Osho
- Từ Bi: Việc Nở Hoa Tối Thượng Của Tình Yêu
Một
tối khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên trộm cầm kiếm sắc đi vào, đòi nộp
tiền hoặc mạng sống của ông ấy.
Shichiri
nói với nó, "Đừng quấy rầy ta. Ông có thể tìm tiền ở ngăn kéo kia."
Thế rồi ông ấy trở lại tụng kinh.
Chút
ít sau đó ông ấy dừng lại và gọi, "Đừng lấy cả đi. Ta cần một ít để đóng
thuế ngày mai."
Tên
trộm thu gần hết số tiền và bắt đầu bỏ đi. "Hãy cám ơn người khi ông nhận
món quà." Shichiri nói thêm. Người này cám ơn ông ấy và chuồn mất.
Vài
ngày sau đó tên trộm bị bắt, và thú nhận, trong số những người khác, đã phạm tội
với Shichiri. Khi Shichiri được triệu tới làm nhân chứng ông ấy nói, "Người
này không phải là kẻ trộm, ít nhất khi có liên quan tới ta. Ta đã cho anh ta tiền
và anh ta cám ơn ta về điều đó." Sau khi đã mãn hạn tù, người này tới
Shichiri và trở thành đệ tử của ông ấy.
Jesus
nói, "Ông không phán xét." Đây là Thiền hoàn hảo, nếu như ông ấy dừng
ở đó. Nhưng có thể bởi vì ông ấy đã nói với người Do Thái và ông ấy phải nói
theo cách Do Thái, ông ấy đã nói thêm, "... để cho ông không bị phán
xét." Bây giờ đấy không còn là Thiền nữa. Bây giờ nó là mặc cả. Việc nói
thêm đó đã phá huỷ chính phẩm chất của nó, chính chiều sâu của nó.
"Ông
không phán xét" là đủ cho chính nó; không cái gì được cần thêm vào nó.
"Ông không phán xét" nghĩa là vô phán xét. "Ông không phán
xét" nghĩa là nhìn vào cuộc sống mà không có đánh giá nào. Đừng đánh giá -
đừng nói "cái này tốt" và đừng nói "cái này xấu." Đừng đạo
đức - đừng gọi cái gì đó là thiêng liêng, và đừng gọi cái gì đó là quỉ.
"Ông không phán xét" là phát biểu vĩ đại rằng không có Thượng đế và
không có Quỉ.
Giá
mà Jesus dừng lại ở đó, lời nói nhỏ này - chỉ bốn từ, "ông không phán
xét" - đã làm biến đổi toàn thể đặc điểm của Ki tô giáo. Nhưng ông ấy đã
thêm cái gì đó và đã phá huỷ nó. Ông ấy nói, "... để cho ông không bị phán
xét." Bây giờ nó trở thành có điều kiện. Bây giờ nó không còn là vô phán
xét nữa, nó đơn giản là mặc cả - "để cho ông không bị phán xét." Nó
là như kinh doanh.
Từ
sợ hãi - để cho bạn không bị phán xét - thì đừng phán xét. Nhưng làm sao bạn có
thể vứt bỏ được phán xét của mình từ sợ hãi, từ tham lam? Để cho bạn không bị
phán xét, thì đừng phán xét - nhưng tham lam và sợ hãi không thể làm cho bạn tự
do với giá trị được. Nó lấy cái ngã là trung tâm - "Ông không phán xét, để
cho ông không bị phán xét." Nó là vị kỉ. Toàn thể cái đẹp của câu nói này
bị phá huỷ. Hương vị Thiền biến mất, nó trở thành bình thường. Nó trở thành lời
khuyên tốt. Nó không có cách mạng trong nó; nó là lời khuyên của cha mẹ. Lời
khuyên rất tốt, nhưng chẳng cái gì triệt để. Mệnh đề thứ hai là việc đóng đinh
của mệnh đề gốc.
Thiền
chấm dứt ở đó: Ông không phán xét. Bởi vì Thiền nói tất cả đều như nó đang vậy
- không cái gì tốt, không cái gì xấu. Mọi sự là cách chúng đang vậy. Cây nào đó
cao và cây nào đó nhỏ. Ai đó đạo đức và ai đó vô đạo đức. Ai đó đang cầu nguyện
và ai đó đã đi ăn cắp. Đó là cách mọi sự đang là vậy. Bây giờ, thấy hương vị
cách mạng của nó! Nó sẽ làm bạn sợ, nó sẽ làm bạn hoảng. Đó là lí do tại sao
Thiền không có lời răn. Nó không nói: Làm cái này và không làm cái kia - nó
không có những cái phải và không có cái phải không. Nó không tạo ra nhà tù của
"phải."
Thiền
không phải là cầu toàn. Và bây giờ phân tâm học biết rõ rằng chủ nghĩa cầu toàn
là một loại thần kinh. Thiền là tôn giáo duy nhất không thần kinh. Nó chấp nhận.
Chấp nhận của nó là toàn bộ, hoàn toàn toàn bộ tới mức nó thậm chí sẽ không gọi
kẻ cắp là kẻ cắp, tới mức nó thậm chí sẽ không gọi kẻ giết người là kẻ giết người.
Cố thấy sự thuần khiết của tinh thần của nó - cố thấy sự siêu việt hoàn toàn. Tất
cả mọi thứ đều như nó đang là vậy.
Thiền
là tự do với giá trị một cách vô điều kiện - nếu bạn làm ra điều kiện, bạn bỏ lỡ
vấn đề. Thiền không có sợ hãi và không có tham lam. Thiền không có Thượng đế và
không có Quỉ, và Thiền không có cõi trời và không có địa ngục. Nó không làm cho
mọi người tham lam bằng cách dụ dỗ họ, hứa hẹn họ về phần thưởng trên cõi trời.
Và nó không làm mọi người hoảng hốt, sợ hãi, bằng việc tạo ra quan niệm ác mộng
về địa ngục.
Nó
không hối lộ bạn bằng ban thưởng, và nó không trừng phạt bạn bằng tra tấn. Nó
đơn giản cho bạn sáng suốt để nhìn vào mọi thứ - và sáng suốt đó giải phóng bạn.
Sáng suốt đó không có tham lam làm cơ sở cho nó và không có sợ hãi làm cơ sở
cho nó. Tất cả các tôn giáo khác đều tham lam, tất cả các tôn giáo khác đều dựa
trong nỗi sợ ở đâu đó sâu bên dưới. Đó là lí do tại sao chúng ta dùng từ
"sợ thượng đế" cho người tôn giáo - người tôn giáo sợ thượng đế.
Nhưng
làm sao sợ hãi có thể mang tính tôn giáo được? Điều đó là không thể được. Sợ
hãi không bao giờ có thể mang tính tôn giáo được - chỉ không sợ hãi mới có thể.
Nhưng nếu bạn có ý tưởng về tốt và xấu, bạn không bao giờ có thể không sợ hãi
được. Ý tưởng của bạn về tốt và xấu làm cho mọi người cảm thấy mặc cảm, làm cho
mọi người què quặt, làm cho mọi người tê liệt. Làm sao bạn có thể giúp họ tự do
khỏi mọi sợ hãi được? - không thể được. Bạn tạo ra nhiều sợ hãi hơn.
Bình
thường, người không mang tính tôn giáo ít sợ hơn, có ít phẩm chất sợ trong bản
thể người đó hơn cái gọi là người tôn giáo. Cái gọi là người tôn giáo liên tục
run rẩy bên trong, liên tục lo âu về liệu người đó có làm điều đó hay người đó
làm mất nó. Người đó có bị tống xuống địa ngục không? Hay người đó sẽ có khả
năng làm điều không thể được và vào thiên đường?
Ngay
cả khi Jesus xin phép ra đi lần cuối cùng với bạn bè và đệ tử, các đệ tử còn lo
lắng hơn về chỗ của họ sẽ ở đâu trên cõi trời. Họ sẽ gặp tiếp đó trên cõi trời
- chỗ của họ sẽ ở đâu? Ai sẽ là ai? Tất nhiên, họ nhường Jesus sẽ ở ngay bên phải
Thượng đế - thế rồi ai sẽ tiếp sau ông ấy? Lo nghĩ của họ bắt nguồn từ tham lam
của họ và sợ hãi của họ. Họ không quan tâm mấy rằng Jesus sẽ bị đóng đinh ngày
mai, họ quan tâm nhiều hơn tới quyền lợi riêng của họ.
Tất
cả các tôn giáo đều dựa trên tham lam và sợ hãi rất bình thường này. Cùng tham
lam đó bạn có với tiền một ngày nào đó trở nên được biến đổi thành tham lam Thượng
đế. Thế thì, Thượng đế là tiền của bạn; bây giờ, tiền là Thượng đế của bạn - đó
là khác biệt duy nhất. Thế thì Thượng đế trở thành tiền của bạn. Bây giờ bạn sợ
quốc gia, sợ cảnh sát, sợ cái này cái nọ - và thế rồi bạn bắt đầu sợ địa ngục,
và toà án tối cao, toà án tối thượng của Thượng đế, ngày phán xử cuối cùng.
Cái
gọi là thánh nhân Ki tô giáo, ngay cả trong khoảnh khắc cuối cùng của cuộc sống
của họ, vẫn thường xuyên run rẩy, sợ hãi - có làm điều đó hay không?
Thiền
là tự do với giá trị một cách vô điều kiện. Để điều đó chìm vào trong bạn thực
sâu, bởi vì đó là quan điểm của tôi nữa. Tôi muốn bạn hiểu, có vậy thôi. Hiểu
biết là đủ. Để hiểu biết là luật duy nhất; không có luật khác. Đừng đi theo sợ
hãi, bằng không bạn sẽ đi vào trong bóng tối. Và đừng đi theo tham lam - bởi vì
tham lam không là gì ngoài sợ hãi lộn ngược. Chúng là hai mặt của cùng một điều:
một mặt nó là tham lam, mặt kia nó là sợ hãi. Người sợ hãi bao giờ cũng tham
lam, người tham lam bao giờ cũng sợ hãi. Chúng vẫn còn cùng nhau, chúng đi cùng
nhau.
Chỉ
hiểu biết, chỉ nhận biết, chỉ năng lực để nhìn vào trong mọi thứ như chúng vậy...
Bạn không thể chấp nhận được sự tồn tại như nó vậy sao? Và bởi việc không chấp
nhận nó, chẳng cái gì đã được thay đổi. Cái gì đã được thay đổi? Trong hàng
nghìn năm chúng ta đã từng bác bỏ nhiều thứ - chúng vẫn có đó, thậm chí còn nhiều
thế. Trộm cắp đã không biến mất. Giết người cũng không biến mất. Chẳng cái gì
đã thay đổi; mọi sự đích xác như chúng bao giờ cũng vậy. Nhà tù cứ tăng lên. Luật
pháp cứ phát triển và trở thành ngày một phức tạp hơn. Và bởi vì luật pháp phức
tạp, trộm cắp được sử dụng ngày một nhiều hơn - các luật sư, các quan toà... Nó
chẳng tạo ra thay đổi ở đâu cả. Toàn thể hệ thống nhà tù của bạn đã không làm
cái gì tốt - thực tế nó đã rất có hại. Hệ thống nhà tù đã trở thành chính đại học
cho tội ác - để học tội ác, để học tội ác từ các thầy.
Một
khi một người vào tù, người đó trở thành khách thăm thường xuyên. Một khi người
đó đã từng ở tù, thế thì người đó cứ quay đi quay lại chỗ đó mãi. Rất hiếm khi
tìm ra một người đã từng ở tù và chưa bao giờ quay lại lần nữa. Người đó ra tù
với nhiều tài nghệ hơn. Người đó ra tù với nhiều ý tưởng hơn - cách làm cùng điều
đó, bây giờ theo cách chuyên gia hơn. Người đó ra tù mà ít nghiệp dư hơn. Người
đó ra tù có bằng cấp; việc ra khỏi nhà tù là một loại tốt nghiệp trong tội ác.
Bây giờ người đó biết nhiều hơn, biết cách làm điều đó tốt hơn. Bây giờ người
đó biết cách không bị bắt. Bây giờ người đó biết chỗ sơ hở trong hệ thống luật
pháp là gì.
Và
những người áp đặt luật pháp đều là tội phạm như bất kì ai khác - thực tế họ phải
tội phạm hơn. Họ phải giải quyết lũ tội phạm, cho nên họ phải tội phạm nhiều
hơn. Cảnh sát và gác tù và cai tù, họ mang tính tội phạm nhiều hơn những người
mà họ đang ép vào tù - họ phải vậy.
Chẳng
cái gì thay đổi cả. Đây không phải là cách thay đổi mọi thứ, nó đã chứng tỏ hoàn
toàn thất bại.
Thiền
nói thay đổi tới qua hiểu biết, không bởi áp đặt cái gì.
Và
cõi trời và địa ngục của bạn là gì? Chẳng là gì ngoài cùng ý tưởng, được chuyển
sang cuộc sống bên kia. Cùng ý tưởng về nhà tù trở thành ý tưởng của bạn về địa
ngục. Và cùng ý tưởng về ban thưởng - ban thưởng của chính phủ, ban thưởng của
tổng thống, huân chương vàng, thế này thế nọ - cùng ý tưởng đó trở nên được
chuyển thành cõi trời, thiên đường, firdaus. Nhưng tâm lí là một.
Thiền
phá huỷ tâm lí đó từ chính gốc rễ. Thiền không có kết án về bất kì cái gì. Nó
có duy nhất hiểu biết: nó nói cố hiểu mọi thứ như chúng vậy. Cố hiểu con người
như con người đang vậy - không áp đặt lí tưởng, không nói người đó phải thế
nào.
Khoảng
khắc bạn nói con người phải thế nào, bạn trở thành mù với thực tại người đó
đang vậy. Cái 'phải' trở thành rào chắn. Thế thì bạn không thể thấy được cái thực,
thế thì bạn không thể thấy được cái đang đó - cái 'phải' của bạn trở thành quá
nặng nề. Bạn có một lí tưởng, một lí tưởng hoàn hảo, và mọi người đều tụt xuống
thấp dưới nó, cũng là tự nhiên. Thế thì mọi người bị kết án.
Và
những người bản ngã đó, người có thể xoay xở bằng cách nào đó buộc bản thân
mình vào trong những lí tưởng đó - ít nhất trên bề mặt, ít nhất ở bên ngoài - họ
trở thành các thánh nhân lớn. Họ không là gì ngoài những bản ngã lớn. Và nếu bạn
nhìn vào trong mắt họ, bạn sẽ thấy chỉ một vị thôi: linh thiêng hơn ngươi. Họ
là ít người được chọn, họ là người được chọn của Thượng đế và họ ở đây để kết
án bạn và để biến đổi bạn.
Thiền
không quan tâm tới việc biến đổi của bất kì ai. Và nó làm biến đổi - đó là nghịch
lí. Nó không quan tâm tới bạn phải là thế nào, nó chỉ quan tâm tới bạn là gì.
Nhìn vào trong nó, nhìn vào trong nó bằng đôi mắt yêu thương, chăm sóc. Cố hiểu
nó là gì, và từ việc hiểu biết này biến đổi tới. Biến đổi là tự nhiên - bạn
không phải làm nó, nó đơn giản xảy ra theo cách riêng của nó.
Thiền
biến đổi, nhưng nó không nói về biến đổi. Nó thay đổi, nhưng nó không quan tâm
tới thay đổi. Nó đem tới cái đẹp cho con người hơn bất kì cái gì khác, nhưng nó
không quan tâm tới cái đó chút nào. Nó tới như ân huệ, như món quà. Nó đi theo
hiểu biết. Đó là cái đẹp của Thiền, nó là tự do với giá trị một cách vô điều kiện.
Đánh giá là bệnh của tâm trí - đó là điều Thiền nói. Chẳng cái gì tốt và chẳng
cái gì xấu, mọi sự chỉ là như chúng vậy. Mọi thứ đều như nó vậy.
Trong
Thiền một chiều hướng hoàn toàn mới mở ra, chiều hướng của biến đổi vô nỗ lực.
Chiều hướng của biến đổi tới một cách tự nhiên với đôi mắt rõ ràng hơn, với sự
sáng tỏ. Bằng việc nhìn vào trong bản tính của mọi sự một cách trực tiếp hơn,
không có cản trở nào của định kiến.
Khoảnh
khắc bạn nói một người là tốt, bạn đã dừng nhìn vào người đó. Bạn đã dán nhãn
cho người đó; bạn đã xếp ngăn người đó, bạn đã phân loại người đó. Khoảnh khắc
bạn nói "người này xấu" làm sao bạn có thể nhìn vào mắt người đó được
nữa? Bạn đã quyết định trước rồi, bạn đã bị kết thúc với người này rồi. Người
này không còn là điều bí ẩn nữa. Bạn đã giải quyết xong bí ẩn rồi; bạn đã viết
lên nó "đây là xấu" và "đây là tốt." Bây giờ bạn sẽ tương
tác với những cái nhãn này, chứ không với các thực tại.
Người
tốt có thể biến thành xấu, người xấu có thể biến thành tốt. Điều đó xảy ra mọi
khoảnh khắc - buổi sáng người đó tốt, đến tối người đó xấu, đến đêm người đó lại
tốt. Nhưng bây giờ bạn sẽ cư xử theo việc dán nhãn. Bạn sẽ không nói với bản
thân người này, bạn sẽ nói với cái nhãn riêng của mình, với hình ảnh riêng của
mình.
Tất
nhiên, bạn cứ bỏ lỡ thực tại, con người thực.Và điều đó tạo ra cả nghìn lẻ một
phức cảm và vấn đề. Những vấn đề không giải được. Bạn có thực nói với vợ mình
không? Khi bạn ở trong giường với vợ, bạn có thực ở trong giường với vợ bạn
không, hay với hình ảnh nào đó? Đây là cảm giác của tôi - rằng bất kì khi nào
hai người gặp nhau, đều có đám đông thực, không phải hai người. Ít nhất có bốn
người chắc chắn ở đó. Hình ảnh của bạn về người kia và hình ảnh của người kia về
bạn, hai hình ảnh đó có đó. Và chúng chẳng bao giờ khít nhau - người thực cứ
thay đổi, người thực là một luồng. Người thực là dòng sông cứ thay đổi mầu sắc
của mình. Người thực là sống động! Chỉ bởi vì bạn dán nhãn nên người này không
có nghĩa là người đó đi tới chết - người đó vẫn sống động.
Có
lần ai đó hỏi Trang Tử, "Công việc của thầy được kết thúc chưa?" Ông ấy
nói, "Làm sao nó có thể bị kết thúc được? - bởi vì ta vẫn còn sống
đây!"
Nhìn
vào điều đó: ông ấy nói, "Làm sao nó có thể bị kết thúc được? Ta vẫn còn sống
đây. Nó chỉ có thể được kết thúc vào ngày ta chết. Ta vẫn đang tuôn chảy, mọi sự
sẽ vẫn cứ xảy ra."
Khi
cây sống, hoa sẽ tới, lá mới sẽ tới, chim mới sẽ tới và làm tổ trên nó, lữ
khách mới sẽ tới và nghỉ qua đêm dưới nó... mọi sự sẽ tiếp tục thay đổi. Mọi thứ
vẫn còn có thể khi bạn sống. Nhưng khoảnh khắc bạn dán nhãn lên một người là tốt,
xấu, đạo đức, vô đạo đức, tôn giáo, phi tôn giáo, hữu thần, vô thần, thế này và
thế nọ - bạn đang nghĩ cứ dường như người đó đã trở nên chết. Bạn nên dán nhãn
chỉ khi một người đã chết. Bạn có thể dán nhãn cho một người trên nấm mồ, không
trước điều đó. Bạn có thể đi tới nấm mồ và bạn có thể viết, "Người này là
thế này." Bây giờ người đó không thể mâu thuẫn được với bạn; bây giờ mọi
thứ đã kết thúc, mọi thứ đã đi tới điểm dừng. Dòng sông không còn chảy nữa.
Nhưng
trong khi ai đó còn sống... Và chúng ta cứ dán nhãn - ngay cả trẻ con, trẻ con
nhỏ. Chúng ta nói, "Đứa trẻ này vâng lời, và đứa trẻ này rất không vâng lời.
Đứa trẻ này vui thế, và đứa trẻ này có vấn đề thế." Bạn dán nhãn - và nhớ,
khi bạn dán nhãn bạn tạo ra nhiều vấn đề. Thứ nhất, nếu bạn dán nhãn ai đó, bạn
hỗ trợ cho người đó cư xử theo cách bạn dán nhãn người đó - bởi vì người đó bắt
đầu cảm thấy rằng bây giờ người đó có nghĩa vụ chứng minh rằng bạn là đúng. Nếu
người bố nói, "Con tôi có vấn đề," bây giờ đứa trẻ nghĩ, "Mình
phải chứng tỏ rằng mình có vấn đề, bằng không bố sẽ bị chứng tỏ là sai." Lập
luận này là điều rất vô ý thức - làm sao đứa trẻ tin bố nó sai được? Cho nên nó
tạo ra nhiều vấn đề hơn, và người bố nói, "Trông đấy. Đứa trẻ này có vấn đề."
Ba
người đàn bà đang nói chuyện và, như mọi đàn bà nói chuyện, họ ba hoa về con
cái mình. Một người nói, "Con tôi mới năm tuổi nhưng nó làm thơ đấy. Thơ
hay tới mức các nhà thơ tài năng cũng phải cảm thấy xấu hổ."
Người
thứ hai nói, "Chưa là gì cả nhé. Con tôi mới bốn tuổi, và nó vẽ đấy - những
bức tranh hiện đại, cực kì hiện đại, ngay cả Picasso cũng không thể làm đầu hay
đuôi nào của nó được, dù nó là gì. Và nó không dùng chổi vẽ đâu, nó chỉ dùng
tay thôi. Thỉnh thoảng nó chỉ ném thuốc màu lên vải vẽ và một điều đẹp đẽ, cái
gì đó từ trời xanh nảy sinh. Con tôi là người theo trường phái ấn tượng, một hoạ
sĩ rất độc đáo."
Người
đàn bà thứ ba nói, "Chưa là gì cả. Con tôi mới ba tuổi, và tự nó đi tới
nhà phân tâm đấy."
Nếu
bạn dán nhãn, bạn sẽ xoay xở làm đứa trẻ phát khùng... bạn sẽ phá huỷ nó. Mọi
nhãn đều mang tính phá huỷ. Đừng bao giờ dán nhãn một người là tội đồ hay thánh
nhân. Khi quá nhiều người dán nhãn một người theo một cách... Và mọi người có
xu hướng nghĩ tập thể; mọi người không có ý tưởng nguyên bản, cá nhân. Hừ? Bạn
nghe tin đồn rằng ai đó là tội đồ và bạn chấp nhận điều đó. Và thế rồi bạn truyền
điều đó cho ai đó khác, và người đó chấp nhận điều đó. Và tin đồn cứ lan rộng
mãi, cái nhãn trở nên mỗi ngày một lớn hơn và lớn hơn và lớn hơn. Rồi một ngày
trên người đó cái nhãn "TỘI ĐỒ" được viết bằng chữ hoa to, trong biển
hiệu đèn neon, tới mức người đó tự mình đọc và phải cư xử tương ứng theo. Toàn
thể xã hội mong đợi người đó theo cách đó, bằng không mọi người sẽ giận dữ -
"Anh đang làm gì vậy? Anh là kẻ tội đồ, và cố gắng là thánh nhân! Tự cư xử
lấy đi!"
Đó
là điều xã hội có - đầu tư rất tinh tế trong việc dán nhãn của nó: "Hãy tự
cư xử lấy! Đừng làm cái gì đi ngược lại những ý tưởng của chúng tôi về
anh." Đó là điều ngầm ẩn, nhưng nó có đó.
Thứ
hai, khi bạn dán nhãn một người, dù người đó cố gắng cư xử thế nào tương ứng với
cái nhãn đó, người đó vẫn không thể làm được. Người đó không thể làm được điều
đó một cách hoàn hảo, điều đó là không thể được. Thực sự nó không thể nào được
làm, người đó chỉ có thể giả vờ. Và thế rồi thỉnh thoảng hay lúc khác khi người
đó không giả vờ, khi người đó thảnh thơi chút ít - người đó trong tâm trạng
ngày nghỉ và người đó đi chơi ngoài trời - thực tại khẳng định. Thế thì bạn
nghĩ bạn đã bị lừa; người này là kẻ lừa dối. Bạn cứ tưởng người đó tốt, và hôm
nay người đó ăn cắp tiền của bạn. Trong nhiều năm bạn đã từng nghĩ người đó là
người tốt, người đó là thánh nhân - và bây giờ người đó đã ăn cắp tiền của bạn!
Bạn
nghĩ người đó đã lừa bạn sao? Không, chính việc dán nhãn của bạn đã lừa bạn.
Người đó hành động theo thực tại của người đó. Trong thời gian đủ lâu người đó
đã cố gắng khớp với cái khung của bạn, nhưng ngày này hay ngày khác người ta
phát triển ra khỏi cái khung đó. Người ta phải làm những điều người ta muốn
làm.
Không
ai ở đây để hoàn thành mong đợi của bạn. Và chỉ rất ít người hèn nhát mới cố gắng
hoàn thành mong đợi của người khác. Người thực sẽ phá huỷ mong đợi của mọi người
về mình, bởi vì người đó không ở đây để bị cầm tù bởi ý tưởng của bất kì ai
khác. Người đó sẽ vẫn còn tự do. Người đó sẽ vẫn còn không nhất quán - đó chính
là tự do là gì. Người đó sẽ làm điều này ngày hôm nay, và người đó sẽ làm điều
gì đó đích xác đối lập vào ngày mai, cho nên bạn không thể mang ý tưởng về người
đó được. Con người thực, chân thực là không nhất quán. Chỉ người giả mới nhất
quán. Người thực, chân thực mang mâu thuẫn bên trong mình. Người đó hoàn toàn tự
do. Người đó tự do tới mức người đó có thể là thế này và người đó có thể là thế
kia nữa, chính cái đối lập nữa. Đó là chọn lựa của người đó - nếu người đó muốn
là người cánh hữu thì người đó là người cánh hữu, nếu người đó muốn là người
cánh tả thì người đó trở thành người cánh tả. Không có cản trở nào trong người
đó. Nếu người đó muốn ở bên trong, người đó có thể ở bên trong, nếu người đó muốn
ở bên ngoài, người đó có thể ở bên ngoài. Người đó là tự do. Người đó có thể là
người hướng ngoại, người đó có thể là người hướng nội, người đó có thể làm bất
kì cái gì. Tự do của người đó chọn lựa trong khoảnh khắc điều cần làm.
Nhưng
chúng ta áp đặt hình mẫu lên mọi người rằng họ phải nhất quán. Việc đặt nhất quán
có giá trị lớn. Chúng ta nói, "Người này nhất quán thế. Người này là vĩ đại
- người này nhất quán thế." Nhưng bạn ngụ ý điều gì bởi "nhất
quán"? Nhất quán nghĩa là người đó chết, người đó không còn sống nữa. Người
đó đã dừng sống vào ngày người đó trở thành nhất quán - kể từ đó người đó đã
không sống.
Khi
bạn nói, "Chồng tôi đáng tin cậy," bạn ngụ ý gì? Anh ấy đã chấm dứt
yêu, anh ấy đã chấm dứt sống - bây giờ không người đàn bà khác nào hấp dẫn anh ấy.
Nếu không đàn bà khác nào hấp dẫn anh ấy, làm sao bạn có thể cứ hấp dẫn anh ấy
được? - bạn là đàn bà mà. Thực tế, bây giờ anh ấy giả vờ. Nếu người đàn ông vẫn
còn sống và yêu, khi anh ấy thấy người đàn bà đẹp anh ấy bị hấp dẫn chứ. Khi
người đàn bà sống và sống động và thích thú, khi cô ấy thấy người đàn ông hay,
làm sao cô ấy không cảm thấy bị hấp dẫn? Điều đó tự nhiên thế! Tôi không nói cô
ấy phải đi với anh ấy - nhưng sự hấp dẫn là tự nhiên. Cô ấy có thể chọn không
đi - nhưng phủ nhận hấp dẫn là phủ nhận bản thân cuộc sống.
Thiền
nói: còn đúng với tự do của bạn. Và thế thì một loại hiện hữu hoàn toàn khác nảy
sinh trong bạn, điều rất không ngờ tới, không dự đoán được. Có tính tôn giáo,
nhưng không đạo đức. Không vô đạo đức - phi luân lí: bên ngoài đạo đức, bên
ngoài vô đạo đức.
Đây
là chiều hướng mới mà Thiền mở vào cuộc sống. Nó hoàn toàn là thực tại tách rời
với cái bạn đã sống trong đó - điều này là hoàn toàn tách rời khỏi cái đó. Nó
có phẩm chất mới; phẩm chất là của vô tính cách.
Đôi
khi từ này gây tổn thương nhiều lắm, bởi vì chúng ta đã yêu mến từ "tính
cách" quá lâu rồi. Chúng ta đã bị ước định trong hàng thế kỉ với từ
"tính cách." Chúng ta nói, "Người đó là con người có tính
cách." Nhưng bạn có quan sát không? Con người có tính cách là người chết.
Con người có tính cách là phân loại được, con người có tính cách là dự đoán được.
Con người có tính cách không có tương lai, chỉ có quá khứ.
Hãy
nghe: Con người có tính cách chỉ có quá khứ của mình. Bởi vì tính cách nghĩa là
quá khứ. Người đó cứ lặp lại quá khứ của mình, người đó là chiếc máy hát bị hỏng.
Người đó cứ nhắc cùng điều lặp đi lặp lại và lặp lại mãi. Người đó chẳng có gì
mới để nói. Người đó chẳng có gì mới để sống, người đó chẳng có gì mới để hiện
hữu. Chúng ta gọi người đó là con người có tính cách. Bạn có thể dựa vào người
đó, bạn có thể phụ thuộc vào người đó. Người đó sẽ không nuốt lời hứa của mình
- vâng, điều đó đúng. Người đó có tiện dụng lớn lao, tiện dụng xã hội là lớn
nhưng người đó chết, người đó là cái máy.
Máy
có tính cách; bạn có thể phụ thuộc vào chúng. Đó là lí do tại sao chúng ta cứ
loại bỏ, dần dần, tất cả con người và thay thế người bằng máy. Máy dự đoán được
hơn nhiều, chúng có cá tính lớn hơn - bạn có thể phụ thuộc vào chúng.
Ngựa
không mang tính phụ thuộc được như xe hơi. Ngựa có một loại tính cách nào đó -
ngày nào đó nó không có tâm trạng này, và ngày khác nó không muốn đi đường bạn
muốn đi, và ngày nọ nó rất nổi dậy. Và ngày nào đó nó đơn giản đứng đó và sẽ
không chuyển động. Nó có linh hồn; bạn không thể luôn luôn phụ thuộc vào nó được.
Nhưng chiếc xe hơi không có linh hồn. Nó chỉ được gắn vào nhau; nó không có
trung tâm. Nó đơn giản đi theo đường bạn muốn nó đi. Ngay cả bạn muốn lái xe
phóng qua vách đá, nó sẽ đi. Ngựa sẽ nói, "Đợi đã! Nếu ông muốn tự tử, ông
có thể làm điều đó, nhưng tôi không làm nó đâu. Ông có thể nhảy. Tôi không nhảy."
Nhưng chiếc xe sẽ không nói không, nó không có linh hồn để nói không. Nó chưa
bao giờ nói có, nó chưa bao giờ nói không.
Đôi
khi ngay cả tâm trí của nhà toán học lớn cũng đơn giản không làm việc. Nhưng
máy tính cứ làm việc hai mươi bốn giờ - ngày nọ ngày kia, năm nọ năm kia -
không có vấn đề về không làm việc. Máy có tính cách, tính cách rất phụ thuộc.
Và đó là điều chúng ta đã từng cố gắng làm. Đầu tiên chúng ta cố gắng làm người
thành máy; chúng ta đã không thể thành công trong điều đó một trăm phần trăm,
cho nên dần dần chúng ta bắt đầu phát minh ra máy móc để cho chúng có thể thay
thế con người. Chẳng chóng thì chầy mọi người sẽ bị thay thế ở mọi nơi. Máy sẽ
làm tốt hơn nhiều, hiệu quả hơn nhiều, tin cậy hơn, nhanh hơn.
Con
người có tâm trạng bởi vì con người có linh hồn! Bởi vì con người có linh hồn,
con người chỉ có thể đích thực nếu người đó vẫn còn không có tính cách nào. Tôi
ngụ ý gì khi tôi nói, "vô tính cách"? Tôi ngụ ý người đó vứt bỏ quá
khứ của mình. Người đó không sống theo quá khứ của mình - đó là lí do tại sao
người đó là không dự đoán được. Người đó sống từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc,
người đó sống trong hiện tại. Người đó nhìn quanh và người đó sống, người đó thấy
điều xung quanh mình và người đó sống, người đó cảm điều xung quanh và người đó
sống. Người đó không có ý tưởng cố định về cách sống; người đó chỉ có nhận biết.
Cuộc sống của người đó vẫn còn là luồng chảy thường xuyên. Người đó có tính tự
phát - đó là điều tôi ngụ ý khi tôi nói người thực là vô tính cách. Người đó có
tính tự phát.
Người
đó có tính đáp ứng. Nếu bạn nói điều gì đó với người đó, người đó đáp ứng lại
nó, người đó không lặp lại lời sáo rỗng. Người đó đáp ứng với bạn - với khoảnh
khắc này, với câu hỏi này, với tình huống này. Người đó không đáp ứng với tình
huống đã học, tình huống khác nào đó. Người đó đáp ứng với bạn, người đó nhìn
vào trong bạn. Người đó không phản ứng, người đó đáp ứng. Phản ứng tới từ quá
khứ.
Chuyện
xảy ra: Một Thiền sư hỏi, "Bí mật của Phật là gì? Ông ấy đã chuyển giao
cái gì cho Mahakashyapa khi ông ấy đưa cho ông này bông hoa? Sao ông ấy nói,
'Ta trao cho Mahakashyapa điều ta đã không thể trao được cho bất kì ai khác - bởi
vì người khác chỉ có thể hiểu được lời, Mahakashyapa có thể hiểu được im lặng?"
Hôm
đó Phật đã tới với bông sen trong tay. Tất cả các đệ tử cứ nhìn mãi nhìn hoài,
và họ đều lo nghĩ và họ bắt đầu trở nên ngày một bồn chồn hơn. Ông ấy chẳng nói
gì cả, ông ấy nhìn mãi hoa sen... cứ dường như ông ấy đã quên mất toàn thể hội
chúng. Nhiều phút trôi qua, và cả giờ qua đi, và mọi người trở nên rất bồn chồn.
Và thế rồi Mahakashyapa bắt đầu cười. Phật gọi ông ấy và đưa ông ấy bông hoa và
nói, "Điều ta có thể cho qua lời, ta đã cho người khác. Điều ta không thể
cho qua lời, ta trao nó cho ông, Mahakashyapa. Giữ lấy nó cho tới khi ông tìm
ra một người có thể đón nhận được thông điệp trong im lặng."
Thiền
sư hỏi các đệ tử của mình, "Bí mật là gì? Cái gì đã được trao qua bông
sen? Cái gì đã xảy ra trong khoảnh khắc đó?" Một đệ tử đứng dậy, nhảy múa,
chạy mất. Và thầy nói, "Đúng rồi. Đích xác đây là điều nó vậy đấy."
Nhưng
một thầy khác trong cùng tu viện tới gặp thầy này lúc ban đêm và nói, "Ông
không nên đồng ý sớm thế, sự đồng ý của ông quá sớm, tôi ngờ đấy."
Thế
là thầy này đi tới đệ tử kia, người đã nhảy múa và với người đó ông ấy đã nói,
"Đúng, đây là nó." Ngay trong đêm ông ấy tới đó và ông ấy hỏi lại
cùng câu hỏi: "Phật đã trao cái gì trong bông sen đưa cho Mahakashyapa?
Mahakashyapa đã hiểu cái gì khi ông ấy mỉm cười? Nó là gì vậy? Nói cho ta câu
trả lời."
Anh
thanh niên nhảy múa. Và thầy đánh cho anh ta một cú nên thân! Thầy nói,
"Điều này sai rồi, tuyệt đối sai."
Đệ
tử nói, "Nhưng vừa mới sáng nay thầy đã nói nó là đúng."
Và
thầy nói, "Đúng. Buổi sáng nó là đúng, đến đêm nó là sai. Anh đang lặp lại.
Buổi sáng ta nghĩ nó đã là câu trả lời. Bây giờ ta biết nó là phản ứng."
Câu
trả lời phải thay đổi, nếu nó là đáp ứng, mỗi lúc câu hỏi được nêu ra. Câu hỏi
có thể vẫn vậy nhưng chẳng cái gì khác là vẫn vậy. Buổi sáng khi thầy hỏi, mặt
trời đang mọc và chim chóc líu lo, và cả hội chúng... cả nghìn sư đang ngồi
trong thiền - đó đã là một loại thế giới hoàn toàn khác. Vâng, câu hỏi vẫn vậy,
cách nói ngôn ngữ vẫn vậy. Nhưng cái toàn thể đã thay đổi rồi, động thái đã đổi
rồi. Ban đêm nó hoàn toàn khác; thầy một mình cùng đệ tử trong phòng anh ta. Mặt
trời không có đó trên trời, và chim chóc không còn hót, và không có ai khác
nhìn cả. Thầy đã thay đổi. Vài giờ này, dòng sông đã chảy tiếp, đã đi vào đồng
cỏ mới, đã đi vào lãnh thổ mới. Câu hỏi này chỉ có vẻ như vẫn vậy. Nhưng đệ tử đã
bị cố định. Anh ta nghĩ, "Vậy mình đã biết câu trả lời rồi."
Không,
trong cuộc sống thực chẳng ai biết câu trả lời cả. Trong cuộc sống thực bạn phải
mang tính đáp ứng. Trong cuộc sống thực bạn không thể mang câu trả lời làm sẵn,
cố định, sáo rỗng. Trong cuộc sống thực bạn phải cởi mở. Đệ tử đó đã lỡ.
Người
vô tính cách là người không có câu trả lời, người không có triết lí, người
không có ý tưởng đặc biệt về mọi sự phải thế nào. Dù chúng là thế nào, người đó
vẫn còn cởi mở. Người đó là tấm gương - người đó phản xạ.
Bạn
không quan sát sao? Nếu bạn đến trước gương, nếu bạn giận dữ, tấm gương phản xạ
khuôn mặt giận dữ của bạn; nếu bạn cười tấm gương phản xạ khuôn mặt cười của bạn.
Nếu bạn già tấm gương phản xạ tuổi già của bạn, nếu bạn trẻ tấm gương phản xạ tuổi
thanh xuân của bạn. Bạn không thể nói với tấm gương, "Hôm qua anh phản xạ
tôi cười, và hôm nay anh phản xạ tôi giận và buồn thế sao? Anh ngụ ý gì vậy?
Anh không nhất quán. Anh không có tính cách nào! Tôi sẽ vứt anh ra khỏi nhà đấy."
Tấm
gương không có tính cách. Và con người thực là giống như tấm gương.
Thiền
là vô phán xét, Thiền là vô đánh giá, Thiền không áp đặt tính cách lên bất kì
ai. Bởi vì để áp đặt tính cách, bạn sẽ cần đánh giá - tốt hay xấu. Để áp đặt
tính cách bạn sẽ phải tạo ra những cái phải và phải không; bạn sẽ phải cho những
lời răn. Để áp đặt tính cách bạn sẽ phải là một Moses - bạn không thể là một Bồ
đề đạt ma được. Để áp đặt tính cách bạn sẽ phải tạo ra sợ hãi và tham lam. Bằng
không ai sẽ nghe bạn? Bạn sẽ phải là một B. F. Skinner và đối xử với mọi người
như chuột - huấn luyện họ, trừng phạt họ, thưởng họ, để cho họ bị ép buộc vào
hình mẫu nào đó.
Đó
là điều đã từng được làm cho bạn. Cha mẹ bạn đã làm điều đó, nền giáo dục của bạn
đã làm điều đó, xã hội, quốc gia của bạn đã làm điều đó. Thiền nói: Bây giờ thế
là đủ rồi, thoát khỏi nó đi. Vứt tất cả những cái vô nghĩa này đi, bắt đầu là bản
thân mình. Điều đó không có nghĩa là Thiền để bạn trong hỗn độn. Không, chính
điều đối lập lại. Thiền, thay vì cho bạn tính cách và lương tâm để thao túng
tính cách, nó cho bạn tâm thức.
Sự
khác biệt này phải được chú ý, ghi nhớ. Tất cả các tôn giáo khác đều cho bạn
lương tâm. Thiền cho bạn tâm thức. Lương tâm nghĩa là, "Cái này tốt, cái
kia xấu. Làm cái này, không làm cái kia." Tâm thức đơn giản nghĩa là,
"Là tấm gương - phản xạ, đáp ứng." Đáp ứng là đúng, phản ứng là sai.
Có tính đáp ứng không có nghĩa là tuân theo những qui tắc nào đó; có trách nhiệm
nghĩa là có khả năng của đáp ứng.
Thiền
làm cho bạn chói sáng từ bên trong. Không áp đặt từ bên ngoài, không giáo hoá từ
bên ngoài; nó không cho bạn áo giáp, cơ chế phòng thủ. Nó không bận tâm về ngoại
vi của bạn, nó đơn giản tạo ra ngọn đèn bên trong tại trung tâm của bạn, tại
chính trung tâm của bạn. Và ánh sáng đó cứ phát triển mãi... và một ngày nào đó
toàn thể nhân cách của bạn đều chói sáng.
Thái
độ Thiền này, cách tiếp cận này nảy sinh thế nào? Nó nảy sinh từ thiền. Nó là đỉnh
tối thượng của tâm thức thiền. Nếu bạn thiền, dần dần bạn sẽ thấy - mọi thứ đều
tốt, mọi thứ đều như nó phải vậy. Tathata, như vậy, nảy sinh. Thế thì, nhìn thấy
kẻ trộm bạn không nghĩ rằng người đó phải được biến đổi - bạn đơn giản đáp ứng.
Thế thì bạn không nghĩ rằng người đó là xấu. Và khi bạn không nghĩ về một người
là người đó xấu, ác, bạn đang tạo ra khả năng cho người đó được biến đổi. Bạn
đang chấp nhận người đó như người đó vậy. Và qua chấp nhận đó là biến đổi.
Bạn
đã từng quan sát điều đó cũng xảy ra trong đời mình chưa? Bất kì khi nào ai đó
chấp nhận bạn một cách hoàn toàn, vô điều kiện, bạn bắt đầu thay đổi. Việc chấp
nhận của người đó cho bạn dũng cảm thế... Khi có ai đó đơn giản yêu bạn như bạn
vậy, bạn không thấy phép màu xảy ra rằng cái gì đó thay đổi, lập tức bắt đầu
thay đổi, nhanh chóng đó sao? Chính sự chấp nhận rằng bạn được yêu như bạn vậy
- không cái gì được mong đợi từ bạn - cho bạn linh hồn, làm cho bạn được hoà hợp,
làm cho bạn tự tin, cho bạn tin cậy. Làm cho bạn cảm thấy rằng mình hiện hữu. Rằng
bạn không cần hoàn thành các mong đợi, rằng bạn có thể HIỆN HỮU, rằng bản thể
nguyên thuỷ của bạn được kính trọng.
Cho
dù bạn có thể tìm ra một người kính trọng bạn hoàn toàn - bởi vì mọi phán xét đều
là bất kính - người chấp nhận bạn như bạn vậy, người không đưa ra đòi hỏi nào với
bạn, người nói, "Cứ như bạn vậy. Đích thực là bản thân mình. Tôi yêu bạn.
Tôi yêu bạn, không phải điều bạn làm. Tôi yêu bạn vì bạn đang trong cái ta của
bạn, cốt lõi bên trong nhất của bạn; tôi không lo nghĩ về ngoại vi của bạn và
quần áo của bạn. Tôi yêu bản thể bạn - không phải cái bạn có. Tôi không quan
tâm tới bạn có gì, tôi chỉ quan tâm tới một điều - bạn là gì. Và bạn đẹp vô
cùng"...
Đó
chính là tình yêu là gì. Đó là lí do tại sao tình yêu lại mang tính nuôi dưỡng
thế. Khi bạn có thể tìm thấy người đàn bà hay đàn ông đơn giản yêu bạn - chẳng
bởi lí do nào cả, chỉ vì yêu thôi - tình yêu biến đổi. Bỗng nhiên bạn là người
khác, người mà bạn chưa bao giờ đã từng là. Bỗng nhiên mọi nỗi buồn đều biến mất,
mọi đờ đẫn mất đi. Bỗng nhiên bạn thấy điệu vũ trong bước đi của mình, bài ca
trong tim mình. Bạn bắt đầu đi theo cách khác - duyên dáng nảy sinh.
Quan
sát điều đó: bất kì khi nào ai đó yêu bạn, chính hiện tượng yêu đó là đủ. Lạnh
lẽo của bạn biến mất, bạn bắt đầu nồng hậu. Trái tim bạn không còn dửng dưng với
thế giới. Bạn nhìn vào hoa nhiều hơn, bạn nhìn vào bầu trời nhiều hơn - bầu trời
có thông điệp... bởi vì người đàn bà đã nhìn vào trong mắt bạn, hay người đàn
ông đã nhìn vào trong mắt bạn và đã chấp nhận bạn hoàn toàn, không mong đợi gì.
Nhưng điều này không kéo dài lâu, bởi vì mọi người ngu xuẩn thế. Tuần trăng mật
này, chẳng chóng thì chầy sẽ biến mất - một tuần, hai tuần, ba tuần là nhiều nhất.
Chẳng chóng thì chầy người đàn bà bắt đầu mong đợi và người đàn ông bắt đầu
mong đợi. "Làm cái này. Không làm cái kia." Và bạn lại bị kéo lùi lại,
bạn không còn trên trời nữa. Bạn lại bị nặng gánh, tình yêu đã biến mất. Bây giờ
người đàn bà quan tâm nhiều tới ví tiền của bạn. Bây giờ người đàn ông quan tâm
nhiều tới thức ăn của mình. Thu xếp chuyện gia đình, thu xếp nhà cửa, và cả
nghìn lẻ một thứ chi tiết - nhưng bạn không còn hài hoà với bản thể của nhau nữa.
Nếu
hài hoà đó vẫn còn, thế thì mọi sự là tốt. Bạn có thể cứ làm cả nghìn lẻ một thứ,
chẳng cái gì bị rối loạn. Nhưng nếu hài hoà đó bị mất; bạn bắt đầu coi nhau như
được cho không. Trong vòng ba tuần bạn đã dán nhãn lên nhau rồi. Cái ngày việc
dán nhãn của bạn hoàn thành, tuần trăng mật qua đi.
Thiền
tin vào tình yêu. Nó không tin vào qui tắc, qui định. Nó không tin vào bất kì kỉ
luật bên ngoài nào, nó tin vào cái bên trong. Nó tới từ tình yêu, nó tới từ
kính trọng, từ tin cậy. Khi bạn thiền, bạn bắt đầu tin cậy vào sự tồn tại. Thấy
khác biệt: nếu bạn hỏi người Ki tô giáo hay người Hindu, tin cậy là đòi hỏi đầu
tiên. Người đó nói, "Tin cậy sự tồn tại - thế thì ông sẽ biết Thượng đế là
gì." Trong Thiền, đó không phải là đòi hỏi đầu tiên. Thiền nói: Thiền. Từ
thiền tin cậy nảy sinh, và tin cậy làm cho sự tồn tại thành thiêng liêng.
Tathata nảy sinh, tính như vậy nảy sinh.
Làm
sao bạn có thể cứ kết án nếu bạn biết mọi thứ đều mang tính thượng đế? Cái gọi
là người Vedantin ở Ấn Độ nói "Tất cả đều là Brahma" - nhưng họ vẫn cứ
kết án. Họ vẫn cứ nói rằng người ta là tội đồ và người ta là thánh nhân, và
thánh nhân sẽ lên trời còn tội đồ sẽ xuống địa ngục. Điều này dường như ngớ ngẩn,
nếu tất cả đều là Brahma, tất cả đều là Thượng đế. Thế thì làm sao bạn có thể
là tội đồ được? Thế thì chính Thượng đế là tội đồ trong bạn. Làm sao Thượng đế
xuống địa ngục được?
Thiền
nói ngày bạn biết tất cả đều là thiêng liêng, mọi thứ đều là Thượng đế. Nhưng họ
không dùng từ "thượng đế" chút nào - bởi vì các tôn giáo khác đã làm
biến chất từ này tồi tệ thế, làm ô uế nó, ô nhiễm nó, đầu độc nó. Họ không dùng
từ "thượng đế." Khi bạn thiền, và dần dần bạn bắt đầu thấy mọi thứ
như chúng vậy, và bạn bắt đầu tin cậy và kính trọng mọi thứ như chúng vậy, tin
cậy nảy sinh. Tin cậy đó là tathata - như vậy.
Tathata
dẫn tới tầm nhìn về tương quan lẫn nhau của sự tồn tại. Thế thì toàn thể vũ trụ
là một đơn vị, vận hành trong một đơn vị hữu cơ. Họ có một từ đặc biệt cho nó,
họ gọi nó là "jiji muge hokkai" - khi bạn đi tới biết rằng toàn thể sự
tồn tại mang tính nhất thể - nó thực sự là uni-verse (một-vũ trụ), không phải
là multiverse (đa vũ trụ) - rằng mọi thứ đều được nối với mọi thứ khác; rằng tội
đồ và thánh nhân tất cả đều giống như một phần của một mạng lưới, họ không tách
rời; rằng tốt và xấu được gắn liền nhau. Cũng như bóng tối và ánh sáng được gắn
với nhau, cũng như chết và sống được gắn với nhau, tốt và xấu cũng vậy.
Mọi
thứ đều được liên nối. Nó là một mạng, một hình mẫu đẹp.
Nghe
những lời này của Berenson:
"Đó
là một sáng đầu hè. Màn sương bạc lung linh và rung rinh trên những cây chanh.
Không khí được chất đầy với sự âu yếm. Tôi nhớ... rằng tôi đã trèo lên gốc cây
và bỗng nhiên cảm thấy được ngập vào trong cái nó đó. Tôi đã không gọi nó bằng
cái tên đó; trong trạng thái đó của tâm trí không có lời. Nó thậm chí không phải
là cảm giác. Tôi không có nhu cầu về lời. Nó và tôi là một. Đơn giản nó có đó,
phúc lành."
Tathata
nghĩa là đi tới một khoảnh khắc mà bạn bỗng nhiên thấy rằng sự tồn tại là một,
liên quan lẫn nhau, nhảy múa trong một điệu vũ, và dàn nhạc. Và tất cả đều được
cần tới - cái xấu cũng được cần tới nhiều như cái tốt. Jesus một mình sẽ không
có tác dụng, Judas là điều phải có. Không có Judas, Jesus sẽ không giầu có thế.
Vứt bỏ Judas ra khỏi Kinh Thánh và Kinh Thánh mất đi nhiều. Vứt bỏ Judas ra khỏi
Kinh Thánh và Jesus ở đâu được? Jesus là gì? Judas cho sự tương phản; ông ấy tạo
ra bối cảnh. Ông ấy trở thành đám mây tối trong đó Jesus trở thành niềm hi vọng.
Không có mây tối sẽ không có niềm hi vọng. Jesus phải cảm ơn Judas. Và không phải
ngẫu nhiên mà khi ông ấy rửa chân cho đệ tử của mình, chân đầu tiên ông ấy rửa
là chân của Judas. Thế rồi khi ông ấy xin phép ra đi, nói lời tạm biệt, ông ấy
ôm Judas nhiều hơn bất kì ai khác, ông ấy đã hôn Judas nhiều hơn bất kì ai
khác. Ông này là đệ tử cao nhất.
Bây
giờ, đây là bí ẩn đằng sau bí ẩn. Đã có tin đồn trong giới bí truyền, qua nhiều
thời đại, rằng đó tất cả đã được bản thân Jesus lập kế hoạch. Gurdjieff tin điều
đó nhiều lắm. Và có mọi khả năng là Judas đơn giản tuân theo mệnh lệnh từ Jesus
- để phản bội ông ấy, đi và bán ông ấy cho kẻ thù. Và điều đó có vẻ logic hơn.
Bởi vì dù Judas có thể là người xấu thế nào, chỉ bán Jesus lấy ba mươi đồng bạc
thôi sao?... dường như quá nhiều. Judas đã ở cùng Jesus trong một thời gian
dài, và ông ấy là đệ tử thông minh nhất trong tất cả. Ông ấy là người có giáo dục
duy nhất, ông ấy là người duy nhất có thể được gọi là trí thức. Thực tế ông ấy
còn là người thông thái hơn bản thân Jesus. Ông ấy là học giả quanh Jesus.
Dường
như việc bán Jesus lấy ba mươi đồng bạc là quá nhiều. Không. Và bạn có biết điều
gì đã xảy ra? Khi Jesus bị đóng đinh, Judas tự tử - ngày hôm sau. Người Ki tô
giáo không nói nhiều về điều đó, nhưng nó phải được nói tới chứ. Sao ông ấy đã
tự tử? Công việc của ông ấy đã chấm dứt - ông ấy phải đi với thầy. Người có thể
bán thầy mình lấy ba mươi đồng bạc, bạn có thể nghĩ về người đó cảm thấy mặc cảm
tới mức người đó phải tự tử không? Không thể được. Sao ông ấy phải bận tâm?
Không, ông ấy đã đơn giản tuân theo mệnh lệnh từ thầy. Ông ấy không thể nói
không - đó là một phần của sự buông xuôi của ông ấy. Ông ấy phải nói có.
"Không" không thể được nói với thầy. Điều đó đã được lập kế hoạch. Có
lí do trong nó: chính là qua việc đóng đinh mà thông điệp của Jesus đã sống
trên thế giới này. Không có Ki tô giáo nếu không có việc đóng đinh này. Đó là
lí do tại sao tôi gọi Ki tô giáo là "thập tự giáo." Nó không phải là
Ki tô giáo - bởi vì chỉ Christ sẽ không có tác dụng, cây thập tự được cần tới
cho nó xảy ra.
Khi
bạn thấy tương quan của mọi sự, thế thì Judas cũng trở thành một phần của trò
chơi mà Jesus là một phần. Thế thì xấu là một phần của tốt. Thế thì Quỉ không
là ai ngoài thiên thần của Thượng đế - và tôi không gọi ông ấy là thiên thần sa
ngã. Có thể đang trong sứ mệnh lớn trên thế giới, được bản thân Thượng đế phái
tới - có thể là đệ tử gần gũi nhất của ông ấy.
Từ
"devil - quỉ" bắt nguồn từ cùng gốc như "divine - thiêng
liêng." Đó là chỉ dẫn. Vâng, Quỉ cũng là thiêng liêng.
Sasaki
kể lại:
Khi
thầy giáo của tôi nói với tôi về cái này, ông ấy nói, "Bây giờ nghĩ về bản
thân mình. Em nghĩ em là người tách biệt, là hòn đảo. Nhưng em không là vậy.
Không có bố và mẹ, em sẽ không có. Không có các bố và mẹ của họ, họ sẽ không có
và em sẽ không có."
Và
vân vân - bạn có thể đi tới chính lúc bắt đầu vô thuỷ. Bạn có thể cứ đi lùi
mãi, và bạn sẽ thấy mọi thứ đã xảy ra trong sự tồn tại mãi cho tới nay, phải xảy
ra để cho bạn xảy ra. Bằng không bạn sẽ không xảy ra. Bạn được liên nối thế. Bạn
chỉ là một phần nhỏ của dây chuyền dài vô hạn. Tất cả những cái đang đó, đều được
bao hàm trong bạn, tất cả những cái đã trôi qua đều được bao hàm trong bạn. Bạn
là đỉnh, tại khoảnh khắc này, của tất cả những cái đã đi trước bạn. Trong bạn
toàn thể quá khứ tồn tại. Nhưng đây không phải là tất cả. Từ bạn, con bạn sẽ tới,
và con của con bạn... và vân vân.
Từ
hành động của bạn sẽ tới hành động kết quả, và từ hành động kết quả sẽ tới các
kết quả khác, và từ các kết quả khác sẽ có hành động khác. Bạn sẽ biến mất,
nhưng bất kì cái gì bạn làm sẽ tiếp tục. Nó sẽ có sự dội lại, qua nhiều thời đại,
tới chính tận cùng.
Cho
nên toàn thể quá khứ đều được bao hàm trong bạn, và toàn thể tương lai nữa. Tại
khoảnh khắc này quá khứ và tương lại gặp gỡ trong bạn, vô cùng vô tận, theo cả
hai hướng. Bạn giữ bên trong mình hạt mầm từ đó tương lai sẽ nảy sinh, cũng nhiều
như bạn tại khoảnh khắc này là trọn vẹn của quá khứ. Cho nên bạn là trọn vẹn của
tương lai nữa. Khoảnh khắc này là tất cả, bạn là tất cả. Bởi vì cái toàn thể được
bao hàm trong bạn, cái toàn thể đóng góp vào bạn. Cái toàn thể đan chéo bạn.
Họ
nói rằng khi bạn chạm vào một nhành cỏ bạn đã chạm tới tất cả các vì sao. Bởi
vì mọi thứ đều được bao hàm trong mọi thứ khác, mọi thứ đều ở bên trong mọi thứ
khác.
Thiền
gọi sự tham gia này của cái toàn thể trong từng bộ phận của nó là "jiji
muge hokkai." Điều đó được minh hoạ bởi khái niệm về lưới vũ trụ. Lưới này
được gọi là "lưới của Indra" ở Ấn Độ, một lưới lớn trải rộng khắp vũ
trụ, chiều đứng biểu diễn thời gian, chiều ngang biểu diễn không gian. Tại từng
điểm nơi dây lưới bắt chéo qua nhau là một hạt tinh thể, biểu tượng của một sự
tồn tại. Từng hạt tinh thể phản xạ trên bề mặt của nó không chỉ mọi hạt khác
trong lưới mà còn phản xạ mọi sự phản xạ khác của mọi hạt khác lên từng hạt
riêng. Phản xạ vô tận, vô hạn lẫn nhau - điều này được gọi là jiji muge hokkai.
Khi
Phật Gautam cầm một bông sen trong tay, ông ấy đang biểu lộ jiji muge hokkai
này. Mahakashyapa đã hiểu điều đó. Đây là thông điệp - rằng trong bông sen nhỏ
này tất cả đều được bao hàm: toàn thể quá khứ, toàn thể tương lai, mọi chiều đều
được bao hàm. Trong bông sen nhỏ này, mọi thứ đã nở hoa, và mọi thứ khác sẽ nở
hoa đều được chứa trong bông sen nhỏ này. Mahakashyapa cười; ông ấy đã hiểu
thông điệp này: jiji muge hokkai. Đó là lí do tại sao bông hoa đã được trao cho
Mahakashyapa, như một thẻ bài về việc truyền trao bên ngoài lời.
Do
đó từ bi Phật giáo dành cho tất cả, và lòng biết ơn với tất cả, và sự kính trọng
với tất cả - bởi vì mọi thứ đều được bao hàm trong nhau.
Bây
giờ đến câu chuyện Thiền này:
Một
tối khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên trộm cầm kiếm sắc đi vào, đòi nộp
tiền hoặc mạng sống của ông ấy.
Shichiri
nói với nó, "Đừng quấy rầy ta. Ông có thể tìm tiền ở ngăn kéo kia."
Thế rồi ông ấy trở lại tụng kinh.
Không
kết án, không phán xét. Đơn giản chấp nhận - dường như làn gió thoảng đã vào,
không phải là tên trộm. Thậm chí không một thay đổi nhỏ trong mắt ông ấy - dường
như người bạn đã tới, không phải kẻ trộm. Không thay đổi gì trong thái độ của
ông ấy. Ông ấy nói, "Đừng quấy rầy ta. Ông có thể tìm tiền ở ngăn kéo kia.
Ông không thấy ta đang tụng kinh sao? Ít nhất ông cũng nên kính trọng, đừng quấy
rầy người đang tụng kinh, chỉ vì điều ngu xuẩn như tiền. Ông đi ra mà tự tìm lấy!
Và đừng quấy rầy ta."
Bây
giờ xem: ông ấy không chống lại kẻ trộm bởi vì nó đã tới ăn trộm. Ông ấy không
chống lại kẻ trộm bởi vì người đó theo đuổi tiền, bị ám ảnh bởi tiền - không chẳng
có gì thuộc loại đó. Sự chấp nhận đơn giản: đây là cách người đó là vậy. Và ai
biết được? Đây là cách người đó PHẢI là vậy. Và tại sao tôi phải kết án? Tôi là
ai? Nếu người đó có thể đủ tốt không quấy rầy tôi, thế là đủ, thế còn quá điều
mong đợi từ ai đó khác. Cho nên xin đừng quấy rầy tôi.
Chút
ít sau đó ông ấy dừng lại và gọi, "Đừng lấy cả đi. Ta cần một ít để đóng
thuế ngày mai."
Hãy
thấy ra vấn đề - thân thiện thế. Không có thù nghịch gì trong nó. Và bởi vì
không có thù nghịch gì, không có sợ hãi trong nó. Bởi vì không có kết án, sự
kính trọng sâu sắc thế, ông ấy có thể tin cậy rằng người đó sẽ đi. Khi bạn cho
một cách toàn tâm thế, bạn có thể tin cậy - ngay cả người tồi nhất trong mọi
người ít nhất cũng có sự kính trọng với sự kính trọng của bạn đối với người đó.
Người đó sẽ kính trọng, bạn có thể tin cậy. Khi bạn tin cậy ai đó, khi bạn
không phán xét và không kết án, bạn có thể tin cậy rằng người đó sẽ tin cậy bạn.
Ông ấy đơn giản nói, "Đừng lấy cả đi. Ta cần một ít để đóng thuế ngày
mai."
Tên
trộm thu gần hết số tiền và bắt đầu bỏ đi. "Hãy cám ơn người khi ông nhận
món quà..."
Bây
giờ, thấy từ bi của người này. Ông ấy không gọi điều đó là ăn trộm; ông ấy nói,
"Hãy cám ơn người khi ông nhận món quà." Ông ấy đang biến đổi; tầm
nhìn của ông ấy là hoàn toàn khác. Ông ấy không muốn người này cảm thấy mặc cảm;
từ bi của ông ấy thật mênh mông. Nếu không về sau người này sẽ bắt đầu cảm thấy
mặc cảm. Người này nhất định cảm thấy mặc cảm - ăn cắp của nhà sư nghèo, người
ăn xin nghèo, người chẳng có gì mấy ngay chỗ đầu tiên, ăn cắp của người sẵn
sàng cho thế, tôi, người đã chấp nhận ông toàn bộ thế - người này sẽ cảm thấy mặc
cảm, người này sẽ bắt đầu ăn năn. Người này sẽ không thể nào ngủ được khi về
nhà. Người này phải quay lại vào buổi sáng để được tha thứ.
Không,
điều đó sẽ là không tốt. Thiền không muốn tạo ra mặc cảm theo bất kì cách nào.
Đó là điều Thiền tất cả là gì, một tôn giáo không tạo ra mặc cảm nào. Tôn giáo
có thể rất dễ được tạo ra bằng mặc cảm, đó là điều các tôn giáo khác đã làm.
Nhưng khi bạn tạo ra mặc cảm bạn đã tạo ra cái gì đó còn tồi tệ hơn bạn sẽ chữa
chạy. Thiền không tạo ra mặc cảm nào, làm mọi chăm sóc để không tạo ra bất kì mặc
cảm nào trong bất kì ai.
Bây
giờ ông ấy nói, "Hãy cám ơn người khi ông nhận món quà. Đây là món quà!
Ông thậm chí không biết đền điều này sao? Ta đang cho ông - ông không ăn trộm
nó từ ta." Khác biệt làm sao! Nó là cùng một điều.
Đây
là điều Thiền nói: Cho - thay vì nó bị giật mất. Và đây là toàn bộ tầm nhìn về
cuộc sống. Trước khi cái chết tới cho đi mọi thứ để cái chết không cần cảm thấy
mặc cảm. Trao cuộc sống của bạn cho cái chết như món quà. Đây là từ bỏ của Thiền.
Nó khác toàn bộ với từ bỏ của người Hindu hay Cơ đốc giáo - họ cho để được. Thiền
cho để cho không mặc cảm nào bị tạo ra ở bất kì đâu trên thế giới; không mặc cảm
nào được cảm thấy đằng sau.
Người
này cám ơn ông ấy và chuồn mất. Vài ngày sau đó tên trộm bị bắt, và thú nhận,
trong số những người khác, đã phạm tội với Shichiri. Khi Shichiri được triệu tới
làm nhân chứng ông ấy nói, "Người này không phải là kẻ trộm, ít nhất khi
có liên quan tới ta. Ta đã cho anh ta tiền và anh ta cám ơn ta về điều
đó."
Bạn
thấy vấn đề không? Kính trọng làm sao! Kính trọng mênh mông làm sao! Kính trọng
vô điều kiện làm sao với một người - với tên trộm!
Nếu
Shichiri này mà là thánh nhân Ki tô giáo, ông ấy đã doạ người này phải bị đầy địa
ngục - và ở địa ngục vĩnh viễn. Nếu ông ấy mà là thánh nhân Hindu, ông ấy đã
thuyết giảng cho người này một bài dài lê thê về không trộm cắp, và ông ấy đã
làm cho người này hoảng sợ rằng người này sẽ bị tống vào ngọn lửa địa ngục. Ông
ấy sẽ vẽ ra bức tranh rùng rợn về địa ngục, và ông ấy sẽ thuyết giảng cái vô dụng
của tiền.
Trông
đấy: Thiền sư không nói gì về tính vô dụng của tiền. Thực tế, thay vì thế ông ấy
nói, "Để lại một ít cho ta; đến sáng ta sẽ cần nó." Tiền có mục đích.
Người ta cần không bị ám ảnh, theo cách này hay cách nọ, ủng hộ hay chống đối.
Tiền là thứ tiện dụng. Bạn cần không chỉ sống vì tiền, và bạn không cần chống lại
tiền. Nó chỉ là thứ tiện dụng. Đó chính là thái độ của tôi với tiền là gì: Tiền
phải được dùng, nó là công cụ.
Trong
thế giới tôn giáo, tiền bị kết án rất nhiều - người tôn giáo rất sợ tiền. Nỗi sợ
đó không là gì ngoài tham lam đứng lộn đầu. Nó là cùng tham lam đó mà bây giờ
đã trở thành sợ hãi. Nếu bạn đi tới thánh nhân Hindu với tiền trong tay ông ấy
sẽ nhắm mắt lại, ông ấy sẽ không nhìn vào tiền. Nhiều sợ hãi tiền thế sao? Sao
bạn phải nhắm mắt? Ông ấy sẽ cứ nói rằng tiền là bẩn thỉu - nhưng ông ấy chẳng
bao giờ nhắm mắt khi ông ấy nhìn vào cái bẩn thỉu. Điều này là rất phi logic.
Thực tế, nếu tiền là bẩn thỉu thì ông ấy phải nhắm mắt trong hai mươi bốn giờ,
bởi vì bẩn thỉu ở mọi nơi. Tiền là bẩn sao? Thế thì sao lại sợ bẩn thế? Nỗi sợ
là gì?
Thiền
có cách tiếp cận hoàn toàn khác và rất nền tảng. Thầy không nói rằng tiền là bẩn
và bạn không nên tìm tiền của người khác. Nó có liên quan gì tới mọi người? Tiền
chẳng của ai cả. Cho nên nói với ai đó, "Anh là tên trộm," là tin vào
tài sản riêng tư. Là tin rằng ai đó có thể có nó một cách đúng đắn và ai đó có
thể có nó một cách sai trái, ai đó có quyền sở hữu nó và ai đó không có quyền.
Trộm
cắp bị kết án bởi vì tâm trí tư bản trên thế giới; nó là một phần của tâm trí
tư bản. Tâm trí tư bản nói tiền thuộc về ai đó - có người chủ đúng, và không ai
được lấy nó đi.
Nhưng
Thiền nói chẳng cái gì thuộc vào bất kì ai cả, không ai là người chủ đúng. Làm
sao bạn có thể sở hữu thế giới này được? Bạn tới thế giới này với hai bàn tay
trắng, bạn ra đi khỏi nó với hai bàn tay trắng - bạn không thể sở hữu nó được.
Không ai sở hữu nó; chúng ta dùng nó. Và chúng ta tất cả đều cùng nhau ở đây để
dùng nó. Và chúng ta tất cả ở đây để dùng nó. Đó là thông điệp: "Cầm lấy
tiền! nhưng để lại một ít cho ta nữa. Ta cũng ở đây để dùng nó, cũng như ông ở
đây để dùng nó."
Thái
độ thực tế thế, thái độ kinh nghiệm thế! Và tự do với tiền thế! Và ở toà án ông
ấy nói, "Người này không phải là kẻ trộm..." Ông ấy đã biến kẻ trộm
này thành người bạn. Ông ấy nói, "... ít nhất khi có liên quan tới ta. Ta
không biết về những người khác - làm sao ta có thể biết được về người khác? Điều
này thì ta biết: Ta đã cho anh ta tiền và anh ta đã cám ơn ta về điều đó. Điều
đó đã kết thúc, tài khoản đã đóng rồi. Anh ta không nợ gì với ta cả. Anh ta đã
cám ơn ta về điều đó - người ta còn có thể làm gì khác được?"
Nhiều
nhất chúng ta có thể cho lời cám ơn. Chúng ta có thể cám ơn sự tồn tại về tất cả
những điều nó đã cho chúng ta - chúng ta có thể làm gì khác được?
Sau
khi đã mãn hạn tù, người này tới Shichiri và trở thành đệ tử của ông ấy.
Bạn
có thể làm được điều gì khác với người như Shichiri? Bạn phải trở thành đệ tử.
Ông ấy đã chuyển đổi kẻ trộm thành sannyasin. Đây là giả kim thuật của thầy, thầy
chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội nào. Bất kì cơ hội nào có đấy, thầy đều dùng nó -
ngay cả kẻ trộm tới thầy, người đó sẽ biến thành sannyasin.
Tới
tiếp xúc với thầy là được biến đổi. Bạn có thể đã tới vì cái gì đó khác, bạn có
thể không tới thầy chút nào - kẻ trộm này đã không ở đó vì thầy. Thực tế, nếu
mà người đó biết rằng trong lều này một bậc thầy sống, người đó đã không dám
vào chút nào. Người đó đã tới chỉ vì tiền; người đó đã loạng choạng ngẫu nhiên
vớ phải thầy. Nhưng ngay cả bạn có ngẫu nhiên gặp vị phật, điều đó sẽ thay đổi
bạn toàn bộ. Bạn sẽ không bao giờ còn là con người cũ nữa.
Nhiều
người trong các bạn đang ở đây chỉ bởi tình cờ. Các bạn đã không đi tìm tôi,
các bạn đã không kiếm tôi. Bởi cả nghìn lẻ một ngẫu nhiên mà các bạn đã tới
đây. Nhưng sự việc trở thành ngày càng khó ra đi.
Thầy
không thuyết giảng, thầy chẳng bao giờ nói cái gì đáng phải làm. Bồ đề đạt ma
nói, "Thiền chẳng có gì để nói cả, nhưng Thiền có nhiều cái để biểu lộ."
Bậc thầy này đã chỉ ra con đường cho tên trộm. Ông ấy đã thay đổi người này, và
ông ấy đã thay đổi người này tài tình thế. Ông ấy phải đã là nhà giải phẫu vĩ đại
- ông ấy đã mổ trái tim người này... và không âm thanh nào được nghe thấy. Ông ấy
đã phá huỷ người này toàn bộ, và ông ấy đã tạo ra người này lần nữa. Và người
này thậm chí không nhận biết về điều đã xảy ra. Đây chính là phép màu của thầy
là gì.
Lời
kinh Thiền nói: "Con người của hiểu biết không bác bỏ sai sót." Khi
tôi bắt gặp nó, trái tim tôi nhảy múa. Tụng lời kinh này trong cốt lõi sâu thẳm
nhất của trái tim bạn: Con người của hiểu biết không bác bỏ sai sót.
Và
một bậc thầy khác, khi nói lời kinh này, đã bình luận - tên ông ấy là Ohasama -
ông ấy đã bình luận: "Chân lí không cần được thăm dò trước, vì nó hiện diện
ở mọi nơi, ngay cả trong sai sót. Do đó người bác bỏ sai sót là bác bỏ chân
lí."
Những
người này thật là vĩ đại! Những người bác bỏ sai sót là bác bỏ chân lí. Bạn có
thấy cái đẹp của nó không? Người cấp tiến, người cách mạng, quan điểm về điều
đó là gì? Shichiri đã không bác bỏ người này bởi vì người này là kẻ trộm; ông ấy
không bác bỏ người này bởi vì sai sót của người này - bởi vì đằng sau sai sót
đó là sự tồn tại thiêng liêng, là thượng đế. Bác bỏ sai sót, và bạn bác bỏ cả
thượng đế nữa. Bác bỏ sai sót, và bạn bác bỏ chân lí, cái ẩn đằng sau nó.
Ông
ấy chấp nhận sai sót để chấp nhận chân lí. Một khi chân lí nảy sinh, được chấp
nhận, lan toả, sai sót sẽ biến mất theo cách riêng của nó. Bạn không cần tranh
đấu với bóng tối - đó là nghĩa. Đơn giản thắp sáng ngọn nến. Bạn không cần
tranh đấu với bóng tối, chỉ thắp sáng ngọn nến. Thầy thắp sáng ngọn nến trong
người này.
Đích
xác như nhau, nhưng chút ít Thiền hơn, có câu chuyện khác về bậc thầy khác - gần
như nhau, nhưng vẫn mang tính Thiền hơn.
Một
đêm khi Thầy Taigan đang viết thư một tên trộm bước vào phòng ông ấy tay lăm
lăm chiếc kiếm lớn tuốt trần. Nhìn vào tên trộm, thầy nói, "Anh muốn gì -
tiền hay mạng ta?"
Bây
giờ, điều này Thiền nhiều hơn - ông ấy không cho tên trộm cơ hội nói điều gì.
Shichiri ít nhất cũng để cho nó có cơ hội; với Shichiri tên trộm hỏi: một tên
trộm cầm kiếm sắc đi vào phòng của Shichiri, đòi nộp tiền hoặc mạng sống của
ông ấy. Taigan đã cải tiến điều đó. Có thể Taigan xảy ra sau - ông ấy phải đã bắt
gặp câu chuyện của Shichiri. Ông ấy không để cho tên trộm cơ hội ấy. Ông ấy nói
với tên trộm này, "Anh muốn gì - tiền hay mạng ta? Cả hai đều không liên
quan - bất kì anh cần cái gì, anh có thể lấy. Đó là chọn lựa của anh."
"Ta
tới vì tiền," tên trộm đáp, chút ít sợ hãi.
Người
này - tên trộm chưa bao giờ bắt gặp thứ dữ vậy - ông ấy nói, "Anh muốn gì
- tiền hay mạng ta?" và dễ dàng cho thế: "Anh có thể chọn."
Không kết án, chẳng có gì như thế. Ngay cả nó có chọn mạng ông ấy, Taigan cũng
cho. Tất cả những cái đó đằng nào cũng bị lấy đi, tốt hơn cả là cho luôn. Ngày
này hay ngày khác ngay cả cuộc sống cũng sẽ biến mất - cho nên sao lo nghĩ về
nó? Cái chết đang tới, cứ để tên trộm này tận hưởng khoảnh khắc này.
"Ta
tới vì tiền," tên trộm đáp, chút ít sợ hãi.
Thầy
lấy ví ra và đưa nó cho người này, nói, "Đây lấy đi!" Rồi thầy quay lại
viết thư cứ cường như chẳng có gì xảy ra.
Tên
trộm bắt đầu cảm thấy không thoải mái và rời khỏi phòng, quá kính nể.
"Này! Đợi chút đã!" thầy gọi. Tên trộm đứng lại, run bắn. "Sao
anh không đóng cửa lại?" thầy nói.
Nhiều
ngày sau, tên trộm bị quan bắt và nói, "Tôi đã ăn cướp trong nhiều năm,
nhưng tôi chưa bao giờ kinh khiếp thế khi bậc thầy Phật giáo đó gọi tôi,
"Này! Đợi chút đã!"Tôi vẫn còn run bắn."
"Người
đó rất nguy hiểm, và tôi chưa bao giờ có thể quên được ông ấy. Và cái ngày tôi
được thả ra khỏi nhà tù, tôi sẽ tới ông ấy. Tôi chưa bao giờ bắt gặp một người
như vậy - với phẩm chất như vậy! Tôi cầm kiếm tuốt trần trong tay, nhưng cái đó
chẳng là gì cả. Ông ấy là lưỡi kiếm tuốt trần."
Những
lời này - "Này! Đợi chút đã!" - và tên trộm nói, "Tôi vẫn còn
run bắn."
Khi
bạn tới gần một bậc thầy, ông ấy sẽ giết bạn. Làm sao bạn có thể giết được thầy?
Cho dù bạn có kiếm tuốt trần, bạn vẫn không thể giết được thầy; thầy sẽ giết bạn.
Và thầy giết theo cách tinh tế tới mức bạn chưa bao giờ trở nên nhận biết là bạn
đã bị giết. Bạn trở nên nhận biết chỉ khi bạn được tái sinh. Bỗng nhiên một
ngày nào đó bạn không còn như cũ nữa. Bỗng nhiên một ngày nào đó con người cũ mất
rồi. Bỗng nhiên một ngày nào đó mọi thứ tươi tắn và mới mẻ - chim chóc hót
vang, lá mới mọc ra trong bạn. Dòng sông tù đọng lại tuôn chảy, bạn đi tới đại
dương.
Câu
chuyện khác:
Một
Thiền sư đã bị bắt vào tù vài lần.
...
Bây giờ một bước thêm nữa! Những Thiền nhân này thực sự là những người gàn dở,
người điên - nhưng họ làm những điều hay. "Một Thiền sư đã bị bắt vào tù
vài lần." Bây giờ, một điều là tha thứ cho kẻ trộm, một điều là không coi
người đó là xấu, một điều khác là tự mình vào tù. Và không chỉ một lần, nhiều lần
- vì ăn cắp những thứ nhỏ bé của hàng xóm. Và hàng xóm biết, và họ phân vân:
Sao người này lại ăn cắp? - và những thứ nhỏ bé thế. Nhưng khoảnh khắc ông ấy
ra khỏi nhà tù ông ấy sẽ lại ăn cắp nữa, và ông ấy sẽ quay lại. Ngay cả quan
toà cũng phải lo nghĩ. Nhưng họ phải tống ông ấy vào tù, bởi vì ông ấy sẽ thú tội.
Ông ấy chẳng bao giờ nói, "Tôi đã không ăn cắp."
Cuối
cùng, các hàng xóm tụ tập lại, và họ nói. "Thưa ông, xin đừng ăn cắp nữa.
"Ông
già rồi, và chúng tôi sẵn sàng cung cấp cho ông đủ mọi thứ ông cần - tất cả mọi
thứ cần thiết, dù nó là gì. Ông chấm dứt việc này đi! Chúng tôi rất lo nghĩ, và
chúng tôi rất buồn. Sao ông cứ làm điều này?"
Và
ông già này cười. Và ông ấy nói:
"Tôi
ăn cắp để vào với các tù nhân, và đem tới cho họ thông điệp bên trong."
"Ai
sẽ giúp họ đây? Bên ngoài, với các ông là tù nhân, có nhiều thầy rồi. Nhưng
trong tù không có thầy. Ai sẽ giúp họ, các ông nói cho tôi xem nào? Đây là cách
của tôi để vào và giúp những người đó. Cho nên khi hình phạt của tôi hết và tôi
bị tống ra, tôi phải ăn cắp cái gì đó và quay trở lại. Tôi định tiếp tục việc
này. Và tôi đã thấy ở đó trong tù những linh hồn đẹp thế, linh hồn hồn nhiên thế
- đôi khi còn hồn nhiên hơn nhiều..."
Có
lần điều đó xảy ra, một trong các bạn tôi trở thành thống đốc của một bang ở Ấn
Độ, và ông ấy đã cho phép tôi vào nhà tù trong khắp bang của ông ấy. Tôi tới
trong nhiều năm, và tôi ngạc nhiên. Những người trong tù còn hồn nhiên hơn nhiều
so với các chính khách, hơn những người giầu, hơn cái gọi là thánh nhân. Tôi biết
hầu hết các thánh nhân ở Ấn Độ. Họ tinh ranh hơn. Tôi đã thấy trong những kẻ tội
phạm những linh hồn hồn nhiên thế... Tôi có thể hiểu ý tưởng của Thiền sư già
này - về việc ăn cắp, bị bắt, và đem thông điệp cho họ: "Tôi ăn cắp để vào
với những tù nhân, và đem tới cho họ thông điệp bên trong."
Thiền
không có hệ thống giá trị. Thiền chỉ đem một điều vào trong thế giới này, và đó
là hiểu biết, nhận biết. Qua nhận biết mà hồn nhiên tới. Và hồn nhiên là hồn
nhiên của tốt và xấu, cả hai. Hồn nhiên đơn giản là hồn nhiên - nó không biết tới
phân biệt.
Câu
chuyện cuối cùng, Nó là về Ryokan - ông ấy là người yêu trẻ em vĩ đại. Như có
thể được mong đợi về nhân vật như ông ấy, bản thân ông ấy là đứa trẻ. Ông ấy là
đứa trẻ mà Jesus nói tới. Ông ấy hồn nhiên tới mức gần như không thể nào tin nổi
rằng một người có thể hồn nhiên thế. Ông ấy không tinh ranh, không láu cá. Ông ấy
hồn nhiên tới mức mọi người thường nghĩ rằng ông ấy chút ít điên khùng.
Ryokan
thích chơi với trẻ con. Ông ấy chơi trốn tìm, ông ấy chơi tamari, bóng tay nữa.
Một tối đến lượt ông ấy đi trốn, và ông ấy ẩn mình kín trong đống rơm trên cánh
đồng. Trời gần tối và trẻ con, không thể nào tìm được chỗ ông ấy, rời cánh đồng
về nhà.
Sáng
sớm hôm sau, một nông dân tới và phải dọn đống rơm để bắt đầu làm việc. Tìm thấy
Ryohan ở đó, ông ta kêu lên, "Ôi, Ryokan-sama! Ông làm gì ở đây thế?"
Bậc
thầy trả lời, "Suỵt! Đừng nói to thế, tụi trẻ sẽ tìm thấy tôi."
Cả
đêm dưới đống rơm đó ông ấy chờ đợi lũ trẻ! Hồn nhiên thế là Thiền, và hồn
nhiên thế là thiêng liêng. Hồn nhiên thế không biết tới phân biệt giữa tốt và xấu,
không biết tới phân biệt giữa thế giới này và thế giới kia, không biết phân biệt
giữa cái này và cái nọ. Hồn nhiên thế là điều như vậy là gì.
Và
tính như vậy là cốt lõi bên trong nhất của tính tôn giáo.
Hết
quyển "Từ Bi: Việc Nở Hoa Tối Thượng Của Tình Yêu " - Quay về Mục lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment