Osho - Con đường nghịch
lý (Tập 3)
Chương 10. Bản nhạc bất hủ
Câu hỏi 1:
Lý tưởng hiện đại là chúng ta
hãy sống trọn vẹn trong mỗi giây phút thực tại, không khác gì các khái niệm bí
truyền xưa kia rằng nên sống hoàn toàn trong phạm trù thanh tịnh mãi mãi. Đây
là một sự không thể và vô nhân. Nó là một căn bệnh hơn là một thực tại đầy ân
huệ. Vạn hữu đầy ân điển phải thống nhất với hiện tại, quá khứ và tương lai.
Ý tưởng như vậy có tính
cách đồi bại. Dù ý tưởng đó là gì đi nữa, nó là một tai họa. Nó là căn bệnh
kinh khủng cần phải tránh xa. Ý tưởng như vậy thường làm cho nhân loại phát bệnh
thần kinh. Khi bạn tư duy lý tưởng, bạn phê phán rồi. Bạn sẽ không thành toàn ý
nguyện, sẽ không bao giờ được bình an. Mặc cảm phát sanh qua bạn, bắt đầu cảm
giác bạn không xứng đáng và vô dụng. Khi mà người nào tự cho mình ông vô giá trị,
ông trở thành vô giá trị... bởi bạn suy nghĩ ra sao thì cuộc đời của bạn cũng sẽ
như vậy. Con người nghĩ sao thì sẽ trở thành như vậy.
Xin cho phép tôi khuyên
bạn rằng: Thậm chí, Thượng Đế cũng không hoàn toàn, không thể nào.
Nếu không, ngài là một
Thượng Đế chết. Chỉ có sự bất toàn mới có cơ hội để tiến hoá, để phát triển.
Trong sự bất toàn thì mới tương lai. Sự toàn thiện chứa đựng chỉ có quá khứ...
không tương lai. Nếu Thượng Đế toàn thiện, vậy chuyện gì sẽ xảy ra cho ngài?
Không có gì sẽ xảy ra cả. Những gì xảy ra đã xảy ra rồi. Những gì mà định mệnh
an bài ngài sẽ thành, ngài đã thành rồi. Ngài phải trở thành... không có tương
lai nơi đó. Như vậy, Thượng Đế chỉ là một nghĩa trang. Ngài không phải là một cội
cây đang nở hoa, và ngài không phải là dòng sông đang tuôn chảy.
Thậm chí, Thượng Đế
cũng bất toàn, làm sao con người có thể toàn thiện? Vạn vật có sự sống đều bất
toàn, bởi sự sống chỉ có thể xảy ra xuyên qua bất toàn. Sự bất toàn là đại ân
phúc. Hãy cảm nhận hạnh phúc khi bạn bất toàn. Sự bất toàn có nghĩa là vòng
tròn của bạn chưa thành. Có một cái gì vẫn mở rộng. Bạn có tương lai. Bạn đủ khả
năng. Sự bất toàn là một hứa hẹn, một hy vọng. Sự bất toàn đầy tiềm năng. Tất cả
vẫn chưa trở thành sự thật. Nó vẫn là hạt giống. Bạn có thể thành đạt. Có những
kinh nghiệm mới mẻ sẽ xảy ra cho bạn. Một thể nghiệm gì đó bất khả tri, xa lạ,
ngoài sự mong đợi của bạn, và bạn có thể vẫn còn ôm hy vọng. Sự sống là như vậy.
Trước tiên, bạn nên hiểu
rằng: Mọi lý tưởng gia là những con người hoàn toàn. Do dó, tất cả mọi lý tưởng
đều vô nhân. Tất cả lý tưởng sẽ làm cho bạn què quặt và tê liệt. Tất cả mọi lý
tưởng tạo ra sự ràng buộc vi tế quanh bạn. Chúng giam cầm bạn. Người tự do thật
sự sẽ vô lý tưởng. Vì vậy, sống trong hiện tại không phải là một lý tưởng, nên
nhớ kỹ. Nếu bạn phải tạo lý tưởng từ đó, khái niệm này đã sai lầm. Sống với thực
tại có thể dịch giải cho đúng là: Sống không lý tưởng. Đó là ý nghĩa sống với
thực tại. Sống với hiện tại có nghĩa là sống không lý tưởng, để chỉ sống với
bây giờ và ở đây, cởi mở và sẵn sàng... bất cứ những gì tương lai mang đến. Đừng
cưỡng ép tương lai theo một đường lối nhất định, với một chiều hướng nhất định.
Hãy để nó xảy ra.
Sống trong thực tại
không phải là một lý tưởng, nhưng câu hỏi này của bạn, có một số người lý tưởng
hóa nó. Nó xảy ra bởi chúng ta quá quen chuyển hoá mọi sự thành căn bệnh thần
kinh. Thậm chí, thuốc trường sinh bất lão, bạn cũng sẽ biến nó thành độc dược.
Bạn chỉ biết có một điều: chuyển hoá mọi sự thành độc dược. Thí dụ, Đức Phật dạy:
Qua ái dục là sự đau khổ... Nếu con không còn ái dục, con sẽ không còn đau khổ
nữa." Đó là một sự thật đơn giản, nhấn mạnh một sự thật đơn giản. Chuyện
gì xảy ra? Con người tạo sự ham muốn mới: Làm sao để không còn ham muốn. Đây là
cách bạn chuyển hoá chân lý thành vô minh.
Đức Phật dạy: Sống với
ái dục sẽ bị đau khổ. Ngài không dạy phải ham muốn điều gì. Ham muốn sẽ tạo đau
khổ, bởi trong sự ham muốn, bạn hiện hành từ hiện tại, tư duy đến tương lai. Bạn
tư duy về bao giấc chiêm bao... Bạn sẽ làm điều này. Bạn sẽ làm điều kia. Chuyện
này xảy ra, và nếu nó xảy ra, bạn vui vẻ. Nếu nó không xảy ra, bạn sẽ vô cùng
khổ não. Giây phút bạn mơ mộng và tham ái, bạn đã đánh mất sự liên hệ với cuộc
sống. Bạn cắt đứt sự liên hệ. Bạn sống trong giây phút của ảo vọng. Những giây
phút tham ái là những giây phút chết.
Sự sống ngừng tuôn chảy.
Bạn bị đóng băng. Khi bạn chìm đắm trong sự tham ái, bạn thiếu sống động. Sự sống
và tham ái không thể đồng hiện hữu. Chúng là hai thái cực. Bạn chỉ có thể có một
mà không có hai. Nếu bạn vận hành trong tham ái, sự sống chấm dứt. Nếu bạn sống,
tham ái phải biến mất. Bạn có thấy trong tập sách tâm lý học có hình một bà lão
qua chưa? Vẫn bức hình đó là người con gái tuyệt đẹp... Cả hai đồng có mặt. Nếu
bạn nhìn bà lão, bạn sẽ không thấy cô gái. Nếu bạn nhìn cô gái, bạn sẽ không thấy
được bà lão. Họ đồng hiện hữu trong những gạch vẽ, nhưng bạn chỉ có thể thấy được
mỗi một lần thôi. Bối cảnh của bạn thay đổi. Khi bạn nhìn khuôn mặt trẻ trung,
những đường vẽ đó tái tạo khuôn mẫu mới, bởi khuôn mẫu này mà khuôn mẫu kia
không thể thấy được. Khi bạn trông thấy bà lão, cô gái lùi ra sau, bởi khuôn mẫu
của bà lão, bạn không thể trông thấy cô gái được. Bạn không thể nhìn thấy cả
hai cùng một lúc. Bởi bạn không thể trông thấy cả hai cùng một lúc. Khi bạn thấy
hình này thì bạn không thể nào thấy hình kia. Bạn biết cả hai đều hiện diện,
nhưng bạn vẫn không thể nào thấy được.
Tình trạng của tham ái
và sự sống cũng chính xác là như vậy. Nếu bạn tham ái, sự sống sẽ không còn. Bạn
ngừng sống. Vẫn năng lượng đó trở thành tham ái, cho nên không còn năng lượng
cho sự sống. Khi bạn bắt đầu sống, ái dục chấm dứt bởi năng lượng đó đã bồi bổ
cho sự sống. Bạn không thể nào tham ái được. Sống động trong giây phút là vô ái
dục trong giây phút. Vô ái dục trong khoảnh khắc tức là sống động trong mỗi khoảnh
khắc. Đây là sự nhấn mạnh đơn giản về khuôn mẫu sống. nhưng cái gì đã xảy ra vậy?
Mọi người nghe Đức Phật giảng pháp và họ tư duy, " Chắc chắn ngài nói
đúng. Với ái dục sẽ có đau khổ." Vì vậy, chúng ta khao khát sự vô ái dục
này, Chỉ đối tượng của ái dục là thay đổi. Làm cách nào để đạt đến trạng thái
vô ái dục? Bây giờ, họ lại sẵn sàng làm một chuyến hành trình khác của ái dục.
Trước tiên, họ muốn có nhiều của cải, có nhiều quyền lực, làm sao để đến Tân Đề
Li, đến Hoa Thịnh Đốn, Luân Đôn, Mạc Tư Khoa, bây giờ, ước nguyện của họ thay đổi...
Họ muốn được lên Niết bàn, Moksa, Thượng Đế, vô ái dục... nhưng đối tượng vẫn
còn đó. Với đối tượng, ái dục hiện hữu. Họ cam kết một vấn đề thật điên rồ. Họ
hiểu lầm rồi. Đức Phật không dạy họ phải tạo thêm một ái dục khác. Đức Phật chỉ
đơn thuần bảo rằng: Thấu triệt ái dục. Trực diện với ái dục và bạn sẽ đau khổ.
Khi sự hiểu biết này đi thật sâu vào bản thể, rằng ái dục tức là đau khổ, mọi
phiền não chấm dứt. Bạn không còn ái dục nữa. Khi bạn không còn ái dục thì bạn
đã vô ái dục rồi.
Sự vô ái dục không thể
là ái dục. Moksha không thể là ái dục. Thượng Đế không thể ái dục. Nếu bạn khao
khát ngài, ngài biến thành đối tượng dục lạc. Bạn lại rơi vào cũng cạm bẫy
đó... với nhãn hiệu mới mẻ hơn, nhưng căn bệnh vẫn như vậy. Có lẽ làn da mới
hơn, nhưng rượu vẫn là cũ. Chuyện như vậy đã xảy ra trong thế giới hiện đại
này. Vấn đề này cũng vậy. Nó xảy ra bởi Thiền. Thiền dạy: Hãy sống với thực tại,
bởi đó là cách duy nhất của thực tại... Đó là con đường duy nhất. Hiện tại là
khoảnh khắc bây giờ! Làm sao bạn có thể sống trong tương lai? Tương lai vẫn
chưa đến, làm sao bạn có thể sống với tương lai đây? Bạn chỉ có thể tư duy. Chỉ
là trò chơi của tâm. Làm cách nào bạn có thể sống trong quá khứ? Quá khứ đã biến
mất. Bạn chỉ có thể sống trong ký ức và sự tưởng tượng, nhưng cả hai đều vô hiện
hữu.
Hiện hữu có nghĩa là sống
với thực tại. Những cây cối kia hiện hữu, bạn chỉ giả vờ. Những hòn sỏi hiện hữu,
bạn giả vờ. Các vì sao hiện hữu, bạn vẫn giả vờ. Thiền rất là cấp tiến, rất duy
sinh. Thông điệp rất đơn giản: Sống với thực tại... bây giờ... Bạn có thể lý tưởng
hóa nó, có thể khiêu vũ trên lý tưởng. Bạn bảo, "Đúng rồi! Tôi sẽ sống với
thực tại và bây giờ. Tôi sẽ cố gắng. Tôi sẽ không lãng quên những hòn sỏi nhỏ
bé. Tôi sẽ tận lực. Tôi sẽ sống bây giờ và ở đây. Tôi sẽ tu tập. Tôi sẽ tham
thiền, nhưng tôi nhất định phải an trú bây giờ và ở đây." Bây giờ, bạn lại
lý tưởng hóa từ một sự thật đơn giản với lời phát biểu của bạn. Nó là chân lý
hiển nhiên. Bạn đang lý tưởng hóa. Bạn sẽ gặp khó khăn. Có đôi lúc, tâm bạn
chìm vào quá khứ, và rồi lại lạc vào tương lai. Bạn sẽ nắm bắt nó. Bạn sẽ mang
nó về với hiện tại. Một lần nữa, nó lại trôi đi mất. Lần nữa, bạn lại phải kéo
nó về với hiện tại. Thực tế, bây giờ bạn không sống với hiện tại! Đang xảy ra ở
một nơi nào đó trong tương lai, bạn đang thực hành cách sống với thực tại! Thực
tại của bạn không phải là thực tại! Thực tại qua lý tưởng của bạn không thể nào
là thực tại. Lý tưởng không nằm trong tương lai.
"Làm sao sống với
thực tại?" Bạn hỏi. Thiền dạy không có cách sống nào khác hơn! Bạn hỏi
"Làm cách nào?" Thiền nói không có cách nào khác cả! Làm sao bạn có
thể sống trong hiện tại? Bạn hỏi, "Tôi có cần thiền hay không? Tôi có cần
phải làm như thế này, như thế nọ hay không? Tôi có cần đọc thần chú? Tôi có cần
nhắm mắt lại? Tôi có cần bỏ vợ bỏ con, bởi họ sẽ hướng dẫn tôi đến tương lai.
Tôi có cần bận tâm đến họ hay không? Tôi có nên đi Hi Mã Lạp Sơn hay không?
Nhưng tất cả đều là lý tưởng của tương lai! "Tôi có cần đi Hi Mã Lạp Sơn
hay không?" Hi Mã Lạp Sơn là ở tương lai. "Tôi có nên đạt Ngộ hay
không?" Một lần nữa, nó nằm trong tương lai. Thay vì hiểu biết, bạn lại
khao khát nó.
Bạn hỏi:
Lý tưởng hiện đại là sống
trọn vẹn trong mỗi khoảnh khắc của thực tại, không khác gì khái niệm huyền bí cổ
điển nên sống trọn vẹn trong phạm trù của sự thanh tịnh vĩnh viễn là một sự
không thể và vô nhân.
Nếu bạn lý tưởng hóa
nó, nó vô nhân và không thể. Nó sẽ huỷ diệt bạn. Mọi lý tưởng đều hủy diệt. Tất
cả mọi lý tưởng là liều độc dược của nhân loại! Hãy đề phòng! Sống một cuộc đời
đơn giản và bình thường... mỗi một ngày với sự sống. Đói thì ăn, buồn ngủ thì
ngủ. Muốn yêu thương thì yêu thương. Đừng đòi hỏi những gì hoàn toàn. Sự toàn
thiện là điều không thể được. Đừng lý tưởng hóa từ một sự thật đơn giản. Thí dụ,
một Thiền sư bảo, "Thật là tuyệt diệu! Tôi gánh dầu, tôi kéo nước từ giếng."
Đây là một phát biểu đơn thuần của thực tại. Một thiền sư gánh củi về từ rừng
xanh, và ngài bảo, "Thật là tuyệt vời! Giây phút này thật là tuyệt diệu...
Khoảnh khắc này thật quí báu... Mặt trời đang lên. Loài chim ca hót líu lo... Mầu
xanh tràn ngập khắp chốn. Hoa nở rộ khắp nơi. Hương của cỏ dại phảng phất trong
gió và tôi gánh củi từ rừng về thiền viện. Thật là tuyệt diệu quá! Khoảnh khắc
này thật là cực lạc, khoảnh khắc như kim cương."
Bạn có thể lý tưởng hóa
nó. Có lẽ, bạn không phải là người chặt củi. Có lẽ bạn là giáo sư ở một khung
trường đại học. Bạn xả bỏ chức vụ, bạn tuyên bố, "Tôi sẽ là người chặt củi.
Tôi sẽ vào rừng. Tôi sẽ chặt củi và tôi sẽ gánh dầu. Tôi sẽ cảm giác sự
"Thật là tuyệt diệu này.". Như vậy là bạn không hiểu rồi. Bạn sẽ vào
rừng. Bạn sẽ chặt cây, nhưng bạn sẽ lỡ toàn bộ khái niệm. Chặt củi và bạn sẽ tư
duy, "Khi nào sẽ xảy ra? Nó vẫn chưa xảy đến. Cảm giác này vẫn chưa bùng nổ...
Thật là tuyệt diệu!" Bạn chờ đợi. Bạn nhìn mặt trời. Bạn quan sát cây
xanh, nhưng cây xanh vẫn là cây xanh, mặt trời vẫn bình thường, và những chú
chim nhỏ... vẫn những chú chim nhỏ ngu muội đó. Vâng, cỏ vẫn xanh tươi, nhưng rồi
sao? Bạn thuộc làu hết mọi vần thơ về cỏ xanh, bạn là giáo sư, và bạn đã thấy hết
tất cả họa phẩm, nếu vậy thì có gì là mới mẻ? Bạn quan sát chung quanh và không
có hiện tượng gì xảy ra. Bạn đi chặt củi. Bạn chưa bao giờ chặt củi qua. Bạn cảm
giác mệt mỏi. Bạn quan sát chung quanh và hình như chẳng có điều gì xảy ra cả.
Bạn tự nhủ, "Thật là thê thảm quá!" Không có gì xảy ra cả. Vị thiền
sư đó đã gạt ta rồi! Có cái gì ở đây mà cho là tuyệt vời!"
Khái niệm của bạn không
đúng. Vị thiền sư không gạt bạn. Ngài không khuyên bạn phải trở thành người chặt
củi. Hãy vẫn là giáo sư! Loài người cũng tuyệt vời như cây cối vậy. Những con
người trẻ trung vẫn tốt đẹp như là những cành cây xanh tươi mơn mỡn. Hãy tiếp tục
dạy học! Nghề dạy học cũng tuyệt diệu như là nghề gánh dầu. Vị minh sư chỉ đơn
thuần bảo rằng bất cứ bạn làm điều gì, nếu bạn tỉnh thức trọn vẹn, tâm của bạn
sẽ không trôi nổi nơi nào khác... Hốt nhiên, bạn sẽ thấy nét đẹp hiện hữu, ân
huệ hiện hữu. Ân huệ là một phần tồn tại của thực tại, nhưng đừng lý tưởng hóa
nó! Hàng nghìn người xả ly của cải và trở thành tăng sĩ Phật Giáo khi Đức Phật
giảng pháp về "Cực lạc như thế nào!", nhưng tôi không nghĩ là họ đã đạt
đến một cái gì đó rồi. Họ xả ly thế gian, nhưng chỉ là vọng tưởng. Đức Phật xả
ly thế gian hoàn toàn vì một lý do khác: Ngài thấu triệt ái dục. Thấy được quan
điểm này chứ? Đức Phật xả ly thế gian vì ngài nhận thức tính cách vô thường của
ái dục. Ngài nhận thấy rằng ái dục sẽ không hướng về đâu cả. Nó không ngừng làm
con người phải đắm chìm trong ngục tù đau khổ... nhận thức nó hiện hữu, nhận thức
toàn bộ cơ chế của nó, nhận thức bánh xe luân hồi hằng muôn vạn kiếp, nhận thức
những gì bạn có thể hành, bạn đã hành... nhận thức rằng thậm chí không một giây
phút nào đã xảy ra... ngài xả ly thế gian. Sự xả ly phát xuất từ trí huệ. Khi
ngài xả ly thế gian và trở thành Phật... tự nhiên, ngài đạt được sự toàn thiện,
cực lạc lớn lao, đại tịnh tĩnh, vì vậy, mỗi bước ngài di động, có nhiều người
thèm khát. Họ thấy người đàn ông này kinh hành, "Người này đã chứng ngộ rồi,
và đó là con đường để đạt ngộ." Họ vẫn chưa xả ly tham ái của họ. Nhìn thấy
Đức Phật, họ thèm khát Phật tánh!
Vẫn như vậy. Bạn thấy một
chiếc xe Cadillac chạy ngang qua, tham ái dấy khởi. Bạn phải có nó! Khi bạn thấy
Đức Phật đi ngang qua, tham ái nẩy sinh. "Tại sao tôi không có sự tao nhã
của ngài? Tại sao tôi không có sự tịnh tĩnh huyền diệu đó? Tại sao tôi không
tràn đầy hỷ lạc như ngài? Tại sao tôi không được như vậy?" Tham ái dấy khởi.
Vẫn tham ái đó! Khi bạn trông thấy một cô gái xinh đẹp đi ngang qua với người
nào, vợ của người khác, và bạn bắt đầu luyến ái rồi, "Tại sao tôi không có
được người vợ đẹp như vậy? " Vẫn cuộc chơi đó trên một bình diện khác, với
đường lối khác hơn, nhưng với mưu mẹo khác hơn. Vì vậy, khi nhìn thấy Đức Phật,
có nhiều người sinh ra tham ái. Họ xả ly, nhưng họ xả ly với những lý do sai lầm.
Sự xả ly của Đức Phật là sự tăng trưởng tự nhiên của trí huệ. Sự xả ly của họ vẫn
trực thuộc sự tham ái cũ đó. Xảy ra quá nhiều lần là tuy họ nỗ lực tu tập,
nhưng họ vẫn đang chờ đợi qua khoé mắt của họ. "Khi nào nó xảy ra
đây?"
Tôi có nghe hai câu
chuyện: Một tu sĩ bảo Thiền sư Seijo (55), "Tôi nghe nói có một vị Phật
quá khứ, tham thiền tới mười kiếp mà vẫn không thể đặng giải thoát. Tại sao lại
như vậy?" Seijo đáp, " Câu hỏi của ngươi đã là sự giải đáp cho ngươi
rồi." Lần nữa, vị tu sĩ vẫn nhất định, " Từ ngày vị Phật đó tham thiền,
tại sao ngài lại không thể giác ngộ?" Seijo trả lời, "Bởi ngài là một
vị Phật."
Thật là một câu trả lời
rất tuyệt vời, và cũng là một sự thật. Không những tuyệt diệu, mà còn là một sự
thật nữa. Seijo phát biểu một lời nói đầy sức chấn động. Khi bạn là Phật và bạn
nỗ lực để thành Phật, bạn sẽ thất bại. Phật không phải là mục tiêu mà là nhận
thức. Không phải là một điều gì đó xảy ra trong tương lai. Không phải là một
cái gì đó mà bạn phải chuẩn bị. Nó đã sẵn có... chỉ sự nhận thức.
Một câu chuyện nữa sẽ
giúp bạn hiểu rõ hơn. Một giai thoại thiền kể về một người hành hương cỡi ngựa
vượt không biết bao nhiêu dãy trường sơn và những dòng sông cuồn cuộn, tìm đến
một bậc thông thái để vấn ông làm cách nào có thể đạt giải thoát. Sau nhiều
tháng tìm kiếm, người hành hương này tìm thấy bậc thiền sư này trong một hang động.
Vị thiền sư này lắng nghe câu hỏi và không nói gì cả. Người tầm đạo chờ đợi. Cuối
cùng, qua nhiều giờ thinh lặng, vị thiền sư nhìn con ngựa của người tầm đạo và
hỏi ông tại sao ông không tìm con ngựa mà lại đi tầm đạo. Người hành hương này
bảo rằng ông đã có ngựa rồi. Thiền sư mĩm cười, và quay về hang động. Vô cùng
rõ ràng! Thiền sư bảo, "Tại sao ngươi không tìm con ngựa? Tại sao ngươi lại
bận tâm về Phật tánh? Người này trả lời, "Ngài nói gì lạ vậy? Tôi đã có
con ngựa rồi. Tại sao tôi cần phải tìm nó làm chi?" Thiền sư không nói thêm,
ngài mỉm cười và rút lui vào hang động, Kết thúc! Ngài đã trả lời rồi!
Bạn đã là Phật. Bạn
không cần tìm kiếm nữa. Đây là thông điệp vĩ đại của tất cả các tôn giáo, rằng
bạn đã là Thượng Đế, và nữ Thần ngụy trang. Bạn quên bạn là ai. Bạn không biết
bạn là ai. Vì vậy, bạn luôn tìm kiếm. Bạn tìm kiếm những gì bạn đã có sẵn rồi.
Do đó, thật là không thể nào tìm ra được... Vì vậy mới có sự tuyệt vọng. Đừng
tìm kiếm. Hãy quán chiếu chân tánh của mọi sự vật.
Hãy nhìn thực tại như
chân tánh của nó. Đó là ý của thiền nhân khi họ bảo, "Hãy sống trong thực
tại." Hãy trực diện thực tại. Không có gì bị đánh mất. Tất cả đều sẵn có rồi.
Hãy lắng nghe nó. Làm ơn đừng lý tưởng hóa nó, nếu không lý tưởng của bạn sẽ
làm cho bạn lầm đường lạc lối.
Vấn đề thứ hai: Bạn bảo...
Nó là một căn bệnh hơn
là một thực tại đầy ân huệ...
Thậm chí, kết quả không
phải là một căn bệnh thực tại... bởi bất cứ khi nào thực tại có mặt, nó là một
ân huệ. Nó không thể là một căn bệnh. Hiện tượng đó không bao giờ xảy ra. Không
thể nào xảy ra chính ngay trong tự tánh của vạn vật. Chính chân tánh của thực tại
không bao giờ là một căn bệnh. Tương lai lúc nào cũng mang đến đau đớn, sự nôn
mửa, sự giao động, và phân tâm. Nếu bạn quá lý tưởng hóa khi sống với thực tại,
bạn sẽ không bị nhiễm căn bệnh thực tại. Không, nó sẽ mang đến bạn một tương
lai khác, và tương lai lúc nào cũng bệnh hoạn bởi tương lai lúc nào cũng tạo
căng thẳng. Tương lai không bao giờ thư giãn. Tương lai đang mời gọi bạn,
" Hãy làm điều này... Hãy làm điều kia. Hãy thành toàn tôi." Tự nhiên
rằng, sẽ có sự thất vọng tràn trề bởi tương lai không bao giờ đến. Nó không thể
thành toàn. Ngày mai không bao giờ đến... để bạn hy vọng tương lai. Ngày mai
khi nó đến thì chính là ngày hôm nay. Bạn không biết cách sống cho ngày nay. Bạn
lại lầm lạc lần nữa và bạn thất vọng mỗi ngày một nhiều thêm. Càng khao khát, bạn
càng hy vọng, và bạn sẽ càng thất vọng. Vì vậy, tương lai mới mang đến sự bệnh
hoạn.
Hãy nhớ rằng, với lý tưởng,
hiện tại sẽ hoàn toàn bị quên lãng . Thậm chí, có lẽ đây là lý tưởng sống cho
thực tại, nhưng mọi lý tưởng sẽ làm cho bạn phân tâm. Nó không xảy đến trong một
căn bệnh thực tại thay vì là một thực tại đầy ân huệ bởi tôi chưa bao giờ nghe
qua căn bệnh thực tại. Mọi khoảnh khắc của thực tại đều tràn trề ân huệ,
"Sự sống tràn trề ân huệ..." Bạn bảo, "...thống nhất với hiện tại,
quá khứ và tương lai." Bạn không hiểu. Thực tại ân huệ không biết gì về
tương lai, quá khứ hoặc thực tại thì làm sao nó có thể thống nhất chúng? Nó
không biết gì về chúng. Khi bạn sống trong hiện tại, sẽ không tương lai và quá
khứ. Toàn bộ phân chia đồng biến mất. Khi bạn sống với thực tại, sẽ không có
quá khứ vị lai... và, dĩ nhiên là nếu không có quá khứ và vị lai thì làm sao có
hiện tại? Hãy hiểu rõ nó! Hiện tại chỉ hiện hữu giữa quá khứ và tương lai, nó nằm
ở giữa. Đây là định nghĩa trung dung. Xả ly quá khứ và tương lai rồi thì nó hiện
hữu tại đâu? Nó biến mất rồi. Thậm chí, chính hiện thực cũng không được gọi là
hiện thực... Nó là vĩnh hằng, vô tận... Vì vậy, đừng cho là nó là sự tổng hợp...
Một sự thống nhất tuyệt vời. Thống nhất cái gì? Không phải là quá khứ! Làm sao
cách nào bạn có thể hợp nhất cái vốn không sắn có? Tương lai cũng không phải
thì làm sao bạn có thể hợp nhất? Bởi tương lai và quá khứ, ảo tưởng về hiện tại
đã được tạo ra. Làm cách nào bạn có thể thống nhất ảo tưởng đây? Một bản nhạc
không bị ràng buộc bởi thời gian. Vì lý do đó tại sao kinh điển cổ bảo rằng Thượng
Đế vượt thời gian. Đại định vượt trên thời gian...
Câu hỏi thứ hai:
Con đường tìm đến ánh sáng giác
ngộ là gì? Một con người say sưa có thể là một hành giả hay không? Khái niệm
hành giả là gì?
Trước nhất: "Con
đường tìm đến ánh sáng giác ngộ là gì?" Không có con đường nào cả. Thực tại
tuyệt đối là vô lộ. Nếu bạn tìm lộ trình, bạn đang tìm kiếm mục tiêu. Lộ trình
ước định mục tiêu. Không có mục tiêu sẽ khó lộ trình. Mục tiêu ước định tâm
tham ái, và tâm tham ái là trần cảnh, trần cảnh của bóng tối, thống khổ và tù
ngục. Đừng hỏi về lộ trình. Thiền vô lộ. Vì vậy, nó là một nghịch lý. Bạn hỏi...
Con đường tìm đến ánh
sáng giác ngộ là gì?
Cho phép tôi kể cho bạn
nghe hai giai thoại: Chúng ta không bao giờ rời bỏ LỘ TRÌNH khoảnh khắc nào cả,
Thiền bảo. Cái mà chúng ta có thể bỏ đi không phải là LỘ TRÌNH. Bình minh và
hoàng hôn. Sinh và tử, chúng ta không bao giờ rời khỏi nó giây phút nào cả. Tại
Trung Hoa có một vị Đại Thiền sư, có một hôm, có một tu sĩ hỏi ngài, "Đạo
là gì?" "Ngoài hàng rào ở đằng kia." Triệu Châu trả lời ngay,
"Đạo à? Đúng rồi. Nó ở kia kìa, ngoài hàng rào đó." Nhưng vị tu sĩ vẫn
hỏi, "Không phải vậy đâu. Tôi không phải hỏi về con đường mòn ở ngoài hàng
rào đâu." Tu sĩ bảo, "Đạo là gì? Đó là ý của tôi." Ý của ông là
Đạo của vũ trụ. Ý của bạn là lộ trình tìm đến ánh sáng giác ngộ." Ông bảo,
"Tôi không ám chỉ con đường mòn vượt ra ngoài hàng rào. Đừng nói ngớ ngẫn!
Tôi đang ám chỉ Con đường, Đạo hay là Pháp kìa. Tôi đang đề cập đến con đường
tìm đến Thượng Đế." Thiền sư Triệu Châu nói, "Con đường Đạo lớn chính
là con đường dẫn đến thủ đô."
Con đường xa lộ, Thiền
sư Triệu Châu chỉ đùa giỡn, nhưng bằng lòng từ bi lớn lao. Ngài đang dạy,
"Đừng hỏi về con đường nào cả, bởi mọi con đường đều sai lạc." Lộ
trình có nghĩa là bạn phải đi đến một nơi nào đó. Bạn phải rời bỏ nơi mà bạn
đang sống. Thượng Đế hiện hữu nơi đó rồi! Chân lý hiện hữu ngay ở bạn. Bạn đi
sai lộ trình. Bạn đang đi lạc, và bạn hỏi phương tiện mau lẹ để đạt được mục
tiêu. Chưa có một khoảnh khắc nào mà bạn rời khỏi mục tiêu cả. Vì vậy, họ đã dạy...
Chúng ta chưa bao giờ rời
Đạo một khoảnh khắc
Cái mà chúng ta rời bỏ
không phải là Đạo.
Sáng, tối, sinh và tử,
chúng ta không rời khỏi chúng dù chỉ một giây phút..."
Thật không thể nào rời
khỏi Thượng Đế. Thượng Đế là sự sống của bạn. Bạn hít thở trong ngài. Trái tim
bạn đập nhịp với ngài. Các động mạch rung động trong ngài. Bạn sinh trong ngài
và bạn sẽ diệt trong ngài. Làm sao bạn có thể rời ngài? Không thể nào có thể rời
bỏ Thượng Đế. Phút giây bạn rời bỏ Thượng Đế, bạn không còn sinh tồn nữa. Thượng
Đế chính là sự sống, nhưng ngôn ngữ tạo ra vấn đề. Vì lý do đó, tại sao tôi bảo
rằng tốt nhất là nên sử dụng từ ngữ "Sự sống" với chữ Hoa S thay vì
"Thượng Đế" bởi bạn sẽ không hỏi thêm những câu hỏi ngu xuẩn nữa.
"Con đường tìm đến SỰ SỐNG là gì?" Hmmm... Như vậy thì kỳ quá. Bạn có
thể hỏi câu hỏi ngu xuẩn khác. "Con đường tìm đến Thượng Đế là gì? Tìm đến
ánh sáng giải thoát là gì?" Chuyện gì xảy ra ở đây vậy? Bạn không thấy là
vạn vật là vĩnh cửu hay sao? Khoảnh khắc này sự vĩnh cửu đang chứa đựng trong
nó đó? Vạn hữu vẫn như vậy, và vạn hữu sẽ luôn nằm trong khoảnh khắc này? Bạn
còn muốn sự vĩnh cửu nào nữa đây? Đừng tham lam quá. Sự tham lam này sẽ gây rắc
rối cho bạn. Nó sẽ gây nên sự căng thẳng vĩnh cửu đó.
Bạn hỏi: "Con đường
tìm đến ánh sáng giác ngộ là gì?"
Không có bóng tối! Thậm
chí, bóng tối cũng là ánh sáng. Bạn chỉ cần đôi mắt để nhìn... Bạn có thấy rằng
con chim cú có thể nhìn thấy rất rõ ràng trong đêm hay không? Chúng có đôi mắt
để nhìn. Có một bậc Ấn Độ huyền môn, người sáng lập ra hệ thống triết lý
Vashishta (56). Ngài có rất nhiều danh hiệu. Người Ấn Độ có thói quen đặt nhiều
danh hiệu cho người mà họ ưa thích. Có một tên cực kỳ trọng đại. Danh hiệu đó của
ngài là Oulukya... Con Chim Cú. Có vẻ kỳ lạ khi gọi Đức Huyền Nhân này là Con
Chim Cú. Tại sao? Tại sao lại gọi ngài là Con Chim Cú? Ngài được xưng tụng là
Con Chim Cú bởi vì thậm chí trong đêm đen ngài vẫn nhìn thấy ánh sáng, thậm chí
trong cõi tục này, Thượng Đế, tử thần, cõi vĩnh cửu, khoảnh khắc này, sự vô tận,
thậm chí, trong nhục thân, hóa thân, đau khổ và cực lạc ngài cũng nhìn thấy, bởi
ngài có thể nhìn thấu suốt vạn vật. Cho nên, ngài có danh hiệu là Oulukya...
Con Chim Cú.
Tôi yêu thích danh hiệu
này. Chúng ta đặt nhiều danh hiệu tuyệt diệu cho Đức Phật, Mahavira nhưng không
có danh hiệu nào có thể so sánh được với danh hiệu này của ngài. Vô cùng đặc biệt,
Con Chim Cú. Nhân vật trí tuệ đó trở thành con Chim Cú. Thậm chí trong sự phủ định,
ông cũng thấy sự khẳng định. Trần cảnh không còn là trần cảnh. Nó trở nên thánh
thiện. Trần tục không còn là trần tục. Nó sáng rực với sự vô thượng. Cho nên, mỗi
khoảnh khắc là một kỳ diệu, huyền bí...Vì vậy, không cần phải tìm kiếm đâu xa,
và đừng hỏi," Con đường tìm đến ánh sáng giác ngộ là gì?" Ánh sáng
giác ngộ là bây giờ và hiện tại. Bạn đang tìm về đâu? Nếu bạn tìm một nơi chốn
nào đó, bạn sẽ xa dần ánh sáng giác ngộ. Ánh sáng giác ngộ đang trong bạn, ngay
ở giây phút này bởi bạn là căn nguyên! Hiện tượng này cần phải gõ vào bạn càng
nhiều càng tốt. Bạn là bây giờ. Bạn là khởi nguyên, và bạn chưa từng rời khỏi bất
cứ giây phút nào hết. Hãy nhận thức nó! Hãy mở lớn đôi mắt bạn và nhận thức nó!
Thời cổ, có một đệ tử của
Đức Phật, Vasubandhu (57). Ông nổi danh là một nhân vật rất thánh thiện. Ông được
vinh danh bởi sự chánh niệm cần mẫn của ông, những ngày tháng dài nguyện cầu,
tham thiền, xả ly và thanh tẩy. Ông là một nhà khổ hạnh, một trong đệ tử lớn
trong những đại đệ tử của Đức Phật. Để chuyển hoá ông, Tổ Sayata (58) yêu cầu một
trong các đệ tử của Vasubandhu... Tổ Gayata là một trong những đệ tử đã giác ngộ
của Đức Phật. Ngài không nổi tiếng như Vashubandhu, bởi loài người thường chú
trọng đến những vấn đề vô minh hơn. Đâu có ai để tâm đến giải thoát. Nếu bạn chứng
ngộ, sẽ không có tờ báo nào loan tin này. Nếu bạn giết ai thì bạn sẽ được loan
tin ngay. Nếu bạn trở thành là một nhà tu sĩ khổ hạnh lớn lao, nếu bạn không
hành hạ thân thể bạn, mỗi buổi sáng, bạn không đánh đập bạn, tên của bạn sẽ
không được đăng trên trang báo đầu tiên.
Vì vậy, Vasubandhu được
xem là một tu sĩ nổi danh nhất, dù ông vẫn chưa chứng ngộ. Gayata thì không được
nhắc nhở đến, chỉ có một vài người hiểu và nhận thức ông. Gayata muốn chuyển
hoá cái nhìn một chiều của Vashubandhu... lối sống tàn bạo và khổ hạnh của ông.
Ngài muốn ông phải cảnh giác rằng... "Ngươi chỉ làm một việc dư thừa mà
thôi. Thượng Đế đã có mặt tại đây rồi! Ngươi không cần bỏ đói ngươi. Ngươi có
thể ăn uống bình thường. Thượng Đế không chống đối thực phẩm. Ngươi sẽ không bị
lỡ cơ hội gặp ngài. Giấc ngủ cũng hoàn toàn thuộc về tâm linh. Ngươi có thể mặc
y phục khi trời trở lạnh. Ngươi có thể ngồi trong bóng mát khi trời quá nắng.
Ngươi không cần phải đứng ngoài nắng bởi ngươi là một tu sĩ khổ hạnh. Điều đó
nói lên sự tôn kính của ngươi đối với Thượng Đế. Thật ra, đây là một sự thiếu
tôn trọng khi Thượng Đế muốn vào trong bóng mát, còn ngươi thì muốn đứng dưới nắng
bởi ngươi là một tu sĩ khổ hạnh trong khi Thượng Đế lại muốn được vào trong
bóng mát! Thượng Đế đã van nài ngươi, "Vasubandhu, hãy tìm bóng mát
đi!" Nhưng làm cách nào ngươi có thể tìm ra? Sự tu tập của ngươi biến
thành cuộc hành trình của bản ngã. Thượng Đế phán, "Ta đói lắm rồi,
Vasubandhu", nhưng ngươi lại bảo, "Hãy giữ yên lặng! Ma vương, đừng
ngăn cản ta, đừng quấy nhiễu ta. Ta là một nhà khổ hạnh và ngày hôm nay là ngày
tuyệt thực của ta. Có quá nhiều lần ngươi hiểu lầm thánh âm của Thượng Đế là Ma
vương. Hãy nhớ rằng: Tự tánh là thánh thiện. Đừng cho nó là ma quỉ. Gần như lúc
nào ngươi cũng cho nó là ma quỉ. Tự tánh là tối thượng. Sự vô tự tánh mới là ma
quỉ."
Có lẽ Gayata quan sát
thấy xảy ra quá nhiều lần cho nên ông quan tâm, "Vị tu sĩ này càng ngày
càng nổi danh." Bạn càng nổi danh chừng nào, bạn càng khó mà vượt qua hành
trình tu tập.
Vì vậy,
Sayatu đã yêu cầu một
trong các đệ tử của Vasubandhu...
Vasubandhu có rất nhiều
đệ tử. Tất nhiên rồi, mỗi khi bạn làm một việc gì kỳ lạ, một việc gì vô minh, bạn
sẽ có nhiều môn đồ. Nếu bạn bình thường, thật khó mà tìm được người môn đồ nào,
rất khó khăn, vô cùng khó khăn. Nếu bạn làm một việc gì có vẻ điên khùng, mọi
người sẽ có hứng thú ngay, và họ bị kích thích. Ngài hỏi một trong những đệ tử
của Vasubandhu, "Ông ta có đạt Phật tánh bởi sự khổ hạnh và sự chuyên cần ở
sự giữ giới luật?" Đệ tử này đáp, "Với sự thành tâm như vậy, làm sao
mà thầy của chúng con không đặng được giải thoát?" Gayata bảo, "Thầy
của ngươi còn xa Đạo lắm. Dù là ông tu tập chuyên cần trong nhiều năm, nhưng
chúng chỉ có tính cách đồng bóng mà thôi." Đệ tử này hỏi, "Như vậy,
phải tu tập như thế nào, thánh tăng mới đặng giải thoát mà ngài lại dám phê
phán thầy của chúng tôi?" Tổ Sayata đáp, "Ta không tầm đạo cũng không
rơi vào cái nhìn cực đoan, hoặc khiêm tốn sùng kính Đức Phật hay là trở nên kiêu
mạn, không tu tập nhiều giờ thiền định hay là trở nên biếng nhác. Không tuyệt
thực cũng không ăn quá độ. Tôi không mãn nguyện lẫn mãn nguyện. Không có tham
ái trong ta. Cái này được gọi là Đạo." Ngài trả lời rất rõ ràng là không
phải là ở vấn đề tầm Đạo, bởi nó đã sẵn có trong ta, nhưng tự tánh là chúng ta
đơn thuần sống trong nó.
Hãy nhớ kỹ giai thoại
này. Sayata dạy, "Ta không quá cực đoan. Ta trung dung. Ta không tuyệt thực.
Ta không ăn quá độ. Ta không thái quá, không quá độ. Ta luôn tĩnh lặng và tự tại
ở đoạn giữa. Ta không kiêu mạn cũng không khiêm tốn."
Một lời phát biểu tuyệt
diệu, "Ta không kiêu mạn cũng không khiêm tốn." Người khiêm tốn là
người kiêu mạn đứng ngược đầu. Khiêm tốn là một trạng thái kiêu mạn đối ngược lại...
nhưng vẫn cùng một chiếc xe. Chiếc xe vẫn không thay đổi. Trước tiên, bạn chứng
minh với thế giới là bạn "là một người nổi danh" Và có một ngày bạn sẽ
chứng minh, "Ta vô ngã." nhưng bạn vẫn phải chứng minh. Bạn luôn phải
chứng minh rằng bạn, "Tôi không là ai hết." Nhưng đàng sau ý tưởng
"Tôi không là gì cả... khiêm tốn, như hạt bụi dưới chân ông." vẫn là
một sự xác nhận. Có một cái ngã đàng sau nó. Người khiêm tốn nhất sẽ ẩn tàng
ngã tính vi tế nhất. Hãy quan sát người được xem là khiêm tốn. Họ cho rằng họ
khiêm tốn... Bạn sẽ khám phá cái ngã vô cùng vi tế ở mã ngoài của họ.
Sayata bảo, "Ta
không khiêm tốn lẫn kiêu mạn. Ta không tham thiền nhiều giờ hoặc xao lãng. Tôi
không mãn nguyện lẫn mãn nguyện bởi không còn ái dục, thì làm cách nào ta mãn
nguyện hoặc không mãn nguyện? Ta không toại ý lẫn bất toại ý. Ta đơn thuần quán
chiếu những trò chơi của tâm. Ta không còn huyễn tưởng. Điều này mới gọi là Đạo."
Nếu bạn rơi vào không
gian của tỉnh thức, bạn đã đạt Đạo. Sự quán chiếu này luôn hiện hữu nơi chốn
đó. Bạn chỉ cần nối kết với nó.
Con đường tìm đến ánh
sáng giác ngộ là gì?
Lộ trình không phải là
từ bên ngoài, mà là bên trong. Và nó không phải là lộ trình... Nó là sự tỉnh thức.
Câu hỏi thứ hai bạn hỏi...
Người say sưa có thể là
một hành giả hay không?
Tại sao không? Nếu người
tham vọng quyền lực có thể, người tham dục có thể, và người tham ngã có thể thì
tại sao người say sưa lại không thể? Loại người này nguy hiểm hơn... chính trị
gia, loạn trí, say sưa quyền lực là người nguy hiểm nhất. Người say sưa không
nguy hiểm bằng. Người say sưa cùng lắm là huỷ diệt họ thôi. Họ đang tự sát,
nhưng các chính trị gia thì có thể tiêu diệt toàn thế giới. Họ là những kẻ sát
nhân. Tự sát, thật ra, là sự tự do của bạn. Nếu bạn muốn tự tử, đây là sự lựa
chọn và quyết định của bạn. Đây là cuộc đời của bạn. Người say sưa là tự sát,
nhưng người đầy ngã tính, người tham vọng quyền lực, họ là những kẻ sát nhân. Họ
thật sự là loại người nguy hiểm. Chua chát là các chính trị gia thường nhiều lần
tuyên bố là họ sẽ hoàn toàn cấm đoán rượu chè. Bạn có nghe qua trong lịch sử thế
giới, có người say nào mà làm gì có hại cho thế gian hay không? Họ có thể làm
sao đượ gì? Cùng lắm là họ lọt vào vũng bùn mà thôi. Cho nên không sao. Đó là sự
tự do của họ. Có lúc họ la lối trong đêm, nhưng không sao hết, nhưng người say
sưa quyền lực, họ là những nhân vật tối nguy hiểm. Bạn biết không? Adolf Hitler
là người chống đối rượu chè. Ông là một thánh nhân, không thuốc lá... Ông không
bao giờ hút thuốc. Ông chống đối hút thuốc. Ông không ăn thịt... Điều này thật
lạ lùng... Một người ăn chay trường, không rượu chè, hút thuốc, và vô cùng kỷ
luật. Ông thường thức dậy trong Brahmamuhurta (59), thật sớm vào mỗi buổi sáng
suốt cuộc đời của ông, thường đi ngủ rất sớm. Bạn không tìm được lỗi lầm nào
qua nhân cách của ông. Nhân cách của ông thật toàn hảo... toàn hảo như Thánh
Gandhi vậy, nhưng rồi chuyện gì đã xảy ra?
Những loại người với cá
tính như vậy thường chứng minh rằng họ là những nhân vật nguy hiểm nhất thế giới.
Nếu họ uống rượu một chút thì có lẽ mọi sự sẽ tốt đẹp. Như vậy, họ sẽ không
tham vọng quyền lực kinh khủng như vậy. Có lẽ họ sẽ nằm lăn lóc trong vũng bùn
nào đó, và quyền lực của họ đã không phát triển nhanh như vậy. Nếu ông tham đắm
phụ nữ, như vậy ông sẽ không nguy hiểm lắm. Có gì trong tính cách đó? Bởi vì họ
là người có nhân cách, họ đã đưa toàn thế giới đến điểm mà toàn bộ nhân loại phải
đi vào đường diệt vong, toàn bộ quá khứ, và toàn bộ tâm thức của nhân loại. Hãy
đề phòng loại thánh nhân này!
Không có gì sai lầm hết.
Nếu bạn là một chính trị gia, tôi sẽ có một chút ngần ngại phải điểm đạo để bạn
trở thành hành giả. Nếu bạn là đệ tử Lưu Linh, không sao cả. Bạn có thể trở
thành hành giả. Có lẽ khi bạn là hành giả, cuộc đời bạn thay đổi, bởi người say
sưa là người tín ngưỡng. Phải hiểu như vậy. Rượu có một chút đạo trong đó. Do
đó, nó mới kích thích như vậy. Sự hấp dẫn của rượu là gì? Nó giúp bạn quên bạn,
giúp bạn quên đi ngã tính của bạn, giúp bạn quên đi mọi đau khổ, mọi căng thẳng,
và mọi lo lắng. Nó giúp bạn trốn chạy thế gian. Thế giới này là một địa ngục.
Nó cho bạn cánh cửa riêng để bạn có thể đi vào thế giới khác. Ít nhất cũng một
vài giây phút, một vài giờ, bạn không còn thuộc về những mối giao dịch xấu xa.
Bạn sống trong huyễn tưởng đẹp đẽ. Nó cho bạn nhiều giấc mộng đẹp.
Vì vậy, tất cả mọi tôn
giáo đều chống đối rượu bởi rượu là một sự cạnh tranh. Tôn giáo cũng cho bạn một
cánh cửa để trốn chạy thế gian này. Tôn giáo cho bạn nhiều phương tiện để giúp
bạn lìa bỏ bản ngã, ít ra là mãi mãi. Rượu chỉ có tính cách tạm thời. Tôn giáo
giúp bạn lâu dài hơn, có thể giúp đỡ bạn nhiều đến mức độ không những mọi lo lắng
đều được quên lãng mà còn buông bỏ vĩnh viễn. Rượu là biện pháp rất tạm thời,
nên mới có sự cạnh tranh.
Sự hiểu biết của tôi về
rượu là tất cả tôn giáo đều chống đối nó bởi họ thấy rằng: Rượu là sự cạnh tranh.
Nếu ai cũng trở thành đệ tử Lưu Linh thì họ sẽ không còn lưu tâm đến tôn giáo.
Họ sẽ có phương tiện riêng. Tại sao họ lại bận tâm đến Mahavira và thiền của
ông, Đức Phật và thiền của ngài? Họ phải mất nhiều thời gian và nhiều gian khổ,
một con đường tắt. Họ vào toilet là xong chuyện. Trong một vài phút họ là Phật.
Tôi có nghe một câu chuyện về một quân nhân, một người say sưa. Vị tướng lãnh
có lần tuyên dương ông bởi ông là một người rất tốt, được mọi người quí mến. Vị
tướng này bảo, "Hãy nghe nè. Anh là một quân nhân rất tốt và được mọi người
yêu mến. Tại sao anh không cai rượu đi? Nếu anh cai rượu, thì bây giờ anh đã là
đại úy rồi."
Người này cười lớn nói,
"Ngài cho là như vậy à? Lúc tôi say sưa, tôi là một vị tướng. Ai mà bận
tâm chi đến cái lon đại úy chứ?' Mỗi đêm say sưa qua rượu, tôi là một vị tướng
quân... và ngài lại khuyên tôi chỉ nên là một đại úy thôi à?"
Rượu là cánh cửa cá
nhân đi vào tôn giáo. Không là một cánh cửa tốt, chỉ tạm thời, nhưng theo hiểu
biết của tôi nhân loại sẽ vẫn là đệ tử Lưu Linh cho đến khi tôn giáo trở thành
rượu của nó, cho đến khi có nhiều người tìm đến tôn giáo, nếu không rượu vẫn tồn
tại. Rượu không thể chấm dứt từ thế giới này. Tôi không chống đối rượu. Tôi ủng
hộ mọi người hướng về tôn giáo, về thiền và cầu nguyện. Khi họ cầu nguyện, khi
họ tìm thấy được hướng đi chân chính, họ sẽ không còn ghiền rượu nữa, nhưng hướng
đi chân chính cần phải xảy ra trước. Tôi không nói bạn phải bỏ hết mọi thói
quen dùng rượu. Không thể xảy ra. Tôi không yêu cầu điều không thể được. Tôi chấp
nhận giới hạn của bạn. Tôi tôn trọng điều này và tôi tôn trọng sự giới hạn của
bạn. Tôi không kết án. Nếu bạn là người ghiền rượu, tôi hiểu bạn. Tôi cảm thấy
tội nghiệp cho bạn, và từ bi với bạn. Tôi biết bạn đang gặp khó khăn. Nhất định,
bạn đang lo lắng, buồn phiền, đau khổ. Sự sống đã ngoài sức chịu đựng. Nhất định,
nó đã ăn sâu trong bạn. Rượu giúp bạn thư giản hơn. Trong giây phút này thì
không có gì là sai. Không sao, nhưng khi bạn chuẩn bị tìm con đường chân chính,
một đồng tiền thật... Hành giả phải như vậy. Hãy tìm đến tâm thái thiền khi bản
ngã biến mất. Khi bản ngã chấm dứt, bạn không cần rượu nữa. Để làm gì? Theo sự
quan sát của tôi là, có nhiều người sau khi thiền rồi, cảm thấy khó uống rượu
được nữa. Mỗi ngày qua, nó trở thành một vấn đề đối với họ. Mỗi khi họ uống rượu,
họ đánh mất hết tất cả những gì họ đạt được qua thiền. Khi họ uống rượu, họ
quên hết tất cả trạng thái cực lạc xuyên qua thiền.
Thiền là phương tiện
tìm quên. Nếu bạn đau khổ, nó sẽ giúp bạn quên đi bao đau khổ. Nếu bạn hỷ lạc,
nó giúp bạn quên luôn niềm phúc lạc. Vì vậy, phương tiện của tôi là giúp bạn
vui vẻ hơn. Khi bạn vui vẻ rồi, sau đó bạn lựa chọn. Tôi không bận tâm nhiều,
và không yêu cầu bạn phải lìa bỏ tất cả. Tôi chỉ bảo, "Bây giờ là sự lựa
chọn của bạn. " Nếu bạn vui vẻ hơn, bạn sẽ không tìm đến rượu để giải sầu.
Nó giúp bạn quên đi tất cả, niềm vui lẫn nỗi đau. Khi dòng thiền luân lưu trong
bạn, không gian tươi thắm hơn, trạng thái hỷ lạc ngộ nhập, bạn sẽ khó uống rượu
được. Thật không thể nào. Tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của bạn. Khi bạn sở hữu một
viên kim cương vô giá, tôi không nghĩ rằng bạn sẽ tìm đếnviên kim cương giả, và
bạn hỏi tôi: " Khái niệm hành giả là gì? " Giống như lúc bạn tìm rượu
vậy, nhưng rượu cho bạn huyễn tưởng, còn hành đạo sẽ giúp bạn tìm đến sự thật...
Câu hỏi thứ ba:
Có phải thật sự buông bỏ tình dục
là phải kinh nghiệm nó?Hình như tâm thân của tôi không bao giờ ngừng đòi hỏi
nó.
Tại sao bạn lại vội vã
buông bỏ nó? Nếu bạn hối hã lìa bỏ nó, bạn sẽ không bao giờ có thể xả bỏ nó được.
Chính sự vội vã này, chính sự khao khát để xả bỏ nó, sẽ không cho phép bạn thấu
hiểu nó hoàn toàn. Làm sao bạn có thể hiểu trọn vẹn khi bạn quyết định là nó
sai, là nó cần phải xả bỏ? Bạn đã phê phán rồi. Bạn không lắng nghe rõ! Hãy cho
dục của bạn một cơ hội. Tôi có nghe về Mulla Narasddin được làm chánh án hòa giải.
Bản án được mang ra tòa, và ông lắng nghe một bên giải thích trước. Sau đó, ông
phán, "Đợi một chút. Đây là lời phán của tôi." Thư ký tòa thắc mắc bởi
ông chưa nghe phe kia phân trần gì cả. Ông nghiêng qua bên Mulla thì thầm,
"Ngài đang làm gì vậy? Kết án rồi sao? Còn bên kia thì sao?" Mulla bảo,
"Ông nói cái gì? Phe kia hả? Ông muốn gây rắc rối cho tôi sao? Mọi vấn đề
rỏ ràng rồi mà? Nếu tôi nghe phe kia nữa thì làm sao tôi có thể kết án họ
đây?"
Nhưng nó sẽ là một sự kết
án? Bạn chưa nghe bên bị cáo trình bày. Bạn chỉ nghe cái gọi là vị thánh của bạn
từ hằng bao lâu nay... Họ rất náo nhiệt. Toàn bộ năng lực dục của họ biến thành
năng lượng chống đối dục. Bạn phải nghe chúng. Bạn không bao giờ cho phép dục
có cơ hội phát biểu ý kiến. Không, cái này sai. Bạn đã thiên kiến rồi. Tại sao?
Ai biết được? Có lẽ nó không phải là cái cần xả bỏ... Vậy thì... Có lẽ tốt hơn
hết là nên giữ nó. Hãy cởi mở. Tôi không bảo bạn gì cả. Hãy mở rộng. Thiền nhiều
hơn. Khi bạn giao tình, hãy để sự suy nghiệm này thông qua hành động tình yêu.
Hãy quán chiếu nó, quên đi tất cả mọi thành kiến mà bạn nghĩ là dục đã bòn rút
bạn. Không phải năng lực dục là vấn đề. Vấn đề là sự đối kháng dục mà tâm đã tạo
sự trụy lạc. Tất cả tôn giáo đều là nguyên nhân trụy lạc. Khi tôi nói rằng tất
cả tôn giáo, tôi không có ý đề cập Đức Phật. Tôi không có ý đề cập Mahavira.
Tôi không có ý đề cập Krishna. Tôi không có ý đề cập Chúa Giê Su hoặc Mohammed.
Tôi có ý những người theo sau. Họ là nguyên nhân, một nguyên nhân rất lớn lao.
Thật sự vấn đề gì xảy ra? Họ quan sát Đức Phật và họ thấy dục biến mất. Cho
nên, họ biến nó thành phương châm, biến nó thành luật, và họ sắp đặt mọi sự lộn
xộn hết. Dục chấm dứt bởi Đức Phật đã đạt căn nguyên nội tại, không phải ngược
lại. Không phải là ngài đã xả bỏ dục nên ngài thành Phật. Ngài thành Phật, nên
dục chấm dứt, nhưng người ngoài quan sát Đức Phật, họ chỉ thấy dục không còn nữa.
Vì vậy, xả bỏ dục sẽ thành Phật. Nếu muốn thành Phật thì xả bỏ dục. Đức Phật
không hứng thú với của cải, vì vậy, họ tư duy, "Bởi ngài không còn vướng mắc
với của cải nữa nên ngài thành Phật."
Đều là những phương tiện
sai lầm! Không phải đi tìm cái Nhân, nhưng sự thiếu hiểu biết cũng có hậu quả
như cái nhân này vậy. Cái Nhân nằm trong Phật tánh. Ngài tỉnh thức từ ngay nội
tại của bản thể. Khi một người đã tỉnh thức, người đó tràn trề hỷ lạc thì còn bận
tâm chi đến tình dục? Ai cần phải van nài giây phút khoái lạc từ người khác làm
chi? Ai là người van nài đây? Khi bạn là một hoàng đế, bạn có cả một kho tàng
vô hạn bên trong, bạn sẽ không yêu cầu cô gái cho bạn giây phút vui thú. Bạn biết
người đó van nài, bạn van nài... Cả hai đều là hai kẻ ăn mày đứng trước mỗi người
với bình bát trong tay, "Xin ban bố tôi giây phút vui vẻ, tôi sẽ cho anh/chị
được vui vẻ." Cả hai đều là hai người hành khất! Làm cách nào mà hành khất
có thể cho bạn được gì? Nhưng tôi không nói điều đó là sai. Khi bạn chưa ngộ Phật
tánh, những hiện tượng như vậy luôn xảy ra cho bạn. Không có gì sai. Trong giây
phút này, đừng phê phán. Phê phán là sai. Bạn cần tỉnh giác hơn, chấp nhận hơn,
thư giãn hơn với năng lượng. Nếu không bạn sẽ gặp nhiều rắc rối như bao bậc
thánh Công giáo hằng thế hệ qua.
Tôi có nghe qua về
Jerome, một bậc thánh Công giáo. Ông chán ghét thân thể ông đến nỗi mỗi ngày
ông đều tự mình đánh đập ông. Máu tuôn ra từng dòng trên cơ thể, và hàng nghìn
người đến để mục kích sự đại khổ hạnh này. Cả hai đều bệnh hoạn. Một người thì
khổ dâm, và người đến chứng kiến hoạt cảnh kinh khủng này là bạo nhân, thích
thú những trò tàn ác. Họ muốn hành hạ con người. Họ có sự khao khát thâm sâu muốn
được hành hạ. Họ không thể thì đến để được ngắm nhìn vị thánh này tự mình hành
hạ mình. Họ rất vui khi được chứng kiến. Cả hai đều bệnh hoạn.
Jerome quy tội thân thể
là "thân ghê tởm", "cái túi nhơ bẩn." Ông hành hạ thân ông
trong hang động qua viễn cảnh của một bầy con gái. Ông miễn cưỡng cho phép kết
hôn, nhưng với sự đầy ác cảm bởi đây là cách duy nhất để sản xuất trinh nữ. Lý
do là: Trinh nữ. Những bản thể trong sạch nhất ở thế gian này. Đây là một tội lỗi
ma quỉ. Vì lý do đó mà ông cho phép kết hôn... Nếu không, nó là một tội lỗi. Một
nhân vật khác, Clement of Alexandria viết, "Mỗi người phụ nữ nên tự hổ thẹn
ở ý tưởng họ là người nữ, vì họ là cánh cửa của địa ngục. "Tôi luôn ngạc
nhiên bởi loại người này. Nếu người nữ là cánh cửa địa ngục, như vậy sẽ không
có người nữ nào có thể bị đày vào địa ngục bởi cánh cửa không thể tự mình bị
đày được. Người nam có thể thông qua người nữ để đi vào địa ngục. Tốt lắm,
nhưng còn người nữ thì sao? Nhất định, họ đều được lên Thiên đường. Tất nhiên rồi!
Còn người nam thì sao? Những kinh điển được viết bởi người nam và họ đều cho họ
là thánh nhân. Trong thực tế, phụ nữ không bao giờ bị loạn thần kinh cả, bởi vậy
bạn không nghe người nữ nào trở thành thánh nhân. Họ bình thường và bình dị
hơn. Họ không ngu xuẩn như người nam đã chứng minh họ. Họ biết ơn hơn. Bản thể
của họ thông tuệ hơn, bám rễ vào trái đất nhiều hơn và tập trung hơn. Vì vậy, bạn
không nghe có người nữ nào như Clement Alexandria đề cập. Bạn không thấy người
nữ nào có chiều ngang. Bạn không nghe một người nữ nào than phiền người nam là
cánh cửa địa ngục cả.
Không phải là chưa bao
giờ có người nữ trở thành đấng huyền môn. Không, có Meera, và có Rabiya, và có
cả Lalla của xứ Kashmir (60)... nhưng họ không bao giờ kết án. Ngược lại, Meera
bảo rằng sự từ bi là cánh cửa tìm đến Thượng đế. Có một thánh nhân nữa, Origen
(61), tự mình tịnh thân. Đúng là loại người bệnh hoạn thích sát nhân và tự tử!
Tất cả những kiềm chế đó tạo ra mọi sự bệnh hoạn trong thế giới Công giáo. Một
Masoer, Machthild của xứ Magdebug, cảm giác là bàn tay của Thượng Đế đã vuốt ve
ngực của bà. Tại sao lại gây cho Thượng Đế nhiều rắc rối vậy? Nếu bạn muốn trốn
tránh đàn ông, bạn bắt đầu thêu dệt nhiều ảo tưởng, quá huyễn tưởng. Christene
Ebner, một Masoer nữa, tin rằng bà có con với Chúa Giê Su. Có những giáo sĩ mơ
rằng họ giao tình với Đức Mẹ Maria, bởi có quá nhiều sự kiềm nén này mà tu viện
kín, thánh đường trở thành nơi viếng của những linh hồn ma quỉ. Những ác quỉ
này mang hình tướng một là của Succubi - người nữ xinh đẹp nhảy lên giường của
các vị thánh, hay là Incubi - các người nam khôi ngô tuấn tú xâm nhập vào nơi
chốn tĩnh tâm của những Masoers đáng tôn kính nhất.
Căn bệnh học này bắt
nguồn từ Công giáo đến nỗi mọi người ai cũng mơ mộng đủ thứ. Có nhiều bà Sơ thú
tội với quan tòa rằng ma quỉ xuất hiện trong đêm giao tình với họ. Họ còn diễn
tả chức năng sinh lý của quỉ và cơ quan sinh dục của quỉ như cái nĩa vậy. Họ
còn bảo rằng khi họ giao hoan với quỉ rồi thì không có người nam nào có thể làm
cho họ hài lòng được nữa. Quỉ là người tình vĩ đại nhất. Hội chứng bệnh học
này, loại người bệnh hoạn này, đều bị loạn thần kinh hết rồi! Không phải chỉ có
Công giáo mà thôi. Căn bệnh vô lý này, nó xảy ra trên toàn thế giới, nhưng chỉ
có Công giáo là đứng đầu mà thôi.
Làm ơn đừng chống đối dục,
nếu không bạn sẽ rơi vào cái bẫy thèm khát dục nhiều hơn nữa. Nếu bạn muốn loại
bỏ nó, bạn không thể nào loại bỏ nó. Có cách dục tự động chấm dứt, nhưng không
phải là cách chống nó. Nó biến mất khi bạn tìm được nguồn hỷ lạc mới mẻ hơn
thông qua bản thể bạn. Nguồn hỷ lạc thượng đẳng phải khám phá trước, sau đó thì
loại hỷ lạc hạ đẳng này sẽ biến mất theo sự hài hòa. Hãy biến nó thành nền tảng
của cuộc đời bạn. Đừng chống đối loại khoái lạc hạ đẳng... Hãy tìm kiếm nguồn hỷ
lạc cao thượng. Đừng bao giờ chống đối loại khoái lạc hạ đẳng. Khi mà nguồn hỷ
lạc cao thượng rực sáng trong bạn, bỗng nhiên bạn sẽ thấy rằng bạn không còn hứng
thú loại khoái lạc hạ đẳng nữa.
Bạn hỏi: "Có phải
thật sự xả bỏ tình dục là phải kinh nghiệm nó?"
Tôi không nói như vậy.
Tôi chỉ nói rằng nếu bạn kinh nghiệm nó, bạn sẽ thấu hiểu nó. Sự hiểu biết là
nguồn tự do. Sự hiểu biết sẽ giải phóng bạn. Tôi không chống đối dục. Vì vậy, đừng
vội vã cho rằng bạn phải chống đối nó. Nếu bạn muốn lìa bỏ nó, làm sao bạn có
thể hiểu nó? Nếu bạn không hiểu nó, nó sẽ không bao giờ biến mất! Khi nó chấm dứt,
không phải là dục đã hoàn toàn được loại bỏ qua bản thể bạn, không phải là bạn
trở thành một bản thể vô tính. Khi dục biến mất, trong thực tế, bạn càng mẫn cảm
hơn, bởi toàn bộ năng lực của nó bị hút hết bởi bản thể của bạn.
Đức Phật mẫn cảm hơn bạn.
Xúc giác của ngài có cường độ hơn. Khi ngài va chạm, sự va chạm của ngài trọn vẹn
hơn bạn. Khi ngài ngắm một cánh hoa, ngài thấy cánh hoa mỹ lệ hơn bạn bởi năng
lượng từ bi của ngài lan tràn khắp ngũ giác của ngài. Nó không địa phương hóa nữa
mà chan hòa khắp châu thân. Do đó, ngài có hảo tướng hơn bạn. Sự thanh tịnh thù
thắng vi diệu này phát xuất từ đâu? Nó là dục chuyển hoá, biến dạng, và nó cũng
là đống bùn mà bạn công khai chỉ trích và phê phán nó. Vì vậy, không bao giờ
nên chống đối dục. Nó sẽ biến thành hoa sen của bạn. Khi dục biến dạng, bạn sẽ
thấu triệt dục là một tặng phẩm quí báu mà Thượng Đế đã ban cho bạn. Nó là toàn
bộ cuộc đời bạn, là toàn bộ năng lượng của bạn ở cõi hạ phàm. Đây là năng lượng
duy nhất mà bạn có. Vì vậy, đừng thù ghét dục, nếu không chỉ là sự đè nén. Người
đè nén sẽ thiếu hiểu biết, và người thiếu hiểu biết là người không thể chuyển
thể, không bao giờ chuyển hoá...
Câu hỏi thứ tư (Câu hỏi cuối
cùng):
Xin làm ơn giải thích cho con
hiểu hành giả là gì? Ngài đã mang đến cho con nhiều hiểu biết và mở ra một con
đường cho con. Khi con lắng nghe ngài, con yêu âm thanh của ngài và hình ảnh của
ngài cho con thêm sự dũng cảm và nét đẹp toàn vẹn, nguồn hỷ lạc và đau khổ của
toàn bộ vũ trụ, của ngài và con. Con có cảm giác ngài là minh sư của con và với
ý tưởng ngài là người con yêu quí, nhưng ngài hãy hiểu rằng, điều mà con không
thể hiểu là: con cũng cảm giác câu trả lời từ cây cối, từ vầng mây và đá cuội...Con
cảm nhận ngài là chúng và cũng là con... Chúng ta đồng hợp nhất. Điều mà con
không hiểu là nếu con trở thành một hành giả, nếu con có ý chọn ngài trên mọi sự
hay là con sẽ chọn một phần của vạn hữu...nhưng con vẫn chưa cảm nhận ngài là
cái toàn thể.
Tôi có thể hiểu. Bất cứ
người nào có ý tưởng lao mình vào cảnh giới bất khả tư nghì thì người đó thường
phải trực diện một ngàn lẻ một vấn nạn. Bạn hỏi tôi:
Xin làm ơn giải thích
cho con hiểu hành giả có nghĩa là gì?
Không có cách gì giải
thích. Bạn có thể kinh nghiệm nó bằng cách đón nhận nó. Nó không thể giải
thích. Nếu tôi giải thích thì nó sẽ không thấm nhuần trái tim bạn. Nó là một
cái gì đậm đà hương, một kinh nghiệm đang hiện hữu. Nó như là tình yêu. Bạn
không thể giải thích với một người tình yêu là gì nếu người đó chưa từng yêu
ai. Bạn có thể giải thích và hình như có cái gì đó vẫn chưa được giải thích.
Người chưa từng yêu có thể lặp đi lặp lại một chữ "Yêu" nhưng vẫn
không thể biết chính xác nó là gì.
Sannyas như là mộtcâu
chuyện tình. Và người hỏi câu hỏi này, Patricia, đã yêu mến tôi, nhưng tình
thương luôn tạo ra sự căng thẳng, bởi tình thương thường đòi hỏi. Tình thương
mang bạn vào một cuộc hành trình bất khả tri. Tôi muốn giải thích cho bạn nhưng
tôi không thể, bởi chân tánh của nó đã là một sự cản trở rồi. Bạn phải vận hành
vào đó thì bạn sẽ biết nó.
Có hai loại kiến thức
trong thế gian này. Một loại kiến thức mà Bertrand Russel (62) gọi là "Sự
làm quen." Sannyas (63) không bao giờ được dạy loại kiến thức này. Một loại
khác là tình thương. Hành giả có thể học loại hiểu biết này. Bồ Đề Đạt Ma dạy rằng
có hai cánh cửa bước vào Chân lý. Một là cánh cửa bên ngoài, và một cánh cửa nữa
nằm bên trong. Cánh cửa bên ngoài quanh co và không có thể dẫn đến một nơi nào
hết. Đó là triết lý. Một cánh cửa nữa là tôn giáo. Đó là cánh cửa nội tại,
không quanh co khúc khuẩy, đánh vào ngay mục tiêu và biến mất trong đó. Chỉ có
nó biết. Bạn sẽ kinh nghiệm nó. Bạn đang bên bờ vực rồi. Tôi biết bạn không có
cách nào trốn thoát. Không có cách nào để trốn thoát. Bạn đã vượt trên đoạn đường
mà người đó có thể trốn thoát. Bạn đã bị vướng mắc rồi, Patricia.
Bạn hỏi: " Xin làm
ơn giải thích cho con hiểu hành giả là gì?" Còn nhiều kinh nghiệm đang chờ
đợi bạn. Sự hiểu biết mà tôi cho bạn không thể nào so sánh được với những kinh
nghiệm hiểu biết đang chờ đợi bạn. Tôi đã ban tặng bạn điều mà tôi có thể ban tặng
qua từ ngữ. Bây giờ, bạn có thể đón nhận điều mà chỉ có thể được nhận qua sự tịnh
tĩnh. Sannyas là sự tương thông trong tĩnh lặng. Đức Phật vào sảnh đường vào một
ngày với đóa hoa sen trong tay và ngài đã tĩnh tọa trong thinh lặng. Tăng chúng
hội tụ chung quanh ngài... ít nhất hơn mười ngàn người. Họ vô cùng bối rối và
nóng nẩy. Ngài không nói điều gì cả. Ngài chỉ tĩnh tọa và ngắm nhìn đóa hoa sen
trong tay. Hằng giây phút và cuối cùng một giờ trôi qua, và bỗng nhiên Ma Ha Ca
Diếp (Mahakashyap), một trong các đại đệ tử của ngài, phá lên cười lớn, cười
như mất trí.
Đức Phật nhìn Ma Ha Ca
Diếp, gọi ông đến, trao cho ông cánh hoa sen, nói với thánh chúng, "Những
gì ta có thể giảng ta đã giảng hết cho các con rồi, và những gì không thể diễn
đạt trong văn tự, ta trao truyền cho Ma Ha Ca Diếp." Ma Ha Ca Diếp trở
thành Tổ thứ nhất trong thiền.
Tâm Ấn gì đã được trao
truyền đến ngài Ma Ha Ca Diếp vậy? Ma Ha Ca Diếp được điểm đạo với tâm ấn gì đó
bất khả tri, không thể định nghĩa, không thể diễn đạt qua từ ngữ, không thể giải
thích nhưng có thể thấu triệt. Sannyas là sự chuyển đạt một điều gì đó vượt
trên giới hạn từ ngữ, tâm truyền tâm vượt trên mọi kinh điển. Patria, có nhiều
nguồn trí huệ sẽ tìm đến bạn, nhưng chúng vẫn còn nằm trong giới hạn của tri thức.
Có những kinh nghiệm gì sinh động hơn nữa, một thực chứng gì đó hơn sự sống mà
tôi đang mang đến giùm bạn, và đang chờ đợi. Nó chỉ có thể xảy ra qua hành đạo.
Sannyas là cử chỉ từ bạn mà bạn đã không có sự phòng vệ, rằng bạn sẽ không
phòng vệ, rằng bạn trở nên yếu đuối với tôi. Thậm chí, nếu tôi giết bạn, bạn vẫn
sẵn sàng chết... với lòng biết ơn. Sannyas là vậy. Sannyas tức là sự tin cậy.
Hiện tại những gì mà bạn đã hiểu, bạn phải hiểu. Bạn tin cậy chính bạn. Sannyas
là sự đang tin cậy tôi. Nếu bạn có thể tin cậy chính bạn, bạn có thể vượt xa
hơn đó nữa, nhưng không thể vượt trên nó.
Ngài đã mang đến cho
tôi nhiều sự hiểu biết và mở ra một con đường mới cho con...
Nhưng con đường vẫn
chưa được mở rộng. Tôi đã mở rộng những con đường. Chúng là những con đường bên
ngoài hàng rào, và có một con đường hướng về thủ đô, nhưng con đường này, con
đường vô lộ, vẫn mở rộng... và nó chỉ được mở ra khi tôi được phép va vào bản
ngả của bạn. Sannyas tức là mở rộng trái tim bạn với tôi vô điều kiện.
Khi lắng nghe ngài, con
yêu mến âm thanh của ngài...
Bạn sẽ quí mến sự tĩnh
lặng của tôi. Âm thanh có thể diễn đạt một kinh nghiệm gì đó, nhưng không diễn
đạt tất cả.
... và hình ảnh của
ngài cho con thêm sự dũng cảm và nét đẹp toàn vẹn, niềm hạnh phúc và đau khổ của
toàn bộ vũ trụ, của ngài và con...
Nếu hình ảnh có thể tạo
nên phép lạ này, tại sao bạn lại bỏ lỡ đi cơ hội quí báu? Nếu hình ảnh có thể
làm được điều đó, tại sao bạn lại không ngộ nhập cái Thật? Với hình ảnh, chỉ có
một điều đơn giản: Bạn là minh sư. Bạn có thể đặt hình ảnh của tôi bất cứ nơi
nào bạn muốn. Bạn có thể treo nó trên tường. Bạn có thể ném nó đi. Bạn là minh
sư. Với hình ảnh, bạn thoải mái. Vì lý do đó khi Đức Phật còn tại thế, mọi người
đều trốn tránh ngài. Khi ngài tịch diệt rồi, họ thờ phụng các bức tượng của
ngài hàng nghìn năm. Vẫn loại người trốn tránh vị Phật tại thế và họ luôn thờ
phụng một pho tượng. Tại sao? Với pho tượng, họ là minh sư, với một vị Phật tại
thế, bạn không thể nào là một minh sư được.
Có một giai thoại xảy
ra như vầy. Có một phụ nữ tìm đến họa sĩ Picasso và bảo ông, "Mới ngày kia
tôi thấy chân dung của ngài ở nhà của một người bạn. Nó đẹp quá. Tôi thích nó lắm.
Nó thật đến nỗi tôi cảm giác nó chính là ngài. Tôi thật là thích nó lắm. Tôi thật
vui đến nỗi tôi đã hôn bức chân dung đó." Picasso hỏi, "Nó có hôn bà
lại hay không?" Người phụ nữ đáp, "Ngài đang nói gì vậy? Làm sao một
bức chân dung mà có thể hôn trả tôi lại được?" Picasso bảo, "Nếu vậy
thì nó không phải là tôi."
Patricia, bạn đang đùa
giỡn với các bức hình. Chúng không phải là tôi! Bạn có thể tiếp tục hôn
chúng... Trở thành một hành giả có nghĩa là cho phép TÔI hôn... Nó là một nụ
hôn của tử thần. Nó chắc chắn sẽ sát hại bạn. Nó không bao giờ thất bại.
Con có cảm giác ngài là
minh sư của con và với ý tưởng ngài là người con yêu quí...
Nhưng nó vẫn là cảm
giác của bạn. Bạn không hành động gì cả cho nên nó vẫn còn đó. Cảm giác không
giúp gì bạn cả. Bạn phải cần hành động thật sự. Nó chỉ là cảm giác mà thôi.
Con có cảm giác ngài là
minh sư của con...
Như vậy bạn còn chờ đợi
gì nữa? Hãy để minh sư là minh sư, đệ tử là đệ tử. Tại sao tiếp tục phòng thủ
và tự chống chọi?
Con có cảm giác ngài là
minh sư của con và với ý tưởng ngài là người con yêu quí...
Vâng, vẫn là sự "cảm
giác" Hãy đến gần hơn nữa, trở thành một hành giả, và hãy để nó luân lưu
trong mọi giác quan. Hãy để nó trọn vẹn. Bạn hãy quy phục với minh sư... không
phải chỉ nửa vời.
Một sự quy phục nửa vời
không phải là quy phục. Nó cần phải trọn vẹn. Như vậy nó sẽ là...
...nhưng ngài hãy hiểu
rằng, điều mà con không thể thấu triệt là: con cũng cảm giác lời giải đáp từ
cây cối, từ vầng mây và đá cuội... Con cảm nhận ngài là chúng và cũng là con...
Rất đúng, nhưng cây cối
sẽ không giúp bạn hành đạo, và những vầng mây sẽ không gây nên bất cứ rắc rối
nào cho bạn. Tôi sẽ tạo ra nhiều rắc rối cho bạn. Với cây cối thì không sao. Thật
ra, khi bạn lấy một cái gì đó từ thân cây, nó không phải là từ thân cây. Trước
tiên, bạn phải bỏ một cái gì đó trong cây, và sau đó bạn lấy lại. Nó là trò
chơi. Bạn đặt một cái gì đó trong mây và bạn sẽ lấy nó lại. Đây là là bản ngã của
bạn. Nó rất tốt đẹp, rất thơ...
Với tôi, không là như vậy.
Tôi sẽ cho bạn một cái gì đó, và tôi biết là khi tôi thật sự đổ nó ra, mọi người
đâm sợ hãi. Họ không muốn nhận nó, bởi có nghĩa là họ sẽ hoàn toàn biến mất
trong nó. Nó là tử thần. Sự phục sinh sẽ theo liền sau đó, nhất định rồi! Nhưng
có ai biết về sự phục sinh này? Trước nhất, tử thần phải đến đã.
Con cảm nhận ngài là
chúng và cũng là con...Chúng ta đồng hợp nhất...
Patricia, cô là một thi
sĩ. Tốt lắm! Tôi muốn cô trở thành một nhà huyền môn. Bạn liên kết với cảm giác
quá mức. Tư duy là lộ trình xa thẳm nhất. Cảm giác là gần với nhà. Triết gia là
người xa nhà nhất. Thi sĩ gần với nhà hơn, nhưng vẫn không phải là tổ ấm. Tư
duy, cảm thọ, bản thể, để trở thành một hành giả bạn phải học ngôn ngữ của bản
thể. Nó vượt trên cảm thọ. Nhất định là nó vượt trên tri thức, và vượt trên sự
cảm thọ. Trí não cần phải biến mất, nhưng sẽ có những giây phút mà trái tim
cũng sẽ biến mất. Chỉ có Thượng Đế mới là...
Điều mà con không hiểu
là nếu con trở thành một hành giả, nếu con có ý chọn ngài trên mọi sự hay là
con sẽ chọn một phần của vạn hữu... nhưng con vẫn chưa cảm nhận ngài là cái
toàn thể.
Bạn đã nhìn nó qua một
khía cạnh sai lầm rồi. Bạn không biết vạn hữu là gì. Tôi có thể là một cánh cửa
để bạn bước vào vạn hữu. Tôi không để cho bạn bám víu vào tôi! Bạn chỉ đi thông
qua tôi và thăng cao hơn. Bạn không chọn tôi để chống đối với vạn hữu. Bạn chọn
vạn hữu qua tôi! Bảo vệ hiện tại bạn không thể trực tiếp tìm đến vạn hữu, mà phải
cần một minh sư. Nó chỉ như một hài nhi muốn tập đi. Nó có đủ khả năng để bước
đi, và có một ngày điều đó sẽ trở thành sự thật. Hiện tại, nó chỉ có tiềm năng
mà thôi. Nó cần đôi tay người mẹ. Với đôi tay của người mẹ, nó dũng cảm và tự
tin hơn. Hãy để tay tôi là tay của người mẹ này, hoặc đôi tay của người cha.
Giây phút bạn sẵn sàng, tôi sẽ tự động rút tay tôi ra. Tôi biết, như bây giờ bạn
đang do dự, như vậy, bạn sẽ do dự mà bỏ qua. Mọi người đều do dự. Trước tiên, họ
do dự nắm lấy tay bởi họ sợ bị mất tính độc lập. Sau đó, họ không còn gì để tự
lập nữa mà chỉ là một cái ngã tội nghiệp. Khi tôi chuẩn bị rút tay tôi ra, họ bắt
đầu khóc lóc và van nài, "Xin đừng rời bỏ chúng con."
Tôi cần phải làm cả
hai. Có một ngày tôi nắm tay bạn, và ngày khác tôi phải rút tay ra. Ngày đó tôi
sẽ suy nghĩ, "Bây giờ bạn đã sẵn sàng ngộ nhập với vạn hữu rồi."
Không phải là vấn đề lựa chọn giữa tôi và vạn hữu và phần thể của vạn hữu. Bởi
bạn có cảm giác với tôi, bạn có thể hiểu được điều đó. Vì lý do đó bạn bảo,
"Con cảm nhận ngài là chúng..." Nhưng dù sao nó vẫn chỉ là cảm giác.
Hãy để nó biến thành một kinh nghiệm thực tại. Vấn đề không phải là sự lựa chọn
giữa tôi và vạn hữu. Vấn đề là sự chọn lựa giữa tôi và bạn. Đó là vấn đề bắt
nguồn từ thể tánh Chân Như của bản thể. Sannyas là vấn đề của sự lựa chọn giữa
bạn và tôi... giữa môn đồ và minh sư. Hiện tại, nếu bạn còn vướng mắc với cách
sống của bạn, bạn sẽ đối kháng tôi. Đó sẽ là sự lựa chọn rất là tội nghiệp,
không phải là sự lựa chọn vui vẻ. Bạn không có gì để đánh mất ngoại trừ sự vô
minh của bạn. Bạn không có gì để đánh mất ngoài những mắt xích của bạn. Không
có gì để đánh mất ngọai trừ sự đau khổ của bạn.
Đừng bỏ qua cơ hội này.
Nó rất hiếm khi xảy ra. Khi nó còn tồn tại, hãy dũng cảm. Hãy lao mình vào! Đối
với tôi, bạn đã là một hành giả. Đối với tôi, thực chứng đó đã xảy ra rồi. Có lẽ
bạn phải cần một chút thời gian, một chút suy nghĩ, một chút đợi chờ , nhưng nó
sẽ xảy ra. Vì vậy, đừng nên lãng phí quá nhiều thời gian không cần thiết. Vẫn
năng lượng đó có thể trở thành vô cùng sáng tạo, có thể sinh ra một bản thể mới
trong bạn...
Hết
“Con đường nghịch lí” - Quay về Mục lục - Quay về Mục lục Toàn tập


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment