Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 9)
Chương
10. Người thông minh là nguy hiểm
Câu hỏi thứ nhất:
Thưa
thầy kính yêu,
Điều
đó giống như lái xe đi tới và đi lui đồng thời. Tôi không đi bất kì đâu. Có phải
mồi lửa bật lên hay tôi chỉ là người lái xe tồi?
Ray
Horton, chính ý tưởng về đi đâu đó về căn bản là sai. Chẳng cái gì đi bất kì
đâu cả. Sự tồn tại là bây giờ-ở đây; nó không đi tới định mệnh đặc biệt. Không
có định mệnh, không có mục đích tối thượng. Nhưng chúng ta đã được dạy trong
nhiều thế kỉ rằng sự tồn tại đang đi tới mục đích nào đó và chúng ta cũng đã được
dạy sống một cách tham vọng, để chứng tỏ rằng bạn là cái gì đó, ai đó: "Đạt
tới đâu đó." Nhưng sự tồn tại tuyệt đối vô mục đích.
Tôi
không nói rằng điều đó là không có ý nghĩa. Một cách chính xác bởi vì nó là vô
mục đích nên nó có ý nghĩa, nhưng ý nghĩa của nó không phải là ý nghĩa của bãi
chợ. Đó là một loại ý nghĩa hoàn toàn khác: ý nghĩa của bông hồng, ý nghĩa của
con chim tung cánh, ý nghĩa của thơ ca, âm nhạc. Nó là mục đích tự thân nó.
Chúng
ta không trở thành cái gì đó - chúng ta đã là nó rồi. Đây là toàn thể thông điệp
của tất cả những người đã thức tỉnh: rằng bạn không phải đạt tới cái gì đó, nó
đã được trao cho bạn rồi. Nó là món quà của Thượng đế. Bạn đã ở nơi bạn đáng phải
ở, bạn không thể ở bất kì chỗ nào khác được. Không có đâu mà đi, chẳng cái gì để
đạt tới. Bởi vì không có chỗ nào để đi và không cái gì để đạt tới, bạn có thể mở
hội. Thế thì không vội vàng, không lo nghĩ, không lo lắng, không buồn tủi,
không sợ bị thất bại. Bạn không thể thất bại được. Trong chính bản chất của mọi
sự thì không thể thất bại được, bởi vì không có vấn đề thành công chút nào.
Chính
là ước định của xã hội mới tạo ra vấn đề trong bạn. Và thế rồi bạn bắt đầu
nghĩ, "Mình chẳng đạt tới đâu cả, và cuộc sống đang tuột khỏi tay mình và
cái chết đang tới gần hơn. Mình sẽ làm nó hay không đây?" Và thế rồi có nỗi
sợ lớn về việc bỏ lỡ, thất vọng rằng nhiều thứ thế bị mất. Và ai biết được? -
ngày mai có thể chẳng bao giờ tới cả. "Mình vẫn chưa có khả năng chứng minh
bản thân mình, giá trị của mình. Mình vẫn chưa trở nên nổi tiếng. Mình vẫn chưa
tích luỹ được nhiều của cải. Mình không là tổng thống của đất mước hay thủ tướng."
Hay
bạn có thể bắt đầu nghĩ dưới dạng thế giới khác, nhưng quá trình này vẫn là một.
Bạn có thể nói, "Mình vẫn chưa trở nên chứng ngộ. Mình vẫn chưa trở thành
một Phật hay một Jesus. Thiền còn xa lắc xa lơ. Mình chẳng biết mình là
ai." Và bạn có thể cứ tạo ra cả nghìn lẻ một vấn đề cho bản thân mình.
Tất
cả những vấn đề này được tạo ra bởi vì xã hội muốn bạn tham vọng, và tham vọng
chỉ có thể được tạo ra nếu có mục đích trong tương lai. Có tham vọng, tương lai
được cần tới. Và không tham vọng, bản ngã không thể được tạo ra. Và bản ngã là
chiến lược căn bản của xã hội để cai trị bạn, để khai thác bạn, để áp bức bạn,
để giữ cho bạn khổ. Bản ngã tồn tại trong căng thẳng giữa hiện tại và tương
lai: căng thẳng càng lớn, bản ngã càng to. Khi không có căng thẳng giữa hiện tại
và tương lai của bạn, bản ngã biến mất bởi vì không có điểm nào mà nó có thể có
chỗ trú ngụ, chỗ nó có thể tồn tại.
Do
đó xã hội dạy bạn, "Trở thành cái này, trở thành cái nọ." Nó dạy bạn
việc trở thành. Toàn thể hệ thống giáo dục của nó đều dựa trên ý tưởng về trở
thành.
Còn
điều tôi đang nói với các bạn ở đây chính là điều đối lập của nó. Tôi đang nói
về việc hiện hữu, không về việc trở thành. Trở thành là phát minh của các chính
khách và tu sĩ xảo quyệt - và đây là những người đã đầu độc toàn thể nhân loại.
Họ cứ cho bạn mục đích. Nếu bạn trở nên mệt mỏi về những thứ trần tục - tiền,
quyền, danh - họ có đó để nói với bạn về thiên đường, Thượng đế, samadhi, chân
lí. Lần nữa toàn thể quá trình lại bắt đầu.
Và
dễ dàng bị thất vọng với những thứ trần tục. Sớm hay muộn bạn có thể thấy toàn
thế cái ngu xuẩn của việc có nhiều tiền hay nhiều quyền. Sớm hay muộn bạn
sẽ thấy cái vô tích sự của chính ý tưởng về "thêm nữa," bởi vì cái
thêm nữa chẳng đem lại cái gì khác ngoài nhiều khổ hơn. Nó lấy đi mọi phúc lạc
khỏi bạn, mọi an bình khỏi bạn. Nó có tính phá huỷ. Nó chỉ cho bạn sợ hãi, run rẩy,
lo âu, thần kinh. Nó làm cho bạn thành điên khùng; điều đó có thể được thấy rất
dễ dàng. Nó đã làm cho cả thế gian này thành nhà thương điên.
Nhưng
để thấy rằng các mục đích thế giới khác - niết bàn và moksha và Thượng đế và
thiên đường - cũng hệt như vậy là rất khó. Bạn sẽ cần cực kì thông minh để thấy
rằng những mục đích đó cũng có cùng phẩm chất. Không có thay đổi về chất bởi vì
bạn vẫn nghĩ dưới dạng trở thành, bạn vẫn nghĩ dưới dạng tương lai.
Tương
lai không tồn tại, nó là vô tồn tại. Nó vô tồn tại cũng như quá khứ. Quá khứ
không còn nữa, tương lại thì chưa có; chỉ hiện tại là có. Và trong hiện tại
không có khả năng nào cho ham muốn, không có khả năng nào của tham vọng, không
đủ không gian cho bản ngã tồn tại. Bất kì khi nào bạn ở bây giờ và ở đây đều
không có bản ngã nào được tìm thấy. Bạn là im lặng thuần khiết. Ngay bây giờ...
nhìn điều tôi đang nói đấy. Tôi không đề xuất lí thuyết hay triết lí nào; tôi
đơn giản phát biểu sự kiện.
Ray
Horton, để một giây mà nhìn... chính khoảnh khắc này! Bản ngã đâu? Và những chiều
cao và chiều sâo làm sao của an bình trở thành sẵn có cho bạn. Chúng bao giờ
cũng ở bên trong bạn, nhưng bạn chưa bao giờ nhìn vào chúng - bạn cứ chạy hoài.
Và bởi vì bạn không đạt tới đâu cả bạn rất lo nghĩ.
Bạn
nói, "Điều đó giống như lái xe đi tới và đi lui đồng thời. Tôi không đi bất
kì đâu."
Không
cần đâu. Chính khoảnh khắc này, dù bạn ở bất kì đâu, đó là ân huệ, đó là thiêng
liêng. Bạn còn muốn đi đâu khác nữa? Sao sống trong quá khứ? Chính quá khứ cho
bạn mục đích. Chính quá khứ mà bạn đang mang trong đầu cứ phóng chiếu các mục
đích vào tương lai. Tương lai chỉ là cái phản xạ của quá khứ.
Từ
chính thời thơ ấu của mình bạn đã được bảo, bạn đã bị thôi miên, bởi xã hội, bởi
tu sĩ, bởi chính khách, bởi cha mẹ, bởi các nhà sư phạm. Bạn đã bị thôi miên
liên tục rằng bạn phải có mục đích trong cuộc sống của mình, rằng bạn phải có
chủ định nào đó, rằng bạn phải là người thành đạt vĩ đại, rằng bạn phải nổi tiếng
- người đoạt giải thưởng Nobel hay cái gì đó - rằng bạn không chết đi chỉ là người
thường. Chết đi chỉ là người thường là xấu; bạn phải chết như một tổng thống
hay thủ tướng - cứ dường như cái chết của họ có cái gì đó đặc biệt lắm!
Bởi
vì việc nện búa thường xuyên vào đầu bạn mà bạn đã trở nên quen thuộc nhiều với
ý tưởng này tới mức nó làm bạn phát điên. Bằng không, cuộc sống đẹp thế như nó
vậy; không chủ định, không mục đích nào được cần tới. Tương lai có thể bị vứt bỏ
hoàn toàn. Bạn sống trong tương lai chỉ để trốn khỏi hiện tại, và bạn trở nên bị
ám ảnh về tâm lí với tương lai tới mức bạn cứ bỏ lỡ cái đáng dành cho nó vì cái
không đáng dành cho nó.
Trong
số những điều đầu tiên mà bé trai Do Thái học là huấn thị kinh thánh: "Tôn
vinh cha và mẹ ngươi - không khác!"
Herschel,
mới sáu tuổi, đã được nhắc nhở về lời khuyên bảo này vào cái ngày bố cậu ta về
nhà và công bố rằng anh ta đã quyết định mua một chiếc xe, chiếc xe đầu tiên mà
gia đình anh ta sở hữu.
Người
bố đang phấn chấn. "Tưởng tượng xem, chúng ta ở nước này mới vài năm và chẳng
mấy chốc chúng ta sẽ sở hữu một chiếc xe mới," anh ta nói một cách tự hào.
"Bố có thể thấy chúng ta đang đi xe quanh Công viên trung tâm. Bố ngồi trước
lái xe, và ngồi cạnh bố là mẹ, và ngồi sau là bé Herschel."
Mẹ
gật đầu, mỉm cười chấp thuận. "Vậy khi nào bố lập kế hoạch mua xe?"
cô ấy hỏi.
"Trong
hai tuần, có thể một tháng - không muộn hơn."
Khoảnh
khắc hài lòng bỗng nhiên bị tan vỡ bởi tiếng khóc tức tưởi của Herschel,
"Con không muốn ngồi sau đâu! Con muốn ngồi trước và giúp lái xe!"
"Chúng
ta chỉ cần một người lái trong gia đình thôi," bố nhắc nhở đứa con của
mình. "Mẹ ngồi trước, con ngồi sau."
"Nếu
con phải ngồi sau con sẽ đập đầu con vào tường đấy, bố coi nè!" Herschel
khóc thét. Nó chạy về phía tường và định giả vờ đe doạ, sẵn sàng làm theo lời
nó. "Mẹ ngồi sau, con ngồi trước!"
"Không,
Herschel, con ngồi sau," bố nói một cách cứng rắn.
"Ngồi
trước cơ, không ngồi sau đâu!" Giọng của Herschel thất thanh réo lên một
cách bất thần. "Con không ngồi sau đâu!"
Người
bố, với điệu bộ dữ tợn, giơ tay ra và trỏ thẳng ngón trỏ. "Herschel,"
ông ta nói một cách lạnh lùng, "cút ngay khỏi xe của tao!"
Mọi
người cứ sống trong tương lai!
Và
cùng điều đó là hoàn cảnh với thiên đường của bạn, cũng giống như chiếc xe này
thôi. Cùng điều đó là hoàn cảnh với niết bàn của bạn, chứng ngộ của bạn - cũng
hệt như với chiếc xe thôi.
Chính
chỉ tâm trí tầm thường mới trở nên bị ám ảnh về tâm lí với tương lai. Nhưng xã
hội phá huỷ thông minh của mọi người và làm cho mọi người thành tầm thường.
Xã hội không muốn bạn thực sự thông minh; nó sợ thông minh. Người thông minh là
người nguy hiểm. Họ là người cấp tiến, họ là người cách mạng; họ bao giờ cũng
phá hoại nguyên trạng. Xã hội muốn bạn vẫn còn tầm thường, ngu xuẩn. Chắc chắn
nó muốn bạn hiệu quả, máy móc. Nó muốn bạn tích luỹ thật nhiều thông tin nhất
có thể được, nhưng nó không muốn bạn thực sự thông minh bởi vì nếu bạn thông
minh bạn sẽ không quan tâm tới tương lai. Bạn sẽ sống trong hiện tại và vì hiện
tại, bởi vì không có cuộc sống khác.
Nghe
chim chóc cất tiếng chíp chíp, líu lo... cây cối nở hoa... các vì sao, mặt trời,
mặt trăng. Toàn thể sự tồn tại sống trong hiện tại ngoại trừ bạn, ngoại trừ tâm
trí con người. Và duy nhất tâm trí con người mới khổ.
Ra
khỏi tương lai đi! Nó là giấc mơ của bạn. Bạn không được giả định đi đâu cả. Hạnh
phúc ở bất kì chỗ nào bạn đang ở. Mãn nguyện với sự hiện hữu của bạn và vứt bỏ
ý tưởng về trở thành đi. Thế thì từng khoảng khắc đều quí giá thế, thế thì từng
khoảnh khắc đều có cái đẹp thế, vĩ đại thế, huy hoàng thế. Thế thì từng khoảnh
khắc đều tinh tế. Thế thì bạn có thể cảm thấy Thượng để ở mọi nơi mọi khoảnh khắc.
Thượng
đế không phải là mục đích; Thượng đế là sự hiện diện ngay bây giờ. Nếu bạn hiện
diện, Thượng đế có sẵn. Nếu bạn sống trong khoảnh khắc này, bạn được chứng ngộ;
không có chứng ngộ khác. Và thế thì cuộc sống bình thường là phi thường thế. Thế
thì chỉ là không ai cả lại là việc hoàn thành thế.
Tôi
gọi toàn thể cách tiếp cận này là tính chất sannyas: vứt bỏ mục đích, chủ định,
tương lai - trở thành một phần của sự tồn tại chính khoảnh khắc này, không trì
hoãn nó. Thế thì trong chính khoảnh khắc này, sự bùng nổ lớn là có thể trong bạn:
bản ngã biến mất, bạn không còn nữa, nhưng Thượng đế hiện hữu. Và đó là phúc lạc
và đó là chân lí.
Câu
hỏi thứ hai:
Thưa
thầy kính yêu,
Sao
có nhiều người Do Thái ở đây thế?
Alexandra,
Do Thái là dân tộc thông minh, thông minh nhất trên thế giới. Đó là lí do tại
sao họ bị ghét nhiều thế. Họ đã phạm phải chỉ một sai lầm trong toàn thể lịch sử
của mình: họ đã đóng đinh Jesus và bỏ lỡ việc kinh doanh lớn nhất đã sẵn có cho
họ! Đó là hiện tượng hiếm hoi tới mức nó lọt vào tay của người Italia - toàn thể
việc kinh doanh này! Điều đó không thể quan niệm nổi - người Do Thái đã đánh mất
nó vào tay người Italia! Nếu người Italia bán món mì ống, điều đó là được,
nhưng họ đang bán Jesus! Bằng không, người Do Thái chưa bao giờ phạm phải sai lầm
nào.
Nhưng
một sai lầm đó đã làm họ tốn kém quá nhiều: họ trở nên bị nhổ bật rễ. Nhưng thỉnh
thoảng ân huệ lại tới dưới dạng tai ương. Khi họ bị bật rễ, khi họ mất mảnh đất
của mình, họ tự nhiên trở nên thông minh hơn bất kì ai khác bởi vì họ phải tồn
tại trong những điều kiện bất lợi. Không giống nòi nào khác đã từng tồn tại
trong những điều kiện bất lợi như vậy như người Do Thái. Và khi bạn sống trong
những điều kiện bất lợi thách thức đến thế, bạn có thể sống sót chỉ nếu bạn đem
thông minh của mình tới đỉnh cao nhất của nó. Nếu bạn hành xử ngu xuẩn bạn sẽ bị
tiêu diệt. Họ bao giờ cũng sống giữa những người xa lạ đối kháng họ; họ trở nên
ngày một thông minh hơn.
Nhiều
giải thưởng Nobel về tay người Do Thái hơn bất kì ai khác. Và bất kì chỗ nào họ
ở họ đều thành công, bất kì cái gì họ làm họ đều đem ảo thuật nào đó vào nó.
Cho nên bất kì khi nào họ cảm thấy rung cảm nào đó, hiện tượng nào đó xảy ra ở
bất kì đâu, họ là người đầu tiên tới, họ là người đầu tiên thu hoạch mùa màng.
Vâng,
câu hỏi này nảy sinh cho nhiều người. Gần năm mươi phần trăm các sannyasin của
tôi là người Do Thái - nhiều người Do Thái tới mức đôi khi tôi trở nên nghi ngờ
có lẽ tôi cũng là người Do Thái chưa biết chừng!
Alexandra,
bạn đúng đấy, tò mò của bạn là đúng. Nhưng họ có thể hiểu điều tôi đang nói. Thực
ra, họ phải vứt bỏ mặc cảm nào đó mà họ đã mang trong hai nghìn năm. Nếu họ có
thể cảm thấy hài hoà với tôi, mặc cảm của họ về việc giết Jesus sẽ biến mất.
Sâu bên dưới mặc cảm này có đó; họ cần ai đó có thể lấy đi mặc cảm đó. Điều đó
giống như gai trong chính linh hồn họ - nó gây đau. Họ có thể không nói điều
đó, nhưng nó gây đau. Họ đã phá huỷ việc nở hoa vĩ đại nhất của họ.
Jesus
là tiềm năng cao nhất của họ được hiện thực hoá; ông ấy là đỉnh cao nhất của
thông minh Do Thái - và họ đã phá huỷ điều đó. Họ đang mang vết thương này; họ
là người bị thương. Họ muốn ai đó có thể chữa lành vết thương này.
Nhưng
vấn đề là: nếu bạn đi tới các tu sĩ họ sẽ làm bạn bị thương nhiều hơn. Đi bất
kì đâu, bạn sẽ bị thương nhiều hơn, bởi vì cái gọi là tôn giáo của bạn tất cả đều
tồn tại trên mặc cảm của bạn. Mặc cảm càng lớn, quyền lực của họ càng mạnh trên
bạn. Họ làm cho bạn cảm thấy mặc cảm, họ làm cho bạn cảm thấy là tội nhân.
Tôi
là loại người hoàn toàn khác: tôi giúp bạn gạt bỏ mặc cảm của bạn. Tôi muốn bảo
bạn rằng bạn không phải là tội nhân, và phạm sai lầm là tính người - sai lầm là
con người. Không cần làm nhặng sị lên về điều đó. Và lỗi của bạn là nhỏ; chỉ
chút ít nhận biết và chúng sẽ biến mất. Bạn không cần bị ném vào địa ngục.
Và
nhìn cái ngu xuẩn của ý tưởng này.... người Ki tô giáo nói rằng một khi bạn vào
địa ngục rồi bạn ở đó vĩnh viễn. Không ai ra khỏi địa ngục. Nó không có lối ra,
chỉ có lối vào. Và thế rồi ở đó vĩnh viễn! - chính ý tưởng này là ngớ ngẩn.
Ngay cả kẻ tội phạm lớn nhất cũng không cần bị trừng phạt vĩnh viễn.
Bertrand
Russell đã nói, "Khi tôi nhìn vào tội của mình, nếu tôi thú nhận mọi tội
mà tôi đã từng phạm phải, chúng không nhiều, chúng không rất lớn. Tôi đã không
giết người. Thế thì quan toà độc ác nhất có thể cho tôi vào tù nhiều nhất trong
bốn năm. Và nếu ý nghĩa của tôi cũng được tính vào đó, không chỉ hành động của
tôi, thế thì tám năm tù, có vậy thôi." Ông ấy đã viết cuốn sách hay, Tại
sao tôi không phải là người Ki tô giáo. Và trong số nhiều điều ông ấy đã nêu,
đây là một trong những lí do: "Tôi không thể đồng ý với ý tưởng về địa ngục
vĩnh viễn. Không ai đã phạm phải tội lỗi mà người đó phải bị tống vào địa ngục
vĩnh viễn mãi mãi, không thoát ra được. Và không ai đã làm nhiều điều tốt
tới mức người đó nên được tận hưởng thiên đường mãi mãi."
Nhưng
các tôn giáo đã tồn tại, và họ có quyền hành, bởi lí do đơn giản là họ tạo ra sợ
trong bạn - sợ địa ngục - và họ tạo ra tham trong bạn - tham cõi trời. Họ làm bạn
bị thương sâu sắc. Bạn càng chảy máu nhiều, vết thương của bạn càng chảy máu
nhiều, họ càng mạnh trên bạn.
Nỗ
lực của tôi ở đây là cứu bạn khỏi mọi vết thương, cứu bạn khỏi sợ địa ngục và
tham cõi trời. Không có địa ngục và không có cõi trời đâu. Những chỗ này không
phải là nơi chốn ở đâu đó, đấy chỉ là trạng thái tâm trí riêng của bạn. Bất kì
khi nào bạn đang giận, trong cơn cuồng nộ, bạn ở trong địa ngục; và bất kì khi
nào bạn trong yêu, trong từ bi, bạn ở trong cõi trời. Cho nên bạn có thể di
chuyển từ cõi trời sang địa ngục nhiều lần trong ngày.
Không
phải là vấn đề được quyết định sau cái chết; nó được quyết định từng khoảnh khắc.
Và nó tuyệt đối nằm bên trong khả năng quyết định của bạn.
Một
nhà huyền môn Sufi sắp chết. Các đệ tử của ông ấy đã tụ tập lại và họ nói,
"Một điều chúng tôi muốn biết. Thầy sắp ra đi mãi mãi và thế thì chúng tôi
sẽ không bao giờ biết bí mật là gì. Chúng tôi chưa bao giờ thấy thầy buồn bã, bất hạnh, khổ sở. Điều đó dường như siêu nhân thế. Chúng tôi đã quan
sát thầy trong ba mươi năm, bốn mươi năm; có vài người đã sống cùng thầy trong
năm mươi năm, sáu mươi năm" - người này đã gần một trăm tuổi - "và mọi
người đều nhớ rằng thầy chẳng bao giờ buồn, thậm chí chẳng có nỗi buồn nhỏ nào.
Bí mật của thầy là gì?"
Ông
ấy nói, "Chẳng có bí mật gì cả. Mọi sáng khi ta dậy, trước khi ta mở mắt
ra ta tự nhủ mình, 'Nghe đây, ông già, ngày mới rồi đó. Ông muốn gì nào? - buồn
hay sướng?' Và ta bao giờ cũng nói, 'Sướng.' Cho nên ta vẫn còn sướng! Ta quyết
định vào buổi sáng và ta vẫn còn sướng. Ta phải tuân theo quyết định của ta. Điều
này ta làm mọi ngày. Nó là một quyết định."
Bạn
chọn khổ; đó không phải là trừng phạt, đó là chọn lựa của bạn. Và bạn chọn vui;
đó không phải là phần thưởng, đó là chọn lựa của bạn.
Người
Do Thái đã khổ rất nhiều; họ bị tổn thương. Tất nhiên, hai nghìn năm đau khổ đã
làm cho họ rất chín chắn, thông minh, tỉnh táo. Do đó họ có thể nhận ra tôi tốt
hơn bất kì ai khác. Đó là lí do tại sao, Alexandra, họ ở đây.
Tháng
bẩy năm 1974, tổng thống Nixon ở Liên Xô, hi vọng đạt tới hiệp ước bất xâm lăng
giữa Liên Xô và Mĩ, nhưng ông ta đã gặp một thời kì khó khăn về điều đó.
"Trước
khi chúng ta kí," thủ tướng Brezhnev nói, "người Mĩ các ông sẽ phải
công bố cho thế giới rằng Adam và Eve là người cộng sản."
Nixon,
không chắc chắn về cách giải quyết điều khó xử này, quyết định tư vấn người có
thẩm quyền về Cội nguồn - trong trường hợp này là Henry J. Kissinger - ông ta đảm
bảo cho ông này rằng ông ta đã đọc vài trang Kinh Thánh từ thời thanh niên của
mình.
Kissinger
nghỉ việc nghiên cứu, miệt mài đọc kinh Cựu ước và văn bản. Ngày hôm sau ông ta
bảo Nixon cứ tiến tới và kí bản hiệp định với Liên Xô. "Người Nga đúng đấy,"
ông ta nói, "Adam và Eve quả thực là người cộng sản. Sau rốt, họ đã không
có mảnh vải nào trên người, họ chẳng có gì để ăn ngoài táo, và họ vẫn nghĩ họ ở
trong thiên đường!"
Ba
anh chàng, một Cơ đốc giáo, một thầy tế và một người Do Thái, đang thảo luận về
cách từng người trong số họ sử dụng ngày Nô en. Anh chàng Cơ đốc giáo đã đi tới
đám đông, rồi quay về, hôn mọi người trong gia đình mình và tặng quà cho họ, và
sau đó ăn tối Nô en. Cậu thầy tế đã không đi nhà thờ, nhưng đã hôn mọi người
trong gia đình, cho quà tặng, và rồi ăn bữa tối Nô en.
Chàng
Do Thái nói, "Thôi được, bố và tôi đi xuống xưởng đồ chơi của chúng tôi,
nhìn vào mọi giá rỗng, ca hai câu thơ 'Chúng ta có người bạn tuyệt vời trong
Jesus!' và thế rồi đáp chuyến bay tới Osho Commune International, Pune, Ấn Độ."
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
thầy kính yêu,
Nếu
thầy mà ở đây ngay bây giờ, tôi nghĩ tôi sẽ đánh cho thầy một cái. Nếu thầy
không nhận ra tôi sớm và bắt đầu nói có với tôi thay vì nói không, tôi sẽ phải
giết thầy.
Somendra...
cám ơn bạn, Somendra! Tôi cũng sẽ cần một Judas; bằng không câu chuyện này sẽ vẫn
còn không đầy đủ. Tôi có thể là một Jesus chỉ với một Judas. Vâng, ai đó phải
làm công việc của Judas - đó là việc khó.
Có
trường phái huyền bí bí mật mang theo truyền thống rằng Judas là một trong những
đệ tử vâng lời nhất của Jesus. Ông ấy đã phản bội Jesus bởi vì Jesus muốn bị phản
bội.
Đó
đích xác là điều George Gurdjieff hay nói: rằng Judas không phải là kẻ phản bội,
ông ấy đơn gian tuân theo Jesus. Và việc vâng lời của ông ấy là toàn bộ tới mức
khi Jesus nói, "Đi và phản bội ta đi, và bán ta lấy ba mươi đồng bạc,"
ông ấy đã đi và làm điều đó. Tất nhiên, ông ấy cảm thấy rất tiếc vì làm điều
đó, khổ sở, trong đau khổ sâu sắc, nhưng ông ấy phải tuân theo thầy. Cho nên
ông ấy đã phản bội Jesus, Jesus bị đóng đinh, và hôm sau Judas tự tử. Judas chết
ngày hôm sau. Ông ấy phải đã cảm thấy rất tồi tệ, mặc dầu ông ấy phải tuân theo
thầy. Ông ấy là người thông minh nhất trong mọi đệ tử của Jesus.
Cho
nên, Somendra này, ai đó phải làm công việc vất vả của Judas. Một ngày nào đó,
tôi có thể chọn bạn - đừng lo nghĩ và đừng vội vàng! Một ngày nào đó tôi có thể
ra lệnh cho bạn, "Bây giờ, Somendra, bạn có thể giết tôi."Nhưng trước
lúc đó, để tôi giết bạn đã!
Và
đó là lí do tại sao tôi cứ nói không với bạn. Đó là phương cách của tôi để giết
bạn. Bạn muốn được thừa nhận, nhưng sẽ là quá sớm nếu tôi thừa nhận bạn. Nó sẽ
không là gì ngoài thừa nhận bản ngã của bạn.
Tôi
sẽ thừa nhận bạn chỉ khi tôi thấy bản ngã của bạn đã biến mất; trong khi bản
ngã có đó tôi sẽ cứ phá huỷ nó. Không của tôi không là gì ngoài cú đánh vào bản
ngã.
Có
cũng sẽ được nói khi bạn đã trở nên có khả năng chấp nhận không của tôi một
cách vui vẻ. Khi bạn đã trở nên xứng đáng với việc nhận có, nó sẽ tới theo cách
riêng của nó; bạn không cần nhắc tôi. Việc nhắc của bạn sẽ chỉ làm chậm trễ nó.
Việc bạn nhắc tôi làm cho tôi nói nhiều không hơn với bạn. Bạn không thể ép buộc
có lên tôi được, bạn không thể buộc tôi nói có với bạn được. Nếu bạn có thể ép
buộc có lên tôi, toàn thể chức năng là thầy của tôi sẽ bị phá huỷ. Bạn không thể
ép buộc cái gì lên tôi được.
Đi
qua những cái không này đi: đây là đêm tối của linh hồn. Và khi đêm là tối nhất,
bình minh là rất gần.
Câu
hỏi thứ tư:
Thưa
thầy kính yêu,
Có
phải kinh sách không thực sự hữu dụng gì dù bất kì cái gì không?
Thomas,
kinh sách là hay, nhưng chỉ hay cho những người có thể hiểu chúng - không phải
hay cho bạn. Bạn không thể hiểu được chúng, bạn chỉ có thể hiểu lầm chúng. Tôi
không chống lại kinh sách – làm sao tôi có thể chống lại được? Tôi đang nói về
một trong những kinh sách đó, Dhammapada, những châm ngôn của Phật. Tôi đã nói
về những châm ngôn của Jesus, tôi đã nói về Mahavira, về Krishna. Tôi đã nói về
Upanishads, tôi đã nói về Đạo Đức Kinh. Tôi đã nói về gần hết những bản kinh
hay của thế giới. Làm sao tôi có thể chống lại chúng và làm sao tôi có thể nghĩ
chúng là vô dụng được? - mặc dầu tôi vẫn nhấn mạnh rằng bạn không phụ thuộc vào
chúng. Với bạn chúng không hữu dụng.
Thế
thì cái dụng của chúng là gì? Cái dụng của chúng là việc hoàn toàn khác. Khi bạn
trở nên có tính thiền hơn, khi bạn đi sâu hơn vào thiền, khả năng và sự sáng tỏ
của bạn càng có nhiều hơn để hiểu kinh sách. Kinh sách sẽ trở thành nhân chứng
cho bạn rằng bạn đang đi đường đúng. Và khi bạn đạt tới cốt lõi bên trong nhất
của mình, khi bạn nhận ra bản thể của mình, thế thì bạn sẽ biết điều Jesus ngụ
ý bởi vương quốc của Thượng đế, thế thì bạn sẽ biết điều Phật ngụ ý bởi niết
bàn, thế thì bạn sẽ biết điều Upanishads ngụ ý chân lí - không trước điều
đó.
Ngay
bây giờ, nếu bạn đọc Kinh Thánh hay Koran hay Gita, bạn sẽ diễn giải chúng
tương ứng với trạng thái vô ý thức của bạn, tương ứng với trạng thái phi thiền
của bạn. Bạn sẽ diễn giải sai, bạn sẽ hiểu sai. Bạn không ở hình thể đúng; bạn
đang biến trên thành dưới, bạn đang lộn ngược. Bạn là lẫn lộn, hỗn độn. Bạn là
đám đông, bạn còn chưa là cá nhân. Bạn không có trung tâm chút nào. Cho nên làm
sao bạn sẽ hiểu được Jesus hay Phật hay Krishna?
Nhớ
một điều rất nền tảng: bạn có thể hiểu Jesus chỉ nếu bạn đã nếm trải cái gì đó
của tâm thức Christ trong bạn; bằng không thì không có cách nào. Bạn có thể có
vài thoáng nhìn về Phật chỉ khi bạn đã đạt tới cái gì đó của phật tính, hình thể
nào đó, hương vị nào đó, hương thơm nào đó. Khi bạn đã đi vào đất của Phật và
chư phật, thế thì bạn sẽ có khả năng thấy nghĩa này.
Bằng
không, lời có đó, nhưng ai sẽ đặt nghĩa vào những lời đó? Bạn sẽ đặt nghĩa vào
những lời đó. Bạn sẽ đọc Krishna nhưng bạn sẽ không thực sự đọc Krishna đâu - bạn
sẽ đọc bản thân mình qua Krishna. Lời sẽ là của Krishna, nghĩa sẽ là của bạn -
và chính nghĩa mới có ý nghĩa chứ không phải lời.
Chauncey
de Plotkin phải chịu cái đau buốt của bệnh vẩy nến. Sau khi cố gắng một cách vô
ích dùng các thuốc thông thường bán ở quầy anh ta cuối cùng phải tới tư vấn bác
sĩ và được cho một đơn thuốc và được dặn cách dùng và khi nào dùng thuốc.
Tối
hôm đó ở nhà, vợ của Chauncey ngạc nhiên khi thấy chồng mình tợp một thìa thuốc,
chạy ra khỏi nhà và lao đi quanh khối nhà. Khi trở về anh ta kiệt sức tới mức
gieo mình phịch lên giường và thở hết hơi.
Đến
buổi tối thứ hai anh ta lặp lại cùng biểu diễn đó: anh ta chiêu thuốc, phi nước
đại quanh khối nhà và trở về nhà mình vài phút sau đó.
Đến
tối thứ ba anh ta đổi chiến thuật. Lần này anh ta uống thuốc như thường, nhưng
thay vì chạy đua anh ta bắt đầu nhảy quanh phòng với mọi dáng của loài da dày
nhảy cỡn.
Chị
vợ không thể đừng được thêm nữa. "Chauncey," cô ấy kêu lên, "anh
đang làm gì trong thế giới mà chạy quanh khu nhà và nhảy như con choi choi thế?
Anh có mất trí không đấy?"
"Tất
nhiên không,"ông xã mệt lử đáp. "Anh chỉ theo mệnh lệnh của bác sĩ
thôi. Ông ấy bảo anh uống thuốc hai đêm chạy và bỏ qua đêm thứ ba."
Lời
có thể là của Christ, Phật, Zarathustra, nhưng ai sẽ đem nghĩa cho chúng?
Chauncey de Plotkin - anh ta sẽ đưa nghĩa vào những lời đó! Anh ta sẽ áp đặt
nghĩa của mình, anh ta sẽ phóng chiếu nghĩa của mình.
Tôi
không chống lại kinh sách. Làm sao tôi có thể chống lại được? Tôi ủng hộ kinh
sách, nhưng tôi không thể nói với bạn rằng qua kinh sách bạn có thể tìm thấy
chân lí. Điều đó là không thể được.
Một
nhà truyền giáo Ki tô giáo và một giáo sĩ cùng đi trên một chuyến tàu hoả. Nhà
truyền giáo Ki tô giáo nói với giáo sĩ, "Jesus cứu rỗi."
Giáo
sĩ nhìn nhà truyền giáo và rồi nói, "Nhưng Moses đầu tư."
Lời
nhất định được bạn tô mầu, chúng nhất định là một phần của bạn. Chúng có thể
giáng xuống từ các cội nguồn rất cao.... Nó cũng giống như hạt mưa. Khi nó tới
từ mây nó là thuần khiết, thuần khiết nhất, nhưng khi nó rơi xuống đất nó phụ
thuộc vào đất. Nếu nó rơi và phân bò, thế thì có thể linh thiêng cho người
Hindu nhưng không linh thiêng cho ai khác! Nước thuần khiết rơi xuống từ cõi trời
sẽ có mầu của đất mà nó rơi xuống, sẽ có mùi vị của đất mà nó rơi xuống.
Đích
xác cùng điều này là trường hợp với lời rơi từ Phật, Jesus, Zarathustra, Lão Tử.
Nó tuỳ thuộc vào đất của bạn - vào tâm trí bạn. Và trạng thái tâm trí bạn là
gì? Bạn có thể nghĩ cái gì nguyên bản được không? Bạn có thể hiểu cái gì nguyên
bản được không? Tâm trí bạn chỉ lặp lại cái nó đã nghe hay đọc, cái đã được dạy.
Nó là cái máy; nó không bao giờ có thể tạo ra một ý nghĩ nguyên bản. Ý nghĩ
nguyên bản chưa bao giờ tới từ tâm trí; nó tới từ cõi bên kia.
Phật
dùng tâm trí để trao đổi với bạn. Ông ấy phải dùng lời, hiển nhiên, và bằng việc
dùng lời ông ấy đang lấy bước nguy hiểm. Trong bẩy ngày ông ấy đã ngần ngại....
Khi ông ấy trở nên chứng ngộ, trong bẩy ngày ông ấy đã không thốt ra một lời.
Câu
chuyện là ở chỗ các thần từ cõi trời xuống, chạm chân ông ấy, và xin ông ấy
chuyển giao chân lí mà ông ấy đã đạt tới bởi vì quần chúng đã khát khao về điều
đó thế. Cả triệu người sẽ được lợi.
Ông
ấy nghe trong im lặng sâu sắc. Ông ấy đơn giản nói một điều: "Khi có liên
quan tới ta, trong bẩy ngày ta đã đắn đo về điều đó và đây là kết luận của ta:
rằng những người có thể hiểu ta không cần nghe lời của ta. Những người có thể
hiểu ta đã có tính thiền rồi, họ đã trên đường rồi. Họ không cần lời ta; đằng
nào họ cũng sẽ đạt tới, dù có ta hay không có. Có thể với ta họ sẽ đạt tới sớm
hơn chút ít, một mình sẽ chậm hơn chút ít, nhưng có khác biệt gì trong vĩnh hằng
liệu ông tới sớm một năm hay chậm một năm?
"Những
người không thể hiểu ta nhất định hiểu lầm. Lời của ta sẽ trở thành vấn đề cho
họ. Họ đã lẫn lộn rồi và ta không muốn làm họ lẫn lộn thêm nữa. Lời của ta sẽ tạo
ra nhiều lẫn lộn hơn trong họ."
Các
thần đâm ra lúng túng phải nói gì đây, làm sao thuyết phục được Phật. Họ ra đi.
Họ thảo luận giữa họ về điều đó để tìm ra cách nào đó, và thế rồi họ quay lại với
một luận cứ mới. Họ nói, "Thầy là đúng, có những người, rất ít người, sẽ
hiểu thầy ngay lập tức. Và vâng, chúng tôi đồng ý với thầy một cách toàn bộ, họ
không cần điều đó; đằng nào họ cũng sẽ đạt tới. Họ ở ngay đường biên rồi: một
bước nữa và họ sẽ là chư phật. Cho dù không có thầy họ vẫn sẽ trở thành chư phật,
điều đó là chắc chắn. Nếu thầy có thể trở thành vị phật mà không có vị phật
khác giúp thầy, họ cũng có thể trở thành - chúng tôi có thể hiểu điều đó.
"Và
điểm kia của thầy cũng đúng: có hàng triệu người sẽ không hiểu thầy. Nhưng
chúng tôi không đồng ý với thầy rằng lời của thầy sẽ tạo ra nhiều lẫn lộn hơn.
Những người đó đã bị lẫn lộn thế, không thể có lẫn lộn hơn được. Họ đã đạt tới
đáy tảng đá của lẫn lộn; thầy không thể làm họ lẫn lộn thêm nữa được. Cho nên đừng
lo nghĩ về họ.
"Và
chúng tôi đã nghĩ về loại người thứ ba nữa. Có vài người ở ngay giữa hai loại
này: người không được tiến hoá tới mức mà họ sẽ lập tức hiểu thầy và trở nên chứng
ngộ và người không phải là không tiến hoá tới mức họ sẽ đơn giản trở nên bị lẫn
lộn hơn bởi việc nghe thầy. Họ ở chính giữa - một thiểu số, nhưng có những người
đó. Với sự giúp đỡ của thầy họ sẽ đạt tới bờ bên kia; không có sự giúp đỡ của
thầy họ có thể vẩn vơ hết thế kỉ nọ tới thế kỉ kia.
"Và
thầy đúng khi nói rằng điều đó có tạo khác biệt gì đâu trong vĩnh hằng? Nó
không tạo khác biệt gì đối với thầy bởi vì thầy biết cái vĩnh hằng, nhưng với
những người đáng thương kia, người sống trong thời gian thì điều đó tạo ra nhiều
khác biệt chứ. Trong nhiều, nhiều kiếp họ sẽ đau khổ. Với thầy điều đó không tạo
ra khác biệt gì - thầy đã đi vào vĩnh hằng rồi - nhưng họ đang sống trong thời
gian, và thời gian nghĩa là sinh, tử và bánh xe sinh tử. Và họ sẽ phải cứ theo
bánh xe này, trong cái vòng luẩn quẩn này, cả triệu lần. So với vĩnh hằng nó chẳng
là gì cả, nhưng so với cuộc sống nhỏ bé này - cuộc sống bẩy mươi năm, cuộc sống
sáu mươi năm - nó là quá nhiều. Thầy phải nghĩ về loại người thứ ba đó nữa chứ."
Phật
lắng nghe họ và lập tức đồng ý nói. Ông ấy theo luận cứ này: vâng, có loại người
thứ ba. Loại người thứ nhất là những người không thể hiểu được chút nào. Lời họ
có thể hiểu; về mặt trí tuệ họ có khả năng hiểu bất kì điều gì được nói cho họ.
Nhưng sâu bên dưới nghĩa bị bỏ lỡ, ý nghĩa bị bỏ lỡ. Họ nghe âm nhạc, nhưng họ
không bắt được giai điệu của nó. Họ nghe tiếng động, nhưng họ không cảm thấy sự
hài hoà; đó là hiện tượng tinh tế. Họ nghe lời nói.
Tất
cả ba loại này đều ở đây. Đa số nghe lời tôi, nhưng họ sẽ không cảm thấy im lặng
của tôi, họ sẽ không cảm thấy sự hiện diện của tôi trong họ. Điều đó là như
nhau với họ. Họ có thể đọc sách, họ có thể nghe băng hay họ có thể nghe tôi trực
tiếp; nó tất cả là như nhau với họ, không khác biệt, bởi vì lời là như nhau.
Nhưng
với loại người thứ hai có khác biệt. Đọc lời tôi trong sách là một điều, bởi vì
tôi sẽ không có đó trong những lời đó, sự hiện diện của tôi sẽ không có đó. Tôi
sẽ không thở trong những lời đó; chúng sẽ chết. Khi bạn nghe băng có tốt hơn
sách chút ít, nhưng dầu vậy sự hiện diện của tôi vẫn không có đó. Băng là việc
lặp lại máy móc; không có ai đằng sau chúng.
Ở
đây khi bạn đang nghe tôi, lời tôi có đó và im lặng của tôi có đó. Im lặng của
tôi có thể đi cùng lời nếu bạn sẵn có. Loại người thứ hai sẽ có khả năng cảm thấy
sự hiện diện của tôi, im lặng của tôi, bài ca của tôi. Và loại người thứ nhất sẽ
lập tức nhận ra rằng đây là nó! Chứng ngộ bất thần... thậm chí không một lỗ hổng
khoảnh khắc.
Câu
hỏi thứ năm:
Thưa
thầy kính yêu,
Hôm
nọ tôi đọc thấy rằng Taru đã gặp thầy một lần trên phố của Bombay trong khi thầy
đang cầm túi rượu gin và uytski trong cả hai tay. Thầy có thực sự là người say
không?
Prem
Aditya, nếu Taru nói thế, nó phải thế thôi. Tôi là người say tới mức tôi không
thể nhớ được! Vâng, mơ hồ tôi nhớ Taru có gặp tôi trên phố của Bombay. Tôi có
thể nhớ cái ôm ghì của cô ấy - nó khó mà quên được! Nhưng trí nhớ của tôi không
tốt mấy... cho nên có thể tôi cầm chai whisky trong cả hai tay tôi.
Điều
đó đã từng rất thông thường với các Thiền sư ở Nhật Bản. Đó là giai đoạn cuối của
chứng ngộ! Được chứng ngộ nghĩa là hoàn toàn bị say - say với điều thiêng
liêng.
Có
thể những chai rượu whisky đó trống rỗng. Chúng phải đã là vậy, bởi vì người
say như tôi không thể giữ được những cái chai đó đầy lâu lắm đâu. Khoảnh khắc
tôi có chúng tôi uống chúng liền. Tôi không trì hoãn cái gì cả! Nhưng trí nhớ của
tôi không được tốt lắm....
"Bác
sĩ ơi, tôi có vấn đề nghiêm trọng," Max bắt đầu. "Tôi mất trí nhớ của
mình - có thể tôi đã mất nó hoàn toàn. Tôi dường như không thể nhớ được cái
gì."
Nhà
tâm thần mỉm cười một cách bao dung. "Tôi chắc là nó không hoàn toàn mạnh
đâu. Anh phải nhớ được cái gì chứ."
"Không,
chẳng nhớ cái gì cả. Tôi nói với ông, tôi không thể nhớ được một điều gì."
"Tất
nhiên anh ngụ ý quên những điều như tên và khuôn mặt và ngày tháng chứ gì? Tất
cả chúng ta đôi lúc cũng đều quên chúng."
"Bác
sĩ ơi, ông không hiểu. Tôi ngụ ý mọi thứ!" "À, điều đó là vô nghĩa
thuần khiết đấy!" bác sĩ bật
ngón
tay. "Không ai quên mọi thứ mà người đó đã từng biết. Ngay cả người bị chứng
quên cũng nhớ cái gì đó - như liệu anh ta uống cà phê hay trà hay liệu anh ta
có hút thuốc lá không."
"Nghe
đây, bác sĩ," Maxwell nói một cách thất vọng, "tôi nói với ông lần cuối
- tôi không thể nhớ được cái gì chút nào. Mọi thứ tôi thấy, mọi thứ tôi nghe, mọi
thứ tôi đọc, nó chỉ gây ấn tượng tạm thời và thế rồi nó ra khỏi đầu tôi mãi
mãi. Vậy đấy, bác sĩ, tôi thề với ông. Tôi đơn giản không thể nhớ được một thứ
phải gió nào!"
Nhà
tâm thần cau mày, ngửa lưng trong ghế và đắn đo mãi về cái bệnh duy nhất này.
Thế rồi ông ta hỏi, "Điều này đã diễn ra bao lâu rồi?"
"Cái
gì đã diễn ra bao lâu rồi?"
Đó
cũng là tình huống của tôi nữa! Tôi không nhớ mấy. Tôi không quan tâm mấy tới
quá khứ, tôi không quan tâm tới tương lai nữa. Toàn thể mối quan tâm của tôi là
trong khoảnh khắc hiện tại.
Và
bạn có thể thấy ngay bây giờ - tôi là người say! Sao bận tâm điều Taru nói, và ở
đâu đó nó được viết ra và bạn đọc nó? Sao bận tâm? Bạn có thể nhìn vào trong mắt
tôi... và chúng đầy whisky đấy!
Và
nếu bạn không tin tôi, tới tôi ở chỗ riêng tư, và tôi sẽ khóc một ít và bạn có
thể nếm nước mắt tôi. Và bạn sẽ biết chúng có vị gì - chúng có vị whisky! Nếu
Jesus có thể biến cả đại dương thành rượu, tôi không thể biến nước mắt của mình
thành rượu sao?
Câu hỏi thứ sáu:
Thưa
thầy kính yêu,
Chẳng
cương cứng gì xảy ra. Tôi có còn tính dục không? Cá tới, nhưng đi vẫn khát.
Sant...
Sant, suy tư về câu châm ngôn này của Murphy: Nếu bạn chơi với cái gì đó đủ
lâu, bạn chắc chắn sẽ phá vỡ nó.
Con
mèo đực lớn đang nhìn con mèo cái lanh lợi từ đằng sau hàng rào chăng dây thép
gai. Cuối cùng, nó quyết định nhảy qua hàng rào để tới con mèo cái. Với một cú
nhảy đại nó đáp xuống phía bên kia.
"Này,
cậu không phải là Toby, mèo đực sao?" con mèo cái hỏi.
"Không
còn đâu," nó đáp. "Hàng rào kia cao hơn tớ tưởng."
Câu
hỏi thứ bẩy:
Thưa
thầy kính yêu, ABC của tâm lí là gì?
A
của tâm lí: người thần kinh xây lâu đài không khí. B của tâm lí: loạn thần kinh
sống trong họ. C của tâm lí: nhà tâm thần thu tiền thuê.
Câu hỏi cuối cùng:
Thưa
thầy kính yêu,
Tại
sao thầy quyết định nói thay vì viết ra triết lí của thầy?
Gautam,
chính tả của tôi còn tồi hơn phát âm nhiều!
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment