Osho – Bồ Đề Đạt Ma - Thiền sư
vĩ đại nhất
Chương 14: Đối diện với vị Phật
là nguy hiểm
Chư phật có ba thân: một thân biến đổi (ứng thân), một thân thưởng (báo thân) và một thân thực (pháp thân). Thân biến đổi cũng được gọi là hoá thân. Thân biến đổi xuất hiện khi người hữu tử làm những hành vi tốt, thân thưởng xuất hiện khi họ trau dồi trí huệ và thân thực xuất hiện khi họ trở nên nhận biết về điều siêu phàm... Nhưng thực tế, thậm chí không có tới một thân phật nào, nói gì tới ba. Việc nói về ba thân này đơn giản là dựa trên hiểu biết con người, điều có thể nông cạn, trung bình hay sâu sắc.
Người của hiểu biết nông cạn tưởng
tượng họ đang chất đống phúc lạc và nhận lầm thân biến đổi là vị phật. Người
của hiểu biết trung bình tưởng tượng họ đang đặt chấm dứt cho đau khổ và nhận
lầm thân thưởng là vị phật. Và người của hiểu biết sâu sắc tưởng tượng mình
đang kinh nghiệm phật tính và nhận lầm thân thực là vị phật. Nhưng người của
hiểu biết sâu sắc nhất nhìn vào bên trong, không bị phân tán bởi cái gì cả. Vì
tâm trí sáng tỏ là vị phật, họ đạt tới hiểu biết về vị phật mà không dùng tâm
trí...
Cá nhân tạo ra nghiệp. Nghiệp
không tạo ra cá nhân... Chỉ ai đó hoàn hảo không tạo ra nghiệp trong kiếp sống
này và không nhận phần thưởng. Kinh nói, “Người không tạo ra nghiệp đạt tới
Pháp”... Khi ông tạo ra nghiệp, ông được tái sinh cùng với nghiệp của mình. Khi
ông không tạo ra nghiệp, ông tan biến cùng nghiệp của ông...
Ai đó hiểu giáo huấn này của
các hiền nhân là hiền nhân. Ai đó hiểu giáo huấn của người hữu tử là người hữu
tử. Người hữu tử có thể vứt bỏ giáo huấn của người hữu tử và đi theo giáo huấn
của hiền nhân trở thành hiền nhân. Nhưng những kẻ ngu của thế giới này ưa thích
tìm hiền nhân từ xa xôi. Họ không tin rằng trí huệ của tâm trí riêng của họ là
hiền nhân. Kinh này nói, “Trong những người không hiểu biết, đừng thuyết giảng
kinh này.”
... Kinh này nói, “Khi ông thấy
rằng mọi hình tướng đều không là hình tướng, ông thấy như lai.” Vô số cánh cửa
tới chân lí tất cả đều tới từ tâm trí. Khi hình tướng của tâm trí là trong suốt
như không gian, chúng biến đi...
Khi người hữu tử sống họ lo
nghĩ về chết. Khi họ no họ lo về đói. Đói của họ là điều không bất định vĩ đại.
Nhưng các hiền nhân không xét tới quá khứ. Và họ không lo nghĩ về tương lai. Họ
không níu bám lấy hiện tại. Từ khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia họ theo Đạo.
Bồ đề đạt ma, lần đầu tiên
trong những lời kinh này, nhìn vào những người không chứng ngộ và những người
nhất định hiểu lầm ông ấy. Do đó ông ấy nói về khả năng của tâm trí bình
thường, chưa chứng ngộ, và cách nó nhìn vào mọi điều. Bản thân ông ấy nói về
điều đó, để cho ông ấy có thể làm rõ ràng rằng tất cả những cái gọi là hiểu
biết của tâm trí - dù nông cạn hay sâu sắc, hay thậm chí rất sâu sắc - tất cả
đều sai.
Điều này rất hãn hữu, bởi vì Bồ
đề đạt ma chưa bao giờ nghĩ về những người sẽ là thính giả của ông ấy. Ông ấy
chỉ nghĩ về chân lí. Và ông ấy nói về nó mà không xem xét gì tới những người
đang nghe về nó, hay đang đọc nó. Đây là một phần của từ bi của ông ấy; đây là
một phần làm tách biệt a la hán và bồ tát.
A la hán chưa bao giờ, chưa bao
giờ nghĩ về bất kì ai khác. Nếu họ nói, họ chỉ nói cho chính họ. Khả năng nhiều
nhất là họ vẫn còn im lặng. Họ có kính trọng sâu sắc với người khác, nhưng họ
biết rằng nói với người khác về điều tối thượng là quấy rối sự bình thường của
họ. Đấy là can thiệp vào tâm trí phàm tục - mặc dầu điều đó là vì ích lợi của
riêng họ. Nhưng họ không đòi hỏi về điều đó, và chừng nào họ chưa mời chân lí,
chân lí không định gõ cửa của họ.
Chân lí gần giống như mặt trời
buổi sáng. Nó lên... nó không gõ cửa nhà bạn mà nói, “Ta đến đây và đêm đã kết
thúc và ông có thể thức dậy.” Nó không tới mọi tổ chim để bảo chúng, “Bây giờ
là lúc hót rồi, ta đã tới,” nó không tới mọi bông hoa để mở cánh chúng ra và
toả hương thơm ra. Nó đơn giản tới. Những người đón nhận sẽ đón nhận nó. Những
người không đón nhận sẽ không đón nhận nó. Những người thức sẽ biết rằng buổi
sáng đã tới, nhưng những người đang ngủ say sẽ không biết, ngay cả trong giấc
mơ của họ, rằng đêm đã hết. Nhưng mặt trời không can thiệp.
Hiểu biết của a la hán là ở chỗ
từ bi ngụ ý không can thiệp, không xía vô, cho dù điều đó là có ích lợi cho
những người mà bạn xía vô. Xía vô trong bản thân nó là chống lại chân giá trị
của cá nhân và đó là sỉ nhục. Nói với ai đó, “Anh đang ngủ,” có nghĩa là bạn
đang đặt bản thân mình lên một chỗ đứng cao hơn. Bạn đang nói, “Tôi thức còn
anh đang ngủ,” bạn đang nói, “Tôi thiêng liêng hơn anh, cao hơn anh; tôi đã đạt
tới đỉnh cao tối thượng của tâm thức mình còn anh vẫn lang thang trong thế giới
của bóng tối, loạng choạng ở mọi nơi, dò dẫm, vấp ngã và không tìm thấy đường
ra.”
Ngay cả khuyên bất kì ai là lấy
một vị thế nào đó: “Tôi biết còn anh không biết.” Quan điểm của a la hán là ở
chỗ nó là chống lại từ bi, nó là chống lại tôn kính cuộc sống; do đó họ vẫn còn
im lặng. Nếu bất kì ai cảm thấy sự hiện diện của họ theo cách riêng của người
đó và tới gần họ để uống dòng nước sống của kinh nghiệm của họ, họ là sẵn đấy -
giống hệt dòng sông trôi qua. Bạn có thể làm dịu cơn khát của mình, nhưng điều
đó tuyệt đối tuỳ ở bạn; sông sẽ không làm điều gì về phần riêng của nó cả. Đấy
là một cách tiếp cận hay. Nhưng cách tiếp cận của bồ tát, mà Bồ đề đạt ma thuộc
vào, có cái đẹp riêng của nó.
Bồ tát làm mọi nỗ lực để đánh
thức mọi người, hoàn toàn biết rõ rằng trong hàng triệu người, có lẽ một người
có thể hiểu được họ và phần còn lại sẽ hoặc là dửng dưng, hoặc có khả năng nhất
sẽ hiểu lầm. Bồ tát biết hoàn toàn rõ rằng việc nói ra chân lí là lối rất tắt
để tạo ra kẻ thù trên thế giới này, bởi vì cả thế giới đầy những kẻ dối trá.
Mọi quyền lợi được đầu tư đều dựa trên dối trá. Cái gọi là tôn giáo, cái gọi là
quốc gia - tất cả đều là bịa đặt của tâm trí ranh ma.
Người tôn giáo đích thực không
thuộc vào tôn giáo nào và không thuộc vào quốc gia nào, nòi giống nào, sắc mầu
nào. Người đó thuộc về toàn thể nhân loại. Mọi quốc gia đều là của người đó.
Người đó không tin vào các biên giới chính trị do các chính khách ranh ma và
bẩn thỉu tạo ra. Và người đó không tin vào phân biệt do các tu sĩ, giáo hoàng,
tổng giám mục, các trưởng môn, các giáo sĩ tạo ra. Người đó tin rằng mọi con
người đều có bản tính thiêng liêng, và mọi con người đều có tiềm năng trưởng
thành hoa sen đẹp - hoa sen thuộc vào vĩnh hằng, hương thơm tới nhưng không bao
giờ đi.
Việc nói về ba thân này đơn
giản là dựa trên hiểu biết của người hữu tử, có thể nông cạn, trung bình hay
sâu sắc.
Người của hiểu biết nông cạn
tưởng tượng họ đang chồng chất phúc lạc và nhận lầm thân biến đổi là vị phật.
Người của hiểu biết trung bình tưởng tượng họ đang đặt chấm dứt cho đau khổ và
nhận lầm thân thưởng là vị phật. Còn người có hiểu biết sâu sắc tưởng tượng
mình đang kinh nghiệm phật tính và nhận lầm thân thực là vị phật.
Biết tất cả những điều này, bồ
tát vẫn làm mọi nỗ lực; không thành vấn đề liệu ông ấy có bị đóng đinh hay
không. Jesus là bồ tát, Socrates cũng là bồ tát, Al Hillaj Mansoor cũng vậy.
Cho dù điều đó có nghĩa là việc đóng đinh, cũng không thành vấn đề gì nếu điều
đó có thể giúp cho ai đó, ở đâu đó, thoát ra khỏi giấc ngủ của mình. Bồ tát sẵn
sàng chấp nhận mọi kết án từ khắp thế giới, nhưng ông ấy không thể vẫn còn im
lặng và không chia sẻ. Điều đó là không thể được đối với ông ấy.
Khi có liên quan tới tôi, cả
hai là tuyệt đối đúng. Không có mâu thuẫn. Họ cả hai đều đại diện cho hai mặt
của cùng một hiện tượng. Cách diễn đạt về từ bi của họ là khác nhau, nhưng đều
là cách diễn đạt của từ bi. Cả hai đều đang diễn đạt nó theo cách duy nhất của
riêng họ.
Kinh: Chư phật có ba thân: một
thân biến đổi (ứng thân), một thân thưởng (báo thân) và một thân thực (pháp
thân). Thân biến đổi cũng được gọi là hoá thân. Thân biến đổi xuất hiện khi
người hữu tử làm những hành vi tốt, thân thưởng xuất hiện khi họ đạt tới trí
huệ và thân thực xuất hiện khi họ trở nên nhận biết về siêu phàm... Nhưng thực
tế, thậm chí không có tới một thân phật nào, nói gì tới ba.
Cần giải thích nào đó. Có khả
năng bạn có thể đi qua một Phật Gautam mà không nhận ra ông ấy bởi vì việc nhận
ra vị phật, nhận ra người đã thức tỉnh, cần sáng suốt nào đó về phần bạn. Điều
đó tuỳ thuộc vào bạn, hiểu biết của bạn. Nếu bạn không có hiểu biết gì về người
thức tỉnh, bạn có thể đi qua ngay cạnh người đó và bạn thậm chí không thể cảm
thấy cái gì cả. Bạn bị đóng. Mặt trời có đó nhưng cửa ra vào và cửa sổ của bạn
tất cả bị đóng. Mặt trời có đó nhưng bạn đang đứng với đôi mắt nhắm nghiền.
Việc nhận ra đầu tiên tới từ
những người đang cố gắng làm điều thiện theo hiểu biết nhỏ bé của họ. Bất kì
điều gì họ cảm thấy - có ích cho nhân loại, có ích cho mọi loài vật - họ đều cố
gắng làm cái gì đó để làm đẹp sự tồn tại. Họ không muốn chỉ là gánh nặng cho
trái đất. Họ muốn đóng góp điều gì đó; họ muốn để lại thế giới này một chút ít
tốt đẹp hơn là họ đã thấy nó khi họ đi vào sự tồn tại.
Những người này sẽ thấy thân
đầu tiên của phật, thân biến đổi. Họ sẽ thấy phật được bao quanh bởi vầng hào
quang ánh sáng. Các bạn đều đã thấy những bức ảnh về Jesus, về Krishna, về Phật
với hào quang bao quanh. Đó là một hiện tượng thực tế và bây giờ điều đó có cơ
sở khoa học hỗ trợ cho nó.
Ở Liên Xô, một nhà khoa học và
một triết gia lớn, Kirlian, đã xây dựng một máy ảnh đặc biệt và phim đặc biệt
nhạy, nhạy đến mức chúng có thể thấy những cái mà mắt bạn không thể thấy được.
Kinh nghiệm đầu tiên của ông ấy gây ra kinh ngạc cực kì bởi vì các bức ảnh của
ông ấy chỉ ra hào quang bao quanh mọi người, không chỉ bao quanh con người mà
còn bao quanh con vật và bao quanh cây cối, bao quanh hoa hồng. Hoa hồng có đó
trong bức ảnh và ngay bên cạnh nó, là một vầng hào quang nhỏ.
Ông ấy đã ngạc nhiên biết rằng
một người càng im lặng, an bình vầng hào quang càng lớn hơn. Và người càng giận
dữ, lo âu, buồn phiền, khổ sở, đầy những phiền não, vầng hào quang càng nhỏ
hơn. Và trước khi một người sắp chết, sáu tháng trước đó, hào quang đã hoàn
toàn biến mất; thế thì ảnh chụp của người đó không có hào quang, giống hệt như
ảnh chụp thường.
Hào quang này đã được những
người nhạy cảm nhìn thấy, cũng hệt như phim nhạy của Kirlian chụp được nó. Các
đệ tử nhạy cảm của Jesus sẽ thấy cái gì đó mà người khác sẽ không thể thấy
được. Các đệ tử nhạy cảm của Phật, người đã sống trong tình yêu sâu sắc với ông
ấy, người đã được sống trong mưa rào ân huệ của ông ấy, người đã hoàn toàn chìm
ngập trong bản thể ông ấy, sẽ có khả năng thấy cái gì đó mà khán giả thường sẽ
không có khả năng thấy được. Họ càng trở nên cảm nhận hơn, họ càng trở nên nhạy
cảm hơn, thực tại của Phật càng trở nên rõ rệt hơn cho họ.
Kinh nghiệm đầu tiên là về thân
biến đổi: thân ánh sáng mỏng, chỉ lớn hơn quãng độ chục phân so với thân thể
bạn... bao quanh thân thể bạn một vầng hào quang ánh sáng chục phân, ánh sáng
rất mờ. Đây là thân di trú. Đó là lí do tại sao, trước khi chết - như Kirlian
đã phát hiện ra - sáu tháng trước đó, thân này bắt đầu biến mất, nó bắt đầu trở
thành cô đặc lại vào bên trong bản thể con người. Phải mất sáu tháng để nó quay
về trung tâm và trở thành chỉ còn là một điểm sáng thay vì một vầng hào quang
lớn. Và điểm sáng nhỏ này di trú trong khi toàn bộ thân thể bạn vẫn còn ở đây.
Các nhà khoa học đã cố gắng
chứng minh rằng không có linh hồn dựa trên nền tảng họ cân người sống ngay vào
khoảnh khắc trước khi người đó chết, và khi họ cân người đó sau khi chết, trọng
lượng của người đó vẫn như vậy - tuyệt đối như vậy. Một cách tự nhiên kết luận
của họ là không có gì đi ra cả và; do đó, kết luận của họ là không có linh hồn.
Nếu cái gì đó đi ra và, thế thì trọng lượng phải bớt đi. Nhưng bây giờ có thể
nói với các nhà khoa học rằng ánh sáng không có trọng lượng; đó là lí do tại
sao nếu một điểm sáng di trú, điều đó sẽ không tạo ra khác biệt gì trên bình
diện trọng lượng của bạn cả.
Ánh sáng tuyệt đối vô trọng
lượng và thân di trú không là gì ngoài ánh sáng thuần khiết. Điều này được kinh
nghiệm thậm chí bởi những người với hiểu biết nông cạn. Những người không hiểu
mấy, nhưng vẫn có chút ít ý thức - chỉ là ý thức nông cạn - thậm chí họ cũng có
thể thấy được ánh sáng này.
Nhưng những người với hiểu biết
trung bình có thể thấy thân sâu hơn, ẩn đằng sau tầng ánh sáng mỏng này, một
tầng ánh sáng dầy hơn được biết tới trong kinh sách Phật giáo là thân thưởng.
Nó chỉ phát sinh khi người ta đã thiền nhiều đến mức người ta được thưởng lớn
lao lắm. Trong thế giới này kho báu lớn nhất và phần thưởng lớn nhất là biết
tới im lặng, hoàn toàn im lặng. Đây là thân im lặng. Nhưng nó là có thể được
thấy chỉ bởi những người đã tới rất gần với Phật Gautam.
Tôi bao giờ cũng chia mọi người
ra làm ba loại. Loại thứ nhất là học viên, người đến với người đã chứng ngộ.
Học viên có khả năng thấy thân thứ nhất, thân biến đổi.
Loại thứ hai là đệ tử, người
không đến với vị phật hay bất kì người chứng ngộ nào chỉ vì tò mò - người không
ở đó chỉ để tích luỹ tri thức - mà là người bản thân mình muốn tới cùng không
gian đó, tới cùng phúc lạc đó, tới cùng phúc lành đó. Đệ tử đã lấy bước nhảy
lượng tử từ học viên. Học viên quan tâm nhiều tới việc thu thập ngày càng nhiều
thông tin; đệ tử quan tâm không vào thông tin mà vào biến đổi. Người đó muốn
thay đổi thành con người khác, con người vượt ra ngoài tâm trí. Người đó có khả
năng thấy được thân thứ hai, thân thưởng.
Thân thưởng thực sự tồn tại khi
nhận ra việc thiền của bạn, im lặng của bạn, và mưa rào hoa lên bạn. Sự tồn tại
hạnh phúc vô biên khi ai đó trở nên chứng ngộ, bởi vì việc chứng ngộ của một người
thực sự làm lẩy cò cho việc chứng ngộ của nhiều người. Điều đó có thể trở thành
một dây chuyền dài, có thể vắt qua nhiều thế kỉ. Chẳng hạn, điều đã được lẩy cò
bởi chứng ngộ của Phật Gautam vẫn còn đang lẩy cò cho mọi người đi vào chứng
ngộ. Hai mươi nhăm thế kỉ đã trôi qua, nhưng dây chuyền này vẫn tiếp tục. Nó là
phản ứng dây chuyền.
Có rất ít tôn giáo trên thế
giới này hiện vẫn còn sống. Thiền vẫn còn sống. Vẫn còn những người có thể được
gọi là đương đại với Phật Gautam; họ được nối lại sâu sắc đến mức bạn không thể
nào tách rời họ ra được, bởi thời gian hay bởi không gian.
Trong Mô ha mét giáo, chỉ một
trường phái Sufi nhỏ là một phần đang sống; toàn bộ phần còn lại của tôn giáo
đó đã chết. Nhưng Sufi giáo vẫn tiếp tục phản ứng dây chuyền. Vẫn có những
người được thức tỉnh.
Trong Do Thái giáo, toàn thể
tôn giáo này ngoại trừ một trường phái nhỏ Hassid, đều đã chết. Những người
Hassid này đã mang ngọn đuốc qua nhiều thế kỉ. Họ vẫn tạo ra ngày càng nhiều
người chứng ngộ.
Thật kì lạ, Hindu giáo và Ki tô
giáo đều là những tôn giáo đã hoàn toàn chết. Họ thậm chí không có lấy một dòng
truyền thừa nhỏ các thầy đang sống. Và họ là những tôn giáo rất lớn. Hindu giáo
là tôn giáo già cỗi nhất trên thế giới và Ki tô giáo là tôn giáo lớn nhất trên
thế giới, nhưng cả hai đều đã chết hoàn toàn. Chúng chỉ là gánh nặng xấu xí lên
nhân loại. Không cái gì nở hoa trong vườn của họ cả; không hoa nào tới toả
hương thơm. Chúng là những cái đèn không có ngọn lửa trong đó.
Người ta nói về Diogenes, một
con người cùng tầm cỡ như Bồ đề đạt ma ... Nếu như họ gặp nhau, chắc đấy sẽ là
sự gặp gỡ vĩ đại. Diogenes ở Hi Lạp. Ông ấy sống trần trụi; ông ấy có một thân
thể đẹp đẽ đến mức che giấu nó sau quần áo sẽ thành tội lỗi. Hoàn toàn tốt để
che giấu một thân thể xấu đằng sau quần áo nhưng một thân thể đẹp cần có sẵn
cho bất kì ai muốn thấy cái đẹp này, sự cân xứng này. Diogenes là một trong
những người đàn ông đẹp nhất. Ngay cả khi Alexander Đại Đế gặp ông ấy, ông ta
chút ít cảm thấy bối rối - mặc dầu ông ta là người chinh phục thế giới, được so
sánh với Diogenes ông ta là hoàn toàn nghèo nàn.
Diogenes không có gì, nhưng sự
giầu có của ông ấy rạng ngời ra từ thân thể trần trụi của ông ấy. Diogenes
thường mang một chiếc đèn, cho dù đó là ban ngày. Ông ấy bị coi là có chút ít
gàn dở - hiển nhiên. Trong thế giới của những người không lành mạnh, bất kì ai
lành mạnh đều nhất định bị coi là gàn dở chút ít. Và ông ấy làm cái gì đó bạn
cũng cảm thấy có vẻ chút ít gàn dở. Với bất kì ai ông ấy gặp trên đường, ông ấy
đều giơ chiếc đèn lên và nhìn tận mặt người đó. Và khi được hỏi, “Ông làm gì
vậy, Diogenes? Đang giữa ban ngày ban mặt; ông không cần phải cầm đèn đang
cháy,” ông ấy sẽ nói, “Không, tôi phải giữ cho nó cháy sáng. Tôi đang đi kiếm
người đích thực.”
Khi ông ấy sắp chết, chiếc đèn
vẫn bên cạnh ông ấy, ai đó hỏi, “Diogenes, cả đời mình ông đã đi tìm người đích
thực. Điều gì xảy ra? Ông có gặp được người đích thực hay không?” Ông ấy nói,
“Lạy trời, mặc dầu tôi chưa bao giờ gặp bất kì người đích thực nào tôi đã giữ
được chiếc đèn của mình.”
Bởi vì thế giới này tinh ranh
thế, đầy những kẻ trộm cắp, ngay cả việc giữ được chiếc đèn của người ta là
điều may mắn rồi. Diogenes này là người đã thức tỉnh. Thực ra, ông ấy không
nhìn vào mắt bạn đâu khi ông ấy giơ chiếc đèn lên, ông ấy đang biểu lộ mắt ông
ấy đấy, để cho bạn có thể nhìn một cách rõ ràng vào mắt ông ấy, và có một người
đích thực. Và nếu bạn đã nhìn vào trong mắt ông ấy, bạn sẽ biến đổi toàn bộ
thành một con người mới.
Đệ tử nhìn vào mắt thầy. Người
đó nhìn vào chính chiều sâu của mắt thầy. Đệ tử không quan tâm tới điều thầy
đang nói, người đó quan tâm tới điều thầy đang là.
Thế thì người đó đi tới biết
thân thứ hai của thầy; kho báu của thầy, thân thưởng của thầy. Toàn thể sự tồn
tại đã mưa rào hàng triệu phần thưởng lên thầy. Nhưng vẫn còn bước thứ ba nữa.
Con người của hiểu biết sâu sắc nhất đi tới biết đến thân thứ ba, thân sâu sắc
nhất.
Học viên đi tới biết thân thứ
nhất, đệ tử đi tới biết thân thứ hai còn người sùng kính đi tới biết thân thứ
ba, thân thực, bản thể thực của phật. Lần nữa lại có bước nhảy lượng tử - từ đệ
tử sang người sùng kính. Đệ tử tới rất gần, rất, rất gần, nhưng thậm chí sự gần
gũi vẫn là khoảng cách. Người sùng kính đơn giản tan ra và hội nhập vào trong
thầy. Người đó không ở gần, người đó trở thành một. Và trong cái một này người
đó đi tới biết thân thực của người đã thức tỉnh.
Nhưng Bồ đề đạt ma nói: ba thân
này và kinh nghiệm về ba thân này là của tâm trí bình thường. Thực tại, thậm
chí không có đến một thân phật. Con người của chứng ngộ hoàn toàn là không ai
cả - hay không người nào. Đó là nghĩa của không ai cả. Người đó là trống rỗng
thuần khiết. Người đó chỉ là bầu trời thuần khiết không giới hạn gì. Cái vô hạn
này chỉ được biết tới khi người ta trở thành vị phật.
Người sùng kính hội nhập với vị
phật, nhưng theo một cách tinh vi người đó vẫn mang ý tưởng của mình, “Mình là
người sùng kính, người yêu. Mình buông xuôi mọi thứ.” Một cái “tôi” rất tinh vi
- gần như trên bờ vực của việc biến mất, nhưng nó vẫn có đó. Người đó vẫn chưa
kinh nghiệm cái trống rỗng của thầy.
Có một câu chuyện về một thiền
sư vĩ đại, Lin Chi. Cái ngày một trong những đệ tử của ông ấy sắp trở nên chứng
ngộ... người đó đã đi trên con đường dài và thầy đã quan sát tiến bộ của người
đó, và thầy biết rằng khi mặt trời lặn ngày hôm đó, trước lúc đó, đệ tử sẽ trở
nên chứng ngộ. Người đó đã tới gần thế, cũng giống như con bướm bay ngày càng
gần tới ngọn lửa của chiếc nến. Người ta có thể nói rằng không mấy chút thời
gian nữa. Con bướm đã tới gần đến mức không mấy chốc nó sẽ rơi vào trong ngọn
lửa và biến mất mãi mãi.
Lin Chi gọi đệ tử của mình tới
và bảo người đó, “Nghe đây, ta đã từng đánh ông nhiều năm.” Đó là một phần của
truyền thống thiền. Đó là truyền thống duy nhất nơi thầy được phép đánh đệ
tử... bởi những lí do kì lạ, hay không bởi lí do nào hết cả. Chỉ thầy biết tại
sao ông ấy đánh đệ tử: đôi khi đệ tử đem tới câu trả lời sai cho một câu hỏi,
thế thì thầy tát trò.
Nhưng đôi khi các đệ tử đơn
giản bị ngạc nhiên. Họ thậm chí không nói ra một lời và thầy bắt đầu tát họ và
họ nói, “Thế này thì quá lắm bởi vì chúng tôi chưa nói gì cả.” Thầy nói, “Điều
đó không thành vấn đề. Ta biết điều ông định nói, ta có thể đọc được điều đó
trên khuôn mặt ông. Ta đã biết cách ông vào phòng... vậy sao phí thời gian làm
gì? Trước hết ông sẽ phải nói mọi thứ và thế rồi ta sẽ phải đánh. Làm cho nó
ngắn lại đi. Nhận lấy cú đánh đau và đi đi. Tìm ra câu trả lời đúng.”
Và một sự kiện nổi tiếng là khi
đệ tử tìm ra câu trả lời đúng người đó không có gì để nói cả, bởi vì câu trả
lời đúng không thể được nói ra. Chỉ câu trả lời sai có thể được nói.
Cho nên thỉnh thoảng Lin Chi
đánh đệ tử này, và bỗng nhiên ông ấy gọi người đó lại. Người đó đang ngồi bên
ngoài trời trong vườn, thiền về một công án mà người đó đã từng bị đánh nhiều
lần. Đệ tử này nói, “Sao thầy gọi tôi? bởi vì tôi không có gì để nói cả.” Và
trước khi đi vào cửa phòng thầy người đó nói rõ ràng, “Tôi không có gì để nói
cả, cho nên đừng bắt đầu tát tôi. Và tôi không tới theo cách riêng của tôi;
thầy đã gọi tôi tới.”
Lin Chi nói, “Điều đó đúng. Ông
đã không tới, ta đã gọi ông, nhưng ta sẽ tát hoàn toàn giống như trước bởi một
lí do hoàn toàn khác hôm nay. Lại gần đây.”
Đệ tử này nói, “Điều này đi quá
xa rồi. Tôi đã được bảo rằng khi ông không có gì để nói, ông không thể bị tát.
Thầy phá ngay cả qui tắc đó.” Thầy nói, “Đừng phí thời gian. Lại gần đây. Ta
đang định tát ông bởi vì sau hôm nay ta sẽ không có khả năng tát ông lần nữa
được. Hôm nay ông sẽ trở nên chứng ngộ, cho nên đây là cơ hội cuối cùng. Để cho
ta có một cú mạnh... Ngày mai ông có thể tát ta - ông sẽ có quyền ấy - nhưng
hôm nay là cơ hội cuối cùng của ta.” Và ông ấy tát đệ tử.
Đây là một truyền thống hay. Nó
biểu lộ tình yêu lớn lao. Thầy đánh đệ tử không bởi lí do nào hết cả, chỉ bởi
vì người đó sắp trở nên chứng ngộ hôm nay và từ ngày mai thầy sẽ không có khả
năng đánh người đó nữa...! Đệ tử trở nên chứng ngộ vào ngày đó và ngày hôm sau
khi đệ tử tới gặp thầy, thầy đóng cửa lại. Thầy nói, “Ông có thể nói bất kì
điều gì ông muốn nói từ bên ngoài phòng, bởi vì ta là một lão già. Ông phải
hiểu rằng việc tát ta là không đúng, cho nên từ giờ trở đi cửa sẽ vẫn còn đóng
đối với ông. Ông có thể nói bất kì điều gì ông muốn nói to lên một chút từ bên
ngoài.”
Khoảnh khắc một người sùng kính
thậm chí quên mất rằng mình hiện hữu, rằng không ý tưởng gì về cái tôi đây nảy
sinh trong người đó, thế thì người đó đi tới biết rằng vị phật không có thân
chút cả. Vị phật đó là không ai cả; ông ấy đơn giản là im lặng thuần khiết,
trống rỗng, con số không toàn bộ.
Nhưng thực tế, thậm chí không
có tới một thân phật nào, nói gì tới ba. Việc nói về ba thân này đơn giản được
dựa trên hiểu biết của con người, điều có thể là nông cạn, trung bình hay sâu
sắc.
Người của hiểu biết nông cạn
tưởng tượng họ đang chồng chất phúc lạc và nhận lầm thân biến đổi là vị phật.
Người của hiểu biết trung bình tưởng tượng họ đang đặt sự chấm dứt cho đau khổ
và nhận lầm báo thân là vị phật. Còn người có hiểu biết sâu sắc tưởng tượng
mình đang kinh nghiệm phật tính và nhận lầm pháp thân là vị phật. Nhưng người
có hiểu biết sâu sắc nhất nhìn vào bên trong, không bị phân tán bởi cái gì cả.
Vì một tâm trí hay tốt hơn, vô trí, sáng tỏ là vị phật, họ đạt tới hiểu biết về
vị phật mà không dùng tâm trí...
Cá nhân tạo ra nghiệp.
Trước khi chúng ta đi vào kinh
này, bạn phải hiểu từ nghiệp karma này. Nó có nghĩa là hành động. Nhưng hành
động có thể có hai kiểu: hoặc nó có thể là phản ứng hoặc nó có thể là đáp ứng.
Ai đó xúc phạm bạn. Bạn trở nên
giận dữ - người đó đã nhấn phím của bạn. Thực ra người đó là chủ, bạn đang hành
xử như một nô lệ. Người đó đã xoay xở để tạo ra giận dữ trong bạn. Người đó
đang trong điều khiển. Nếu người đó muốn thay đổi tình huống người đó có thể
nói, “Tôi lấy làm tiếc,” và mọi sự sẽ khác. Bạn chỉ là nạn nhân; bạn không có
quyền nào điều khiển tình huống này. Khi ai đó xúc phạm bạn, bạn ngay lập tức
phản ứng từ kinh nghiệm quá khứ của mình.
Phản ứng này thực sự là nghiệp.
Nó là lực kết ghép, nó tạo ra
xiềng xích cho bạn.
Nhưng đáp ứng là điều khác toàn
bộ với phản ứng. Đáp ứng không được tạo ra bởi người khác. Người đó xúc phạm
bạn, người đó lăng mạ bạn - bạn nghe người đó, người đó đang đưa ra phát biểu
nào đó về bạn. Người của hiểu biết, người của nhận biết, người của thiền sẽ đơn
giản lắng nghe điều đó. Người kia đang đưa ra phát biểu nào đó... tốt hay xấu,
điều đó không phải là mối bận tâm của khoảnh khắc đó. Trước hết bạn lắng nghe
người đó mà không đi ngay vào phản ứng. Bạn cho phép nhận biết của mình tựa như
tấm gương phản xạ bất kì cái gì người đó đang nói, hay bất kì cái gì người đó
đang làm. Và từ nhận biết tựa tấm gương của bạn, ngay lập tức, trong hiện tại,
không từ kinh nghiệm quá khứ, đáp ứng nào đó tới.
Người đó đang bảo bạn rằng bạn
tham, người đó đang bảo bạn rằng bạn xấu, người đó đang bảo bạn rằng bạn bẩn.
Và nếu bạn lắng nghe một cách im lặng, không có gì để giận cả. Hoặc là người đó
đúng hoặc là người đó sai. Nếu người đó đúng, bạn phải biết ơn người đó. Bạn
phải nói với người đó, “Cám ơn bạn, bạn có từ bi lớn lao. Bạn đã làm cho tôi
nhận biết về những điều mà tôi còn chưa nhận biết. Xin bạn luôn nhớ, bất kì khi
nào bạn thấy cái gì đó trong tôi, bảo tôi. Đừng cảm thấy rằng tôi sẽ bị xúc
phạm. Tôi bao giờ cũng vẫn còn biết ơn.”
Hay nếu bạn thấy rằng người đó
sai, bạn có thể đơn giản nói, “Tôi đã nghe phát biểu của bạn nhưng chúng không
đúng. Và về cái gì đó không đúng, sao tôi phải phản ứng lại làm gì? Bạn sẽ phải
xem lại. Xem lại phát biểu của bạn và thế thì chúng ta sẽ thấy. Nhưng như tôi
có thể thấy, không có gì đúng trong chúng cả và tôi không cần phải bị xúc phạm
bởi lời dối trá.” Chỉ có hai phương án này.
Bố của George Gurdjieff chết và
lúc đó ông ấy mới chín tuổi. Người bố nghèo nhưng là một người rất hoà hợp, con
người của nhận biết vô biên. Ông ấy gọi Gurdjieff tới và nói, “Nghe đây. Con
còn quá trẻ để hiểu điều bố nói, nhưng nhớ lấy nó. Không bao lâu con sẽ có thể
hiểu nó, và nếu con có thể bắt đầu hàng động tương ứng, bắt đầu hành động đi
sao cho con không quên. Bố không có gì khác để cho con cả; không tiền, không
nhà, không đất.” Ông ấy là dân du cư. “Bố đang trao cho con qua bạn bè bố,
nhưng nhớ lấy, đây là kho báu duy nhất bố có thể trao cho con như đồ thừa kế.
Và lắng nghe cho cẩn thận; đây là những lời cuối cùng của bố con - kinh nghiệm
cả cuộc đời của bố con.”
Một đứa trẻ chín tuổi... ông ấy
tới gần để nghe ông bố già và người bố nói, “Nó là điều rất đơn giản: Nếu ai đó
xúc phạm con, lắng nghe một cách im lặng, chăm chú, từng chi tiết về điều người
đó đang nói - các ẩn ý là gì. Và thế rồi bảo người đó, ‘Tôi biết ơn rằng anh đã
quan tâm nhiều thế tới tôi. Sau hai mươi tư giờ nữa tôi sẽ tới và đáp lại anh.
Tôi không thể đừng được điều đó, bởi vì người bố đã mất của tôi đã làm điều đó
thành điều kiện với tôi rằng chỉ sau hai mươi tư tiếng xem xét tôi mới được
phép trả lời.”
Và trong tuổi già riêng của
mình, Gurdjieff đã nói với đệ tử của ông ấy, “Nguyên tắc đơn giản này đã giúp
tôi nhiều lắm, bởi vì sau hai mươi bốn giờ ai còn giận nữa? Và sau khi xem xét
hai mươi bốn giờ, hoặc người ta thấy người kia là đúng - và nếu người ấy là
đúng thế thì không cần phải bận tâm, tốt hơn cả là tự thay đổi bản thân mình -
hay nếu người đó sai. Thế nữa cũng không cần bị bận tâm. Đấy là vấn đề của
người kia, đâu phải là vấn đề của bạn.”
Một người hoàn toàn thức tỉnh
vẫn còn không bị ô uế bởi bất kì cái gì người ấy làm, bởi vì đấy là đáp ứng.
Đấy là phản xạ thuần khiết từ một tấm gương, không phán xét. Nó không tới từ
quá khứ, nó tới từ tâm thức hiện tại. Nhưng bất kì cái gì tới từ kinh nghiệm
quá khứ của bạn sẽ tạo ra xiềng xích cho bạn.
Tại phương Đông, trong mười
nghìn năm chúng ta đã từng nghĩ về điều đó, thực nghiệm với nó. Đấy là điều duy
nhất mà toàn thể phương Đông và các thiên tài của nó vẫn còn tham dự vào: làm
sao con người có thể đi tới giai đoạn mà hành động của người đó không tạo ra
bất kì tù túng nào cho người đó, không tạo ra việc sinh nữa cho người đó – làm
sao tâm thức có thể được tạo ra nơi người ta có thể hành động mà không hành
động, và nơi không cái gì làm nhiễm bẩn bản thể người đó.
Cá nhân tạo ra nghiệp. Nghiệp
không tạo ra cá nhân...
Cho nên điều đó là ở trong tay
bạn. Bạn không phải là sản phẩm phụ của hành động của bạn. Bạn còn lớn hơn rất
nhiều so với hành động của bạn, tốt hay xấu, bạn bao giờ cũng lớn hơn. Và việc
thay đổi mọi thứ là ở trong tay bạn.
Phương Đông đã cực kì kính
trọng đối với cá nhân và đã trao cho cá nhân quyền năng lớn nhất đối với định
mệnh riêng của mình điều không được trao bất kì nơi nào khác trên thế giới. Tại
phương Đông không có cứu tinh. Bạn là cứu tinh. Không ai khác có thể làm điều
đó cho bạn.
Sẽ thực sự là xấu nếu ai đó
khác có thể cứu bạn. Thế thì thậm chí bản thể riêng của bạn, được cứu hay
chuộc, cũng là một loại nô lệ.
Và nếu ai đó khác có thể cứu
bạn, ai đó khác có thể đẩy bạn trở lại bánh xe sinh tử, bởi vì bạn chỉ là con
rối. Mọi tôn giáo tin vào cứu tinh đều thu con người thành con rối. Họ lấy đi
tự do và nhân phẩm và lòng tự hào về việc là một con người cá nhân.
Bồ đề đạt ma đang nói: Cá nhân
tạo ra nghiệp. Bạn có thể tạo ra địa ngục cho bản thân mình, bạn có thể tạo ra
cõi trời, hay bạn có thể vượt ra ngoài cả hai điều này. Việc vượt ra ngoài cả
hai điều này không tồn tại trong Do Thái giáo, trong Mô ha mét giáo, trong Ki
tô giáo. Đó là đóng góp đặc biệt của các nhà huyền môn phương Đông. Địa ngục và
cõi trời tồn tại như những giả thuyết trong Ki tô giáo, trong Mô ha mét giáo,
trong Do Thái giáo. Nhưng moksha, việc vượt ra ngoài cõi trời và địa ngục...
bởi vì địa ngục là khổ còn cõi trời là sướng, nhưng sướng quá trở thành chán
sau một thời gian. Không lãnh tụ tôn giáo phương Tây nào đã bao giờ nghĩ tới
điều đó, rằng sướng sau một thời gian trở thành chán. Bạn có thể chịu đựng hạnh
phúc được bao lâu? Cũng như đau, sau một thời gian dài, trở thành bạn đồng
hành... không có nó bạn cảm thấy điều gì đó bị thiếu.
Tôi có biết một người đã từng
chịu đựng chứng đau đầu, đau nửa đầu, đến gần mười năm. Tôi hay vào trong núi
và ông ta cũng là giáo sư trong cùng trường đại học nơi tôi đã là giáo sư. Có
lần ông ta hỏi tôi, “Tôi có thể đi cùng ông được không?” Tôi không bao giờ
thích bất kì ai đi cùng mình, bởi vì tôi định đi ra khỏi thành phố chỉ để tránh
mọi kẻ ngốc - và kẻ ngốc này không chỉ là kẻ ngốc, ông ta còn bị đau nửa đầu
nữa! Tôi nói, “Trời đất,” nhưng tôi nói, “Được thôi. Nói không với ông có vẻ
rất không tử tế. Ngồi xuống đi, nhưng đừng nói về chứng đau nửa đầu bởi vì tôi
bị dị ứng.”
Ông ta nói, “Loại dị ứng gì
vậy?”
Tôi nói, “Nếu bất kì ai nói với
tôi về bệnh tật của người đó, tôi trở nên ốm theo cùng bệnh đó.”
Ông ta nói, “Tôi chưa bao giờ
nghe nói bệnh dị ứng như vậy tồn tại cả.”
Tôi nói, “Vấn đề không phải là
nghe nói, tôi là một ví dụ - Đây không phải là vấn đề sách vở. Đừng nói tới
chứng đau nửa đầu!”
Thế là tôi đem ông ta lên núi.
Đấy là mùa xoài, và núi non đầy những vị ngọt ngào của xoài. Tôi có thói quen
trèo lên cây từ thời còn thơ ấu. Tôi đã bị ngã từ trên cây xuống không biết bao
nhiêu lần đến mức bố tôi phải bảo tôi, “Bây giờ là lúc con phải chấm dứt đi.”
Tôi hay nói, “Con đã bị ngã không biết bao nhiêu lần đến mức con đã gần thành
chuyên gia về ngã. Bố không phải lo lắng. Con không phải là người mới bắt đầu.
Con ngã có phương pháp nào đó, đó là lí do tại sao con vẫn sống.”
Thế là tôi đem người này tới
một cây xoài có những quả rất chín và nhiều vẹt - vẹt thích xoài - và tôi bảo
ông ta, “Ông đi cùng với tôi, trèo lên cây.”
Ông ta nói, “Cái gì?”
Tôi nói, “Ông trèo lên đi.”
Ông ta nói, “Tôi chưa bao giờ
trèo cây cả.”
Tôi nói, “Thì cứ thử xem sao.
Đấy sẽ là cuộc phiêu lưu cho ông đấy.”
Và ông ta ngã nhào khỏi cây.
Tôi phải xô lại, trèo xuống cây. Ông ta trông rất vui vẻ. Ông ta nói, “Kì lạ
thật. Tôi bị chứng đau nửa đầu và bởi việc ngã khỏi cây mà nó đã biến mất.”
Tôi nói, “Đôi khi điều đó xảy
ra đấy, nhưng đừng làm cho nó thành thực hành. Và đừng kể với ai cả, bởi vì
điều đó có thể không xảy ra cho ai đó khác. Đấy chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên.”
Nhưng chứng đau nửa đầu biến mất.
Và sau bẩy ngày ông ta gặp tôi
và ông ta nói, “Tôi thiếu chứng đau nửa đầu rồi.”
Tôi nói, “Trước hết, ông đã
liên tục phàn nàn về chứng đau nửa đầu, mà bây giờ ông thấy thiếu nó sao?”
Ông ta nói, “Tôi chưa bao giờ
biết rằng tôi sẽ thiếu nó. Bây giờ tôi không có gì để nói cả; đau nửa đầu là
toàn thể triết lí của tôi. Và bởi vì đau nửa đầu mà tôi được thông cảm của mọi
người khác. Bây giờ không ai thông cảm với tôi cả!”
Tôi nói, “Thế thì điều duy nhất
là, chúng ta lại có thể đi lên núi, trèo lên cây và ngã. Có lẽ - tôi không thể
chắc chắn được bởi vì không có khoa học trong đó - có lẽ chứng đau nửa đầu sẽ
trở lại.”
Ông ta nói, “Tôi sẽ phải nghĩ
về điều đó bởi vì điều đó thực sự là khó. Cái đau thật tồi tệ.”
Nhưng ngày hôm sau ông ta bảo
tôi, “Tôi sẵn sàng bởi vì không có chứng đau nửa đầu tôi không thể sống được.
Tôi cảm thấy trống rỗng thế bởi vì tôi đã sống mười năm với chứng đau nửa đầu
này.”
Và bạn sẽ không ngạc nhiên nếu
bạn quan sát hành vi của riêng mình!
Có những người hút thuốc và
biết họ đang thiêu đốt phổi mình. Họ biết họ đang phá hủy sức khoẻ của mình...
nhưng điều đó không tạo ra khác biệt gì. Trong vài quốc gia chính phủ thậm chí
đã quyết định rằng các nhà máy sản xuất thuốc lá cũng phải ghi lên trên bao
thuốc rằng nó là nguy hiểm cho sức khoẻ. Ban đầu các công ti thuốc lá phản đối
bất kì luật nào như vậy được thông qua, bởi vì điều này có thể phá huỷ toàn thể
việc kinh doanh của họ. Ai còn định mua thuốc lá nữa khi người ta đã viết lên
trên bao thuốc rằng nó chống lại sức khoẻ của bạn? “Ý kiến của y tế là ở chỗ nó
nguy hiểm cho sức khoẻ của bạn,” hay cái gì đó giống thế.
Nhưng chính phủ đã thông qua
luật và mọi người đã hút thuốc vẫn cứ hút thuốc, và số người hút thuốc cứ tăng
lên. Điều đó không tạo ra khác biệt gì. Luật này là hoàn toàn vô nghĩa. Con
người trở nên quen thuộc với bất kì cái gì. Thế thì rất khó, cho dù nó là nguy
hiểm, cho dù nó đang giết chết bạn, cho dù người ta đã chứng minh rằng nó sẽ
gây ra ung thư cho bạn... Bạn thà bị ung thư còn hơn thay đổi thói quen của
mình.
Nhưng Bồ đề đạt ma đang nói:
Bạn là người chủ định mệnh của mình. Bạn có thể thay đổi được mọi hành động,
bạn có thể thay đổi được mọi thói quen. Bạn có thể thay đổi điều bạn nghĩ mà đã
trở thành bản tính thứ hai của bạn và bạn có thể tạo ra một cá nhân mới toàn
bộ, tươi tắn và trẻ trung, với nhiều nhận biết hơn, với nhiều hiểu biết hơn,
với nhiều phúc lạc hơn, với cực lạc lớn lao.
Chỉ ai đó hoàn hảo không tạo ra
nghiệp trong kiếp sống này và không nhận phần thưởng nào.
Ai hoàn hảo? Người duy nhất
hoàn hảo là người có tâm thức đã tống khứ mọi vô thức khỏi bản thể mình. Ngay
bây giờ chỉ một phần mười tâm thức bạn là có ý thức còn chín phần mười là vô ý
thức.
Người hoàn hảo là người có toàn
thể bản thể, cả mười phần, là tuyệt đối có ý thức và tràn đầy ánh sáng. Không
có bóng tối trong trái tim người đó. Trong chính chiều sâu và im lặng của trái
tim người đó không có gì ngoài an bình, im lặng, ánh sáng, vui vẻ. Người như
vậy là hoàn hảo và người như vậy có thể làm bất kì cái gì. Không cái gì bị gắn
vào người đó cả. Người đó không tạo ra nghiệp, người đó không tạo ra xiềng xích,
người đó không tạo ra cuộc sống mới. Người đó đã đi tới chính điểm cuối của con
đường.
Người hoàn hảo, người chứng
ngộ, không được sinh ra nữa. Điều gì xảy ra cho tâm thức người đó? Nó trở thành
một phần của vũ trụ, cũng giống như giọt sương trượt từ lá sen vào trong đại
dương. Hoặc giọt sương trở thành đại dương, hoặc đại dương trở thành giọt
sương. Bạn có thể nói điều này theo cả hai cách đó. Nhưng đây là mục đích của
tất cả tính tôn giáo, việc trượt của giọt sương vào trong đại dương.
Kinh nói, ‘Người không tạo ra
nghiệp nào đạt tới Pháp’
Người hoàn toàn có ý thức thì
biết tới tự tính của mình.
Đó là ý nghĩa của pháp.
Khi ông tạo ra nghiệp, ông được
tái sinh cùng với nghiệp của mình. Khi ông không tạo ra nghiệp, ông tan biến
theo nghiệp của mình...
Ai đó hiểu giáo huấn này của
hiền nhân là hiền nhân. Ai đó hiểu giáo huấn của người hữu tử là người hữu tử.
Bạn có thể là học viên của
triết gia lớn, nhưng ông ta không phải là người bất tử. Ông ta sợ chết như bạn,
hay có lẽ còn sợ hơn, bởi vì ông ta đang nghĩ nhiều hơn về sống, chết, sinh.
Ông ta càng nghĩ nhiều, ông ta càng tạo ra hoang tưởng.
Sigmund Freud đã nghĩ nhiều về
cái chết chỉ bởi vì ông ấy nghĩ về dục. Dục là một mặt của cuộc sống, cái bắt
đầu. Và chết là mặt bên kia của cuộc sống, cái kết thúc. Người nghĩ về dục
không thể nào tránh khỏi việc nghĩ về cái chết. Người đó phải nghĩ vậy. Dục và
chết được gắn với nhau sâu sắc thế.
Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng
ở Nam Phi có một loài nhện: con đực làm tình chỉ một lần trong đời bởi vì cơ
hội tiếp không bao giờ phát sinh. Trong khi nó làm tình, con nhện cái bắt đầu
ăn nó. Nó có chân dài và con nhện cái bắt đầu ăn từ chân nó. Và nó đang trong
cực lạc thế, nó không trong ý thức của mình. Và lúc cực thích của nó kết thúc,
nó cũng bị kết thúc. Mọi con nhện đều biết rằng điều này xảy ra hàng ngày -
nhưng làm gì? Chẳng chóng thì chầy mọi con nhện đều thấy mình bị mắc bẫy vào
cùng một điều. Dục và chết tới rất gần nhau trong loài đó. Nó không gần như thế
đối với con người, nhưng nó không phải là rất xa xôi. Dục là bắt đầu của chết.
Sigmund Freud sợ chết đến mức
ông ấy cấm bất kì ai không được tạo ra bất kì thảo luận gì về cái chết trước
ông ấy. Và ông ấy có hàng trăm đệ tử. Có lẽ trong cả thế kỉ này ông ấy là một
trong những thầy giáo vĩ đại nhất. Ông ấy đã tạo ra nghề phân tâm lớn lao, và
những người đã học về phân tâm từ ông ấy khoe khoang về sự kiện rằng họ là đệ
tử của thầy nguyên thuỷ, người sáng lập ra bản thân phân tâm học.
Nhưng họ không biết rằng
Sigmund Freud sợ chết đến mức ngay cả việc nhắc tới điều đó, ba lần trong đời
ông ấy, ông ấy đều ngất xỉu. Ông ấy trở nên bất tỉnh chỉ bởi vì ai đó nhắc tới
từ ‘chết’. Ngay cả từ này đã nhắc nhở ông ấy về cái chết của riêng mình. Ông ấy
không bao giờ đi qua bất kì nghĩa địa nào; cho dù ông ấy có phải đi xa thêm vài
dặm để tránh nghĩa địa ông ấy sẽ đi, nhưng ông ấy sẽ không bao giờ đi tới nghĩa
địa. Ông ấy không bao giờ đi tới nghĩa địa để nói lời chào tạm biệt cuối cùng
với người bạn đã chết, không bao giờ! Ông ấy chỉ tới có một lần, nhưng thế rồi
ông ấy không bao giờ quay lại nữa.
Bồ đề đạt ma đang nói: Ai đó
hiểu giáo huấn của người hữu tử là người hữu tử. Người hữu tử có thể vứt bỏ
giáo huấn của người hữu tử và đi theo giáo huấn của hiền nhân trở thành hiền
nhân.
Vứt bỏ giáo huấn của những
người không biết rằng có cuộc sống bên ngoài cái chết. Thế thì họ không biết gì
chút nào. Mọi tri thức của họ đơn giản là lời nói, chán ngắt thế. Thực ra, nó
chỉ là rác rưởi và phân.
Nếu bạn muốn là một đệ tử, ít
nhất chọn ai đó biết tới cái gì đó bên ngoài cái chết. Và người biết tới cái gì
đó bên ngoài cái chết thì nhất định là người biết cái gì đó bên ngoài tâm trí,
bởi vì chúng là cùng một kinh nghiệm.
Nhưng những kẻ ngu xuẩn của thế
giới này ưa thích tìm hiền nhân từ xa xôi.
Đấy là một phát biểu rất có ý
nghĩa. Nhưng những kẻ ngu xuẩn của thế giới này ưa thích tìm hiền nhân từ xa
xôi. Có những người tôn thờ Phật Gautam, hai mươi nhăm thế kỉ xa rồi. Không có
sợ; Phật không thể làm gì được bạn cả.
Đối diện với phật sống là nguy
hiểm. Ông ấy có thể tràn ngập bạn.
Nhưng tôn thờ một Phật, người
đã chết hai mươi nhăm thế kỉ rồi... Bạn có thể mang tượng Phật tới bất kì chỗ
nào bạn muốn và bạn có thể làm bất kì cái gì mình muốn với bức tượng đó; bức
tượng không thể làm gì bạn được. Nhưng vị phật sống là nguy hiểm. Trong tiếp
xúc với ông ấy là nguy hiểm thường xuyên, bởi vì ông ấy đang đưa bạn hướng tới
mục đích nơi bạn sẽ biến mất. Bạn sẽ hiện hữu, nhưng chỉ tâm thức thuần khiết,
không phải là bản ngã.
Upanishad nói rằng thầy đích
thực là cái chết. Ông ấy giết chết đệ tử như một bản ngã. Ông ấy làm cho đệ tử
trở thành cái không.
Kẻ ngu rất thích tôn thờ Jesus,
nhưng người đương đại với Jesus đã đóng đinh ông ấy. Đó là một thế giới rất kì
lạ. Thậm chí không có việc nhắc tới tên của Jesus trong sách vở đương đại với
ông ấy. Ngoại trừ với đệ tử riêng của ông ấy, không ai thậm chí đã ghi chép về
ông ấy. Thực kì lạ... một người như thế, con người mà người đương đại không thể
nào dung thứ cho sống - khi ông ấy mới chỉ có ba mươi ba họ đã đóng đinh ông ấy
- nhưng họ thậm chí không nhắc tới tên ông ấy. Vậy mà sau hai nghìn năm, một
nửa thế giới là người Ki tô giáo... kì lạ! Và nếu như Jesus Christ có tới ngày
nay, cũng cùng những người Ki tô giáo đó sẽ lại đóng đinh ông ấy lần nữa.
Tôi đã nghe nói rằng tại một
nhà thờ New York, vào sáng chủ nhật, ông giám mục tới sớm hơn chút ít để xem
mọi việc sắp đặt có ổn thoả hay không, bởi vì chỉ vào ngày chủ nhật người Ki tô
giáo trở thành tôn giáo. Đấy là tôn giáo chủ nhật. Khi ông giám mục bước vào
ông ta thấy một thanh niên trông đích xác hệt như Jesus Christ. Tim ông ấy lặng
đi. Ông ấy ngã nhào suýt chết. “Lạy chúa tôi, sao ngài tới đây? Ngài vẫn chưa
học được bài học nào. Khi ngài tới lần trước, mọi người đã làm gì ngài - và lần
nữa ngài quay lại! Nhưng tốt hơn cả phải hỏi xem người đó là ai. Có lẽ người đó
chỉ là một tên hippy trông giống Jesus thôi.” Cho nên ông ấy tới gần người đó
và hỏi, “Ông là ai?”
Jesus nhìn ông ta rồi ngài nói,
“Đây là một câu hỏi kì lạ. Ông đại diện cho ta trên trái đất này và ông lại
không nhận ra ta sao? Ta là Jesus Christ.”
Ông giám mục lập tức điện thoại
về Vatican cho giáo hoàng nói, “Ông nghĩ tôi phải làm gì đây? Jesus Christ đang
ở đây trong nhà thờ này.”
Giáo hoàng nói, “Tôi bị hành hạ
quá nhiều với cả nghìn lẻ một nỗi lo nghĩ, rồi ông đem thêm nỗi lo nữa. Ông
không thể hình dung ra phải làm gì sao? Điều đầu tiên là báo cảnh sát. Và điều
thứ hai là ra vẻ bận rộn.”
Nếu Jesus Christ mà quay lại,
ông ấy sẽ không được đối xử khác gì mấy với cách thức ông ấy đã bị đối xử trước
đây. Đó là lí do tại sao ông ấy không quay lại; bằng không ông ấy đã hứa, “Ta
sẽ quay lại sớm thôi.” Hai nghìn năm rồi và cái sớm thôi ấy vẫn không chấm dứt.
Bất kì người thông minh nào cũng sẽ không quay lại; thế đã là đủ rồi. Một kinh
nghiệm là đủ.
Người đương đại bao giờ cũng xử
tệ với những người của nhận biết, với những người đã chứng ngộ. Và cùng những
người đó bao giờ cũng tôn thờ các vị thánh chết, hiền nhân chết, nhà tiên tri
chết, vị cứu tinh chết.
Đã có ít nhất năm toan tính
được thực hiện trong cuộc đời của Phật Gautam khi ông ấy còn sống. Bây giờ có
nhiều tượng Phật Gautam trên thế giới hơn bất kì người nào khác. Và cùng những
người đó đã năm lần định giết ông ấy.
Nhưng những kẻ ngu xuẩn của thế
giới này ưa thích tìm hiền nhân ở xa xôi.
Bởi vì ở gần là nguy hiểm, họ
có thể làm thay đổi bạn.
Và không ai muốn bị thay đổi
cả.
Họ không tin rằng trí huệ của
tâm trí riêng của họ là hiền nhân.
Và thực tại là, bạn không phải
nhìn ra xa xôi theo thời gian hay không gian. Bạn chỉ phải nhìn vào trong, và
chính khoảnh khắc này bạn có thể tìm thấy người thức tỉnh. Chính khoảnh khắc
này bạn có thể tìm thấy vị phật... không phải hai mươi nhăm thế kỉ trước; không
cần đi xa đến thế. Và không có cách nào để đi ngược lại. Thượng đế đã quên, khi
ngài làm ra thế giới, không đặt bánh răng ngược vào. Bạn đơn giản đi tới, chỉ
có đi tới.
Ngay cả Henry Ford đã quên
không đặt bánh răng ngược trong chiếc xe đầu tiên mà ông ấy làm như một mô
hình. Nếu Thượng đế có thể quên, Henry Ford phải được phép quên chứ! Và khi ông
ấy ngồi vào xe của mình, thế thì ông ấy nhận ra rằng đây là vấn đề rất khó. Nếu
bạn đi quá nhà mình một mét rưỡi, thế thì bạn phải đi vòng quanh cả thành phố
để về nhà, để quay lại. Chính thiên tài của Henry Ford là tạo ra bánh răng
ngược. Thượng đế thậm chí đến bây giờ đã không học được điều đó. Nhưng ông ấy
phải gặp Henry Ford ở đó, để đặt bánh răng ngược sao cho bạn có thể đi tới gặp
Jesus Christ, hay Phật Gautam, hay Mahavira, hay Krishna.
Nhưng cảm giác của tôi là ở chỗ
cho dù có sẵn bánh răng ngược, không ai sẽ dùng nó bởi một lẽ đơn giản rằng đối
diện với những cá nhân khổng lồ như vậy cần phải can đảm, cần dũng cảm. Và dũng
cảm lớn nhất trong thế giới này là trải qua việc biến đổi từ là người hữu tử
thành là thượng đế bất tử.
Kinh nói, “Trong những người
không hiểu biết, đừng thuyết giảng kinh này.”
Nhưng bạn có thể thuyết giảng
nó ở đâu? Nếu mọi người có hiểu biết, họ không cần kinh này. Chỉ những người
không hiểu biết cần kinh này. Cho nên tôi không thể đồng ý với kinh này mà nói,
“Trong những người không hiểu biết, đừng thuyết giảng kinh này.”
Cứ từ bi, thuyết giảng cho mọi
người. Nếu họ có thể hiểu được, tốt. Nếu họ không thể hiểu được, có lẽ hạt mầm
nào đó có thể rơi vào trong tim họ không có việc biết của họ. Và thế rồi một
ngày nào đó xuân tới; nó có thể nảy mầm. Có lẽ họ có thể không nghe bạn, nhưng ai
đó lại cứ lặp lại cùng một điều... họ có thể cảm thấy rằng họ đã nghe nó trước
đây, phải có cái gì đó trong nó.
Không, người ta phải liên tục
lặp đi lặp lại cho những người không có hiểu biết, bởi vì nếu họ là những người
không hiểu biết, có mầm mống ngủ trong họ về khả năng của hiểu biết. Bạn chỉ cứ
huých vào đó. Họ cần chỉ một chút ít huých vào, chút ít lặp lại thêm nữa về
thông điệp này để đạt tới trái tim họ. Họ có xương sọ dầy.
Nhưng đừng nghe bất kì lời kinh
nào dạy bạn điều không tốt, dạy bạn không từ bi.
... Kinh nói, “Khi ông thấy
rằng mọi hình tướng đều không là hình tướng, ông thấy như lai.”
Khoảnh khắc tâm trí biến mất
với mọi ảo tưởng và mơ mộng cùng ý nghĩ và tưởng tượng của nó, bạn thấy bên
trong bản thân mình sự thức tỉnh, điều bạn có thể gọi là vị phật, bạn có thể
gọi là Christ. Đây đơn giản là cái tên. Nhưng một điều là chắc chắn: khoảnh
khắc tâm trí bạn biến mất, cái gì đó thiêng liêng xuất hiện trong bạn và bắt
đầu lớn lên thành cây khổng lồ với tán lá lớn, với hoa lớn, với quả lớn.
Vô số cánh cửa tới chân lí tất
cả đều tới từ tâm trí. Khi hình tướng của tâm trí là trong suốt như không gian,
chúng biến đi...
Khi người hữu tử sống họ lo về
chết. Khi họ no họ lo về đói. Cơn đói của họ là Điều không chắc chắn vĩ đại.
Nhưng các hiền nhân không xét tới quá khứ.
Bởi vì quá khứ không còn nữa...
Và họ không lo nghĩ về tương lai. Bởi vì tương lai còn chưa có...
Họ không níu bám lấy hiện tại.
Bởi vì hiện tại được cảm thấy
từ mọi khoảnh khắc... phỏng có ích gì mà níu bám? Níu bám sẽ đem bạn tới khổ.
Cho nên họ không nghĩ về quá khứ... nó qua rồi. Họ không níu bám lấy hiện
tại... nó đang diễn ra. Và họ không nghĩ về tương lai... nó còn chưa tới. Không
ích gì mà nghĩ về nó. Nó có thể tới, nó có thể không tới.
Từ khoảnh khắc nọ sang khoảnh
khắc kia họ đi theo Đạo.
Ngay trong phát biểu này có ẩn
chứa toàn thể bí mật của tôn giáo... Từ khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia họ
đi theo Đạo. Trong nhận biết và tự phát đầy đủ, khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc
kia, họ cứ sống vui vẻ, an bình, im lặng. Dần dần, khi im lặng của họ sâu sắc
thêm, khi hiểu biết của họ sâu sắc hơn, khi nhận biết của họ đạt tới đỉnh cao
nhất, từng khoảnh khắc đều trở thành thiên đường. Thế thì họ không nghĩ về
thiên đường ở đâu đó trên mây.
Thế thì thiên đường là ở đây.
Thế thì thiên đường là bây giờ.
Được chứ Maneesha? Vâng, thưa
Osho


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment