nếu tất cả chúng ta ngồi đây
đều ngủ đêm nay và nếu ai đó lại buột mồm gọi, “Rama,” thì không ai sẽ nghe
thấy tiếng nói này ngoại trừ người có tên là Rama. Điều đó rõ ràng chỉ ra rằng
ngay cả trong giấc ngủ người đó vẫn nhận biết rằng mình là Rama. Mọi người còn
lại vẫn đang ngủ. Họ thậm chí không nhận biết rằng ai đó đang gọi Rama. Nhưng
con người này, cho dù trong giấc ngủ say hay chìm trong mơ, vẫn biết rằng mình
là Rama.
Cái tên đi sâu thế, nó cứ thấm
vào giống như mũi tên cắm vào ngực - cái tên đi vào giống thế, quyền lực đi vào
giống thế, tiền đi vào giống thế. Bản ngã là việc tích luỹ của mọi cái như thế
mà lại là cá tính của chúng ta: tên, danh tiếng, tiền bạc và quyền lực - tất cả
những cái này cùng nhau tạo ra bản ngã.
Hiền nhân này trước hết nói về
sự tan biến của bản ngã, việc loại bỏ maya này, và bây giờ ông ấy đang đưa ra
lời kinh hay nhất này. Ông ấy nói về cái nhảy từ tôi sang người, từ người sang
cái đó, rồi từ cái đó sang bản thân sự tồn tại. Thế rồi ông ấy nói về brahman,
thực tại tối thượng, và maya, ảo tưởng - và bỗng nhiên tới lời kinh này:
Ta chưa hề sinh, Ta không là
thân thể.
Ta không là mười giác quan.
Ta không là trí tuệ. Ta không
là tâm trí.
Ta thậm chí không là bản ngã
vĩnh hằng.
Cuộc hành trình đã bắt đầu với
cái tôi, tiến dần sang người, đạt tới cái đó, và thế rồi đến sự tồn tại trống
rỗng. Lại cái ta được dùng, nhưng bây giờ nó không cùng là cái tôi đã được nhắc
tới lúc ban đầu; cái tôi đó đã bị bỏ. Bây giờ chúng ta đã đi tới cái ta khác.
Cái ta này chỉ xuất hiện khi cái tôi đã biết trước đây được tan biến đi. Cái ta
này là cái ta thực. Cái ta này không có nghĩa bản ngã, nó có nghĩa linh hồn.
Chúng ta đã không tạo ra cái ta này; nó không có nghĩa cái tên, danh tiếng, uy
tín, quyền lực, văn hoá hay giáo dục của chúng ta. Cái ta này nghĩa là sự tồn tại
của chúng ta, sự hiện hữu của chúng ta.
Nhớ một điều: cái tôi đã được
từ bỏ, cái chúng ta đã thảo luận từ bỏ, cái đã bị bỏ đi, đã là 'việc làm' của
chúng ta; cái ta thứ hai này là 'sự hiện hữu' của chúng ta. Cái tôi kia là việc
làm của chúng ta, cái ta này là sự hiện hữu của chúng ta. Cho nên cố hiểu sự
khác biệt giữa việc làm và việc hiện hữu. Điều này sẽ cho bạn thoáng nhìn rõ
ràng về cái ta thứ hai.
Có những thứ chúng ta làm, cái
mà nếu chúng ta không làm chúng thì chúng sẽ không xảy ra. Chẳng hạn, nếu bạn
không được giáo dục, bạn sẽ vẫn còn thất học; nếu bạn không học một ngôn ngữ
thì bạn sẽ không biết nó. Nếu bạn muốn là nhà khoa học, bạn có thể trở thành
nhà khoa học, hay nếu bạn cố gắng trở thành thợ rèn, bạn có thể trở thành thợ
rèn - nếu bạn làm điều gì đó thì bạn sẽ trở thành ai đó. Nhưng có những điều
tồn tại bên trong bạn mà không phải là việc làm của bạn - nó là sự hiện hữu của
bạn. Sự hiện hữu của bạn không phải là việc làm của bạn. Bạn tồn tại trước mọi
hành động của mình; bằng không ai sẽ làm nó?
Đứa trẻ lớn lên trong bụng mẹ.
Đứa trẻ thậm chí không phải thở trong bụng mẹ, nó thậm chí không cần làm điều
này. Nhưng cố hiểu hiện tượng rất thú vị này: đứa trẻ đang tồn tại, nó không
thở vậy mà nó vẫn tồn tại. Sự hiện hữu của nó đang đấy, sự hiện diện của nó
đang đấy, linh hồn của nó đang đấy; linh hồn là sự hiện diện hoàn toàn.
Các nhà sinh lí học bao giờ
cũng nêu ra câu hỏi này: Khi nào cuộc sống bắt đầu? Từ khi nào? Nếu chúng ta
nghĩ rằng cuộc sống dừng lại với việc ngừng thở, thế thì cuộc sống phải bắt đầu
với việc bắt đầu thở. Cho nên khi đứa trẻ khóc lần đầu tiên sau khi sinh và lấy
hơi thở đầu tiên thì tiếng khóc của nó làm việc như một cú sốc, một cái đẩy để
bắt đầu việc thở của nó, tim đập, bây giờ bộ máy bắt đầu vận hành. Khi đứa trẻ
cất tiếng khóc đầu tiên, đây là việc làm đầu tiên của nó; tiếng khóc đầu tiên
của nó là việc làm đầu tiên của nó.
Nhưng câu hỏi là, liệu đứa trẻ
có tồn tại trước khi khóc hay không. Nếu nó không hiện hữu, thế thì ai khóc?
Nếu nó không hiện hữu, thế thì ai lấy hơi thở đầu tiên? Nó đã hiện hữu, bằng
không điều này không thể xảy ra được. Cho nên điều này, cái tồn tại trước hơi
thở đầu tiên là sự hiện hữu của chúng ta; đó là việc hiện diện của chúng ta, đó
là linh hồn của chúng ta.
Căng điều đó sang phía bên kia
nữa. Trong trường hợp thứ nhất các nhà sinh lí học có thể đồng ý với tôi về
hiện tượng này - rằng nếu không ai đã hiện diện trước hơi thở đầu tiên, thế thì
ai là người thở lần đầu tiên? Nhưng ở phía bên kia, các nhà sinh lí học sẽ cảm
thấy nhiều vấn đề hơn khi tôi nói rằng khi việc thở dừng lại, cái đã hiện diện
trước hơi thở đầu tiên sẽ vẫn hiện diện về sau. Nó không liên quan tới việc
dừng thở, nó đã tồn tại hoàn hảo trước việc thở, cho nên nó có thể tồn tại hoàn
hảo sau khi việc thở đã dừng lại.
Bạn sẽ dễ dàng hiểu luận cứ thứ
nhất: Ai sẽ thở nếu ai đó đã không hiện diện? Luận cứ thứ hai là còn quan trọng
hơn nhiều: Ai là người buông bỏ việc thở nếu không có sự hiện hữu bên trong,
khác hơn việc thở? Nhưng luận cứ thứ hai không thể được hiểu dễ dàng. Nếu luận
cứ thứ nhất được hiểu, không có khó khăn gì trong việc hiểu luận cứ thứ hai.
Cho nên chúng ta làm rõ một
phân loại: có những điều chúng ta làm. Đây là lí do tại sao một người càng làm
nhiều, người đó càng trở thành một bản ngã lớn hơn. Thế thì người ta có thể nói
rằng những người lười biếng được ân huệ, bởi vì không có nhiều 'việc làm' quanh
họ để qua đó họ có thể xây dựng nên bản ngã của mình. Dầu vậy tâm trí con người
cũng rất thủ đoạn: họ có thể coi lười biếng của mình là một loại việc làm. Họ
có thể nói, "Chúng ta đang trong hành động của việc thảnh thơi hay không
làm.”
Bất kì điều gì chúng ta làm,
chúng ta đều dùng nó chỉ để làm nâng cao bản ngã của mình. Bất kì điều gì chúng
ta làm, chúng ta đều làm mạnh thêm cho cái tôi của mình. Cái tôi của chúng ta
là tổng số của việc làm của chúng ta - tổng cộng. Đó là lí do tại sao bản ngã
lại cứ tăng lên hàng ngày. Bởi vì điều này mà trẻ con thì đơn giản còn người
già lại phức tạp. Điều đó không có mối quan hệ khác với tuổi tác ngoại trừ nhân
tố này, rằng bản ngã đã có thời gian để trở nên mạnh hơn trong người già. Đó là
lí do tại sao người già có thể dễ dàng trở nên cáu bẳn, giận dữ và khó tính.
Điều này xảy ra tự nhiên; trẻ con ngày nay cũng sẽ chứng tỏ là giống như ngày
mai, chúng cũng sẽ trở thành giống như thế này.
Có lí do cho điều đó, nhưng nó
chẳng liên quan gì tới tuổi cả, nó liên quan tới việc làm vẫn cứ tăng lên hàng
ngày. Người già đã làm quá nhiều. Đó là lí do tại sao người già bao giờ cũng
nói về việc làm của mình - tôi đã làm cái này, tôi đã làm cái nọ. Trẻ con có
thể nói được gì về điều này? Chúng còn chưa làm cái gì cả. Ngay bây giờ chúng
chỉ tồn tại; chúng thở, động đậy chân tay - điều này không thể tạo ra nhiều bản
ngã được. Cho nên trẻ con trông đơn giản và lí do cho tính đơn giản của chúng
là ở chỗ chúng chưa có cơ hội nào để phát triển bản ngã của mình.
Đó là lí do tại sao hiền nhân
này nói rằng khi người già trở thành như trẻ thơ thì đó là việc nở hoa tối
thượng. Vậy mà thông thường thì tình huống hoàn toàn đối lập: trẻ con trở thành
giống người già còn người già không hành xử như trẻ con. Nếu người già mà như
trẻ con, đấy là việc nở hoa tối thượng; nếu trẻ con trở thành giống người già,
đấy là tổn thất tối thượng, sụp đổ tối thượng. Nhưng đấy lại là điều đang xảy
ra.
Tất cả chúng ta đều cố gắng
giúp cho đứa trẻ phát triển bản ngã của nó; đứa trẻ cũng cố gắng làm cùng điều
này. Đôi khi đứa trẻ lại những nỗ lực nhiều tới mức không thể nào hiểu nổi,
nhưng nếu bạn đi sâu vào trong nó thì bạn sẽ hiểu.
Một hôm tôi đi qua một trạm bưu
điện và tôi thấy một cậu nhỏ hút thuốc lá, một đứa bé rất nhỏ. Nó đeo râu giả
đáng một hay hai đồng. Mặt trời còn chưa lên - lúc đó nó mới sắp lên thôi, và
chúng tôi có mỗi mình trên đường. Khi nó thấy tôi, nó lẩn trốn vào sau gốc cây.
Tôi đi theo nó, và khi tôi nói với nó, nó nhanh chóng dụi tắt điếu thuốc lá và
tháo râu giả ra. Tôi tới gặp bố nó và thấy rằng đứa bé này chỉ đang cố gắng bắt
chước anh ta - anh ta đeo râu và hút thuốc lá. Cho nên đứa bé đáng thương này
đã cố gắng tận hưởng làm người lớn. Và việc bắt chước bố cách đi của bố nó cũng
đáng nhìn - hút thuốc và bước đi, và đeo râu!
Các ông bố đều thuyết giảng cho
con mình đừng hút thuốc, nhưng họ không biết rằng thuốc lá không chỉ tạo ra
việc hút thuốc, nó còn tạo ra bản ngã nữa. Thuốc lá đã trở thành biểu tượng của
người lớn - chỉ người lớn mới hút thuốc! Nó là biểu tượng rằng duy nhất người
lớn mới có thể hút thuốc. Nếu đứa trẻ hút thuốc, mọi người nói, "Không
phải tuổi cháu - trước hết là người lớn đi, thế thì cháu có thể hút
thuốc." Cho nên đứa trẻ nghĩ, "Nếu hút thuốc là biểu tượng cho người
lớn, hại gì trong việc hút thuốc? Nó sẽ chỉ gây ra chút ít ho, chút ít rắc rối,
vài giọt nước mắt trong mắt. Mình sẽ quen với điều đó, và với chút ít thực hành
điều đó sẽ ổn thoả.”
Cho nên trẻ con đang cố gắng
bắt chước người lớn; bản ngã đang cố gắng diễn đạt nó. Nó sẽ phát triển và nó
sẽ bành trướng. Việc làm của chúng ta là bản ngã của mình, sự hiện hữu của
chúng ta là linh hồn của mình.
‘Hiện hữu’ nghĩa là cái chúng
ta đã là, cái người ta không phải tạo ra. Chúng ta đã chẳng làm gì cả để đạt
tới nó hay tạo ra nó. Làm sao chúng ta có thể làm cái gì cho nó được? Hiện hữu
đứng trước mọi việc làm của chúng ta.
Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu nói
về cái ta có nghĩa là sự hiện hữu, có nghĩa là hiện hữu. Chúng ta sẽ phải diễn
đạt nó theo cách phủ định, bằng không thì chúng ta sẽ không có khả năng hiểu
nó. Chúng ta chỉ hiểu cái tôi nói, "Đây là nhà của tôi. Đây là cửa hàng
của tôi. Đây là vị trí của tôi.”
Cố hiểu điều đó. Cái 'của tôi'
càng lớn thì cái tôi càng lớn. Đó là lí do tại sao cái tôi trong người nào đó
nói đây là quốc gia của tôi, đây là tôn giáo của tôi, lại trở thành thậm chí
lớn hơn. Bạn có một mảnh đất nhỏ - thế thì chắc chắn bạn không thể có cái tôi
khổng lồ được. Làm sao bạn có thể được? Người khác có mảnh đất to hơn, và vậy
mà người khác lại nói có cả một đất nước, cả quốc gia; chắc chắn cái tôi của
người đó là lớn nhất.
Bành trướng của cái 'của tôi'
là bành trướng của việc làm, của quyền sở hữu; cái tôi cũng phát triển cùng
điều đó. Cho nên khi của cải của bạn bị đánh cắp, không chỉ là của cải bạn bị
đánh cắp, cái gì đó của bạn cũng bị lấy đi nữa. Bạn đã bị cướp và điều đó được
cảm thấy như là linh hồn của bạn đã ra đi. Cảm giác này của việc bị cướp không
chỉ có liên quan tới của cải của bạn, nó có liên quan tới bạn bởi vì bây giờ
cái 'của tôi' của bạn đã bị giảm bớt cùng nó. Cái 'của tôi' của bạn đã bị xén
tỉa đi cùng với của cải của bạn; một lượng cái tôi của bạn cũng đã chết đi cùng
nó.
Cái tôi giả tạo của chúng ta có
liên quan tới cái 'của tôi'. 'Của tôi' là đế quốc, vương quốc mà trong đó cái
tôi sống. Dùng biểu tượng về ngọn đèn, nó là dầu, chất đốt của 'cái tôi' giữ
cho ngọn bấc của cái tôi cháy. Nếu năng lượng được trao cho 'của tôi' mà cạn
đi, ngọn lửa của cái tôi sẽ tắt.
Chắc chắn, việc thảo luận về
cái ta khác sẽ phải bắt đầu bằng sự phủ nhận.
Ta không là mười giác quan.
Quên của cải đi - nó là bên
ngoài; quên danh tiếng đi - nó là bên ngoài.
Các giác quan là rất sâu và bên
trong, vậy mà: Ta không là mười giác quan. Giác quan bằng cách nào đó vẫn là
bên ngoài.
Ta không là trí tuệ.
Trí tuệ thậm chí còn sâu hơn.
Ta không là tâm trí.
Ta là cái gì đó mà đơn giản
chưa bao giờ được tạo ra: ta không sinh.
Ta không là thân thể.
Và điều cuối cùng:
Ta thậm chí không là bản ngã
vĩnh hằng.
Chúng ta đã thảo luận về một
kiểu cái tôi, bản ngã. Bản ngã này không phải vĩnh hằng, nó chỉ tới rồi đi, nó
hình thành và nó tan biến. Câu cuối này trong lời kinh này là tuyệt diệu. Bản
ngã thứ nhất là tạm thời, nó biến mất, cho nên chúng ta thường ao ước phá huỷ
bản ngã tạm thời này chỉ để cho chúng ta có thể đạt tới bản ngã vĩnh hằng nào
đó.
Các nhà lãnh đạo tôn giáo
thuyết giảng cho mọi người vứt bỏ bản ngã tạm thời này bởi vì nó là chốc lát.
Điều rất thú vị là họ nói, "Vứt bỏ bản ngã này đi, nó là nhất thời, đạt
tới linh hồn cái không bao giờ có thể bị huỷ diệt.”
Tham lam nảy sinh trong tâm trí
chúng ta và chúng ta nghĩ, “Điều này vĩ đại đây! Thế thì chúng ta sẽ đạt tới
bản ngã vĩnh hằng. Chúng ta vứt bỏ bản ngã tạm thời này đi, nó sẽ bị bỏ lại
đằng sau, nó là nhỏ bé; nếu mình vứt bỏ bản ngã này thì mình sẽ đạt tới bản ngã
kia.”
Người mà trong tâm trí mình
tham lam này xuất hiện sẽ không bao giờ có khả năng vươn lên trên bản ngã. Do
đó hiền nhân này đưa ra một lời kinh rất cách mạng. Ông ấy nói: Ta thậm chí
không là bản ngã vĩnh hằng.
Đừng nghĩ rằng có một cái tôi
mà sẽ còn lại mãi mãi, cái tôi bao giờ cũng là nhất thời; không có gì giống như
cái tôi vĩnh hằng cả. Cái tôi tan biến, trở thành cái không, và không bản ngã
thuộc bất kì loại nào còn lại cả.
Nhưng tâm trí tham lam của
chúng ta là tâm trí bị ám ảnh bởi bản ngã. Chúng ta cảm nhận linh hồn chẳng là
gì ngoài một loại trạng thái thuần khiết của bản ngã. Khi chúng ta nói 'linh
hồn', chúng ta thấy nó như có nghĩa bản ngã vĩnh hằng - rằng cái bản ngã nhỏ sẽ
bị vứt bỏ nhưng cái tôi bên trong thực sự sẽ không bao giờ bị mất. Hiền nhân
này nói không có cái tôi như vậy ở bên trong, và chỉ khi bạn đi tới nhận ra
điều này, bạn mới biết cái bên trong.
Ta thậm chí không là bản ngã
vĩnh hằng.
Lời kinh này tương tự như từ
của Phật anatta, ‘vô ngã’. Phật hay nói không có cái ngã (ta), chỉ có 'vô ngã'.
Đó là lí do tại sao sự việc lại trở thành rất khó cho Phật để phát triển gốc rễ
ở Ấn Độ. Khái niệm của Phật có thể đã không có sức hấp dẫn sâu sắc cho mọi
người bởi vì ông ấy đã không gợi ra bất kì tham lam nào.
Nghe Mahavira bạn có thể trở
nên tham lam, cho dù ông ấy đã không chủ định điều đó. Mahavira nói, “Bạn sẽ
trong moksha, bạn sẽ trong trạng thái của tâm thức thuần khiết, thức tỉnh.” Và
người nghe nghĩ, “Vậy thì mình sẽ vẫn ở lại đó.” Cái gì đó đã đi sai ở đây giữa
Mahavira và người nghe. Mahavira nói, “Bạn sẽ vẫn còn thuần khiết, thức tỉnh và
vĩnh hằng,” còn người nghe chẳng có ý tưởng gì về 'bạn' mà Mahavira đang nói
tới là cái nào. Người đó nghĩ, “Điều đó thực vĩ đại! Cho nên mình sẽ ở đó, mình
sẽ tồn tại.”
Nhưng người đang nói lại không
là gì khác hơn cái tôi mà người đó đã tích luỹ. Người đó nói, "Chẳng hại
gì, thế thì chẳng có gì phải lo nghĩ cả. Cho dù cái nhà này có bị bỏ lại đằng
sau thì cũng không có vấn đề gì, cho dù tiền bạc này bị bỏ lại đằng sau thì
cũng không có vấn đề gì, mình sẽ vẫn có đó.” Và cái tôi này lại không là gì
khác hơn là tổng của chính những thứ này.
Phật nói, “Các ông sẽ chẳng còn
lại gì hết cả. Mọi thứ khác có thể còn lại, nhưng không phải các ông.”
Người tham lam không thể nào
chấp nhận được phát biểu này. Người đó sẽ nói, “Thế thì còn có ích gì? Sao tôi
lại phải mất mọi thứ mà chẳng thu được cái gì? Cái gì sai trong bản ngã tạm
thời?”
Và bạn nói, “Bởi vì niềm vui
này là tạm thời.”
Thế rồi người đó nói, “Thôi
được, nếu có niềm vui vĩnh hằng nào đó, tôi có thể liều.”
Nhưng thế rồi bạn nói, “Không
có cả niềm vui vĩnh hằng nữa.”
“Thế thì tôi có thể cứ tận
hưởng những niềm vui tạm thời này.”
Người tham lam nói, “Tôi chấp
nhận rằng bản ngã này là khổ, nó là đau đớn, tôi đau khổ - nhưng tôi sẽ được gì
nếu tôi bỏ nó?”
Nếu cái gì đó lớn hơn có thể
được đạt tới, tâm trí kinh doanh của chúng ta đồng ý. Chúng ta sướng với thoả
thuận trao đổi đó. Đầu tư này không phải là đầu tư lỗ - bỏ đi cái bé mà thu về
nhiều hơn; bỏ đi cái tạm thời và thu về cái vĩnh hằng; giọt nước biến mất mà
lại thu được đại dương. Hại gì? Cái gì sai trong nó? Lòng tham của chúng ta
nói, “Toán học là rõ ràng, có thể chấp nhận rủi ro được.”
Nhưng Phật nói, “Không, không
có cái ta, cái ta không tồn tại. Không có linh hồn bên trong ông, ông chỉ là
bản ngã. Và bản ngã chỉ là đau khổ, do đó bỏ bản ngã đi. Đừng hỏi ta sẽ đạt
được gì. Chẳng cái gì đạt được cả.”
Cho nên người tìm kiếm nghĩ,
“Thế thì mình sẽ cứ bám chặt với cái mình có vậy.”
Hậu quả là Phật đã không thể được
mọi người hiểu, bởi vì ông ấy đã không dùng ngôn ngữ của tham lam. Phật có thể
là người duy nhất trên thế giới này không dùng ngôn ngữ của tham lam. Hiền nhân
này cũng đang nói cùng điều đó. Ông ấy nói: ta thậm chí không là bản ngã vĩnh
hằng - ta không tồn tại cho dù nói tôi. Đây là phủ nhận tuyệt đối
Ta không là mười giác quan.
Nhưng bạn có hiểu ý nghĩa của
điều này không? Bạn có thể không hiểu thấu nó có nghĩa là gì: Ta không là mười
giác quan. Bạn đã bao giờ có kinh nghiệm mà không có giác quan không? Bất kì
điều gì bạn đã biết, bạn đều biết qua mười giác quan này. Tưởng tượng: Ta không
là mười giác quan.
Điều đó nghĩa là mọi kinh
nghiệm của bạn đều bị mất, bạn bị bỏ lại trắng tay, chẳng còn lại cái gì. Tình
yêu bạn đã biết, kính trọng bạn đã biết, sỉ nhục bạn đã nhận, hoa bạn đã thấy,
cái đẹp bạn đã kinh nghiệm qua mắt, âm nhạc bạn đã nghe qua tai, hương thơm,
mọi thứ đều sẽ mất; cái chạm này - mọi thứ sẽ tan biến. Bạn sẽ có cái gì còn
lại?
Khi hiền nhân này nói: Ta không
là mười giác quan, ông ấy ngụ ý rằng bất kì kinh nghiệm gì của mười giác quan
mà bạn đã tích luỹ thì bạn đều không là những cái đó. Thế thì bạn là hoàn toàn
trống rỗng, chỉ bình bát xin ăn còn lại mà không có gì trong bình bát cả, bởi
vì mọi thứ đã được đặt vào trong nó bởi mười giác quan.
Điều đó cũng giống như dòng
sông Hằng nói, “Ta không là những con sông kia đã hội nhập với ta.” Rắc rối mà
sông Hằng sẽ phải đối diện thì chúng ta cũng phải đối diện. Sông Hằng là gì nếu
không có chúng? - nó là sự trộn lẫn của tất cả các con sông và nhánh sông hội
nhập lại với nhau. Nếu như sông Hằng mà nói, “Bất kì con sông nào đã hội nhập
vào ta, ta đều không phải là những sông đó. Tất cả nước đã tuôn chảy trong ta
đều không phải là ta" - thế thì sông Hằng có còn là con sông nữa không?
Chỉ sa mạc khô cằn sẽ còn lại.
Chúng ta cũng là tổng số của
những con sông đó mà các giác quan đã đem lại cho chúng ta. Mọi giác quan đều
đã đóng góp cho luồng vui thích trong ta. Mắt đã đem tới việc nhìn, tai đã đem
tới việc nghe, lưỡi đã đem tới việc nếm. Chúng ta là tổng số của tất cả những
điều này. Loại bỏ những giác quan này từng cái một - cuộc hành trình được thực
hiện bằng chân bạn, những thành tựu của tay bạn, những phát biểu của bạn được
thực hiện qua lời bạn và được nghe bằng tai bạn. Nếu tất cả mà bị loại bỏ đi, cái
gì sẽ còn lại bên trong? Và hiền nhân này nói: Ta không là mười giác quan. Cho
nên bạn có thể nghĩ: "Chẳng cái gì có thể còn lại - nhưng cho dù thế thì
vẫn có đủ trí tuệ còn lại để biết rằng không cái gì còn lại cả." Nhưng thế
rồi hiền nhân này nói;
Ta không là trí tuệ.
Tại sao? Đây là một phát biểu
rất đáng ngạc nhiên: Ta không là trí tuệ. Việc phủ nhận mọi thứ khác là còn
hiểu được. Không có nhiều vấn đề trong việc phủ nhận các giác quan bởi vì chúng
là một phần của thân thể vật lí, nhưng trí tuệ - ý nghĩ và tâm trí - được bắt
rễ sâu sắc.
Thực tế, trí tuệ được sinh ra
từ cuộc đấu tranh giữa tâm thức bên trong và thế giới bên ngoài. Đó là lí do
tại sao nếu bạn không có thách thức trong cuộc đời mình thì trí thông minh của
bạn sẽ không nở hoa. Do đó, con của nhà giầu vẫn còn không thông minh, không có
thách thức để đánh thức trí thông minh của họ và không có cơ hội nào cho sáng
tạo và diễn đạt của nó.
Tưởng tượng rằng bạn lập tức có
được bất kì cái gì bạn muốn. Chẳng hạn, tưởng tượng rằng một ngày nào đó chúng
ta có thể tạo ra một kalpa-vriksha, cây thoả ước huyền thoại trên trái đất - mà
con người đang cố gắng, con người đang cố gắng vất vả - người ngồi dưới gốc cây
đó có thông minh nào không? Cứ tạo ra một điều ước, và bạn lập tức có ngay điều
mình muốn mà chẳng phải tranh đấu, chẳng một thách thức nào - bạn cần gì thông
minh? Cho nên thông minh cũng giống như việc mài sắc lưỡi kiếm. Sự sắc bén của
lưỡi kiếm là do cọ xát. Nếu không có cọ xát vào lưỡi kiếm, nó không thể có cạnh
sắc được.
Cho nên người ta có thể có
thông minh bên trong, nhưng nó chỉ phát triển và biểu lộ sau khi có tranh đấu
bên ngoài. Đó là lí do tại sao người thông minh được sinh ra trong thời tranh
đấu; khi cuộc đấu tranh qua rồi họ biến mất. Bạn càng có nhiều thách thức trong
cuộc sống, bạn sẽ càng có sắc bén hơn, và nếu không có thách thức nào cả, sắc
bén bị mất.
Ngày nay, nếu người Mĩ trẻ đang
bỏ trường học, cao đẳng và đại học, lí do duy nhất là ở chỗ họ không cần chúng;
tất cả những thuận tiện và thoải mái của cuộc sống đều sẵn có đấy. Để có được
những thoải mái này học sinh thường phải mài sắc trí thông minh của mình, để
học hành chống đối lại những cái bất tiện, làm bài tập về nhà dưới ánh đèn của
cột đèn trên phố. Ngày nay họ tất cả đều giống như kẻ ngốc. Ngày nay nhiều học
sinh Mĩ đang nói, "Phỏng có ích gì mà tới trường đại học? Phỏng có ích gì
mà nghiên cứu?"
Cũng không có gì đáng ngạc
nhiên nếu trong năm mươi năm tới các đại học Mĩ ngày càng trống rỗng hơn - và
họ có những đại học tốt nhất. Đây là điều đặc biệt kì lạ của con người. Trong
thực tế cuộc tranh đấu đang mất đi, thách thức đang mất đi.
Ngày nay, Mĩ có những phương
tiện tốt nhất cho việc phát triển trí tuệ, nhưng mức độ trí tuệ riêng của Mĩ
lại không phát triển lên. Phần lớn trí tuệ của nó đã được vay mượn từ các quốc
gia khác. Mĩ có thể mua nó, nhưng được bao lâu? Tình huống này nay đang tạo ra
vấn đề cho các quốc gia khác, và nhiều quốc gia ở châu Âu đã bắt đầu tạo ra các
qui chế không cho phép những người thông minh của mình được di cư sang Mĩ bởi
vì điều đó đang tạo ra việc chảy não. Người thông minh được sinh ra ở bất kì
đâu chẳng chóng thì chầy đều kết thúc ở Mĩ; điều đó trở thành không thể tránh
khỏi bởi vì phần lớn các quốc gia đều không thể cung cấp được các tiện nghi cho
công việc hàn lâm mà cũng không cung cấp được tiền bạc, uy tín, phòng thí
nghiệm - chẳng cái nào trong điều đó - như Mĩ có thể cung cấp. Cho nên việc
chảy não cứ xảy ra ở mọi nước; trí thông minh cứ tuột đi khỏi các quốc gia khác
theo một cách tinh tế.
Cũng như đã có thời trong quá
khứ khi của cải trên khắp thế giới đã được hút về London, bây giờ mọi thông
minh đang bị kéo về New York. Và việc khai thác của cải là vấn đề tầm thường,
không phải là chuyện lớn, nhưng trí thông minh bây giờ bị hút đi thì lại là vấn
đề quan trọng. Và Mĩ có thể sống trên trí thông minh vay mượn được bao lâu? Mĩ
có thể hấp dẫn những người thông minh từ Ấn Độ hay từ Anh và vân vân, nhưng thế
thì con cái họ nhất định sẽ từ chối vào các đại học. Khi không có tranh đấu,
thông minh không phát triển.
Cho nên hiền nhân này nói: Ta
không là trí tuệ, bởi vì trí tuệ nữa cũng là bên ngoài, trí tuệ nữa cũng phát
triển từ cuộc tranh đấu bên ngoài. “Không,” hiền nhân này nói, “Ta cũng không
là sự sắc bén này vốn tới từ cuộc tranh đấu bên ngoài.”
Ta không là tâm trí.
Sau rốt, chúng ta suy tưởng về
cái gì? Chúng ta chỉ suy tưởng về đối tượng nào đó trong thế giới bên ngoài khi
nó trở thành có giá trị cho chúng ta. Chúng ta nghĩ, chúng ta suy tư, chúng ta
nghiền ngẫm.
Trí tuệ là hệ thống logic đó
làm sắc cho nhân cách của con người và làm cho con người hiệu quả hơn trong
cuộc đấu tranh trên thế giới. Và tâm trí có nghĩa là khả năng để suy tư, suy
nghĩ và nghiền ngẫm, điều cho con người lối vào và khả năng ngẫm nghĩ về cái
trừu tượng, cái không biểu lộ.
Cố hiểu điều đó như thế này:
nếu bạn biết hay đã thấy trò chơi cờ vua, bạn sẽ biết rằng người có thể hình
dung ít nhất năm bước đi trước sẽ trở thành kì thủ tài ba. Người đó phải tưởng
tượng trước: "Mình sẽ đi cách này, nước đáp lại sẽ là thế này, nước đáp
lại của đối thủ mình sẽ là thế này, và thế thì đây sẽ là nước đi của người kia;
thế thì mình sẽ đi theo cách này và đối thủ của mình sẽ đi như thế này.”
Một người được coi là chuyên
gia tới mức độ nào đó là người có thể suy tư trước theo cách này. Dầu là những
nước đi này còn chưa được tiến hành, và những nước đi đó còn chưa được gặp
phải, bởi vì chúng còn chưa được tạo ra ở phía bên kia. Khả năng lập kế hoạch
trước được gọi là suy tính trước. Nhưng ngay cả điều đó cũng là bên ngoài, việc
tính toán các nước đi bên ngoài - nó không liên quan tới cái bên trong.
Khi đứa bé được sinh ra, nó
không có trí tuệ lẫn tâm trí, chỉ có tiềm năng. Thế rồi tiềm năng trở thành
thực tại. Cách thức nó trở thành thực tại lại tuỳ thuộc vào cơ hội, hoàn cảnh.
Chúng ta không là cái nào trong
những cái này. Thế thì chúng ta là cái gì? Thế thì cái gì là ý nghĩa của của sự
tồn tại của chúng ta? Đây chỉ là việc phủ định - không cái này, không cái này,
không cái này, không cái này.
Ta hiện hữu không prana, hơi
thở sống của cuộc sống.
Ta hiện hữu không tâm trí.
Ta bao giờ cũng là tự tính
thuần khiết .
Ta bao giờ cũng là nhân chứng
bên ngoài trí tuệ.
Ta là bản thân tâm thức vĩnh
hằng.
Về điều này không có hoài nghi.
“Ta chưa hề sinh, bao giờ cũng
không có hơi thở sống của cuộc sống, và không có tâm trí....” Tôi mới bảo bạn,
hơi thở sống của cuộc sống là cái bắt đầu ngay khi đứa trẻ thở. Đây là cách
yoga đi tìm các kĩ thuật làm cho người ta có khả năng sống chỉ như đứa trẻ có
thể tồn tại mà không thở. Tại sao phải có vấn đề kiểm soát việc thở của chúng
ta theo cách chúng ta có thể tồn tại mà không thở? Yoga đã tìm ra những kĩ
thuật như vậy, và từ hiểu biết của nó rằng, như đứa trẻ có thể tồn tại không
thở thì chúng ta cũng nên có khả năng làm như vậy, một phương pháp công phu đã
được tạo ra.
Yoga đã làm nhiều công việc về
pranayoga, kỉ luật của hơi thở sống, và với việc thở ra rất, rất chậm cố gắng
đem nó về trạng thái trung lập trong đó đứa trẻ ở trước hơi thở đầu tiên của
nó, hay trong đó nó sẽ theo sau hơi thở cuối cùng của nó.
Có một nhà yogi ở Nam Ấn Độ tên
là Brahmayogi. Bỗng nhiên, vào năm 1930, tên ông ấy lan khắp thế giới, bởi vì
ông ấy có thể dừng việc thở của mình trong mười phút. Khi ông ấy làm buổi trình
diễn đầu tiên của mình tại Đại học Calcutta thì mười bác sĩ, những bộ óc y học
thông minh nhất của Đại học Calcutta, đã tụ tập quanh ông ấy. Brahmayogi đã bảo
họ viết giấy xác nhận cái chết cho ông ấy trong trường hợp ông ấy được coi là
chết trong quá trình thực nghiệm. Tất cả mười bác sĩ đều kí giấy xác nhận cái
chết của ông ấy khi việc thở của ông ấy đã dừng lại bởi vì tất cả các triệu
chứng của cái chết đều rõ ràng, theo y học.
Nhưng sau mười phút nhà yoga
này quay lại cuộc sống. Khi ông ấy gập tờ giấy xác nhận và đút vào túi thì các
bác sĩ yêu cầu ông ấy trả lại tờ xác nhận và nói, “Ông định kiện chúng tôi, đưa
chúng tôi ra toà sao? Nếu vậy, chúng tôi sẽ bị rắc rối lớn.”
Mười bác sĩ này đã xác nhận
rằng con người này đã chết. Nhưng việc thở của ông ấy phục hồi lại. Brahmayogi
hay nói, “Tôi đưa việc thở tới điểm nơi nó ở trong đứa trẻ ngay trước khi sinh,
cho tới khoảnh khắc trước khi sinh. Chậm dần lại, ngày một chậm hơn nữa, việc
thở đi tới điểm dừng, và cùng với việc dừng này, nhịp tim và mạch cũng dừng
lại.”
Nhưng linh hồn vẫn có đó, bằng
không thì ai quay lại? Con người này đã quay lại. Ông ấy đã thực hiện thực nghiệm
này tại Rangoon và tại Oxford nữa.
Các bác sĩ bảo ông ấy, “Nếu ông
đúng và chúng tôi đã không bị gạt theo cách nào đó, chúng tôi sẽ phải thay đổi
định nghĩa của mình về cái chết. Mãi cho tới nay chúng tôi đã xác nhận một
người là chết nếu người đó biểu lộ tất cả các triệu chứng lâm sàng của cái
chết. Chúng tôi đã xác nhận nhiều người là chết; bây giờ chúng tôi không thể
biết được bao nhiêu người trong số họ là thực sự chết hay không. Bây giờ dường
như không còn có cách để kiểm tra kép về nó!”
Chân lí là ở chỗ không người
nào trong số họ chết cả. Nếu chúng ta lấy ý nghĩa của cái chết như việc triệt
tiêu, không ai trong số họ bị triệt tiêu cả. Định nghĩa duy nhất về cái chết mà
chúng ta có là ở chỗ cái máy được dùng để thở không còn có khả năng thở nữa. Brahmayogi
đang làm điều đó theo cách khác; cái máy này còn có khả năng nhưng ông ấy không
thở gì nữa. Người chết là ở tình huống đối lập: người đó muốn thở nhưng cái máy
không còn khả năng nữa. Nếu một trong hai điều trên bị thiếu, việc thở sẽ dừng:
hoặc là cái máy trở nên không có khả năng, hoặc người đó không muốn thở.
Trong những khoảnh khắc ngắn
ngủi, chúng ta cũng dừng thở - bất kì ai đều có thể làm điều này. Nhưng nếu
chúng ta có thể dừng thở dù chỉ một khoảnh khắc, với khoảnh khắc đó chúng ta đã
xoay xở được không cần hơi thở sống. Và nếu chúng ta có thể xoay xở không cần
nó cho dù là một khoảnh khắc, chúng ta có thể xoay xở cho mười khoảnh khắc; đó
không phải là điều lớn. Thế thì nó chỉ là vấn đề công phu.
Không hơi thở sống ... không
tâm trí.
Chúng ta hiện hữu, ngay cả khi
chúng ta không nghĩ. Ngay cả trong giấc ngủ sâu, khi tất cả các ý nghĩ biến mất
và mơ biến mất, chúng ta vẫn hiện hữu.
Bây giờ các nhà khoa học nói
rằng cho dù họ có lấy ra toàn bộ bộ não của con người thì sự hiện hữu của người
đó vẫn không bị phá huỷ, người đó vẫn có đó. Tâm trí không phải là bản chất để
tồn tại. Trong thực tế chúng ta phải ngủ hàng ngày bởi vì chúng ta bị mệt mỏi
với tâm trí tới mức cần phải bỏ nó lại đằng sau một chốc, bằng không thì chúng
ta cảm thấy già lão và cũ mèn.
Ta không là tâm trí...
Ta là nhân chứng bên ngoài trí
tuệ.
Người ta có thể cố gắng là nhân
chứng bằng việc dùng tâm trí. Bất ki khi nào bạn đang thực hành là nhân chứng,
bạn đều đang làm như vậy về mặt trí tuệ. Bạn nói, "Tôi sẽ vẫn còn là nhân
chứng, tôi sẽ cố gắng là nhân chứng.”
Mọi nỗ lực, mọi cố gắng đều
thuộc vào tâm trí. Không ai có thể là nhân chứng qua tâm trí được; việc chứng
kiến chỉ có thể khi tâm trí tan biến. Tâm trí không bao giờ có thể trở thành
nhân chứng được. Cố hiểu điều đó thật cẩn thận.
Tâm trí không thể còn lại mà
không có đánh giá, còn việc chứng kiến có nghĩa là không đánh giá. Việc chứng
kiến nghĩa là nếu tôi thấy đoá hoa, tôi vẫn còn chỉ thấy nó; không có ý nghĩ
rằng nó là đẹp nảy sinh trong tâm trí tôi mà cũng không có ý nghĩ rằng nó là
xấu; không có ý nghĩ nảy sinh rằng nó là hoa hồng mà cũng không ý nghĩ rằng nó
là hoa nhài; không có ý nghĩ hái nó nảy sinh mà cũng không có ý nghĩ bỏ nó đấy
- tâm trí không len vào giữa. Đoá hoa ở đó và tôi ở đây; không cái gì nảy sinh
ở giữa, không sóng ý nghĩ nào len vào giữa. Nó tất cả đều là trống rỗng, hư
không ở giữa - đoá hoa ở đó và tôi ở đây. Chỉ thế thì tôi mới là nhân chứng.
Nếu bạn tự nói với mình một
cách kiêu ngạo, “Thôi được rồi, khoảnh khắc này mình là nhân chứng cho đoá
hoa,” ngay cả khi bạn nói điều này thì bạn cũng đang có liên hệ với ý nghĩ này
và không liên hệ với đoá hoa. Và nếu trong việc nhìn đoá hoa này một chớp loé
nhỏ tới trong đó "Nó đẹp thật" - cho dù chưa bằng lời, chỉ là một
chớp loé - thì thế nữa tâm trí đã bước vào. Tâm trí không thể nào tồn tại mà
không đưa ra đánh giá.
Trong thực tế, chính chức năng
của tâm trí là để đánh giá. Bạn sẽ phải đánh giá ủng hộ hay chống đối, bên này
hay bên kia. Bạn sẽ phải ở đâu đó - với tâm trí bạn không thể trung lập được.
Và bạn chỉ có thể là nhân chứng khi tâm trí dừng làm bất kì cái gì.
Ta là nhân chứng bên ngoài trí
tuệ.
Bạn thấy, nhưng bạn không nghĩ;
bạn hiện hữu, nhưng bạn không tạo ra ý kiến. Tâm thức có đó trong tính toàn bộ
của nó, nhưng không hình bóng nào của ý nghĩ trùm lên nó.
Ta là bản thân tâm thức vĩnh
hằng.
Không phải là đôi khi bạn có ý
thức và đôi khi bạn vô ý thức; bạn bao giờ cũng là tâm thức.
Với nỗ lực chúng ta đôi khi có
thể có ý thức một chốc. Một người chĩa dao găm vào ngực bạn và bạn ý thức vào
khoảnh khắc đó; thời gian sống của giấc ngủ đi mất trong một khoảnh khắc. Cạnh
sắc của lưỡi dao găm đã xuyên qua chiều sâu bóng tối bên trong, vượt lên trên
tất cả năm thể, tất cả các giác quan và mọi ý nghĩ, bạn chỉ là nhân chứng.
Có một môn phái các thiền sư ở
Nhật Bản dạy thiền qua kiếm thuật. Họ nói thiền không thể nào đạt được nếu kém
hơn thế này, rằng một người lười và ngủ tới mức chừng nào chưa có lưỡi kiếm sắc
ngay trước người đó thì không việc thiền nào có thể xảy ra. Các trung tâm dạy
kiếm thuật được gọi là trung tâm thiền. Trên lối vào có viết 'Trung tâm Thiền',
nhưng đi vào bên trong bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng họ đang tập luyện kiếm.
Bạn thậm chí không thể quan niệm được lưỡi kiếm có thể có liên quan gì với
thiền.
Nhật Bản đã cho sinh thành một
loại chiến binh rất đặc biệt gọi là samurai - võ sĩ đạo. Một samurai là người
lính tổ hợp thiền với lưỡi kiếm. Không ở đâu khác trên trái đất này có những
người lính như samurai. Lính Rajput ở Ấn Độ cũng chưa là gì nếu so với những
samurai này bởi vì phần bản chất của việc huấn luyện là ở chỗ trí tuệ, tâm trí,
phải không có đó khi người này sử dụng kiếm. Đây là việc huấn luyện: khi bạn
cầm lưỡi kiếm trong tay thì tâm trí phải không có đó để can thiệp. Để lưỡi kiếm
làm việc của nó mà không có can thiệp của tâm trí.
Khi hai samurai tham chiến,
thắng hay thua là rất khó phân định. Lưỡi kiếm đi mà không có can thiệp nào từ
tâm trí của họ. Các bậc thầy samurai nói: “Anh lỡ một chuyển động chỉ khi tâm
trí anh len vào và đó là lúc anh phạm sai lầm, bởi vì đó là lúc anh trở nên vô
ý thức trong hành động.”
Bạn đang trong một trận chiến
ác liệt, trong cuộc đấu kiếm, và bỗng nhiên một ý nghĩa loé lên trong tâm trí
bạn rằng vòi nước trong nhà vẫn còn mở; bạn đi mất rồi! Đó là cách ý nghĩ len
vào - không chỉ trong đấu kiếm mà khi bạn đang ngồi trong đền chùa để tôn thờ
hay thiền. Bạn bỏ lỡ khoảnh khắc này! Bạn đã được mang đi xa khỏi đó.
"Chính trong lỗ hổng này," bậc thầy samurai nói, “lưỡi kiếm của người
kia sẽ xuyên vào thân thể anh.” Lưỡi kiếm phải di chuyển, nhưng không nên có ý
nghĩ bên trong.
Thế thì ai sẽ có đó bên trong?
Sẽ chỉ có nhân chứng bên trong - duy nhất nhân chứng. Nó sẽ chứng kiến lưỡi
kiếm di chuyển, và cho dù lưỡi kiếm có xuyên vào thân thể thì nó sẽ chứng kiến
điều đó nữa - nhưng chỉ nếu có một nhân chứng; thế thì nó sẽ thấy lưỡi kiếm
xuyên vào bên trong. Lưỡi kiếm chẳng liên quan gì tới nhân chứng, lưỡi kiếm
không bao giờ có thể xuyên vào nhân chứng được.
Đó là lí do tại sao Krishna
nói: “Nainam chhindanti shastrani... vũ khí không thể cắt được nó, lửa không thể
đốt được nó.” Đốt nó trong lửa và nó vẫn còn không bị cháy, không bị động chạm
tới.
Ta là bản thân tâm thức vĩnh
hằng.
Không chỉ thỉnh thoảng....
Thỉnh thoảng chúng ta mới trở nên có ý thức, trong một tai nạn hay trong khoảnh
khắc mãnh liệt nào đó. Điều rất thú vị là bất kì khi nào chúng ta hoàn toàn có
ý thức, đó là khi chúng ta có được một thoáng nhìn nhỏ về phúc lạc trong cuộc
sống. Hiếm khi, rất hiếm khi, có thể chỉ một hay hai lần trong cuộc sống, vài
khoảnh khắc như vậy xuất hiện khi chúng ta bỗng nhiên có được một thoáng nhìn,
và điều đó không bao giờ xảy ra lại. Lí do chúng ta có được thoáng nhìn là như
nhau: bởi lí do nào đó chúng ta trở nên ý thức ở bên trong. Bất kì lí do nào! -
lí do có thể là bất kì cái gì. Tâm thức này nở hoa vào một khoảnh khắc, cái
đỉnh này chúng ta chưa bao giờ đạt tới lần nữa. Và chúng ta cứ tìm kiếm kinh
nghiệm khác giống thế này trong phần còn lại của cuộc đời mình.
Nó có thể xảy ra ở bất kì đâu.
Nó có thể xảy ra trong những khoảnh khắc tĩnh lặng sâu sắc của ban đêm khi
không có ý nghĩ nào bên trong, khi chỉ có tiếng dế kêu còn lại; phúc lạc được
kinh nghiệm trong khoảnh khắc đó chưa bao giờ được biết tới trước đây. Vào buổi
sáng, thấy mặt trời lên, đôi khi nó có thể xảy ra. Mặt trời mọc lên và khi bạn
quan sát nó thì không có ý nghĩ bên trong; thậm chí không có đến cả ý nghĩ này,
rằng "Nó là mặt trời"; thậm chí không có cả từ 'mặt trời' tới trong
tâm trí. Trong kinh nghiệm đó mặt trời trở thành điều thiêng liêng. Kinh nghiệm
đó không bao giờ có thể bị quên đi.
Những điều như vậy xảy ra một
cách ngẫu nhiên, đôi khi. Nhưng đề làm cho nó xảy ra qua việc dùng phương pháp
thì được gọi là thiền - rằng người ta vẫn còn thức tỉnh. Nhưng có nỗ lực trong
nó.
Hiền nhân này nói: “Khi nỗ lực
không có đó và việc thức tỉnh là tự nhiên - đó là bản chất thực của ta, đó là
điều ta đang là.”
Về điều này không có hoài nghi.
Không có hoài nghi về nó. Tại
sao? Bởi vì đây không phải là lí thuyết. Hiền nhân này nói: “Không có hoài nghi
về nó bởi vì ta đang nói điều đó từ kinh nghiệm riêng của mình.”
Vivekananda tới Ramakrishna và
hỏi, “Thượng đế có tồn tại không?”
Ramakrishna không nói có hay
không. Ông ấy đã không ngồi xuống để thảo luận hay giải thích, không, tất cả
điều ông ấy nói là, “Anh có muốn gặp ông ấy ngay bây giờ không, chính khoảnh khắc
này?”
Vivekananda đã nói ở đâu đó, về
sau, “Tôi lưỡng lự một thoáng chốc; tôi có muốn gặp Thượng đế bây giờ hay
không? Con người kia đã không lưỡng lự, và câu hỏi tôi đã hỏi lại là một câu
hỏi khó: 'Thượng đế có tồn tại hay không?' Ông ấy đáng phải lưỡng lự, bởi vì
câu hỏi này là rất phức tạp. Không dễ dàng mà nói có hay không. Nếu bạn nói có
thì bạn sẽ phải chứng minh nó, và ai đã có khả năng chứng minh sự tồn tại của
Thượng đế?”
Có lẽ nhiều người không có khả
năng chấp nhận Thượng đế chỉ bởi vì không ai cho tới giờ đã có khả năng chứng
minh sự tồn tại của ngài - bằng không thì người vô thần đã biến mất từ lâu rồi.
Nhưng họ đã không biến mất, cho nên điều này cứ chứng tỏ rằng Thượng đế là cái
gì đó không thể chứng minh được - bằng không thì những người không tin đã phải
biến mất từ lâu rồi.
Thế gian đã tạo ra biết bao
nhiêu những người hữu thần vĩ đại, và vậy mà người vô thần vẫn còn không bị ảnh
hưởng; người hữu thần thậm chí không tạo ra được đến một li thay đổi trong
người vô thần, người đó vẫn còn như người đó thế. Cho dù chúng ta có đem tất cả
những người hữu thần lại với nhau, họ cũng không thể nào thay đổi được một
người vô thần. Cái gì có thể là lí do cho điều này? Chỉ duy nhất một lí do:
người vô thần yêu cầu bằng chứng và không có bằng chứng - do đó bất lực.
Cho nên Vivekananda đã nghĩ,
“Ramakrishna sẽ gặp rắc rối đây; ông ta chỉ là một dân quê, thất học, ông ta
mới học hết cấp hai trong tiếng Bengali, cho nên ông ấy có thể biết được gì?”
Vivekananda là người vô thần,
và ông ấy thông minh, được học hành đến nơi đến chốn, một trong những thiên tài
vĩ đại nhất mà Bengal có thể sản sinh ra, một chuyên gia trong tranh luận,
trong logic, trong triết học của Aristotle và của Ấn Độ. Vivekananda đã hỏi
người dân làng này, người dân quê mùa chất phác, và người dân quê này đã đẩy
Vivekananda vào trạng thái lưỡng lự. Ông ấy đã hỏi Vivekananda liệu ông này có
sẵn sàng gặp Thượng đế - ngay bây giờ không!
Có một phẩm chất đặc biệt trong
câu trả lời này, và đó là sự cả quyết của Ramakrishna - cứ dường như Thượng đế
có đó, ngay phòng bên cạnh, và chỉ cần bạn hỏi và bạn có thể gặp được ông ấy.
Con người này biết tận bên ngoài hoài nghi - không hoài nghi nào hết cả. Hoài
nghi chỉ có thể không tồn tại khi có kinh nghiệm.
Cho nên hiền nhân này nói: Về
điều này không có hoài nghi.
Mọi điều ông ấy đang cố gắng
nói là : “Ta đã biết nó và ta đang nói điều này từ kinh nghiệm tồn tại của ta.
Đây không phải là lí thuyết hay giáo điều. Đây không phải là ý nghĩ của ta, ý
tưởng của ta, khái niệm của ta. Ta đã biết nó hiện hữu như vậy; ta đã sống nó
như vậy.”
Trước điều này Vivekananda đã
tới bố của Rabindranath Tagore, Devendranath. Ông ấy là một Maharishi, một
người đáng kính. Ramakrishna chưa là cái gì vào thời đó; Maharishi Devendranath
đã là một người vĩ đại. Thứ nhất, ông ấy xuất thân từ gia đình đáng kính của
Tagore - bố ông ấy đã được gọi là vua - và thế rồi ông ấy lại trí huệ và được
kính trọng như một hiền nhân vĩ đại. Ông ấy có nhân cách của một hiền nhân.
Phần lớn thời gian ông ấy sống
trên chiếc nhà thuyền trên sông. Cho nên vào nửa đêm Vivekananda bơi tới nhà
thuyền này. Mình mẩy ướt sũng, trong bóng tối ban đêm, ông ấy đẩy cửa mở ra.
Cửa không khoá, bởi vì không có vấn đề về việc bất kì ai tới vào giữa đêm; và
ai sẽ tới trên chiếc nhà thuyền này? Đó là một trong những lí do tại sao ông ấy
đã sống trên nhà thuyền. Vivekananda đẩy cửa mở và bước vào. Devendranath đang
ngồi thiền với mắt nhắm. Việc đẩy cửa, âm thanh đó, sự rung chuyển của nhà
thuyền, cánh cửa mở ra - và bỗng nhiên có người thanh niên này nắm lấy cổ áo Devendranath,
lay ông ta và hỏi, “Thượng đế có tồn tại không?”
Devendranath nói, “Ngồi xuống
đi và bình lặng lại hơi thở của anh. Đây có phải là lúc để hỏi câu hỏi đó
không? Đây có phải là lúc tới thăm không? Đây là cách cư xử gì vậy?”
Vivekananda nói, “Khi nhà đang
cháy ai để ý tới cách cư xử? Trả lời câu hỏi của tôi đi, quên hết mọi chuyện
khác đi - chẳng cần xã giao gì cả: Thượng đế có tồn tại không?”
Có một thoáng ngần ngại bên
trong Devendranath; điều đó khó mà nói có, còn không thì lại ở ngoài câu hỏi này.
Nhưng làm sao trả lời một người như thế này, người nói rằng nhà đang cháy,
người đã tới bằng cách bơi tới nhà bạn vào giữa đêm, mình mẩy ướt sũng - ngay
cả khuôn mặt anh ta cũng còn chẳng thể thấy được rõ ràng- lại hỏi về Thượng đế
sao? Đây có phải là cách thức của người tìm kiếm không?
Ông ấy nói, “Ngồi xuống đi, ta
sẽ giải thích.”
Nhưng Vivekananda nhảy ngược
xuống sông... tiếng nước bắn toé lên...Maharishi Devendranath với với theo,
“Này cậu thanh niên, đợi đấy!”
Vivekananda đáp, “Lưỡng lự của
ông đã nói mọi điều rồi - chẳng còn lại gì mà đợi cả.”
Đó là lí do tại sao hiền nhiên
này nói: Về điều này không có hoài nghi.
Lưỡng lự này là đủ làm lộ ra
hoài nghi của người đó. Nhưng Vivekananda đã cúi đầu trước Ramakrishna - trước
người dân quê, người mộc mạc, ông ấy đã cúi đầu. Devendranath là một trong
những người trí huệ nhất, nhưng đã có lưỡng lự.
Tâm trí bao giờ cũng lưỡng lự;
chính chỉ kinh nghiệm mới không có lưỡng lự. Dù bạn có thể nghĩ nhiều bao nhiêu
cũng chẳng thành vấn đề, lưỡng lự sẽ vẫn còn lại. Làm sao có thể không lưỡng lự
khi dùng tâm trí được? Bạn có thể cứ nghĩ, cứ tin và tự thuyết phục mình vô tận
rằng Thượng đế tồn tại, nhưng một tiếng nói nào đó bên trong bạn sẽ cứ nói:
“Mình vẫn còn chưa biết điều đó, mình còn chưa đạt tới điều đó, mình còn chưa
kinh nghiệm điều đó.” Cho dù logic và bằng chứng tất cả đều đã nói với bạn rằng
Thượng đế tồn tại, vậy mà kinh nghiệm bên trong của bạn sẽ cứ nhắc nhở bạn rằng
bạn vẫn trống rỗng và không được thoả mãn.
Đó là lí do tại sao hiền nhân
này nói:
Về điều này không có hoài nghi.
Tôi đang nói chân lí mà tôi đã
kinh nghiệm.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment