Osho – Bồ Đề Đạt Ma - Thiền sư
vĩ đại nhất
Chương 15: Đột phá... tới phật
tính
Osho kính yêu,
Bài thuyết pháp đột phá của Bồ
đề đạt ma
Nếu ai đó quyết tâm đạt tới
chứng ngộ, phương pháp bản chất nhất người đó có thể thực hành là gì?
Phương pháp bản chất nhất, bao
hàm mọi phương pháp khác, là ngắm nhìn tâm trí.
Nhưng làm sao một phương pháp
có thể bao gồm mọi phương pháp khác?
Tâm trí là gốc rễ từ đó mọi
điều phát triển ra. Nếu ông có thể hiểu được tâm trí, mọi thứ khác đều được bao
hàm. Nó giống như cây. Tất cả quả và hoa của nó, các cành và lá của nó, phụ
thuộc vào rễ của nó. Nếu ông nuôi dưỡng rễ của nó, cây nhân lên. Nếu ông chặt
đứt rễ của nó, nó chết. Những người hiểu tâm trí đạt tới chứng ngộ với nỗ lực
tối thiểu. Nhưng người không hiểu tâm trí thì thực hành trong vô ích. Mọi thứ
tốt và xấu đều tới từ tâm trí riêng của ông. Tìm cái gì đó bên ngoài tâm trí là
không thể được.
Nhưng làm sao ngắm nhìn tâm trí
có thể được gọi là hiểu biết?
Khi một bồ tát vĩ đại đào sâu
vào trí huệ hoàn hảo, ông ấy nhận ra... hoạt động của tâm trí ông ấy có hai
khía cạnh: thuần khiết và không thuần khiết... tâm trí thuần khiết vui mừng
trong hành vi thiện, tâm trí không thuần khiết nghĩ tới điều ác. Những người
không bị ảnh hưởng bởi tâm trí không thuần khiết là hiền nhân. Họ siêu việt lên
trên đau khổ và kinh nghiệm phúc lạc của niết bàn. Tất cả những người khác, bị
mắc bẫy bởi tâm trí không thuần khiết và bị vướng víu bởi nghiệp riêng của
mình, là những người hữu tử. Họ trôi dạt qua ba cõi giới và chịu đựng vô hạn ưu
phiền. Và tất cả là bởi vì tâm trí không thuần khiết của họ che mờ đi cái ta
thực của họ.
Kinh về mười giai đoạn nói,
“Trong thân thể của người hữu tử là bản tính phật không thể huỷ diệt nổi. Giống
như mặt trời, ánh sáng của nó trút đầy không gian vô hạn. Nhưng một khi bị che
bởi mây đen của năm uẩn, nó giống như ánh sáng bên trong bình, khuất khỏi tầm
nhìn.” Và Kinh Niết bàn nói, “Tất cả những người hữu tử đều có bản tính phật.
Nhưng nó bị che phủ bởi bóng tối mà họ không thể thoát khỏi. Bản tính Phật của
chúng ta là nhận biết: nhận biết và làm cho người khác nhận biết. Nhận ra nhận
biết là giải thoát.” Mọi thứ tốt có tính nhận biết về gốc rễ của nó. Từ gốc rễ
này của nhận biết mọc lên cây của mọi đức hạnh và quả của niết bàn.
Lời kinh sáng nay thuộc vào một
buổi thuyết pháp đặc biệt của Bồ đề đạt ma được gọi là “Bài thuyết pháp đột
phá”. Tôi muốn bạn hiểu từ “đột phá” này.
Bạn biết một từ khác gần với từ
“đột phá”, và đó là “đột quị”. Tâm trí có cả hai khả năng này. Dưới căng thẳng,
lo âu, phiền não nó có thể đột quị, nhưng đột quị không phải là đột phá. Đột
quị đưa bạn xuống thấp dưới tâm trí; nó là không lành mạnh. Đột phá tới từ việc
quan sát tâm trí trong im lặng sâu sắc, trong nhận biết lớn lao. Thế thì bạn đi
ra ngoài tâm trí và đi ra ngoài tâm trí là đạt tới lành mạnh đích thực.
Tâm trí chỉ ở giữa. Bạn không
là gì ngoài một đống lộn xộn. Nếu bạn có thể đi ra ngoài nó, thông minh phát
triển trong bạn; nếu bạn đi bên dưới nó, mọi thông minh bạn đã có biến mất.
Nhưng trong cả hai trường hợp,
hoặc trong đột phá hoặc trong đột quị, bạn đều ở ngoài tâm trí. Đó là lí do tại
sao có tương tự nào đó giữa người chứng ngộ và người điên. Người điên đã đi qua
đột quị nhưng người đó ở ngoài tâm trí. Người chứng ngộ đã đi ra ngoài tâm trí;
đấy là đột phá. Người đó cũng ở ngoài tâm trí nhưng bởi vì người đó đã đi ra
ngoài tâm trí, người đó đạt tới lành mạnh tối thượng, tới thông minh lớn lao,
tới sáng tỏ, tâm trí thậm chí không thể nào quan niệm nổi.
Nhưng sự tương tự là ở chỗ cả
hai đều ở ngoài tâm trí và tâm trí có thể diễn giải cả hai hoặc là đã chứng ngộ
hoặc là điên khùng. Do đó một điều kì lạ đã xảy ra ở phương Đông và ở phương
Tây. Có nhiều người chứng ngộ ở phương Tây ở trong nhà thương điên bởi vì tâm
lí học phương Tây không tin vào bất kì đột phá nào. Với bất kì ai vượt ra ngoài
tâm trí, chỉ một cách diễn giải có sẵn: rằng người đó đã phát điên.
Tại phương Đông có nhiều người
điên được tôn thờ như người chứng ngộ bởi vì phương Đông diễn giải việc đi ra
ngoài tâm trí bao giờ cũng là đột phá. Tôi đã bắt gặp vài người điên, người đã
không chứng ngộ, nhưng họ được tôn thờ như Thượng đế. Tại một chỗ gần Jabalpur
có một người bị liệt nửa người và hoàn toàn điên, nhưng hàng nghìn người thường
tụ tập quanh người đó. Người đó không có gì để nói và không có ánh sáng trong
mắt người đó và không có vui vẻ trong bản thể người đó.
Tôi hay tới và đơn giản ngồi đó
và quan sát người đó và những điều mọi người làm. Người đó sống gần như chỉ
bằng việc uống mỗi trà. Cũng khó cho người đó uống trà bởi vì nửa người của
người đó bị liệt, cho nên chỉ nửa cái mồm có khả năng cử động; nửa kia không có
khả năng cử động. Cho nên thậm chí khi uống trà, nước bọt của người đó nhểu vào
trong trà. Đó là một cảnh xấu coi. Và các tín đồ sẽ đem cốc trà đó khi người đó
chỉ mới nhấp vài ngụm từ đó và họ sẽ phân phát nó cho mọi người xem như prasad,
như món quà của Thượng đế.
Tôi quan sát toàn thể cái điều
vô nghĩa lí này... và người này thậm chí không có khả năng thốt ra một lời. Tại
bất kì nơi đâu khác trên thế giới người đó đều sẽ bị tống vào nhà thương điên,
nhưng ở Ấn Độ thậm chí đột quị bị hiểu lầm là đột phá. Và ở phương Tây thậm chí
đột phá được hiểu là đột quị.
Mọt sự tổng hợp lớn lao là cần
có giữa tâm lí học phương Tây và hiểu biết của phương Đông về tâm trí.
Chúng là các chiều đối lập toàn bộ đối xứng qua đường kính. Đột quị đưa bạn trở
về giai đoạn con vật, và đột phá đưa bạn tới việc nở hoa tối thượng của bạn,
phật tính của bạn. Và việc xảy ra của chúng là khác biệt, khác biệt về phẩm
chất tới độ chúng có thể dễ dàng được phân biệt ra. Đột phá xảy ra chỉ với
thiền nhân. Đột quị xảy ra cho bất kì ai có tâm trí trở nên quá căng thẳng,
căng thẳng không thể chịu đựng nổi, đến mức người đó mất mọi kiểm soát cơ chế
tâm trí, và sụp đổ.
Tên của buổi thuyết giáo này có
ý nghĩa vô cùng. Phương Đông đã nhận biết từ hàng thế kỉ rằng người điên và
người chứng ngộ có sự tương tự nào đó. Họ cả hai đều ở ngoài tâm trí, nhưng tại
đó sự tương tự chấm dứt. Một người đã vượt ra ngoài, hướng tới các vì sao;
người kia đã đi xuống vùng tối tăm.
Đột phá là chính khoa học về
thiền. Lời kinh:
Nếu người nào đó quyết tâm đạt
tới chứng ngộ, phương pháp bản chất nhất có thể thực hành là gì?
Phương pháp bản chất nhất, bao
hàm mọi phương pháp khác, là ngắm nhìn tâm trí.
Nhận biết về tâm trí là trở
thành nhân chứng của tâm trí. Khi việc chứng kiến này trở nên mạnh hơn, bạn đã
bắt đầu cảm thấy bản thân mình vượt ra ngoài tâm trí. Dần dần, dần dần khoảng
cách tăng lên. Việc chứng kiến của bạn đạt tới đỉnh ánh sáng mặt trời và tâm
trí bị bỏ lại trong thung lũng tăm tối, xa xôi. Bạn có thể vẫn nghe thấy tiếng
vọng, nhưng chúng không ảnh hưởng tới bạn chút nào. Bạn ở ngoài tầm với của
chúng.
Đệ tử này hỏi: Nhưng làm sao
một phương pháp có thể bao gồm mọi phương pháp khác được?
Và Bồ đề đạt ma nói, “Tâm trí
là gốc rễ từ đó mọi điều phát triển, từ tính điên tới chứng ngộ. Nếu ông có thể
hiểu được tâm trí, mọi thứ khác đều được bao hàm. Nó cũng giống như cây. Tất cả
quả và hoa của nó, cành và lá của nó, phụ thuộc vào rễ của nó. Nếu ông nuôi
dưỡng rễ của nó, cây sinh sôi nảy nở. Nếu ông chặt đứt rễ của nó, nó chết.
Những người hiểu tâm trí đạt tới chứng ngộ với nỗ lực tối thiểu. Nhưng người
không hiểu tâm trí thì thực hành trong vô ích. Mọi thứ tốt và xấu đều tới từ
tâm trí riêng của ông. Tìm cái gì đó bên ngoài tâm trí là không thể được...
ngoại trừ bản thân bạn, việc chứng ngộ - đó là phần thêm của tôi vào lời kinh
này.
Bây giờ có vài điều quan trọng
mà Bồ đề đạt ma đang nói tới. Điều thứ nhất là: Nếu ông có thể hiểu được tâm
trí, mọi thứ khác được bao hàm. Nhưng từ “hiểu” có thể bị hiểu lầm, bởi vì tâm
lí học phương Tây bây giờ là tâm lí học gần như thống trị trên khắp thế giới.
Phương Tây hay phương Đông, tâm lí học tràn ngập duy nhất ngày nay là tâm lí
học phương Tây. Và tâm lí học phương Tây cố gắng hiểu tâm trí bằng phân tích.
Đó là nỗ lực vô ích.
Điều đó cũng giống như bóc củ
hành. Một tầng được tách ra và bạn thấy tầng khác, tươi hơn, đang chờ bạn. Bạn
bóc tầng đó ra và tầng khác có đó. Mọi người đã từng dưới phân tâm học trong
mười lăm năm liên tục; dầu vậy phân tâm của họ là không đầy đủ. Bản thân các
nhà phân tâm thừa nhận rằng họ chưa có khả năng phân tâm cho một người một cách
hoàn hảo, toàn bộ - cho đến khi không cái gì còn lại để được phân tâm nữa.
Nhưng dầu vậy, ngay cả nhà phân tâm không có sáng suốt để hiểu rằng có lẽ họ
đang làm điều gì đó ngớ ngẩn.
Tâm trí không bao giờ có thể
được phân tích một cách toàn bộ, bởi vì trong khi bạn phân tích nó, nó cứ tạo
ra những thứ mới. Nó không còn tĩnh tại. Bạn cứ phân tích mỗi tuần hai hay ba
lần, nhưng thời gian còn lại tâm trí tạo ra nhiều ý tưởng hơn, nhiều tưởng tượng
hơn, nhiều giấc mơ hơn. Bạn không bao giờ có thể đi tới kết thúc - điều đó đơn
giản là không thể được. Và nếu bạn không thể đi tới kết thúc, tới đáy tảng đá,
hiểu biết của bạn về tâm trí là rất nông cạn.
Phương Đông không tin vào phân
tích. Nó tin vào nhận biết. Theo hai đường này khác biệt là cực kì lớn. Trước
hết, để phân tích bạn phải phụ thuộc vào ai đó khác; điều đó tạo ra sự phụ
thuộc, gần như là một loại nghiện. Một khi mọi người đã trong việc phân tâm,
rất khó để tách họ ra khỏi điều đó, bởi vì ít nhất hai lần một tuần trong khi
phân tâm họ cảm thấy chút ít ánh sáng, nhẹ gánh, chút ít thảnh thơi. Tâm trí sẽ
thu lại căng thẳng bởi vì cái rễ còn chưa bị cắt; bạn mới chỉ tỉa lá.
Và ngay khi bạn tỉa lá, quan
sát điều xảy ra: lá sẽ mọc ra vào chỗ chiếc lá bạn đã cắt. Cây lên tiếng thách
thức. Bạn không thể phá huỷ được cây; nó cũng là một sinh linh. Nó bày tỏ nỗ
lực của nó để tồn tại. Bạn không thể phá huỷ được cây này bằng việc cắt lá nó;
do đó nếu bạn muốn cây có tán lá dầy, bạn phải tỉa lá nó. Bằng việc tỉa lá nó,
tán cây trở nên dầy hơn, không mỏng hơn.
Cho nên trước hết, trong phân
tâm học bạn phải phụ thuộc vào ai đó khác. Và bạn trở nên bị nghiện, giống như
với bất kì thuốc nào. Vâng, để tôi gọi phân tâm học đang lan tràn ở phương Tây
và được phương Đông vay mượn là một loại thuốc rất tinh vi. Và việc đi ra khỏi
nó gần như không thể được. Bạn phát mệt mỏi với nhà phân tâm này, thế rồi bạn
chuyển sang nhà phân tâm khác. Cũng giống như là miễn nhiễm với thuốc này, thế
rồi bạn chuyển sang thuốc khác mạnh hơn và nguy hiểm hơn. Không mấy chốc bạn sẽ
trở nên miễn nhiễm thuốc đó nữa. Nó sẽ không có tác dụng với bạn. Thế thì bạn
sẽ phải đi lên thêm nữa.
Tôi đã từng ở trong các tu viện
ở Ladakh nơi họ thuần hoá rắn hổ mang, bởi vì có một trường phái nào đó ở Ấn Độ
cố gắng nhận biết qua thuốc. Điều đó hoàn toàn khoa học. Cách tiếp cận của nó
là khoa học, nhưng rất nguy hiểm. Người ta có thể đi sai vào bất kì lúc nào,
trên bất kì bước nào. Nó phải được thực hiện dưới hướng dẫn của thầy. Người ta
bắt đầu uống những liều nhỏ của thuốc nào đó và trở nên miễn nhiễm với thuốc
đó; thế rồi liều được cho mạnh hơn, thế rồi thậm chí còn mạnh hơn nữa; và cuối
cùng một khoảnh khắc tới khi không thuốc nào ảnh hưởng tới người này.
Tại điểm đó chỉ chất độc của
rắn hổ mang có thể ảnh hưởng tới người đó một chút ít. Người đó không bị giết
bởi rắn hổ mang. Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết - và người bị rắn hổ mang cắn không
sống được, nhưng các nhà khổ hạnh này mà tôi đã gặp ở Ladakh... và họ ở nhiều
nơi, ở Assam, ở Nagaland. Rắn hổ mang phải cắn họ ở lưỡi để cho chất độc ngay
lập tức đi vào dòng máu của họ, và bạn sẽ ngạc nhiên vô cùng rằng rắn hổ mang
chết khi cắn họ! Những người đó đã trở thành đầy chất độc tới mức con rắn hổ
mang đáng thương kia...
Đây là phép thử lửa. Khi một
người có thể giết chết rắn hổ mang và không bị hổ mang giết chết, người đó đã
trở thành miễn nhiễm với mọi loại chất độc trên thế giới.
Nhưng phương pháp cơ bản trong
trường phái đó cũng là nhận biết. Bạn phải giữ tỉnh táo và nhận biết; đó là lí
do tại sao không chất độc nào ảnh hưởng tới bạn. Đó là toàn thể quá trình của
một trường phái kì lạ - nhưng con người đạt tới nhận biết lớn lao.
Phân tâm học là liều thuốc rất
dịu. Bạn trở nên quen dần, miễn nhiễm với nhà phân tâm này. Bạn đi tới ai đó
mạnh hơn, người đi sâu hơn vào trong tâm trí bạn và tìm thấy chất liệu mà người
thứ nhất đã không có khả năng tìm ra. Điều này cứ tiếp diễn mãi. Các nhà phân
tâm đã hiện hữu đến gần một thế kỉ nay, nhưng trong một trăm năm, họ vẫn không
có khả năng đem con người tới hiểu biết về tâm trí mình. Phân tâm học đã thất
bại hoàn toàn.
Nhận biết có cái đẹp: nó không
phụ thuộc vào bất kì ai khác; nó chỉ là việc nảy sinh của một lực mới đã từng
ngủ trong bạn. Và bạn không phân tích tâm trí. Đó là luyện tập tuyệt đối vô
tích sự. Bạn đơn giản quan sát tâm trí không phân tích, không phán xét, không
ca ngợi, không kết án, không đánh giá - bạn đơn giản quan sát, dường như bạn
không liên quan gì tới nó. Bạn tách biệt và bạn đang quan sát tâm trí.
Nhưng tách biệt này tạo ra phép
màu, bởi vì tâm trí là kẻ ăn bám; nó sống trên máu bạn, nó sống trên năng lượng
của bạn. Bởi vì bạn bị đồng nhất với tâm trí, nó sống. Bạn đang nuôi dưỡng gốc
rễ nó. Cho nên toàn thể quá trình phân tâm đơn giản là ngu xuẩn. Bạn không chặt
rễ; bạn đang nuôi dưỡng rễ và bạn đơn giản cắt lá. Tán lá sẽ trở nên ngày càng
dầy hơn.
Không có gì ngạc nhiên rằng các
nhà phân tâm phát điên bốn lần nhiều hơn bất kì nghề nào khác, và các nhà phân
tâm tự tử cũng bốn lần nhiều hơn bất kì nghề nào khác trên thế giới. Nếu đây là
tình huống với các nhà phân tâm, nghĩ gì tới bệnh nhân của họ? Bệnh nhân đã rơi
vào những bàn tay sai. Nhưng phân tâm đang là thời thượng và nó là một trong
những nghề được trả lương cao nhất ở phương Tây.
Có chuyện tiếu lâm trên khắp
thế giới rằng người Do Thái bỏ lỡ Jesus; chính đứa con riêng của họ đã đã tạo
nghề nghiệp lớn nhất trên thế giới này - nghề linh mục và tu sĩ, Cơ đốc giáo
hay Tin lành. Họ không bao giờ có khả năng tha thứ cho bản thân họ. Bây giờ Cơ
đốc giáo là tổ chức tôn giáo giầu có nhất. Người Do Thái không thể nào tha thứ
được cho bản thân họ rằng họ đã đóng đinh không cần thiết người con của mình,
người đã tạo ra một nghề lớn lao.
Nhưng họ đã trả thù lại qua
Karl Marx, bằng việc tạo ra một tôn giáo khác, chủ nghĩa cộng sản. Karl Marx là
người Do Thái. Nếu một nửa thế giới là người Ki tô giáo, thế thì nửa kia của
thế giới là người cộng sản. Họ là ngang nhau. Và họ thậm chí còn khấm khá hơn,
bởi vì qua Sigmund Freud, một người Do Thái khác, họ đã tạo ra một nghề được
trả lương cao trên thế giới. Nhưng cả Ki tô giáo lẫn chủ nghĩa cộng sản đã
không có ích gì; phân tâm học cũng không có ích gì. Họ tất cả đã khai thác con
người theo các cách khác nhau.
Chủ nghĩa cộng sản đã lấy đi
toàn thể chân giá trị của con người, tự hào của con người, tính cá nhân của con
người, tự do của con người... Ki tô giáo đã phá huỷ chính khả năng là bạn có
thực tại riêng của mình. Bạn chỉ là con rối trong tay của Thượng đế. Sợi dây là
trong tay ngài. Nếu ngài muốn bạn nhảy múa, bạn nhảy múa; nếu ngài muốn bạn kêu
khóc, bạn kêu khóc. Bạn không phải là người chủ của định mệnh riêng của mình.
Và thế rồi cuối cùng phân tâm
tới, và điều này cũng đã không thể nào đem con người trở lại với nhân phẩm của
mình. Bây giờ bệnh nhân có hàng triệu, trên khắp thế giới đều trong tay các nhà
phân tâm. Và bệnh nhân phụ thuộc vào nhà phân tâm như hình ảnh người bố của họ
và bản thân cái hình ảnh người bố này lại cũng chịu cùng chứng bệnh, cùng bệnh
tinh thần phân liệt, cùng nhân cách chia chẻ.
Phương pháp phương Đông do các
nhà huyền môn trao cho ngay chỗ đầu tiên đem lại chân giá trị cho con người,
cho con người lòng tự hào và làm cho con người nhận biết: bạn có một cội nguồn
nhận biết được giấu kín - chỉ cần đánh thức nó và trở nên nhận biết về tâm trí.
Bạn không phải làm gì cả; chỉ trở nên nhận biết về tâm trí, bạn là tách biệt.
Và khoảnh khắc bạn tách biệt ra, bạn không còn nuôi dưỡng gốc rễ của tâm trí
nữa. Tâm trí chẳng mấy chốc sẽ khô héo đi, không có phân tích gì; cần gì phải
phân tích nó?
Đó là lí do tại sao Bồ đề đạt
ma nói: Nhận biết, ngắm nhìn tâm trí, là phương pháp bản chất nhất để có đột
phá. Và một khi bạn đã đi một bước vượt ra ngoài tâm trí, bạn đã đi vào thế
giới của niết bàn, bạn đã đi vào thế giới của ánh sáng và cuộc sống vĩnh hằng.
Bạn đã đạt tới toàn vẹn tâm linh, tự do và cực lạc mênh mông mà tâm trí thậm
chí không thể nào mơ về điều đó được.
Những người hiểu tâm trí đạt
tới chứng ngộ với nỗ lực tối thiểu. Nhưng người không hiểu tâm trí thực hành
trong vô vọng.
Và nhà phân tâm nên được tính
vào những người không hiểu tâm trí, và đang thực hành trên mình và người khác
cái gì đó tuyệt đối vô ích. Đấy là lãng phí cực kì về thời gian và cuộc sống và
năng lượng. Phân tâm học phải hiểu cách thức huyền học của phương Đông, và thế
thì nó sẽ trải qua biến đổi và nó sẽ cực kì có ích cho mọi người.
Nhưng rắc rối là nghề này sẽ
mất đi, và hàng nghìn nhà phân tâm hiện đang kiếm biết bao nhiêu tiền sẽ không
sẵn sàng cho toàn thể nghề này bị kết thúc. Đây là vấn đề. Nó là vấn đề sâu sắc
đến mức phải tìm ra cách thức nào đó. Bằng không, cho dù ai đó có hiểu sự kiện
này một cách trí tuệ, người đó sẽ không sẵn sàng để làm gì cả, bởi vì điều đó
sẽ phá huỷ quyền lợi được đầu tư của riêng người đó.
Điều này cũng giống như các bác
sĩ: họ giúp bệnh nhân được chữa bệnh, nhưng sâu bên dưới họ muốn bệnh nhân được
chữa bệnh lâu nhất có thể được. Họ không muốn làm chết bệnh nhân bởi vì điều đó
không giúp ích gì cho nghề của họ cả, nhưng họ muốn người đó treo lơ lửng giữa
sống và chết lâu nhất có thể được, bởi vì người đó càng treo lâu giữa sống và
chết, họ càng kiếm được tiền lâu hơn. Nếu người đó được chữa khỏi, việc kiếm
tiền của họ chấm dứt. Nếu người đó chết, việc kiếm tiền của người đó chấm dứt.
Cho nên họ không muốn người đó sống không muốn người đó chết. Họ muốn... và đây
là chính điều rất vô ý thức, có thể không bác sĩ nào nhận biết rõ ràng về điều
đó.
Tôi đã nghe... Một thanh niên
về nhà từ trường đại học y sau khi thu được đủ mọi bằng cấp. Bố anh ta là một
bác sĩ và ông ta cho con mình đi học để cũng trở thành bác sĩ. Vào ngày đầu
tiên đi thực hành, anh ta thấy một bà già mà anh ta vẫn thấy hay đến với bố
mình khi anh ta còn là đứa trẻ. Anh ta không thể nào tin nổi rằng bà ấy vẫn
chưa được chữa khỏi.
Anh ta nói với bố, “Bây giờ con
đã ở đây rồi, và bố già rồi và phải nghỉ thôi. Bố nghỉ đi. Con sẽ chăm sóc bệnh
nhân.”
Và sau ba ngày anh ta bảo với
ông bố già, “Bố sẽ ngạc nhiên: cái bà mà bố không thể nào chữa khỏi trong ba
mươi năm, con đã chữa hỏi trong ba ngày.”
Ông bố lấy tay cốc vào đầu đứa
con. Ông ấy nói, “Đồ ngu! Bà đó đã chu cấp tiền cho giáo dục của con đấy! Và
con đã chữa khỏi cho bà ấy. Bà ấy giầu đến mức bà ấy có thể có khả năng chu cấp
cho hai em con nữa đang học đại học. Và bà ấy còn đủ mạnh khoẻ, bà ấy sẽ không
chết, nhưng chúng ta phải giữ cho bà ấy chỉ ở lưng chừng thôi.”
Đứa con không thể nào hiểu nổi.
Ông già nói, “Trước hết học qui tắc cơ bản này: nếu người nghèo tới với con,
chữa cho người ấy thật nhanh vào. Còn nếu người giầu tới con, thế để thời gian
của con ra; chữa cho chậm vào.”
Để tránh tình thế này ở Trung
Quốc, họ đã thực hành trong hàng nghìn năm một hệ thống rất khác biệt. Và tôi
nghĩ rằng hệ thống này nên là hệ thống cho con người tương lai nữa. Tại Trung
Quốc, lang y không được trả tiền do việc chữa cho bệnh nhân, người đó được trả
tiền nếu bệnh nhân vẫn còn mạnh khoẻ. Mọi lang y đều có bệnh nhân của mình và
bệnh nhân trả tiền cho ông ta nếu họ vẫn còn mạnh khoẻ. Nếu họ bị ốm, thế thì
việc trả tiền cho ông lang dừng lại. Thế thì ông ấy phải chữa cho họ bằng tiền
riêng của mình.
Điều này có vẻ kì lạ, nhưng ở
Liên Xô họ cũng đã bắt đầu cùng quá trình này - họ đang thực nghiệm trên qui mô
nhỏ. Nhưng quá trình này là cực kì có ý nghĩa. Mọi người nên được trao cho một
bác sĩ nào đó, một khu vực nào đó nên được trao cho người đó. Nếu mọi người đều
mạnh khoẻ trong vùng đó, họ phải trả tiền cho bác sĩ; họ trả vì sức khoẻ của
mình. Nhưng nếu họ bị lâm bệnh, thế thì bác sĩ phải chữa cho họ bằng tiền túi
của mình. Một cách tự nhiên bác sĩ sẽ chữa cho họ nhanh chóng và bác sĩ sẽ
không muốn ai bị ốm cả. Hiển nhiên Trung Quốc đã là nước mạnh khoẻ hơn bất kì
nước nào khác trên thế giới. Họ đã thay đổi toàn thể hình mẫu.
Nhà phân tâm nên được trả tiền
chỉ nếu người là bệnh nhân của ông ta đang trở nên độc lập, tỉnh táo, đi ra
ngoài tâm trí, Nhưng nếu người đó rơi vào trong tâm trí hay ở dưới thấp hơn tâm
trí, thế thì nhà tâm lí phải chữa cho người đó bằng tiền túi của mình. Điều đó
sẽ thay đổi toàn thể tình huống.
Nhận biết là quyền năng riêng
của bạn.
Và việc phụ thuộc vào quyền
năng riêng của mình đem lại tự do lớn lao và thẩm quyền lớn lao và sự toàn vẹn
lớn lao. Tâm trí bị cắt đi từ gốc rễ; chẳng mấy chốc nó khô héo đi. Và không
gian mà tâm trí đang chiếm giữ không còn bị cái gì chiếm giữ nữa; nó bây giờ là
không gian thuần khiết. Đó là bản thể thực, đích thực của bạn.
Chỉ trong dòng cuối cùng này
tôi không thể nào đồng ý với Bồ đề đạt ma . Tôi không biết - và cũng không có
cách nào để biết cả - liệu đấy là dòng riêng của ông ấy hay do đệ tử ông ấy
thêm vào khi họ viết ra những lời ghi chép này. Nhưng điều đó cũng không thành
vấn đề. Vấn đề là ở chỗ tôi phải làm cho bạn nhận biết rằng dòng cuối cùng là
sai khi ông ấy nói: Tìm cái gì đó bên ngoài tâm trí là không thể được. Không,
không phải vậy. Đó là khả năng duy nhất cho sự trưởng thành của con người. Đó
là khả năng duy nhất cho chứng ngộ: vượt ra ngoài tâm trí.
Cho nên tôi muốn thêm vào: Tìm
cái gì đó bên ngoài tâm trí là không thể được... ngoại trừ bản thân bạn, ngoại
trừ chứng ngộ, những cái tên khác của cùng một thứ.
Việc tìm thấy bản thân bạn là
chứng ngộ.
Ngoại trừ chứng ngộ, chắc chắn bạn
sẽ không tìm thấy cái gì bên ngoài tâm trí. Nhưng không có sự bổ sung này thì
phát biểu đó vẫn còn nguy hiểm và có thể làm hư hỏng tâm trí của mọi người. Họ
có thể dừng lại với tâm trí, cứ nghĩ rằng không có gì bên ngoài nó cả. Và thực
ra, mọi thứ đều ở bên ngoài nó. Cái gì trong tâm trí bạn? Chỉ toàn bong bóng xà
phòng, chữ kí trên nước, hay nhiều nhất thì cũng là lâu đài cát mà chỉ một cơn
gió nhỏ thoảng qua cũng có thể làm sụp đổ.
Tâm trí bạn không là gì ngoài
hư cấu. Nhưng khi bạn đang sống trong hư huyễn nó có vẻ hạnh phúc hơn. Quan sát
nó từ bên ngoài và hư huyễn đó biến mất.
Nhưng đệ tử này hỏi: Nhưng làm
sao ngắm nhìn tâm trí có thể được gọi là hiểu biết?
Khi một bồ tát vĩ đại đào sâu
vào trí huệ hoàn hảo, ông ấy nhận ra... hoạt động của tâm trí mình có hai khía
cạnh: thuần khiết và không thuần khiết...
Không cần phải là một bồ tát vĩ
đại mới biết tới sự kiện đơn giản này. Bạn có thể nhìn vào trong tâm trí mình
và bạn sẽ thấy phân biệt này: rằng bạn có những hoạt động thuần khiết, và những
hoạt động không thuần khiết. Bạn có yêu, bạn có ghét; bạn có an bình, bạn có
căng thẳng; bạn có từ bi, bạn có độc ác; bạn có sáng tạo và bạn có phá huỷ.
Không cần phải là bồ tát vĩ đại; mọi người có tâm trí đều có thể biết mà không
cần nỗ lực gì rằng nó có hai khía cạnh: thuần khiết và không thuần khiết.
... tâm trí thuần khiết vui
sướng trong hành vi tốt, tâm trí không thuần khiết nghĩ tới điều ác. Những
người không bị ảnh hưởng bởi tâm trí không thuần khiết là hiền nhân.
Lần nữa tôi muốn bổ sung thêm
chút ít, bằng không sẽ có hiểu lầm. Kinh nói: Những người không bị ảnh hưởng
bởi tâm trí không thuần khiết là hiền nhân. Họ có bị ảnh hưởng bởi thuần khiết
không? Thực ra định nghĩa về hiền nhân là người không bị ảnh hưởng bởi bất kì
cái gì, thuần khiết hay không thuần khiết, bởi vì người có thể bị ảnh hưởng bởi
thuần khiết không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi không thuần khiết. Họ không
khác nhau đến thế. Cho nên tôi muốn nói: Những người không bị ảnh hưởng bởi
thuần khiết hay không thuần khiết là hiền nhân.
Họ siêu việt lên trên đau khổ
và kinh nghiệm phúc lạc của niết bàn. Tất cả những người khác, bị mắc bẫy bởi
tâm trí không thuần khiết và bị vướng víu bởi nghiệp của riêng mình, là những
người hữu tử. Họ trôi dạt qua ba cõi giới và chịu đựng vô hạn ưu phiền. Và tất
cả là bởi vì tâm trí không thuần khiết của họ che mờ đi cái ta thực của họ.
Tâm trí giống như đám đen mây
tối bao quanh bạn. Thực tế nó không làm hư hỏng cái ta của bạn, nhưng bởi vì
đám mây đen đó mà bạn không thể thấy được mặt trời. Mặt trời không bị ảnh hưởng
bởi mây đen. Nó vẫn chiếu sáng trong sự huy hoàng của nó, nhưng mây đen có thể
che phủ nó nhiều đến mức thậm chí ngày bắt đầu có vẻ giống như đêm.
Kinh về mười giai đoạn nói,
“Trong thân thể của người hữu tử là bản tính phật không thể huỷ diệt nổi. Giống
như mặt trời, ánh sáng của nó trút đầy không gian vô hạn. Nhưng một khi bị che
bởi đám mây đen của năm uẩn, nó giống như ánh sáng bên trong bình, khuất khỏi
tầm nhìn.” Và Kinh Niết bàn nói, “Tất cả những người hữu tử đều có bản tính
phật. Nhưng nó bị che phủ bởi bóng tối mà họ không thể thoát khỏi từ đó. Bản
tính phật của chúng ta là nhận biết: việc nhận biết và làm cho người khác nhận
biết. Nhận ra nhận biết là giải thoát.”
... Giải thoát khỏi tâm trí,
giải thoát khỏi mọi nghiện ngập, giải thoát khỏi thuần khiết và không thuần
khiết, giải thoát khỏi thiện và ác, giải thoát khỏi Thượng đế và quỉ, giải
thoát khỏi mọi nhị nguyên và đi vào trong cái một với sự tồn tại.
Mọi thứ tốt có nhận biết về gốc
rễ của nó. Từ gốc rễ của nhận biết này mọc lên cây của mọi đức hạnh và quả của
niết bàn.
Đây là lời kinh có ý nghĩa.
Những nhà đạo đức, những nhà luân lí của thế giới đã từng dạy mọi người, “Làm
việc tốt, làm từ thiện, phục vụ người nghèo, học tốt bụng, đức hạnh, vô dục,
chấm dứt sở hữu; mọi phẩm chất tốt bạn đều phải thực hành.”
Nhưng Bồ đề đạt ma đang nói
điều tôi đã từng nói trong cả đời mình: rằng những điều này không thể nào được
thực hành; chúng là sản phẩm phụ. Bạn chỉ có thể tạo ra nhiều nhận biết trong
bản thân mình, và tất cả những điều này sẽ tới theo cách riêng của chúng. Và
thế thì chúng có cái đẹp của riêng chúng. Nếu được thực hành chúng chỉ là đạo
đức giả - chúng không đi rất sâu. Chúng chỉ là mặt nạ, nhưng chúng không làm
thay đổi khuôn mặt nguyên thuỷ của bạn.
Đây là chỗ mà đạo đức và tôn giáo
đích thực khác nhau hoàn toàn. Đạo đức dạy bạn những điều hời hợt: tốt với
người khác, hiền với người khác, là người tử tế, không bạo hành, từ bi và tránh
mọi điều bị coi là ác - tàn nhẫn, giận dữ, tham lam. Bạn có thể đảm đương, hàng
triệu người đang đảm đương điều đó. Và họ được kính trọng sâu sắc, bởi tất cả
những kẻ ngu xuẩn mà thế giới này đầy. Nhưng đạo đức của họ thậm chí không sâu
hơn lớp da. Chỉ cào họ chút xíu, và bỗng nhiên bạn sẽ thấy họ đã quên hết mọi
việc tập tành và bản tính man rợ thực của họ lòi ra.
Tôi đã nghe về một vị thánh Ki
tô giáo, người liên tục lặp lại trong bài thuyết giáo của mình, “Khi ai đó tát
vào má này của con, nhớ tới Jesus Christ và điều ông ấy đã nói: ‘Chìa má bên
kia ra cho người đó.’” Nó là một giáo huấn hay, nhưng chỉ nếu nó tới từ cốt lõi
bên trong nhất của bạn. Nếu nó tới từ nhận biết của bạn, nó có ý nghĩa khác.
Nếu bạn thực hành nó, thế thì nó không có giá trị gì mấy.
Một hôm chuyện xảy ra: Một anh
chàng tinh quái, chỉ để xem liệu bản thân vị thánh này có chìa má mình ra hay
không, đứng dậy và anh ta nói, “Bây giờ chúng ta xem: cha đã dạy đi dạy lại
chúng tôi chìa má kia ra.” Anh ta là người lực lưỡng cho nên vị thánh này rất
sợ hãi, và kẻ lực lưỡng này tiến tới và tát cho vị thánh một cái tát thẳng cánh
vào một bên má. Nhưng vị thánh phải giữ lấy lời của mình; toàn thể giáo đoàn
đang kia và mọi người đều đang quan sát điều gì sẽ xảy ra.
Ông ta chìa má kia ra nghĩ
bụng, “Ta chưa bao giờ làm hại cho thằng cha này. Nó nên cảm thấy xấu hổ và mặc
cảm.” Nhưng kẻ lực lưỡng này thực là một tay tinh quái. Anh ta giáng một cái
tát còn mạnh hơn vào má bên kia. Nhưng thế rồi anh ta bỗng nhiên ngạc nhiên và
toàn thể giáo đoàn cũng ngạc nhiên: vị thánh nhảy lên người kẻ lực lưỡng và bắt
đầu đánh đấm anh ta túi bụi. Anh ta không trông đợi điều đó. Mặc dầu anh ta là
người lực lưỡng nhưng anh ta quên mất; điều đó bất ngờ thế. Anh ta đơn giản
xoay xở nói, “Ông làm gì vậy?”
Vị thánh nói, “Ta làm gì à?
Jesus chỉ nói: ‘Chìa má kia ra’. Ta không có má thứ ba. Bây giờ ta thoát khỏi
kỉ luật đó và ta sẽ cho mi biết điều đó nghĩa là gì.”
Rất dễ thực hành, nhưng thực
hành có một tầng rất mỏng mà có thể bị rách ra.
Một sannyasin vài ngày trước
đây có hỏi tôi... cô ấy đang theo học lớp buổi tối, đang đi xe đạp tới chỗ cô
ấy trọ. Và một tên người Poona đi tới trên xe máy, dừng cô gái đáng thương lại
và bóp một vú cô ấy. Điều này ở Poona người ta gọi là “văn hoá Hindu”.
Cô gái hỏi tôi, “Theo như Jesus
Christ thì con có phải đưa vú bên kia nữa ra cho nó không?” Ngay cả tôi cũng
không nghĩ tới điều đó, đấy không chỉ là vấn đề về cái má. Cô ấy đã hỏi một câu
hỏi thực là sâu sắc, “Thầy nói gì, tôi phải làm gì trong tình huống như vậy?”
Nhưng về cơ bản giáo huấn của
Christ chỉ là đạo đức. Bạn không cần phải chìa má kia ra, và bạn không phải đưa
vú kia ra. Bạn phải tát kẻ kia một cái thật mạnh nhất, bởi vì những kẻ sô vanh
Hindu này... và thành phố này có bản ngã kì lạ. Họ nghĩ nó là thành phố rất văn
hoá; nó là thành phố chết, nó là nghĩa địa. Nhưng chắc chắn trong nghĩa
địa không cái gì xảy ra cả. Làm sao con ma này xoay xở tới trên chiếc xe máy
tôi không biết, nhưng ma quan tâm tới vú phụ nữ bởi vì cả đời chúng, khi chúng
còn sống, chúng đã quan tâm tới vú phụ nữ. Cho nên thậm chí khi chúng chết,
thói quen cũ vẫn tiếp tục.
Không cần... giáo huấn của tôi
không phải là chìa má kia ra, bởi vì bạn sẽ làm gì khi người kia đánh vào má
kia? Bạn không có má thứ ba!
Câu hỏi của cô ấy nhắc nhở tôi
về một cuộc hội nghị của các nhà phân tâm. Một nhà phân tâm rất già, người đã
là đệ tử của Sigmund Freud, đã đọc một bài báo trước hội nghị này. Và ở ngay
hàng trước là một phụ nữ rất xinh đẹp, cũng là nhà phân tâm. Một nhà phân tâm
khác, người rất nổi tiếng, đang nghịch vú cô ấy. Và điều đó là quấy rối thường
xuyên cho ông già đáng thương đang đọc bài báo. Ông ta giấu cặp mắt mình, nhưng
dầu vậy - ông ta sau rốt cũng là đàn ông, cùng loại đàn ông... Cho nên thỉnh
thoảng ông ta lại liếc nhìn điều đang diễn ra. Và ông ấy không thể nào tin được
cái loại đàn bà gì thế này... mà một lão già xấu xí đang nghịch vú cô ấy còn cô
ấy thì nghe bài báo cứ dường như không có gì xảy ra cả. Và biết bao nhiêu điều
xảy ra cho người đang đọc bài, người không có vú và không có ai làm gì cho
người đó!
Nhưng câu hỏi: đây là cái loại
đàn bà gì thế này? Người đàn ông này đơn giản xấu xí mặc dầu ông ấy là nhà phân
tâm nổi tiếng. Nhưng nổi tiếng đâu có làm thay đổi con người; nổi tiếng đơn
giản làm cho họ đạo đức giả nhiều hơn, nổi tiếng đơn giản làm cho họ làm mọi
điều trong bóng tối, từ cửa sau. Cửa trước của họ vẫn được giữ rất sạch sẽ và
rất thuần khiết, với ảnh của mọi vị thánh vĩ đại.
Bằng cách nào đó ông này xoay
xở kết thúc bài nói. Thật là rất khó để kết thúc bài báo - bởi vì ưu tiên của
ông ấy là để hỏi người phụ nữ này - và khi ông ấy kết thúc bài báo, ông ấy bước
xuống bục và đi thẳng tới người phụ nữ này. Khi ông ấy tới đó, ông già kia vội
rụt tay lại. Ông ấy nói với người phụ nữ, “Suốt cả thời gian tôi đọc bài, tôi
đã thấy người này nghịch vú cô, mà cô đã không phản đối.”
Người phụ nữ nói, “Tôi là nhà
phân tâm. Đấy là vấn đề của ông ấy. Mặc dầu ông ấy già, ông ấy vẫn còn chưa
trưởng thành; ông ấy vẫn trẻ con, chưa chín chắn. Đấy là vấn đề của ông ấy;
không có gì phải lo nghĩ cả.”
Người đọc bài nghĩ thấy lạ
nhưng điều đó cho ông ta một ý tưởng rằng đấy cũng là vấn đề của ông ta nữa.
Sao ông ta bị quấy rối? Có lẽ ông ấy muốn ở vị trí của ông già kia...
Cái gọi là các nhà đạo đức của
bạn, cái gọi là các nhà thuyết giảng của bạn, cái gọi là các nhà phân tâm của
bạn, cái gọi là các triết gia của bạn nông cạn thế. Và họ lại đang mang toàn
thể tải trọng vấn đề bên trong họ, bởi vì họ đã không chặt đứt gốc rễ và họ đã
nhận toàn thể tình huống từ đầu sai.
Bồ đề đạt ma là rất rõ ràng khi
ông ấy nói: Mọi thứ tốt đều có tính nhận biết về gốc rễ của nó. Từ gốc rễ của
nhận biết này nảy sinh cây của mọi đức hạnh và quả của niết bàn. Ông ấy siêu
việt lên rất xa trên các nhà đạo đức, người khắt khe về đạo đức, cái gọi là
những người tốt, người làm điều tốt. Ông ấy đã chạm tới tận đáy tảng đá của vấn
đề.
Chừng nào mà nhận biết còn chưa
nảy sinh trong bạn, tất cả đạo đức của bạn đều hư huyễn, tất cả văn hoá của bạn
đơn giản là một tầng mỏng mà có thể bị bất kì ai phá huỷ đi. Nhưng một khi đạo
đức của bạn đã bắt nguồn từ nhận biết của bạn, không phải từ kỉ luật nào đó,
thế thì đấy là vấn đề hoàn toàn khác. Thế thì bạn sẽ đáp ứng trong mọi tình
huống từ nhận biết của mình. Và bất kì điều gì bạn làm đều sẽ là tốt.
Nhận biết không thể làm được
điều gì xấu. Đó là cái đẹp tối thượng của nhận biết, rằng bất kì cái gì bắt
nguồn từ nó đều đơn giản là đẹp, nó đơn giản đúng, và không có nỗ lực nào,
không có thực hành nào.
Cho nên thay vì cắt lá và cành,
chặt rễ đi. Và để chặt rễ không có phương pháp nào khác hơn phương pháp đơn
giản này: phương pháp là tỉnh táo, là nhận biết, là có ý thức. Có ý thức hơn,
và mọi thứ sẽ xảy ra qua bạn sẽ làm đẹp cho sự tồn tại này, làm cho nó thiêng
liêng hơn, làm cho nó chín muồi hơn. Nhận biết của bạn sẽ không chỉ đem tới hoa
cho bạn; nó sẽ đem tới hương thơm cho hàng triệu người.
Nhận biết là chìa khoá vàng mở
cánh cửa của Thượng đế.
Được chứ, Maneesha? Vâng, thưa
Osho.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment