Osho - Con đường bên ngoài mọi
con đường
Chương 9. Bạn là nhà tù riêng
của mình
Tâm trí, mạch sống, ham muốn,
hiếu thảo và đức độ là năm nút
cơ sở.
Khi linh hồn được hiện thân bị
đồng nhất
với bản chất của năm nút này,
thì nó không thể tự do khỏi
chúng
mà không tự hiểu mình.
Vì năm nỗi ưu phiền này linh
hồn giống như bệnh tật tinh vi,
nên linh hồn được biết tới như
ling sharir,
sự đồng nhất thân thể.
Đây là nút trong tim.
Cái chiếu sáng tại đó khi tâm
thức
là kshetragya, người biết.
Tù túng của con người không tới
từ bên ngoài con người, nhà tù của người đó là ở bên trong - nó do người đó tự
tạo ra. Với chúng ta dường như là chúng ta chỉ sống ở bên ngoài; dường như là
sướng tồn tại ở bên ngoài, dường như là khổ tồn tại ở bên ngoài, dường như là
tất cả thành đạt đều ở bên ngoài, tất cả mọi thua thiệt và thắng lợi đều ở bên
ngoài, tất cả mọi thành công và thất bại đều ở bên ngoài - điều đó chỉ là dường
như vậy thôi theo cách này. Trong thực tế mọi thứ đều ở bên trong cả: mọi nỗ
lực đều là từ bên trong, mọi điều đạt được cũng là ở bên trong; thất bại của
chúng ta là ở bên trong, sướng dường như ở bên ngoài được kinh nghiệm từ bên
trong và nguồn gốc của khổ dường như tới từ bên ngoài cũng ẩn kín bên trong.
Người yêu của bạn có thể dường
như là ở bên ngoài nhưng trung tâm của tình yêu là ở bên trong. Nếu trung tâm
của tình yêu ở bên trong này bị phá huỷ, thế thì người ta không thể thấy được
người yêu nào ở bên ngoài nữa. Vàng là ở bên ngoài nhưng tham lam về vàng là ở
bên trong. Nếu không có tham lam, có gì khác biệt giữa vàng và bụi? Sự khác
biệt có đó bởi vì lòng tham này. Việc mở rộng các đối tượng là ra ngoài, nhưng
hạt mầm là ở bên trong.
Hiền nhân này mô tả năm nút cơ
sở; bệnh tật bên trong của con người đã được chia thành năm loại, như năm nút.
Cố hiểu từng và mọi loại này.
Đầu mối thứ nhất là tâm trí và
toàn bộ phóng tác của nó. Tâm trí đã từng được gọi là sự rối rắm, bệnh tật,
bệnh hoạn. Vì sao?
Nếu chúng ta đứng trên bờ biển
và có một cơn bão với sóng cao và gió mạnh thổi... bản thân đại dương là không
thể thấy được, điều thấy được duy nhất là điệu vũ hoang dại của các con sóng
gầm. Đại dương cũng ở bên trong những con sóng này và những con sóng này cũng
là hình dạng của đại dương - chúng được sinh ra từ đại dương, chúng là hình
dáng của đại dương - nhưng dầu vậy những con sóng này vẫn không phải là đại
dương, bởi vì đại dương có thể có mà không có sóng. Sau cơn bão biển lại bình
lặng; sóng đã qua, nhưng biển vẫn còn.
Điều đối lập lại không bao giờ
xảy ra - đại dương không thể nào biến mất đi trong khi sóng vẫn còn đấy. Sóng
có thể biến mất nhưng đại dương sẽ vẫn còn. Sự biến mất của sóng không quấy rối
sự tồn tại đại dương, nhưng nếu đại dương biến mất thì không thể nào giữ lại
được sóng. Cho nên đại dương là nguồn gốc; sóng xuất hiện rồi biến mất.
Đại dương của tâm thức con
người cũng giống hệt như vậy: ý nghĩ là sóng, các hình mẫu nảy sinh trong nó.
Đó là lí do tại sao tôi bảo bạn hôm qua rằng không có những điều như tâm trí an
bình. Bạn đã bao giờ thấy cơn bão an bình chưa? Nói 'cơn bão an bình' là điều
vô nghĩa. Nếu nó là bão, nó không thể an bình được, nếu nó là an bình, nó không
thể là bão được. Nhưng chúng ta nói, 'tâm trí im lặng' - đấy là lỗi ngôn ngữ.
Chừng nào mà tâm trí có đó, rối loạn còn tiếp tục, bất ổn vẫn cứ dai dẳng.
Náo động là từ khác cho tâm
trí. Về mặt sự sống, náo động và tâm trí là đồng nghĩa - nhưng không có trong
từ điển. Nếu bạn nhìn vào từ điển, bạn sẽ không tìm ra chỗ nào mà từ 'náo động'
có nghĩa là tâm trí, hay 'tâm trí' nghĩa là náo động. Không cần phải là nhà từ
nguyên học để biết sự tồn tại. Những người biết tới sự tồn tại thì không tạo ra
ngôn ngữ bởi vì họ nói, "Khó mà diễn đạt được nó trong ngôn ngữ.”
Kinh nghiệm sống này là: nơi có
náo động thì có tâm trí. Tâm trí nghĩa là náo động, cho nên từ 'tâm trí an
bình' là mâu thuẫn; trạng thái như vậy không thể tồn tại được. Cũng không có
điều như vậy khi nói bệnh tật mạnh khoẻ hay cơn bão an bình, cho nên cũng không
có cái gì như tâm trí an bình cả.
Người bị bệnh có thể trở nên
mạnh khoẻ, nhớ điều đó, nhưng bản thân bệnh tật chẳng bao giờ là mạnh khoẻ
được. Người bị bệnh có thể trở nên mạnh khoẻ bởi vì bệnh tật không phải là
người bị bệnh; nó là tách biệt với người đó, nó tới rồi nó đi. Điều rất thú vị
là để ý rằng người ốm có thể có mà chẳng có bệnh nào cả, nhưng bệnh thì không
thể tồn tại mà không có người ốm. Tâm thức có thể tồn tại mà không có tâm trí,
nhưng tâm trí không thể tồn tại mà không có tâm thức.
Tâm trí là bệnh tật. Hiền nhân
này thấy điều đó là granthi - một nút, tù túng, không thoải mái, ốm yếu. Tâm
trí là bệnh tật. Tâm trí là trạng thái rối loạn của tâm thức - náo động, không
ổn định và đầy những sóng. Khi an bình được đạt tới, tâm trí biến mất; khi an
bình biến mất, tâm trí xuất hiện.
Nếu chúng ta đi sâu vào nó, có
lí do tại sao chúng ta lại mô tả nó là nút. Hiểu từ ‘granthi’ đi, bởi vì nó là
từ có giá trị trong thuật ngữ yoga. Nó giá trị tới mức khi Mahavira trở nên
chứng ngộ, người Jainas đã gọi ông ấy là nirgrantha - tự do với mọi granthis,
mọi nút - người không có nút nào bên trong. Cố hiểu khái niệm này về cái nút.
Nút là một vật kì lạ. Bạn phải
đã thấy nhiều nút nhưng chưa bao giờ để ý tới điều này: rằng khi bạn buộc một
cái nút trong dây thừng, có thay đổi gì trong dây thừng không, trong bản chất
của nó, trong sự tồn tại của nó? Nó có nặng thêm không? Có thay đổi về phẩm
chất gì không? Điều gì xảy ra cho dây thừng này? Chẳng điều gì xảy ra cho dây
thừng cả...nhưng dầu vậy thì, nhiều điều vẫn xảy ra. Chẳng cái gì xảy ra cho
dây thừng, chẳng cái gì được thêm vào cho nó và không cái gì bị lấy đi; nó vẫn
còn như nó vậy, nhưng dầu vậy nó vẫn không như cũ nữa; nó đã bị buộc nút lại,
mắc mứu lại. Bản chất của dây thừng không đổi lấy một chút gì, nhưng cái nút có
thể phát sinh mà không làm thay đổi bản chất của nó. Thực tế chẳng có gì thay
đổi trong dây thừng cả, vậy mà mọi thứ lại bị thay đổi. Dây thừng không còn
dùng được nữa; bây giờ bạn không thể dùng nó để buộc cái gì bởi vì bản thân nó
đã xoắn xuýt lại rồi. Bây giờ nó không còn dùng được nữa, nhưng không có thay
đổi về phẩm chất, không có thay đổi về mặt tồn tại với nó. Nó đã chẳng thay đổi
chút nào.
Và cái nút này là gì vậy? Nó có
phải là một vật không? Cố hiểu nó cho đúng. Cái nút này có phải là một vật
không? Nếu nó là một vật thì nó đã tồn tại mà không có dây thừng, cái nút này
có thể đã bị gạt sang bên. Nhưng cái nút lại không thể bị tách khỏi dây thừng
được. Điều đó không có nghĩa là dây thừng không thể được tự do với cái nút, nó
có thể được tự do. Dây thừng có thể được tự do với nút, nhưng nút không thể nào
bị tách rời khỏi dây thừng. Bạn không thể tách cái nút và dây thừng thành hai
vật được.
Cho nên nút không phải là một
vật. Nó không có bản chất, nó không có sự tồn tại độc lập; nó chỉ là một hình
dạng - chỉ là một hình hài, chỉ là một dạng mà không có bản chất nào - chỉ là
một dạng và không có gì của chính nó trong nó cả. Bên trong nút này là dây
thừng, nhưng bản thân nút này chẳng có gì bên trong nó cả. Do đó có thể hiểu nó
theo cách này: rằng nút không có sự tồn tại bản chất, nó chỉ là dạng, nó chỉ có
một dạng.
Đó là lí do tại sao các hiền
nhân đã gọi thế giới này là namrup, nghĩa là cái tên và dạng mà không có sự tồn
tại bản chất của riêng nó - chỉ giống như cái nút. Cái nút tồn tại trong tên và
có thể nhận ra được trong dạng, nó tạo ra cản trở và nó có thể được hoàn tác,
vậy mà nó lại không tồn tại. Cái nút là maya, ảo tưởng. Những người biết đều
nói rằng thế giới này là cái nút về tên tuổi và hình dạng - chỉ là cái nút. Và
điều này áp dụng cho con người theo cùng cách như nó áp dụng cho thế giới.
Con người nữa cũng chỉ là một
cái nút của tên và dạng. Nếu cái nút này được gỡ ra, tháo ra, cái còn lại được
gọi là cái ta vũ trụ. Con người chỉ là cái nút; nếu được tháo ra, con người
biến mất - tên và dạng biến mất, người đang nói tôi biến mất. Cái tôi biến mất
- cái tôi chỉ là tổng cộng của tất cả các nút. Chúng ta sẽ nói về panchvargas,
năm loại; cái tôi là tên của tổng năm nút này.
Hiền nhân này gọi tâm trí là
cái nút thứ nhất bởi vì tâm trí không có sự tồn tại, nó chỉ dường như tồn tại
thôi, nó chỉ là một hình dạng. Khi tâm thức bị khuấy động, tâm trí được tạo ra
- nó chỉ là một hình dạng. Mơ trong đêm không có sự tồn tại nhưng có hình dạng.
Bạn đi xem phim: phim không có sự tồn tại trong thực tế nhưng có hình dạng trên
màn ảnh, nó chỉ dường như tồn tại. Và điều kì lạ là người ta có thể thấy ngay
cả cái gọi là những người thông minh cũng đưa tay lau nước mắt trong rạp chiếu
bóng. Ngay cả những người thông minh cũng khóc và cười khi xem phim, mặc dầu họ
biết hoàn toàn rõ là chẳng có gì tồn tại trên màn ảnh cả.
Nhưng hình dạng tạo nên ảo
tưởng - ảo tưởng về sự tồn tại. Và trong một khoảnh khắc, khi chúng ta bị tràn
ngập bởi hình dạng và quên mất cái ta, thế thì hình dạng trở thành rất thực.
Nếu bạn có thể nhớ, lần sau khi bạn đi xem phim, làm một thực nghiệm này - cố
gắng nhớ tới bản thân mình liên tục và xem phim đồng thời. Thế thì nước mắt sẽ
là không thể được. Nước mắt là có thể chỉ nếu bạn quên mất bản thân mình - khi
bạn quên bản thân mình là người quan sát, khi bạn trở nên bị đồng nhất tới mức
bạn quên mất rằng bạn đã tới để xem phim - chỉ thế thì phim mà bạn đang xem mới
tồn tại và bạn không hiện hữu. Khi điều bạn đang xem trở thành mọi thứ và người
đang xem bị quên mất thế thì bạn có thể khóc, tâm trí có thể trở nên buồn rầu,
tâm trí có thể trở nên hạnh phúc; mọi thứ có thể xảy ra trong tâm trí, mặc dầu
không có gì thực trên màn ảnh cả.
Tâm trí là hình dạng. Nhưng
người quan sát bên trong, người biết bên trong, đã quên mất sự tồn tại của
riêng mình. Có vậy thôi. Chỉ mỗi quên lãng này và phim trở thành mọi thứ; thế
thì cái nút được hình thành... nó được hình thành và nó trở thành mạnh hơn. Và
trong nhiều kiếp chúng ta đã ngồi trong rạp chiếu bóng này có tên là tâm trí.
Cái nút đã liên tục trở nên ngày một rối rắm hơn, làm cho hình dạng ngày một
dầy đặc hơn.
Tại sao chúng ta gọi một người
là 'điên'? Chúng ta gọi người đó là điên bởi vì người đó có tâm trí lớn hơn
chúng ta có, không có lí do nào khác. Chúng ta chỉ thấy hình ảnh bên trong bản
thân mình, nhưng người đó lại thấy hình ảnh trong thế giới bên ngoài nữa -
người đó có tâm trí nhiều khả năng thấy hơn bạn. Bạn nói thầm bên trong mình
với người mình yêu, người điên nói to với người mà người đó yêu, người không
hiện diện bởi vì tâm trí người đó đã phát triển nhiều hơn theo chiều hướng đó,
nó lớn hơn bạn. Bạn cũng làm điều đó, nhưng một cách bí mật, bên trong mình.
Khả năng phóng chiếu của người đó lớn hơn của bạn, người đó thiện nghệ hơn;
người đó bắt đầu nói với người không tồn tại đang ngồi đối diện với mình trên
ghế. Thế thì chúng ta nói, “Người này đã phát điên rồi.”
Có khác biệt về chất nào giữa
người đó và chúng ta không? Chúng ta cũng nói với người mình yêu cứ dường như
họ đang ngồi trước chúng ta, nhưng chúng ta làm điều đó bên trong mình. Cơ chế
phóng chiếu của chúng ta yếu hơn còn cơ chế phóng chiếu của người đó lại hiệu
quả hơn của chúng ta. Máy chiếu của người đó hiệu quả tới mức cho dù bạn có đi
vào phòng - và bạn vào thật - người đó sẽ chẳng bận tâm gì tới bạn cả, người đó
sẽ chỉ quan tâm tới nhân vật không tồn tại đang ngồi trên ghế.
Cho nên nhiều nhà thơ đã viết
những dòng như thế này: “Người yêu của anh, toàn thể thính giả có thể hiện diện
nhưng nếu em rời khỏi đám tụ tập đó, chẳng ai khác còn tồn tại với anh cả; và
khi em hiện diện thì không ai khác có thể có đó và vậy mà cả thế giới đang hiện
diện vì anh.”
Nhà thơ này có chút ít kì quặc,
đó là lí do tại sao người đó thấy điều mà chúng ta không thể thấy được, người
đó cảm giác điều mà chúng ta không thể cảm giác được, người đó bịa ra điều mà
chúng ta không thể bịa ra được. Do đó mới có tương tự nào đó giữa nhà thơ và
người điên. Có lẽ nhà thơ này là người điên có phương pháp nào đó, trong khi
người điên là nhà thơ không có phương pháp nào, người đó không biết tới trật tự
nào. Nhưng một phẩm chất là chung cho cả hai - khả năng thấy điều không hiện
hữu.
Tâm trí là cái máy có thể thấy
cái không có đó, cho nên tâm trí là một cơ cấu có thể lái người ta thành điên.
Tâm trí là sự mở rộng của việc mơ. Đây là cái nút thứ nhất. Người bị dính líu
vào với tâm trí không bao giờ có thể đạt tới cái ta thực của mình, bởi vì cách
duy nhất để trở nên bị dính líu vào tâm trí là thông qua việc quên mất cái ta
của mình. Bạn không thể biết được cái ta và cứ duy trì tâm trí mình đồng thời.
Việc quên cái ta của mình là điều bản chất để tâm trí tồn tại - tâm trí không
thể có được nếu không có việc quên lãng về cái ta thực - còn nếu bạn nhớ tới
cái ta, thế thì tâm trí sẽ biến mất. Với nhận biết về cái ta, với thức tỉnh của
người quan sát, mọi hình ảnh bắt đầu mờ nhạt đi, trở thành chỉ là cái tên và
hình dạng đối với bạn. Không chất liệu nào còn lại trong chúng, chúng mất đi sự
nắm giữ của chúng. Cho nên phải làm gì?
Tâm trí này là cái nút thứ
nhất. Nếu chúng ta có thể thức tỉnh nhận biết của mình về cái nút này, nó sẽ mở
ra. Để mở bất kì nút nào, phương cách sử dụng là đem người quan sát vào, đem
nhận biết vào; chứng kiến là phương cách để hoàn tác lại bất kì nút nào. Tất cả
chúng ta đều muốn gỡ rối những cái nút của mình, nhưng một điều thú vị xảy ra.
Tất cả chúng ta đều muốn gỡ rối những cái nút của mình, tất cả chúng ta - khó
mà tìm ra một người không muốn làm điều đó - vậy mà sao chẳng cái gì được gỡ ra
cả?
Người ta thường quan sát thấy
rằng những người cố gắng gỡ rối cho mình bị rối nhiều hơn. Nỗ lực hoàn tác lại
cái nút không có tác dụng - thay vì thế, mối rối lại ngày một tồi tệ hơn, mặc
dầu mọi người đều muốn được gỡ ra. Chúng ta phải đã phạm phải sai lầm ở đâu đó
rồi. Tất cả chúng ta đều muốn trở nên được thoát ra khỏi cảnh rối rắm mà không
thức tỉnh nhân chứng.
Chúng ta muốn thoát ra khỏi rối
rắm tâm trí bằng việc dùng tâm trí - đây là sai lầm! Tâm trí là rối rắm, do đó
tâm trí không thể tự nó tháo nút ra được. Và cố gắng hoàn tác lại cái nút của
tâm trí thông qua tâm trí thì cũng giống như cố gắng nắm lấy bàn tay của mình
bằng cùng bàn tay đó, cố gắng giữ cái kẹp bằng cùng cái kẹp đó, tìm kính của
mình bằng chính chiếc kính trên mũi mình. Một số người làm điều đó - điều đó
không phải là bất thường - và chúng ta tất cả đều đang làm cùng việc đó khi có
liên quan tới tâm trí.
Bạn đã bao giờ thấy con chó
đuổi theo đuôi của nó không? Con chó đang ngồi trên phố; mặt trời buổi sáng
đang lên, nó ngồi lười nhác với cái đuôi nằm gần nó - đuôi của nó - và con chó
vồ lấy cái đuôi nó để cố gắng bắt lấy cái đuôi này. Cái đuôi rời đi. Một cách
tự nhiên, con chó phát cáu - điều đó trở thành thách thức - có một giới hạn! Đấy
chỉ là một cái đuôi nhỏ vậy mà vẫn thoát khỏi nó. Con chó nhảy lên mạnh hơn và
cái đuôi lại chuyển động nhanh hơn. Một thù hận sâu sắc nổi lên. Cái đuôi là
của riêng nó, và bản thân con chó là kẻ đuổi bắt, cái đuôi chưa bao giờ bị bắt
và con chó sẽ bị mệt. Nó không biết rằng việc nhảy của nó cũng là việc nhảy của
cái đuôi - rằng chúng không phải là hai thứ khác nhau.
Tâm trí mà bạn đang dùng để
hoàn tác lại cái nút thì bản thân nó cũng là cơ cấu tạo ra nút - cho nên bất kì
cái gì bạn làm bằng tâm trí, nó trở nên ngày một thắt nút nhiều hơn.
Do đó bạn nên nhận biết rằng
khi tâm trí con người phát triển thì số người mất trí cũng sẽ tăng lên; tâm trí
càng không được phát triển, càng ít người mất trí. Các xã hội nguyên thuỷ tạo
ra rất ít người mất trí. Các nhà xã hội học nói rằng trong thời kì tiền lịch sử
xã hội hiếm khi tạo ra người mất trí, và rằng người này đã không được gọi là
mất trí, người đó được kính trọng bởi vì người đó là hiếm hoi, người đó là đặc
biệt. Cho nên trong xã hội nguyên thuỷ ai đó mất trí có thể trở thành vị cứu
tinh, người đó được kính trọng bởi vì người đó có phẩm chất mà không ai khác
có.
Ngày nay người điên bị rắc rối:
bây giờ không ai sẵn sàng chấp nhận họ là vị cứu tinh cả mà thay vì thế nhiểu
người sẵn sàng coi vị cứu tinh là người điên. Tình huống đã hoàn toàn thay đổi.
Dần dần mất trí đang trở thành điều thông thường tới mức chỉ những người rất
giầu ở Ấn Độ mới nói một cách tự hào rằng một bác sĩ nổi tiếng như vậy là bác
sĩ riêng của họ; người Mĩ giầu nói, “Một nhà tâm thần vĩ đại thế là nhà tâm
thần tư của tôi.” Chỉ người nghèo mới còn thảm hại; họ không thể nói rằng họ có
nhà tâm thần riêng của mình. Họ phải tới bệnh viện nơi họ cần chờ đợi xếp hàng
cùng với những người bình thường khác để được gặp nhà tâm thần.
Ngày xưa người ta không thể nào
quan niệm nổi rằng tới một lúc nào đó mọi người sẽ nói với nhau về những điều
như vậy một cách tự hào. Bây giờ tình huống ở phương Tây đến mức là mọi người
hỏi lẫn nhau liệu họ đã tới hay không tới làm phân tâm. Bất cứ ai không có cảm
giác tự hào đó thì đều khổ bởi vì điều đó nghĩa là người đó không thể đảm đương
được việc làm phân tâm. Làm phân tâm là một việc đắt giá - có thể phải mất hai,
ba hay thậm chí năm năm, và bao gồm việc chi ra hàng nghìn đô la. Cho nên những
người siêu giầu công bố rằng họ đã trải qua phân tâm không chỉ một lần mà là
hai, ba lần. Người cực kì giầu đi làm phân tâm đều đặn. Họ có các buổi hẹn gặp
đều đặn hai lần một tuần đề làm phân tâm.
Trong quá khứ người ta chưa bao
giờ quan niệm nổi rằng bệnh tâm trí lại sẽ trở thành thông dụng thế. Nhưng có
lí do cho nó. Khi bạn giáo dục mọi người, cho họ khả năng suy nghĩ, văn hoá,
cho họ nhiều tri thức, thế thì tâm trí phát triển nhiều hơn và các cái nút trở
nên phức tạp hơn. Và khi tâm trí phát triển, khả năng phóng chiếu của nó cũng
tăng lên. Những khả năng này có thể tăng lên tới mức bạn trở nên không được
thoả mãn với tâm trí của mình như nó hiện thế và bạn bắt đầu tìm sự giúp đỡ
khác cho nó. Những thứ như LSD và ma tuý marijuana là những thứ làm cho tâm trí
bạn có nhiều khả năng hơn để phóng chiếu. Dưới ảnh hưởng của LSD bạn bắt đầu
thấy những mầu sắc mà bạn chưa hề thấy trước đây, cái đẹp mà bạn chưa bao giờ
thấy trước đây bắt đầu lan toả xung quanh bạn.
Huxley đã viết trong hồi kí của
mình: “Khi tôi dùng thuốc mescaline lần đầu tiên, trong vài khoảnh khắc cái ghế
trước tôi trở thành bẩy mầu” - còn hơn cả cầu vồng. Cái ghế thôi! - trong một
chốc các tia sáng bắt đầu toả ra từ nó!
Van Gogh, một hoạ sĩ phương Tây
vĩ đại, có lần đã vẽ một bức tranh về chiếc ghế. Nhưng không ai được chuẩn bị
để nhận ra chiếc ghế này là chiếc ghế mãi cho tới khi Huxley viết về nó trong
hồi kí của mình. Van Gogh đã vẽ nó từ một trăm năm mươi năm trước đó. Chiếc ghế
đó còn mầu sắc hơn ghế thường xảy ra - ông ấy đã vẽ nó như cầu vồng. Mọi người
cứ cho đấy chỉ là tưởng tượng của ông ấy, rằng “Ghế chẳng bao giờ giống thế
cả.” Nhưng Aldous Huxley đã viết trong bản hồi kí của mình: “Dưới ảnh hưởng của
mescaline chiếc ghế trước tôi biến mất và một chiếc ghế đầy mầu sắc, thiên
đường và trong suốt xuất hiện. Giá mà tôi có chết đi vào khoảnh khắc đó tôi
cũng cảm thấy trọn vẹn.” Kinh nghiệm về chiếc ghế này mạnh và sâu sắc thế cho
ông ấy. Sau kinh nghiệm này về chiếc ghế, người ta tin rằng nếu một người thông
minh như Huxley có thể thấy những mầu sắc này trong chiếc ghế dưới ảnh hưởng
của mescaline, chẳng có gì đáng ngạc nhiên rằng một hoạ sĩ như van Gogh đã có
khả năng thấy những mầu sắc này trong chiếc ghế mà không có mescaline. Nhưng
van Gogh đã chết một cách điên loạn bởi vì tâm trí của ông ấy đi vào hỗn loạn.
Ông ấy bắt đầu thấy cái không có đó, ông ấy bắt đầu thấy không phải là cái thực
sự ở bên ngoài mà là cái đã tới từ bên trong ông ấy và thế rồi được biểu lộ ra
bên ngoài, được phóng chiếu ra bên ngoài.
Tất cả chúng ta đều can dự vào
trong hiện tượng này trên qui mô nhỏ. Khi một người yêu tiền có tiền trong tay
mình, người đó thấy nhiều thứ trong nó hơn bạn thấy. Đừng nghĩ rằng điều
bạn thấy là mọi thứ: ai đó khác, người không yêu tiền, không thể thấy được điều
người yêu tiền thấy trong nó.
Tôi biết một quí ông: khi ông
đó cầm tờ giấy bạc trong tay, mà không phải là tờ bạc của ông ấy, ông ấy vẫn
cầm nó theo cách mà không người yêu nào ôm lấy người tình của mình được như
thế. Không nhà thơ nào nhìn đoá hoa lại đáng yêu như ông ấy nhìn vào tờ bạc.
Tham lam ướt đẫm khuôn mặt ông ấy, ông ấy nhìn vào nó với sự quyến rũ thế; ông
ấy tạo ra mối nối không thể hình dung nổi với tờ giấy bạc này. Bây giờ mọi
người gọi ông ấy là kẻ keo kiệt bởi vì ông ấy sẽ không tiêu tiền của mình; việc
tiêu tiền của ông ấy là không thể được. Nhưng chúng ta không hiểu sự quyến rũ
của ông ấy, thế giới thơ ca mà ông ấy đang sống trong. Hoàn cảnh của ông ấy
cũng giống như hoàn cảnh của nhà thơ vậy.
Chúng ta được chuẩn bị để kính
trọng nhà thơ nhưng không kính trọng người này, và lí do cho điều đó là ở chỗ
nhà thơ không lấy cái gì từ chúng ta cả, trong khi người này dường như lấy tiền
khỏi chúng ta; bằng không thì chẳng có khác biệt gì giữa hai người. Chúng ta
cho phép nhà thơ có những mơ với cái tẩu của mình, chúng ta coi những mơ đó là
vô hại vì nhà thơ không chà nát mơ của người khác. Kẻ keo kiệt này cũng có các
giấc mơ nhưng chúng là về tiền, cho nên mọi người đều bị bực dọc bởi người đó.
Do đó xã hội lên án người đó, giận người đó, và gọi người đó là người độc ác -
trong thực tế coi người đó là kẻ có tội. Nhưng chẳng có khác biệt gì giữa người
đó và nhà thơ cả. Chỉ bởi vì kẻ keo kiệt làm tiền thành đối tượng cho thơ ca
của mình; lãng mạn của người đó là với tiền.
Đó là lí do tại sao người yêu
tiền không thể yêu được ai khác. Người đó không cần tình yêu khác. Tình yêu của
người đó với tiền lớn đến mức vợ, con, văn học, tôn giáo - tất cả những điều
này đều trở thành phụ. Tâm trí trở thành cái nút, bởi vì người quan sát đã bị
quên lãng trong phóng chiếu tâm trí này. Khi người này nhìn vào đồng ru pi,
không thể nào tin được rằng người đó vẫn là một con người; người đó trở thành
đồng ru pi. Người đó không phải là nhân chứng, người đó không còn là người quan
sát, quan sát đồng ru pi như tách biệt với mình. Bản thân con người này trở
thành đồng ru pi.
‘Tâm trí’ nghĩa là bất kì khi
nào tâm thức đã quên mất người quan sát, người chứng kiến, thế thì tâm thức vẩn
vơ và trở thành bị bệnh - đây là cái nút thứ nhất.
Mạch sống, prana, là cái nút
thứ hai. Chúng ta bị kéo đi hoàn toàn, bị lái đi bởi thèm khát cuộc sống của
mình, bản năng tồn tại. Thèm khát cuộc sống nghĩa là khao khát, ham muốn sống,
sống bằng bất kì giá nào - và thậm chí chẳng hỏi tại sao. Không ai hỏi tại sao
lại cứ sống. Chỉ sống... dường như việc sống là đủ trong bản thân nó.
Một người ăn xin trên phố với
đầu gối vỡ, các chi hủy hoại, nằm trong rãnh nước, thối rữa, bị dòi bọ đục
khoét, nhưng nếu bạn hỏi người đó muốn sống hay muốn chết thì người đó sẽ nhìn
bạn giận dữ. Và người đó không sai. Thân thể người đó có thể đã bị tàn tạ,
nhưng khao khát cuộc sống thì chẳng bao giờ tàn tạ và nó cũng hệt như khao khát
của bạn. Thậm chí nó còn nhiều hơn của bạn, bởi vì ngọn lửa sắp tắt lại bùng
cháy sáng, đêm còn còn tối hơn trước hoàng hôn. Cảm thấy cái chết gần gang tấc
người đó đặt tất cả năng lượng của mình vào níu bám lấy cuộc sống, điều bạn có
thể chưa bao giờ làm. Bạn có ngày mai để chờ đợi, nhưng người đó thì không;
người đó phải sống bằng bất kì giá nào. Và điều đáng ngạc nhiên là người ta
đồng ý sống bằng bất kì giá nào. Đây là lí do tại sao biết bao nhiêu điều tàn
ác đã xảy ra trên thế giới này, bằng không thì chúng đã không thể được dung
thứ.
Trong năm nghìn năm chúng ta đã
làm đẳng cấp tiện dân, đẳng cấp thứ tư và thấp nhất trong người Hindu, luồn cúi
như sâu bọ trên trái đất. Và điều đó đáng không thể có được ngoại trừ rằng khao
khát sống là sâu sắc, mạnh mẽ đến mức họ được chuẩn bị để sống trong bất kì
tình huống nào.
Hàng triệu người trên thế giới
đã bị làm nô lệ như súc vật. Trách nhiệm cho điều này không chỉ ở những người
tinh ranh và độc ác bắt họ làm nô lệ; một lí do sâu hơn là ở thèm khát sống của
họ, đến mức họ muốn tồn tại dưới bất kì điều kiện nào. Điều khiển này mạnh đến
mức ngay cả một người bị buộc phải bò bằng tay và đầu gối trong phần còn lại
của cuộc sống mình, người đó cũng sẽ đồng ý làm điều đó, bởi vì điều đó còn tốt
hơn chết. Bất kì cái gì cũng tốt hơn chết.
Thèm khát cuộc sống quyết định
bất kì cái gì cũng là tốt hơn chết. Người ta được chuẩn bị để sống trong bất kì
hoàn cảnh nào. Nhưng nếu một người có nỗ lực quá lớn để tồn tại, cuộc hành
trình bên trong trở thành không thể được. Người đó sẽ bị gắn bó với thân thể,
với tâm trí, với mạch sống của mình, và gắn bó đó sẽ mạnh đến mức người đó sẽ
không có khả năng buông bỏ. Người đó sẽ nắm giữ mọi thứ chặt tới mức chẳng cái
gì có thể tuột ra khỏi nắm giữ của người đó - vì sợ hãi người đó có thể trở nên
bị lạc.
Mọi người tới tôi để thiền.
Trong khi thiền một khoảnh khắc nhất định tới khi người ta kinh nghiệm cái chết
- khoảnh khắc này là không tránh khỏi. Cảm giác về cái chết sắc bén thế - kinh
nghiệm cận tử. Họ tới tôi và họ nói, "Chúng tôi đã tới để thiền, không
phải để chết. Đây là cái gì đang xảy ra bên trong vậy? Chúng tôi sợ chúng tôi
có thể chết.”
Tôi bảo họ, “Đó là khoảnh khắc
quí giá lắm, chết bên trong. Đừng sợ chết. Chấp nhận cái chết này, thế thì bạn
sẽ không bao giờ chết cả.”
Nhưng họ hỏi, “Không có cách
nào khác sao? Việc đi vào bên trong này, việc triệt tiêu này - không có cách
nào dễ dàng hơn sao?”
Không, không có cách nào khác
cả. Thiền là kinh nghiệm về cái chết - cái chết tự nguyện. Cái chết của bạn
cuối cùng sẽ tới, nhưng thế thì sẽ không có kinh nghiệm về thiền. Cái chết đã
tới với chúng ta nhiều lần rồi - chúng ta đã chết biết bao nhiêu lần! Ngay cả
trong tương lai chúng ta cũng sẽ chết nhiều lần. Chúng ta sẽ cứ chết bởi vì
khao khát sống này - sống và chết... sống và chết... sống và chết. Khao khát
sống vắt kiệt chúng ta, cuộc sống của chúng ta chưa bao giờ đi tới hoàn thành,
cuộc sống chưa bao giờ được kinh nghiệm còn thân thể đi tới chỗ kết thúc. Nhưng
khao khát sống chẳng bao giờ chấm dứt, nó tìm thân thể khác. Nó cứ đi tìm thân
thể mới... và mỗi lần chúng ta phải chết. Cái chết cứ xảy ra, nhưng khao khát
sống không bao giờ chết - nó mạnh tới mức nó cứ được sinh đi sinh lại mãi.
Điều xảy ra trong cái chết cũng
xảy ra trong thiền nữa, nhưng trong cái chết nó là một điều bị bắt buộc. Mọi
người trở nên vô ý thức vào lúc chết, và phần lớn mọi người đều chết một cách
vô ý thức. Kiếp sống khác là chắc chắn cho những người chết một cách vô ý thức,
nhưng sẽ không có kiếp sống khác cho những người chết một cách có ý thức. Tại
sao chúng ta chết một cách vô ý thức? Vô ý thức không phải là điều tiên quyết
cho cái chết. Chúng ta chết một cách vô ý thức bởi vì đây là biện pháp bảo vệ
của thân thể.
Đôi khi mọi người nói rằng họ
cảm thấy nỗi đau không thể nào chịu đựng nổi. Điều này hoàn toàn không đúng,
bởi vì không ai có thể chịu đựng nổi nỗi đau không thể chịu nổi. Con người trở
nên vô ý thức trước khi cái đau không thể chịu nổi bắt đầu - đây là biện pháp bảo
vệ cố hữu. Khi cái đau tăng lên vượt ra ngoài giới hạn chịu đựng, người ta trở
nên vô ý thức. Trạng thái vô ý thức này có nghĩa là ngưỡng đau đã bị vượt quá;
việc còn ý thức và mang cái đau là không còn có thể được, cách duy nhất để chịu
đựng nó là trở thành vô ý thức.
Do đó chúng ta dùng trạng thái
vô ý thức vào thời gian mổ. Nhà giải phẫu trước hết gây mê cho bệnh nhân, bởi
vì trong khi mổ, đau sẽ thành không thể chịu nổi và do đó điều nhân đạo và mang
tính giúp đỡ là làm cho người đó thành vô ý thức trong kinh nghiệm đó. Tự nhiên
có cách thu xếp giải phẫu nội bộ riêng của nó: bất kì khi nào cái đau trở thành
không thể chịu được, chúng ta trở nên vô ý thức. Cho nên không ai đã bao giờ
kinh nghiệm cái đau không thể chịu nổi. Bất kì cái đau nào bạn đã cảm nhận, đều
là chịu đựng được, bằng không thì bạn sẽ mất ý thức.
Chết là giải phẫu lớn lao
nhất... tâm thức đang bị loại bỏ khỏi toàn bộ thân thể. Tất cả mọi cuộc mổ đều
chỉ là bộ phận - chỉ một phần bị lấy ra. Đôi khi xương bị lấy ra, đôi khi là
một bộ phận, đôi khi là một mẩu thịt vân vân - nhưng cái chết tách toàn bộ tâm
thức ra khỏi thân thể, và tâm thức đó thực tế bị đồng nhất với thân thể. Đó là
lí do tại sao khả năng cái đau không chịu đựng nổi tồn tại. Chỉ những người như
Phật mới không chết một cách vô ý thức.
Điều thú vị khác xảy ra là ở
chỗ người chết một cách có ý thức biết trước về cái chết của mình - theo một
cách tự nhiên. Điều đó nữa cũng là thu xếp bên trong: người đó không được thông
báo về cái chết của mình, nhưng cơ chế thân thể của người đó bản thân nó trở
nên nhận biết về cái chết ngăn trở. Nhưng bạn không được thông báo trước về cái
chết của mình, bởi vì nếu bạn đi tới biết rằng bạn sắp chết trong bẩy ngày, bạn
thậm chí sẽ chết trước lúc đó; bẩy ngày này sẽ trở thành thời kì chết khủng khiếp.
Cho nên bạn không được tin cậy - ngay cả thân thể bạn cũng sẽ không thông báo
cho bạn, nó sẽ che giấu bí mật đó với bạn. Nhưng ai đó có thể chết một cách có
ý thức, người đó sẽ đi tới biết.
Ngày Phật sắp chết ông ấy đã
bảo với các đệ tử của mình, “Bây giờ, hôm nay, đấy là thời điểm ra đi. Nếu còn
cái gì cần hỏi thì hãy hỏi đi!” Nhưng không có câu hỏi nào hỏi ông ấy về cái gì
cả - họ tất cả bắt đầu khóc lóc, than vãn. Phật nói, “Đừng phí thời gian! Đừng
vội vã khóc lóc, các ông có thể làm điều đó về sau. Thời gian của ta sắp hết
rồi. Các ông còn muốn hỏi gì nữa không?” Nhưng họ đều đau buồn đến mức không
thể nào hỏi được câu hỏi nào. Việc hỏi một câu hỏi chỉ có thể khi bạn thấy
thanh thản. Và Phật này là loại người gì vậy? Đây có phải là lúc hỏi câu hỏi
không?
Ananda nói, “Chẳng câu hỏi nào
tới trong đầu tôi cả.”
Phật hỏi lần thứ ba và rồi nói,
“Được rồi, thế thì các ông đi làm việc của mình đi, bây giờ để ta làm việc của
ta.”
Ông ấy đi tới dưới gốc cây,
ngồi trong tư thế thích hợp với mắt nhắm - và câu chuyện kể lại rằng ông ấy bắt
đầu đi vào trong cái chết. Bước thứ nhất đã hoàn tất... Phật đã mô tả bốn bước
của cái chết. Bốn bước đó thuộc vào thiền nữa. Ông ấy đã hoàn thành bước thứ
nhất, thế rồi bước thứ hai. Ông ấy sắp hoàn thành bước thứ ba thì một người từ
làng chạy tới và nói, “Tôi đã nghe nói rằng Phật sắp chết, nhưng tôi có điều
cần hỏi.” Họ yêu cầu người đó giữ yên tĩnh bằng việc nói, “Anh tới quá trễ rồi
và Phật đã bắt đầu cuộc hành trình bên trong cuối cùng của mình.”
Cái chết chỉ là cuộc hành trình
đối với Phật - cuộc hành trình có ý thức. Không phải là cái chết tới với Phật,
chính bản thân Phật đang đi vào trong cái chết. Cố hiểu khác biệt này cho đúng.
Cái chết tới với chúng ta; chúng ta vật lộn với nó và nó chiếm lĩnh chúng ta.
Bản thân Phật tiến tới cái chết, từng bước một.
Cho nên các đệ tử đã nói rằng
người đó quá trễ. Nhưng người này khăng khăng, “Tôi không thể dừng được, tôi
phải hỏi, bởi vì người ta chẳng bao giờ biết được phải mất bao nhiêu kiếp mới
tìm được một người như Phật lần nữa. Và câu hỏi của tôi....”
Các đệ tử hỏi người đó, “Anh
ngốc, Phật đã ở trong thị trấn này một thời gian dài. Anh ở đâu?”
Anh ta đáp, “Điều đó không
thành vấn đề. Tôi biết rằng Phật đã đi qua thị trấn này từ ba mươi năm nay,
nhưng thế rồi tôi quá bận rộn với khách hàng trong cửa hàng, đôi khi thì con ốm
ở nhà, rồi đám cưới con gái tôi - tôi cứ trì hoãn đến thời gian thích hợp nhưng
bây giờ thì không còn cách nào cả. Ông ấy sắp chết rồi.”
Phật quay lại từ sau cây và
nói, “Đừng dừng anh ta lại! Ta vẫn ở trong giai đoạn thứ ba, chưa vào giai đoạn
thứ tư... ta không muốn bị nhớ là một ai đó vẫn còn sống trong khi một người có
câu hỏi lại phải ra đi mà không có câu trả lời. Để cho người đó có câu trả
lời.”
Đây cũng là một cách chết.
Nhưng cách chết này chỉ có sẵn cho người đã biết tới nghệ thuật chết trong
thiền. Các bước trong thiền và chết là như nhau bởi vì thiền tách rời chúng ta
ra khỏi thân thể và đưa chúng ta về trung tâm của tâm thức mình, còn chết cũng
đem chúng ta ra khỏi thân thể về trung tâm của tâm thức. Nhưng trong cái chết
bạn vô ý thức bởi vì nó chống lại ý chí của bạn, trong khi trong thiền bạn có ý
thức bởi vì đó là chọn lựa riêng của bạn.
Cho nên mạch sống, khao khát
sống là cái nút thứ hai. Cái nút thứ ba là ham muốn. Bạn đã bao giờ biết tới khoảnh
khắc khi bạn không có ham muốn không? Nếu bạn thậm chí có thể có một khoảnh
khắc đi tới trạng thái vô ham muốn, trong chính khoảnh khắc đó bạn trở thành
Thượng đế. Mọi người hỏi, “Thượng đế ở đâu? Chúng tôi có ham muốn tìm ngài và
tìm ra ngài.” Và chính bởi vì ham muốn này bạn sẽ không tìm thấy ngài. Ngay cả
ham muốn này cũng không nhỏ - nó là đủ ngăn cản bạn.
Ham muốn nghĩa là: “Tôi không
quan tâm tới điều đã có đây, tôi quan tâm tới điều tôi muốn phải có đó.” Ham
muốn nghĩa là gì? Cái gì là điều chúng ta gọi là ham muốn? Ham muốn nghĩa là
bạn không quan tâm tới cái đang sẵn có đấy. Mối quan tâm của bạn là ở cái đáng
phải có sẵn. Nhưng khi nó trở thành sẵn có, bạn sẽ lại không quan tâm tới nó
chút nào nữa, bởi vì bây giờ nó đã trở thành hiện tại còn mối quan tâm của bạn
bao giờ cũng nằm ở tương lai.
Ham muốn bao giờ cũng vươn tới
tương lai và bỏ lỡ hiện tại. Và vậy mà bất kì cái gì thực sự tồn tại đều ở đây
và bây giờ. Do đó bất kì ai bị ám ảnh với ham muốn đều bị vướng vào các nút;
ham muốn càng nhiều, càng có nhiều nút, ham muốn càng sâu, nút càng phức tạp.
Chúng ta chỉ là một tuyển tập những ham muốn. Chúng ta tồn tại như những đòi
hỏi cấp bách - hàng nghìn kiểu ăn xin khác nhau tồn tại trong chúng ta - và
từng và mỗi ham muốn lại đòi hỏi một loại thoả mãn khác nhau. Chẳng cái gì đã
bao giờ được đạt tới cả.
Bên trong chúng ta chỉ có một
chồng bát ăn xin và chúng tất cả đều trống rỗng, và chúng ta cứ kiếm thêm nhiều
nữa. Chúng ta cứ thu thập những bát ăn xin mới hàng ngày. Những ham muốn cũ vẫn
còn chưa được thoả mãn và ham muốn mới lại được thêm vào chúng, bởi vì rất dễ
cho sinh thành ra ham muốn và hoàn toàn không thể nào đáp ứng được nó. Bất kì
cái gì được thấy quanh ta đều trở thành một ham muốn trong ta để có cái này, có
cái kia - nhưng không ham muốn nào được hoàn thành cả, chúng chỉ cứ tích luỹ.
Chúng ta vẫn còn là cái bát rỗng - bát ăn xin, kẻ ăn xin!
Phật đã gọi các sannyasins của
mình là kẻ ăn xin, khất sĩ. Ông ấy đang chế giễu chúng ta. Đây là điều mỉa mai,
và ông ấy nói nó chỉ là một chuyện đùa, nhưng chuyện đùa lại sâu sắc và thâm
thuý.
Phật tới một làng để xin ăn với
bình bát xin ăn, và người giầu nhất trong làng đó nói, “Sao vậy? Một người đẹp
như ông” - toàn thân Phật đẹp thế, có lẽ vào thời đó khó mà tìm được người khác
đẹp như ông ấy - “mà ông lại là kẻ ăn xin, trên đường với bình bát ăn xin. Ông
đáng là một hoàng đế. Tôi không quan tâm ông là ai, ông làm gì, đẳng cấp của
ông là gì, tôn giáo ông, gia đình ông. Tôi sẽ gả con gái tôi cho ông, còn ông
sẽ trở thành người chủ mọi gia sản của tôi, bởi vì con gái tôi là người thừa kế
duy nhất của tôi.”
Phật nói, “Ta ước ta đúng là kẻ
ăn xin và ông là người chủ - nhưng sự kiện lại là ở chỗ khi ta nói rằng các ông
tất cả đều là kẻ ăn xin cứ cho rằng mình là người chủ, ta cầm bình bát ăn xin
trong tay riêng của ta. Thấy tình huống này, ta cảm thấy không phải để gọi bản
thân mình là người chủ. Tất cả các ông đều gọi bản thân mình là người chủ, còn
chúng ta lại vui sướng gọi bản thân mình là kẻ ăn xin! Bởi vì trong thế giới mà
kẻ ăn xin nghĩ mình là người chủ, cũng đúng cho người chủ tự biểu lộ mình là kẻ
ăn xin.”
Đây là hiện tượng hiếm hoi,
hiếm khi xảy ra trên thế gian này. Có rất ít hoàng đế được sinh ra trong thế
giới này mà vĩ đại tới mức họ dám trở thành kẻ ăn xin. Ấn Độ là đất nước duy
nhất - mỗi một nước trên trái đất này - nơi con người như Phật và Mahavira bước
xuống đường đi ăn xin. Nhưng đây là chỉ báo về việc làm chủ bên trong vĩ đại.
Và đấy cũng là chút ít châm biếm, châm chọc cho tất cả chúng - châm biếm vĩ
đại!
Những người chỉ có bình bát ăn
xin bên trong sống dưới ảo tưởng rằng họ là người chủ, còn những người không
ham muốn nào còn lại thì bước đi trên phố ăn xin của bố thí. Đây là vở kịch tâm
lí, châm biếm cay đắng. Nhưng chúng ta không thể nào hiểu nổi châm biếm của
những người như Phật, và điều đó tạo ra vấn đề.
Ham muốn và tham lam - cứ đòi
hỏi, và đòi hỏi và đòi hỏi. Và người cứ đòi hỏi sẽ cứ đi lang thang trên cuộc
hành trình bên ngoài, trong thế giới bên ngoài. Chỉ người dừng đòi hỏi mới đi
vào chiều sâu bên trong.
Cho nên ham muốn được gọi là
cái nút thứ ba.
Đủ cho hôm nay.
Hai lời kinh vẫn còn lại. Những
lời này chúng ta sẽ nói tiếp vào sáng mai.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment