Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 10)
Chương
13. Tôn giáo là bài ca, thơ ca, điệu vũ của trái tim bạn
Câu hỏi thứ nhất:
Thưa
Thầy kính yêu,
Thầy
có cải tâm mọi người sang tôn giáo của riêng thầy không?
Christina,
tôi không có tôn giáo nào hết cả: có một loại tính tôn giáo nào đó, nhưng không
có tôn giáo nói riêng. Đó là lí do tại sao lại dễ thế cho tôi hấp thu Jesus, Phật,
Lão Tử, Zarathustra, Moses, Mohammed, Mahavira. Nếu như tôi có tôn giáo, thế
thì tôi sẽ không thể nào phổ quát được như vậy.
Có
tôn giáo nghĩa là trở nên bị giới hạn. Có tôn giáo nghĩa là bạn đã định nghĩa
cuộc sống, bạn đã làm ra giáo điều từ cuộc sống, bạn đã giải bí ẩn của nó. Nó
không còn vô hạn nữa; nó không còn là không biết nữa, không thể biết nữa. Bạn
đã thu nó lại thành hệ thống ý nghĩ.
Toàn
thể nỗ lực của tôi ở đây là để làm tan chảy mọi hệ thống ý nghĩ, làm tan chảy
tâm trí của bạn, cái đã trở thành lạnh như băng, đông cứng thành định kiến, để
cho một loại hơi ấm mới bao quanh trái đất. Nó sẽ là một loại tính tôn giáo - một
cảm giác mơ hồ, không phải là ý nghĩ xác định. Bạn có thể kinh nghiệm nó, nhưng
bạn không thể giải thích được nó. Nó sẽ không giống như hoa, nó sẽ giống hương
hoa nhiều hơn. Nếu bạn không bị lạnh bạn sẽ có khả năng cảm thấy nó, hương
thơm. Và cái đầu của mọi người lại quá đầy sự lạnh lẽo; họ chịu từ cái lạnh, họ
đã trở nên bị đông cứng. Người này là người Hindu, người khác là người Ki tô
giáo.
Đó
là nghĩa của cái tên của bạn, Christina: Một Christ.
Là
một Christ và đừng bao giờ là người Ki tô giáo! Là vị phật, đừng bao giờ là phật
tử! Điều đó đang làm lắng đọng rác rưởi. Khi bạn có thể tự mình kinh nghiệm
chân lí, sao còn lắng đọng cho tri thức thứ cấp? Mọi tôn giáo đều là tri thức
thứ cấp.
Khi
thầy còn sống, thầy có bầu khí hậu nào đó, không có hoài nghi gì về điều đó, một
bầu không khí nào đó bao quanh thầy, nơi mọi người bắt đầu trưởng thành - trưởng
thành trong bản thân họ. Điều đó là cải tâm đúng. Cải tâm không có nghĩa là người
Hindu trở thành người Ki tô giáo hay người Ki tô giáo trở thành người Hindu; điều
đó không phải là cải tâm. Điều đó đơn giản là đổi từ nhà tù này sang nhà tù
khác, chuyển từ hệ thống tư tưởng chết này sang hệ tư tưởng chết khác - nhưng bạn
vẫn còn như cũ.
Cải
tâm nghĩa là thay đổi triệt để trong bản thể bạn. Vấn đề không phải là thay đổi
ý thức hệ của bạn, vấn đề là thay đổi tâm thức bạn. Theo nghĩa đó, mọi người chắc
chắn đang được cải tâm. Và tôi không cải tâm họ, họ cho phép bản thân mình được
cải tâm. Nhớ lấy sự khác biệt đó. Tôi không quan tâm tới việc cải tâm bất kì
ai; tôi đơn giản tạo ra không gian sẵn có cho những người muốn trải qua cuộc
cách mạng này. Họ có thể trải qua cuộc cách mạng này. Tôi không cố gắng một
cách trực tiếp hay gián tiếp làm bạn thành một phần của bất kì tôn giáo nào.
Mới
hôm nọ tôi có đọc... ai đó đã viết - một người Hindu - rằng tôi đang cải tâm mọi
người sang Jaina giáo bởi vì tôi được sinh trong tôn giáo của người Jaina. Và
người Jaina nghĩ rằng tôi đang cải tâm người Jaina vào tôn giáo của người Hindu
bởi vì mầu da cam là mầu của người Hindu - cứ dường như mầu sắc cũng có thể có
tính chất Hindu hay Mô ha mét giáo! Và người Ki tô giáo đã viết thư cho tôi, viết
các bài báo chống lại tôi, rằng tôi đang cải tâm người Ki tô giáo sang Hindu
giáo. Đó là một thế giới rất kì lạ! Người Ki tô giáo nghĩ tôi đang cải tâm bạn
sang Hindu giáo, người Hindu nghĩ tôi đang cải tâm bạn sang Jaina giáo, người
Jaina nghĩ tôi đang cải tâm bạn sang Hindu giáo, người Mô ha mét giáo nghĩ tôi
đang cải tâm bạn sang Phật giáo và Phật tử nghĩ tôi đang cải tâm bạn sang cái
gì đó khác.
Tôi
không cải tâm bạn sang bất kì hệ thống tư tưởng có tổ chức nào, trực tiếp hay
gián tiếp. Tôi không quan tâm tới điều đó chút nào. Nhưng chắc chắn tôi đang
làm ra một chiều hướng sẵn có cho bạn. Nếu bạn quan tâm đi vào qua cuộc cách mạng,
bạn có thể đi. Nếu bạn có can đảm và dũng cảm bạn có thể có tâm thức mới.
Nhưng
tôi có thể hiểu được câu hỏi này, đặc biệt từ một người Ki tô giáo, bởi vì người
Ki tô giáo đã từng làm kinh doanh này trên khắp trái đất trong hàng thế kỉ,
theo mọi cách có thể được, đúng hay sai. Nếu mọi người không thể được cải tâm bằng
việc thuyết phục họ, thì cải tâm họ bằng lưỡi kiếm. Nếu kiếm đã trở thành lạc hậu
và trông xấu, thì cải tâm họ bằng tiền, bằng bánh mì và bơ. Mọi người đều nghèo
và chết đói.
Ở Ấn
Độ tôi chưa bao giờ bắt gặp một gia đình giầu đã trở thành người Ki tô giáo. Chỉ
người rất nghèo người bao giờ cũng trên bờ vực của chết vì đói mới trở thành
người Ki tô giáo. Lí do không phải là vì họ quan tâm tới Christ; họ đơn giản
quan tâm tới việc sống sót - và các nhà truyền đạo Ki tô giáo có tiền. Họ có thể
cho những người này tiền, việc làm, quần áo, thuốc men, bệnh viện. Và khi đó là
vấn đề sống còn, ai bận tâm về tôn giáo? Bạn thuộc vào tôn giáo nào cũng chẳng
thành vấn đề - yêu cầu đầu tiên là sống còn. Cho nên ở Ấn Độ mọi người nghèo,
người rất nghèo đều đã được cải tâm. Đây là cải tâm họ bằng hối lộ. Bây giờ
thay vì dùng lưỡi kiếm, một phương pháp luận rất tinh vi đang được dùng để cải
tâm họ.
Nhưng
tôi không quan tâm tới việc cải tâm bất kì ai. Tôi yêu Jesus cũng nhiều như tôi
yêu Phật bởi vì tôi không thấy khác biệt gì. Cả hai đều có tính tôn giáo bởi vì
cả hai đều đã thức tỉnh. Không có khác biệt chút nào giữa tất cả những người đã
thức tỉnh. Nhưng nhà thờ đã không quan tâm tới việc thức tỉnh hay người thức tỉnh;
mối quan tâm của họ là về số người, và họ dùng mọi cách có thể, trực tiếp, gián
tiếp, thô thiển và tinh vi để cải tâm mọi người.
Do
đó, Christina này, câu hỏi này đã nảy sinh trong tâm trí bạn: có thể tôi đang
làm cái gì đó giống như các nhà truyền giáo Ki tô giáo. Tôi không phải là nhà
truyền giáo đâu.
Ông
và bà Chotnik đã hi vọng rằng con trai họ, Stanley, sẽ theo con đường của cách
thức chính thống riêng của họ và theo đuổi giáo dục cao hơn tại đại học
Yeshiva. Thay vào đó, mặc cho mối quan tâm nhiều của họ, anh ta đã vào trường
cao đẳng Ki tô giáo. Nhưng khi anh ta trở về nhà vào kì nghỉ hè, họ được nhẹ
nhõm rất nhiều khi thấy rằng nỗi lo sợ của họ đã không có cơ sở. Stanley đã
không từ bỏ niềm tin do tổ tiên truyền lại, anh ta đã không bị cải tâm, anh ta
đã không, điều đó là rõ ràng, bị ảnh hưởng dù theo cách nhỏ nhặt nhất bởi môi
trường phi Do Thái của mình. Thực tế, vào chính ngày thứ sáu tiếp, anh ta sẵn
sàng đồng ý đi cùng họ tới giáo đường.
Tối
hôm đó, tại gần buổi lễ ngày nghỉ shabbes, giáo sĩ, một ông bạn già của gia
đình Chotnik, đón chào cậu sinh viên trẻ với nụ cười lớn. "Thật hay lại được
gặp cậu ở đây trong ngôi đền này, Stanley," giáo sĩ nói, lắc tay cậu thanh
niên. "Nói thẳng, cha mẹ cậu và tôi đã sợ cậu có thể bị thành người Cơ đốc
giáo ở đó tại South Bend."
Lông
mày của Stanley nhướn lên trong ngạc nhiên. "Không thể được!" anh ta
tuyên bố. "Không ai đã bao giờ cải tâm cháu, thưa cha."
Có
những cách tinh vi để cải tâm. Người bị cải tâm không trở nên nhận biết chút
nào về điều xảy ra. Bạn cứ ước định người đó, dần dần, dần dần. Bạn cứ lặp lại
sách phúc âm và dần dần, dần dần không có nhận biết của người đó, tâm trí người
đó trở nên đầy tất cả những điều đã từng được lặp lại. Người đó bị ước định. Đó
là quá trình thôi miên.
Nỗ
lực của tôi ở đây là chính điều đối lập lại: nó là quá trình giải thôi miên, giải
ước định. Tôi giải ước định bạn, dù bạn là bất kì ai, người Ki tô giáo, người
Hindu, người Mô ha mét giáo. Tôi đơn giản giải ước định bạn và thế rồi tôi để
điều đó cho bạn để bạn có thể là bản thân mình. Tôi không ước định lại bạn lần
nữa. Tôi dừng lại với việc giải ước định để cho bạn được tự do khỏi hình mẫu
cũ, khỏi động thái cũ mà đã từng bị áp đặt lên bạn. Một khi bạn được tự do thì
công việc của tôi được kết thúc. Thế thì bạn có thể trưởng thành theo cách
riêng của bạn theo ánh sáng riêng của bạn, theo nhu cầu bên trong riêng của bạn.
Từng cá nhân đều có quyền tập ấn là bản thân mình.
Thế
giới này không cần người Ki tô giáo, người Hindu và người Mô ha mét giáo; nó chắc
chắn cần người tôn giáo. Và tôi ngụ ý gì khi tôi dùng từ 'người tôn giáo'? Tôi
ngụ ý những người nhận biết rằng thế giới này không chỉ là vật chất, rằng thế
giới này là cái gì đó hơn nữa, cái gì đó thêm nữa. Nó không kết thúc với vật chất;
vật chất chỉ là chu vi: tâm thức là ở trung tâm. Và điều này là có thể chỉ khi
bạn kinh nghiệm tâm thức ở trung tâm riêng của mình; thế thì bạn có thể kinh
nghiệm tâm thức ở mọi nơi. Khi bạn bắt đầu cảm thấy tâm thức ở mọi nơi bạn đã bắt
gặp tính thượng đế. Kinh nghiệm này là tôn giáo.
Tôi
chắc chắn quan tâm tới việc đưa bạn vào trong kinh nghiệm bao la này, nhưng bạn
phải tới theo cách riêng của bạn. Bạn phải tới nó mà không có niềm tin nào, định
kiến nào - cởi mở, mong manh, sẵn sàng nhìn cái đang đó, thay vì phóng chiếu
cái phải thế. Tôi không cho bạn bất kì cái phải và cái không phải nào, tôi
không cho bạn bất kì lời răn nào. Tôi đơn giản giúp bạn như người làm vườn giúp
hạt mầm. Đấy không phải là làm ra hoa sen từ bụi hồng hay ngược lại. Người làm
vườn giúp cho hoa hồng là hoa hồng và hoa sen là hoa sen. Bất kì cái gì là tiềm
năng của bạn, bạn phải là cái đó.
Tôi
không ở đây để quyết định bạn phải là cái gì; tôi chỉ có thể cho bạn hướng dẫn
cách trưởng thành vào trong bản thể riêng của bạn. Và đó là cách một người trở
thành một Jesus, một Phật, một Zarathustra.
Câu
hỏi thứ hai:
Thưa
Thầy kính yêu,
Phương
Tây quá đông đúc các nhà trị liệu tâm lí và bệnh nhân của họ, nhưng sao không
ai dường như được giúp đỡ?
Patrick,
giúp đỡ là có thể chỉ qua vị phật. Giúp đỡ là có thể chỉ qua người đã thức tỉnh.
Các
nhà trị liệu tâm lí cũng ngủ như bạn vậy; họ ở trong cùng một con thuyền. Không
có khác biệt về chất giữa bạn và họ - thực tế họ có thể còn điên khùng hơn bạn.
Họ có thể còn trong đống lộn xộn hơn bạn bởi vì họ thường xuyên phải giải quyết
với người điên; hết ngày nọ tới ngày kia, họ bị bao quanh bởi người điên. Thay
vì giúp người điên trở nên lành mạnh, chính điều đối lập xảy ra: thường xuyên
tiếp xúc với người điên, dần dần, dần dần tự bản thân họ trở nên điên.
Điều
này là tự nhiên. Họ chưa có nhận biết đó, điều có thể vẫn còn tách rời, không bị
ảnh hưởng. Họ không có khoảng cách đó, sự bình thản đó, sự tách rời đó. Họ
không sống trên đỉnh ánh sáng mặt trời; họ đang dò dẫm trong thung lũng tăm tối
nơi bạn cũng đang dò dẫm. Họ mù như bạn mù, nhưng họ phải giả vờ rằng họ không
mù - và điều đó còn nguy hiểm hơn.
Nếu
một người mù và biết rằng mình mù và chưa bao giờ giả vờ khác đi, có mọi khả
năng người đó sẽ bước đi thận trọng hơn. Nếu người đó giả vờ rằng người đó
không mù, nếu người đó phóng chiếu rằng người đó không mù, nếu người đó thuyết
phục người khác rằng người đó không mù, dần dần, dần dần người đó sẽ bị thôi
miên bởi lời nói của riêng mình, tự thôi miên. Người đó sẽ bắt đầu tin rằng người
đó không mù và người đó sẽ bắt đầu bước đi kém cẩn trọng. Và điều đó còn nguy
hiểm hơn.
Tôi
đã nghe:
Có
lần một người mù tới thăm một Thiền sư. Khi người này ra về - lúc đó là đêm,
đêm tối, không trăng, và nhiều mây thế - thầy nói với người mù, "Cầm chiếc
đèn này đi theo ông."
Người
mù này cười to. Người đó nói, "Thầy có đùa không đấy? Cái đèn giúp gì cho
tôi? Tôi không thể nhìn được! Dù tôi có đèn hay không thì cũng vậy cả
thôi."
Nhưng
thầy nói, "Điều đó ta biết, rằng ông không thể thấy được, nhưng ít nhất
người khác sẽ có khả năng nhìn trong bóng tối rằng ông đang tới cho nên họ sẽ
không đâm quàng vào ông."
Biện
luận này có vẻ đúng. Người mù cầm chiếc đèn, ra đi. Anh ta mới đi được trăm bước
thì một người đâm sầm vào anh ta. Anh ta nói, "Có chuyện gì thế? Anh cũng
mù sao? Anh không thể thấy được chiếc đèn này à?"
Nhiều
nhà trị liệu tâm lí phát điên hơn bất kì nghề nào khác và nhiều nhà trị liệu
tâm lí tự tử hơn bất kì nghề nào khác. Và điều đó là tự nhiên. Sống cùng người
điên, người ta có thể hiểu được - họ trở nên bị nhiễm.
Vài
cảnh sẽ giúp cho bạn....
Và
người kia nói, "Tôi không mù. Tôi xin lỗi, nhưng đèn của ông có thắp đâu;
lửa của nó tắt rồi."
Người
mù này quay trở lại với Thiền sư và nói, "Thầy trông đấy, đừng bao giờ đưa
đèn cho người mù khác nữa. Nếu không có đèn tôi đã bước đi thận trọng hơn. Tôi
bao giờ cũng bước đi thận trọng. Bởi vì có đèn tôi bước đi cứ dường như tôi
không còn mù nữa - và chiếc đèn tắt ngấm. Nhưng làm sao tôi biết rằng chiếc đèn
tắt rồi? Bởi vì chiếc đèn này, lần đầu tiên tôi đã bị một người làm bị thương.
Bằng không, tôi đã bước đi cả đời mình trong mọi tình huống có thể, nhưng bởi
vì tôi thận trọng thế, bao giờ cũng làm tiếng động với chiếc gậy trên đường nên
mọi người có thể cảm thấy rằng người mù nào đó có đó, bao giờ cũng dò dẫm bằng
chiếc gậy trong bóng tối nên tôi biết tôi ở đâu, tôi đang đối diện với tường
hay cửa.... Đó là lần đầu tiên tôi bước đi mà không sợ gì."
Và
đó là điều đang xảy ra cho các nhà trị liệu tâm lí của bạn đấy, Patrick. Họ
nghĩ họ biết - họ chẳng biết gì. Họ được thông tin nhiều, nhưng thông tin không
phải là việc biết. Họ được giáo dục tốt, nhưng họ đã không có bản thể cao hơn bạn.
Và giúp đỡ là có thể chỉ khi ai đó cao hơn bạn chìa tay cho bạn.
Cảnh
thứ nhất:
Một
người bước vào văn phòng của nhà tâm thần. "Ông phải giúp tôi!" anh
ta kêu lên.
"Ông
làm gì để sống?" bác sĩ tâm thần hỏi. "Tôi là thợ cơ khí ô tô."
"Chui
xuống dưới gầm tràng kỉ!"
Cảnh
thứ hai:
Nhà
tâm thần thứ nhất: "Xin chào!"
Nhà
tâm thần thứ hai: "Tôi tự hỏi ông ngụ ý gì bởi điều đó?"
Cảnh
thứ ba:
Bệnh
nhân: "Tất nhiên tôi bực mình, bác sĩ. Tôi có mười một đứa con và tôi thấy
chồng tôi không yêu tôi."
Bác
sĩ: "Bà rất may mắn đấy. Tưởng tượng xem nếu ông ấy yêu thì sao!"
Cảnh
thứ tư:
"Bác
sĩ ơi, vợ tôi buộc tội tôi là kẻ chơi bài ép buộc."
"Điều
đó thật nực cười. Bây giờ câm đi và giải quyết đi!"
Và
cảnh thứ năm:
"Bác
sĩ ơi, bởi vì bác sĩ đã chữa khỏi cho tôi xu hướng đồng dục và vì đây là phiên
cuối cùng của chúng ta, tôi có thể hôn bác sĩ để chào tạm biệt được
không?"
"Đừng
có lố bịch - đàn ông không hôn. Tôi đáng phải không nằm trên cùng tràng kỉ với
anh!"
Bạn
hỏi tôi, Patrick, "Phương Tây quá đông đúc các nhà trị liệu tâm lí và bệnh
nhân của họ, nhưng sao không ai dường như được giúp đỡ?"
Giúp
đỡ là có thể chỉ từ nguồn cao hơn. Người trên cùng mảnh đất như bạn không thể
giúp gì được bạn. Giúp đỡ là có thể chỉ khi một người ý thức đầy đủ cố gắng
giúp cho người vô ý thức. Cũng dường như bạn đang ngủ; bạn có cho rằng ai đó
khác đang ngủ có thể giúp bạn theo bất kì cách nào được không? Chỉ ai đó thức mới
có thể đánh thức bạn được. Nếu bạn muốn được thức dậy vào một giờ đặc biệt, bạn
không nói với ai đó khác còn đang ngủ, "Xin hãy thức tôi dậy lúc năm giờ
sáng. Tôi phải đi tập Thiền Động phải gió đó!" Bạn phải nhờ ai đó thức chứ.
Chỉ ai đó thức mới có thể đánh thức bạn được. Thực tế, người đang ngủ có thể
giúp bạn rơi vào giấc ngủ sâu hơn.
Bạn
có thể đã quan sát điều đó xảy ra. Nếu vài người đang ngồi ngay cạnh bạn mà
ngáp, bạn bắt đầu cảm thấy buồn ngủ. Họ tạo ra rung động nào đó; họ tạo ra bầu
không khí nào đó mà trong đó bất kì ai mong manh cũng sẽ bắt đầu cảm thấy tốt
hơn cả là đi ngủ.
Cùng
điều đó xảy ra với người thức tỉnh: vị phật tạo ra rung động hoàn toàn khác.
Ông ấy lay bạn dậy, ông ấy đánh thức bạn dậy. Ông ấy cứ gây choáng cho bạn theo
nhiều cách; ông ấy tìm ra phương cách để gây choáng cho bạn.
Kavita
đã hỏi, "Thưa Thầy kính yêu, thỉnh thoảng thầy dùng những lời tới mức tôi
cảm thấy choáng - và tôi hay nghĩ rằng không lời nào bao giờ có thể gây choáng
cho tôi được. Thầy không có lời nào dịu sao?"
Kavita,
tôi sẽ cứ dùng những lời này chừng nào bạn còn chưa thức dậy. Bạn thích nghe điệu
ru con - nhưng bài ru con sẽ không ích gì. Cái hấp dẫn bạn, cái bạn thích sẽ
không giúp ích gì cả. Cái gì đó gây choáng cho bạn.... Tôi sẽ dùng những lời dữ
dội cho tới khi bạn dừng ngáp.
Bất
kì khi nào tôi thấy ai đó ngáp ở đâu đó, lập tức tôi phải nói cái gì đó gây
choáng cho bạn - và tôi có thể thấy cái ngáp của người đó biến mất. Khoảnh khắc
tôi nói "chuyện nhảm nhí" - lập tức khi tôi nói điều đó người đó dừng
ngáp! Xương sống người đó dựng thẳng dậy, kundalini của người đó vươn lên!
Chừng
nào tất cả các bạn còn chưa thức tỉnh tôi sẽ không để các bạn yên đâu; tôi sẽ cứ
đánh bạn theo đủ mọi cách có thể.
Giúp
đỡ là có thể, Patrick này, chỉ từ người đã thức tỉnh. Bạn không cần các nhà trị
liệu tâm lí, bạn cần chư phật.
Thứ
hai: bạn đi tới nhà trị liệu tâm lí, nhưng bạn không thực sự muốn được giúp đỡ.
Bạn có đầu tư lớn vào bệnh hoạn của mình.
Lại
thêm vài cảnh.
Cảnh
thứ nhất:
"Bác
sĩ ơi, vợ tôi nghĩ cô ấy là tủ lạnh." "Sao anh không li dị cô ấy?"
"Tôi
muốn đấy nhưng tôi cần đá."
Cảnh
thứ hai:
"Bác
sĩ ơi, con gái tôi nghĩ nó là thỏ."
"Đem
nó tới đi. Tôi sẽ xem tôi có thể làm gì." "Được, nhưng bất kì điều gì
xảy ra, tôi hi vọng ông không chữa lành cho nó."
Không
ai muốn thực sự được giúp. Mọi người chỉ chơi trò chơi. Họ đi tới nhà phân tâm
với hi vọng rằng ông ta không thể làm gì được, rằng ông ta sẽ không thực sự
thay đổi họ. Không ai muốn bị thay đổi; mọi người đều muốn vẫn còn như mình vẫn
vậy. Bạn đã trở nên quen thuộc thế với khổ của mình, với bệnh hoạn của mình...
nó là cuộc sống của bạn, nó là cách thức cuộc sống của bạn.
Nếu
bạn muốn được thay đổi bạn sẽ tìm thầy, không tìm nhà trị liệu tâm lí.
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
Thầy kính yêu,
Có
chân lí nào trong triết lí về bất tử thân thể, điều nói rằng chính là niềm tin
của chúng ta vào sự không tránh khỏi của cái chết mới tạo ra tuổi già, bệnh tật
và cái chết? Ý nghĩ của chúng ta biểu lộ ra kết quả tới mức độ nào?
John
Fisant, con người sợ chết; do đó con người cứ tạo ra đủ loại ý tưởng ngu xuẩn.
Bất tử thân thể là cực kì vô nghĩa bởi vì cái gì bắt đầu đều nhất định kết
thúc. Bất tử thân thể là có thể chỉ nếu bạn không được sinh ra qua cha mẹ mà được
chế tạo trong xưởng máy. Nếu bạn được làm bằng nhựa, nếu bạn không là người thực,
thế thì có khả năng. Nhựa dường như là thứ bất tử duy nhất.
Cho
nên nếu bạn không có da mà thay vào đó là nhựa, nếu bạn không có máu thực mà là
máu tổng hợp mà bạn có thể thay đổi bất kì lúc nào - bạn có thể tới máy bơm
xăng - và mọi thứ bạn có trong thân thể - xương, khớp, mọi thứ - là thay thế được
để cho bất kì khi nào có vấn đề nào đó, mọi thứ có thể được thay thế; bạn chỉ
phải thay vài bộ phận và các bộ phận đều sẵn có.... Bạn có thể phải tới ga ra một
chốc; vài thứ có thể phải tháo ốc ra và vặn vít lại. Thế thì bạn có thể bất tử
thân thể - nhưng thế thì bạn sẽ không là người, bạn sẽ là máy.
Nếu
bạn được sinh ra bạn nhất định chết. Vâng, có thể cuộc sống của bạn có thể được
kéo dài ra - cuộc sống đã được kéo dài ra. Khi y học đã tiến hoá, khi công nghệ
khoa học đã tới giúp con người, khi chúng ta trở nên ngày một nhận biết về các
bí mật của cuộc sống, cuộc sống đã được kéo dài ra. Nó có thể được kéo dài từ bẩy
mươi năm tới bẩy trăm năm, nhưng thế nữa bạn sẽ không bất tử thân thể đâu.
Và
tôi không nghĩ nhiều người sẽ thích sống bẩy trăm năm; ngay bẩy mươi năm cũng
quá nhiều rồi! Mọi người bắt đầu nghĩ sau một thời gian, "Bây giờ chết đi
chắc tốt hơn." Cái chết là giảm nhẹ, thảnh thơi. Mọi thứ đều muốn nghỉ;
cái chết là đi vào trong nghỉ ngơi. Thân thể bạn cũng bị mệt mỏi, vật chất cũng
bị mệt mỏi. Nó muốn quay lại cội nguồn nguyên thuỷ của nó: nước về trong nước
và khí về trong khí và đất về trong đất và lửa về trong lửa. Mọi thứ đều muốn
trở lại cội nguồn của nó để nghỉ ngơi, để làm khoẻ lại bản thân nó, và quay lại
lần nữa. Nhưng con người bao giờ cũng thích thú với những ý tưởng này - bất tử
thân thể. Và không phải là người thường đâu, ngay cả người được coi là phi thường,
họ cũng cứ có những ý tưởng ngu xuẩn thế.
Sri
Aurobindo và mẹ của Sri Aurobindo cả hai đều tin vào bất tử thân thể - và cả
hai đều đã chết! Khi Sri Aurobindo chết không ai tin vào điều đó, bởi vì tất cả
các đệ tử những người đã tụ tập ở đó đều đã tụ tập lại với lí do đơn giản là
ông ấy biết bí mật của bất tử thân thể và bằng việc là đệ tử của ông ấy họ sẽ
trở nên bất tử thân thể. Làm sao họ có thể tin được rằng ông ấy đã chết?
Trong
ba ngày người ta giữ bí mật rằng ông ấy đã chết. Họ chờ đợi: ông ấy có thể đang
trong đại định (samadhi) sâu, ông ấy có thể quay lại. Nhưng sau ba ngày khi họ
không thấy dấu hiệu nào của việc ông ấy quay lại và thân thể ông ấy bắt đầu bốc
mùi, thế thì họ phải đi chôn nó. Thế rồi họ hi vọng rằng người mẹ sẽ bất tử. Bà
ấy sống cuộc sống lâu, nhưng cuộc sống lâu không có nghĩa là bất tử thân thể.
Khi bà ấy chết, họ lại bị choáng. Toàn thể triết lí của họ bị lẫn lộn bởi cái
chết của hai người này.
Nhưng
một điều là tốt về cái chết: bây giờ bạn không thể hỏi Sri Aurobindo, "Sao
ông đã từng nói cả đời ông rằng bất tử thân thể là có thể, rằng ông biết bí mật
đó, rằng ông có khả năng đem Thượng đế vào thế giới vật lí?"
Nhưng
những kẻ ngu tụ tập lại. Người ngu bao giờ cũng trở nên bị hấp dẫn tới những điều
lạ. Ngay sâu bên dưới nỗi sợ có đó - không ai muốn chết. Tại sao? Tại sao ngay
chỗ đầu tiên bạn sợ chết? Chết không phải là kẻ thù. Với người đã sống thực sự,
cái chết là người bạn. Nó giống như ngủ. Không ai muốn vẫn còn thức hai mươi bốn
giờ một ngày.
Có
vài người nghĩ rằng giấc ngủ cũng chỉ là thói quen cũ và họ cố gắng giảm nó xuống.
Trong hàng thế kỉ họ đã cố gắng. Vâng, nó có thể bị giảm đi, nó có thể bị giảm
xuống hai giờ bởi vì hai giờ là giấc ngủ bản chất; bạn cũng ngủ chỉ hai giờ
theo cách ngủ sâu. Đâu đó ở giữa hai và bốn giờ hay ba và năm giờ bạn ngủ hai
giờ rất sâu; đó là những khoảnh khắc làm tươi lại. Mọi mơ biến mất, bạn gần như
chết. Do đó người cổ đại hay nói giấc ngủ là cái chết nhỏ. Nhưng mọi người cũng
đã cố gắng tránh giấc ngủ.
Logic
là: nếu bạn có thể tránh ngủ thì một ngày nào đó bạn có thể tránh cả cái chết nữa.
Nếu giấc ngủ là cái chết nhỏ và bạn đã chinh phục được giấc ngủ, bạn sẽ có khả
năng chinh phục giấc ngủ lớn, cái chết nữa. Nhưng tại sao? Cái gì sai trong việc
chết? Những người sợ chết là những người đã chưa thực sự sống cuộc sống của họ.
Họ không sợ chết, họ đơn giản sợ rằng họ đã chưa sống và cái chết đã tới.
Thay
vì nghĩ tới bất tử thân thể, nghĩ tới sống cuộc sống của bạn một cách toàn bộ
đi. Trong khi bạn đang ở đây, sống cuộc sống của bạn trong sự giầu có đa chiều.
Và thế thì khi cái chết tới bạn sẽ cảm thấy nó như cao trào, như đỉnh, như điều
tối thượng - cuộc sống đạt tới đỉnh cao nhất - và bạn sẽ tận hưởng cái chết nhiều
như bạn đã tận hưởng cuộc sống. Bạn sẽ hoàn toàn được thoả mãn với cái chết bởi
vì nó sẽ cho bạn nghỉ ngơi, thảnh thơi; nó sẽ làm mới bạn. Nó sẽ lấy đi vỏ bọc
cũ và nó sẽ cho bạn vỏ bọc mới.
Nhưng
mọi người cứ triết lí hoá. Họ đã tạo ra những điều như Khoa học Ki tô giáo, tâm
trí trên vật chất. Họ nghĩ rằng nếu bạn tin rằng bạn sẽ không chết thì bạn sẽ
không chết.
Tôi
nghe nói về một người là nhà khoa học Ki tô giáo. Một hôm ông ấy gặp một thanh
niên. Ông ấy hỏi người thanh niên này, "Có tin gì về bố anh không?"
Anh
thanh niên nói, "Ông ấy ốm lắm."
Nhà
khoa học Ki tô giáo nói, "Toàn điều vô nghĩa! Bảo ông ấy, 'Tâm trí trên vật
chất.' Ông ấy tin ông ấy ốm, có vậy thôi; chính niềm tin của ông ấy đang tạo ra
ốm. Đừng tin vào ốm và ông ấy sẽ mạnh khoẻ."
Sau
vài ngày lại anh thanh niên đó bắt gặp nhà khoa học Ki tô giáo này, và nhà khoa
học Ki tô giáo hỏi, "Mọi sự bây giờ thế nào với ông già rồi? Ông ấy thế
nào?"
Và
anh thanh niên nói, "Bây giờ ông ấy tin rằng ông ấy chết."
Vấn
đề không phải là niềm tin: ốm có thực tại, và cái chết nữa cũng có thực tại.
Vâng, bằng việc tin bạn cũng có thể tạo ra vài bệnh - toàn bệnh giả, hư huyễn -
và bằng việc giải niềm tin đó trong họ bạn có thể phá huỷ bệnh đó. Nhưng bạn
không thể phá huỷ bệnh thực; bệnh phải là giả ngay chỗ đầu tiên đã. Nếu bạn tin
vào nó và tạo ra nó, thế thì bằng việc giải niềm tin vào nó, nó có thể bị vứt bỏ.
Nhưng
cái chết không phải là niềm tin của bạn; bằng không sao con vật chết? Chúng
không tin, chúng không tin rằng chúng sắp chết. Sao cây cối chết? Chúng không
tin rằng chúng sắp chết, chúng không có hệ thống niềm tin nào. Sao các vì sao
và mặt trời và mặt trăng chết? Sao trái đất chết? Chúng không tin; cái chết là
hiện tượng phổ quát, nó xảy ra ở mọi nơi. Nó là một phần của cuộc sống; nó là mặt
bên kia của đồng tiền.
Tôi
không ủng hộ gì cho Khoa học Ki tô giáo. Nó chẳng là khoa học cũng không Ki tô
giáo - nó đơn giản là vô nghĩa.
Hai
người trung tuần đang đi khỏi sân tennis sau vài phút chơi. Người già hơn, anh
chàng to béo đến mức độ nào đó thở phì phò nặng nhọc.
"Tôi
đoán tôi hơi thiếu sức," ông ta thú nhận một cách buồn rầu.
"Ông
chơi được bao lâu rồi, Herbie?" người trẻ hỏi. "Quãng hai tuần."
"Thế
thì để tôi cho ông chút lời khuyên thực hành. Thử cách khoa học Ki tô giáo xem
sao - tâm trí trên vật chất."
"Tôi
đã thử rồi," người béo thú nhận. "Khi đối thủ của tôi giao bóng cho
tôi, tâm trí khoa học Ki tô giáo của tôi nói, 'Bây giờ, Herbie, mình phải chạy
lên tới lưới, ném quả tiu sắc bén vào góc xa của sân và rồi nhảy về vị trí.' Điều
đó đích xác là điều tâm trí khoa học Ki tô giáo của tôi bảo tôi....
"Nhưng
thân thể Do Thái của tôi nói, 'Herbie, làm mình thành kẻ ngu à, mình không cần!'"
Thực
tế, thân thể và tâm trí không phải là hai thứ: thân thể là bên ngoài của tâm
trí, tâm trí là bên trong của thân thể. Dùng cụm từ 'thân thể và tâm trí' là
không đúng; bạn là thân tâm, thậm chí không có gạch ngang ở giữa. Chúng ta phải
dùng nó như một từ 'thân tâm', 'tâm thân'. Cho nên tất nhiên, cái bên trong của
bạn ảnh hưởng tới cái bên ngoài của bạn, cái bên ngoài của bạn ảnh hưởng tới
cái bên trong của bạn - bạn là thân tâm - nhưng bạn không bị kết thúc với thân
tâm. Có nhân chứng nữa.
John
Fisant, thay vì bận tâm tới bất tử thân thể, có tiếp xúc với việc chứng kiến
linh hồn đi, điều quan sát cả thân thể và tâm trí. Nó quan sát cuộc sống, nó
quan sát cái chết; do đó nó siêu việt trên cả cuộc sống và cái chết. Chỉ chứng
kiến này mới là bất tử vì nó không bao giờ sinh và không bao giờ chết.
Thiền
nhân gọi nó là bản lai diện mục khuôn mặt nguyên thuỷ. Việc chứng kiến này là
khuôn mặt nguyên thuỷ của bạn. Và thiền không là gì ngoài nghệ thuật khám phá
ra khuôn mặt nguyên thuỷ của bạn. Bạn là bất tử, nhưng không về thân thể; chỉ
trong nhận biết, trong tâm thức của mình bạn mới bất tử, bạn là phổ quát.
Câu
hỏi thứ tư:
Thưa
Thầy kính yêu,
Phật
không phải là nhà thơ sao? Ông ấy không có tâm trí logic sao? Chúng tôi phải thế
nào để là đàn ông và đàn bà mới, vượt ra ngoài điều thầy đã gọi là tính một chiều
của mình, khi nó dường như là giáo huấn cơ sở của thầy, cũng như giáo huấn của
Phật, đơn giản là nhận biết?
Roderick,
Phật Gautama không là nhà thơ nếu bạn hiểu ông ấy một cách trực tiếp, nhưng nếu
bạn hiểu ông ấy qua tôi, ông ấy là nhà thơ đấy. Khi tôi nói về Phật điều rất tự
nhiên là mầu sắc của tôi được phản chiếu trong ông ấy.
Tôi
yêu thơ ca và tôi cứ tìm chất thơ ngay cả chỗ nó không có.
Phật
giống như mảnh đất sa mạc - nhưng tôi yêu ốc đảo và tôi cứ khám phá ra chúng. Nếu
bạn đã thấy Phật bạn chắc đã thấy ngay lập tức rằng ông ấy không thể có liên
quan gì tới thơ ca cả. Thơ ca là hư cấu với ông ấy, nhiều hư cấu như nó có với
Plato. Trong nền Cộng hoà của mình, Plato nói, nhà thơ sẽ không được phép, bởi
lẽ đơn giản là họ là kẻ dối trá, họ sống trong dối trá. Thơ ca là gì? Việc nói
dối đẹp đẽ! Phật cũng có cùng tâm trí đó; ông ấy chắc đã đồng ý với Plato. Ông ấy
rất nhấn mạnh vào chân lí.
Cách
tiếp cận của tôi là khác. Tôi không nhìn tôn giáo như thứ khô cứng, chết. Với
tôi tôn giáo là bài ca, điệu vũ. Nếu tôi định tạo ra nền cộng hoà, cõi không tưởng,
thế thì nhà thơ sẽ là công dân duy nhất ở đó; họ sẽ là người duy nhất được phép
- bởi vì cái đẹp còn có giá trị hơn nhiều so với bản thân chân lí. Và nhà thơ
khám phá ra cái đẹp - không chỉ khám phá, ông ấy tạo ra. Nhà thơ mang tính sáng
tạo.
Chính
bởi vì tôi mà trong Phật bạn sẽ thấy thơ ca. Tôi xin lỗi, tôi không thể làm
khác được. Đó là lí do tại sao Phật tử không sung sướng với tôi; đặc biệt các học
giả Phật giáo không sung sướng chút nào. Họ nói tôi cứ tìm ra trong Phật những
điều không có đó. Tôi không quan tâm mấy tới liệu chúng có hay không. Tôi dùng
Phật chỉ như cái cớ, cũng như tôi dùng Jesus và tôi dùng Mahavira và tôi dùng
Patanjali. Tôi không phải là nhà bình luận - tôi có linh ảnh riêng của mình.
Tôi dùng chúng như cái móc để treo bản thân tôi lên.
Khi
các bạn nghe Phật qua tôi, nó là hiện tượng hoàn toàn khác. Bạn đang nhìn qua mắt
tôi; do đó Phật sẽ trông như nhà thơ - nhưng ông ấy không phải là nhà thơ. Ông ấy
là người rất logic; do đó tôi nói ông ấy là người một chiều. Ông ấy hoàn toàn
logic, logic như Ludwig Wittgenstein.
Wittgenstein
nói bạn không nên nói về cái gì đó không thể được nói ra. Đó đích xác là quan
điểm của Phật; Phật sẽ đồng ý ngay lập tức với Wittgenstein. Đó đích xác là điều
ông ấy đã nói hai mươi nhăm thế kỉ trước Wittgenstein. Ông ấy chưa bao giờ nói
về Thượng đế bởi vì chẳng cái gì có thể được nói về Thượng đế; do đó không nói
gì cả. Ngay cả nói rằng không gì có thể được nói về Thượng đế cũng là nói cái
gì đó về Thượng đế rồi; tốt hơn cả là thậm chí không nói điều đó.
Upanishads
nói: Không cái gì có thể được nói về Thượng đế; ngài là không định nghĩa được.
Phật sẽ không nói ngay cả điều đó bởi vì đó là tự mâu thuẫn. Nói rằng không cái
gì có thể được nói về Thượng đế là tự mâu thuẫn bởi vì bạn đã nói điều gì đó rồi.
Ngay cả nói rằng không cái gì có thể được nói là đang nói cái gì đó rồi. Phật
đã hoàn toàn logic, tuyệt đối logic. Ông ấy giữ im lặng tuyệt đối.
Bất
kì khi nào ông ấy vào một thị trấn, thành phố, làng, các đệ tử sẽ đi trước ông ấy
để công bố, "Đừng hỏi mười một câu hỏi này với Phật, bởi vì ông ấy sẽ
không trả lời, cho nên đừng phí hoài thời gian của các ông và của ông ấy."
Mười một câu hỏi đó bao gồm mọi thứ mà triết học, thượng đế học, siêu hình được
làm ra. Nếu bạn không hỏi mười một câu hỏi đó, chẳng cái gì còn lại để hỏi - chẳng
cái gì siêu hình. Thế thì bạn có thể hỏi chỉ vấn đề thực tại. Bạn có thể hỏi về
cơn giận của mình, tham lam của mình, dục của mình. Bạn có thể hỏi về khổ của
mình, đau khổ, cách gạt bỏ nó, nhưng bạn không thể hỏi liệu Thượng đế có không.
Bạn không thể hỏi cái gì sẽ xảy ra sau cái chết. Bạn không thể hỏi chân lí là
gì, cái đẹp là gì, tốt là gì; ông ấy không cho phép điều đó. Ông ấy là người rất
logic và một chiều.
Cuộc
sống là ba chiều. Và mãi cho tới nay đã có những người, những người vĩ đại,
nhưng họ tất cả đều một chiều. Chẳng hạn, Phật là logic, Socrates cũng vậy. Đã
có các nhà thơ lớn - Kalidas, Rabindranath, Shelley, Shakespeare. Họ là người một
chiều: đẹp trong thượng đế của họ. Và đã có những người đạo đức, người tuyệt đối
đạo đức, người đức hạnh có toàn thể cuộc sống được dành cho việc chỉ là đức hạnh
nhất có thể được: Mahavira, Lão Tử. Nhưng tất cả đều là một chiều.
Nhân
loại nay đã đi tới ngã tư đường. Chúng ta đã sống con người một chiều, chúng ta
đã vét cạn nó. Chúng ta cần bây giờ con người giầu có hơn, ba chiều. Chúng ta
có thể gọi họ là ba C, cũng giống như ba R.
C
thứ nhất là tâm thức (consciousness), C thứ hai là từ bi (compassion), C thứ ba
là sáng tạo (creativity).
Tâm
thức là hiện hữu, từ bi là tình cảm, sáng tạo là hành động. Sannyasin của tôi
phải là cả ba điều này đồng thời. Tôi đang cho bạn thách thức lớn lao nhất đã từng
được cho, nhiệm vụ khó khăn nhất cần được hoàn thành. Bạn phải hiện hữu có tính
thiền như Phật, đáng yêu như Krishna, sáng tạo như Michelangelo, Leonardo da
Vinci. Bạn phải có tất cả những điều này đồng thời. Chỉ thế thì tính toàn bộ của
bạn mới được hoàn thành; bằng không cái gì đó sẽ vẫn còn thiếu trong bạn. Và
cái còn thiếu trong bạn sẽ giữ bạn bị thiên lệch, không hoàn thành. Bạn có thể
đạt tới đỉnh rất cao nếu bạn là người một chiều, nhưng bạn sẽ chỉ là một đỉnh.
Tôi muốn bạn trở thành toàn thể rặng Himalayas, không chỉ một đỉnh mà nhiều đỉnh
trên nhiều đỉnh!
Con
người một chiều đã thất bại. Nó đã không có khả năng tạo ra trái đất đẹp, nó đã
không có khả năng tạo ra thiên đường trên trái đất. Nó đã thất bại, hoàn toàn
thất bại! Nó đã tạo ra vài người đẹp, nhưng nó không thể biến đổi toàn thể nhân
loại, nó không thể nâng tâm thức của toàn thể nhân loại. Chỉ vài cá nhân đây đó
mới trở nên chứng ngộ. Điều đó không giúp ích gì hơn. Chúng ta cần nhiều người
chứng ngộ hơn, và chứng ngộ theo cách ba chiều.
Đó
là định nghĩa của tôi về con người mới.
Roderick,
bạn hỏi tôi, "Phật không phải nhà thơ sao?"
Ông
ấy không phải nhà thơ đâu! Nhưng những người sẽ trở nên thức tỉnh cùng tôi sẽ
là nhà thơ. Khi tôi nói "nhà thơ" tôi không ngụ ý rằng bạn phải làm
thơ - bạn phải có tính chất thơ ca thôi. Cuộc sống của bạn phải có tính chất
thơ ca, cách tiếp cận của bạn phải có tính chất thơ ca. Logic là khô khan, thơ
ca là sống động. Logic không thể nhảy múa; nhảy múa là không thể được với
logic. Nhìn logic nhảy múa sẽ giống như Mahatma Gandhi nhảy múa vậy! Nó sẽ
trông rất buồn cười. Thơ ca có thể nhảy múa; thơ ca là điệu vũ của trái tim bạn.
Logic không thể yêu được; nó có thể nói về tình yêu, nhưng nó không thể yêu được.
Tình yêu dường như phi logic. Chỉ thơ ca mới có thể yêu; chỉ thơ ca mới có thể
nhảy vào trong ngược đời của tình yêu. Logic là lạnh lẽo, rất lạnh; nó là tốt
khi có liên quan tới toán học, nhưng nó không tốt khi có liên quan tới nhân loại.
Nếu nhân loại trở nên quá logic thì nhân loại biến mất; thế thì chỉ có con số,
không có con người - các con số thay thế được.
Thơ
ca, tình yêu, tình cảm cho bạn chiều sâu, sự nồng ấm. Bạn trở nên được tan chảy
hơn, bạn mất đi cái lạnh lẽo như băng. Bạn trở nên con người hơn.
Phật
là siêu nhân, về điều đó không có hoài nghi gì, nhưng ông ấy mất đi chiều nhân
bản. Ông ấy siêu phàm. Ông ấy có cái đẹp của việc là siêu phàm, nhưng ông ấy
không có cái đẹp mà Zorba người Hi Lạp có. Zorba trần tục thế.
Tôi
muốn bạn là cả hai cùng nhau: Zorba Phật! Người ta phải có tính thiền, nhưng
không chống lại tình cảm, vẫn tràn ngập với tình yêu. Và người ta phải có tính
sáng tạo. Nếu tình yêu của bạn chỉ là tình cảm và nó không được dịch thành hành
động, nó sẽ không ảnh hưởng tới nhân loại lớn hơn. Bạn phải làm cho nó thành thực
tại, bạn phải vật chất hoá nó.
Đây
là ba chiều của bạn: hiện hữu, tình cảm, hành động. Hành động chứa mọi tính
sáng tạo, mọi kiểu sáng tạo: âm nhạc, thơ ca, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc,
khoa học, công nghệ. Tình cảm chứa tất cả những cái là thẩm mĩ: tình yêu, cái đẹp.
Và hiện hữu chứa thiền, nhận biết, tâm thức.
Bạn
hỏi tôi, "Dường như là giáo huấn cơ sở của thầy, cũng như giáo huấn của Phật...."
Tôi
không có giáo huấn cơ sở nào, tôi không thể có giáo huấn cơ sở được. Tôi không
phải là thầy giáo chút nào. Tôi không dạy các bạn, tôi đơn giản là sự hiện diện.
Bạn có thể học, nhưng tôi không dạy. Bạn có thể hấp thu tâm linh tôi, và tâm
linh tôi và tác động của nó sẽ phụ thuộc vào bạn.
Có
những người mà từ họ nhận biết sẽ giúp như giáo huấn cơ sở; họ sẽ học nhận biết
từ tôi. Và có những người mà với họ tình yêu sẽ giúp đỡ; thế thì họ sẽ học tình
yêu như giáo huấn cơ sở từ tôi. Điều đó tuỳ thuộc vào bạn. Tôi là đa chiều, do
đó tôi có thể hấp thu đủ mọi loại người.
Phật
sẽ không chấp nhận tất cả các bạn đâu, nhớ lấy, mà Jesus hay Mahavira cũng
không; họ đã chọn lựa. Vài người sẽ được chọn bởi Phật và vài người sẽ được chọn
bởi Jesus và vài người đã được chọn bởi ai đó khác. Nhưng tôi không chọn chút
nào, tôi tuyệt đối vô chọn lựa. Bất kì ai tới tôi đều được chấp nhận, tuyệt đối
được chấp nhận, hoàn toàn được chấp nhận, bởi vì tôi không có hình mẫu cơ sở.
Tôi chỉ có hướng dẫn - và hướng dẫn cho tất cả, cho mọi loại người.
Nó
không phải là giáo huấn; giáo huấn trở thành cứng ngắc, trở thành bị xác định.
Nó chỉ là sự hiện diện. Tôi chỉ là cửa sổ; qua tôi bạn có thể nhìn vào Thượng đế.
Và một khi bạn đã nhìn vào Thượng đế, thế thì bạn có thể nhìn vào Thượng đế
theo cách riêng của bạn - tôi không được cần thêm nữa.
Câu
hỏi thứ năm:
Thưa
Thầy kính yêu,
Sao
tất cả những người thức tỉnh đều chống lại việc ham muốn? Cái gì sai với ham muốn?
Sujata,
thiền về câu châm ngôn của Murphy: Cẩn thận về điều bạn muốn, vì bạn có nghĩa vụ
nhận nó.
Câu
hỏi thứ sáu:
Thưa
Thầy kính yêu,
Tại
sao tôi bao giờ cũng thấy khó quan hệ với vợ tôi?
Richard,
vì bạn là người Anh, và bạn biết các bà vợ Anh!
Được
phái tới Australia cho chuyến đi kinh doanh kéo dài, người Anh được hỏi ông ấy
có cảm thấy thiếu vợ mình không, người vẫn ở London.
"À,
tôi không thiếu cô ấy nhiều thế đâu," ông ta giải thích. "Một ngày một
tuần tôi thuê một người đàn bà địa phương tới và chì chiết."
Sau
khi họ đã thảo luận vấn đề của mình trong hơn một giờ, quí bà người Anh khó
tính nói với nhà tư vấn hôn nhân, "Tôi nghĩ điều bất công là gợi ý rằng
tôi không thích dục. Nhưng ông có thể nói gì về người đàn ông muốn nó chỉ năm
hay sáu lần một năm?"
Và
chuyện cuối cùng:
"Em
đang tập các bài võ công phu để phòng trường hợp tên quỉ dâm dục nào định hiếp
em trong đêm tối nào đó," người đàn bà Anh với khuôn mặt tỉa gọn bảo ông
chồng chịu đựng của mình.
"Sao
bận tâm?" ông chồng nhận xét. "Nó sẽ không bao giờ làm chỗ tối đó
đâu."
Câu
hỏi thứ bẩy:
Thưa
Thầy kính yêu,
Tất
cả chư phật đều nói rằng người ta nên học im lặng, nhưng cuộc sống thường ngày
người ta phải nói chứ. Thế thì người ta phải làm gì?
Shakti,
trước hết thiền về câu châm ngôn của Murphy: Nghĩ hai lần trước khi bạn nói và
thế rồi đừng nói gì cả.
Nhưng
nếu bạn phải nói cái gì đó, thì thiền về điều này:
Walker,
một chủ báo, đang đi nghỉ ở Maine. Ông ấy bắt gặp một túp lều cô độc và bắt đầu
phỏng vấn người chủ với ý tưởng viết ra câu chuyện tại chỗ.
"Đây
là nhà của ai?" phóng viên hỏi. "Moggs'," người Mainer đáp.
"Nó
được dựng bằng cái gì trên thế giới?" "Gỗ."
"Có
con vật tự nhiên nào ở vùng này?" "Ếch."
"Ông
có loại đất nào?" "Đầm."
"Khí
hậu ra sao?" "Sương."
"Ông
sống chính bằng gì?" "Lợn."
"Ông
có bạn bè không?" "Chó."
Diễn
cảm vào!
Câu
hỏi thứ tám:
Thưa
Thầy kính yêu,
Aha!
Tôi nghĩ đã có cái gì đó quen thuộc về ông ấy - Murphy là người Do Thái! Thường
được gọi là Moshe Kapoyer chứ gì?
Tao,
đây là khám phá nổi bật đấy! Tôi tự hỏi làm sao bạn xoay xở tìm ra được nó. Điều
đó đúng. Moshe Kapoyer là người Do Thái duy nhất ở một thị trấn nhỏ và vì kinh
doanh tồi tệ nên ông ấy quyết định đổi tên. Cũng có những lí do khác để đổi tên
ông ấy: bởi vì ông ấy là người Do Thái và chỉ người Do Thái, những người né
tránh ông ấy và kinh doanh của ông ấy mới khổ. Và điều thứ hai bởi vì tên ông ấy,
Moshe Kapoyer, nghĩa là ông Lộn nhào hay ông Lộn ngược, cho nên ông ấy không thật
sướng lắm với cái tên của mình.
Ông
ấy tới một quan toà và trở thành ông Jones. Một tuần sau ông ấy quay lại cũng
ông chánh án đó để yêu cầu đổi tên ông ấy thành Murphy.
"Sao
ông muốn đổi tên mình? Tôi vừa mới đổi tên cho ông tuần trước."
"Để
cho khi mọi người hỏi tên tôi là gì trước khi nó là Murphy, tôi có thể nói đó
là Jones."
Câu
hỏi thứ chín:
Thưa
Thầy kính yêu,
Tôi
cũng có thể là một thượng đế chứ?
Krishna,
Deva, tôi đã cho bạn cái tên Krishna Deva. Nó nghĩa là Thượng đế Krishna. Vâng,
không có rắc rối gì về nó. Thực tế bạn là thượng đế; cho dù bạn muốn là ai đó
khác bạn cũng không thể là được. Mọi người đều cố là ai đó khác, nhưng không ai
đã bao giờ thành công trong việc là ai đó khác. Thượng đế là bản tính của chúng
ta. Bạn có thể quên tất cả về nó, nhưng bạn không thể thay đổi được nó.
Flaherty
và Gluckstein đang thảo luận về công đức của tôn giáo của họ.
"Trả
lời tôi về điều này," người Ai rơ len nói, "một trong các con trai
ông có thể là giáo hoàng được không?"
"Không,"
Gluckstein trả lời. "Một trong các con trai của ông có thể là Thượng đế
không?"
"Sao,
tất nhiên là không!" Flaherty đáp.
"Đấy,"
Gluckstein nói, "một trong các con trai của chúng tôi đã làm điều
đó!"
Nếu
Jesus có thể làm được điều đó, nếu Phật có thể làm được điều đó, sao bạn không
làm được? Thực tế, họ có thể làm được điều đó bởi vì nó không phải là cái gì đó
được đạt tới, nó là cái gì đó chỉ được khám phá ra. Chúng ta đã quên mất nó; nó
đã có đó rồi như dòng chảy ngầm. Tính thượng đế của chúng ta bao giờ cũng có
đó; dù bạn đi đâu nó cũng đi cùng bạn. Nó là bạn. Nó ở trong tội đồ, nó thậm
chí ở trong thánh nhân!
Câu
hỏi thứ mười:
Thưa
Thầy kính yêu,
Tôi
thích câu trả lời của thầy hôm nọ cho câu hỏi của Arup. Rắc rối duy nhất là ở
chỗ tôi đã bắt đầu về nhà sớm và không uống rượu nhiều thế, trong khi Arup đi tới
đám tiệc nhảy disco cùng nhau, đi chơi và nói chung có thời gian thoải mái. Tôi
đang trở nên có tính thiền, trong khi Arup đang trở nên phóng đãng như kẻ khờ?
Niranjan,
bây giờ bạn biết tại sao tôi nói với Arup rằng đây tuyệt đối là cách chắc chắn
để nâng tâm thức của nhân loại. Cô ấy đã bắt đầu - cô ấy đã bắt đầu với bạn. Bạn
là nạn nhân đầu tiên của cô ấy!
Câu
hỏi cuối cùng:
Thưa
Thầy kính yêu, Hiểu lầm là gì?
Dhyanesh,
ba câu chuyện cho bạn:
Anna:
"Có đúng là điều tớ nghe thấy về chồng cậu bỏ hút thuốc không?"
Hannah:
"Đúng, bây giờ anh ấy chỉ hút thuốc sau bữa ăn - bữa ăn của anh ấy, bữa ăn
của tớ, bữa ăn của các con, bữa ăn của mọi người!"
Chuyện
thứ hai:
Người
bị kiện bị buộc tội bôi nhọ danh dự của một thiếu nữ thuần khiết, theo sự chứng
nhận của một quí bà, và anh gặp lúc khó khăn để giải thích hoàn cảnh này.
"Tôi
vô tội, thưa quan toà," anh ta tuyên bố. "Mọi điều tôi đã làm là đưa
cho cô ấy một cốc rượu scotch và nước sô đa, và cô ấy đã ngửa ra!"
Và
câu chuyện thứ ba và là câu chuyện cuối:
Chàng
thanh niên Moishe vừa cưới vợ. Vào ngày cưới, bố anh ta kéo sang bên và nói,
"Trông đây, Moishe, nếu con muốn có hôn nhân thành công con phải làm ba điều
này rõ ràng ngay từ đầu: con phải chứng tỏ cho vợ con rằng con là người chủ gia
đình, rằng con là đàn ông, và rằng con độc lập."
Moishe
cám ơn bố và đi đám cưới và tuần trăng mật. Kavita, nếu bạn đang ngủ, thức dậy
đi!
Sau
khi đôi vợ chồng đã trở về, người bố và người con trai một mình ở cùng nhau
trong một khoảnh khắc im lặng, người bố hỏi lời khuyên của ông ta có tác dụng
không.
"A,
tuyệt vời!" Moishe tươi cười. "Con đưa vào thực hành ngay đêm đầu
tiên của tuần trăng mật. Khi chúng con một mình trong phòng khách sạn, đầu tiên
con xé toạc quần áo cô ấy để chứng tỏ cho cô ấy ai là chủ; thế rồi con xé toạc
quần áo của con để chứng tỏ cho cô ấy rằng con là đàn ông; và thế rồi con thủ
dâm ngay trước mặt cô ấy để chứng tỏ cho cô ấy là con độc lập!"
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment