Osho – Bồ Đề Đạt Ma - Thiền sư
vĩ đại nhất
Chương 19: Thưởng thức bí ẩn
trong chiều sâu trái tim bạn
Osho kính yêu,
Xuyên qua lời kinh này, Phật
nói cho người hữu tử họ có thể đạt tới chứng ngộ bằng việc thực hiện các việc
công đức như xây tu viện, đúc tượng, thắp hương, rải hoa, thắp đèn vĩnh cửu,
công phu cả sáu thời kì ngày và đêm, bước đi quanh stupas, thường xuyên nhịn ăn
và tôn thờ. Nhưng nếu ngắm nhìn tâm trí bao gồm mọi thực hành khác, thế thì
những công việc như vậy sẽ dường như là thừa.
Lời kinh của Phật chứa vô lượng
biểu dụ. Bởi vì người hữu tử có tâm trí nông cạn và không hiểu cái gì sâu sắc,
nên Phật dùng cái thấy được để biểu thị cho cái siêu phàm. Những người tìm kiếm
phúc lạc bằng việc tập trung vào những công việc ngoài thay vì trau dồi bên
trong là đang cố gắng điều không thể được.
Điều ông gọi là tu viện, chúng
ta gọi là sangharama, chỗ của thuần khiết. Nhưng bất kì ai từ chối việc vào của
ba chất độc và bế cổng các giác quan của mình cho thuần khiết, thân thể và tâm
trí người đó tĩnh lặng, bên trong và bên ngoài sạch sẽ, là xây dựng tu viện.
Đúc tượng nói tới mọi thực hành
được trau dồi bởi những người tìm kiếm chứng ngộ...
Và thắp hương không có nghĩa
hương vật chất thông thường mà là hương của Pháp không thấy được, cái xua đi
những hành vi thô bỉ, dốt nát và ác độc theo hương của nó...
Khi Phật còn trong thế giới
này, ông ấy bảo các đệ tử thắp sáng hương quí giá như thế bằng ngọn lửa của
nhận biết xem như việc cúng dường chư phật mười phương. Nhưng những người ngày
nay không hiểu nghĩa thực của Như Lai. Họ dùng ngọn lửa thường để thắp sáng
hương vật chất của gỗ đàn hương hay hương trầm để hi vọng phúc lành tương lai
nào đó không bao giờ tới cả.
Với việc rải hoa cũng điều đó
là đúng. Điều này nói tới việc nói Pháp, hay tới việc rải hoa đức hạnh, để làm
lợi cho người khác và làm vinh quang cho cái ta thực...
Nếu ông nghĩ Như Lai có nghĩa
với người làm hại cây cối bằng việc cắt nụ của chúng đi, ông sai. Những người
gìn giữ giới luật không làm tổn thương bất kì dạng sống quí giá nào của trời và
đất. Nếu ông lầm lẫn làm tổn thương cái gì đó, ông sẽ đau khổ vì nó. Nhưng
những người cố ý vi phạm giới luật bằng việc làm tổn thương cái sống với mục
đích được phúc lành tương lai phải chịu đau khổ thậm chí nhiều hơn. Làm sao họ
có thể để cho phúc lành đáng có biến thành nỗi buồn được?
Đèn vĩnh hằng biểu thị cho nhận
biết hoàn hảo.
... Rất lâu trước đây, đã có vị
Phật tên là Dipamkara, hay Người thắp đèn. Đây là ý nghĩa của tên người đó...
Ánh sáng do vị phật phát ra từ một xoáy giữa trán của ông ấy có thể chiếu sáng
vô lượng thế giới. Đèn dầu không ích gì...
Việc công phu cả sáu thời kì
của ngày và đêm có nghĩa là trong sáu giác quan thường xuyên trau dồi chứng ngộ
và gìn giữ trong mọi dạng của nhận biết. Đừng bao giờ thảnh thơi việc kiểm soát
trên sáu giác quan là điều được ngụ ý bởi sáu thời kì.
Còn với việc bước quanh stupas,
stupas là thân thể và tâm trí ông. Khi nhận biết của ông đi quanh thân thể và
tâm trí ông không dừng, điều này được gọi là bước quanh stupa...
Cùng điều đó cũng đúng cho việc
gìn giữ nhịn ăn... Nhịn ăn nghĩa là... điều hoà thân thể và tâm trí ông để cho
chúng không bị phân tán hay rối loạn.
Cũng thế, một khi ông dừng việc
ăn thức ăn ảo tưởng, nếu ông chạm tới nó lần nữa, ông sẽ phá vỡ việc nhịn ăn
của mình. Và một khi ông phá vỡ nó, ông không gặt hái gì được phúc lành từ nó.
Thế giới đầy những người bị ảo tưởng không thấy điều này. Họ ham mê thân thể và
tâm trí mình theo đủ mọi cách quái quỉ. Họ buông lỏng cho sự đam mê của mình và
không xấu hổ. Và khi họ dừng ăn thức ăn thông thường, họ gọi đấy là nhịn ăn.
Ngớ ngẩn làm sao!
Điều ấy cũng tương tự như việc
tôn thờ. Ông phải hiểu nghĩa và chấp nhận điều kiện. Nghĩa bao gồm hành động và
vô hành động...
Tôn thờ nghĩa là tôn kính và
khiêm tốn. Nó nghĩa là trở về cái ta thực của ông và hạ thấp ảo tưởng. Nếu ông
có thể chùi sạch các ham muốn ác và nuôi dưỡng ý nghĩ tốt, ngay cả không cái gì
được gieo, đấy là tôn thờ...
Những người không trau dồi
nghĩa bên trong và thay vào đó tập trung vào cách diễn đạt bên ngoài không bao
giờ dừng mê đắm trong dốt nát, hận thù và ác độc trong khi làm cạn kiệt mình vô
ích. Họ có thể lừa dối người khác bằng cử chỉ, vẫn còn không xấu hổ trước các
hiền nhân và rỗng tuếch trước người hữu tử, nhưng họ không bao giờ thoát khỏi
Bánh xe, dù đạt được công đức nhiều hay ít.
Tôi thấy bị tổn thương sâu sắc
phải nói rằng Bồ đề đạt ma đã bị lão suy. Ông ấy đã đi tới mức vĩ đại tới điểm
khi câu hỏi được hỏi, "Dốt nát từ đâu tới?" Nhưng ông ấy đã bị lạc
lối. Điều đó thường xảy ra... nếu bạn nói dối một lần, phải nói dối một nghìn
lẻ một lần nữa; mỗi lời nói dối lại cần lời nói dối khác để bảo vệ nó - và vậy
mà nó vẫn còn không được bảo vệ. Thay vì một lời nói dối, bây giờ bạn phải bảo
vệ hai lời nói dối, nhưng lời nói dối không thể được chân lí bảo vệ - cho nên
bạn đem tới lời nói dối thứ ba. Và đây là chuỗi vô tận.
Đó là điều đã xảy ra cho Bồ đề
đạt ma bởi vì ông ấy đơn giản không thể nói "Tôi không biết". Bây giờ
ông ấy trong thế khó xử: bất kì cái gì được hỏi, ông ấy đều phải đưa ra câu trả
lời nào đó - dù ông ấy biết hay không. Và có những điều không thể nào biết được
bởi chính bản chất của chúng. Cho nên đáng thì không có thảm hoạ chút nào nếu
chấp nhận rằng đây là câu hỏi tối thượng và câu hỏi tối thượng không thể trả
lời được - dù bởi Bồ đề đạt ma hay bởi bất kì ai khác, quá khứ, hiện tại hay
tương lai.
Điều tối thượng bao giờ cũng
vẫn còn là bí ẩn. Bạn không thể giải bí ẩn của nó bằng việc đưa ra câu trả lời.
Khoảnh khắc bạn đối diện với điều tối thượng, bạn đơn giản phải giống như đứa
trẻ, hồn nhiên. Tận hưởng việc ngạc nhiên về nó, sung sướng với bí ẩn của nó
trong chiều sâu của trái tim bạn. Để cho nó đạt tới im lặng của bản thể bạn. Để
cho nó thấm vào bạn và biến đổi bạn. Vấn đề không phải là hỏi về, hay trông đợi
bất kì câu trả lời nào.
Nhưng Bồ đề đạt ma đã lấy chỉ
một bước sai, và bây giờ ông ấy đang đi xuống sự kiệt quệ. Mỗi ngày ông ấy lại
phải tạo ra những lời nói dối không cần thiết. Thỉnh thoảng ông ấy nói điều gì
đó đúng, nhưng bây giờ khối lượng chân lí cứ ít dần đi còn lời nói dối đang trở
nên ngày càng nhiều hơn, số lượng của chúng cứ tăng lên.
Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một
người như Bồ đề đạt ma không đủ dũng cảm để đơn giản nói, "Xin tha thứ cho
tôi, tôi không biết", đối với câu hỏi tối thượng. Nếu ông ấy đã nói điều
đó và dừng lại ở đó, ông ấy đã vượt lên trên hàng triệu nhà huyền môn về tầm
cao, chiều sâu, về độ lớn.
Nhưng tôi có thể hiểu được vấn
đề: ông ấy đã không muốn làm thất vọng các đệ tử mình, ông ấy đã không muốn làm
thất vọng người Trung Quốc. Ông ấy đã không muốn nói với họ rằng có những câu
hỏi nền tảng thậm chí người chứng ngộ không thể trả lời được. Cho nên ông ấy cứ
bịa ra điều hư huyễn. Ông ấy không thể nói rằng Phật là sai, cho nên ông ấy
phải tạo ra những câu trả lời kì lạ không khớp chút nào với điều Phật nói - và
chúng cũng không khớp tuyệt đối với điều bản thân Bồ đề đạt ma đã nói trước đó.
Toàn thể giáo huấn của ông ấy là về nhận biết tâm trí và đi vượt ra ngoài tâm
trí, và điều đó là tuyệt đối hoàn hảo. Không cái gì cần được thêm vào nó.
Bây giờ ông ấy đang trả lời
những câu hỏi một cách miễn cưỡng, nhưng ông ấy không thể dừng lại được. Cần
phải có dũng cảm mênh mông để bỏ qua các câu hỏi của đệ tử bạn và đơn giản nói
rằng đây không phải là câu hỏi bởi vì nó là điều tối thượng. Ông ấy đã cố gắng
theo đủ mọi cách để thoả mãn cho các đệ tử và để thoả mãn cho người Trung Quốc
rằng người chứng ngộ biết mọi điều.
Thực tại lại không thế. Bạn
càng trở nên chứng ngộ hơn, bạn lại càng biết ít hơn. Tại đỉnh tối thượng của
chứng ngộ, bạn đơn giản biết tới bản thân mình... và không cái gì khác. Nhưng
tại đỉnh đó, bản thân bạn là toàn thể vũ trụ.
Tôi sẽ nói cho các bạn chỗ ông
ấy vẫn còn đúng - bởi vì ông ấy biết chân lí là gì - nhưng ông ấy đang thoả
hiệp. Ông ấy không là người nổi dậy, ông ấy là người làm yên lòng. Ông ấy không
muốn nói một lời nào làm quấy rối các Phật tử mới chuyển đạo ở Trung Quốc. Mọi
sự đáng ra tốt lành nếu như ông ấy vẫn còn ở Ấn Độ và không bao giờ đi sang
Trung Quốc. Tại đây ông ấy sẽ là cái ta thực của mình; không có nhu cầu thậm
chí xem xét tới người khác. Khoảnh khắc bạn bắt đầu xem xét tới người khác, bạn
tụt xuống từ tầm cao.
Khi có liên quan tới tôi, cam
kết tuyệt đối của tôi là hướng tới chân lí. Cho dù tôi có chọc giận và làm khó
chịu cả thế giới, tôi cũng sẽ không nói điều gì chỉ để an ủi họ, và tôi sẽ
không nói điều gì đi ngược lại kinh nghiệm của tôi về chân lí. Mọi người đã
từng hỏi tôi, "Tại sao cả thế giới lại chống thầy?" Thế giới không
chống tôi. Tôi chống lại thế giới bởi vì tôi đã chọn chân lí. Và tôi sẽ chỉ nói
điều tuyệt đối là kinh nghiệm của tôi. Tôi sẽ không thoả hiệp theo bất kì cách
nào, với bất kì lí do gì về bất kì cái gì.
Nhưng Bồ đề đạt ma đã bắt đầu
thoả hiệp. Ông ấy có thể đã được mọi người tôn thờ bởi vì ông ấy ai ủi họ,
nhưng trong con mắt tôi ông ấy đã đánh mất sự huy hoàng của mình; ông ấy đã
đánh mất cái đẹp và thông minh của mình. Ông ấy đã đi xuống quá thấp để được
mọi người hiểu.
Đây là câu hỏi của một đệ tử.
Xuyên qua lời kinh này, Phật
bảo cho người hữu tử họ có thể đạt tới chứng ngộ bằng việc thực hiện các việc
công đức như xây tu viện, đúc tượng, thắp hương, rải hoa, thắp đèn vĩnh cửu,
công phu sả sáu thời kì ngày và đêm, bước đi quanh stupas... Stupas là mồ của
những người chứng ngộ cổ đại... thường xuyên nhịn ăn và tôn thờ.
Thực ra, toàn thể lời kinh này
là bịa đặt của phái Đại Thừa Phật giáo. Phật chưa bao giờ nói bất kì điều gì
như thế, và nếu ông ấy nói điều đó ông ấy sai. Điều đó phải đã là cách tiếp cận
đơn giản của Bồ đề đạt ma, bởi vì thậm chí vào lúc chết của mình, lời cuối cùng
của Phật là, "Đừng làm tượng ta."
Và bạn đã nghe thấy Bồ đề đạt
ma ngay lúc đầu nói, "Chư phật không thể tôn thờ chư phật". Không có
nhu cầu, và điều đó thực sự là đáng xấu hổ. Bạn có cùng phẩm chất tâm thức bên
trong mình, bạn chỉ chưa phát hiện ra nó. Ai đó khác đã phát hiện ra nó, nhưng
khi liên quan tới việc có cả bạn và người đó đều có nó theo cùng cách.
Bồ đề đạt ma nhắc tới tên của
Dipamkara. Ông ấy là vị cổ phật trước Phật Gautam rất lâu, và trong thời của
Dipamkara Phật Gautam còn là một người bình thường. Chỉ vì tò mò mà ông ấy đã
tới gặp Dipamkara. Vị phật này đã được mang tên Dipamkara bởi vì sự hiện diện
của ông ấy mang tính truyền nhiễm tới mức những người đến gần ông ấy một cách
hồn nhiên lập tức bắt được cái gì đó vô hình, dường như một ngọn lửa đã nhảy từ
Dipamkara vào trái tim họ, vẫn hoàn toàn tăm tối, và bây giờ có ánh sáng. Do đó
cái tên, Phật Dipamkara, được trao cho ông ấy - một người thắp sáng lên ngọn
đèn còn chưa sáng của người khác chỉ bởi sự hiện diện của người đó.
Phật Gautam còn chưa chứng ngộ
vào lúc đó nhưng ông ấy đã tới chỉ vì tò mò, giống như đứa trẻ nhỏ, đến xem
điều đang xảy ra, tại sao nhiều người thế tới đó. Tò mò của ông ấy là hồn
nhiên. Ông ấy đã không tới để đạt đến tri thức hay chứng ngộ, hay bất kì cái
gì. Không có tham lam trong đó, không có tham vọng trong đó. Đấy đơn giản là
ngạc nhiên. Ông ấy đã nghe nói rằng mọi người tới Dipamkara... chỉ ngồi im lặng
với ông ấy, cái gì đó đã truyền qua, và họ trở về nhà hoàn toàn là người khác.
Hành động của họ thay đổi, cách sống của họ thay đổi. Họ trở nên đáng yêu hơn,
từ bi hơn, tham lam biến mất, tham vọng biến mất, giận dữ biến mất. Họ trở
thành các cá nhân đẹp và toả hương thơm đến mức Phật muốn gặp con người này...
con người này là một điều ngạc nhiên. Ông ấy không làm gì, vậy mà...
Thầy chưa bao giờ làm cái gì
cả. Toàn thể công việc của thầy là bằng cách nào đó đem bạn lại gần... gần như
khi bạn đem một chiếc nến đang cháy với một ngọn lửa tới gần một chiếc nến khác
còn chưa cháy. Có một điểm nào đó khi chiếc nến chưa cháy sẽ bắt lửa từ ngọn
lửa của chiếc nến đang cháy. Chiếc nến đang cháy sẽ không mất cái gì cả, nhưng
chiếc nến chưa cháy sẽ thu được kho báu cực kì lớn lao. Chưa cháy, nó là chết,
còn khi ngọn lửa bắt đầu, cuộc sống tới với nó. Bây giờ nó cũng có thể xua tan
bóng tối theo cùng cách như chiếc nến đầu đã làm.
Dipamkara là con người như vậy;
thực ra mọi thầy vĩ đại đều là con người như vậy. Bất kì điều gì xảy ra quanh
người đó đều không do người đó làm. Bất kì điều gì được làm chỉ để đem bạn tới
gần, để làm cho bản thân ông ấy thành có sẵn cho bạn và là một bí ẩn với bạn,
để cho không có việc biết của bạn, bạn vẫn bị hút về như thanh nan châm hút mọi
thứ... và tại một khoảng cách nào đó, bỗng nhiên bạn bị bắt lửa. Con người cũ
chết đi, và con người mới được sinh ra.
Lời kinh này tuyệt đối sai. Đấy
không phải là phát biểu của Phật Gautam, bởi vì con người của hiểu biết của ông
ấy không thể bảo mọi người rằng họ có thể đạt tới chứng ngộ bằng việc thực hiện
các việc công đức như xây tu viện, đúc tượng, thắp hương... Bạn có thể thấy mối
nối nào giữa chứng ngộ và việc thắp hương không? Bạn có thể đốt cả núi hương...
không có mối quan hệ logic nào với việc bạn trở nên chứng ngộ cả. Bạn có thể bị
nặng gánh, đó là điều duy nhất. Làm tu viện... và bạn không phải là sư! - bạn
làm tu viện cho những kẻ ngu khác trở thành sư. Làm sao điều đó trở thành chứng
ngộ của bạn được? Phật Gautam đã làm bao nhiêu tu viện trước khi ông ấy trở nên
chứng ngộ? Ông ấy đã thắp bao nhiêu hương? Ông ấy đã rải bao nhiêu hoa? Ông ấy
đã thắp bao nhiêu ngọn đèn vĩnh cửu?
Không! Phát biểu này không phải
của Phật Gautam chút nào. Nó là bịa đặt của phái Đại Thừa, một tín ngưỡng và
học thuyết nào đó. Và có lí do lịch sử tại sao những điều như vậy được tạo ra.
Phật là người rất trung thực. Ông ấy nói bất kì cái gì cũng đúng - bất kì hệ
quả nào. Chẳng hạn, ông ấy nói, "Mọi kẻ sĩ, học giả và brahmin đều là kẻ
ngốc - và họ là kẻ ăn bám. Trong hàng thế kỉ, họ đã hút máu mọi người."
Ông ấy gọi Veda "chỉ là rác rưởi". Và Veda đã được người Hindu kính
trọng đến mức bất kì ai gọi chúng là rác rưởi phải có dũng cảm lớn. Ông ấy đã
không chấp nhận bất kì avatara Hindu nào, bất kì hoá thân Hindu nào, có bất kì
giá trị gì.
Chẳng hạn, Parasurama là một
trong các hoá thân Hindu của Thượng đế. Ông ấy là con của một người được coi là
người thấy lớn, nhưng ông ấy đã nghi ngờ... như mọi ông chồng đều nghi ngờ về
vợ mình, và mọi bà vợ đều tự động nghi ngờ chồng mình. Đó là mối quan hệ duy
nhất của họ. Cuối cùng người bố trở nên bị thuyết phục bởi nghi ngờ của ông ấy
- điều có thể có nền tảng hay có thể không có nền tảng nào, ông ấy không thể
chắc chắn về điểm này - đến mức ông ấy đã ra lệnh cho con mình, Parasurama,
chặt đầu mẹ mình và đem về cho ông ấy. Và Parasurama đã đi, không hỏi tại sao.
Đấy không phải là việc nhỏ! Ông ấy đã chặt đầu mẹ mình và đem về cho bố mình.
Thế rồi người bố bảo ông ấy,
"Ta đã nghi ngờ bà ấy, nhưng bây giờ ta có bằng chứng chắc chắn rằng bà ấy
có yêu một người là một chiến binh vĩ đại." Parasurama và gia đình mình
thuộc về đẳng cấp brahmin. Parasurama nói, "Bố đừng lo. Con sẽ không để
một người nào thuộc đẳng cấp chiến binh sống."
Câu chuyện này có thể bị phóng
đại, nhưng nó chỉ ra phẩm chất của con người này. Nó chỉ ra rằng ông ta đã giết
mọi chiến binh của toàn thế giới nhiều, nhiều lần. Và từ đâu mà những chiến
binh mới này tới? Xã hội Hindu chấp nhận một điều rất kì lạ, và không ai đã bao
giờ xem xét tới... Họ cứ nói rằng họ có văn hoá lớn, nhưng họ không bao giờ
nhìn vào nền tảng của nó; văn hoá của họ chỉ là cái tên giả.
Xã hội Hindu chấp nhận rằng nếu
một phụ nữ tới một người thấy brahmin và yêu cầu rằng cô ấy được cho đứa con,
thế thì nghĩa vụ của người thấy brahmin là làm tình với người đó và làm cho cô
ấy có mang. Ông ta không thể bác bỏ cô ấy được. Cho nên Parasurama đã tới chặt
đầu các chiến binh; các bà vợ goá bỏ đi, và họ tới những ngươi thấy... Đấy là
việc kinh doanh tốt, một âm mưu lớn!
Cả đất nước này ở trong trạng
thái mãi dâm, và Parasurama giết người. Việc bạo hành như vậy không thể được
chấp nhận như phẩm chất của Thượng đế. Và điều đó dường như là phi logic... Nếu
mẹ ông ấy đi yêu một chiến binh, ông ấy có thể chỉ giết ông này - chúng ta có
thể chấp nhận vài nhân nhượng, bởi vì ông ấy đã được người Hindu coi là hoá
thân của Thượng đế. Nhưng giết mọi chiến binh của thế giới, thậm chí không chỉ
ở nước này, dường như không có logic nào đằng sau nó. Và không chắc chắn rằng
điều bố ông ấy nói... Parasurama nên yêu cầu bằng chứng, chứng minh. Bố ông ấy
có thể chỉ là người ghen tuông.
Bây giờ Phật không thể nào chấp
nhận Parasurama là hoá thân của Thượng đế, và nếu Parasurama mà là hoá thân của
Thượng đế thế thì ai sẽ là hoá thân của quỉ? Phật không thể chấp nhận Rama là
hoá thân của Thượng đế bởi vì Rama đã giết một tiện dân, một thanh niên, bằng
việc đổ chì lỏng nóng vào tai người đó bởi vì người đó đã lắng nghe vài brahmin
trích đọc Veda khi trốn sau cây. Tiện dân không được phép đọc; họ thậm chí
không được phép nghe! Cái loại văn hoá gì mà nước này đã tạo ra vậy, nơi một
phần tư dân số thậm chí không được nghe kinh sách tôn giáo của nó?
Và bởi vì người thanh niên này,
chỉ do tò mò mà trốn sau cây, đã nghe... Anh ta không thể nào hiểu được nó, bởi
vì đấy là tiếng Phạn, và tiếng Phạn chưa bao giờ là ngôn ngữ của mọi người. Nó
bao giờ cũng là ngôn ngữ của tu sĩ - chỉ của tu sĩ. Cho nên cho dù người đó có
nghe người đó đã không hiểu gì cả. Và bạn cho rằng đó là tội lỗi sao? Liệu có
đáng huỷ hoại một thanh niên bằng việc đổ chì lỏng sôi vào tai người đó không,
bởi vì người đó đã phạm một tội lỗi là nghe kinh Veda? Và người đó chết...
Phật không thể nào chấp nhận
được Rama, và ông ấy không thể nào chấp nhận Krishna, một người điên khùng đến
mức người đó đã tuyển lựa mười sáu nghìn đàn bà... bất kì đàn bà nào ông ấy yêu
đều bị cướp khỏi gia đình cô ấy. Cô ấy có thể còn trinh, cô ấy có thể đã có gia
đình, cô ấy có thể đã có con, cô ấy có thể đã có chồng, cô ấy có thể phải chăm
nom bố chồng già, mẹ chồng già. Mười sáu nghìn đàn bà đã đơn giản bị lính của
ông ấy cướp đi. Họ đã bị đối xử cứ như là trâu bò - và tôi không biết liệu ông
ấy thậm chí có nhớ nổi tên của mười sáu nghìn đàn bà ấy không. Nhưng ông ấy có
quyền lực, và ông ấy có quân đội lớn và ông ấy là vị vua lớn. Phật không thể
nào chấp nhận được những điều vô nghĩa như vậy, con người biến chất như vậy, là
hoá thân của Thượng đế.
Phật là người rất trung thực.
Ông ấy nói, "Mọi tượng, mọi chùa chiền, tất cả Veda đều là bịa đặt của
giới tăng lữ ranh ma để khai thác mọi người." Làm sao ông ấy có thể bảo
người của ông ấy rằng họ có thể đạt tới chứng ngộ bằng xây tu viện, đúc tượng,
thắp hương, rải hoa, thắp đèn vĩnh cửu, công phu cả sáu thời kì ngày và đêm,
bước đi quanh stupas thường xuyên nhịn ăn và tôn thờ?
Phật chống lại tôn thờ, ông ấy
chống lại tượng. Lời cuối cùng của ông ấy trước khi chết là, "Lần nữa ta
nhắc các ông: đừng làm tượng ta, đừng tạo ra chùa chiền nhân danh ta, đừng bắt
đầu tôn thờ ta bởi vì việc tôn thờ không đưa các ông tới đâu cả. Ta đã chỉ ra
cho các ông con đường của thiền - thiền đi. Và cho dù trong việc thiền của các
ông ta xuất hiện, đừng ngần ngại. Lập tức chặt đầu ta đi." Một người có
thể nói điều này... bạn có cho rằng lời kinh này là có thể bắt nguồn từ người
đó không?
Bồ đề đạt ma có thể đơn giản đã
nói, "Đây không phải là lời của Phật." Nhưng ông ấy đã không nói điều
đó. Đó là nơi ông ấy đi xuống trong mắt tôi.
Ông ấy đã không nói điều đó bởi
vì ở Trung Quốc, Phật tử đang cố gắng làm nhiều tu viện, nhiều đền chùa, nhiều
tượng nhất có thể được. Một ngôi đền chùa tồn tại ở Trung Quốc với mười nghìn
tượng Phật. Cả một quả núi đã được khắc tạc như một ngôi đền chùa. Đây là ngôi
đền lớn nhất trên thế giới, nơi có mười nghìn tượng Phật, và nói bất kì điều gì
về điều này là không đúng sẽ là đi ngược lại chính các Phật tử, người đã làm
việc để cải đạo người Trung Quốc. Và họ đã nói chắc chắn cho người Trung Quốc
rằng họ sẽ trở nên chứng ngộ nếu họ nuôi dưỡng các sư, nếu họ tôn thờ Phật, nếu
họ đem quà cúng tiến cho tu viện.
Bồ đề đạt ma phải đã ngần ngại
một khoảnh khắc, nhưng cuối cùng ông ấy rơi vào cái bẫy của việc là một phần
của tôn giáo có tổ chức. Tôn giáo có tổ chức bao giờ cũng nhấn mạnh vào những
điều xuẩn ngốc mà không dẫn bạn đến đâu cả, nhưng chúng giúp cho tôn giáo có tổ
chức khai thác bạn; bằng không thì ai sẽ nuôi hàng triệu ni và tu sĩ Cơ đốc
giáo? Ai định chăm nom mọi chi phí cho hàng nghìn tu viện Cơ đốc giáo? Điều đó
phải được nhấn mạnh liên tục qua các buổi thuyết pháp của các linh mục vào mọi
chủ nhật, mọi người đều phải được nhắc nhở để cúng tiến, được nhắc nhở rằng,
"Cúng tiến sẽ đem lại cho con cứu rỗi." Cứu rỗi là từ Ki tô giáo để
chỉ chứng ngộ.
Các đệ tử này có thể thấy điều
đó, cho nên họ hỏi:
Nhưng nếu ngắm nhìn tâm trí bao
gồm mọi thực hành khác, thế thì những công việc như vậy sẽ dường như là thừa.
Nếu một phương pháp đơn giản để
ngắm nhìn tâm trí tạo ra chứng ngộ, thế thì cần gì tất cả những điều này? Đây
là tất cả những điều bắt nguồn từ tâm trí; chúng sẽ làm mạnh cho tâm trí. Nhưng
tất cả những điều bạn phải làm là làm yếu đi tâm trí, đi ra ngoài nó... vượt ra
ngoài tới mức nó không thể lấy bất kì năng lượng nào từ bạn và nó chết đi do
đói và chết đói. Và khi bạn không có tâm trí, mà chỉ là im lặng thuần khiết của
vô trí, bạn đã đạt tới chứng ngộ.
Các đệ tử này hoàn toàn đúng để
hỏi câu hỏi, "Bản thân thầy đã nói, 'Chỉ ngắm nhìn tâm trí và thế là đủ'.
Thế thì cần gì tất cả những nghi lễ này?" Bây giờ ông ấy bị tóm vào hoàn
cảnh mâu thuẫn*... Nếu ông ấy nói, "Những lời này không phải là từ
Phật", ông ấy chống lại Phật giáo Đại Thừa và ông ấy thuộc vào tông phái
đó.
Đó là lí do tại sao tôi nhấn
mạnh: Đừng thuộc vào bất kì giáo phái nào, bất kì tín ngưỡng nào, bất kì tôn
giáo nào, bằng không bạn không thể tuyệt đối cam kết với chân lí. Bất kì cam
kết nào khác đứng bên cạnh cam kết với chân lí đều nguy hiểm cả. Thế thì bạn
bằng cách nào đó cũng thích an ủi cam kết khác đó.
Và nếu một người như Bồ đề đạt
ma không thể đảm đương được việc nói ra chân lí, bởi vì ông ấy có thể thấy rằng
nếu ông ấy nói điều đó - và ông ấy là người chứng ngộ đầu tiên vào Trung Quốc -
nếu ông ấy nói điều đó, toàn thể dinh thự mà hàng nghìn sư Phật giáo đã tạo ra
trong sáu trăm năm, toàn thể bầu không khí mà bạn có thể trở nên được chứng ngộ
bởi việc tôn thờ Phật, bởi việc thắp hương, bởi việc cúng dường hoa, bởi việc
làm đền chùa, tượng, tu viện sẽ đơn giản rơi tõm, bởi vì không điều gì trong
chúng là chứng ngộ cả. Toàn thể Trung Quốc đang chờ đợi nghe điều thực tế là
chân lí từ một người chứng ngộ. Nhưng bởi vì ông ấy cũng thuộc vào một hãng
kinh doanh nào đó, nên ông ấy đã quyết định có lợi cho việc kinh doanh chứ
không có lợi cho chân lí.
* Nguyên văn: catch-22 - người
cần cái gì đó mà chỉ có thể thu được bằng việc không ở trong chính tình huống
đó.
Tôi bao giờ cũng kể lại một câu
chuyện nhỏ... Một trường nhỏ, trường Ki tô giáo, nhưng chỉ một trường ở
vùng phụ cận và trẻ nhỏ... Cô giáo đang nói với học sinh trong suốt một giờ,
"Jesus Christ là con người vĩ đại nhất đã từng bước trên trái đất
này." Và thế rồi cô ấy hỏi học sinh, "Ai là con người vĩ đại nhất đã
từng bước đi trên trái đất này?"
Một cậu bé người Mĩ nói,
"Abraham Lincoln". Cô giáo nói, "Không tồi, nhưng chưa hoàn toàn
đúng."
Một cô bé người Anh đứng dậy và
nói, "Winston Churchill". Người đàn bà này không thể nào tin được
mình đã phí hoài suốt một giờ để nhấn mạnh vào mỗi một điểm. Cô giáo nói,
"Không tồi, nhưng vẫn chưa hoàn toàn đúng."
Và thế rồi một cậu nhỏ chưa bao
giờ nói đứng dậy giơ tay lên. Cô giáo nói, "Con chưa bao giờ nói cả. Đây
là lần đầu tiên con giơ tay!" Và cô giáo sợ rằng chắc chắn câu trả lời của
cậu này sẽ không đúng. Nhưng đứa bé nói, "Jesus Christ." Cô giáo đã
bị choáng bởi hai câu trả lời trước đây, nhưng câu trả lời này thậm chí gây
choáng hơn bởi vì cậu bé này là người Do Thái.
Tan lớp cô giáo giữ cậu bé lại,
đưa nó sang bên cạnh và nói, "Hymie, con có phải là người Do Thái
không?"
Nó nói, "Dạ, có ạ."
"Thế con có thực nghĩ
Jesus Christ là con người vĩ đại nhất đã từng bước trên trái đất này
không?"
Nó cười ngặt nghẽo và nói,
"Kinh doanh là kinh doanh. Trong chỗ sâu nhất của trái tim con, con biết
Moses là người đó, không phải Jesus Christ. Ông ấy chỉ là người lùn thôi. Nhưng
kinh doanh là kinh doanh..." bởi vì có chiếc cúp lớn tặng cho người trả
lời đúng, và Hymie đang mang chiếc cúp lớn, lớn hơn bản thân nó.
Nhưng bạn có thể tha thứ cho
trẻ nhỏ. Và nó rất logic; nó phải đã nghĩ, "Có thành vấn đề gì nếu mình
nói một lần trước lớp, chỉ để thắng trò chơi này, 'Jesus Christ' mình biết qui
tắc cho ai sẽ thắng, cho nên tại sao lại đem Moses vào một cách không cần thiết
và nhận lấy thất bại làm gì? Tại chỗ sâu nhất trong trái tim mình mình biết
Moses là con người vĩ đại nhất đã từng bước trên trái đất này."
Nhưng ngay cả những người chứng
ngộ, khi đi tới việc quyết định giữa cam kết của họ với tôn giáo có tổ chức và
cam kết của họ với chân lí, vẫn quyết định cho cam kết của họ với tổ chức. Điều
này thực sự là buồn. Câu trả lời Bồ đề đạt ma nêu ra đơn giản không liên quan.
Nó chỉ là cố gắng làm cái gì đó mà có thể chứng minh rằng lời kinh này do Phật
nói ra.
Tôi tuyệt đối phủ nhận rằng một
phát biểu như vậy do Phật nói ra. Điều đó đi ngược lại chính cuộc sống của ông
ấy, chính giáo huấn của ông ấy, chính con đường của ông ấy.
Bồ đề đạt ma nói, Lời kinh của
Phật chứa vô lượng biểu dụ.
Bây giờ bạn có thể thấy mẹo này
không? Bây giờ ông ấy không thể nói nó là sai và ông ấy không thể nói nó là
đúng.
Ông ấy tìm con đường giữa và
nói rằng Phật đang nói theo biểu dụ.
Bởi vì người hữu tử có tâm trí
nông cạn...
Và ông ấy đang nói với ai - với
người hữu tử hay bất tử? Nếu thính giả của Phật có tâm trí nông cạn, liệu Bồ đề
đạt ma có nghĩ rằng thính giả của mình có trạng thái cao hơn không? Phật có lẽ
đã có những thính giả thông minh nhất so với bất kì người nào đã từng có. Bồ đề
đạt ma đang nói với các Phật tử mới được chuyển đạo.
Phật dùng cái thấy được để biểu
thị cho cái siêu phàm.
Đây là mẹo, và không thể tha
thứ được.
Những người tìm kiếm phúc lạc
bằng việc tập trung vào những công việc ngoài thay vì trau dồi bên trong là
đang cố gắng điều không thể được.
Nhưng ông ấy biết chân lí, cho
nên thỉnh thoảng nó tới mặc cho nỗ lực của ông ấy kìm nén nó và đi với đám đông
và với tâm trí quần chúng. Điều này là đúng khi ông ấy nói... tập trung vào
những công việc ngoài thay vì trau dồi bên trong là đang cố gắng điều không thể
được.
Nhưng đó là điều kinh này nói;
bây giờ cách duy nhất là làm cho nó thành biểu dụ.
Điều ông gọi là tu viện, chúng
ta gọi là sangharama, chỗ của thuần khiết.
Điều đó là tuyệt đối sai.
Sangharama đích xác là tu viện; nó không khác với tu viện; nó không phải là
biểu dụ. Và thậm chí trong hai nghìn năm qua, hàng nghìn tu viện đã tồn tại ở
Trung Quốc. Chỉ có từ cuộc cách mạng cộng sản ba mươi năm trước đây mà nhiều tu
viện đã bị phá đi; bằng không hàng triệu sư vẫn
sống trêng máu của nhân dân. Nhưng họ đang quay
trở lại rồi...
Chính là tâm trí cộng sản và
phát xít, ương ngạnh, rất cứng rắn của Mao Trạch Đông đã biến các tu viện thành
bệnh viện, thành trường học và buộc các sư phải ra đồng và làm việc. Mao đã
chấm dứt việc ăn xin - và Phật giáo đã chỉ sống bằng ăn xin. Thực ra việc ăn
xin đã là một kỉ luật, một thực hành, bởi vì nó làm cho bạn khiêm tốn. Nhưng
Mao đã làm cho việc ăn xin thành bất hợp pháp và buộc các sư phải làm việc để
kiếm cơm ăn, áo mặc, chỗ ở.
Bây giờ Mao đã chết và kẻ thù
của ông ấy trong đảng cộng sản - người ông ấy đã không cho phép... nhiều người
trong số họ bị tống giam, nhiều người đã bị giết - đã quay trở lại quyền lực.
Bây giờ đảng đối lập bên trong bản thân đảng cộng sản đã nắm quyền và nó muốn
thu phục trái tim mọi người. Các tu viện lại quay trở lại bởi vì hai nghìn năm
của Phật giáo không thể bị xoá đi dễ dàng đến thế. Bây giờ các sư Phật giáo lại
có thể được thấy với bình bát ăn xin của họ. Các bệnh viện kia đã được bỏ đi,
các trường học kia đã bị bỏ đi, và các sư không bị buộc phải làm việc trên cánh
đồng, hay trong xưởng máy, hay ở bất kì đâu mà họ có thể được dùng...
Nhưng bất kì ai từ chối đưa vào
ba chất độc và bế cổng các giác quan của mình cho thuần khiết, thân thể người
đó và tâm trí người đó tĩnh lặng, bên trong và bên ngoài sạch bong, đều là xây
dựng tu viện.
Bây giờ đây là ý tưởng rất
cường điệu. Và nếu Bồ đề đạt ma có thể giải thích nó cho những ứng cử viên rất
mới của Phật giáo, tại sao bản thân Phật không thể đã nói rằng ông ấy đang nói
trong biểu dụ? Ông ấy có thể tự mình giải thích điều đó chứ, và ông ấy còn là
người giỏi hơn nhiều khi có liên quan tới việc nói, nói giỏi hơn nhiều; ông ấy
có thể giải thích rằng đây chỉ là biểu dụ. Nhưng không có đâu ông ấy nhắc tới
chúng là biểu dụ cả. Thật là rất gian nan cho Bồ đề đạt ma để biến mọi thứ
thành biểu dụ, nhưng chúng ta sẽ thấy rằng với mọi thứ ông ấy cứ tiếp tục cái ý
tưởng rằng chúng là biểu dụ.
Đúc tượng nói tới mọi thực hành
được trau dồi bởi những người tìm kiếm chứng ngộ...
Tôi không thể nào hiểu nổi làm
sao điều này lại có thể là biểu dụ được. Đúc tượng nói tới mọi thực hành được
trau dồi bởi những người tìm kiếm chứng ngộ. Mối quan hệ gì, cho dù là mối quan
hệ cường điệu hoá...? Biểu dụ phải mang tính đại diện; nó phải giải thích cái
gì đó, nó phải có ích để hiểu. Điều này không liên quan chút nào với đúc tượng
và thực hành chứng ngộ! Bản thân Phật không thể nói "Thực hành chứng
ngộ" được sao?
Và thắp hương không có nghĩa
hương vật chất thông thường - dường như ở đâu đó có sẵn hương tâm linh nào đó -
mà là hương của Pháp không thấy được... Bạn sẽ kiếm nó từ đâu? Đó là lí do tại
sao tôi nói tôi bị tổn thương khi nói rằng Bồ đề đạt ma dường như đã bị lão
suy, mặc dầu ông ấy chỉ bẩy mươi nhăm... cái xua đi những hành vi thô bỉ, dốt
nát và ác độc theo hương của nó...
Vĩ đại thật! Nhưng kiếm nó từ
đâu? cái hương tâm linh đó xua đi những hành vi thô bỉ, dốt nát và ác độc theo
hương của nó... Không ai đã bao giờ thấy một điều như vậy; bằng không cuộc sống
đã đơn giản thế. Không cần làm bận tâm mọi người bằng thiền, bằng bất kì kỉ
luật nào, với bất kì nhận biết nào. Chỉ đốt hương tâm linh và mọi thứ được lái
đi và bạn được làm thuần khiết bởi hương!
Một mình tôi sẽ không được
chứng ngộ bởi vì tôi dị ứng với hương, dù nó là thấy được hay không thấy được.
Nhưng cũng không có hại gì nhiều nếu một người không chứng ngộ, điều đó có thể
tha thứ được nếu cả thế giới sẽ chứng ngộ! Tôi hoàn toàn sẵn sàng...
Bồ đề đạt ma thậm chí không
nhận biết ông ấy có thể lừa mọi người được bao lâu, nhưng ông ấy đã lừa họ
trong một nghìn năm... đó là chiều dài mà những lời kinh này đã tồn tại trong
sự tồn tại. Chúng chắc chắn đã được gìn giữ, bởi vì chúng ở trong tay các Phật
tử Đại Thừa, người không sẵn lòng cho dịch chúng ra. Và tôi có thể hiểu bây giờ
tại sao họ lại không sẵn lòng cho dịch chúng: chúng sẽ phá huỷ hình ảnh vĩ đại
của Bồ đề đạt ma. Bản thân họ có thể đã hiểu rằng điều ông ấy đang nói tới là tuyệt
đối kì dị.
Khi Phật ở trong thế giới này,
ông ấy bảo các đệ tử của mình thắp sáng hương quí giá như thế bằng ngọn lửa của
nhận biết xem như việc cúng dường chư phật mười phương.
Điều đó có thể quí giá, nhưng
nó có sẵn ở đâu? Và thế rồi ông ấy làm cho nhận biết giống như lửa chỉ để đốt
hương này, và hương này sẽ làm mọi thứ... bạn sẽ trở nên chứng ngộ. Cho nên bây
giờ tìm kiếm duy nhất của bạn là để tìm ra cái hương-pháp đó, cái hương tâm
linh đó! Có lẽ bạn có thể tìm thấy nó ở Poona... đó là thành phố rất tâm linh -
tâm linh tới mức chỉ có các linh hồn vẩn vơ xung quanh, không có người sống.
Nhưng những người ngày nay
không hiểu ý nghĩa thực của Như Lai.
Chỉ Bồ đề đạt ma hiểu ý nghĩa
thực của Như Lai. Có lẽ bản thân Như Lai cũng không hiểu nghĩa thực riêng của
ông ấy!
Họ dùng ngọn lửa thường để thắp
sáng hương vật chất của gỗ đàn hương hay hương trầm để hi vọng phúc lành tương
lai nào đó mà không bao giờ tới cả.
Ông ấy cứ đi vòng vo, vòng
vo... ông ấy có thể đã đơn giản nói, "Phát biểu này không phải là của
Phật, và phát biểu này là tuyệt đối vô nghĩa." Và điều đó sẽ tuyệt đối
đúng đắn.
Với việc rải hoa cũng điều đó
là đúng. Điều này nói tới việc nói Pháp, hay tới việc rải hoa đức hạnh.
Làm sao bạn rải hoa đức hạnh?
Cho dù người ta có chấp nhận cách giải thích ngu xuẩn này, làm sao bạn rải hoa
đức hạnh? Bạn cứ đem cho mọi người bằng việc nói, "Đây là chân lí, đây là
tình yêu, đây là từ bi," và tay bạn trống rỗng.
Hai người điên trong nhà thương
điên đang ngồi trong công viên. Mỗi ngày trong một giờ họ được phép đi ra vườn.
Một người, người đang nắm tay lại, hỏi người kia, "Nếu anh nói cho tôi tôi
đang giữ gì trong nắm tay, tôi sẽ cho anh một ru pi."
Người kia nói, "Thật à?
Anh sẽ giữ lời chứ" Người thứ nhất lấy một ru pi ra từ ví và nói,
"Đây là một ru pi. Cứ nói xem cái gì trong tay tôi?" Và người kia
nhìn và nói, "Dường như nó là con voi."
Người thứ nhất "Anh không
thể được một ru pi đâu. Dường như là anh đã nhìn rồi. Anh bị mắc mẹo rồi."
Người đó không đưa một ru pi bởi vì anh ta cũng tin là mình đang giữ con voi
trong nắm tay mình!
Làm sao bạn có thể rải hoa đức
hạnh, để làm lợi cho người khác và làm vinh quang cho cái ta thực... Nếu ông
nghĩ Như Lai có nghĩa với mọi người là làm hại cây cối bằng việc cắt nụ của
chúng đi, ông sai.
Điều này dường như phải, nhưng
ông ấy trộn lẫn mọi thứ theo cách làm nó mất hết cả mọi ý nghĩa. Chắc chắn Phật
không thích bạn hái hoa; đó là giết hại. Hoa trên bụi hồng có cuộc sống, cái
đẹp. Khoảnh khắc bạn hái nó, nó chết. Để nó đấy đi.
Mukta là người làm vườn của
tôi. Cô ấy không được phép thậm chí cắt đi bất kì lá nào hay cắt bất kì hoa
nào. Ban đầu cô ấy hay đi với chiếc kéo của thợ vườn giấu sau lưng! Nhưng ngay
bây giờ tôi có thể thấy, bất kì khi nào tôi vào Phòng Phật - bằng không tôi
không ra - tôi có thể thấy hoa có đó, tôi có thể thấy vườn đã trở thành rừng
rậm để cho cô ấy phải vứt cái kéo người làm vườn ấy đi. Để cho mọi cây cối phát
triển theo cách riêng của nó, ít nhất là trong vườn tôi! Đừng làm chết cây nào,
đừng phá huỷ bất kì hoa sống nào.
Cho nên tôi có thể hiểu rằng
Phật sẽ không cho phép cắt nụ của chúng, nhưng thay vì thế tôi sẽ nói rằng toàn
thể lời kinh này đã được phái Đại Thừa thêm vào. Nhưng tại sao phái Đại Thừa
lại phải thêm những điều như vậy vào...?
Có điều gì đó rất nền tảng cần
được hiểu ở đây. Khi Phật Gautam làm việc trong đất nước này, hai mươi nhăm thế
kỉ trước đây, ông ấy gần như đã chuyển đạo cho cả mảnh đất này. Ông ấy là con
người của sức thu hút như vậy. Ông ấy không chỉ là người có học; ông ấy đã biết
sự tồn tại, ông ấy đã là một phần của nó. Tác động của ông ấy là cực kì lớn -
có lẽ không ai khác đã làm được tác động như vậy.
Nhưng khoảnh khắc ông ấy chết,
các brahmin, các tu sĩ bước ra từ sào huyệt của mình, nơi họ đã từng ẩn náu bởi
vì họ có thể không đối diện được với Phật Gautam - bất kì ai đối diện với ông
ấy đều trở thành đệ tử. Nhưng họ đã chờ đợi cơ hội của họ: một ngày nào đó ông
ấy sẽ chết đi. Ông ấy đã phá huỷ toàn thể nghề nghiệp của họ. Bây giờ không
chuông nào rung lên trong đền chùa, mọi người không tới tôn thờ, mọi người
không mời các brahmin tới các buổi nghi lễ của họ... và brahmin là giới tăng lữ
ranh ma nhất trên toàn thế giới.
Mọi người bị bắt... mỗi người
khi người đó được sinh ra đều ngay lập tức dưới dự kiểm soát của họ: ban đầu là
nghi lễ nào đó, thế rồi sơ đồ sinh của người đó phải được tạo ra, thế rồi lễ
đặt tên của người đó phải được thực hiện. Và trong tất cả những điều này, tu sĩ
đang khai thác mọi người. Thế rồi cạo đầu... và điều này cứ tiếp diễn mãi. Thậm
chí nếu bạn đi sang một thành phố khác nào đó thì bạn phải hỏi ý kiến brahmin
về chòm sao đúng của các ngôi sao, liệu đi lên bắc hay xuống nam, hay sang đông
sang tây, cái gì là thích hợp nhất và lợi thời gian nhất?
Thế rồi tới hôn nhân - thế rồi
lần nữa tu sĩ lại có đó. Và thế rồi sau hôn nhân, trẻ con bắt đầu tới từ hôn
nhân mới - và tu sĩ có đó. Và thế rồi con người trở nên già... Từ cái nôi tới
nấm mồ, tu sĩ giữ năm giữ của ông ta.
Ngay cả sau khi con người đã
chết vẫn có các nghi lễ cần phải được thực hiện! Và trong nước nghèo, những
nghi lễ này tốn kém đến mức mọi người phải bán nhà cửa, đất đai, tài sản của
mình - những thứ mà họ phụ thuộc vào để sống - bởi vì bố họ đã chết. Thế rồi họ
phải làm tiệc lớn cho các brahmin.
Và ngay cả những tổ tiên đã
chết... Đấy phải là một hàng dài, thực ra hàng dài vô tận - hàng triệu người
sắp hàng người nọ tiếp người kia... vì họ đã có một thời gian đặc biệt. Một
tháng ròng họ dành cho tổ tiên bởi vì con số lớn thế, cho nên một tháng nghi lễ
liên tục - thờ lửa, tụng mật chú - vì an bình cho tất cả những người đã chết trong
gia đình ... bạn thậm chí không biết tới tên họ! Và hàng triệu người phải đã
chết.
Các nhà khoa học tính toán rằng
bất kì chỗ nào bạn đang ngồi, ít nhất cũng đã có tám nấm mồ ở dưới bạn. Chớ sợ,
họ đều đã chết rồi! Nhưng biết bao nhiêu người đã chết; thậm chí cả nghìn năm
sau khi con người đã chết, các tu sĩ vẫn còn khai thác bạn.
Phật đã tạo ra một cuộc cách
mạng vô cùng theo nghĩa này, trong đó ông ấy đã phá huỷ toàn thể tính trọn vẹn
của giới tăng lữ. Nhưng khoảnh khắc ông ấy chết, các tu sĩ quay lại.
Mọi người cũng bỏ họ. Cuộc sống
đã trở thành rất đơn giản. Một đứa trẻ được sinh ra - không tu sĩ nào tụng về
phúc lạc, về sống lâu cho nó. Ai dó chết và tu sĩ không có đó để tụng và cầu
phúc cho người đó về cuộc hành trình lớn mà người đó đã đi tiếp. Mọi người cũng
bỏ tất cả những thánh lễ này. Cho nên khi Phật chết, dần dần các brahmin quay
lại, và họ bắt đầu lái Phật giáo ra khỏi mảnh đất này.
Mới năm mươi năm trước đây ở Ấn
Độ khó mà tìm thấy một Phật tử. Trong năm mươi năm qua, một người đã làm việc
phục vụ vĩ đại - mặc dầu bản thân người đó không phải là người tôn giáo, người
đó là một chính khách. Nhưng bởi ngẫu nhiên mà người đó đã phải làm điều gì đó;
đó là chiến thuật chính trị.
Babasaheb Ambedkar là một tiện
dân, nhưng được lọt vào mắt của một người rất giầu có, người này thấy ông ta
thông minh thế, nên đã gửi ông ta sang học ở Anh. Ông ta trở thành một trong
những chuyên gia lớn nhất về luật trên thế giới và ông ta đã giúp làm ra hiến
pháp Ấn Độ. Ông ta liên tục tranh đấu cho tiện dân, những người mà ông ta thuộc
vào, và đó là một phần tư xã hội Hindu. Ông ta muốn việc bầu cử tách biệt cho
tiện dân - và ông ta đã tuyệt đối đúng.
Tôi không thấy tại sao họ lại
phải thuộc về nhóm Hindu đã hành hạ họ trong suốt mười nghìn năm, buộc họ làm
đủ mọi loại công việc xấu xa và gần như không trả cho họ cái gì. Họ thậm chí
còn không được sống trong các thành phố, họ phải sống bên ngoài thành phố. Ngay
trước khi tự do, họ đã không được phép đi vào nhiều phố của thành phố này. Ở
nhiều chỗ họ bị buộc phải công bố to, "Tôi là tiện dân và tôi đang đi qua
đây. Những ai nghe thấy tôi xin hãy lánh ra khỏi đường..." bởi vì thậm chí
cái bóng của họ rơi vào bạn làm ô uế bạn.
Nhưng không tìm thấy cách nào,
bởi vì Mahatma Gandhi đã nhấn mạnh rằng tiện dân không nên rời bỏ nhóm Hindu...
Đó cũng là một chiến lược chính trị, bởi vì nếu một phần tư người Hindu rời bỏ
nhóm mình, thế thì Hindu sẽ trở thành thiểu số trong chính nước mình. Có người
Mô ha mét giáo, có người Ki tô giáo, có người Jaina giáo; bây giờ nếu một nhóm
mới thoát ra khỏi nhóm Hindu, đất nước của người Hindu sẽ trở thành gần như là
đất nước của các tôn giáo khác. Và nếu họ tất cả hợp với nhau, người Hindu sẽ
không bao giờ nắm quyền lực cả.
Tôi không coi Mahatma Gandhi là
người tôn giáo nữa; ông ấy thuộc về một loại nào đó như tiến sĩ Ambedkar.
Gandhi cứ nhịn ăn cho tới chết để cho Ambedkar phải lấy lại chỗ đứng của ông
ấy. Ông ấy phải rút lui cái ý tưởng rằng tiện dân nên được trao cho việc bỏ
phiếu tách biệt. Và Gandhi láu cá... ông ấy bắt đầu gọi tiện dân là
harijans. Những người tinh ranh bao giờ cũng chơi chữ. Chữ không tạo ra khác
biệt - dù bạn gọi họ là tiện dân, hay harijan... harijan có nghĩa là "con
của Thượng đế."
Tôi đã có cuộc thảo luận dài
với con của Mahatma Gandhi, Ramdas. Tôi nói, "Ông không thấy cái tinh ranh
đó sao? Con của Thượng đế đã đau khổ mười nghìn năm nay và những người không
phải là con của Thượng đế đang bóc lột họ, hành hạ họ, áp bức họ, hãm hiếp phụ
nữ của họ, đốt cháy hoàn toàn các thành phố của họ với tất cả những người đang
sống bên trong. Nếu đây là con của Thượng đế, tốt hơn cả là đừng là con của
Thượng đế. Điều đó là nguy hiểm."
Gandhi đã đổi tên chỉ để cho nó
có ý nghĩa đẹp, nhưng mọi thứ bên trong vẫn còn như cũ. Và ông ấy cứ nhịn đói
đến chết chừng nào Ambedkar còn chưa chịu rút lại phát biểu của mình.
Nếu như tôi ở vào vị trí của
Ambedkar tôi sẽ nói với Mahatma Gandhi, "Sống hay chết đấy là việc của
ông. Ông muốn nhịn ăn hay không đấy là việc của ông - ông được tự do. Nhịn ăn
đến chết hay thậm chí vượt ra ngoài."
Nhưng Ambedkar bị sức ép từ
khắp nơi trong nước, bởi vì nếu Gandhi chết toàn thể sự trách móc sẽ dồn vào
Ambedkar. Và tôi sẽ bảo Gandhi, "Đây là phương pháp rất bạo lực, còn ông
thì lại nói về bất bạo lực. Đây mà là bất bạo lực sao?"
Chuyện xảy ra... Tôi ở Raipur
dậy học tại một đại học tiếng Phạn ở đó. Một cô gái trẻ rất xinh đẹp đã bị một
tên đầu trộm đuôi cướp hỏi liệu cô ấy có muốn lấy nó hay không. Nó là một người
nguy hiểm, kẻ tội phạm. Nó đã bị tù nhiều lần, nó đã phạm phải nhiều tội ác, và
nó gần như cùng tuổi với bố của cô ấy. Nhưng nó đã yêu mến cô ấy, và khi thấy
thành công của Gandhi khi nhịn ăn đến chết và cách thức ông ta xoay xở mọi
điều... bởi vì Gandhi đã xoay xở được Ambedkar.
Sau khi Gandhi đã nhịn ăn được
hai mươi mốt ngày, và cái chết của ông ấy đã bắt đầu tới nhanh, bác sĩ nói,
"Làm điều gì đó đi, bằng không thì ông già này sẽ qua
đời." Ambedkar bị gây sức ép rất nhiều bởi mọi lãnh tụ dân tộc Ấn Độ người
nói với ông ấy, "Tới Mahatma Gandhi đi. Hỏi xin ông ấy tha thứ đi, đưa cho
ông ấy cốc nước cam để phá vỡ việc nhịn ăn... và từ bỏ phong trào của ông đi;
bằng không ông bao giờ cũng được mọi người nhớ là một người đã giết chết con
người vĩ đại nhất của đất nước này, người tôn giáo vĩ đại nhất." Và
Ambedkar đã phải làm điều đó, mặc dầu bất đắc dĩ.
Tôi sẽ không làm điều đó đâu!
Tôi sẽ chấp nhận trách móc, tôi sẽ chấp nhận kết án của lịch sử. Ai quan tâm
khi bạn chết điều gì được ghi trong lịch sử về bạn? Ít nhất bạn không biết cái
gì được viết ra, và bạn không đọc. Cứ để cho họ viết ra bất kì cái gì...
Nhưng tôi sẽ nhấn mạnh rằng đây
không phải là phương pháp bất bạo lực. Nó tuyệt đối bạo lực nhưng theo một cách
rất tinh vi. Tôi đe doạ giết bạn - đây là bạo lực. Và tôi đe doạ giết tôi nếu
bạn không chấp nhận tôi - điều này logic không? Quan điểm mà Gandhi chọn là
tuyệt đối phi logic, nhưng ông ấy đã hỗ trợ nó bằng việc đe doạ. Đấy là hăm doạ
nói, "Tôi sẽ tự giết mình."
Ambedkar xoay xở theo cách
khác. Ông ta bắt đầu chuyển đổi các tiện dân sang Phật giáo. Đó là lí do tại
sao bây giờ có vài chục vạn Phật tử, nhưng họ không là tôn giáo theo bất kì
cách nào. Đấy chỉ là thủ đoạn chính trị.
Người này ở Raipur tới nhà cô
gái đó với một cái giường và tuyên bố rằng nếu cô gái không cưới nó, nó sẽ nhịn
ăn cho tới chết. Điều đó trở thành chuyện kể trong cả thành phố; các nhà nhiếp
ảnh và nhà báo có đó, và cả ngày đám đông có đó.
Người bố trở nên sợ hãi, và sức
ép dồn lên ông ấy, "Tại sao nhận trách nhiệm về cái chết của nó?"
Nhưng người bố nói, "Điều này tuyệt đối xấu. Người này cùng tuổi tôi và nó
là kẻ tội phạm. Tôi không thể trao con gái tôi cho nó được."
Tôi biết người bố và cô gái -
cô gái là sinh viên của tôi tại đại học. Cô gái gợi ý cho bố mình tới tư vấn
tôi về điều gì cần phải làm. Tôi không biết ông ấy trước đó. Ông ấy tới tôi và
ông ấy kể lại toàn thể câu chuyện. Tôi nói, "Chuyện này rất đơn giản. Ông
tìm một gái mãi dâm già, tàn tạ nào đó."
Ông ta nói, "Cái gì?"
Tôi nói, "Nghe toàn thể
vấn đề: ông đi tìm một gái mãi dâm rất già, một mụ lẳng lơ tàn tạ, và đặt một
cái giường khác ở trước nhà. Mụ lẳng lơ này nên tuyên bố, 'Tôi sẽ nhịn ăn cho
tới chết chừng nào người thanh niên này không lấy tôi.' Khác hơn điều này không
cái gì có tác dụng cả."
Tay trộm cướp đó trốn ngay giữa
đêm. Người ta không bao giờ gặp lại nó nữa, nó không bao giờ hỏi lại nữa! Đây
là phương pháp luận của Gandhi, một điều rất tôn giáo.
Các Phật tử bị thiêu chết, bị
tống ra khỏi đất nước, và cả nước tuyệt đối sạch bóng mọi tác động mà Phật đã
để lại. Thậm chí trong cái đền đã được dựng lên để ghi nhớ về chứng ngộ của ông
ấy tại Bodhgaya, thậm chí không còn Phật tử nào để chăm nom ngôi đền. Một
brahmin đã chăm nom nó trong hai nghìn năm, cùng một gia đình, thế hệ nọ tiếp
thế hệ kia.
Bây giờ họ đã trở thành người
chủ của ngôi đền. Họ không tin vào Phật. Họ chống lại Phật, nhưng ngôi đền là rất
quí giá, bởi vì từ khắp trên thế giới mọi người đổ tới ngôi đền này. Nhiều tiền
của đổ tới ngôi đền, cho nên tu sĩ này không bận tâm. Ông ta kiếm nhiều tiền và
ông ta không sẵn lòng trao ngôi đền cho người khác, bởi vì trong hai nghìn năm
nó đã là sở hữu của ông ta. Không luật nào có thể lấy nó đi khỏi ông ta.
Cho nên khi Phật tử tới Trung
Quốc và Tây Tạng họ đã học được bài học, rằng nếu bạn cứ chống lại mọi người và
tín ngưỡng của họ... Có lẽ khi người có sức lôi cuốn còn sống bạn có thể dường
như thắng trong trò chơi này, nhưng khi người có sức lôi cuốn đó qua rồi...
điều đã xảy ra ở Ấn Độ, sẽ xảy ra ở Tây Tạng, sẽ xảy ra ở Trung Quốc, sẽ xảy ra
ở Sri Lanka, sẽ xảy ra ở Nhật Bản. Cho nên họ đã thoả hiệp.
Đó là lí do cho việc thêm vào
tất cả những lời kinh sai. Kinh sách Phật giáo ở Tây Tạng có lời kinh khác, để
an ủi và thuyết phục dân cư Phật giáo của Tây Tạng; kinh Đại Thừa Trung Quốc có
khác, ở Sri Lanka họ có kinh khác. Đây là lí do lịch sử tại sao những lời kinh
tuyệt đối ngớ ngẩn đó, điều không phải là của Phật, đã đi vào trong kinh sách.
Họ đã cố ý đặt nó vào, bởi vì không có chúng, không có vấn đề về sống còn.
Nhưng khi có liên quan tới tôi,
cũng như khi đáng phải có liên quan tới Bồ đề đạt ma, chân lí là có giá trị tối
thượng, không phải sự sống còn. Và sự sống còn bởi việc tạo nên dối trá, bằng
việc bóp méo chân lí... phỏng có ích gì? Cho dù Phật giáo có biến mất khỏi toàn
thể thế giới này, điều đó cũng không thành vấn đề. Nhưng sự thuần khiết của
những phát biểu của Phật nên được gìn giữ.
Bất kì khi nào người tìm
kiếm muốn tìm, người đó không nên bị lạc trong rừng rậm của các kỉ luật, nghi
lễ không cần thiết. Bồ đề đạt ma nên làm điều đó thành rõ ràng. Tôi biết mối
nguy cơ này. Tôi hiểu rằng ông ấy phải cảm thấy rất mặc cảm, bởi vì sau những lời
kinh này, ông ấy đã rời khỏi Trung Quốc để lên Himalayas. Ông ấy đã phải cảm
thấy cực kì tổn thương rằng điều ông ấy đã làm chống lại hiểu biết riêng của
ông ấy. Nhưng dẫu sao tôi không thể nào tha thứ cho ông ấy được. Tôi không thể
nào tha thứ cho bất kì ai đi ngược lại chân lí.
Những người gìn giữ giới luật
không làm tổn thương bất kì dạng sống quí giá nào của thiên đường và trái đất.
Nếu ông có lầm lẫn làm tổn thương cái gì đó, ông sẽ đau khổ vì nó. Nhưng những
người chủ ý vi phạm giới luật bằng việc làm tổn thương cái sống với mục đích
được phúc lành trong tương lai phải chịu đau khổ nhiều hơn. Làm sao họ có thể
để cho phúc lành đáng có biến thành nỗi sầu được?
Ngọn đèn vĩnh hằng biểu thị cho
nhận biết hoàn hảo.
Chỉ trong phát biểu này mà biểu
dụ mới dường như là đúng. Nó có thể được diễn giải như nhận biết hoàn hảo, ngọn
đèn vĩnh hằng. Nhưng ông ấy không có khả năng kể lại biểu dụ khác theo cách
diễn giải của mình.
... Rất lâu trước đây, đã có vị
Phật tên là Dipamkara, hay Người thắp đèn. Đây là ý nghĩa của tên ông ấy... Ánh
sáng do vị phật phát ra từ một xoáy giữa trán của ông ấy có thể chiếu sáng vô
lượng thế giới. Đèn dầu không ích gì...
Việc công phu cả sáu thời kì
ngày và đêm có nghĩa là trong sáu giác quan thường xuyên trau dồi chứng ngộ và
gìn giữ trong mọi dạng của nhận biết. Không bao giờ kiểm soát thảnh thơi trên
sáu giác quan, là điều được ngụ ý bởi sáu thời kì.
Nhưng điều này là mâu thuẫn với
phát biểu riêng của ông ấy. Kiểm soát là không cần thiết bởi vì nó là qua tâm
trí. Công phu là không cần thiết bởi vì nó là qua tâm trí. Người ta phải sống
cuộc sống của buông bỏ - đó là giáo huấn cơ bản của ông ấy. Người ta phải tự
phát. Người ta phải sống khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia, không nghĩ về quá
khứ, không nghĩ về tương lai, không níu bám lấy hiện tại.
Ông ấy đã đưa ra những lời kinh
hay thế, và đến cuối ông ấy làm hỏng công trình riêng của mình một cách toàn
bộ.
Còn với việc bước quanh stupas,
stupas là thân thể và tâm trí ông. Khi nhận biết của ông đi quanh thân thể và
tâm trí ông không dừng, điều này được gọi là bước quanh stupa...
Ông ấy đang cố gắng xoay xở
bằng cách nào đó, cho dù toàn thể sự việc là ngu xuẩn thế. Stupas thực tế tồn
tại và các Phật tử của phái Đại Thừa cứ đi hành hương về stupa và đi quanh
chúng. Nhưng thân thể và tâm trí bạn không phải là stupa. Stupa là để dành cho
khi bạn chết; thế thì nấm mồ phải được tạo ra cho bạn. Nấm mồ của Phật tử được
gọi là stupa. Nó được làm thành tròn theo cách nào đó.
Nhưng thân thể và tâm trí bạn
là sống. Và làm sao tâm thức bạn có thể đi quanh thân thể và tâm trí bạn được?
Ông ấy thậm chí không xem xét rằng tất cả những diễn giải của ông ấy đều có thể
bị đặt câu hỏi. Chúng đã không bị đặt câu hỏi bởi vì chúng ai ủi mọi người. Họ
muốn cái gì đó thấy được và nếu nó là một biểu dụ - không hại gì; ông ấy không
phủ nhận Phật Gautam.
Cùng điều đó cũng đúng cho việc
gìn giữ nhịn ăn...
Ngay cả một con người với rất
ít thông minh cũng có thể thấy cái ngu xuẩn này...
Nhịn ăn nghĩa là... điều hoà
lại thân thể và tâm trí ông.
Tôi không thể nào quan niệm nổi
làm sao nhịn ăn có thể có nghĩa là điều hoà lại thân thể và tâm trí ông để cho
chúng không làm phân tán hay rối loạn. Nhin ăn đơn giản là nhịn ăn, và không
cái gì khác.
Cũng thế, một khi ông dừng việc
ăn thức ăn ảo tưởng, nếu ông chạm tới nó lần nữa, ông sẽ phá vỡ việc nhịn ăn
của ông.
Bây giờ ông ấy đã quên mất điều
ông ấy vừa nói. Thực ra, bởi vì việc nói đó không tới từ bản thể bên trong nhất
- đấy chỉ là luyện tập tâm trí của ông ấy - nên ông ấy đã quên mất rằng ông ấy
đã định nghĩa thân thể và tâm trí là 'stupa' và rằng ông ấy đã định nghĩa nhịn
ăn là, 'điều hoà lại thân thể ông, lập kỉ luật cho thân thể ông.'
Bây giờ từ đâu mà cái ý tưởng
này tới: một khi ông dừng việc ăn thức ăn ảo tưởng? Đấy không phải là trong
chính định nghĩa của biểu dụ này. Thức ăn đã không được mang vào.
Nếu bạn dừng ăn thức ăn ảo
tưởng... Và có thức ăn nào mà không là ảo tưởng? Phật cũng ăn cùng bánh mì như
bạn ăn và Phật cũng uống cùng nước như bạn uống.
... nếu ông chạm tới nó lần
nữa... Thậm chí không ăn, mà chỉ chạm tới và nó là ảo tưởng! Hại gì có đó trong
việc chạm vào ảo tưởng? Ảo tưởng không tồn tại, bạn không thể chạm vào nó được.
Nhưng ông chạm tới nó lần nữa, ông sẽ phá vỡ việc nhịn ăn của mình. Ông ấy đã
quên mất biểu dụ mà ông ấy đã giải thích trước đây. Bây giờ, cho dù bạn chạm
vào thức ăn ảo tưởng, bạn đã phá vỡ việc nhịn ăn của mình.
Và một khi ông phá vỡ nó, ông
không gặt hái gì được phúc lành từ nó. Thế giới đầy những người bị ảo tưởng
không thấy điều này. Họ mê đắm thân thể và tâm trí mình theo đủ mọi cách quái
quỉ. Họ buông bỏng cho sự đam mê của mình và không xấu hổ. Và khi họ dừng ăn
thức ăn thông thường, họ gọi đấy là nhịn ăn. Ngớ ngẩn làm sao!
Tôi chỉ đồng ý với câu cuối:
Ngớ ngẩn làm sao!
Điều ấy cũng tương tự như việc
tôn thờ. Ông phải hiểu nghĩa và chấp nhận điều kiện. Nghĩa bao gồm hành động và
vô hành động...
Ông ấy chỉ cố gắng lừa dối mọi
người - đem vào những lời không có liên quan chút nào.
Tôn thờ nghĩa là tôn kính và
khiêm tốn.
Điều đó đúng. Nó có nghĩa là
trao lại cái ta thực của ông và hạ thấp ảo tưởng. Nhưng nếu bạn biết cái ta
thực của mình, bạn sẽ tìm thấy ảo tưởng ở đâu? Cả hai không thể tồn tại cùng
nhau. Hoặc là bạn thức - thế thì mơ là không có đó nữa - hoặc là mơ có đó và
bạn không thức tỉnh. Người biết tới cái ta thực của mình không có ảo tưởng.
Nhưng ông ấy đã lâm vào đống lộn xộn và ông ấy cố gắng vất vả để thoát ra khỏi
nó, nhưng ông ấy lún ngày càng sâu hơn vào trong nó.
Nếu ông có thể chùi sạch các
ham muốn ác và nuôi dưỡng ý nghĩ tốt, ngay cả không cái gì được gieo, đấy là tôn
thờ...
Ban đầu trong lời kinh này ông
ấy đã nói rằng người ta phải vượt ra ngoài thiện và ác. Bây giờ thiện trở nên
được tôn thờ.
Những người không trau dồi ý
nghĩa bên trong và thay vào đó tập trung vào cách diễn đạt bên ngoài không bao
giờ dừng mê đắm trong dốt nát, hận thù và ác độc trong khi làm cạn kiệt mình vô
ích. Họ có thể lừa dối người khác bằng cử chỉ, vẫn còn không xấu hổ trước các
hiền nhân và rỗng tuếch trước người hữu tử, nhưng họ không bao giờ thoát khỏi
Bánh xe, dù đạt được bất kì công đức nào nhiều hay ít.
Đấy là một cách phiên dịch kì
lạ cho lời kinh. Ông ấy đi thực sự sâu, như lưỡi gươm sắc bén chém tất cả những
gì sai, đến điểm khi ông ấy được hỏi về câu hỏi tối thượng. 'Từ đâu mà dốt nát
này nảy sinh?' Ông ấy không thể trả lời được điều đó và ông ấy không đủ khiêm
tốn để chấp nhận rằng ông ấy không biết. Ông ấy lâm vào trong đống lộn xộn tới
mức sau đó mọi câu hỏi vẫn còn không được trả lời; ông ấy giả vờ trả lời nó,
nhưng câu trả lời thậm chí không có liên quan tới câu hỏi.
Nếu điều này có thể xảy ra cho
một người như Bồ đề đạt ma... Bạn phải nhận biết. Nhấn mạnh của tôi là bạn
không thuộc vào bất kì tôn giáo nào, không thuộc vào bất kì học thuyết nào,
không thuộc vào bất kì kinh sách nào, chỉ bởi một lẽ đơn giản rằng toàn bộ và
toàn thể cam kết của bạn nên là với chân lí chứ không với bất kì cái gì khác.
Cam kết của bạn không nên bị phân chia, bằng không bạn sẽ phải thoả hiệp, điều
có thể làm cho bất kì ai hiểu biết cảm thấy rằng bạn đã thành không lành mạnh,
hay lão suy hay điên khùng. Nhưng một điều là chắc chắn: bạn đã lạc đường.
Bản thân Bồ đề đạt ma có thể,
trong cốt lõi bên trong nhất của ông ấy, không đánh mất chứng ngộ của ông ấy -
chứng ngộ không thể mất được - nhưng ông ấy đã làm vẩn đục nó. Việc chứng ngộ
của ông ấy không còn trong sạch nữa, không còn sáng lạn nữa, không còn là cây
cột trụ ánh sáng nữa. Và chỉ bởi một việc kinh doanh đơn giản của tôn giáo có
tổ chức...
Nhân loại sẽ không bao giờ có
tính tôn giáo chừng nào mọi tôn giáo có tổ chức còn chưa biến mất và tôn giáo
chưa trở thành cam kết cá nhân hướng tới sự tồn tại, cho nên không có vấn đề về
thoả hiệp phát sinh.
Hãy để tôi nói với bạn: Tôn
giáo có tính nổi dậy, và con người của tôn giáo là người nổi dậy. Người đó có
tính nổi dậy chống lại tất cả những gì chính thống, chống lại mọi tín ngưỡng,
chống lại mọi tổ chức, chống lại mọi ý thức hệ. Tình yêu duy nhất của người đó
là với chân lí, và toàn thể tình yêu của người đó là dành cho chân lí. Chỉ
người đó mới tìm thấy nó. Những người khác chỉ vẩn vơ trong dốt nát, trong giấc
mơ, trong giấc ngủ - và họ đau khổ.
Được chứ, Maneesha? Vâng, thưa
Osho


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment