Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 9)
Chương
1. Cảnh giác
Vì nếu trong từ bỏ của mình
Ông
coi thường và nuốt lời,
Nếu
mục đích của ông lung lay,
Ông
sẽ không thấy ánh sáng.
Làm
điều ông phải làm
kiên
quyết, bằng cả tấm lòng.
Lữ
khách ngần ngại
chỉ
tung bụi trên đường.
Không
làm gì là tốt hơn làm điều sai trái.
Vì
bất kì cái gì ông làm,
ông
làm cho bản thân mình.
Như
thị trấn biên giới được canh gác cẩn mật,
Canh
gác bản thân ông bên trong và bên ngoài.
Không
để một khoảnh khắc trôi qua sợ rằng ông rơi vào bóng tối.
Cảm
thấy xấu hổ chỉ ở nơi xấu hổ là nghĩa vụ.
Chỉ
sợ cái đáng sợ.
Thấy
cái ác chỉ trong cái là ác.
Sợ
ông sai con đường đúng và rơi vào trong bóng tối.
Thấy
cái đang có.
Thấy
cái không có.
Theo
đường đúng.
Vươn
lên.
Phật
Gautama đã cho thế giới một tôn giáo mang tính tâm hồn nhất. Nó là vô song;
ngay cả các tôn giáo khác đều không tới gần được điều đó. Chiều cao của nó, chiều
sâu của nó, là vô cùng. Và lí do tại sao Phật đã thành công trong việc cho tầm
nhìn đẹp thế về cuộc sống là rất đơn giản: ông ấy đã không tin; ông ấy truy
tìm, ông ấy thám hiểm. Ông ấy đã không tin vào truyền thống, ông ấy đã không
tin vào kinh sách, ông ấy đã không tin vào tu sĩ.
Đây
là một trong những nền tảng của ông ấy: rằng chừng nào bạn chưa biết, bạn không
biết. Bạn có thể vay mượn tri thức, bạn có thể trở nên thông thái, biết nhiều,
là học giả, bác học, giáo sư, nhưng bạn sẽ không là người thấy. Sâu bên dưới dốt
nát sẽ còn dai dẳng và sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của bạn. Sâu bên dưới bạn sẽ
vẫn còn là cùng cái ta ấu trĩ, chưa chín chắn, không được bắt rễ, không được định
tâm, không được tích hợp. Bạn sẽ không là cá nhân, bạn sẽ không có sự đích thực
nào. Bạn sẽ giả, rởm, giả mạo.
Nó
là bước nhảy lượng tử vào cái không biết. Khi bạn không tin vào truyền thống,
khi bạn không tin vào kinh sách, khi bạn không tin vào bất kì cái gì ngoại trừ
kinh nghiệm riêng của bạn, bạn đang đi vào trong cái không biết tất cả đều một
mình. Điều đó cần bạo dạn, điều đó cần dũng cảm. Và chỉ người dũng cảm mới có
thể có tính tôn giáo thực sự.
Kẻ
hèn nhát có đó trong nhà thờ, trong đền chùa, trong nhà thờ Hồi giáo, có cả triệu,
nhưng họ không tạo ra cái đẹp tôn giáo nào, hương thơm tôn giáo nào trên thế giới
này. Họ không làm cho thế giới đẹp hơn, sống động hơn, nhạy cảm hơn. Họ không tạo
ra cái gì. Họ chỉ làm những nghi thức, thánh lễ. Bản thân họ chết và họ cứ lừa
người khác; bản thân họ bị lừa.
Tri
thức vay mượn tạo ra lừa dối lớn bởi vì bạn bắt đầu cảm thấy dường như bạn biết
- và cái "dường như" đó là cái "dường như" lớn.
Chân
lí giải thoát, tin tưởng gây mù. Chân lí giải thoát bởi vì nó phải là của bạn;
nó phải là kinh nghiệm bên trong, sự đương đầu với cái đang đó.
Phật
là người không tin. Ông ấy không là người vô thần như Karl Marx hay Friedrich
Nietzsche; ông ấy cũng không là người hữu thần như tất cả các tu sĩ của mọi tôn
giáo. Ông ấy là người không thể biết được. Ông ấy không tin mà cũng không không
tin; ông ấy mở. Đó là món quà vĩ đại của ông ấy cho thế giới: mở với chân lí.
Đi
hoàn toàn trần trụi, không có kết luận nào, không có ý thức hệ nào, định kiến
nào. Bằng không có mọi khả năng là bạn sẽ phóng chiếu ý tưởng riêng của bạn. Bạn
sẽ không thấy cái đang đó, bạn sẽ chỉ thấy cái bạn muốn thấy. Bạn sẽ tạo ra thực
tại riêng của mình điều nhất định là giả. Thực tại phải không được bịa ra, nó
phải được khám phá ra. Nó đã có đó rồi. Và nhớ, nó không phải là thực tại bị giấu
kín, chính đôi mắt của bạn bị che phủ bởi tầng tầng bụi.
Phật
đã cho thế giới một tôn giáo phi siêu hình, tôn giáo tâm hồn. Ông ấy đơn giản
giúp bạn vượt ra ngoài tâm trí. Ông ấy giúp bạn hiểu tâm trí bởi vì chính chỉ
qua hiểu biết mà điều siêu việt xảy ra.
Nhưng
khi tôi nói rằng Phật đã cho thế giới tôn giáo tâm hồn nhất, đừng hiểu lầm tôi.
Ông ấy đã không cho tâm lí; ông ấy đã cho tôn giáo tâm hồn, điều là hiện tượng
hoàn toàn khác. Ông ấy đã không cho tâm lí như Sigmund Freud, Carl Gustav Jung,
Adler, Pavlov, Skinner, vân vân. Những người này bị giới hạn vào tâm trí; họ
nghĩ tâm trí là tất cả. Không có gì bên ngoài tâm trí, cho nên phân tích tâm
trí thôi. Nếu bạn đã tìm thấy tâm trí bạn đã tìm thấy chân lí, theo họ. Đó là bắt
đầu với thái độ sai.
Con
người không là thân thể không là tâm trí. Con người là nhận biết bên trong, cái
có thể nhìn vào thân thể, cái có thể nhìn vào tâm trí, cái có khả năng chứng kiến
tất cả. Bạn là nhân chứng.
Do
đó tôi nói, Phật đã không cho tâm lí. Tâm lí là hiện tượng rất bình thường. Nó
không đem biến đổi cho cuộc sống của bạn bởi vì nó không thể đem tới bất kì
siêu việt nào. Nhiều nhất nó giúp bạn được điều chỉnh thêm chút ít theo bản
thân bạn và theo thế giới bao quanh bạn, theo xã hội, theo những người mà bạn
phải sống cùng. Nó giúp bạn trở nên được điều chỉnh thêm chút ít.
Tâm
lí về căn bản là chính thống; nó không mang tính cách mạng, nó không thể thế được.
Nó phục vụ cho nguyên trạng, nó phục vụ cho thể chế. Nó giữ bạn ở bên trong các
biên giới; nó không giúp bạn vượt ra ngoài các biên giới. Nó không trong phục vụ
cho bạn. Nó bị kiểm soát bởi những người đương quyền - bởi nhà nước, bởi nhà thờ,
bởi xã hội. Theo một cách rất trá hình nó giữ bạn bị buộc vào tâm trí tập thể.
Nó không giúp bạn trở thành cá nhân, bởi vì là cá nhân là có tính nổi dậy, là
cá nhân là đi theo cách riêng của bạn, là cá nhân là thành kẻ nguy hiểm cho xã
hội. Tư bản, cộng sản, dù xã hội là bất kì cái gì - Hindu giáo, Ki tô giáo, Mô
ha mét giáo - không thành vấn đề; cá nhân là nguy hiểm bởi vì cá nhân cố gắng sống
từ ánh sáng riêng của mình. Người đó không theo ai cả. Người đó không là tín đồ,
người đó không là người bắt chước.
Phật
cho một tôn giáo tâm hồn. Tôn giáo theo nghĩa ông ấy giúp bạn hiểu tâm trí để
cho bạn có thể vượt ra ngoài nó - không phải để cho bạn có thể được điều chỉnh
theo tâm trí tập thể mà để cho bạn có thể vươn lên những tầm cao của tính cá nhân
của bạn, tới các đỉnh cao của định mệnh của bạn.
Tâm
lí tin rằng con người thiếu nghĩa trong cuộc sống của mình và nghĩa có thể tới
chỉ qua trị liệu. Tâm trí về bản chất nghĩa là nghĩa qua trị liệu. Còn tôn giáo
chính là cái đối lập; tôn giáo nghĩa là trị liệu qua nghĩa. Tôn giáo cho bạn
nghĩa trước và rồi tự động nghĩa trở thành lực chữa lành, nó trở nên có tính trị
liệu.
Phật
nói đi nói lại rằng, "Ta là thầy chữa," rằng "Ta là ông lang trị
liệu," rằng "Chức năng của ta không phải là chức năng của triết gia
mà là chức năng của thầy chữa trị. Ta giúp mọi người trở nên lành mạnh hơn, trở
thành toàn thể." Và quá trình của ông ấy là gì? Quá trình của ông ấy là
truyền đạt ý nghĩa cho cuộc sống của bạn. Điều đó nữa ông ấy cũng làm theo cách
mới sâu sắc; nó chưa bao giờ được thực hiện trước đây như thế. Ông ấy không cho
bạn bất kì nghĩa tuỳ tiện nào bởi vì nghĩa tuỳ tiện sẽ được thấy là tuỳ tiện sớm
hay muộn, và khoảnh khắc nó sụp đổ bạn sẽ rơi vào trong bóng tối sâu sắc. Bóng
tối sẽ còn tối hơn nhiều so với nó trước đây. Bây giờ bạn đã mất nghĩa. Bạn sẽ
cảm thấy như tự tử; bạn sẽ cảm thấy cuộc sống chả đáng sống chút nào. Ngay cả
thở cũng sẽ trở thành khó khăn, vất vả. Câu hỏi sẽ nảy sinh: Tại sao? Tại sao
tôi cứ sống nếu không có nghĩa?
Phật
không cho bạn ý nghĩa tuỳ tiện nào. Do đó tôi nói ông ấy không có siêu hình.
Ông ấy giúp bạn khám phá nghĩa bản chất của cuộc sống của bạn. Ông ấy không cho
bạn nghĩa, nhưng ông ấy cho bạn phương pháp và phương tiện để khám phá ra nghĩa
mà bạn đã mang bên trong bản thân mình như hạt mầm.
Các
nhà tâm lí cứ nói: Thứ nhất tìm kiếm cho bạn vương quốc của Freud, Jung, Adler,
Pavlov, Skinner và toán người đó, và rồi mọi thứ khác sẽ được thêm vào cho bạn.
Điều đó chưa bao giờ xảy ra; điều đó chưa bao giờ xảy ra cho một cá nhân. Nó không
thể xảy ra được theo chính bản chất của mọi sự. Ngay cả Freud cũng biết chẳng
có nghĩa nào, sống không nghĩa, sống sâu trong thất vọng. Ông ấy nói rằng không
có hi vọng nào cho con người cả, rằng con người chưa bao giờ hạnh phúc, điều đó
là không thể được. Điều đó phải là hiểu biết của riêng người đó, kinh nghiệm
riêng của người đó về cuộc sống. Ông ấy nói rằng nhiều nhất chúng ta có thể
giúp cho con người đỡ khổ hơn, có vậy thôi. Đây là loại mục đích gì? - giúp con
người chút ít đỡ khổ hơn! Nó chẳng hấp dẫn gì mấy.
Con
người cần phúc lạc, không phải là khổ. Con người cần cái gì đó tích cực - cái
gì đó để sống và cái gì đó để chết, cái gì đó đầy giá trị mà thậm chí cuộc sống
có thể được hi sinh vì nó. Nhưng nó không nên là tuỳ tiện. Có nhiều nghĩa tuỳ tiện.
Adolf
Hitler đã cho nước Đức một nghĩa tuỳ tiện: Sống vì giống nòi Aryan, sống vì
dòng máu thuần chủng Bắc Âu, bởi vì bạn được sinh ra để cai trị thế giới. Ông ấy
đã cho niềm hi vọng lớn, nhưng nó đã thất bại. Điều đó nhất định xảy ra. Bản
thân ông ấy đã tự tử; điều đó đã gần như là định mệnh.
Các
tôn giáo cứ cho nghĩa giả cho cuộc sống của bạn. Họ cứ nói về kiếp sống khác,
cõi bên kia: "Sau cái chết có thiên đường dành cho những người đức hạnh và
có địa ngục cho những người không đức hạnh." Và ai đức hạnh? Người đi theo
các tu sĩ là người đức hạnh. Người không đi theo truyền thống, qui ước, người
không phải là kẻ tuân thủ, nhất định xuống địa ngục.
Vâng,
từ sợ và tham bạn có thể cho cuộc sống chút ít nghĩa, nhưng nó tuỳ tiện, nhân tạo
tới mức không một cá nhân nào trên thế gian, người ngu tới mức sớm hay muộn người
đó sẽ không thấy cái giả của nó.
Và
bây giờ con người đã đến tuổi trưởng thành; do đó các tôn giáo đang biến mất.
Không có khả năng nào trong tương lai cho Ki tô giáo, cho Hồi giáo, cho Hindu
giáo, cho Do Thái giáo tồn tại. Và nếu họ muốn tồn tại họ sẽ phải thay đổi toàn
thể cái nhìn của họ, chính nền tảng của họ.
Nhưng
có mọi khả năng cho Phật và các thông điệp của ông ấy thành phổ biến. Thực ra,
thời của ông ấy đã tới. Ông ấy trước thời của mình hai mươi nhăm thế kỉ. Bây giờ
mới là thời đó, đúng thời cho ông ấy. Ông ấy không nói về sợ, ông ấy không nói
về tham, ông ấy không nói về địa ngục và cõi trời, ông ấy thậm chí không nói về
Thượng đế. Ông ấy hiện đại thế, đương đại thế; ông ấy thuộc về thế kỉ của chúng
ta. Ngay cả chúng ta cũng không đương đại được như ông ấy. Ông ấy phá huỷ mọi cấu
trúc cũ. Ông ấy giải phóng tôn giáo khỏi mọi ý thức hệ đông cứng. Ông ấy đem
nhiều thay đổi cách mạng vào cái nhìn tôn giáo.
Trước
hết ông ấy nói không cần phải thông thái; người ta phải hồn nhiên. Chính là qua
hồn nhiên mà chân lí được biết tới, không qua tri thức.
Một
hàng xóm nói, "Đêm qua mèo nhà bác kêu kinh quá."
Người
kia đáp, "Bác nói đúng. Cứ khi nào nó ăn chim hoàng yến, nó nghĩ nó có thể
hát."
Bạn
có thể cứ ăn kinh sách; bạn sẽ không có khả năng hát chút nào. Bạn có thể biết
tất cả Vedas, Upanishads, Gitas, Korans, Kinh Thánh, nhưng bạn sẽ vẫn còn ngu
xuẩn như bao giờ. Tất nhiên bạn sẽ bắt đầu ba hoa về thông thái của mình. Bạn sẽ
bắt đầu khoe khoang về nó, bạn sẽ trở thành kẻ trưng bày. Ngay cả khi bạn không
biết gì bạn sẽ giả vờ rằng bạn biết.
Tài
sản đáng tự hào nhất của cô Spinster Peabody là con Count, con mèo cực kì đẹp.
Không may, nó bị mất hai ngày rồi. Khi cô ấy mở cửa tủ lạnh, cô Peabody choáng
gần chết. Con Count đông cứng trong đó.
Cô
ấy lập tức gọi tu sĩ tới, ông ấy nói vẫn có thể có cơ may cứu con vật đáng
thương này. "Cho nó hai thìa xăng đi," ông ta bảo cô ấy.
Tay
run rẩy, cô Peabody cậy mồn Count ra và cẩn thận đổ thìa xăng theo kê đơn kì lạ
của tu sĩ.
Vài
giây trôi qua và chẳng cái gì xảy ra cả. Cô ấy đã toan từ bỏ hi vọng thì bỗng
nhiên con mèo mở mắt, kêu ré lên nhức tai và nhảy qua phòng với tốc độ một trăm
dặm một giờ, chạy qua các đồ đạc, tường, thậm chí trần nhà. Count cứ giữ tốc độ
này trong hai phút và rồi bỗng nhiên dừng lại chết giữa đường chạy, không một cử
động cơ.
Cô
Peabody lại gọi tu sĩ.
"Ông
nghĩ điều gì đã xảy ra?" cô ấy hỏi. "Đơn giản," tu sĩ nói.
"Nó bị hết xăng ấy mà."
Các
tu sĩ có mọi câu trả lời. Hỏi họ bất kì cái gì, bất kì cái gì ngu xuẩn mà xem.
Họ không thể nói, "Chúng tôi không biết," điều đó là không thể được.
Các tu sĩ không bao giờ nói rằng họ dốt; toàn thể kinh doanh của họ phụ thuộc
vào thông thái của họ.
Socrates
nói: Tôi chỉ biết một điều, rằng tôi không biết gì. Đó đích xác là cách tiếp cận
của Phật nữa - và Socrates và Phật là đương đại; họ có nhiều cái chung.
Nếu
Socrates được sinh ra ở Ấn Độ ông ấy chắc đã được gọi là phật. Ông ấy cũng tin
cậy vào hồn nhiên, hồn nhiên của đứa trẻ chẳng biết gì. Nếu bạn có thể lại trở
thành đứa trẻ, chỉ thế thì cánh cửa tới điều huyền bí có thể mở ra cho bạn. Bạn
có thể thấy. Bụi trong mắt bạn không là gì ngoài tri thức, thông tin, kinh
sách.
Các
nhà trị liệu tâm lí được mọi người gọi là "kẻ co"; họ là vậy! Toàn thể
nỗ lực của nhà trị liệu tâm lí là thu bé bạn; ông ấy là kẻ giản lược. Ông ấy
nghiên cứu chuột, và bất kì cái gì ông đi tới biết về chuột ông ấy áp dụng cho
bạn. Điều đó kinh tởm thế, nhục nhã thế, ngớ ngẩn thế, phi logic! Ông ấy nghiên
cứu cái thấp nhất để biết cái cao nhất.
Bạn
có thể chẳng biết gì về hoa bằng việc nghiên cứu hạt mầm, bằng việc mổ xẻ hạt mầm,
bằng việc phân tích hạt mầm. Trong hàng nghìn năm bạn có thể cứ phân tích hạt mầm;
bạn sẽ không bao giờ bắt gặp mầu sắc của hoa hồng, hoa sen, hay hương thơm. Bạn
sẽ không bao giờ biết hương thơm nào ẩn trong hạt mầm. Việc phân tích không thể
đem nó cho bạn.
Nghiên
cứu chuột và thế rồi áp dụng tri thức đó cho người đơn giản nói rằng người
không là gì ngoài một loài vật, chút ít phức tạp hơn, nhưng chẳng gì nhiều hơn
thế. Qui giản luận bao giờ cũng có nghĩa là đem mọi thứ về "những cái
không là gì."
Hiểu
biết thực của con người là khả năng duy nhất không phải bởi nghiên cứu chuột mà
bởi nghiên cứu chư phật, christ, krishna - những người cao nhất. Bằng việc
nghiên cứu các đỉnh cao bạn sẽ biết đích xác bạn là ai, không phải bởi mẫu số
nhỏ nhất mà bởi việc biểu lộ cao nhất. Khi bạn nghiên cứu vị phật, khao khát lớn
nảy sinh trong bạn để đạt tới những đỉnh cao đó. Khi bạn nghiên cứu chuột, thế
thì không có khao khát. Thực ra, bạn cảm thấy rất được thoả mãn bất kì cái gì bạn
đang là. Thực ra, bạn cảm thấy hài lòng lớn lao là bạn có chút ít tốt hơn chuột,
chút ít phức tạp hơn, chút ít láu cá hơn. Bạn cảm thấy vừa lòng. Tôn giáo biến
mất.
Tôn
giáo sống trong khao khát của bạn để đạt tới đỉnh, để đạt tới những chiều cao tối
thượng, để đem toàn bộ tiềm năng của bạn ra biểu lộ, vào thực tại. Tôn giáo là
khoa học về hiểu cái ta.
Nếu
nhà trị liệu tâm lí có thể bị gọi là "kẻ co," thế thì người tôn giáo
thực nên được gọi là "người duỗi." Người đó kéo duỗi bạn tới tới những
khả năng tối thượng.
Bây
giờ là lời kinh:
Vì
nếu trong từ bỏ của ông
Ông
coi thường và nuốt lời,
Nếu
mục đích của ông lung lay,
Ông
sẽ không tìm thấy ánh sáng.
Phật
sẽ nói đi nói lại về sáng và tối; do đó hai từ này phải được hiểu. Chúng là các
biểu dụ. Phật phải dùng biểu dụ. Mọi chư phật, mọi người thức tỉnh, đều phải
dùng biểu dụ. Ngôn ngữ thông thường là không đủ, là rất không thích hợp. Khi bạn
bắt đầu diễn đạt cái gì đó bên trong, bạn cảm thấy khó. Ngôn ngữ không có lời
cho nó, hay cho dù lời có đó chúng quá nhỏ bé và kinh nghiệm là quá lớn. Kinh
nghiệm không thể được chứa trong những lời đó, do đó mới có việc dùng biểu dụ.
Biểu
dụ đơn giản là phương tiện, đừng bám lấy nghĩa của lời đúng theo từng từ. Hiểu
nó như ngón tay chỉ trăng ấy. Đừng bám lấy nghĩa từng lời; bằng không bạn sẽ gặp
khó khăn bởi vì thế thì bạn sẽ chỉ hiểu lầm. Biểu dụ là biểu dụ. Nó là thơ ca,
nó không phải là văn xuôi. Bạn phải có tính thơ ca chút ít, tưởng tượng chút
ít, thông cảm chút ít để hiểu nó. Lấy nghĩa đúng theo từng lời đã từng là thảm
hoạ.
Nhưng
đó là cách chúng ta bao giờ cũng đọc. Ngay cả đọc vị phật chúng ta vẫn cố gắng
đọc ông ấy đúng theo từng lời. Thế thì sáng nghĩa là sáng và tối nghĩa là tối.
Điều đó không phải vậy.
Jack
về nhà từ đại học nhân kì nghỉ. Một hôm anh ta hỏi người mẹ thất học của mình
là liệu anh ta có thể tường thuật cho mẹ không. Mẹ anh ta, không quen với những
từ lớn lao như thế, hỏi anh ta về nghĩa của 'tường thuật'.
"Tường
thuật là câu chuyện," Jack nói.
Đêm
đó, khi lên giường, Jack hỏi mẹ liệu anh ta có thể giảm chiết áp đèn được
không. Bà ấy muốn biết nghĩa của 'giảm chiết áp'.
"Bỏ
đèn ra," Jack nói.
Vài
ngày sau mẹ Jack tổ chức bữa tiệc ở nhà họ, và con mèo đi vẩn vơ vào phòng. Mẹ
Jack lên giọng và nói một cách tự tin, "Jack, lấy con mèo bằng tường thuật
và giảm chiết áp nó."
Cảnh
giác với ảo tưởng đó.
Khi
Phật dùng từ 'sáng' ông ấy ngụ ý trạng thái của vô trí, bởi vì trạng thái của
vô trí là trạng thái của sáng vô cùng, cứ dường như hàng nghìn mặt trời đã mọc
ra đồng thời trong linh hồn bạn. Và bất kì khi nào Phật nói 'tối' ông ấy đều ngụ
ý trạng thái của tâm trí. Tâm trí tối, nó là đêm tối, thậm chí không có một tia
sáng. Và chúng ta tất cả đều sống trong tâm trí, chúng ta tất cả đều sống trong
đêm tối, và chúng ta chẳng có ý tưởng nào về bình minh bởi vì chúng ta chưa bao
giờ ra khỏi tâm trí. Chúng ta bám lấy tâm trí. Tâm trí là sự mù loà của chúng
ta.
Một
người có mắt chỉ khi người đó đi ra ngoài tâm trí. Thế thì người đó bắt đầu thấy
mọi thứ như chúng vậy. Tâm trí bóp méo. Tâm trí chưa bao giờ cho phép bạn nhìn
thực tại như nó vậy; tâm trí phóng chiếu. Nó không cho phép toàn thể thực tại
thấm vào tim bạn. Nó chỉ cho phép hai phần trăm; chín mươi tám phần trăm bị bác
bỏ. Và hai phần trăm được phép này lại bị bóp méo theo cả nghìn lẻ một cách -
được diễn giải, tô mầu và đến lúc nó đạt tới bạn nó không còn là thực nữa. Cho
nên bạn sống trong một thế giới rất không thực. Nếu bạn sống trong tâm trí mình
bạn sống trong mơ, bạn sống trong giấc ngủ.
Cho
nên bất kì khi nào Phật nói 'tối', ông ấy đều ngụ ý trạng thái vô ý thức, trạng
thái máy móc trong đó bạn đang vận hành nhưng bạn không nhận biết điều mình
làm, trong đó bạn di chuyển nhưng di chuyển của bạn không có phẩm chất của tỉnh
táo trong nó. Bạn nói, bạn nghe, bạn ăn, bạn bước, bạn đi ngủ, nhưng như người
dở sống dở chết, vô ý thức. Đây là bóng tối.
Khi
bạn bắt đầu trở nên nhận biết hơn về điều bạn đang làm, về điều bạn đang nghĩ,
về điều bạn đang cảm, khi bạn trở nên ngày một nhận biết hơn, ngày càng nhiều
ánh sáng thấm vào bạn. Khi bạn một trăm phần trăm nhận biết bạn tràn đầy ánh
sáng.
Điều
đó đích xác là nghĩa của từ 'chứng ngộ'. Từ 'chứng ngộ - enlightened' là việc dịch
cho từ 'phật'. Phật nghĩa là người đã chứng ngộ, người đã thức tỉnh, người nhận
biết. Ông ấy nói: Vì nếu trong từ bỏ của mình, ông coi thường và nuốt lời, nếu
mục đích của ông lung lay, ông sẽ không thấy ánh sáng.
Từ
bỏ nghĩa là tính chất sannyas. Từ bỏ có thể có hai kiểu. Kiểu thứ nhất - kiểu
sai - là từ bỏ xảy ra qua sợ hay tham. Bạn đã được bảo rằng nếu bạn từ bỏ thế
giới này thế thì bạn sẽ đạt tới hoan lạc của cõi trời. Bạn đã được bảo nếu bạn
không từ bỏ bạn sẽ chịu đau khổ vĩnh viễn và địa ngục. Nhiều người trở nên sợ địa
ngục và nhiều người trở nên tham cõi trời, và họ từ bỏ thế giới này. Đây là từ
bỏ sai.
Bất
kì cái gì bạn làm từ sợ và tham đều nhất định sai bởi vì sợ và tham là trạng
thái vô ý thức. Từ sợ bạn đã mơ về địa ngục, từ sợ bạn đã mơ về cõi trời. Không
có địa ngục, không có cõi trời đâu. Đây tất cả đều là mơ của bạn. Khi bạn không
mơ chút nào, khi ngủ đã biến mất và bạn thức, không có cõi trời, không có địa
ngục. Trạng thái đó Phật gọi là "giải thoát": giải thoát khỏi tham,
giải thoát khỏi sợ.
Và
nếu bạn hành động từ nhận biết, nếu từ bỏ của bạn xảy ra từ nhận biết, nó là từ
bỏ đúng bởi vì thế thì bạn thực sự không làm gì cả, mọi sự bắt đầu xảy ra. Bạn
thấy cái gì đó sai; nó rơi rụng đi, nó đơn giản rơi rụng đi. Bạn không phải làm
nỗ lực nào. Bạn thấy cái xấu của giận dữ và giận dữ bay hơi; chính việc thấy trở
thành việc biến đổi. Bạn hiểu ham muốn của bạn và cái vô tích sự của ham muốn của
bạn - rằng nó không thể được hoàn thành, rằng nó là không thể đáp ứng được, rằng
bạn đang trong cái vòng luẩn quẩn. Thấy ra điều đó - rằng bạn đang đi trong
vòng tròn - bạn nhảy ra. Đây cũng là từ bỏ, nhưng bạn không nhảy ra khỏi ham muốn
vì ham muốn khác: để được vào cõi trời, để tránh địa ngục. Bạn không nhảy ra khỏi
ham muốn; bạn chỉ thay đổi ham muốn này thành ham muốn khác. Bạn đang tráo đổi
ham muốn trần tục bằng ham muốn không trần tục, nhưng ham muốn là ham muốn. Bạn
có thể thay đổi đối tượng, nhưng bản chất của ham muốn là như nhau.
Đây
là đóng góp lớn lao của Phật cho tâm thức tôn giáo. Ông ấy nói: Đừng từ bỏ, để
từ bỏ xảy ra. Nếu nó xảy ra theo cách riêng của nó, nó có cái đẹp riêng của nó,
nó có cái duyên đáng, và bạn không bao giờ ăn năn, bạn không bao giờ nhìn lại.
Nếu bạn từ bỏ, nếu bạn nỗ lực, việc từ bỏ của bạn sẽ đem buồn rầu về cho bạn.
Và nhiều lần bạn sẽ bắt đầu nghĩ liệu bạn làm điều đúng hay sai. Nhiều lần tâm
trí bạn sẽ vẩn vơ, nhiều lần ham muốn về cái bị từ bỏ sẽ bao quanh bạn như đám
mây. Nhiều lần bạn sẽ đầy thèm khát và tham lam và sợ hãi. Nhiều lần thế giới sẽ
lại hấp dẫn bạn. Điều đó là tự nhiên.
Do
đó Phật nói: Vì nếu trong từ bỏ của mình, ông coi thường và nuốt lời, nếu ông
do dự ông sẽ không thấy ánh sáng.
Điều
đó chỉ có thể xảy ra trong loại từ bỏ sai là mục đích của bạn do dự, bởi vì khi
bạn từ bỏ bằng nỗ lực nó bao giờ cũng là chuyện nửa vời. Một phần tâm trí bạn
nói, "Từ bỏ đi, bởi vì nếu mình không từ bỏ mình sẽ thiệt." Một phần
tâm trí bạn nói, "Đừng từ bỏ. Ai biết liệu có kiếp sống sau cái chết hay
không? Và ai biết liệu từ bỏ có được thưởng hay không? Chẳng ai quay lại từ bờ
bên kia để nói ra chân lí. Nó có thể tất cả chỉ là tưởng tượng, nó có thể tất cả
chỉ là chiến lược của các tu sĩ. Ai mà biết được?"
Nghi
ngờ nhất định vẫn còn dai dẳng, và khi nghi ngờ có đó sẽ có do dự, và khi hoài
nghi có đó bạn bị chia chẻ. Khi hoài nghi có đó bạn không bao giờ có thể toàn
tâm trong bất kì cái gì; bạn vẫn còn bị phân chia. Bạn không bao giờ có thể là
cá nhân, không phân chia. Và người từ bỏ vì động cơ nào đó là đang từ bỏ qua
tâm trí - và điều đó là không thể được. Bạn không thể từ bỏ qua tâm trí được.
Tâm
trí là cái đầu tiên cần bị từ bỏ - và bạn đang cố gắng dùng tâm trí cho từ bỏ
sao? Tâm trí sẽ đầu độc mọi thứ. Nó sẽ tạo ra những ham muốn mới trong bạn, nó
sẽ tạo ra tham lam mới, nó sẽ tạo ra tham vọng mới, nó sẽ tạo ra bản ngã mới
trong bạn. Cứ nhìn cái gọi là người linh thiêng, cái gọi là thánh nhân và
mahatmas. Họ trông còn bản ngã hơn bất kì ai khác. Mặt họ trông buồn, cứ dường
như họ đang trong nỗi đau lớn, chịu đựng lớn. Và mắt họ thì sao? Họ nhìn vào bạn
bao giờ cũng với thái độ của "thánh thiện hơn ngươi." Họ là những kẻ
kết án; họ sẽ gọi bạn là tội nhân. Họ sẵn sang ném bạn vào địa ngục và ngọn lửa
địa ngục. Với bản thân mình họ đang hi vọng rằng họ sẽ ở cõi trời tận hưởng những
hoan lạc cõi trời mãi mãi và mãi mãi.
Đây
là loại từ bỏ gì vậy? Đây là loại từ bỏ sai và bạn không thể đạt tới ánh sáng
qua nó; bạn sẽ cứ rơi vào trong bóng tối ngày một sâu sắc hơn. Bạn đã lấy bước
đầu tiên theo hướng sai, và bước đầu tiên là bước quan trọng nhất bởi vì bước
thứ hai sẽ đi theo bước thứ nhất, và cứ thế tiếp diễn mãi. Và bạn sẽ cứ đi ngày
càng xa hơn khỏi chân lí.
Do
đó tôi không bảo các sannyasin của tôi từ bỏ, mặc dầu từ bỏ xảy ra. Nhiều người
trong các sannyasins của tôi viết thư cho tôi, "Thầy kính yêu, thầy lừa
chúng tôi. Chúng tôi cứ tưởng chẳng cái gì phải từ bỏ cả, và bây giờ nhiều điều
đơn giản biến mất."
Mới
hôm nọ có một bức thư. Một sannyasin đã viết rằng ham muốn dục của anh ta hoàn
toàn biến mất và anh ta đã cố cả đời để từ bỏ và nó và anh ta chưa bao giờ
thành công. Và ở đây chúng ta không dạy từ bỏ cái gì, thậm chí không từ bỏ ham
muốn dục, cho nên thư của anh ta có liên quan. Anh ta nói, "Thầy giở thủ
đoạn với chúng tôi. Tôi cứ tưởng rằng tôi đã tới đây để tận hưởng ham muốn dục
của mình lần đầu tiên, bởi vì cả đời tôi đã cố là sư. Mệt mỏi với nó, hoàn toàn
thất bại trong từ bỏ nó, tôi đã tới đây - và bây giờ nó đã biến mất!"
Điều
này thật hay, nếu nó biến mất theo cách riêng của nó. Nếu bạn đã không vứt bỏ
nó, nó sẽ không quay lại nữa. Nếu bạn đã vứt bỏ nó, nó nhất định quay lại bởi
vì vứt bỏ nó đơn giản nghĩa là kìm nén nó. Vứt bỏ không có nghĩa gì khác; nó
đơn giản nghĩa là bạn đã kìm nén nó một cách cưỡng bách. Sớm hay muộn, vào khoảnh
khắc yếu đuối nào đó, nó sẽ quay lại - và với việc trả thù. Nhưng nếu nó vứt bỏ
theo cách riêng của nó... bạn đã không làm gì để vứt bỏ nó, thậm chí không một
quyết định; bạn đã không hành động một cách có chủ ý về nó, đó là qua hiểu biết.
Thấy ra cái vô tích sự của nó, thấy rằng nó không đáp ứng gì, rằng nó là một loại
đồ chơi.... Bạn có thể vẫn còn tham gia trong nó, nó giữ cho bạn bận rộn. Nó giữ
bạn nhiều bận rộn tới mức bạn không có thời gian nhìn vào trong. Nhưng nó chưa
bao giờ đưa bạn đi đâu cả; bạn bao giờ cũng vẫn thế. Nó không đem tới tính toàn
vẹn, nó không đem tới vui vẻ. Bạn càng biết nó, nó càng trở thành hiện tượng
nhàm chán. Bạn càng biết nó, nó càng mang tới nhiều chán hơn.
Nếu
bạn thực sự muốn tận hưởng dục, là sư đi, là ni đi. Thế thì bạn sẽ tận hưởng
nó. Thế thì bạn sẽ không nghĩ về cái gì khác cả; hai mươi bốn giờ bạn sẽ tận hưởng
nó. Trong tu viện còn cái gì khác có đó để mà tận hưởng đâu? Tất nhiên nó sẽ chỉ
là tưởng tượng. Tưởng tượng là loại hành động khiêu dâm cá nhân. Không ai khác
có thể thấy được điều bạn đang thấy và bạn có thể cứ cười khúc khích và tận hưởng.
Bạn có thể cứ đọc Kinh Thánh, Koran, nên mọi người đều nghĩ bạn tôn giáo thế,
ngoan đạo thế - và không ai biết điều bạn thực sự làm bên trong.
Cái
gọi là người tôn giáo là rất khiêu dâm; họ nhất định như thế. Bạn càng nỗ lực
trốn thoát khỏi đàn ông và đàn bà, điều càng không được đáp ứng, càng bị kìm
nén, nhất định trở thành hoạt động trí não. Nó sẽ trở thành tưởng tượng trong
tâm trí bạn, nó sẽ bắt giữ tưởng tượng của bạn. Bạn sẽ mơ về nó, bạn sẽ nghĩ về
nó, bạn sẽ bị bao quanh bởi nó. Bạn có thể nhìn vào ghi chép về tất cả các sư
và ni trên thế giới và bạn sẽ ngạc nhiên: mọi sự đã xảy ra cho họ mà không xảy
ra cho bất kì ai.
Vào
thời Trung cổ các xơ đã báo cáo hàng nghìn lần rằng quỉ tới và làm tình với họ.
Bây giờ điều gì đã xảy ra cho quỉ? Quỉ không tới thêm nữa. Quỉ thường là đủ rồi.
Nhưng các xơ này, họ đã tưởng tượng. Và khi trong nhiều năm bạn bị bỏ đói, bạn
đã cố ý làm cái gì đó, tưởng tượng thu lấy sức mạnh. Một khoảnh khắc tới khi bạn
bắt đầu mơ bằng mắt mở; bạn có thể thấy quỉ đang đứng đó.
Và
các xơ đó đã có những tưởng tượng làm sao! Nếu bạn chỉ nhìn vào tài liệu ghi
chép bạn sẽ ngạc nhiên. Quỉ có chim chẽ ra! Nó không phải là cơ quan sinh dục
bình thường - mà chẽ ra, cho nên nó có thể đi vào cả hai lỗ! Bây giờ những xơ
này phải đã điên rồi, hoàn toàn điên. Việc mang thai giả đã xảy ra... chẳng có
gì ngoài không khí nóng trong bụng, nhưng bụng sẽ cứ trở nên ngày một to hơn.
Tưởng tượng lấy nhiều bám giữ của tâm trí, của thân thể tới mức xơ đó nghĩ mình
đã mang thai, cho nên cô ấy bắt đầu tích luỹ khí trong bụng. Với mọi người cô ấy
trông cứ dường như là đang có mang. Cô ấy bước đi như đàn bà có mang. Và tất
nhiên, cô ấy có thể làm được gì? Nếu quỉ tới, cô ấy phải nhường thôi. Ai biết
được? - quỉ có thể không tới nữa thì sao!
Và
đây không chỉ là về một tôn giáo; đây là trường hợp với mọi tôn giáo. Ở Ấn Độ,
kinh sách kể nhiều chuyện về các sư vĩ đại, các nhà khổ hạnh, làm việc hành xác
mình trong rừng. Và khi họ sắp tới bờ thành công, đàn bà đẹp giáng xuống từ cõi
trời để làm sao lãng anh chàng đáng thương này. Họ đã không làm điều gì sai với
bất kì ai và cho dù họ có làm điều sai, thì đây là loại trừng phạt gì vậy? Đây
là cái gì đó như phần thưởng chứ! Đàn bà đẹp tới từ cõi trời, các nữ thần, tiên
nữ, và họ nhảy múa trần truồng trước các sư, và họ làm mọi loại cử chỉ dâm dục
với các anh chàng đáng thương này. Chi tiết được nêu trong kinh sách, những mô
tả rất chi tiết, điều họ làm, cách họ làm, cách họ cám dỗ những anh chàng đáng
thương này. Và thế rồi anh ta sa ngã từ đỉnh cao vĩ đại của mình, trở thành người
hữu tử bình thường. Thế rồi họ không tới thêm nữa. Điều này không là gì ngoài
thủ dâm tâm trí, nhưng điều này nhất định xảy ra nếu bạn kìm nén. Đây là loại từ
bỏ sai. Nó đã chi phối toàn thể quang cảnh tôn giáo trong nhiều thời đại, nó đã
rất mang tính phá huỷ.
Loại
từ bỏ đúng là rất tự nhiên và tự phát. Nó không chống lại cái gì. Nó cho phép bạn
quan sát, nhìn, hiểu, có tính thiền nhiều hơn, để cho bạn có thể đem nhiều hiểu
biết vào hành động của mình, vào ý nghĩ của mình, vào tình cảm của mình. Từ hiểu
biết được tích luỹ đó, mọi sự bắt đầu xảy ra. Thế thì tâm trí không có đó để vẩn
vơ. Chẳng cái gì bị kìm nén cho nên chẳng cái gì quay lại. Thế thì mọi sự đơn
giản bắt đầu biến mất như giọt sương trong ánh mặt trời buổi sớm. Đó là khả
năng duy nhất để tìm ra ánh sáng.
Và
nhớ lấy, ngay cả những người đã từng dạy kìm nén, họ không gọi nó là kìm nén -
họ gọi nó là sức mạnh ý chí. Họ cho nó cái tên mĩ miều. Những điều xấu có thể
được che giấu rất dễ dàng đằng sau cái tên mĩ miều. Sức mạnh ý chí chẳng là gì
ngoài sức mạnh bản ngã. Khi bạn gọi nó là sức mạnh ý chí nó có vẻ hay; khi bạn
gọi nó là sức mạnh bản ngã bạn thấy cái xấu của nó.
Người
tôn giáo là người không còn hữu dụng cho bản ngã. Bản ngã nghĩa là bạo hành với
bản thân bạn. Nó có thể rất tinh vi, nó có thể không có vẻ như bạo hành. Bạn có
thể cứ làm điều bạo hành cho bản thân mình theo cách thức rất duyên dáng. Và
các tu sĩ đã từng ép bạn làm mọi điều, nhưng họ không nói rằng họ áp đặt. Họ đã
từng ước định trẻ con, thôi miên toàn thể xã hội, làm những điều nào đó. Và một
khi bạn bị thôi miên và bị ước định bạn nghĩ bạn đang làm nó theo cách riêng của
mình, từ tự do riêng của mình. Và điều đó là cực kì vô nghĩa. Người Hindu đã từng
bị ước định trong ba mươi năm là người Hindu không thể làm được gì bên ngoài tự
do riêng của mình trừ phi người đó vứt bỏ tất cả các cái vô nghĩa Hindu của
mình. Và cùng điều đó cũng là trường hợp với người Ki tô giáo và người Do Thái
và người Jaina và người Mô ha mét giáo và người Parsi và người Sikh.
Bước
đầu tiên là vứt bỏ cái đã từng bị áp đặt lên bạn. Nó có thể gần như là chưa từng
bị áp đặt bởi vì lâu quá rồi, bạn đã hoàn toàn quên lãng. Ba mươi năm, bốn mươi
năm, năm mươi năm ước định - ai nhớ khi nào nó bắt đầu, làm sao nó đã bắt đầu?
Bạn trẻ thế, ba hay bốn tuổi... và thế rồi giảng dạy bắt đầu và điều đó cứ ước
định bạn. Nó có thể ước định bạn vì bất kì cái gì, bất kì điều ngu xuẩn nào. Mọi
người khác sẽ thấy cái ngu xuẩn; chỉ bạn không thấy. Bạn sẽ nghĩ bạn đang làm
cái gì đó lớn lao, cái gì đó tôn giáo, cái gì đó thiêng liêng.
Stalin
trao chỉ dẫn cho Mao Trạch Đông về chủ nghĩa cộng sản thực hành. "Đồng
chí," ông ta nói, "làm sao đồng chí làm cho con mèo ăn hạt tiêu
cay?"
"Có
hai cách," Mao nói. "Tôi có thể nhồi hạt tiêu ớt vào mồm nó hay tôi
có thể làm con cá bằng hạt tiêu và đem con cá cho mèo."
"Sai
toét," Stalin đáp. "Nó không hợp với ý thức hệ của chúng ta. Phương
pháp thứ nhất là ép buộc, phương pháp thứ hai là lừa dối. Đồng chí biết chúng
ta chưa bao giờ ép buộc hay lừa dối mọi người."
"Thế
đồng chí làm bằng cách nào?" Mao hỏi.
"Tôi
sẽ xát hạt tiêu vào đuôi mèo. Khi điều này bắt đầu trở thành đau nhức, mèo sẽ
quay lại và liếm đuôi, do vậy ăn hạt tiêu một cách tự nguyện."
Điều
này đã được các tu sĩ làm trong nhiều thế kỉ. Họ xát hạt tiêu vào đuôi bạn, và
một ngày nào đó bạn bắt đầu liếm đuôi mình và bạn nghĩ bạn đang làm điều đó một
cách tự nguyện.
Bước
đầu tiên hướng tới tôn giáo thực là vứt bỏ Ki tô giáo, Hindu giáo, Mô ha mét
giáo, Phật giáo, Jaina giáo; vứt bỏ mọi ý thức hệ, tháo dỡ điều đã từng bị áp đặt
lên bạn - lại là đứa trẻ nhỏ. Thế thì bạn có thể bắt đầu thấy mọi thứ trong mầu
thực của chúng, thế thì bạn có thể bắt đầu thấy mọi thứ như chúng vậy. Trẻ con
nhận biết về thực tại còn nhiều hơn bạn nhận biết. Bạn càng trở nên già hơn, bạn
càng ít nhận biết hơn bởi vì bạn càng trở nên bị nặng gánh bởi kinh nghiệm, tri
thức, ý kiến, ý thức hệ.
Làm
điều ông phải làm
một
cách kiên quyết,
bằng
cả trái tim ông.
Lữ
khách ngần ngại
chỉ
tung bụi trên đường.
Phật
nói: Làm điều ông phải làm một cách kiên quyết.... Nhưng bằng kiên quyết ông ấy
không ngụ ý ý chí, như điều đó thường vẫn được ngụ ý trong các từ điển. Phật bị
bắt buộc phải dùng từ của bạn, nhưng ông ấy cho nghĩa mới với các từ của mình.
Với 'kiên quyết' ông ấy ngụ ý từ trái tim kiên quyết - không từ sức mạnh ý chí
mà từ trái tim kiên quyết. Và nhớ, ông ấy nhấn mạnh từ 'trái tim', không phải
tâm trí. Sức mạnh ý chí là một phần của tâm trí. Trái tim kiên quyết là trái
tim không có vấn đề, trái tim không còn bị phân chia, trái tim đã đi tới trạng
thái tĩnh lặng, im lặng. Đó là điều ông ấy gọi là trái tim kiên quyết.
Làm
điều ông phải làm một cách kiên quyết, bằng cả trái tim ông. Nhớ nhấn mạnh vào
trái tim. Tâm trí không bao giờ có thể là một; bởi chính bản chất của nó, nó là
nhiều. Và trái tim bao giờ cũng là một; bởi chính bản chất của nó, nó không thể
là nhiều được. Bạn không thể có nhiều trái tim được nhưng bạn có thể có nhiều
tâm trí. Tại sao? - bởi vì tâm trí sống trong nghi ngờ và trái tim sống trong
tình yêu. Tâm trí sống trong nghi ngờ còn trái tim sống trong tin cậy. Trái tim
biết cách tin cậy; chính tin cậy làm cho nó thành một. Khi bạn tin cậy, bỗng
nhiên bạn trở nên được định tâm.
Do
đó mới có ý nghĩa của tin cậy. Không thành vấn đề liệu tin cậy của bạn đặt vào
người đúng hay không. Không thành vấn đề liệu tin cậy của bạn sẽ bị khai thác
hay không. Không thành vấn đề liệu bạn có bị lừa bởi tin cậy của bạn hay không.
Có mọi khả năng bạn có thể bị lừa - thế gian này đầy những kẻ lừa dối. Điều
thành vấn đề là ở chỗ bạn tin cậy. Chính từ tin cậy của mình mà bạn trở nên được
tích hợp, điều còn quan trọng hơn nhiều so với bất kì cái gì khác. Vấn đề không
phải là trước hết bạn phải chắc chắn liệu một người có xứng đáng tin cậy hay
không. Làm sao bạn chắc chắn được? Và ai sẽ điều tra?
Đó
sẽ là tâm trí, và tâm trí chỉ biết cách nghi ngờ. Nó sẽ nghi ngờ. Nó sẽ nghi ngờ
ngay cả người như Christ hay Phật. Nó không thể đừng được.
Judas
đã nghi ngờ Jesus. Ông ấy không thể nào tin cậy được - ngay cả một người như
Jesus. Và Jesus đã tin cậy Judas; Jesus không thể nghi ngờ ngay cả người như
Judas. Thấy ra vấn đề đi. Ai là người được lợi? Nếu bạn nhìn hời hợt, thế thì
dường như Jesus đã thua bởi vì ông ấy đã bị đóng đinh. Nếu như ông ấy không tin
cậy Judas ông ấy đã cứu được mạng mình. Nhưng đấy chỉ là hiểu biết nông cạn. Thực
ra người thua là Judas, không phải Jesus. Người ta phải chết đi ngày này hay
ngày nọ, và người ta không thể chết một cái chết tốt hơn Jesus được. Chính cái
chết của ông ấy đã đem tới cách mạng trong tâm thức nhân loại.
Nếu
Phật cũng bị đóng đinh chúng ta chắc đã giầu có hơn nhiều. Chết trên giường sẽ
không có mấy giúp đỡ. Và Jesus đã làm ra khác biệt gì ở chỗ ông ấy chết? Nhưng
người như Jesus dùng ngay cả cái chết của mình làm tình huống, làm phương cách.
Ông ấy dùng nó và ông ấy dùng nó một cách rất tài tình. Socrates có thể đã
không dùng được cái chết của mình tài đến thế.
Có
thể bởi vì cái chết của Socrates mà Jesus đã học được bài học: cách dùng cái chết.
Có những người ngu không thể dùng được cuộc sống của họ một cách hữu dụng, một
cách tài tình, một cách duyên dáng, một cách đẹp đẽ, và có những người như Jesus
thậm chí có thể dùng cái chết của họ. Cái chết của họ cũng là phương cách.
Người
thua thực sự là Judas, và ông ấy hiểu ngay lập tức. Khi Jesus bị đóng đinh ông ấy
cảm thấy xấu hổ tới mức ông ấy tự tử ngày hôm sau. Bây giờ, tự tử là xấu; bị
đóng đinh có cái đẹp. Nó là hi sinh, hi sinh tối thượng, cúng dường tối thượng
người ta có thể làm cho Thượng đế. Và Jesus đã làm điều đó. Lời cuối cùng của
ông ấy là, "Vương quốc của ngài tới, ý của ngài được thực hiện." Ông ấy
buông xuôi toàn bộ: "Để cho vương quốc của ngài tới." Ông ấy đã xoá bản
thân mình toàn bộ, ông ấy vứt bỏ bản ngã của mình một cách toàn bộ: "Ý của
ngài sẽ được thực hiện." Ông ấy đã tin cậy Judas tuyệt đối. Ông ấy ôm ghì
ông này, ông ấy hôn ông này, ông ấy rửa chân cho ông này. Ông ấy biết rằng con
người này sắp phản bội ông ấy - và dẫu vậy, tin cậy của ông ấy vẫn toàn bộ.
Cho
nên nhớ lấy, tin cậy không có nghĩa là trước hết bạn phải điều tra, là trước hết
bạn phải làm mọi điều cho chắc chắn, được đảm bảo, và thế rồi bạn tin cậy. Điều
đó không phải là tin cậy, điều đó là nghi ngờ thực sự: bởi vì bạn không có khả
năng nào để nghi ngờ, do đó bạn tin cậy. Nếu khả năng khác nảy sinh về nghi ngờ,
bạn sẽ lại nghi ngờ. Tin cậy có mặc cho mọi nghi ngờ, mặc cho người này là gì
hay người này sẽ làm gì. Nó là từ trái tim, nó là từ tình yêu.
Khi
bạn tin cậy và yêu với trái tim kiên quyết, điều đó đem lại biến đổi. Thế thì bạn
không bao giờ ngần ngại. Ngần ngại đơn giản giữ bạn trong mảnh mẩu. Lấy bước nhảy
lượng tử, không ngần ngại hay mặc cho tất cả ngần ngạn, bạn trở nên được tích hợp.
Ngần ngại biến mất; bạn trở thành một. Và trở thành một là được giải thoát - được
giải thoát khỏi đám đông ngu xuẩn riêng của bạn mà đã từng tồn tại bên trong bạn,
được giải thoát khỏi ý nghĩa và ham muốn và kí ức của bạn, được giải thoát khỏi
bản thân tâm trí.
Lữ
khách ngần ngại
chỉ
tung bụi trên đường.
Không
làm gì còn tốt hơn làm điều sai trái.
Vì
bất kì cái gì ông làm,
ông
làm cho bản thân mình.
Không
làm gì còn tốt hơn... nhưng không làm gì là rất khó. Khi bạn nghĩ bạn đang
không làm gì... đó không phải là điều Phật nói. Không làm gì nghĩa là tĩnh lặng,
im lặng tới mức không có hành động nào bên trong hay bên ngoài, thậm chí không
ý nghĩ, không ham muốn.
Không
làm gì còn tốt hơn - người ta sẽ phải rất ý thức để không làm gì - làm điều sai
trái. Điều sai có thể được làm chỉ khi bạn vô ý thức. Định nghĩa về điều sai và
đúng theo Phật là định nghĩa rất khác; nó không có tính đạo đức. Ông ấy sẽ
không nói, "Cái này đúng và cái kia sai." Ông ấy sẽ không cho bạn
danh sách mười lời răn; ông ấy đã không cho lời răn nào. Thay vì thế ông ấy cho
bạn tiêu chí để cho bạn có thể phán xét trong cuộc đời của mình cái gì đúng,
cái gì sai. Ông ấy đã không quyết định điều đó. Điều đó không thể quyết định được
bởi vì cuộc sống cứ thay đổi hoài. Cái sai hôm này có thể đúng vào hôm khác;
cái sai khoảnh khắc này có thể đúng ngay khoảnh khắc khác. Cho nên bạn không thể
dán nhãn các hành động là đúng hay sai. Tình huống thay đổi, bạn thay đổi, mọi
người thay đổi. Cho nên không có khả năng nào cho bạn một danh sách nói,
"Làm những điều này và không làm những điều này."
Tất
cả các tôn giáo khác đều đã làm điều đó; Phật đã không làm điều đó. Ông ấy cho
bạn tiêu chí, ông ấy cho bạn sáng suốt. Ông ấy cho bạn hòn đá thử để cho bạn có
thể thấy cái gì là vàng và cái gì không phải là vàng. Tâm thức là hòn đá thử của
ông ấy. Nếu bạn có ý thức và không làm gì, điều đó còn tốt hơn nhiều việc làm
cái gì đó sai, bởi vì làm cái gì đó sai nghĩa là bạn vô ý thức. Làm bất kì cái
gì từ vô ý thức đều sai và làm bất kì cái gì, cho dùng là không cái gì, từ ý thức
đều đúng.
Khi
chai rượu Scotch vỡ toé trên sàn, ba con chuột nhắt nốc ừng ực. Bây giờ chúng
thực sự say bí tỉ.
"Tớ
sẽ đi tìm Muhammad Ali và đấm đầu anh ta ngã dúi dụi," con thứ nhất nói.
Con
thứ hai nói, "Cứ để tớ ở chỗ Idi Amin đó đi!
Tớ
sẽ cho anh điều xảy tới cho anh ta!"
"Các
chàng cứ làm điều các chàng muốn đi," con thứ ba nói. "Tớ á, tớ lên lầu
trên và làm tình với con mèo!"
Đó
là điều đang xảy ra cho mọi người, bởi vì mọi người đều sống trong trạng thái
vô ý thức. Bạn vô nhận biết về điều bạn đang làm, tại sao bạn làm, bạn là ai, tại
sao bạn hiện hữu, bạn đi đâu. Mọi thứ dường như trong bóng tối, và dầu vậy bạn
cứ làm mọi thứ.
Phật
nói tốt hơn là đừng làm gì cả. Yên tĩnh, im lặng, tĩnh lặng, trong trạng thái vô
làm, bởi vì điều đó là có thể chỉ nếu bạn mang vào ngày một nhiều tỉnh táo. Và
thế thì từ im lặng đó, từ nhận biết đó, từ cái không đó, từ việc không làm đó,
bất kì cái gì nảy sinh cũng đều tốt, đều đức hạnh.
Vì
bất kì cái gì ông làm, ông làm cho bản thân mình. Nếu bạn làm hại mọi người,
cái hại sẽ quay lại bạn. Nếu bạn yêu mọi người, tình yêu sẽ quay lại bạn. Thế
gian cứ vọng lại, phản xạ lại. Thế gian cho bạn chỉ cái bạn đã cho thế gian
ngay chỗ đầu tiên.
Như
thị trấn biên giới được canh gác cẩn mật,
Canh
gác bản thân ông bên trong và bên ngoài.
Đó
là điều ông ấy gọi là nhận biết: Cảnh giác.
Không để một khoảnh khắc trôi qua sợ rằng ông
rơi vào bóng tối.
Thậm
chí không một khoảnh khắc nào bị bỏ không canh chừng. Từng khoảnh khắc bạn đều
phải tỉnh táo, có ý thức. Bước đi, bước có ý thức. Thở, thở có ý thức. Ăn, ăn
có ý thức. Làm bất kì cái gì bạn đang làm, nhưng đem phẩm chất của tâm thức vào
trong việc của bạn. Ngồi, ngồi có ý thức. Để ý thức trở thành dòng chảy ngầm,
thường hằng, để cho bạn cứ làm những việc thông thường, nhưng có dòng chảy ngầm
của ý thức. Điều đó sẽ làm cho cuộc sống của bạn có tính tôn giáo - không đi tới
nhà thờ, không đi tới đền chùa, không cầu nguyện với Thượng đế tưởng tượng nào
đó, không lặp lại kinh sách.
Cảm
thấy xấu hổ chỉ ở nơi xấu hổ là nghĩa vụ.
Chỉ
sợ cái đáng sợ.
Thấy
cái ác chỉ trong cái ác.
Sợ
ông sai con đường đúng và rơi vào trong bóng tối.
Phật
nói: Cảm thấy xấu hổ chỉ ở nơi xấu hổ là nghĩa vụ. Đừng bận tâm điều người khác
nói. Chừng nào tâm thức bạn còn chưa nói điều đó là đáng xấu hổ thì chả cần lo
nghĩ. Cho dù cả thế giới nói rằng điều bạn đang làm là đáng xấu hổ, cứ để họ
nói điều đó; bạn không cần lo nghĩ về nó.
Đây
là thông điệp rất cách mạng. Bình thường bạn được bảo phải theo người khác,
theo tập thể, theo tôn giáo chính thức, theo bất kì cái gì đã được bảo từ hàng
thế kỉ. Phật nói điều người khác nói là không quan trọng. Điều thực sự thành vấn
đề là ở chỗ nếu tâm thức của bạn nói điều đó là đáng xấu hổ, thế thì vứt nó đi.
Thực ra, sẽ không cần vứt bỏ nó; nó sẽ rơi rụng theo cách riêng của nó. Cứ để
tâm thức bạn quyết định trong mọi vấn đề.
Chỉ
sợ cái đáng sợ... và đừng sợ địa ngục và đừng sợ trừng phạt sau cái chết. Đây
là chiến lược của các tu sĩ để khai thác mọi người, khai thác sợ hãi của họ. Mọi
người sợ bởi vì mọi người đã trở thành bản ngã và bản ngã bao giờ cũng sợ. Bản
ngã nghĩa là bạn nghĩ về bản thân mình tách rời khỏi cái toàn thể; thế thì sợ
hãi nảy sinh bởi vì bạn không tách rời khỏi cái toàn thể. Và khi bạn nghĩ bạn
tách rời, câu hỏi nảy sinh: Mình có thể vẫn còn tách rời được bao lâu? Cái chết
sẽ tới; thế thì cái gì sẽ xảy ra cho mình?
Bản
ngã làm cho bạn ích kỉ thế, định tâm vào cái ta tới mức bạn quên mất hoàn toàn
rằng bạn thuộc về vũ trụ vĩnh hằng. Không cần sợ rằng bạn chỉ là một con sóng
trong đại dương; bạn sẽ ở đây, dù như con sóng hay không như con sóng, nhưng bạn
sẽ ở đây. Không ai có thể tiêu diệt được bạn. Không cái gì đã bao giờ chết đi
và không cái gì đã bao giờ được sinh ra. Sóng nảy sinh và biến mất. Ngay cả trước
khi nó phát sinh nó đã có đó và khi nó đã biến mất nó vẫn có đó. Việc nảy sinh
và biến mất này chỉ là hiện tượng nhất thời: cái gì đó không biểu lộ trở thành
biểu lộ.
Nhưng
chúng ta rất sợ, và nỗi sợ nảy sinh bởi vì chúng ta đã tin, chúng ta đã được bảo
lặp đi lặp lại, bị thôi miên để tin vào bản ngã. Toàn thể cấu trúc xã hội này
mãi cho tới giờ, cho tới nay, đã từng làm sâu sắc thêm thái độ sống bản ngã. Thế
thì sợ hãi, thế thì tham lam, thế thì tham vọng, đều là tự nhiên. Và bản ngã được
dạy cho mọi đứa trẻ; bản ngã của nó được làm mạnh để cho bạn có thể làm cho nó
tham vọng. Từ tham vọng nảy sinh chính trị. Bản ngã được tạo ra để cho bạn có
thể làm cho nó sợ. Từ nỗi sợ nảy sinh tôn giáo - cái gọi là tôn giáo.
Bé
Sheldon có vẻ thích thú đi vườn bách thú cùng bố nó. Tuy nhiên khi họ nhìn vào
hổ, một thoáng băn khoăn hiện lên trên mặt cậu bé. Bố nó hỏi có chuyện gì vậy.
"Con
tự hỏi, bố ơi. Trong trường hợp con hổ phá chuồng ra và ăn thịt bố, con đi xe
bus nào về nhà?"
Ngay
cả trẻ nhỏ cũng bị đầu độc bởi ý tưởng về cái ta. Phật nói không có cái ta,
không bản ngã. Sâu bên dưới bạn không tách rời. Bạn không là hòn đảo; bạn là một
phần của lục địa vạn vật. Cho nên: Chỉ sợ cái đáng sợ. Thấy cái ác chỉ trong
cái là ác. Đừng tin vào người khác; chỉ tin vào mắt riêng của bạn, sáng suốt riêng
của bạn... Sợ ông sai con đường đúng và rơi vào trong bóng tối.
Tin
vào ý tưởng của người khác, bạn đang rơi vào trong bóng tối. Họ đang trong bóng
tối và đi theo họ bạn sẽ đi vào bóng tối. Nếu bạn muốn đạt tới ánh sáng bạn sẽ
phải đi một mình.
Thấy
cái có.... Phát biểu đơn giản thế, nhưng nó chứa chính điều tinh tuý của tôn
giáo.
Thấy
cái có.
Thấy
cái không có.
Đi
theo đường đúng.
Vươn
lên.
Thấy
cái đang có.... Cái đó là thiền. Gạt tâm trí bạn sang bên. Đối diện trực tiếp với
thực tại. Đương đầu với nó, mặt đối mặt. Gạt tâm trí sang bên. Nhìn vào thực tại
một cách im lặng, không ý nghĩ nào, để cho ý nghĩ không thể là cản trở, rào chắn,
việc bóp méo. Đó là điều thiền là gì: thấy cái có và thấy cái không có.
Quá
khứ không có, nhưng tâm trí vẫn còn trong quá khứ. Tương lai không có, nhưng
tâm trí vẫn còn trong tương lai. Và hiện tại có đó, nhưng tâm trí không có tiếp
xúc với hiện tại. Và bất kì khi nào bạn trong tiếp xúc với hiện tại, quá khứ
không còn đó, tương lai không còn đó. Khi bạn tuyệt đối ở đây và bây giờ, toàn
bộ, hoàn toàn ở đây và bây giờ, cuộc sống của bạn sẽ có phẩm chất mới của nó.
Đó là tính thiêng liêng thực - bởi vì bạn sẽ biết cái toàn thể và bạn sẽ trở
thành cái toàn thể.
Phật
gọi nó là con đường đúng, con đường của người đã thức tỉnh. Bạn cũng có thể
vươn lên những đỉnh cao này. Vươn lên đi! Thức dậy đi!
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment