Osho
- Thiền - Con đường nghịch lý (Tập 1)
Chương
1. Hãy thắp nến lên cùng với tinh cầu xa thẳm
Thiền
không phải là thần học. Thiền là một tôn giáo - và một tôn giáo không thần học
là một hiện tượng độc nhất vô nhị. Tất cả những tôn giáo khác đều hiện hữu
chung quanh ý niệm về Thượng Ðế. Họ có những hệ thống thần học. Thượng Ðế là
trung tâm, không phải là con người; con người không phải là cứu cánh, Thượng Ðế
mới là cứu cánh. Thiền thì không như thế. Với Thiền, con người là mục tiêu, con
người là cứu cánh cho chính mình. Thượng Ðế không bao giờ là một cái gì đó vượt
lên trên con người, Thượng Ðế là cái gì đó ẩn tàng ở chính trong con người. Con
người mang theo Thượng Ðế với mình như là một năng lực tiềm ẩn.
Thế
nên không hề có ý niệm Thượng Ðế trong Thiền. Và nếu bạn muốn, bạn cũng có thể
nói rằng ngay cả nó cũng không phải là một tôn giáo -bởi vì làm thế nào lại có
một tôn giáo mà không mang ý niệm về Thượng Ðế? Chắc chắn là những người được
nuôi dưỡng trong bầu khí Ki-tô, Hồi giáo, Ấn Ðộ giáo, hay Do Thái giáo sẽ không
quan niệm nổi Thiền thuộc loại tôn giáo nào. Nếu không Thượng Ðế thì phải là
phiếm thần. Nhưng không phải như thế. Thiền hữu thần ngay tự bản chất -nhưng
không có mặt Thượng Ðế.
Ðây
là điểm cơ bản đầu tiên cần phải được thông suốt. Hãy để cho ý niệm này thấm
sâu vào lòng bạn, và rồi mọi việc sẽ sáng tỏ. Thiền cho rằng Thượng Ðế không hiện
hữu ở ngoài tôn giáo mà là ở trong. Nó không ở một nơi nào đó mà ngay tại đây.
Thật ra, đối với Thiền, không hề có ý niệm "ở đó", tất cả đều hiện hữu
ngay tại đây. Và Thượng Ðế cũng không bao giờ hiện hữu ở lúc đó mà là bây giờ
-Thượng Ðế hiện hữu ngay lúc này, không phải ở một thời điểm nào khác. NGAY BÂY
GIỜ và TẠI ÐÂY. Không có một không gian hay thời gian nào khác. Khoảnh khắc này
là tất cả. Trong khoảnh khắc này tất cả hiện hữu đều tụ hội. Trong khoảnh khắc
này tất cả đều có mặt. Nếu bạn không thấy được điều này không có nghĩa là chúng
không có mặt -mà đơn giản là vì bạn không có thị kiến để nhìn thấy nó. Thượng Ðế
không phải là cái gì đó để bạn tìm kiếm. Bạn chỉ cần mở rộng đôi mắt của mình
ra. Thượng Ðế đã luôn sẵn ở đó.
Cầu
nguyện cũng chẳng dính dấp gì đến Thiền -bạn cầu nguyện với ai? Không hề có một
ông Thượng Ðế ngự sẵn ở một nơi nào đó ở trên Thiên Ðường và điều khiển cuộc sống
con người. Không hề có một ông kiểm soát viên như thế. Dòng sống chuyển động một
cách nhịp nhàng và hài hòa với chính nó. Không hề có ai đó ở bên ngoài để ra lệnh,
chỉ huy. Khi có một thứ quyền lực ở bên ngoài như thế, lập tức nó tạo ra tình
trạng nô lệ... những người Cơ Ðốc là những kẻ nô lệ. Những người Hồi giáo cũng
thế. Khi có một vị Thượng Ðế đứng ở đâu đó chỉ huy, dứt khoát là bạn trở thành
kẻ tôi tớ, hay tệ hại hơn, một tên nô lệ. Bạn mất hết tất cả phẩm cách.
Thiền
không như thế. Thiền cho bạn phẩm cách con người. Không hề có một quyền lực nào
ở bất cứ nơi đâu. Tự Do là hoàn toàn và tuyệt đối.
Nếu
Frederick Nietzsche có đôi chút hiểu biết về Thiền có lẽ ông ta đã trở thành trầm
mặc thay vì nổi điên. Ông ta đã rơi tỏm vào một sự thực vĩ đại: "Không hề
có Thượng Ðế. Thượng Ðế đã chết. Con người được hoàn toàn tự do." Ông đã
rơi tỏm vào chân giá trị của tự do, nhưng điều này quả là quá mức đối với ông.
Tâm của ông không chuyên chở nổi vì quá tải. Nó làm ông phát khùng, nổi điên.
Con
người có thể có niềm tin tôn giáo mà không cần đến Thượng Ðế. Thực ra, vấn đề
là làm sao con người tín ngưỡng được với một vị Thượng Ðế? Ðây là vấn nạn mà
Thiền nêu ra, một vấn nạn khá nhức nhối. Làm sao con người có thể có niềm tin
tôn giáo nếu có bóng dáng của Thượng Ðế? -Bởi vì Thượng Ðế sẽ hủy diệt tự do của
bạn, Thượng Ðế sẽ thống trị bạn. Không tin ư? Hãy nhìn vào Cựu Ước và nghe Thượng
Ðế phán: "Ta là một Thượng Ðế rất ganh tỵ và ta không thể khoan dung với bất
cứ một Thượng Ðế nào khác. Những ai không theo ta là kẻ thù ta. Ta cũng là một
Thượng Ðế rất bạo động và hung dữ và ta sẽ trừng phạt ngươi, sẽ quẳng ngươi vào
hỏa ngục đời đời." Làm sao con người có thể có được niềm tin tôn giáo với
một vị Thượng Ðế như thế? Làm sao bạn có tự do và làm sao bạn có thể thăng hoa
nhân cách? Không có tự do, dứt khoát không có nở hoa trí tuệ. Làm sao bạn có thể
trở thành một con người thực với nhân cách toàn vẹn khi có một ông Thượng Ðế
luôn ở bên cạnh giam hảm bạn, lên án bạn, buộc bạn phải làm điều này, điều kia
và điều khiển bạn?
Thiền
cho rằng với sự hiện hữu của Thượng Ðế, con người sẽ mãi mãi ở trong tình trạng
nô lệ; với Thượng Ðế, con người mãi mãi chỉ là những kẻ chuyên môn qùy lạy; với
Thượng Ðế con người luôn sống trong tình trạng sợ hãi. Làm sao đời sống của bạn
sẽ nở hoa trong tình trạng sợ hãi? Bạn sẽ co rúm lại, bạn sẽ khô héo đi, và bạn
sẽ chết dần chết mòn. Thiền cho rằng khi Thượng Ðế không còn có mặt, Tự Do sẽ
chan hòa, sẽ không có một quyền lực hiện hữu. Từ đây sẽ lớn dậy trách nhiệm.
Hãy nhìn kỹ đi... Nếu bạn bị kẻ khác thống trị, bạn sẽ không bao giờ có ý niệm
trách nhiệm. Quyền lực thống trị tạo ra tinh thần vô trách nhiệm; quyền lực thống
trị tạo ra chống đối, phản kháng, nổi loạn ở trong bạn -bạn muốn thủ tiêu Thượng
Ðế. Ðó là ý nghĩa câu nói của Nietzsche, Thượng Ðế đã chết -không phải Thượng Ðế
tự sát, mà là bị giết chết.
Thượng
Ðế phải bị giết chết. Bởi vì với sự hiện hữu của Thượng Ðế, con người không hề
được tự do -y phải bị loại trừ. Nhưng rồi sau đó thì Nietzsche kinh hoàng. Sống
không Thượng Ðế con người phải rất can đảm; sống không Thượng Ðế đòi hỏi sự
quán tưởng sâu xa; sống không Thượng Ðế con người cần tỉnh thức cao độ -tất cả
những điều này đã chưa hề được chuẩn bị. Ðó là lý do tại sao tôi nói rằng
Nietzsche bị rơi tỏm vào sự thực, ông ta không hề khám phá ra chân lý.
Ðối
với Thiền, đây là sự khám phá. Ðây là một chân lý đã được thiết định: Thượng Ðế
không hề hiện hữu. Con người chịu trách nhiệm với chính mình và với thế giới mà
y đang sống.
Nếu
có khổ đau, bạn là người gánh chịu trách nhiệm, đừng có đổ lỗi cho ai khác. Bạn
không thể chạy trốn trách nhiệm của mình. Nếu thế giới này xấu xa và đầy thống
khổ, tất cả chúng ta đều có trách nhiệm -mà không là ai khác. Nếu chúng ta
không trưởng thành, chúng ta không thể quẳng gánh nặng trách nhiệm lên vai kẻ
khác. Chúng ta phải nhận lấy trách nhiệm.
Khi
Thượng Ðế không còn hiện hữu, bạn được trả về nguyên vị. Bạn đã trưởng thành. Bạn
buộc phải trưởng thành. Bạn phải gánh lấy trách nhiệm cuộc đời mình; bạn phải nắm
lấy nó trong đôi tay mình. Bây giờ thì bạn đã trở thành chủ nhân ông của chính
mình. Bạn trở nên cảnh giác hơn, tỉnh táo hơn, vì bất cứ điều gì xảy ra bạn sẽ
là người hoàn toàn nhận chịu trách nhiệm. Bạn đã đón nhận một trọng trách. Khi
một người bắt đầu cảnh giác hơn, tỉnh táo hơn, họ bắt đầu có một cuộc sống hoàn
toàn khác biệt. Họ sống tỉnh thức. Họ trở thành chứng nhân.
Và
khi không còn gì ở ngoài tầm... Cái gì ở ngoài tầm cũng đang hiện hữu ở trong bạn,
không có gì là xa xôi ở phía bên kia. Ðối với niềm tin Cơ Ðốc, cái ở phía bên
kia đó luôn ở ngoài tầm; đối với Thiền nó ở bên trong. Thế nên bạn đâu có cần
phải hướng đôi mắt của mình lên bầu trời để cầu khấn -một việc làm nhảm nhí, vô
nghĩa; bạn đang cầu khấn với một khoảng không. Trong tâm tưởng, bầu trời kia
còn thấp hơn là chính bạn.
Có
một số người đứng khấn vái trước một cái cây. Không ít người Ấn Ðộ giáo khấn cầu
với một cái cây, có rất nhiều những người Ấn Ðộ giáo khác tìm đến sông Hằng và
khấn cầu với một giòng sông, có nhiều người lại cầu khấn với một tảng đá, có
người cầu khấn với bầu trời, thậm chí với một ý niệm, một tư tưởng. Kẻ bề trên
lại đi cầu khấn với kẻ dưới. Thật là một việc làm nhảm nhí vô nghĩa.
Thiền
nói rằng: Chỉ có một con đường duy nhất là thiền quán. Bạn không còn phải qùy
trước bất cứ ai. Hãy liệng bỏ thói quen nô lệ cũ. Bạn chỉ cần một chút lặng lẽ,
yên tĩnh và quán chiếu nội tâm để tìm ra cái cốt lõi. Ðây cũng chính là cái cốt
lõi của hiện hữu. Khi bạn đạt đến điểm rốt ráo tận cùng này ở trong bạn, thì
đây cũng chính là cái rốt ráo tận cùng của hiện hữu. Ðó là Thượng Ðế ở trong
Thiền. Nhưng người ta không gọi đó là Thượng Ðế. Quả là một điều may.
Như
vậy, điều cần phải ghi nhớ đầu tiên, rằng Thiền không phải là thần học, nó là một
tôn giáo -một tôn giáo hoàn toàn khác biệt với những tôn giáo khác. Hãy lấy một
thí dụ. Nó không giống với Hồi giáo. Hồi giáo cần ba điều cơ bản: một Thượng Ðế,
một cuốn thánh kinh và một nhà tiên tri. Thiền không cần Thượng Ðế, không cần
thánh kinh, không cần nhà tiên tri. Hiện hữu toàn vẹn chính là lời tiên tri của
Thượng Ðế. Hiện hữu toàn vẹn chính là thông điệp của Thượng Ðế.
Nên
nhớ rằng Thượng Ðế không hề cách ly với chính thông điệp của mình. Thông điệp tự
thân đã thiêng liêng. Nó không cần đến người trung gian -tất cả những điều nhảm
nhí vô nghĩa này không có trong Thiền. Thần học được dựng lên bằng một cuốn
sách. Nó cần đến một cuốn sách giả bộ như là thánh kinh, nó cần một cuốn sách tự
nhận là rất đặc biệt -không hề giống với bất cứ một cuốn sách nào khác. Vì đây
là lời Thượng Ðế, vì đây là Phúc Âm. Nó được mang tên là Bible. Nó được mang
tên là Koran...
Thiền
thì cho rằng tất cả mọi thứ đều nhiệm mầu, thiêng liêng, tại sao lại có cái này
đặc biệt hơn cái khác? Tất cả đều đặc biệt như nhau. Không có gì là không đặc
biệt thế nên không có gì cũng là đặc biệt. Mỗi cọng lá trên mỗi cành cây, mỗi
viên sỏi trên từng bờ biển đều đặc biệt, nhất thể, thánh hoá. Không phải chỉ có
Bible là thiêng liêng, cũng không phải chỉ có kinh Koran là thiêng liêng. Khi một
tình nhân viết thư cho người mình yêu dấu, lá thư đó cũng là một thiêng liêng.
Thiền
đem thiêng liêng mầu nhiệm đến với cuộc sống đời thường. Bokogu, một vị đại thiền
sư, luôn luôn nói: "Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm! Tôi đang khiêng
dầu, tôi đang gánh nước." "Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!"
Việc khiêng dầu và gánh nước từ giếng lên được ông tán thán "Thật là mầu
nhiệm!" Ðó chính là tinh thần của Thiền. Nó chuyển hoá cái bình thường
thành phi thường. Nó chuyển hoá cái ô trọc thành thiêng liêng. Nó xóa nhòa biên
giới giữa phàm và thánh. Ðó cũng là lý do tại sao tôi nói rằng Thiền không phải
là thần học. Thần học làm nhiễm độc tôn giáo. Trên bình diện tôn giáo, sẽ không
có gì khác nhau giữa một người Hồi giáo, Cơ Ðốc hay Ấn Ðộ giáo, nhưng trên bình
diện thần học là cả một sự cách biệt lớn lao. Họ được xây dựng trên những nền tảng
thần học khác nhau. Và rồi con người đánh nhau cũng chỉ vì thần học.
Tôn
giáo chỉ có một mà thần học thì đủ thứ. Thần học bao hàm triết học về Thượng Ðế,
luận lý về Thượng Ðế... Tất cả đều nhảm nhí vô nghĩa bởi vì không có cách gì chứng
minh có Thượng Ðế -cũng như không có Thượng Ðế. Tranh cãi những điều chẳng dính
dấp vào đâu cả. Vâng, người ta có thể nói có những điều chỉ có thể thực chứng
mà không thể chứng minh -và đó là điều mà thần học tiếp tục làm những công việc
ngu xuẩn -chẻ sợi tóc ra làm tư. Khi bạn là người khách quan đứng ở xa nhìn
vào, bạn sẽ không khỏi bật cười. Sao mà lại có chuyện lố bịch như thế.
Trong
thời đại Trung Cổ, các nhà thần học Cơ Ðốc đã vô cùng quan tâm, vô cùng lo lắng,
vô cùng hoang mang với những vấn nạn mà xem ra sẽ chẳng bao giờ là vấn nạn của
bạn cả. Thí dụ như, có bao nhiêu thiên thần có thể cùng đứng được trên một mũi
kim? Ðã có không biết bao nhiêu sách vở luận bàn về đề tài này -đã nổ ra một cuộc
tranh luận khá lớn lao.
Mulla
Nasrudin, chủ nhân của hai con chim vẹt xanh, một hôm mang chim đến cho một vị
bác sĩ thú y nhờ chăm sóc: "Tôi lo quá, những con chim của tôi không đi cầu
cả tuần nay rồi."
Nhà
thú y sĩ nhìn vào lồng và hỏi, "Ông luôn luôn lót lồng chim với những tấm
bản đồ thế giới?"
"Không,
» Mulla Nasrudin trả lời, "Tôi chỉ mới thay nó vào hôm thứ Bảy vừa rồi vì
hết cả giấy báo."
"Ðấy
là lý do!" nhà thú y sĩ trả lời. "Vẹt xanh là giống vật rất nhạy cảm.
Nó nín đi cầu vì sợ rằng trái đất này sẽ lấy hết phân mà nó có thể bài tiết nổi!"
Thần
học là thứ cặn bả phế thải. Tôn giáo đã bị đầu độc bởi thần học. Một người có
tín ngưỡng đích thực không hề biết đến thần học. Vâng, y sẽ thực chứng, sẽ đạt
đến chân lý, đến điểm linh quang mà không cần đến thần học. Nhưng thần học lại
giúp ích cho các nhà học giả, bác học, những người được gọi là trí thức. Nó còn
cần thiết hơn nữa cho giới tu sĩ, các ông giáo hoàng, các Shankaracharyas. Nó
mang lại mối lợi lớn cho họ. Toàn bộ cái dịch vụ làm ăn của họ đều nương tựa
vào đây.
Thiền
thì khác, nó cắt đứt tất cả mọi gốc rễ. Nó hủy diệt cái dịch vụ cơ bản nhất của
giới tu sĩ. Và đây cũng là cái dịch vụ tồi tệ nhất trên thế giới vì được đặt
trên sự dối gạt lớn lao. Nhà tu sĩ không hề biết gì cả nhưng lại tiếp tục đi
rao giảng; nhà thần học không hề biết gì cả nhưng lại tiếp tục đi nói chuyện
huyên thuyên về học thuyết. Ðương sự cũng dốt nát như bao nhiêu người khác -có
khi còn dốt nát hơn nữa là khác, nhưng là một sự dốt nát rất có lớp lang bài bản,
được tô vẽ bởi nhiều thứ -tô vẽ bởi kinh sách, tô vẽ bởi học thuyết; tô vẽ một
cách xảo quyệt và thông minh khiến người ta khó mà tìm ra được kẻ hở. Thần học
như thế chẳng có ích lợi gì cho nhân loại, nhưng chắc chắn là nó giúp ích cho một
số người: những tu sĩ. Từ đó nhân danh những học thuyết xuẩn động, họ khai thác
con người.
Hai
nhà phân tâm học gặp gỡ nhau tại một nhà hàng đông khách và bắt đầu nói chuyện.
Một người khoe là mình đang chữa trị một ca phân sinh nhân cách khá thích thú.
Người kia chặn họng: "Phân sinh nhân cách có gì mà đặc biệt? Những trường
hợp này xảy ra thông thường quá mà!"
"Thích
thú ở chỗ là tớ được cả hai người trả tiền!"
Những
nhà thần học cũng sống như thế. Thần học là chính trị. Nó chia rẽ con người.
Chia để trị là thủ thuật muôn đời.
Thiền
không thế, nó nhìn nhân loại không bằng ánh mắt phân chia -nó không chia rẽ. Nó
có một cái nhìn toàn diện. Ðó là lý do tại sao tôi hay nói rằng Thiền là tôn
giáo của tương lai. Nhân loại ngày càng trưởng thành dần trong tỉnh thức lúc đó
thần học sẽ bị loại trừ và tôn giáo sẽ được chấp nhận một cách thuần khiết như
là một thực chứng tâm linh.
Nhật
Bản có một từ ngữ đặc biệt để diễn tả điều này. Họ gọi đó là konomama hay
sonomama -"Cái Ðây là" của hiện hữu. Một chữ Ðây viết hoa- không là
cái gì khác. Chính cái như thị này của đời sống mới là Thượng Ðế, không là cái
gì khác. Chính cái như thị trong khoảnh khắc này đây mới thánh hóa, thiêng
liêng: cái như thị của một cành cây, cái như thị của một hòn đá, cái như thị của
một người nam, cái như thị của một người nữ, cái như thị của một đứa trẻ. Và
cái như thị đó không hề được định nghĩa, không thể được định nghĩa. Bạn có thể
tan biến vào đó, thể nhập vào đó, nếm được hương vị của nó. "Thật là tuyệt
vời! Thật là mầu nhiệm!"
Vâng,
bạn không thể định nghĩa được nó, không thể phân tích nó một cách luận lý,
không thể đóng khung nó vào một ý niệm dứt khoát, rõ ràng. Nó sẽ bị giết chết bởi
ý niệm. Nó sẽ không còn là như thị nữa mà là một sản phẩm cấu trúc của tâm. Cái
danh từ "Thượng Ðế" không phải là Thượng Ðế, cái ý niệm về Thượng Ðế
không phải là Thượng Ðế.Cũng vậy ý niệm về "tình yêu" không phải là
tình yêu, ý niệm về "thực phẩm" không phải là thực phẩm. Thiền đã nói
ra điều này một cách rất đơn giản: Hãy nên nhớ rằng thực đơn không phải là món
ăn. Bạn đừng có xơi luôn thực đơn nhé. Nhưng đó là điều mà người ta đã làm hàng
bao thế kỷ qua: xơi luôn cả thực đơn!
Thế
thì bạn đừng ngạc nhiên khi thấy con người ốm đói, con người không thể thăng
hoa, con người không sống động, con người không sống một cách trọn vẹn; dĩ
nhiên thôi, ai cũng có thể thấy trước điều này. Họ không hề sống bằng thực phẩm
thực. Họ nói quá nhiều về thực phẩm đến độ quên mất đi thực phẩm là cái gì. Thượng
Ðế phải được ăn, Thượng Ðế phải được nếm, Thượng Ðế phải được sống với -không
phải là để tranh luận về.
Cái
tiến trình "nói về" này chính là thần học. Cái "nói về" này
dẫn ta đi lòng vòng, chẳng bao giờ đưa ta đến cái đích thực. Ðây là cái vòng luẩn
quẩn. Luận lý chỉ là cái vòng lẩn quẩn. Và Thiền chính là những nỗ lực nhằm đưa
ta thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn đó.
Tại
sao luận lý là cái vòng lẩn quẩn? Bởi vì chính trong tiền đề đã hàm chứa kết luận.
Kết luận chẳng có gì là mới mẻ, nó đã được chứa sẵn trong tiền đề. Và rồi trong
kết luận, tiền đề được chứa sẵn. Cũng chẳng khác gì một cái hạt: cái cây được
chứa sẵn trong cái hạt, rồi cái cây sản sinh ra vô số hạt, rồi trong những hạt
này sẽ lại ươm mầm những cái cây. Cái vòng lẩn quẩn là như thế. Hạt, rồi cây, rồi
hạt. Tiếp tục như thế mãi. Cũng giống như trứng, rồi gà, rồi trứng, rồi gà, rồi
trứng... tiếp tục không ngừng. Một cái vòng bất tận.
Thiền
là tất cả những gì nhằm bẻ gãy cái vòng lẩn quẩn này -tâm của bạn sẽ không còn
tiếp tục lang thang qua những ngôn từ và ý niệm mà trực nhập ngay vào hiện hữu
của tự thân.
Nanin,
một vị đại thiền sư đang đốn củi ở trong rừng. Một vị giáo sư đại học tìm đến
thăm. Nghĩ rằng gã tiều phu này chắc biết Nanin đang sống ở đâu trong vùng núi
non này, ông ta liền hỏi thăm. Gã tiều phu nâng cái búa lên và nói: "Ta phải
trả giá cái này đắt lắm đấy."
Dĩ
nhiên vị giáo sư đâu có hỏi về cái búa. Ông muốn tìm hỏi xem Nanin đang ở đâu;
ông muốn biết Nanin có đang ở trong chùa hay không để ông đến gặp. Gã tiều phu
lại nâng cái búa lên và nói: "Nhìn đây này. Ta phải trả giá cái búa này đắt
lắm đấy." Vị giáo sư hơi hoang mang và trước khi kịp tháo lui thì người tiều
phu đã tiến sát đến gần hơn, đưa lưỡi búa hạ xuống ngay sát trên đỉnh đầu ông.
Vị giáo sư hoảng hồn đứng run lên thì người tiều phu nói tiếp: "Cái búa
này bén lắm đó." Ðến đây thì vị giáo sư bỏ chạy.
Sau
đó, khi tìm được đến chùa, ông mới biết được rằng gã tiều phu kia không ai khác
hơn là Nanin. Ông mới hỏi, "Bộ ông ấy điên hả?"
"Không,"
người đệ tử trả lời. "Khi ngài hỏi rằng Nanin có ở trong đó không thì ông
ta trả lời rằng có bằng cách chỉ cho ngài thấy cái "ở trong" và cái
"như thị" của ông ấy. Trong khoảnh khắc đó, Nanin là gã tiều phu;
trong khoảnh khắc đó, cái búa ở trong tay ông ta, ông ta hoàn toàn thể nhập vào
sự sắc bén của cái búa. Ông ta đã trả lời 'Tôi đang ở trong' bằng cái hiện sinh
lập tức và toàn vẹn của mình ngay chính trong khoảnh khắc hiện tại đó. Ngài đã
không lãnh hội được ý nghĩa này. Ông ta đã chỉ cho ngài thấy cái phẩm chất của
Thiền."
Thiền
là vô niệm và vô trí -không hề là sản phẩm của ý niệm, và trí tuệ. Ðây là tôn
giáo duy nhất trên thế giới rao giảng về trực nhận tức thời; trực nhận tức thời
trong từng khoảnh khắc, trực nhận tức thời trong từng sát na; hiện hữu ngay
trong chính hiện tại, không quá khứ, không tương lai.
Thế
nhưng con người bị bao quanh bởi thần học. Những lý thuyết thần học này giữ họ
mãi trong tình trạng ấu trỉ, không cho phép họ trưởng thành. Bạn không thể nào
trưởng thành được khi bị giam hảm ở trong hàng rào thần học, khoác lên người
chiếc áo Ky tô hữu, hay Ấn Ðộ giáo, hay Hồi giáo, và ngay cả Phật tử. Bạn không
thể trưởng thành. Bạn không đủ chỗ để lớn dậy. Bạn bị giam hảm quá kỹ, trong một
không gian nhỏ hẹp; bạn đang bị bỏ tù.
Một
vị mục sư trẻ thụt két một trăm ngàn đô-la của qũy nhà thờ và đem nướng hết vào
thị trường chứng khoán. Rồi bà vợ trẻ đẹp của ông ta cũng chán ngán bỏ đi. Quá
đổi tuyệt vọng, ông ta tìm đến một dòng sông và sắp sửa buông mình ra khỏi chiếc
cầu để tự tử thì bị chặn lại bởi một người đàn bà trong chiếc áo khoác dài đen,
khuôn mặt nhăn nheo, mái tóc quăn queo màu muối tiêu.
"Ðừng
nhảy", người đàn bà với giọng the thé, "Ta là mụ phù thủy đây, và ta
sẽ ban cho ngươi ba điều ước nếu ngươi làm cho ta một việc!»
"Không
ai có thể giúp tôi được nữa," ông ta trả lời.
"Này,
đừng có ngớ ngẩn như thế," bà ta đọc thần chú, "Alakazam! Tiền bị mất
sẽ trở lại hộp an toàn của nhà thờ! Alakazam! Vợ ngươi hiện đang ở nhà chờ
ngươi với tình yêu say đắm nhất. Alakazam! hai trăm ngàn đô la hiện ở trong nhà
băng của ngươi!"
"Thật
là tuyệt...tuyệt...tuyệt vời," vị mục sư lắp bắp, "bây giờ thì tôi phải
làm điều gì cho bà đây?"
"Ngủ
và làm tình với ta trong đêm nay."
Cái
ý tưởng phải ăn nằm với một mụ già không răng xấu như ma đã bị đẩy lùi vì quả
tình nó rất đáng giá, thế rồi họ ngủ lại qua đêm với nhau tại một khách sạn cạnh
đó. Buổi sáng, sau khi màn trao đổi ghê tởm kết thúc, vị mục sư đang sửa soạn bận
áo quần để về nhà thì có tiếng nói vọng lên từ trên giường: "Này con trai
cưng, bao nhiêu tuổi rồi vậy?"
"Bốn
mươi hai! Có chuyện gì không?"
"Có
phải ngươi chưa đủ già để tin rằng chuyện phù thủy là có thực?"
Ðó
là những gì đang xảy ra. Nếu bạn tin tưởng vào Thượng Ðế bạn cũng có thể tin tưởng
vào chuyện phù thủy, cũng cùng một loại thôi. Nếu bạn tin tưởng vào một chuyện
nhảm nhí vô nghĩa, bạn có thể tin tưởng vào tất cả những chuyện nhảm nhí vô
nghĩa khác. Thế là bạn không bao giờ trưởng thành. Bạn vẫn luôn là trẻ con dễ bị
dối gạt.
Thiền
có nghĩa là chín chắn. Thiền có nghĩa là loại bỏ tất cả những mụ phù thủy hoang
đường để nhìn thẳng vào vấn đề. Ðừng mang những giấc mộng của bạn vào thực tại.
Hãy chùi sạch đôi mắt mơ ngủ của mình để nhìn rõ thực tại. Cái như thị đó được
gọi là konomama hay sonomama. Kono hay sonomama có nghĩa là cái như thị của một
sự vật -cái thực tướng trong cái như thị của nó. Tất cả mọi ý hệ đều ngăn chặn
tầm nhìn của bạn. Những ý hệ là những chiếc khăn bịt mắt cản trở thị kiến của bạn.
Một người Ky tô hữu không thể thấy được cái gì cả, người Ấn Ðộ giáo cũng thế, kể
cả người Hồi giáo. Bởi vì bạn bị chiếm ngự bởi những ý tưởng của riêng mình nên
bạn chỉ trông thấy những gì muốn trông thấy, cái thực tại không hề xuất hiện, bạn
đang phóng chiếu, bạn đang diễn dịch, bạn đang tạo ra một thực tại riêng tư của
chính bạn vốn không hề hiện hữu ở đó. Ðiều này tạo ra một sự phá sản tâm linh.
Trong số một trăm người được gọi là ông thánh của bạn, có đến chín mươi chín
người là kẻ mất trí.
Thiền
mang lại sự lành mạnh tinh thần cho thế giới, một sự lành mạnh hoàn toàn. Nó giải
trừ tất cả mọi giáo điều, ý hệ, khi nói: "Hãy trở nên trống rỗng. Hãy nhìn
bằng đôi mắt vô niệm. Nhìn thẳng vào bản tánh của vạn pháp, mà không khởi lên một
ý niệm, không thiên kiến, không giả định." Không nên để bị nhồi nhét trước,
đó là một trong những điều cơ bản nhất. Thế nên thần học phải bị loại trừ, nếu
không bạn sẽ vẫn mãi bị nhồi nhét bởi những thiên kiến.
Bạn
đã thấy được trọng tâm của vấn đề chưa? Khi bạn đã mang sẵn một ý tưởng ở trong
đầu, thường một điều chắc chắn là bạn sẽ tìm thấy nó ở trong thực tế -bởi vì
tâm rất là sáng tạo. Dĩ nhiên cái sáng tạo này chỉ thuần là tưởng tượng. Nếu bạn
đang tìm kiếm Christ, có thể bạn sẽ thấy những ảo ảnh về Jesus Christ, và tất cả
đều là hư huyễn. Nếu bạn đang tìm kiếm Krisna, bạn có thể bắt đầu thấy Krisna,
và tất cả cũng chỉ là hư huyễn.
Thiền
rất mực thực tế. Nó cho rằng những gì là ảo tưởng cần phải được loại trừ. Ảo tưởng
đến từ quá khứ. Từ thuở ấu thơ bạn đã bị điều kiện hoá bởi một số ý tưởng. Từ
thuở ấu thơ bạn đã được đưa đến nhà thờ, đưa đến chùa, đưa đến thánh đường Hồi
giáo; bạn đã được dẫn đến các nhà học giả, các nhà thông thái, các nhà tu sĩ; bạn
đã bị buộc phải lắng nghe những bài thuyết pháp -đủ mọi thứ chuyện được nhét
vào tâm trí của bạn. Với gánh nặng chồng chất như thế, bạn chớ vội đi tìm chân
lý -vì nếu không, bạn sẽ không bao giờ biết rõ được chân lý là cái gì.
Phải
cởi bỏ cái gánh nặng đó. Cởi bỏ cái gánh nặng đó tức là Thiền.
Một
vị mục sư đang rao giảng Phúc Âm trong một bệnh viện tâm thần cho những người mất
trí. Bài giảng của ông ta nửa chừng đột nhiên bị cắt đứt bởi tiếng ré lớn:
"Này, nghe tôi nói đây này, chúng ta có nên lắng nghe những chuyện vớ vẩn
này không?"
Vị
mục sư hơi ngạc nhiên và bối rối hỏi người canh giữ: "Tôi có nên ngưng nói
không?"
Người
gác trả lời: "Không, không, hãy cứ tiếp tục. Chuyện này tôi bảo đảm là sẽ
không xảy ra nữa đâu, ít nhất là bảy năm nữa. Cái tên điên này cứ bảy năm mới
được tỉnh táo một lần đó mà."
Quả
thật là rất khó khăn để tỉnh táo trong một thế giới đang điên loạn.
Thiền
dễ nhưng mà khó. Thiền như ta được biết là những gì đơn giản -rất mực đơn giản,
đơn giản nhất, bởi vì đây là sự tự phát- nhưng lại rất khó khăn, bởi vì tâm của
ta đã bị điều kiện hóa, bởi vì cái thế giới khùng điên mà chúng ta đang sống,
chúng ta được nuôi dưỡng lớn khôn, nó làm cho chúng ta hư hỏng.
Vấn
đề thứ hai: Thiền không phải triết lý, nó là thi ca. Nó không hề đề xuất mà một
cách đơn giản, nó chỉ thuyết phục. Nó không hề tranh cãi mà chỉ hát lên khúc nhạc
của chính mình. Tự bản chất, Thiền là thẩm mỹ học, không phải là một lối tu khổ
hạnh. Nó không tin vào sự kiêu mạn, gây hấn, hướng về thực tại, nó tin vào sự
yêu thương. Nó tin một điều rằng, nếu ta thể nhập với thực tại, thực tại sẽ mở
ra những bí mật của nó cho chúng ta. Nó tạo ra cái ý thức tham dự. Thiền là
thơ, thi ca tinh ròng -cũng giống như tôn giáo tinh ròng.
Thiền
đặc biệt quan tâm đến Mỹ -không bận tâm nhiều đến Chân, nhưng nghiêng nhiều hơn
về Mỹ. Tại sao như thế? Vì Chân là một biểu tượng khô khan. Tự thân nó đã khô
khan mà những ai quá quan tâm đến nó cũng trở nên khô khan luôn. Họ bắt đầu chết
dần chết mòn. Trái tim của họ thu nhỏ lại, những dòng suối ngọt ngào không chảy
nữa. Họ trở nên khô héo không còn biết thương yêu, họ trở thành bạo động, và bắt
đầu chạy đuổi theo những ý tưởng lung tung ở trong đầu.
Thiền
không phải là chuyện của cái đầu mà là của cái toàn thể. Không có nghĩa là cái
đầu bị chối bỏ, nhưng nó được đặt vào đúng vị trí. Nó sẽ không còn đóng vai trò
chủ đạo mà chỉ làm tròn chức năng của mình trong cái toàn thể. Trong cái toàn
thể này thì ruột cũng quan trọng như đầu, cái chân, trái tim cũng quan trọng
như thế. Ðó là cả một cơ cấu vận hành, không có cái nào chế ngự cái nào.
Triết
học thì thiên về cái đầu; thi ca nghiêng về cái toàn thể hơn. Thi ca là giòng
chảy sinh động. Nó quan tâm đến Mỹ -đến cái đẹp. Mà cái đẹp thì không bao giờ bạo
động, nó đồng nghĩa với yêu thương, với nhân ái, từ bi.
Thiền
giả nhìn sâu vào thực tại để tìm ra cái đẹp... trong tiếng chim hót, trong cỏ
cây, trong điệu múa của loài công, trong đám mây, trong làn chớp, trong biển cả,
trong cát mịn... Ðó là một nỗ lực đi tìm cái đẹp.
Một
cách hết sức tự nhiên, đi tìm cái đẹp có một tác động hoàn toàn khác biệt. Khi
bạn đi tìm kiếm chân lý, bạn rất là dương tính; khi bạn đi tìm kiếm cái đẹp bạn
âm tính hơn. Khi đi tìm kiếm chân lý, bạn thiên về luận lý hơn. Khi đi tìm kiếm
cái đẹp, bạn nghiêng nhiều hơn về trực giác. Thiền là âm. Thi ca là âm. Triết
lý rất là dương, rất năng động.
Thiền
là thụ động- đó là lý do tại sao đối với Thiền, ngồi trở nên một trong những
phương cách hành thiền quan trọng nhất. Chỉ việc ngồi yên -ta gọi là tọa thiền.
Thiền gia cho rằng nếu bạn ngồi yên không vọng động, rồi mọi chuyện sẽ xảy ra.
Mọi chuyện sẽ tự nó xảy ra; bạn không cần phải theo đuổi, bạn không cần phải
tìm kiếm. Chúng sẽ đến. Bạn chỉ việc ngồi yên, đơn giản thế thôi. Và nếu bạn có
thể ngồi trong tĩnh lặng, rơi vào một trạng thái hoàn toàn yên nghỉ, nếu bạn có
thể tự buông xả, nếu bạn có thể giải trừ mọi áp lực để trở thành một cái hồ
năng lực đầy tĩnh lặng, không đến không đi, không tìm kiếm. Suối nguồn Thượng Ðế
sẽ bắt đầu tuôn chảy vào bạn. Năng lực Thượng Ðế sẽ đổ dồn đến bạn từ khắp mọi
hướng. Hãy ngồi yên lặng, vô tác, như mùa xuân đến và cây cỏ tự nở hoa.
Và
hãy nhớ kỹ một điều, khi Thiền nói rằng 'chỉ ngồi yên' có nghĩa là bạn chỉ ngồi
yên -không làm gì hết, ngay cả đọc thần chú. Nếu bạn niệm thần chú, bạn lại rơi
vào những chuyện vớ vẩn nữa rồi, tâm bạn lại bắt đầu lung tung. Nếu bạn ở trong
tình trạng vô tác... Những dòng tư tưởng sẽ đến, những dòng tư tưởng sẽ trôi đi
-nếu chúng đến, tốt; nếu chúng không đến, cũng tốt thôi. Bạn sẽ không còn quan
tâm về những gì đang xảy đến, bạn chỉ ngồi đó, lặng yên. Nếu bạn cảm thấy mệt,
cứ việc nằm dài ra. Nếu bạn cảm thấy đôi chân căng thẳng, cứ việc duỗi nó ra.
Hoàn toàn ở trong trạng thái tự nhiên. Không cả nhìn ngắm. Không cố gắng về bất
cứ chuyện gì. Ðó là cái mà người ta gọi là tọa thiền. Hãy ngồi yên và rồi nó sẽ
xảy đến.
Thiền
là một sự tiếp cận đầy nữ tính, và tôn giáo trên căn bản, cũng thế. Khoa học,
triết lý là dương -tôn giáo là âm. Tất cả những gì tươi đẹp trên thế gian này
-thi ca, hội họa, khiêu vũ- đều xuất phát từ tâm hồn nữ tính.
Có
thể là nó đã không xuất phát từ phụ nữ vì phụ nữ chưa được hoàn toàn giải phóng
để sáng tạo. Nhưng thời điểm của họ đang đến. Khi Thiền ngày càng trở nên khởi sắc
và có ý nghĩa hơn trong thế giới này, tâm hồn nữ tính sẽ bột phát, đó sẽ là một
bùng nổ lớn.
Mọi
sự chuyển động trong mối tương quan cùng nhau. Thời đại quá khứ là thời đại trọng
nam -thế nên ta có Hồi giáo, Cơ Ðốc, Ấn Ðộ giáo. Tương lai sẽ mang màu sắc nữ
tính hơn, dịu dàng hơn, thụ động hơn, thoải mái hơn, thẩm mỹ hơn, thi ca hơn.
Và trong cái thế giới thơ mộng đó Thiền sẽ trở nên một sự việc có ý nghĩa nhất
trong thế giới này.
Triết
học là luận lý; thi ca là tình yêu. Triết học là mổ xẻ, phân tích; thi ca là tổng
hợp, nối kết sự việc cùng nhau. Triết học cơ bản là hủy diệt; thi ca là đời sống
hiến dâng. Phân tích là phưong pháp của triết học -và cũng là phương pháp của
khoa học, của những nhà phân tâm học. Không sớm thì muộn khoa phân tâm học phải
được thay thế bằng tổng tâm học. Assagioli (1) đã có lý hơn Sigmund Freud (2) bởi
vì tổng hợp gần với chân lý hơn. Thế giới này là một. Ðó là một thể thống nhất
-nhất thể. Không có gì chia cách. Tất cả đều cùng chung một nhịp đập của trái
tim. Chúng ta đều nối kết, liên hệ cùng nhau. Toàn bộ đời sống là một mạng lưới.
Ngay cả một cọng lá nhỏ chung quang giảng đường Trang Tử này cũng được kết nối
với một vì sao xa nhất. Nếu chuyện gì xảy ra cho cọng lá này thì cũng sẽ xảy đến
với vì sao xa thẳm đó. Mọi việc đều liên hệ cùng nhau, trong mối tương quan với
nhau. Tất cả hiện hữu đều chung một mái nhà.
Thiền
nói rằng, đừng mổ xẻ, đừng phân tích.
Một
nông dân ở Vermont chứng kiến một tai nạn xe lửa, người ta đã hỏi đầu đuôi câu
chuyện và ông đã kể về tai nạn xảy ra như sau: "Ồ, tôi và Jake đang đi dọc
theo đường rầy xe lửa, rồi thì tôi nghe một tiếng còi, tôi nhảy qua một bên đường
và chiếc xe lửa chạy ngang qua, rồi tôi bước lên trên đường rầy trở lại và
không thấy Jake đâu cả. Nhưng mới đi một chút thì tôi thấy chiếc nón của Jake,
tôi đi tiếp và thấy một cái chân của Jake, rồi một cánh tay của Jake, rồi thì một
cái chân khác, rồi một nữa cái đầu của Jake, và tôi nói với mình, 'Trời đất! Chắc
là phải có chuyện gì xảy đến cho Jake rồi!'"
Ðó
là những gì hiện đang xảy ra cho nhân loại. Ðã và đang xảy ra. Con người bị cắt
ra thành từng mảnh. Chúng ta có vô số những nhà chuyên khoa: có những ông
chuyên trị về mắt, có những ông chuyên trị về tim, có những ông chuyên trị về đầu,
và có những ông chuyên lo về những cái khác. Con người đã bị chia cắt.
Thiền
nói rằng con người là một tổng thể, một cấu trúc hữu cơ.
Trong
khoa học hiện đại có một khái niệm mới hiện đang được nói đến gọi là lưỡng tính
(androgeny). Buckminster Fuller (3) đã định nghĩa lưỡng tính như là sắc thái đặc
biệt của một hệ thống toàn bộ, một cấu trúc hữu cơ. Một cấu trúc hữu cơ không
phải chỉ là một tổng hợp đơn thuần của những bộ phận. Nó là một cộng thể
(synergetic) -đó không phải chỉ gồm những bộ phận được ráp lại với nhau. Khi mà
những bộ phận này kết hợp lại và vận hành như một nhất thể trong một trật tự ổn
cố, cái cộng thể này xuất hiện -với cái tín hiệu sống, như tiếng 'tíc-tắc' của
đồng hồ. Bây giờ nếu bạn mở cái đồng hồ ra và tháo rời từng bộ phận, tiếng
'tíc-tắc' này biến mất. Khi bạn lắp ráp chúng lại trong một trật tự vận hành
-tiếng 'tíc-tắc' xuất hiện trở lại. Cái tín hiệu sống này hoàn toàn mới. Nó ở
đâu ra vậy? Không một bộ phận riêng rẻ nào trong cái cộng thể đó trách nhiệm về
nó. Không một bộ phận cá thể nào chứa nó. Chính cái toàn bộ, cái tổng thể đã
phát ra cái tín hiệu đó.
Cái
tín hiệu sống đó là cái hồn. Nếu bạn tách lìa tay tôi ra, nếu bạn tách lìa chân
tôi ra, nếu bạn tách lìa đầu tôi ra, cái tín hiệu đó biến mất. Ðó là linh hồn của
sự sống, nó chỉ tồn tại trong một cơ thể hợp nhất.
Thượng
Ðế chính là cái tín hiệu sống trong hiện hữu nhất thể. Bạn không thể tìm ra Thượng
Ðế bằng cách mổ xẻ ra từng bộ phận. Thượng Ðế chỉ hiện hữu trong cái nhìn đầy
thơ mộng của sự hợp nhất. Thượng Ðế là một kinh nghiệm cộng thể. Khoa học không
thể nào tìm ra, Triết học không thể nào đến gần -mà chỉ có thể tiếp cận một
cách thơ mộng, một cách rất thụ động, rất dễ thương. Khi bạn thể nhập làm một với
hiện hữu, khi bạn không còn tách rời ra như một người đi tìm kiếm, khi bạn
không còn tách rời ra như một kẻ đứng nhìn, khi bạn không còn tách rời ra như một
người quan sát, khi bạn đánh mất mình vào trong đó, hoàn toàn tan biến vào
trong đó -thì nó, cái tín hiệu sống, xuất hiện.
Thứ
ba: Thiền không phải là khoa học mà là phép lạ. Nhưng đây không phải là phép lạ
của những nhà ảo thuật gia, mà là cách thế ta nhìn vào đời sống như một phép lạ.
Khoa học là trí óc. Ðó là nỗ lực để hủy diệt sự huyền nhiệm của đời sống. Nó giết
chết điều kỳ diệu. Nó đối nghịch với nhiệm mầu. Thiền trái lại, nó là tất cả
cho sự nhiệm mầu, cho huyền nhiệm.
Ðời
sống huyền nhiệm không phải để cho người ta đi tìm lời giải đáp mà là để sống,
bởi vì bạn sẽ không bao giờ tìm ra lời giải đáp. Bạn phải thể nhập vào đó với
trọn vẹn yêu thương. Quả là một hạnh phúc lớn khi đời sống là một huyền nhiệm.
Hãy cùng nhau chúc mừng cho sự huyền nhiệm này.
Thiền
là phép lạ. Nó cho bạn chìa khoá để mở vào những cánh cửa nhiệm mầu. Và sự nhiệm
mầu đó ở ngay trong chính bạn, cái chìa khoá đó cũng ở ngay trong bạn.
Khi
bạn tìm đến một Thiền sư, ông ta chỉ là người giúp cho bạn đi vào tỉnh lặng để
tìm ra cái chìa khóa mà bạn đang mang theo trong suốt đời mình, cùng với cánh cửa
-luôn luôn sẵn ở đó- đi vào ngôi đền của riêng bạn ở tận trong đáy tâm hồn.
Và
đây là điểm cơ bản cuối cùng: Thiền không phải là đạo đức, nó là thẩm mỹ. Nó
không hề áp đặt một tiêu chuẩn đạo đức, không đưa ra bất cứ một điều răn nào:
Phải làm cái này, không được làm cái kia. Một cách đơn giản, nó làm cho bạn nhạy
cảm hơn về cái đẹp, và cái tính nhạy cảm này trở thành nền tảng đạo đức của bạn.
Thế rồi nó sẽ vượt qua khỏi bạn, ý thức của bạn. Ðừng nghĩ rằng nó sẽ ban cho bạn
một mớ lương tâm nhằm phản kháng lại ý thức; không, nó chỉ giúp cho bạn trở nên
ý thức, tỉnh giác hơn và sự phong phú ý thức này lại sẽ trở thành lương tâm của
bạn. Như thế, điều răn không phải đến từ ông Moses, không phải đến từ Bible, từ
Koran hay kinh Vệ Ðà... Nó không hề đến từ bên ngoài. Nó đến từ chính trong sâu
thẳm tận cùng của bạn. Và khi phát xuất từ đây, ta không còn nô lệ nữa. Ta hoàn
toàn tự do. Khi phát xuất từ đây ta sẽ không còn làm việc một cách miễn cưỡng
như là bổn phận. Bạn làm việc trong tuyệt vời hạnh phúc và yêu thương.
Ðó
là những điều cơ bản. Và bây giờ hãy lắng nghe một lời kinh sâu sắc.
Như
một bầu trời rỗng không, nó không hề có ranh giới
Nó
ở ngay tại đây, thẳm sâu và trong suốt như chưa bao giờ
Chỉ
việc thay chữ "nó" bằng "Thượng Ðế" là bạn sẽ hiểu ngay lập
tức -thế nhưng Thiền giả không bao giờ dùng chữ "Thượng Ðế" mà gọi bằng
"nó".
Như
một bầu trời rỗng không, nó không hề có ranh giới
Nó
ở ngay tại đây, thẳm sâu và trong suốt như chưa bao giờ
Nếu
bạn nhìn thẳng vào bầu trời bạn sẽ không bao giờ tìm thấy nó. Nếu bạn bắt đầu cố
gắng thật sự tìm kiếm, bạn sẽ không bao giờ tìm thấy bầu trời. Ở đâu bạn có thể
tìm thấy được bầu trời? Bầu trời không hề ở một nơi nào đó, nó ở khắp nơi và bởi
vì nó ở khắp nơi nên bạn không thể tìm kiếm được. Bạn không thể xác định vị trí
của nó; bạn không thể nói rằng nó ở phía Bắc, nó ở phía Nam, nó ở đây, nó ở đó
-bởi vì nó ở khắp nơi. Là khắp nơi nên không thể được tìm thấy ở một nơi nào.
Và rồi bạn sẽ tìm kiếm nó ở đâu? Chạy đi đâu cũng là bầu trời. Ở ngay đây, ở
nơi đó. Tất cả đều là bầu trời. Thượng Ðế cũng giống như bầu trời, một bầu trời
rỗng không.
Nó
không có biên giới nên nó không thể được xác định. Bạn không thể nói nó bắt đầu
từ đâu và chấm dứt ở đâu. Nó là vĩnh cửu, vô tận -nhưng mà cũng ngay tại đây,
trước mắt bạn. Nếu bạn buông xả, nó xuất hiện; nếu bạn căng quá, nó biến mất.
Một
vị Thiền sư có lần nói, "Nó quá rõ ràng nên rất khó thấy. Có lần một tên
khờ xách chiếc đèn lồng đã thắp đi kiếm lửa. Nếu y sớm biết lửa ở đâu thì đã nấu
chín nồi cơm tự hồi nào rồi".
Bạn
cũng thế, bạn là người đang xách chiếc đèn lồng đã thắp đi kiếm lửa mà không hề
biết rằng mình luôn luôn mang lửa ở trên tay. Vâng, vị Thiền sư nói rất đúng: Nếu
y sớm biết lửa ở đâu thì đã nấu chín nồi cơm tự hồi nào rồi. Và nồi cơm của bạn
cũng thế, cũng chín tự hồi nào. Thế mà bạn phải chịu đói. Bạn đã và đang đói
hàng bao nhiêu thế kỷ qua, cơn đói bất tận. Bởi vì bạn đang đi kiếm lửa với chiếc
đèn lồng đã thắp trên chính tay mình.
Con
người loay hoay chạy đi tìm kiếm Thượng Ðế mà không biết rằng Thượng Ðế đang ở
trước mắt mình. Thượng Ðế đang ở chung quanh bạn. Thượng Ðế đang ở trong, Thượng
Ðế đang ở ngoài bởi vì chỉ có một Thượng Ðế. Thiền giả không gọi cái này bằng
Thượng Ðế mà gọi là "nó" để bạn không bị rơi vào cạm bẩy của ngôn từ.
Khi
bạn đi tìm để biết nó, bạn không thể gặp nó.
Tại
sao? Bởi vì khi bạn muốn biết, cái sự rất muốn biết đó trở thành một tình trạng
căng thẳng. Bạn trở thành thu hẹp lại. Bạn tập trung quá sức. Khi bạn đi tìm để
biết nó, bạn không thể gặp nó. Bạn sẽ không thấy -bởi vì bạn chỉ gặp được nó
khi bạn hoàn toàn thư giản, khi bạn mở lòng ra khắp mọi hướng, khi tâm bạn
không tập trung cao độ.
Hãy
nghe kỹ điều này. Những người không hiểu biết gì hết về Thiền thường viết rằng
Thiền là sự tập trung tư tưởng. Bạn có thể tìm thấy hàng ngàn cuốn sách trong
đó có những câu tương tự như vậy, những câu cực kỳ ngu xuẩn -rằng thiền là sự tập
trung. Thiền không hề là sự tập trung -đây có thể là việc cuối cùng. Nhưng thực
ra, tập trung hoàn toàn trái ngược với Thiền. Trong tình trạng tập trung, bạn rất
căng, bạn quy chiếu, bạn dồn nỗ lực tìm kiếm một cái gì đó. Vâng, có thể tập
trung cần thiết cho bạn khi tìm kiếm những vật rất nhỏ. Tìm một con kiến chẳng
hạn, tập trung rất tốt -nhưng tìm kiếm Thượng Ðế thì không. Thượng Ðế rất bao
la, vô cùng bao la. Thế nên khi bạn tập trung để tìm, bạn chỉ tìm thấy con kiến
chứ không thể tìm thấy Thượng Ðế. Ðối với Thượng Ðế, bạn phải hoàn toàn mở, mở
ra khắp mọi hướng, không tập trung, không tìm, không kiếm. Ý thức của bạn hoàn
toàn buông xả, đó chính là Thiền -một trạng thái ý thức hoàn toàn buông xả.
Bạn
đốt lên một ngọn đèn nhỏ. Ánh sáng không hề quy chiếu, nó tỏa ra khắp mọi hướng.
Nó không đi đến một nơi nào cả, nó tỏa lan ra. Tất cả mọi hướng đều tràn ngập
ánh sáng. Bây giờ hãy nhìn một cây đuốc. Cây đuốc giống như một sự tập trung.
Ánh sáng của nó được quy chiếu vào một nơi. Khi bạn muốn trông thấy Thượng Ðế,
cây đuốc không giúp ích gì được cho bạn cả -cây đèn là tốt nhất. Nếu bạn đang
kiếm một con kiến, tốt lắm; nếu bạn đang kiếm một con chuột, rất tốt -cây đuốc
rất được việc cho bạn. Ðối với chuyện nhỏ, người ta cần sự tập trung ý thức.
Ðối
với khoa học, sự tập trung là cần thiết. Khoa học không thể tồn tại nếu thiếu sự
tập trung -nó tìm kiếm những cái chi li, những cái rất nhỏ, rồi những cái nhỏ
hơn. Nó đi từ cái nhỏ hơn đến cái nhỏ hơn nữa đến cái nhỏ nhất -nó đang tìm kiếm
tế bào, rồi nguyên tử, rồi điện tử, rồi nơ-tron. Nó lại tiếp tục đi tìm kiếm những
cái nhỏ hơn nữa, tất cả công trình tìm kiếm đều nhắm vào những cái nhỏ hơn.
Khoa học, như thế, ngày càng trở nên tập trung, và quy chiếu.
Tôn
giáo thì trái ngược -buông xả, phóng khoáng, mở ra khắp mọi hướng, đón nhận những
ngọn gió đến từ muôn phương. Các cánh cửa lớn, cửa sổ đều được mở ra, những bức
tường ngăn cách được xoá bỏ; cửa lòng của bạn cũng mở ra bát ngát.
Khi
bạn đi tìm để biết nó, bạn không thể gặp nó.
Thế
nên cái nỗ lực để thấy nó, cái lòng khát khao muốn thấy nó trở thành những chướng
ngại. Không nên tìm kiếm Thượng Ðế. Không nên tìm kiếm chân lý. Mà tốt hơn cả
là tạo nên một trạng huống hoàn toàn buông xả, lúc đó Thượng Ðế sẽ đến với bạn,
nó sẽ đến, chắc chắn. Nó đang có mặt ở đó.
Có
một giai thoại rất nổi tiếng nói về một trong những người phụ nữ hiếm hoi nhất
trên thế giới, có tên là Rabiya.
Hussan,
một nhà huyền môn Sufi -một ông đồng cốt đạo Hồi- đang sống với đạo sư Rabiya.
Chắc thế nào ông ta cũng đã có lần nghe qua câu nói của Jesus Christ, "Hãy
gõ, cửa sẽ mở. Hãy hỏi, sẽ được cho. Hãy tìm, sẽ gặp." Thế nên hàng ngày
trong các buổi cầu nguyện buổi sáng, trong các buổi cầu nguyện buổi trưa, trong
các buổi cầu nguyện buổi chiều, trong các buổi cầu nguyện buổi tối -người Hồi
giáo cầu nguyện đến năm lần mỗi ngày- và cứ hàng ngày năm lần như thế anh ta
không ngớt cầu khẩn với Thượng Ðế, "Tôi đang gõ, hỡi Thượng Ðế vĩ đại, tôi
đang gõ thật nhiều. Tại sao đến bây giờ nó vẫn chưa mở? Tôi đập đầu tôi vào
cánh cửa của Ngài, Thượng Ðế nhân từ. Xin hãy mở cửa."
Rabiya
nghe lời cầu nguyện này trong một ngày. Rabiya nghe lời cầu nguyện này trong
ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba, và cuối cùng bảo Hussan: "Này Hussan, lúc
nào thì ông mới chịu nhìn? Cánh cửa đang mở, trong khi ông cứ tiếp tục nói những
câu nhảm nhí -"Tôi đang gõ, Tôi đang gõ"- Coi kỹ đi. Cánh cửa luôn
luôn mở mà. Bởi vì ông chỉ chú tâm đến gõ, đến hỏi, đến tìm, đến muốn nên mới
không thấy. Cánh cửa đang rộng mở mà".
Ðiều
Rabiya nói còn đúng hơn cả điều chúa Jesus Christ nói. Câu nói của Jesus Christ
chỉ dành cho những kẻ có trình độ thấp. Ðúng như vậy, nó dành cho những người
chưa cả bắt đầu đi tìm kiếm, cho những học sinh lớp mẫu giáo. Ðối với họ chỉ
nên bảo "Kiếm, tìm, gỏ cửa" và đối với họ cũng nên kèm theo lời hứa bảo
đảm, nếu không họ sẽ không chịu đi tìm đâu -lời hứa bảo đảm rằng "Hãy gõ,
cửa sẽ mở. Hãy hỏi, sẽ được cho".
Rabiya
rất Thiền khi nói, "Này, bạn khùng quá đi, cửa đang mở, nó luôn luôn rộng
mở. Khi mà bạn cứ không ngừng hỏi, không ngừng lải nhải, bạn đang nhắm đôi mắt
của bạn lại. Vấn đề chỉ là mở con mắt của bạn ra -cánh cửa luôn luôn mở rộng
mà."
Thượng
Ðế luôn luôn có ở đó cho bạn. Không hề đòi hỏi một điều kiện nào.
Khi
bạn đi tìm để biết nó, bạn không thể gặp nó.
Bạn
không thể ôm giữ nó,
Và
bạn cũng không thể đánh mất nó.
Hãy
xem cái câu tuyệt vời này. Bạn không thể ôm giữ nó. Ðúng như thế, bạn sẽ không
bao giờ chiếm hữu được Thượng Ðế. Thượng Ðế không thể bị chiếm hữu.
Không
ai chiếm hữu được những cái gì to tát vĩ đại -nhưng đây là một trong những điều
điên rồ nhất mà con người hiện đang làm. Chúng ta chỉ muốn chiếm hữu. Khi bạn
yêu một người thế là bạn muốn chiếm hữu, nhưng sự chiếm hữu đã hủy diệt tình
yêu. Tình yêu là phẩm chất của Thượng Ðế. Jesus đã nói một câu rất đúng,
"Tình yêu là Thượng Ðế". Nếu bạn thật sự muốn yêu thương, đừng cố gắng
chiếm hữu nó. Bằng chiếm hữu, bạn đã giết chết nó, bạn đã đầu độc nó. Bạn rất
là nhỏ bé mà tình yêu thì lại rất lớn lao, làm sao bạn có thể chiếm hữu được? Bạn
có thể bị nó chiếm hữu -đúng như thế- nhưng bạn không thể chiếm hữu nó.Cái nhỏ
hơn không thể chiếm hữu được cái lớn hơn. Ðó là một điều thật giản đơn, nhưng
cũng rất khó khăn để cho người ta chịu hiểu.
Khi
yêu ai ta muốn chiếm hữu trọn vẹn tình yêu, ta muốn chiếm hữu sự dấu yêu, người
tình của ta, ta muốn hoàn toàn chiếm lĩnh vì sợ rằng người khác sẽ lấy đi mất.
Thế nhưng trước khi bị ai đó lấy mất, nó đã thực sự tan biến. Nó không còn hiện
hữu nữa. Ngay khoảnh khắc bạn bắt đầu nghĩ đến sự chiếm hữu, bạn đã thực sự giết
chết tình yêu. Bây giờ những gì còn lại chỉ là một cái xác chết, một thây ma. Sự
sống đã tan biến.
Ðời
sống cũng không thể được chiếm hữu vì đời sống là Thượng Ðế. Hiện hữu không thể
bị chiếm hữu vì hiện hữu là Thượng Ðế.
Bạn
trông thấy một bông hoa tuyệt đẹp -một đóa hồng - trên một bụi cây và bạn lập tức
ngắt nó ra khỏi bụi hồng. Bạn muốn chiếm hữu nó. Và thế là bạn đã giết nó. Bây
giờ bạn cài nó vào khuy áo của bạn. -nó trở thành một bông hoa chết, một tử
thi, không còn là một đóa hồng xinh đẹp nữa. Một cái xác chết thì chắc chắn là
không đẹp rồi, phải không? Nó sẽ trở thành một hồi ức và mau chóng bị xóa nhoà.
Ðoá hồng kia sống động, xinh đẹp biết bao khi còn ở trên cành. Nó thật tươi trẻ,
thật hạnh phúc, trong nó là cả một khúc luân vũ của sự sống, sự hòa điệu nhịp
nhàng của muôn vàn thanh âm vây quanh. Bạn đã giết chết tất cả. Và bây giờ bạn
đang mang một bông hoa chết trên khuy áo của bạn.
Ðó
là điều mà chúng ta đang hành xử trong mọi việc. Cái đẹp, tình yêu, Thượng Ðế.
Chúng ta chỉ muốn chiếm hữu.
Bạn
không thể ôm giữ nó,
Hãy
nhớ cho
Và
bạn cũng không thể đánh mất nó.
Thật
là tuyệt. Vâng, bạn không thể chiếm hữu nó, nhưng cũng không thể nào làm mất được
nó. Nó ở đó. Nó luôn có mặt ở đó. Nếu bạn tĩnh lặng, bạn sẽ bắt đầu cảm thấy
nó. Bạn phải hòa điệu cùng nó. Bạn phải trở nên tĩnh lặng để có thể lắng nghe.
Bạn phải trở nên tĩnh lặng để vũ điệu của Thượng Ðế có thể đi sâu vào lòng, để
Thượng Ðế cùng rung động, cùng chung một nhịp đập với trái tim bạn. Bạn phải liệng
bỏ cái tật vội vàng, cái tật hối hả, cả cái tâm viên ý mã, muốn đạt đến cái
này, trở thành cái nọ, lúc thế này, lúc thế kia. Hãy chấm dứt, đừng trở nên một
cái gì cả. Và thế là nó ở đó, bạn không bao giờ có thể mất nó.
Cái
gì không thể lấy, bạn sẽ được.
Cái
gì không thể lấy, bạn sẽ được. Ngay từ khoảnh khắc hiểu được rằng bạn không thể
nào chiếm hữu được nó, bạn liệng bỏ cái ý hướng chiếm hữu, thế là nó có mặt ở
đó -và bạn được nó. Ngay từ khoảnh khắc bạn hiểu được rằng tình yêu không thể
được chiếm hữu, một mối cảm thông sâu sắc òa vỡ trong bạn. Và bây giờ bạn sẽ có
nó, vĩnh viễn. Bạn không bao giờ mất.
Tuy
nhiên bạn chỉ sở hữu được nó khi nào bạn nhận ra một điều rằng nó không thể nào
bị chiếm hữu, rằng không có cách gì bạn sẽ chiếm được nó.
Ðây
là nghịch lý của Thiền. Thiền là con đường của nghịch lý. Nó nói rằng nếu bạn
muốn chiếm hữu Thượng Ðế, xin làm ơn bỏ ý nghĩ đó đi -và rồi bạn có Thượng Ðế.
Nếu bạn muốn chiếm hữu tình yêu, đừng làm thế, và tình yêu sẽ có mặt, sẽ mãi là
của bạn. Bạn không thể đánh mất nó; không cách gì mất được nó.
Khi
bạn yên lặng, nó nói ra;
Khi
bạn nói ra, nó yên lặng.
Dĩ
nhiên cả hai không thể nói cùng một lúc. Martin Buber đã làm cho từ "đối
thoại" thấm đậm nhiều ý nghĩa trong xã hội phương Tây. Nhưng đây chỉ mới
là tuệ giác chứ chưa phải là đỉnh cao của Thiền. Martin Buber nói rằng cầu nguyện
là một sự đối thoại. Trong cuộc đối thoại này bạn nói chuyện với Thượng Ðế và
Thượng Ðế nói chuyện với bạn. Dĩ nhiên, đối thoại là một mối tương quan
"Anh -Tôi". Ðối thoại là phải có hai người. Ðó là mối liên hệ song
phương. Có bạn ở trong đó.
Thiền
cho rằng không thể có chuyện như vậy. Nếu bạn nói, Thượng Ðế im lặng. Khi bạn
đang nói cũng có nghĩa là đang gây ra những náo động ở trong đầu bạn, Thượng Ðế
sẽ tan biến -tiếng nói của người rất là mỏng manh, rất là yên lắng và bạn chỉ
có thể nghe được trong một không khí hoàn toàn yên lặng. Ðó không phải là một
cuộc đối thoại. Ðó là một sự thụ động lắng nghe.
Chỉ
có thể có một trong hai trường hợp, hoặc bạn nói và Thượng Ðế vắng mặt, hay Thượng
Ðế lên tiếng và không hề có bạn ở đó. Chỉ khi nào bạn thể nhập, tan biến vào
cùng với Thượng Ðế bạn mới có thể nghe được tiếng nói của người. Ðó là lúc tiếng
nói này vọng lên khắp nơi -trong từng tiếng hót líu lo của loài chim, trong từng
tiếng róc rách của dòng suối, trong từng tiếng thì thào của ngọn gió thoảng qua
cánh rừng thông. Thượng Ðế ở khắp mọi nơi -chỉ khi nào bạn chìm vào trong tĩnh lặng.
Khi
bạn yên lặng, nó nói ra;
Khi
bạn nói ra, nó yên lặng.
Cánh
cổng lớn rộng mở cho những kẻ khất sĩ không nhà
Không
một đám đông nào cản lối.
Không
có chuyện cạnh tranh, không ai cản lối bạn, không có đối thủ tranh đua. Bạn
không cần phải hấp tấp. Bạn không cần phải cố gắng để chụp giựt. Không có ai cạnh
tranh với bạn, cũng không có ai đứng chặn trước bạn -ngoài Thượng Ðế, chỉ có
Thượng Ðế. Bây giờ thì bạn có thể thư giản. Bạn không bao giờ còn lo sợ bị nhỡ
nhàng. Bạn không thể mất vì nó luôn ở trong bản thể rốt ráo của muôn vật. Bạn
không thể đánh mất Thượng Ðế. Hãy thư giản.
Tất
cả những điều này được nói ra nhằm giúp bạn thư giản. Thượng Ðế không thể bị mất
- thư giản. Không có ai ngăn đường chặn lối bạn - thư giản. Không có gì phải hấp
tấp vì Thượng Ðế không hề buộc bạn phải đúng giờ - thư giản. Không cần phải đi
đến nơi đâu vì Thượng Ðế không hề cách xa ta hàng tinh cầu - thư giản. Bạn
không thể mất vì nó luôn ở trong bản thể rốt ráo của muôn vật - thư giản.
Toàn
bộ thông điệp của tất cả những điều nghịch lý này là - thư giản. Nó có thể được
cô đọng lại trong một chữ - thư giản. Ðừng tìm, đừng kiếm, đừng hỏi, đừng gõ, đừng
đòi hỏi nữa - thư giản. Nếu bạn thư giản, nó sẽ đến. Nếu bạn thư giản, nó có mặt.
Nếu bạn thư giản, bạn bắt đầu rung động cùng một nhịp điệu với nó.
Ðó
là điều mà nhà Thiền gọi là hoát nhiên đạt ngộ... một trạng thái hiện sinh hoàn
toàn thư giản, một trạng thái an nhiên tự tại không còn ý thức trở thành một
cái gì đó tồn tại trong tâm; khi bạn không còn là người vươn đến thành tựu;
không còn nơi chốn để đi đến; không còn mục tiêu để đạt; khi tất cả mọi mục
tiêu đều tan biến, mọi mục đích đều bỏ lại đàng sau; khi bạn là chính bạn, bản
lai diện mục, như thị. Trong cái khoảnh khắc của như thị đó bạn hoàn toàn tan
biến, thể nhập vào cùng với nhất thể và cái tín hiệu sống mới mẻ - chưa từng hề
có trong bạn - nổ bùng ra. Cái tín hiệu sống đó được gọi là hoát nhiên đạt ngộ,
là đại định tam muội, là giác ngộ.
Nó
có thể xảy ra trong mọi tình huống - bất cứ lúc nào bạn hoà điệu với nhất thể.
Và
điều cuối cùng. Thiền không mang một khuôn mặt nghiêm trọng. Nó không thiếu những
khôi hài ý nhị. Không có tôn giáo nào tiến bộ đến mức cho khôi hài có một chỗ đứng.
Chỉ ở trong Thiền mới có tiếng cười. Thiền là một ngày hội. Tinh thần của Thiền
là thực hiện cái lễ hội tươi vui đó.
Những
tôn giáo khác đều tỏ ra rất nghiêm trọng -làm như việc vươn đến Thượng Ðế là một
đại sự, làm như có ai đó đang giựt Thượng Ðế ra khỏi tay họ, làm như Thượng Ðế
đang tìm cách ẩn trốn chúng ta, làm như Thượng Ðế tạo ra rất nhiều chướng ngại
một cách cố tình; làm như là có một sự tranh đua lớn và không có đủ Thượng Ðế
cho hết thảy mọi người; làm như Thượng Ðế là tiền bạc và chẳng bao giờ đủ cho tất
cả. Thế nên nếu như bạn không chụp giựt Thượng Ðế ngay tức khắc trước những kẻ
khác, những người khác sẽ chụp giựt mất. Ðây là những người rất nghiêm trang,
những người chỉ biết đến tiền, những người có mục tiêu để nhắm đến -nhưng thực
sự không phải là những con người tín ngưỡng.
Thượng
Ðế rất đổi lớn lao, rất đổi bao la, rất đổi vĩ đại. Ðây là nhất thể của vạn hữu
-làm sao ai có thể làm tiêu mòn đi được? Thế nên không có nhu cầu phải sợ rằng
ai đó sẽ tranh chiếm mất Thượng Ðế trước bạn, và rồi bạn sẽ không biết phải làm
gì, bạn sẽ bị mất Thượng Ðế vĩnh viễn. Thế nên cũng không cần phải chiến đấu,
tranh đua. Và bạn cũng có cả một khoảng thời gian vô tận dành cho bạn. Bạn
không cần phải hấp tấp, không cần phải quá nghiêm trọng.
Những
bộ mặt chảy dài nghiêm trọng không phải là những bộ mặt tôn giáo. Chúng cho ta
thấy một điều là họ không hề hiểu biết gì cả -khi hiểu được chắc là họ sẽ có một
nụ cười. Thiền là tôn giáo duy nhất có tiếng cười thế nên tôi nói rằng Thiền là
tôn giáo có trình độ cao nhất từ trước đến nay. Nó không làm cho đời bạn trở
nên xấu xí, nó không làm bạn trở thành kẻ tàn tật -nó làm cho đời bạn trở thành
một vũ điệu, vui sống.
Một
chú bé lần đầu tiên được mẹ dẫn đi xem cuộc triển lãm những hình nhân nổi tiếng
thế giới bằng sáp của Madam Tussaud tại London. Cậu bé có vẻ rất xuống tinh thần
khi xem qua toàn bộ khung cảnh. Bà mẹ khích lệ con:
"Con
biết không, những người này toàn là những danh nhân sống trước đây rất lâu. Tất
cả họ nay đã chết hết rồi."
Cậu
bé lại càng u ám rầu rĩ hơn, lẩm bẩm: "Thì ra thiên đàng là thế!"
Ðiều
nguy hiểm là vậy. Nếu bạn đi thăm viếng một thiên đàng Cơ Ðốc giáo bạn sẽ gặp một
khung cảnh tương tự như thế. Và thật quả là một ác mộng kinh hoàng khi sống
chung với những vị thánh Cơ Ðốc.
Có
người hỏi một vị Thiền sư tại sao chúng ta không có nhiều vị thánh ở trên trái
đất này. Ông ta cười và trả lời: "Thiên đàng là nơi tốt nhất cho họ bởi vì
chúng ta rất khó mà sống chung với họ. Ðiều may mắn cho chúng ta là họ không ở
trên trái đất này. Hãy để họ sống ở trên thiên đàng."
Tốt
nên là như thế. Hãy tưởng tượng bạn đang sống với một vị thánh. Có lẽ bạn phải
tự tử mất.
Thiền
mang nụ cười và làn gió mới vào tôn giáo. Ngay cả chế nhạo tôn giáo. Ðây là một
phương cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt -lành mạnh hơn, tự nhiên hơn.
Ðấy
là những điều cơ bản. Có thể là tôi đã đi quá nhanh.
Hãy
lắng nghe câu chuyện sau đây.
'Pop'
Gabardine, huấn luyện viên của đội bóng đá Midwestern, chứng kiến cảnh những cầu
thủ của mình bị đè bẹp liên tiếp trong tám buổi chiều thứ Bảy thi đấu, lần cuối
cùng với một tỉ số thê thảm: 52/0.
Khi
đội bóng tụ họp lại vào sáng Thứ Hai hôm sau, Pop tuyên bố một cách cay đắng:
"Trận thi đấu cuối cùng của mùa này đã qua rồi, chúng ta có thể đã quên tất
cả những mánh khoé thi đấu mà tôi đã cố gắng dạy cho những kẻ đần độn như các bạn.
Bây giờ chúng ta trở lại những bài học căn bản. Hãy bắt đầu. Bài học thứ nhất:
Cái vật mà tôi đang cầm trên tay này được gọi là trái bóng. Bài học thứ hai...
Ðến
đây nhà huấn luyện viên Gabrine bị ngắt lời bởi một anh hậu vệ mặt đầy lo lắng
đứng ở hàng đầu, thỉnh cầu, 'Này, Pop, đừng có đi quá nhanh.'
Có
lẽ tôi đã đi quá nhanh nhưng hy vọng các bạn ở đây không ai đần độn cả. Tôi tin
vào sự thông minh của các bạn.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment