Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 8)
Chương
12. Sông không tồn tại
Câu
hỏi thứ nhất:
Thưa
thầy kính yêu,
Làm
sao thầy là đàn ông có thể nói về tâm hồn nữ được? Làm sao thầy biết rằng Thượng
đế là ông?
Gudrun
Hofmann, tôi không nói như đàn ông, tôi không nói như đàn bà. Tôi không nói như
tâm trí chút nào. Tâm trí được dùng, nhưng tôi nói như tâm thức, như nhận biết.
Và nhận biết không là ông hay bà, nhận biết không là đàn ông không là đàn bà.
Thân thể bạn có phân chia đó và tâm trí bạn cũng thế, bởi vì tâm trí bạn là phần
bên trong của thân thể và thân thể bạn là phần bên ngoài của tâm trí bạn. Thân
thể và tâm trí bạn là không tách rời; chúng là một thực thể. Thực ra, nói thân
thể và tâm trí là không đúng; 'và' không nên được dùng. Bạn là thân tâm - thậm
chí không có dấu gạch nối giữa hai từ này.
Do
đó, với thân thể, với tâm trí, 'nam', 'nữ' - các từ này là có liên quan, có
nghĩa. Nhưng có cái gì đó bên ngoài cả hai chúng; có cái gì đó siêu việt. Đó là
cốt lõi thực của bạn, bản thể bạn. Bản thể đó chỉ có nhận biết, chứng kiến,
quan sát. Nó là tâm thức thuần khiết. Tôi không nói ở đây như đàn ông; bằng
không thì không thể nào nói được về đàn bà. Tôi đang nói như nhận biết. Tôi đã
sống trong thân thể nữ nhiều lần rồi và tôi đã sống trong thân thể nam nhiều lần
rồi, và tôi đã chứng kiến tất cả. Tôi đã thấy mọi ngôi nhà, tôi đã thấy tất cả
vật dụng. Điều tôi đang nói với bạn là kết luận của nhiều, nhiều kiếp; nó chẳng
liên quan gì tới chỉ kiếp sống này. Kiếp này chỉ là cao trào của cuộc hành
hương dài, dài. Cho nên đừng nghe tôi như đàn ông hay đàn bà; bằng không bạn sẽ
không nghe tôi đâu. Nghe tôi như nhận biết ấy.
Điều
thứ hai, bạn nói, "Làm sao thầy biết Thượng đế là ông?"
Thượng
đế chẳng là ông chẳng là bà. Thượng đế đơn giản nghĩa là tính toàn bộ của tâm
thức trong sự tồn tại. Thượng đế đơn giản nghĩa là vĩnh hằng của cuộc sống. Cuộc
sống diễn đạt theo hai cách, đàn ông và đàn bà. Thượng đế là cội nguồn không biểu
hiện của cuộc sống; bạn không thể gọi ngài là "ông," bạn không thể gọi
ngài là "bà." Nhưng bởi vì trong hàng thế kỉ từ 'ông' đã được dùng,
nên tôi cũng dùng nó.
Bạn
phải nhớ rằng tôi không ngụ ý điều đó. Nếu bạn thực sự muốn đi sâu vào trong hiện
tượng về Thượng đế, thế thì Thượng đế không tồn tại chút nào - như một người.
Thượng đế chỉ là sự hiện diện. Nói cách khác, không có Thượng đế mà chỉ có tính
thượng đế: phẩm chất lan toả khắp, thấm nhuần khắp, cái toàn thể của sự tồn tại;
cái ở mọi nơi, trong mọi chiếc lá, trong mọi giọt sương. Nó là phẩm chất. Một
khi bạn bắt đầu nghĩ về Thượng đế như phẩm chất, toàn thể cái nhìn của bạn về
cuộc sống, về tôn giáo, về tình yêu, sẽ khác toàn bộ.
Sự
tồn tại không chứa danh từ mà chỉ động từ. Danh từ là phát minh của con người
cũng như đại từ. Động từ là thực. Khi bạn nói "sông" bạn ngụ ý gì? Bạn
có bao giờ thấy sông như danh từ không? Sông bao giờ cũng chảy, nó bao giờ cũng
là chuyển động. Nó chưa bao giờ tĩnh, nó động. Làm sao bạn có thể làm nó thành
danh từ tĩnh tại được? Từ 'sông' dường như tĩnh tại.
Nếu
bạn hỏi chư phật, những người thức tỉnh, họ sẽ nói, "Sông không tồn tại."
Nhưng bạn thấy sông chảy qua! Việc chảy có đó, một loại sông chảy có đó, nhưng
không có sông. Bạn thấy nhiều cây thế, nhưng thực ra cái tồn tại là một loại
cây mọc, không phải là cây, bởi vì cây đang thay đổi mọi khoảnh khắc. Lúc bạn
dùng từ 'cây', cây không còn như cũ nữa. Vài lá già đã rụng, vài lá mới đã bắt
đầu nhú ra, hoa đã nở ra, nụ sẵn sàng mở ra. Có hoạt động lớn; cây thường xuyên
trong sức đẩy tới.
Toàn
thể sự tồn tại bao gồm động từ, và Thượng đế không là gì ngoài tính toàn bộ của
mọi động từ này. Thượng đế không phải là lượng mà là phẩm, không phải là người
mà là sự hiện diện. Thượng đế là kinh nghiệm, không phải là đối tượng của kinh
nghiệm mà là bản thân kinh nghiệm. Thượng đế là tính chủ thể. Và làm sao bạn có
thể gọi tính chủ thể là "ông" hay "bà"?
Tôi
biết tại sao câu hỏi này nảy sinh. Trên khắp thế giới, đặc biệt ở phương Tây,
đàn bà được giải phóng đang hỏi, "Sao gọi Thượng đế là 'ông'?" Và cô ấy
là đúng, theo một cách nào đó. Sao làm Thượng đế bị đồng nhất với tâm trí nam?
Nó là một loại cách tiếp cận nam quyền. Trong hàng thế kỉ, nam đã chi phối mọi
thứ, do đó anh ta đã gọi Thượng đế là "ông." Và việc nổi dậy chống lại
điều đó là tuyệt đối đúng. Nhưng bắt đầu gọi Thượng đế là "bà" sẽ
không đưa mọi thứ về đúng; nó sẽ là việc chuyển sang cực đoan khác. Điều đó sẽ
là một loại chủ nghĩa sô vanh, nó sẽ chẳng thay đổi cái gì cả. Đơn giản cái sai
mà đàn ông đã làm sẽ được đàn bà làm; cả hai đều sai. Thượng đế không là cả
hai.
Do
đó ở phương Đông, nơi trong mười nghìn năm hàng trăm người đã đại tới đỉnh cao
tối thượng của việc kinh nghiệm tính thượng đế, chúng ta không gọi Thượng đế là
"ông" hay "bà," chúng ta gọi ngài là "nó." Điều
đó còn hay hơn nhiều bởi vì nó đem
Thượng
đế ra ngoài ông và bà. Nhưng cái gì đó phải được gọi, và bất kì từ nào được
dùng cũng sẽ không thích hợp - ông, bà, nó - bởi vì từ 'nó' cũng có nguy hiểm
riêng của nó. 'Nó' dường như chết bởi vì chúng ta dùng nó cho đồ vật, và Thượng
đế không phải là đồ vật. 'Nó' dường như quá trung lập, và Thượng đế không trung
lập; ngài cực kì cam kết, tham dự. 'Nó' dường như không có tính sống, và Thượng
đế là bản thân cuộc sống, bản thân tình yêu. Bất kì từ nào cũng sẽ có giới hạn
riêng của nó.
Cho
nên bạn có thể dùng bất kì từ nào - ông, bà, nó - nhưng nhớ, mọi từ đều có giới
hạn và Thượng đế là vô giới hạn. Nếu bạn dùng các từ này một cách có lưu tâm,
thế thì không có nguy hiểm. Điều căn bản cần nhớ là ở chỗ Thượng đế là sự hiện
diện, bằng không nhiều câu hỏi ngu xuẩn nảy sinh.
Nếu
bạn gọi ngài là "ông" hay "bà," thế thì câu hỏi nảy sinh,
"Ông ấy sống ở đâu? Ông ấy ở đâu?" Và thế rồi câu hỏi này dường như rất
liên quan bởi vì bạn đã thu ngài lại thành một người; thế thì chỗ cư ngụ của
ông ấy ở đâu?
"Chỗ
cư ngụ của Thượng đế ở đâu?"
Đây
là câu hỏi mà giáo sĩ ở Kotzk đã làm ngạc nhiên những người có học, người tình
cờ tới thăm ông ấy.
Họ
cười ông ấy, "Điều đấy mà phải hỏi! Không phải toàn thế giới đầy niềm vinh
quang của Ngài đó sao?"
Thế
rồi ông ấy trả lời cho câu hỏi riêng của mình:
"Thượng
đế cư ngụ ở bất kì chỗ nào con người để ngài ở."
Không
có chỗ cư ngụ bên ngoài ở đâu đó. Bất kì khi nào bạn cho phép bản thân mình, bạn
cởi mở với sự tồn tại, bất kì khi nào bạn cho phép gió và mưa và mặt trời đạt tới
cốt lõi bên trong nhất của bạn, đột nhiên có Thượng đế, tính thượng đế. Đột
nhiên bạn được tràn ngập bởi cái gì đó lớn hơn bạn, bằng cái gì đó có tính đại
dương. Bạn bắt đầu biến mất vào trong nó như giọt sương.
Khoảnh
khắc chúng ta nói, "Thượng đế là người," thế thì chúng ta bắt đầu cầu
nguyện, ca tụng. Đó là một loại hối lộ. Đó là một loại chỗ tựa cho bản ngã của
người đó. Nếu Thượng đế là người, ngài phải có bản ngã. Thế thì ca ngợi ngài và
ngài sẽ sung sướng với bạn, và bạn sẽ được thưởng hoặc ở đây hoặc ở kiếp sau.
Khoảnh khắc chúng ta nghĩ về Thượng đế như người chúng ta bắt đầu tìm ngài
không trong thế giới mà ở đâu đó xa xăm trên cõi trời, và chúng ta bỏ lỡ toàn
thể vấn đề. Thượng đế là bây giờ-ở đây, Thượng đế không ở đâu khác.
Có
một câu chuyện cổ rằng một người được cảm hứng với Thượng đế một lần đi từ cõi
người vào cõi bỏ hoang bao la. Ở đó người đó lang thang mãi cho tới khi người
đó đi tới Cổng Huyền diệu. Người đó gõ cửa. Từ bên trong vọng ra tiếng kêu la,
"Ông muốn gì ở đây?"
Người
đó nói, "Tôi đã cất lời ca ngợi ngài vào tai các phàm nhân, nhưng họ đều
điếc với tôi, cho nên tôi tới ngài để bản thân ngài có thể nghe tôi và đáp lại."
"Quay
về đi!" tiếng kêu vọng ra từ bên trong. "Ở đây không có tai cho ông
đâu. Ta đã đánh chìm việc nghe của ta vào trong cái điếc của phàm nhân rồi."
Thượng
đế trong đá, Thượng đế trong nước, Thượng đế trong con vật, Thượng đế trong
chim, Thượng đế trong người, trong tội nhân, trong thánh nhân. Thượng đế là
tương đương với tính hiện hữu.
Bây
giờ, tính hiện hữu là ông hay bà? Câu hỏi này sẽ hoàn toàn vô nghĩa.
Cho
nên đừng lo nghĩ liệu Thượng đế là ông hay bà. Thay vì thế, nhìn vào bên trong
bản thân bạn và tìm chỗ nơi cả ông và bà đều biến mất. Và điều đó sẽ là sự bắt
đầu của việc hiểu của bạn về thực tại, về cái đang đấy.
Điều
này không thể được quyết định bởi biện luận. Nó không phải là câu hỏi siêu
hình, nó là cái gì đó có tính tồn tại. Nếu bạn có thể tìm thấy cái gì đó bên
trong bản thân mình mà không nam không nữ, thế thì bạn sẽ biết rằng có cái gì
đó trong sự tồn tại mà không là cả hai, cái ở bên ngoài cả hai. Và cái ở bên
ngoài đó là Thượng đế.
Câu
hỏi thứ hai:
Thưa
thầy kính yêu,
Tôi
già sáu mươi tuổi rồi, vậy mà cùng các ham muốn vẫn cứ dai dẳng. Vấn đề là gì với
tôi thế?
Narayandas,
già đi không phải là trưởng thành lên. Thời gian bởi chính nó không đem tới trí
huệ. Vâng, nó đem tới nhiều kinh nghiệm, nhưng kinh nghiệm bởi chính chúng
không thể chuyển giao trí huệ cho bạn được.
Trí
huệ là hiện tượng khác toàn bộ. Nó không xảy ra qua kinh nghiệm về thế giới bên
ngoài. Nó xảy ra khi bạn trở nên định tâm bên trong bản thể bạn, khi bạn trở
nên được bắt rễ trong bản thể bạn, khi bạn trở nên được tích hợp, khi bạn không
còn là đám đông và bạn trở thành linh hồn được kết tinh.
Ham
muốn không thể biến mất chỉ bởi vì bạn đã trở nên già sáu mươi tuổi. Bạn có thể
già sáu trăm tuổi và ham muốn sẽ có đó, thực ra còn nhiều hơn, bởi vì chúng
cũng sẽ già sáu trăm tuổi. Ham muốn của bạn mới già sáu mươi tuổi thôi; chúng
đã đi sâu vào trong bạn trong sáu mươi năm.
Mọi
người có ý niệm này rằng khi bạn trẻ bạn chịu đựng với ham muốn, khi bạn già bạn
vượt ra ngoài chúng. Chỉ bởi già thôi sao? Điều đó là nực cười! Bạn không vượt
ra ngoài ham muốn chỉ bởi việc già đi đâu. Bạn đơn giản trở thành đạo đức giả;
bạn bắt đầu giả vờ rằng bạn đã vượt ra ngoài ham muốn. Có thể bạn không thể đi
vào trong ham muốn được bởi vì không có năng lượng sẵn có, nhưng tâm trí nghĩ
ngày càng nhiều hơn. Bởi vì bạn không thể làm gì được, toàn thể năng lượng của
bạn trở thàn năng lượng não. Thanh niên có thể làm cái gì đó về ham muốn của
anh ta; bạn không thể làm được, cho nên bạn chỉ nghĩ.
Và
khi chết bắt đầu tới ngày một gần hơn, nỗi sợ lớn nảy sinh: bao nhiêu ham muốn
có đó mà không được hoàn thành. Bạn trở nên sợ: nếu chết tới và đem bạn đi....
Điều đó nhất định xảy ra sớm hay muộn, và khả năng là sớm nhiều hơn muộn. Mọi
ham muốn đó bắt đầu chiếm quyền sở hữu bạn. "Hoàn thành chúng tôi
đi," chúng nói. "Thời gian ngắn lắm. Làm cái gì đó đi." Bạn bắt
đầu phát rồ. Bạn liên tục trở nên bị ám ảnh.
Một
nhà đạo đức lớn tiếng nói với thính giả, "Nhớ lấy, các bạn của tôi, khi
cám dỗ tới trên đường của bạn, bạn phải chống lại nó - chống lại nó!"
"Tôi
cũng muốn làm thế," một trong những ông già nói, "nhưng tôi bao giờ
cũng sợ nó có thể không bao giờ tới nữa."
Sợ
đó là tự nhiên. Chết có thể tới trước khi cám dỗ tới lần nữa. Ai biết? - nó có
thể không tới nữa. Người già trở nên ngày một sợ về mất ham muốn của mình.
Không
phải ngẫu nhiên mà Phật đã đưa vào một ý niệm mới trong thế giới của tính chất
sannyas. Ông ấy bắt đầu điểm đạo cho thanh niên vào sannyas. Ở Ấn Độ, truyền thống
là ở chỗ bạn nên lấy tính chất sannyas chỉ khi bạn rất già, sau bẩy mươi nhăm
tuổi - giai đoạn thứ tư, khi bạn đã làm mọi việc và chỉ chết là còn lại. Thế
thì lấy tính chất sannyas. Đó là ý niệm và nó là ý niệm rất thuận tiện, ý niệm
rất ấm cúng.
Ngay
chỗ đầu tiên, rất ít người sẽ sống ngoài bẩy nhăm, đặc biệt vào những ngày đó
và ở Ấn Độ. Ngay cả ngày nay cũng rất ít người sẽ sống ngoài bẩy nhăm, cho nên
không có sợ về việc sống sau bẩy nhăm và trở thành sannyasin. Và nếu ngẫu nhiên
bạn sống sau bẩy nhăm, tất cả năng lượng của bạn đều đã bị phí hoài, mòn mỏi rồi.
Dù bạn có lấy tính chất sannyas hay không bạn cũng sẽ là sannyasin, cho nên sao
không lấy nó?
Mọi
người sau bẩy nhăm tuổi thường lấy lời nguyện vô dục. Bạn thấy cái ngu xuẩn của
nó đấy! Một người thường tới Ramakrishna mỗi kì lễ hội tôn giáo và ông ấy sẽ thết
một bữa tiệc lớn. Ông ấy là người ăn mặn, và nhiều con vật sẽ bị cắt tiết để
chuẩn bị cho bữa tiệc. Ông ấy rất rất giầu. Thế rồi bỗng nhiên mọi bữa tiệc đó
bị ngừng lại. Có một lễ hội lớn và tiệc tùng không xảy ra, và người này đãi tới
để gặp Ramakrishna.
Ramakrishna
hỏi, "Cái gì xảy ra thế? Sao ông không mở hội bữa tiệc này? Ông đã trở
thành phi tôn giáo hay cái gì? Ông không còn quan tâm tới tôn giáo của ông
sao?"
Ông
ấy nói, "Đấy không phải là vấn đề. Răng tôi bị rụng rồi. Và khi tôi không
thể ăn được, sao tôi phải bận tâm?"
Bữa
tiệc không phải vì lí do tôn giáo nào; bữa tiệc chỉ đơn giản vì ông ấy muốn tận
hưởng. Tôn giáo chỉ là cái cớ.
Mọi
người có thể lấy lời thề vô dục sau bẩy mươi nhăm tuổi, cho nên họ tiết kiệm cả
hai thế giới. Họ đã tận hưởng thế giới này và bây giờ họ đang tạo ra số dư ngân
hàng ở thế giới kia. Họ đang trở nên đức hạnh rẻ rúng tới mức nó toàn là giả.
Phật
đã đưa vào ý niệm rằng thanh niên nên trở thành sannyasins. Thế thì nó là cái
gì đó có ý nghĩa. Khi thanh niên vượt ra ngoài dục, khi thanh niên vượt ra
ngoài ham muốn, khi thanh niên vượt ra ngoài tham lam, tham vọng, khao khát quyền
lực, tham vọng nổi tiếng, thế thì nó là cái gì đó cực kì có nghĩa, có ý nghĩa.
Nhớ
một điều: khi bạn trẻ, bạn có năng lượng. Những năng lượng đó có thể đưa bạn xuống
địa ngục và cùng những năng lượng đó có thể đưa bạn lên cõi trời. Năng lượng là
trung lập; tuỳ thuộc vào bạn, vào cách bạn dùng chúng.
Cho
nên điều đầu tiên: chỉ bằng cách trở nên già không có nghĩa là bạn đã trở nên
trí huệ. Trí huệ cần thiền chứ không phải là kinh nghiệm thế gian. Kinh nghiệm
thế gian làm cho bạn tinh ranh hơn; do đó rất khó tìm thấy người già không tinh
ranh. Bạn có thể tìm thấy thanh niên không tinh ranh; bạn có thể tìm thấy nhiều
trẻ con. Thực ra, gần như tất cả trẻ con đều hồn nhiên, chúng không tinh ranh.
Chúng chưa biết gì về thế giới. Chúng không học các thủ đoạn, chiến lược, chính
trị, ngoại giao. Chúng đơn giản là bất kì cái gì chúng là - chúng đích thực.
Khi chúng ngày càng lớn, khi chúng trở nên quen thuộc với thế giới và mọi thứ đạo
đức giả xung quanh, một cách tự nhiên chúng bắt đầu trở thành một phần của thế
giới. Chúng bắt đầu học cùng loại chiến lược.
Đến
lúc người ta trở nên già người đó trở nên rất tinh ranh - không trí huệ, không
thông minh. Nhớ là: nếu bạn mà ngu khi bạn còn là đứa trẻ, bạn sẽ ngu hơn khi bạn
già. Bạn sẽ có ngu si dài lâu, bắt rễ dài lâu trong bạn với tán lá rộng và hoa
và quả. Bất kì điều gì bạn có đều sẽ lớn lên cùng tuổi bạn. Nếu bạn thiền, thế
thì thiền sẽ phát triển. Nhưng chỉ trở nên già bạn không thể trí huệ được đâu.
Vợ
của viên cựu thuyền trưởng trả tiền cho buổi di khám bác sĩ, người đã nổi tiếng
trong điều trị thành công chứng bất lực. Phương pháp của ông ấy bao gồm việc
thuyết phục bệnh nhân nam rằng anh ta có sự cường dương của ngựa. Bác sĩ này
ưng thuận chữa cho chồng của người đàn bà này.
Vài
tuần sau bác sĩ gặp người đàn bà này trên phố, "Chị có để ý tới thay đổi
chị muốn có ở chồng không?" ông ta hỏi.
"Không,"
người đàn bà đáp, "nhưng anh ấy chỉ thắng cuộc thi ngựa Derby!"
Bâ
giờ, cái ông già ngu xuẩn...! Nếu tôi bảo ông ấy rằng "Bạn là ngựa,"
bạn không thể trông đợi được cái gì khác! Ông ấy sẽ trở thành ngựa; ông ấy sẽ
trở nên bị thôi miên với ý niệm này.
Thông
minh là hiện tượng khác toàn bộ; thông minh không thể bị thôi miên. Người thông
minh không thể là người Hindu, không thể là người Mô ha mét giáo, không thể là
người Ki tô giáo - không thể được, bởi vì đây tất cả đều là thủ đoạn, thủ đoạn
thôi miên.
Mọi
người đều bị thôi miên từ chính thời rất thơ ấu của họ rằng "Bạn là người
Hindu." Việc lặp lại thường xuyên rằng "Bạn là người Hindu" làm
cho bạn là người Hindu. Nó không là gì ngoài ước định. Người trí huệ trở thành
không bị ước định.
Cho
nên điều đầu tiên tôi sẽ gợi ý cho bạn, Narayandas này: trở nên được giải ước định.
Bất kì cái gì mà cuộc sống sáu mươi tuổi của bạn đã ước định bạn, vứt nó đi. Đó
là điều tâm trí bạn là gì: những ước định được tích luỹ. Vứt chúng đi!
Và
việc bắt đầu thiền là khi bạn bắt đầu vứt bỏ các ước định của bạn. Một khoảnh
khắc tới khi bạn trở thành không bị ước định, như trẻ con. Thế thì thông minh của
bạn bùng nổ. Và người thông minh không thể ham muốn, điều đó là không thể được,
bởi vì ham muốn chỉ đem tới khổ, thất vọng. Ham muốn chỉ tạo ra lo âu, phiền
não; nó chưa bao giờ đem tới hoàn thành nào, chưa bao giờ đem tới mãn nguyện
nào. Người thông minh không thể cứ ham muốn được. Chính thông minh của người đó
là đủ làm ham muốn biến mất - không phải là người đó từ bỏ, nhớ lấy. Chỉ người
ngu mới từ bỏ.
Người
thông minh không từ bỏ thế giới này. Họ sống trong thế giới, nhưng họ sống một
cách thông minh, không ham muốn. Bất kì cái gì tới trên đường của họ, họ tận hưởng,
nhưng họ không khao khát cái gì cả. Giấc ngủ của họ vẫn còn không bị quấy rối;
họ không mơ về cái gì. Họ không phóng chiếu về tương lai, họ sống trong hiện tại.
Vâng,
Narayandas, bạn đang trở nên già đi, nhưng đừng hi vọng rằng chỉ bởi việc già
đi bạn sẽ trở nên đủ trí huệ và ham muốn sẽ biến mất theo cách của nó. Cô ấy nằm
trên giường, hạnh phúc vô ngần vào ngày này, buổi sáng đầu tiên này của tuần
trăng mật mơ ước từ lâu.
"Anh
yêu," cô ấy gọi khi cô ấy nghe thấy anh ta lăng xăng trong nhà tắm,
"anh đánh răng chưa?"
"Ừ,"
anh ta thủ thỉ, "và trong khi anh đánh răng, anh đánh cả răng em nữa."
Vâng,
bạn có thể trở nên già, nhưng chỉ bởi việc trở nên già chẳng cái gì được đạt tới.
Trưởng
thành thực xảy ra ở bên trong. Nó là biến đổi nội tâm của bạn. Và bởi vì bạn
đang ở đây, quên sáu mươi năm đó đi cùng mọi ác mộng mà bạn phải đã trải qua
trong sáu mươi năm đó. Lại bắt đầu cuộc sống của bạn tươi tắn từ chính lúc ban
đầu.
Jesus
nói: Chừng nào các ông chưa được sinh ra lần nữa các ông sẽ không có khả năng
vào trong vương quốc của Thượng đế đâu. Và ông ấy tuyệt đối đúng. Bạn cần việc
sinh thành mới; bạn phải được sinh ra hai lần. Và ở cùng với thầy là tái sinh.
Nó là điểm đạo vào thế giới bên trong.
Sáu
mươi năm bạn đã phí hoài ở bên ngoài, tích luỹ tiền, tích luỹ cái này cái nọ, cố
gắng được kính trọng, nổi tiếng, quyền lực. Bây giờ ra khỏi mọi trò chơi ngu xuẩn
đó đi - không thêm trò chơi nữa! Bây giờ để có một việc tìm kiếm duy nhất về
chân lí: chân lí mà bạn đang là, chân lí nằm bên trong bạn, chân lí mà bạn được
tạo nên, chân lí của tâm thức bạn.
Toàn
thể nỗ lực của tôi ở đây là để giúp bạn hướng tới tự biết. Nó không cần thời
gian; nó cần sự mãnh liệt, chân thành. Nó cần quyết tâm. Nó cần nỗ lực vô cùng
để đi vào trong, bởi vì sáu mươi năm kia bạn đã tạo ra nhiều thứ bên ngoài thế,
cái sẽ cản trở bạn đi vào trong. Chúng đã trở thành những bức tường. Bạn đã trở
nên không được bắc cầu với cái ta riêng của bạn.
Bạn
hỏi tôi, "Tôi già sáu mươi tuổi rồi, vậy mà cùng các ham muốn vẫn cứ dai dẳng."
Điều
tốt là bạn đã trở nên nhận biết về nó, rằng cùng những ham muốn ấy vẫn có đó.
Có nhiều người không nhận biết; họ đã kìm nén các ham muốn của họ sâu tới mức bản
thân họ đã trở nên không nhận biết về chúng. Điều tốt là bạn nhận biết. Tia nắng
đầu tiên của thông minh... rằng bạn nhận biết là cùng ham muốn cứ dai dẳng.
Và
bạn hỏi, "Vấn đề là gì với tôi thế?" Chẳng cái gì là thành vấn đề với
bạn; nó là hệt như mọi người thôi. Một pha của cuộc đời bạn qua rồi. Bây giờ đó
là lúc trưởng thành vào chiều hướng khác. Sáu mươi năm là đủ thời gian để biết
về thế giới và mọi thứ nó dâng tặng - hay ít nhất cũng là hứa hẹn dâng tặng. Bạn
đã biết điều đó, và chính chỉ bằng việc biết mà người ta trở nên nhận biết về tất
cả lừa dối của nó.
Bạn
đã thấy ảo tưởng - bây giờ quay vào trong đi. Bây giờ trở thành sannyasin! Bạn
đã từng là phàm nhân cho tới giờ. Và với phàm nhân tôi đơn giản ngụ ý người tuyệt
đối vô nhận biết về bản thân mình và chỉ quan tâm tới điều tầm thường - tiền,
quyền, danh. Và tôi gọi sannyasin là người trở nên quan tâm sâu sắc về cội nguồn
cuộc sống của riêng mình, người bắt đầu hỏi, "Tôi là ai?" và người bắt
đầu đi vào trung tâm của mình. Từ chu vi người đó đổi chỗ trú ngụ của mình hướng
tới trung tâm.
Ngày
bạn đạt tới trung tâm của bạn là ngày của phúc lành lớn lao, ngày của chứng ngộ
vĩ đại. Ngày đó bạn siêu việt lên trên sống và chết. Ngày đó bạn siêu việt lên
trên đàn ông/ đàn bà. Ngày đó bạn siêu việt lên trên mọi nhị nguyện. Ngày đó, lần
đầu tiên, bạn sẽ nếm trải phúc lạc là gì.
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
thầy kính yêu,
Sao
thầy chống lại việc đi theo ai đó, người biết bí mật của cuộc sống? Cái gì là
nhu cầu khám phá ra bản thân họ theo cách riêng của họ?
Sudhakar,
chân lí không thể được truyền trao. Đó là một trong những phẩm chất bản chất của
chân lí: không ai có thể trao nó cho bạn được. Vâng, lời có thể được trao cho bạn,
lí thuyết có thể được trao cho bạn, thượng đế học có thể được trao cho bạn,
nhưng chân lí thì không. Đi theo ai đó bạn sẽ theo lời người đó. Đi theo ai đó
bạn sẽ trở thành người Jaina giáo, người Mô ha mét giáo, Phật tử, nhưng bạn sẽ
không bao giờ trở thành cái ta riêng của mình.
Và
Phật là cá nhân duy nhất cũng như bạn vậy. Ông ấy đã làm gì? Cố hiểu điều đó
đi; điều đó có thể có ích trong cuộc hành trình của bạn. Nhưng đừng theo ông ấy
đúng từng từ; bằng không điều đó sẽ làm cho bạn chỉ là rởm, điều đó sẽ làm cho
bạn chỉ là giả. Sự tồn tại chưa bao giờ lặp lại bất kì ai. Jesus tới chỉ một lần,
Phật tới chỉ một lần. Chưa bao giờ có một người như Phật trước đây và sẽ không
bao giờ có lại nữa, bởi lẽ đơn giản là sự tồn tại chưa bao giờ lặp lại.
Bạn
là một biểu hiện hoàn toàn mới của Thượng đế. Nó chưa bao giờ có trước đây cho
nên chưa bao giờ có người đích xác như bạn cả. Cho nên bạn theo bất kì ai, bạn
sẽ theo ai đó không giống bạn và bạn sẽ lâm vào rắc rối. Bạn có thể trau dồi
tính cách nào đó quanh mình, bạn có thể thủ vai, nhưng bằng thủ vai bạn sẽ
không trở thành vị phật.
Đó
là điều các sư Phật giáo đã từng làm trong hai mươi nhăm thế kỉ - thủ vai, biểu
diễn, tuân theo từng lời. Cách Phật bước đi họ sẽ bước theo vậy, cách Phật ăn họ
sẽ ăn theo vậy, cách Phật ngồi họ sẽ ngồi theo vậy. Bạn có thể làm mọi điều này
và có thể bạn thậm chí còn làm tốt hơn Phật, bởi vì Phật đã không bắt chước bất
kì ai khác; ông ấy tự phát. Khi một người tự phát người đó không có thời gian để
diễn tập nó; bạn sẽ có đủ thời gian để diễn tập. Bạn thậm chí đánh bại cả Phật
trong thi thố.
Điều
đó thực ra có lần đã xảy ra:
Bạn
bè của Charlie Chaplin tổ chức mừng sinh nhật của ông ấy và họ tìm ra cách hay
để làm buổi lễ này. Họ đăng quảng cáo trên báo chí khắp nước Anh rằng sẽ có cuộc
thi và bất kì ai có thể bắt chước được Charlie Chaplin đều sẽ được thưởng. Có
ba giải thưởng lớn.
Nhiều
người tham gia. Ít nhất cũng một trăm người được chọn từ các thành phố khác
nhau và họ tất cả đều tụ tập ở London để dự buổi chung kết chọn ra ba người thắng
cuộc. Charlie Chaplin có một ý niệm. Ông ấy tham gia cuộc thi ở một thị trấn
khác với hi vọng rằng ông ấy sẽ đoạt giải nhất - không có vấn đề về điều đó.
Nhưng ông ấy nhầm; ông ấy được giải nhì! Mọi người mãi về sau mới biết rằng ông
ấy cũng là một người tham dự.
Ông
ấy ngạc nhiên thế rằng ai đó đã xoay xở làm tốt hơn bản thân ông ấy. Một cách tự
nhiên, người kia đã thực hành điều đó một thời gian dài. Charlie Chaplin chỉ bản
thân ông ấy ở đó; không cần thực hành. Ông ấy là Charlie Chaplin, vậy sao phải
thực hành? Cái gì có đó để mà thực hành? Nhưng người kia tinh tế hơn, nhiều thực
hành hơn. Người đó bước đi hay hơn Charlie Chaplin, người đó nói hay hơn
Charlie Chaplin! Người đó giỏi hơn hẳn ông ấy.
Điều
này là có thể. Linh mục Ki tô giáo nào đó có thể đánh bại Jesus, sư Phật giáo
nào đó có thể đánh bại Phật. Nhưng dầu vậy, Phật vẫn là Phật và bạn sẽ chỉ là kẻ
bắt chước. Dầu vậy, Charlie Chaplin vẫn là Charlie Chaplin và người đã thủ vai
thậm chí theo cách tốt hơn cũng vẫn chỉ là thủ vai; sâu bên dưới người đó vẫn là
bản thân người đó.
Bạn
không bao giờ có thể là ai đó khác được. Nhớ điều đó như một trong những luật nền
tảng nhất. Aes dhammo sanantano - đây là luật vĩnh hằng: bạn không bao giờ có
thể giống như ai đó khác được. Điều đó không có nghĩa là bạn không nên học. Học,
nhưng không theo. Hấp thu, nhưng cứ đi con đường riêng của bạn. Học từ mọi người
đã chứng ngộ. Ngồi dưới chân họ, hấp thu sự hiện diện của họ, nhưng cứ đi con
đường riêng của bạn. Bản thân Phật đã nói như phát biểu cuối cùng của ông ấy
trên thế gian này: là ánh sáng lên bản thân mình.
Một
con sóc trên đất đang nhìn hai con sóc trên cây.
Một
trong chúng ngã xuống đất, nẩy lên đôi lần, ngước mắt nhìn lên cây và nói,
"Việc làm tình trên cây đó là dành cho chim."
Đó
là lí do tại sao tôi nói đừng theo. Đừng cố làm tình trên cây - điều đó dành
cho chim! - bằng không bạn sẽ vào bệnh viện đấy.
Sóc
đực và cái tí hon đang chí choé chơi quanh thì bỗng nhiên cáo xuất hiện. Sóc
cái nhảy bổ lên cây nhưng sóc đực vẫn ở dưới đất.
"Kì
lạ thật," cáo nói. "Thông thường sóc sợ ta và chạy hết lên cây gần nhất."
"Nghe
đây," sóc đực nói. "Ông đã bao giờ thử trèo cây đuổi theo sóc cái
trong hai mươi phút chưa?"
Cứ
nhìn và tình huống riêng của bạn mà xem! Phật có không gian khác, hoàn cảnh
khác, thế giới khác. Bạn không thể theo ông ấy được - đúng từng chữ bạn không
thể theo được ông ấy. Một cách biểu dụ bạn có thể hiểu ông ấy và bạn có thể cực
kì được lợi bởi ông ấy.
Bạn
hỏi tôi, Sudhakar, "Sao thầy chống lại việc đi theo ai đó, người biết bí mật
của cuộc sống?"
Làm
sao bạn biết rằng ai đó biết bí mật của cuộc sống? Đó chỉ là tin tưởng. Chừng
nào bạn chưa biết bí mật của cuộc sống, bạn sẽ không bao giờ biết rằng ai đó
khác biết chúng. Và đi theo ai đó chỉ từ tin tưởng bạn có thể bị rắc rối đấy.
Người đó có thể chẳng biết gì cả. Người đó có thể là kẻ nói có tính thuyết phục
thôi; người đó có thể biện luận giỏi hơn bạn có thể biện luận. Người đó có thể
làm cho bạn im trong biện luận; điều đó không có nghĩa là người đó biết. Người
đó có thể nói giỏi hơn bạn nói, người đó có thể đã nghiên cứu kinh sách. Ngay cả
người ác cũng có thể trích dẫn kinh sách! Làm sao bạn biết rằng người đó biết
các bí mật của cuộc sống? Bạn có thể biết chỉ nếu bạn cũng biết.
Bạn
có thể hiểu Phật thực sự chỉ khi bạn cũng là vị phật. Bạn có thể hiểu Christ chỉ
khi bạn cũng là một christ - không phải bởi việc theo họ mà bởi việc trở thành
người thức tỉnh theo cách riêng của bạn. Do đó tôi nói có nhu cầu bản thân bạn
khám phá ra chân lí. Chân lí bên trong là khác với chân lí bên ngoài. Chân lí
bên ngoài có thể được khám phá bởi một người và rồi toàn thế giới sở hữu nó. Chẳng
hạn, lí thuyết tương đối đã được Albert Einstein phát hiện ra.
Bây
giờ mọi người khác không cần khám phá lại nó nữa; điều đó sẽ chỉ là phí thời
gian. Ông ấy đã mất nhiều năm để khám phá nó; bây giờ nếu bạn thông minh bạn có
thể hiểu điều đó trong vài ngày. Nếu bạn thực sự thông minh, thế thì trong vài
giờ. Không cần phí nhiều năm khám phá nó lặp đi lặp lại.
Ai
đó đã khám phá ra - Newton đã khám phá ra - luật trọng trường. Bây giờ bạn
không cần đi và ngồi trong vườn và đợi cho táo rơi xuống và thế rồi ủ ê nghĩ
suy về nó và thế rồi đi tới kết luận rằng phải có lực từ nào đó ở trong đất kéo
mọi sự xuống. Bây giờ, nếu mọi người đều phải làm điều đó, không có nhiều vườn
thế và không có nhiều cây táo thế, và táo có thể không gia ơn cho bạn. Bạn có
thể cứ ngồi dưới cây táo hàng giờ, hàng ngày, hàng tháng; chúng có thể không rụng.
Và
bạn có biết không, ngay cả trước Newton chúng vẫn thường rụng và hàng nghìn người
phải đã quan sát chúng rụng, nhưng chẳng ai đã khám phá ra luật trọng trường cả.
Cho nên chẳng chắc gì rằng cho dù chúng gia ơn với bạn và rơi xuống vào đúng
lúc bạn sẽ khám phá ra luật trọng trường. Không có nhu cầu - Newton đã làm điều
đó cho bạn, cho tất cả, mãi mãi.
Đây
là phẩm chất của chân lí bên ngoài, khách quan: một khi đã được khám phá ra nó
trở thành phổ quát. Chân lí bên trong có phẩm chất khác toàn bộ: nó bao giờ
cũng vẫn còn có tính cá nhân, nó chưa bao giờ trở thành phổ quát cả.
Phật
khám phá ra nó nhưng ông ấy không thể truyền đạt được nó; ông ấy không thể diễn
đạt nó một cách thích hợp được, ông ấy không thể làm nó thành phổ quát được. Nó
vẫn còn có tính cá nhân về bản chất. Và bất kì cái gì ông ấy làm cũng đều không
thích hợp; nó chưa bao giờ hoàn thành nhu cầu lớn lao của quần chúng - rằng họ
không cần khám phá ra nó thêm nữa. Phật đã khám phá ra nó, Jesus đã khám phá ra
nó; bây giờ bạn có thể đơn giản theo nó.
Đây
là cái đẹp của chân lí bên trong, rằng bạn phải khám phá ra nó lặp đi lặp lại,
tươi mới. Và chính việc khám phá đó là phúc lạc tới mức cũng tốt là một người
đã không kết thúc nó mãi mãi; bằng không sẽ không có việc truy tìm tâm linh nào
còn lại. Phật không phải là người đầu tiên; đã từng có những người thức tỉnh
khác trước ông ấy. Một người chứng ngộ mà làm nó và thế rồi trong mọi trường tiểu
học bạn có thể dạy nó cho mọi người. Toàn thể niềm vui của việc khám phá nó chắc
sẽ bị mất rồi. Điều hay là chân lí chủ quan vẫn còn có tính cá nhân. Nó đã được
khám phá ra hàng nghìn lần, nhưng nó vẫn chưa trở thành phổ quát và nó sẽ không
bao giờ trở thành phổ quát; nó sẽ vẫn còn có tính cá nhân. Bạn sẽ phải tìm và
kiếm nó theo cách riêng của bạn.
Và
khi bạn thấy nó bạn sẽ ngạc nhiên: nó là cùng chân lí đã được Phật tìm thấy, nó
là cùng chân lí đã được Mahavira tìm thấy, cùng chân lí đã được Mohammed hay
Moses tìm thấy; nó không phải là chân lí khác. Nhưng đây là phẩm chất của thế
giới bên trong - rằng bạn phải đi tới đó tất cả một mình. Không ai có thể đi
cùng bạn và không ai có thể cho bạn bản đồ làm sẵn.
Nó
là thế giới rất bí ẩn bên trong; thế giới bên ngoài không bí ẩn thế, bản đồ là
có thể. Nhưng thế giới bên trong vẫn còn là bí mật, bí mật bị giấu kín. Ngay cả
khi bạn đã biết nó và bạn muốn chia sẻ nó bạn cũng không thể làm được. Mọi điều
bạn có thể chia sẻ là ham muốn chia sẻ của bạn, có vậy thôi - từ bi sâu sắc của
bạn để chia sẻ, tình yêu của bạn với người khác.
Nhưng
chân lí vẫn còn không được diễn đạt như trước. Thế thì tại sao các thầy tất cả
đều nói? Họ nói không để chia sẻ chân lí - họ biết hoàn toàn rõ nó không thể được
chia sẻ. Họ nói để làm cho khát khao của bạn về chân lí bắt lửa. Họ nói để làm
cho bạn khát khao hơn, đói hơn. Họ nói để tạo ra niềm ao ước vô cùng trong bạn
để đi vào trong. Sự hiện diện của họ, rung động của họ, bài ca của họ, điệu vũ
của họ, tất cả đều chỉ tới một điều: đi vào.
Câu
hỏi thứ tư:
Thưa
thầy kính yêu,
Tôi
không muốn chết và vậy mà tôi ở đây với thầy. Tôi có dở hơi không?
Prem
Svarupo, người lành mạnh không tới đây đâu, bởi vì cái gọi là người lành mạnh
là những người không lành mạnh nhất trên thế giới. Người lành mạnh là những người
đã đóng đinh Jesus. Người lành mạnh là những người đã đầu độc Socrates. Người
lành mạnh là những người đã làm nhiều nỗ lực để giết Phật.
Người
lành mạnh là trong chính trị; họ không đi tới những người chứng ngộ, tới những
người thức tỉnh. Chỉ người dở hơi mới có thể tới - nhưng những người dở hơi
này, theo nghĩa thực, lại là người lành mạnh nhất. Nó là ngược đời. Người theo
Jesus phải đã là dở hơi rồi - họ gàn thật. Mọi người đều nói rằng họ gàn.
Người
theo Phật phải đã là dở hơi. Ngay cả bố của Phật cũng nói với mọi người,
"Các ông dở hơi! Nó dở hơi và các ông cũng dở hơi! Nó đã từ bỏ vương quốc
của nó - nó là thằng ngu. Và bây giờ nhiều người thế đang từ bỏ và đi theo nó.
Các ông có thể tìm thấy cái gì trong rừng rậm? Ngồi dưới gốc cây với mắt nhắm,
các ông có thể tìm thấy gì? Nếu các ông muốn làm cái gì đó, làm nó trong thế giới
này. Nếu ông muốn tìm cái gì đó, tìm nó trong thế giới này."
Khi
Phật quay về nhà sau chứng ngộ của mình, bố ông ấy rất giận và ông ta nói,
"Con là đồ gàn, nhưng ta có thể tha thứ cho con bởi vì ta có trái tim người
bố." Phật cười và ông ấy nói, "Đầu tiên ông nói mọi điều rằng ông muốn
bảo ta là mười hai năm này ta đã không ở đây trong ngôi nhà này. Ông phải đã
tích luỹ nhiều giận dữ - đầu tiên ông phải thanh tâm đi! Khi ông đã ném ra tất
cả rác rưởi đó, thế thì có khả năng trao đổi điều gì đó với ông."
Người
bố bị choáng. Nó nói gì thế này? Điều đó đã không được dự tính tới chút nào!
Trong một chốc có im lặng. Và Phật nói, "Ông nhìn ta. Ta không phải là
cùng người đã ra đi. Ta là người khác toàn bộ bởi vì bản thể bên trong của ta
đã thay đổi. Ta được tái sinh rồi. Ta không phải là con trai của ông chút nào nữa.
Ta không phải là thân thể này và ta không phải là tâm trí này nữa. Ta đã đạt tới
cõi bên kia.
"Cho
nên đầu tiên ông tống ra mọi giận dữ của mình để cho ông có thể nhìn ta, để cho
mắt ông được đủ trong trẻo để nhận ra thay đổi đã xảy ra trong ta - thay đổi
triệt để. Người đã ra đi đã chết rồi, còn người đã tới hôm nay là người khác
toàn bộ - tất nhiên trong cùng sự liên tục. Do đó ta trông thì vẫn cùng người
đó chỉ từ bên ngoài thôi; từ bên trong ta không là cùng người đó chút
nào."
Svarupo,
bạn dở hơi đấy! Mọi sannyasins của tôi đều dở hơi cả. Chỉ người dở hơi mới có
thể có tính tôn giáo - dở hơi trong con mắt của thế gian nhưng không dở hơi
trong con mắt của người thức tỉnh, bởi vì trong con mắt của người thức tỉnh thế
giới là dở hơi. Thế giới là nhà thương điên lớn; bạn phải thoát ra khỏi nó. Bạn
đang học cách lành mạnh, cách lành mạnh hơn.
Bạn
hỏi tôi, "Tôi không muốn chết, và vậy mà tôi ở đây với thầy."
Điều
này xảy ra cho mọi người. Khi bạn tới đây bạn bắt đầu học ngôn ngữ mới, ngôn ngữ
của biến đổi. Bạn bắt đầu thấy chân lí mới: rằng nếu bản ngã chết đi, thế thì bạn
sẽ thực sự được sinh ra. Nếu bản ngã bị vứt bỏ, thế thì Thượng đế có thể đi vào
trong bạn. Bản ngã là rào chắn.
Khi
bạn tới đây lần đầu tiên, bạn tới để cải tiến, để trưởng thành - không để chết
đi. Nhưng từ từ, dần dần bạn bắt đầu hiểu rằng trưởng thành là có thể chỉ nếu
trước hết bạn cho phép cái chết chắc chắn: cái chết của bản ngã.
Thế
thì nỗi sợ bám lấy bạn và mâu thuẫn nảy sinh trong bạn, trói buộc kép. Phần
thông minh của bạn bắt đầu nói, "Chết đi - đừng phí thời gian." Còn
phần không thông minh - quá khứ của bạn - nói, "Mình đang làm gì thế này?
Mình có dở hơi không? Ai biết cái gì sẽ xảy ra sau cái chết? Nếu mình vứt bỏ cá
tính của mình và bản ngã của mình, làm sao mình giữ bản thân mình lại được?
Mình có thể bắt đầu rã rời ra! Làm sao mình sẽ kiểm soát được bản thân
mình?" Bạn sợ nhiều thứ có thể xảy ra cho bạn nếu kiểm soát bị mất.
Do
đó bạn bắt đầu một việc rất mâu thuẫn: một mặt bạn tháo dỡ bản thân mình, và mặt
khác bạn cứ gắn bản thân mình lại. Điều này có thể tiếp tục nhiều năm.
Con
gái diện thời trang trong những ngày này đều mặc quần để làm cho mình giống như
con trai, và áo choàng trong suốt chỉ để chứng tỏ rằng cô ấy không là con trai.
Đây
là trói buộc kép! Và điều này nhất định xảy ra.
Sớm
hay muộn, một ngày nào đó, Svarupo, bạn sẽ phải lấy bước quyết định. Bạn sẽ phải
ra khỏi trói buộc kép này, bởi vì điều này là phí thời gian, năng lượng, cơ hội.
Ai biết được? Tôi có thể không ở đây ngày mai - hay khoảnh khắc tiếp. Cơ hội
này có thể bị mất.
Ngay
bây giờ cánh cửa đang mở và tôi đang vẫy tay ra hiệu cho bạn, "Vào
đi!" Ngày mai cánh cửa có thể biến mất và sẽ không có ai vẫy tay ra hiệu
cho bạn vào đâu. Và thế thì bạn sẽ khổ nhiều, thế thì bạn sẽ trong đau khổ sâu
sắc. Thế thì bạn sẽ kêu và khóc vì bình sữa vỡ. Ngay bây giờ là lúc lắng nghe
tiếng gọi, nghe thách thức. Tôi là thách thức, lời gọi: thách thức của cái
không biết đang gọi bạn tới biển chưa được thăm dò. Tôi biết bạn sợ và tôi biết
rằng rời khỏi chỗ trú ẩn của bờ này là khó khăn. Bạn đã sống trên bờ này lâu thế
và bạn đã làm nhiều cái lều đẹp thế. Nó có đó ấm cúng thế, không sợ sóng và đại
dương và nguy hiểm của cái không biết. Bạn dường như là rất an ninh ở đó, và
tôi đang gọi bạn, "Bước ra khỏi chỗ an ninh ấm cúng của bạn đi!" - bởi
vì nó chỉ là lừa dối thôi.
Chết
nhất định phá huỷ mọi người. Trước khi chết phá huỷ, lấy bước quyết định theo
cách riêng của bạn. Đi vào trong cái không biết. Trước khi chết giết bạn, để bản
ngã bị giết chết bởi bản thân bạn. Thế thì sẽ không có chết cho bạn, thế thì bạn
có thể siêu việt lên trên mọi cái chết. Tất nhiên cần có dũng cảm lớn lao,
nhưng nếu bạn đã dũng cảm là sannyasin, bây giờ đừng nhìn lại sau. Với
sannyasin không có cách nào nhìn lại sau. Lắng nghe thách thức và đi toàn tâm tới
nó.
Vâng,
điều đó sẽ có vẻ dở hơi hơn bởi vì bạn sẽ thấy bạn đang phạm phải một loại tự tử.
Nhưng một khi bạn đã tự tử rồi - tự tử của bản ngã - bạn sẽ ngạc nhiên: sống
trong bản ngã là tự tử thực và thoát ra khỏi nó là đạt tới tự do tuyệt đối. Phật
nói điều đó là niết bàn tự do.
Câu
hỏi thứ năm:
Thưa
thầy kính yêu,
Sao
thầy bao giờ cũng nói và kể chuyện cười về người Do Thái? Sao không về người Ấn
Độ?
Shankara,
người Ấn Độ không có chuyện cười. Họ là những người linh thiêng thế, bạn biết đấy,
tâm linh thế! Họ không có khả năng khôi hài. Tôi chưa bao giờ bắt gặp một chuyện
cười Ấn Độ nguyên bản nào. Mọi chuyện cười đều được nhập khẩu. Thỉnh thoảng tôi
tự hỏi tại sao chính phủ lại cho phép điều đó! Với mọi thứ khác đều có đánh thuế
nặng; chỉ mỗi chuyện cười là có thể được nhập khẩu và bạn không phải trả ba
trăm phần trăm thuế cho chúng. Người Ấn Độ không có chuyện cười, do đó rất khó
kể chuyện cười Ấn Độ.
Còn
người Do Thái là giầu có nhất về chuyện cười; họ có những chuyện cười hay nhất.
Họ là những người trần tục nhất, chính là cái đối lập với người Ấn Độ. Người Ấn
Độ có cái vô nghĩa này của việc rất linh thiêng, còn người Do Thái là người rất
trần tục. Tôn giáo của họ cũng rất trần tục. Họ không có ý niệm nào về từ bỏ thế
giới. Các giáo sĩ của họ không vô dục; các giáo sĩ của họ là người thường như bất
kì ai khác. Đây là cái gì đó hay - tôi đánh giá cao điều đó. Những phân cấp này
nên biến mất. Sự mầu mè lớn lao nhất tồn tại trong tâm trí của cái gọi là người
tôn giáo. Và người Ấn Độ lại rất mầu mè; do đó họ đã không tạo ra chuyện cười
nào.
Người
Do Thái là người trần tục, người thường. Họ tận hưởng sự bình thường của mình,
và họ có khả năng lớn về khôi hài. Thực ra, khả năng khôi hài của họ đã là phúc
lành lớn lao của họ; bằng không, họ đã chịu nhiều khổ thế.... Trong hai nghìn
năm họ đã từng chịu khổ trên khắp thế giới. Không có khả năng khôi hài đó họ chắc
không sống nổi. Khả năng khôi hài của họ đã giúp cho họ sống sót, đã giúp cho họ
bao giờ cũng phục sinh lặp đi lặp lại. Họ đã bị đè nghiến và bị giết và bị tiêu
diệt, và vậy mà tinh thần của họ vẫn trở lại. Họ có thể cười vào khổ, vào đau
khổ. Tiếng cười đã là ân huệ lớn lao. Và rất khó thay đổi chuyện cười Do Thái
thành cái gì khác! Đôi khi tôi thử đấy, nhưng nó mất cái hay của nó.
Một
người nói với người bạn, "Để tôi kể cho anh một chuyện cười."
"Được
thôi," anh bạn nói.
"Thế
này, một người Do Thái đang bước đi trên phố thì anh ta đâm sầm vào...."
"Dừng
lại!" anh bạn kêu lên. "Sao anh bao giờ cũng kể chuyện cười về người
Do Thái thế?"
"Thôi
được, thôi được, tôi sẽ kể nó khác đi vậy.
Một
người Trung Quốc đang bước đi trên phố thì anh ta đâm sầm vào một người Trung
Quốc khác. 'Anh đi tới lễ trưởng thành Do Thái của con trai tôi à?' anh ta hỏi."
Rất
khó thay đổi chuyện cười. Chuyện cười của người Do Thái có hương vị của riêng
nó, và nếu bạn dịch chúng, chúng mất đi hương vị đó, chúng trở thành phẳng tẹt.
Và
tại sao bạn lo nghĩ vậy, Shankara? Sao điều đó làm tổn thương bạn? Mọi giống
nòi trên thế giới đều đóng góp cái gì đó. Mọi giống nòi đều đã sống trong những
tình huống khác nhau, khí hậu khác nhau, đã tiến hoá khác nhau, có cá tính
riêng của mình. Người Do Thái có cá tính riêng của họ, và chuyện cười của người
Do Thái là rất tinh hoa cho cá tính đó. Họ biết cách cười; họ biết cách cười
chính họ nữa. Đó là cái gì đó thực sự đẹp. Dễ cười người khác; tiếng cười thật
là khi bạn có thể cười bản thân mình.
Câu
hỏi thứ sáu:
Thưa
thầy kính yêu,
Thỉnh
thoảng khi tôi nghe thầy đọc câu hỏi phản ứng đầu tiên của tôi là, "Đây là
cái loại câu hỏi ngu xuẩn gì vậy?" Thầy đã bao giờ cảm thấy cách đó không?
Prem
Malik, cũng thỉnh thoảng đấy... chẳng hạn đọc câu hỏi này.
Câu
hỏi cuối cùng:
Thưa
thầy kính yêu
Tôi
muốn thử thực nghiệm với rượu cồn kiểu Gurdjieff, ngoại trừ tôi là người mối
lái. Tôi có thể được phép uống rượu cồn không?
Deva
Shraddan, George Gurdjieff sẽ không cho bạn thực nghiệm đó đâu. Điều đó đã được
cho chỉ với những người chống lại rượu cồn thôi! Chẳng hạn, nếu Morarji Desai
mà tới George Gurdjieff, thế thì ông ấy sẽ buộc ông này phải uống rượu cồn đấy
- thay vì uống nước đái của ông này! Nhưng điều đó không dành cho bạn.
Cho
nên rất khó cho tôi để cho phép bạn được phép uống rượu cồn - điều đó sẽ là chống
lại tinh thần của George Gurdjieff. Ông ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi! Cốt
lõi bản chất của thực nghiệm này là quấy rối bạn, làm tan tành bạn, làm tan
tành hình mẫu của bạn, những hình mẫu cố định. Nếu bạn ham muốn rượu cồn, thế
thì đó là điều cuối cùng sẽ làm tan tành bạn.
Nó
sẽ hoàn thành, nó sẽ không làm tan tành. Thay vì rượu cồn, bắt đầu uống nước cuộc
sống đi! "Anh biết không, anh là người đàn ông đầu tiên em đã gặp có cái
hôn làm em ngồi nhỏm dậy và mở mắt ra."
"Thật
thế à?"
"Vâng.
Thông thường chúng có hiệu quả đối lập."
Với
bạn, rượu cồn sẽ chẳng có ích gì; nước cuộc sống có thể có hiệu quả đúng. Bạn
có thể mở mắt ra và ngồi dậy. Và một điều nữa tốt về nó: bạn có thể bị đập vỡ
và dầu vậy bạn vẫn có thể tận hưởng nó. Không phép tắc nào là được cần được,
cho nên Laxmi không cần lo nghĩ về nó. Nó cho bạn việc tự dựa vào mình toàn bộ.
Một
đêm thứ bẩy George chấm dứt bữa tiệc trong một toà nhà căn hộ không quen thuộc.
Anh ta quá say và bằng cách nào đó tìm đường về nhà trong tảng sáng. Khi anh ta
tỉnh dậy trưa hôm sau với dư vị váng vất khủng khiếp, anh ta nhận ra rằng anh
ta đã bỏ quên áo vét, cà vạt, áo sơ mi và giầy ở bữa tiệc.
Rất
khó khăn anh ta mới tìm ra toà nhà căn hộ đó, nhưng anh ta chẳng có ý niệm mình
đã ở trong căn hộ nào. Điều duy nhất anh ta nhớ về nó là cái bồn cầu vàng tuyệt
diệu.
Thế
là anh ta gõ cửa căn hộ đầu tiên. Cửa mở ra với một người bị váng vất say.
"Xin
chào," George nói. "Anh có tham dự bữa tiệc đêm qua ở đây
không?"
"Chúng
tôi chắc chắn có chứ!" người này lầm bầm.
"Và
anh có cái bồn cầu vàng không?"
"Bồn
cầu vàng á? Không, chúng tôi chắc chắn không có."
Thế
là George phải đi sang cửa bên cạnh, và cứ thế đi hết ba tầng lầu. Mọi người đều
phục hồi sau bữa tiệc, nhưng không ai biết gì về bồn cầu vàng cả. Đến lúc anh
ta đi tới căn hộ cuối cùng, George bắt đầu nghĩ mình đã tưởng tượng ra bồn cầu
vàng. Cánh cửa mở ra bởi một người vẫn còn váng vất say.
"Úi,
xin chào," George nói. "Anh có dự bữa tiệc đêm qua ở đây không?"
"Chúng
tôi chắc chắn là có ăn tiệc ở đây!" người này lầu bầu.
"Và
anh ngẫu nhiên có bồn cầu vàng không?"
Im
lặng một lúc lâu.
Cuối
cùng người này hét lên ra sau lưng qua vai mình, "Này, Harry - đây là anh
chàng đã ỉa vào kèn đồng của cậu đấy!"
Cho
nên, Shraddan, sự thừa nhận có thể được phép... nhưng về kèn đồng của người
khác thì sao?
Bạn
sẽ tạo ra rắc rối. Nếu bạn nghe lời khuyên của tôi, quên toàn bộ ý niệm này đi.
Cũng tốt bạn là người mối lái. Điều này được gọi là phúc lành trá hình. Nếu như
bạn không phải là người mối lái bạn đã đi theo Gurdjieff, và điều đó chắc đã dẫn
bạn vào nhiều rắc rối hơn.
Gurdjieff
chắc chắn buộc mọi người phải uống rượu, nhưng chỉ những người chống lại rượu cồn
thôi. Ông ấy thường nâng cốc chúc mừng mọi đêm cho những kẻ ngốc trên thế giới.
Ông ấy có hai mươi sáu loại kẻ ngốc. Tôi không biết bạn sẽ thuộc vào loại nào,
nhưng bạn phải thuộc vào loại nào đó. Chừng nào bạn chưa thức tỉnh bạn nhất định
thuộc vào loại nào đó này khác.
Kẻ
ngốc là người cố gắng tìm vui vẻ nơi vui vẻ không tồn tại chút nào, người cố gắng
tìm cái gì đó mà người đó chưa bao giờ đánh mất ngay chỗ đầu tiên. Người chứng
ngộ là người đã nhìn vào trong bản thể mình trước khi tìm bất kì cái gì ở bất
kì đâu khác. Tốt hơn cả là nhìn vào trong nhà riêng của bạn. Người đó đã nhìn
vào trong và đã thấy nó ở đó. Bây giờ việc tìm kiếm của người đó đã biến mất.
Người
quan tâm tới rượu cồn phải sống trong khổ, trong một loại đau khổ. Đó là lí do
tại sao người đó muốn bằng cách nào đó quên tất cả về nó. Rượu cồn không là gì
ngoài phương thức hoá học để quên đi khổ của bạn, lo âu, vấn đề của bạn, để
quên đi bản thân bạn.
Toàn
thể nỗ lực của tôi ở đây, Shraddan, là để giúp bạn nhớ tới bản thân bạn - và bạn
muốn quên bản thân bạn. Bằng việc quên bản thân mình bạn sẽ tạo ra ngày càng
nhiều địa ngục cho bản thân bạn và cho người khác. Nhớ lấy, thay vì thế nhớ bản
thân bạn.
Phương
pháp của tôi khác với phương pháp của George Gurdjieff. Tôi không thiên về đồ uống
có cồn. Tôi không thiên về bất kì chất gây phiêu diêu nào, bởi vì chúng tất cả
đều tạo ra thế giới ảo tưởng cho bạn và chúng tất cả đều là việc sao lãng.
Chúng làm cho bạn ngày một quên lãng hơn bản thể riêng của bạn, vô nhận biết về
cái ta riêng của bạn.
Công
việc của tôi dựa trên nhận biết. Từ 'nhận biết' là chìa khoá vàng ở đây, chìa
khoá chủ. Bạn phải học nhận biết nhiều hơn. Dù nó gây đau đớn thế nào lúc ban đầu,
cứ nhận biết nhiều hơn, bởi vì chính do trở nên nhận biết nhiều hơn mà một ngày
nào đó bạn sẽ trở thành một phần của lễ hội của cái toàn thể.
Aes
dhammo sanantano - đây là luật không cạn vĩnh hằng.
Đủ
cho hôm nay.
Xem Chương 13 - Quay về Mục lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment