Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 11)
Chương
2. Vào đúng khoảnh khắc
Câu
hỏi thứ nhất:
Thưa
Thầy kính yêu,
Sao
tôi không thể nhận tính chất sannyas? Tôi cứ nghĩ và nghĩ và nghĩ.
Richard,
tính chất sannyas chẳng liên quan gì tới suy nghĩ chút nào. Đó là con đường của
người điên tới chứng ngộ! Bằng suy nghĩ bạn không bao giờ đi tới quyết định khi
có liên quan tới tính chất sannyas. Suy nghĩ, nhiều nhất, chỉ có thể giúp bạn
trì hoãn nó, và bạn có thể cứ trì hoãn nó tới vô hạn. Suy nghĩ, thực tế, là quá
trình trì hoãn.
Tính
chất sannyas không phải là cái gì đó bạn có thể nghĩ về. Bạn không biết nó, bạn
đã không kinh nghiệm nó. Suy nghĩ đi vào bên trong thế giới của cái đã biết; nó
không có cách tiếp cận nào hướng tới cái không biết, không bắc cầu với cái
không biết. Và tính chất sannyas là không biết với bạn. Bạn có thể đã thấy các
sannyasin; điều đó không có nghĩa là bạn biết tính chất sannyas là gì. Bằng việc
thấy người yêu bạn không thể biết tình yêu là gì. Bằng việc thấy thiền nhân bạn
không thể biết thiền là gì. Có những điều chỉ được biết bằng việc tồn tại.
Tính
chất sannyas không phải là hiện tượng triết lí, nó là cái gì đó có tính tồn tại.
Bạn phải lấy cú nhảy... thế rồi nghĩ về sau, thế rồi nghĩ nhiều tuỳ thích, tới
mãn nguyện của trái tim bạn. Nhưng một khi bạn đã nếm trải nó, thế thì không có
cách nào quay lui.
Suy
nghĩ là một phần của cái đầu còn tính chất sannyas xảy ra trong tim; nó là chuyện
tình. Nó hoàn toàn điên, điên như tình yêu hay thậm chí còn điên hơn, bởi vì
tình yêu xảy ra về mặt sinh học còn tính chất sannyas xảy ra về mặt tâm linh.
Tính
chất sannyas xảy ra chỉ cho rất ít, rất hiếm người. Tình yêu là bình thường; nó
xảy ra cho con vật, cho chim chóc, ngay cả cho cây cối. Nó không có gì đặc biệt.
Tôn giáo là tuyệt đối siêu tự nhiên: nó vượt qua thế giới bản năng của bạn.
Nhưng trái tim chúng ta không vận hành, còn cái đầu không thể làm việc được ở
chỗ trái tim.
Đó
là điều bạn đang làm đấy, Richard. Bạn có thể cứ làm nó, nhưng bạn sẽ không bao
giờ đi tới thế giới của tính chất sannya. Cái đầu bất lực; nó không thể hành động
được bởi vì nó không bao giờ tự phát. Chính chỉ là cái đầu hành động. Cái đầu
chỉ phản ứng; cái đầu chỉ cứ lặp lại quá khứ. Bạn đã không là sannyasin trước
đây, cho nên làm sao bạn có thể nghĩ về nó được? Bạn có thể nghĩ gì về nó?
Không có cơ sở để bắt đầu.
Chỉ
trái tim mới đủ dũng cảm lấy cú nhảy vào trong cái không biết, vào trong cái
không quen thuộc. Nhưng với cái không quen thuộc hàng triệu khả năng mở ra. Với
cái không biết bạn bắt đầu trưởng thành. Với cái biết bạn cứ đi theo vòng tròn.
Có chút ít trái tim đi, đừng nhiều ý nghĩ thế.
Richard,
tên của bạn nghĩa là cứng rắn. Siêu việt lên trên tính cứng, trở nên mềm mỏng
thêm chút ít, nữ tính thêm chút ít, tròn trĩnh thêm chút ít đi. Mất đi vài góc
nhọn sẽ cực kì có ích. Logic là cứng rắn, tình yêu là mềm mại. Logic là hình
vuông, tình yêu là đường cong! Logic bao giờ cũng là kẻ hèn nhát; nó nghĩ và
nghĩ trước khi nó hành động. Và, thực tế, lúc thời gian tới để hành động thì đã
quá muộn rồi; khoảnh khắc đó đã qua rồi.
Cuộc
sống không tĩnh tại. Nó sẽ không đứng tĩnh lặng vì bạn đâu, nó sẽ không đợi bạn
đâu. Ai biết được? Ngày mai tôi có thể dừng cho tính chất sannyas - thế thì
sao? Thế thì bạn sẽ lỡ tầu! Và nhớ lấy, tính chất sannyas tôi đang trao cho bạn
không ai khác có thể trao cho bạn được. Thu lấy chút dũng cảm đi. Hôm nay là
ngày đó rồi!
Hai
bộ xương trong góc phòng đang càu nhàu về trái tim, bụi bặm, chán chường.
"Dẫu
sao đi chăng nữa chúng ta đang ở đây để làm gì?" một bộ xương hỏi.
"Chết
tiệt nếu tao biết," bộ xương thứ hai đáp. "tao sẽ đi ngay nếu tao có lòng."
Câu
hỏi thứ hai:
Thưa
Thầy kính yêu,
Tôi
sợ sống còn hơn chết. Điều đó là có thể không?
Yogananda,
điều đó phải là có thể nếu nó xảy ra cho bạn! Bạn có nghĩ rằng bạn đang xoay xở
làm điều không thể được không? Thực tế, đó là hiện tượng rất thông thường, chẳng
có gì phi thường về nó cả - rất bình thường. Không ai sợ chết hơn sống. Sợ chết
không là gì nếu so với sợ sống.
Đó
là lí do tại sao hàng nghìn người quanh trái đất tự tử, và nhiều người nữa nghĩ
nhiều lần trrong đời họ về tự tử. Nhiều người thử nhưng bị ngăn cản; nhiều người
thử nhưng nửa vời. Nhưng rất ít người thử sống. Con số người thử sống cuộc sống
còn ít hơn nhiều so với những người thử tự tử hay thực tế tự tử.
Người
sống cuộc sống trở thành vị phật. Bạn có bao nhiêu chư phật? Họ có thể được đếm
trên đầu ngón tay bạn. Chỉ thỉnh thoảng mới có người như Jesus, Zarathustra,
Lão Tử. Hàng thế kỉ qua đi; hàng triệu người tới và đi, thế rồi chỉ có một người
thực sự sống, sống đích thực, sống tới cực điểm, sống bạo dạn. Thế thì những
người khác làm gì? Cuộc sống của họ không phải là cuộc sống; ngược lại, nó là
việc né tránh cuộc sống thường xuyên. Họ đơn giản tự bảo vệ bản thân mình khỏi
cuộc sống. Họ đang ẩn trong lỗ đen nhân danh an ninh, an toàn, thoải mái. Họ
đơn giản cố gắng lảng tránh cuộc sống.
Bạn
có thể quan sát bản thân mình - bạn có sống không? Bạn có thể quan sát người
khác quanh bạn - họ có thực sự sống không? Mọi người chỉ trở nên nhận biết rằng
họ đã sống khi họ chết. Khi cái chết gõ cửa bạn, bỗng nhiên bạn trở nên nhận biết:
"Trời đất, mình đã sống! Và bây giờ cái chết đã tới." Nhưng khi cái
chết tới, cả triệu người cảm thấy được nhẹ gánh - nhẹ gánh nặng, về những lo
âu, về sợ sống thường xuyên.
Chết
không có sợ trong nó. Khi bạn không còn nữa, có thể có sợ nào được? Chết không
thể làm đau bạn được - sống có thể làm đau bạn. Sống làm đau bởi vì người ta cần
rất thông minh, tỉnh táo để sống. Nếu bạn sống vô ý thức, sống nhất định là
kinh nghiệm đau đớn, phiền não. Sống có thể là cực lạc nữa, nhưng chỉ khi bạn tỉnh
táo, nhận biết. Sống là cơ hội, nhưng nó đòi hỏi; nó là thách thức, nó là phiêu
lưu, phiêu lưu từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác vào nơi chưa hề có bản
đồ.
Bạn
không thể là kẻ bắt chước nếu bạn thực sự muốn sống. Bạn không thể là người Ki
tô giáo và người Hindu và người Mô ha mét giáo. Nếu bạn thực sự muốn sống bạn
phải là bản thân mình - đơn giản là bản thân mình. Bạn không thể là bất kì ai
khác được; đó là cách né tránh cuộc sống thực.
Thượng
đế chưa bao giờ lặp lại. Ông ấy tạo ra từng và mọi cá nhân duy nhất, tuyệt đối
duy nhất. Bạn không được chế tạo như xe hơi trên dây chuyền lắp ráp. Do đó
Jesus sẽ không bao giờ có lần nữa, Krishna sẽ không bao giờ có lần nữa, dù họ đẹp
đến đâu. Thượng đế không tin vào bản sao; ông ấy bao giờ cũng tạo ra các cá
nhân. Ông ấy là đấng sáng tạo và không đấng sáng tạo nào muốn lặp lại.
Nhưng
đó là điều bạn đã từng được bảo phải làm, và bạn đang làm điều đó. Ai đó cố gắng
giống Krishna hay giống Khổng Tử hay giống Mohammed; những người này đã trở
thành lí tưởng của bạn. Thế thì bạn cứ bỏ lỡ cái bạn đang là - và đó là cách
duy nhất bạn có thể là. Bạn trở thành rởm. Vâng, là rởm dường như có chút ít
thoải mái hơn là nguyên bản, bởi vì bạn có thể điều chỉnh theo xã hội rởm dễ
dàng hơn, thuận tiện hơn. Khi mọi người đều giả như bạn, bạn có thể dễ dàng trở
thành một phần của đám đông. Khi bạn thực và đích thực, sống cuộc sống theo
cách riêng của bạn, theo ánh sáng riêng của bạn, không bản kế hoạch tổng thể
nào do người khác trao cho bạn - bởi cha mẹ, bởi tu sĩ, bởi chính khách - khi bạn
đang đi mọi ngày vào trong cái không biết không có ý tưởng về cái gì sẽ xảy ra,
với sáng tạo lớn lao, nhạy cảm, nhận biết, nhưng không có ý thức hệ cố định;
khi bạn thám hiểm những đồng cỏ mới hơn, những đỉnh mới của bản thể, thế thì chắc
chắn bạn không còn là một phần của đám đông.
Và
đám đông ghét cá nhân bởi lẽ đơn giản là họ khác biệt thế. Nó ghét họ bởi vì họ
là người nổi dậy. Nó ghét họ bởi vì họ không thể bị bắt làm nô lệ một cách dễ
dàng; thực tế, không thể nào bắt họ làm nô lệ được. Nó ghét họ vì thông minh của
họ, nó ghét họ vì niềm vui của họ, nó ghét họ vì tính sáng tạo của họ. Nó muốn
phá huỷ họ.
Yogananda,
đó là lí do tại sao mọi người sợ sống: sống có nhiều nguy hiểm. Phần sống đầy
hiểm nguy.
Người
ta chẳng bao giờ biết cái gì sẽ xảy ra khoảnh khắc tiếp; mọi thứ đều có thể. Bạn
không thể sống với mong đợi được bởi vì cuộc sống không có nghĩa vụ phải hoàn
thành ham muốn của bạn. Bạn có thể sống với trái tim cởi mở, nhưng bạn không thể
sống với mong đợi được. Bạn càng có nhiều mong đợi, bạn sẽ càng thất vọng.
Và
thế rồi bạn có thể đi lạc lối. Trong chết, không ai có thể đi lạc lối; trong sống
bạn có thể đi lạc lối. Trong sống bạn có thể phạm lầm lỗi, sai lầm. Thực tế, nếu
bạn thực sự muốn sống bạn sẽ phải phạm nhiều lỗi và nhiều sai lầm. Nhớ lấy điều
đó: đừng bao giờ sợ phạm lỗi và sai lầm; bằng không bạn sẽ bị tê liệt bởi vì sợ.
Cứ phạm sai lầm và lỗi đi. Chỉ nhớ một điều: đừng phạm cùng sai lầm lần nữa. Một
lần là đủ. Phát minh ra sai lầm mới, khám phá ra lỗi lầm mới! Đừng cứ rơi vào
cùng rãnh - tìm ra rãnh mới! Bằng việc phạm sai lầm, bằng việc đi lạc lối, bạn
trưởng thành. Đó là cách duy nhất để trưởng thành.
Sống
là nguy hiểm; chết là rất ấm cúng, rất thoải mái. Nằm ra trong nấm mồ của mình,
có nguy hiểm nào? Không có vấn đề gì, không lo âu. Bạn không thể phá sản, vợ bạn
không thể rời bỏ bạn, bạn không thể chết thêm được nữa. Bạn an toàn thế trong
chết! Sống là không an toàn - bất kì cái gì cũng có thể. Sống đầy ngẫu nhiên.
Người điên nào đó có thể chặt đầu bạn...!
Tôi
đã nghe:
Một
nhà phân tâm lớn đang đọc, ngồi trong vườn dưới gốc cây, và con gái ông ta, mới
tám, chín tuổi đang chơi với bạn trên bãi cỏ. Bỗng nhiên nó đánh vào đầu đứa bạn
bằng gậy cứng tới mức máu bắt đầu chảy ra từ đầu. Nhà phân tâm chạy xô tới,
nhưng trước khi ông ta có thể nói được cái gì, con gái ông ta quay sang ông ta
và hỏi, "Bố ơi, bây giờ bảo con sao con lại làm điều này!"
Nó
phải đã nghe lặp đi lặp lại rằng bố nó cứ đi tìm lí do cho mọi hành động, lí do
vô ý thức và thế này và thế nọ, cho nên nó hỏi, "Bây giờ bảo con sao con lại
làm điều này."
Sống
có thể làm bất kì cái gì và bạn thậm chí không thể hỏi tại sao: bạn phải chấp
nhận điều đó. Không có ai trả lời. Do đó có nỗi sợ, Yogananda. Bạn nói,
"Tôi sợ sống hơn là chết."
Mọi
người đều sợ sống hơn; đó là lí do tại sao mọi người chết. Mọi người chết gần
như vào độ tuổi ba mươi. Tất nhiên, họ không được đưa vào nấm mồ của mình vào
lúc đó; họ đi tới nấm mồ của mình quãng tuổi bẩy mươi, tám mươi. Năm mươi năm
giữa cái chết của họ và việc họ vào trong nấm mồ chỉ là việc kéo lê. Chính phép
màu là thấy người chết vẫn bước đi, nói, làm đủ mọi thứ. Điều đó chắc chắn là
phép màu!
Yêu
cuộc sống đi. Đó là lí do tại sao với tôi sống là tôn giáo duy nhất, thượng đế
duy nhất. Sống cuộc sống trong tính toàn bộ của nó. Và cái đẹp là ở chỗ nếu bạn
sống cuộc sống trong tính toàn bộ của nó thì không có cái chết. Thân thể nhất định
chết đi một ngày nào đó, nhưng bạn không phải là thân thể. Nếu bạn đã sống cuộc
sống của mình một cách toàn bộ, nếu bạn đã yêu cuộc sống của mình một cách toàn
bộ, bạn đã bắt gặp điều vĩnh hằng trong mình. Đó là gặp gỡ với Thượng đế. Đó là
đương đầu với chân lí siêu việt trên thời gian. Và biết nó là biết phúc lạc; biết
nó là biết tất cả những cái đáng biết.
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
Thầy kính yêu,
Thầy
gọi chỗ này là quán rượu ạ? Quán rượu sao? Tôi đã bị bám vào quanh quán rượu
này trong hai năm và tôi vẫn không thể nào có được bia đúng!
Niranjan,
Perce bước vào chỗ mà bữa tối cuối cùng đã được tổ chức, ngồi xuống bàn và nói
với người phục vụ, "Cho tôi rượu scotch và soda!"
"Tôi
rất tiếc, thưa ngài," người phục vụ nói, "mọi thứ chúng tôi phục vụ
chỉ là rượu thôi."
"Được,
cho tôi một miếng thịt nướng ngon vào khoai tây bỏ lò và salad."
"Rất
tiếc, nhưng mọi thứ chúng tôi phục vụ là bánh mì thôi."
"Lạ
quá! chỉ bánh mì và rượu! Anh chàng tổ chức bữa tiệc này đáng phải bị đóng
đinh!"
Niranjan,
xin đừng đóng đinh tôi! Đây không phải là bữa tối cuối cùng! Và nếu bạn không
thể tìm được bia đúng, lí do là vì bạn không phải là người đúng. Bạn đã đầy bia
rồi, làm sao có thể tìm được bia đúng? Làm sao bạn có thể xoay xở biết cái gì
là đúng và cái gì là sai? Tôi không nghĩ rằng mạch máu của Niranjan có máu - chỉ
toàn bia! Tới Trung tâm y tế và khám xem sao. Bạn không thể có máu trong mạch
máu của mình được: bạn thực sự đầy bia!
Nếu
kẻ ăn thịt người nào đó tìm thấy bạn thì họ sẽ nhảy múa vui vẻ lắm. Họ sẽ tìm
ra bia đúng! Và họ sẽ không giết bạn hay nấu bạn đâu - họ sẽ nhấm nháp bạn!
Michael
đón một cô tóc vàng ở quán rượu và sau vài chầu rượu họ đi về phòng khách sạn
và làm tình. Vào giữa đêm Michael thức dậy ra nhà tắm và để ý rằng người đàn bà
đã tháo chân gỗ ra và để nó bên cạnh giường.
Khi
cô gái ngủ, Michael bắt đầu đùa với lò xo và phanh của chân gỗ đó và cuối cùng
thấy mình đã làm rời chân gỗ ra và không thể nào gắn lại được nữa.
Anh
ta đi vào trong phòng và dừng một người nồng nặc hơi rượu, nói, "Ông có thể
giúp tôi được không? Tôi có một người đàn bà trong phòng với một chân bị rời ra
và tôi dường như không thể gắn nó lại được."
"Đồ
chết tiệt!" người say nói, "Tôi có một người đàn bà trong phòng tôi với
cả hai chân rời ra và tôi thậm chí không thể tìm được cái phòng phải gió
đó!"
Câu
hỏi thứ tư:
Thưa
Thầy kính yêu,
Người
tìm kiếm có phải chịu khổ không tránh khỏi trên đường không?
Deva
Louis, điều đó tất cả còn tuỳ. Trưởng thành trong bản thân nó không có khổ; khổ
tới từ việc chống cự của bạn hướng tới trưởng thành. Khổ do bạn tạo ra bởi vì bạn
chống lại liên tục, bạn không cho phép nó xảy ra. Bạn sợ đi toàn bộ với nó; bạn
chỉ đi nửa vời. Do đó mới có khổ - bởi vì bạn trở nên bị phân chia, bạn trở nên
chia chẻ. Một phần của bạn hợp tác và một phần của bạn chống lại nó, kháng cự lại
nó. Xung đột này bên trong bạn tạo ra đau khổ.
Cho
nên vứt bỏ ý tưởng này đi - nhiều người có ý tưởng đó - rằng bạn phải khổ nếu bạn
định trưởng thành. Điều đó là cực kì vô nghĩa. Nếu bạn hợp tác một cách toàn bộ
thì không có khổ chút nào. Nếu bạn đang trong buông bỏ, thay vì đau khổ bạn sẽ
hân hoan. Mọi khoảnh khắc của nó đều sẽ là khoảnh khắc của phúc lạc và phúc
lành.
Cho
nên đừng đổ trách nhiệm lên sự trưởng thành. Tâm trí chúng ta rất thủ đoạn và
tinh ranh: nó bao giờ cũng đổ trách nhiệm lên ai đó, lên cái gì đó; nó chưa bao
giờ nhận trách nhiệm về bản thân nó. Bạn là nguyên nhân của khổ.
Nếu
bạn có thể nhớ được ba điều.... Điều thứ nhất là: vứt bỏ quá khứ nếu bạn muốn
trưởng thành, bởi vì chính từ quá khứ mà chống cự nảy sinh. Bạn bao giờ cũng
phán xét từ quá khứ. Quá khứ không còn nữa, nó tuyệt đối không liên quan, nhưng
nó cứ can thiệp. Bạn cứ phán xét theo nó; bạn cứ nói, "Cái này là đúng và
cái kia là sai," và tất cả những ý tưởng đó về đúng và sai, tất cả những
phán xét đó đều tới từ cái gì đó đã chết. Phần chết của bạn vẫn còn đè nặng lên
bạn tới mức nó không cho phép bạn di chuyển.
Vứt
bỏ quá khứ hoàn toàn đi và bạn sẽ ngạc nhiên: nhiều khổ đã biến mất.
Điều
thứ hai cần nhớ là: đừng tạo ra mong đợi về tương lai. Nếu bạn mong đợi, thế
thì bạn lại sẽ tạo ra khổ, bởi vì mọi sự sẽ không xảy ra theo ý bạn đâu; mọi sự
sẽ xảy ra theo cái toàn thể. Sóng, con sóng nhỏ trong đại dương, không thể là
nhân tố quyết định được. Đại dương quyết định; sóng phải trong trạng thái buông
bỏ. Nếu sóng muốn đi sang phương đông, thế thì sẽ có rắc rối, thế thì sẽ có đau
đớn. Nếu gió không thổi về phương đông, nếu đại dương không sẵn lòng, thế thì
sóng sẽ làm gì? Nó sẽ khổ. Nó sẽ gọi đó là số mệnh, nó sẽ gọi đó là hoàn cảnh,
điều kiện xã hội, cấu trúc kinh tế, xã hội tư bản, văn hoá tư sản, vô ý thức
Freud... và bây giờ bạn sẽ gọi nó là đau đớn phát triển. Nhưng bạn đơn giản dịch
chuyển trách nhiệm.
Điều
thực là ở chỗ bạn khổ từ mong đợi của bạn. Khi chúng không được hoàn thành - và
chúng chẳng bao giờ được hoàn thành cả - thất vọng nảy sinh, thất bại nảy sinh,
và bạn cảm thấy bị bỏ mặc, cứ dường như sự tồn tại không chăm nom gì tới bạn.
Vứt
bỏ mong đợi về tương lai đi. Vẫn còn cởi mở, vẫn còn sẵn có cho bất kì cái gì xảy
ra, nhưng đừng lập kế hoạch trước. Đừng tạo ra ý tưởng tâm lí, cố định nào về
tương lai - rằng mọi sự phải như thế này - và nhiều khổ nữa sẽ biến mất. Hai điều
này là nguyên nhân gốc rễ của khổ.
Và
điều thứ ba là: phong trào Tiềm năng Con người thiếu cái gì đó bản chất. Nó cố
giúp bạn trưởng thành, nhưng nó lại chưa có khả năng tạo ra không gian thiền
trong bạn. Cho nên có vật lộn thường xuyên, nỗ lực, ý chí, nhưng không có thảnh
thơi, không có nghỉ ngơi. Do đó điều thứ ba cần được nhớ và mọi khổ sẽ biến mất:
tạo ra năng lượng thiền, tạo ra không gian thiền trong bạn. Phương pháp phương
Tây thiếu cái gì đó rất bản chất.
Đó
là lí do tại sao ở đây trong công xã của tôi nỗ lực là để dùng mọi phương pháp
phương Tây bên cạnh mọi phương pháp phương Đông. Đây có thể là chỗ duy nhất
trên toàn thế giới ngày nay nơi Đông và Tây thực sự gặp gỡ, và không gặp gỡ
theo cách ngoại giao như họ gặp nhau ở Liên hợp quốc. Ở đây họ thực sự hội nhập
- không chính trị, không ngoại giao, bởi vì gặp gỡ ngoại giao không phải là gặp
gỡ, nó chỉ là mẽ ngoài, nó là rởm. Chính gặp gỡ tình yêu đang xảy ra ở đây. Lần
đầu tiên Đông và Tây ở trong chuyện tình.
Phương
Tây đã phát triển vài phương pháp rất quan trọng: động thái, đương đầu, nguyên
thuỷ, sinh năng và nhiều thứ khác. Phương Đông cũng đã phát triển nhiều phương
pháp: ngồi thiền, Vipassana, xoáy tít Sufi, yoga, Mật tông. Cách tiếp cận của họ
khác nhau, khác tới mức cả hai chỉ có một nửa của một toàn thể; do đó cả hai đều
thiếu cái gì đó. Phương pháp phương Đông có thể tạo ra không gian thiền, nhưng
họ làm cho bạn hướng nội tới mức bạn bắt đầu trốn khỏi cuộc sống; mọi phương
pháp phương Đông đề đã chứng tỏ là kẻ trốn chạy trong quá khứ. Bạn muốn đi vào
tu viện, bạn muốn đi lên Himalaya, bạn muốn đi vào hang động ở đâu đó và sống một
mình. Họ dạy bạn cách ở một mình, vui vẻ một mình - nhưng thế thì cái gì đó bị
lỏ lỡ.
Sống
cũng là quan hệ, sống cũng là cùng nhau, sống cũng là giao cảm. Điều hay là
phúc lạc khi bạn một mình, nhưng đó chỉ là một nửa câu chuyện; bạn cũng nên
phúc lạc khi bạn ở cùng với ai đó. Và khi bạn phúc lạc với ai đó, phúc lạc đạt
tới đỉnh cao hơn. Khi bạn một mình bạn giống như người độc tấu sáo; khi bạn
phúc lạc với nhau trong quan hệ, âm nhạc giống dàn nhạc nhiều hơn.
Phương
Tây đã tạo ra các phương pháp cho bạn sức thúc đẩy nhiều hơn tới hướng ngoại. Họ
cho phép bạn dùng các phương pháp, kĩ năng để quan hệ, và để tận hưởng mối quan
hệ. Chúng là các phương pháp yêu, nhưng cái gì đó bị lỡ. Bạn tận hưởng quan hệ,
nhưng bất kì khi nào bạn một mình... và về bản chất bạn đều một mình. Bạn được
sinh ra một mình và bạn sẽ chết đi một mình, và tại cốt lõi sâu nhất của bản thể
mình, bạn bao giờ cũng một mình. Cho nên trên bề mặt bạn vẫn còn hạnh phúc,
nhưng sâu bên dưới dòng chảy tinh tế của khổ vẫn tiếp tục. Bạn không thể đương
đầu với bản thân mình được, bạn không thể đối diện với bản thân mình, bạn không
thể gặp gỡ bản thân mình.
Phương
Tây đã thất bại bởi vì mọi thứ nó đã phát triển đều hướng ngoại; phương Đông đã
thất bại bởi vì tất cả những điều nó đã phát triển đều hướng nội. Và con người
không hướng ngoại không hướng nội.
Tôi
muốn điều được nói công khai ra là phân loại của Carl Gustav Jung là tuyệt đối
sai. Con người không thể bị phân chia dễ dàng thế thành các phân loại - rằng ai
đó là hướng ngoại và ai đó là hướng nội - bởi vì con người là toàn bộ, một toàn
thể. Con người có bên trong và con người có bên ngoài, và cả hai đều phải được
nuôi dưỡng và cả hai đều phải được hoàn thành.
Cho
nên nếu bạn chỉ theo phương pháp phương Tây bạn sẽ trải qua nhiều đau đớn bởi
vì bạn sẽ không có khả năng tạo ra không gian thiền qua chúng. Nếu bạn chỉ theo
phương pháp phương Đông bạn sẽ có khả năng tạo ra không gian thiền, nhưng bạn sẽ
trở nên tuyệt đối vô dụng trong thế giới, và bạn sẽ bỏ lỡ sự giầu có tới trong
giao cảm với các sinh linh khác.
Nỗ
lực của tôi ở đây là để tạo ra sự tổng hợp đầu tiên giữa hướng ngoại và hướng nội
và giúp con người trở nên có khả năng của cả hai, cùng nhau, đồng thời, dễ dàng
chuyển từ hướng ngoại sang hướng nội và từ hướng nội sang hướng ngoại tới mức
không cần phân chia con người thành các phân loại như thế. Con người có thể trở
nên linh động thế.
Điều
đó đơn giản như khi bạn ra khỏi nhà mình: bạn không nghĩ rằng bạn đang trở nên
hướng ngoại khi đi ra khỏi nhà mình. Khi bạn cảm thấy trời lạnh bên trong nhà
và ngoài nhà không có mây và trời nắng, bạn bước ra, nhưng bạn không nghĩ chút
nào. Bạn không quyết định, "Bây giờ mình muốn là người hướng ngoại."
Hay khi mặt trời trở nên quá nóng và bạn bắt đầu cảm thấy bức, bạn không ra quyết
định một cách có chủ ý, "Mình phải đi vào. Bây giờ mình muốn là người hướng
nội." Không, khi mặt trời quá nóng bạn đơn giản đi vào nhà! Và khi bên
trong quá lạnh bạn đi ra ngoài. Đi ra khỏi nhà hay đi vào nhà không phải là vấn
đề chút nào, bởi vì bạn tự do với bên trong và bên ngoài.
Nỗ
lực của tôi ở đây là để giúp bạn được tự do với bên trong và bên ngoài, bởi vì
bạn không là bên trong không là bên ngoài, bạn là cái gì đó siêu việt trên cả
hai. Cái bên trong và cái bên ngoài chỉ là các bộ phận của tính cách của bạn;
nó là ngôi nhà trong đó bạn sống mà có cả bên ngoài và bên trong. Nhưng nhận biết
của bạn không có bên trong và không có bên ngoài.
Cho
nên ba điều này cần được nhớ: vứt bỏ quá khứ, vứt bỏ mong đợi tương lai, và điều
thứ ba, tạo ra sự tổng hợp giữa hướng ngoại và hướng nội... và mọi khổ biến mất.
Deva
Louis, khổ không phải là không thể tránh được đối với người tìm kiếm tâm linh.
Khổ của bạn là vì bạn không nhận biết về trách nhiệm riêng của mình. Không phải
bởi vì sự trưởng thành mà bạn khổ. Khổ của bạn là vì bạn vô ý thức về sự chống
đối của mình, về khuynh hướng quá khứ của bạn, về mong đợi tương lai của bạn,
và bạn vô nhận biết rằng bạn không có không gian thiền nào bên trong mình.
Câu
hỏi thứ năm:
Thưa
Thầy kính yêu,
Liệu
có thể bỏ lỡ người quí hoàn hảo không?
Điều
đó là có thể không?
Prem
Maitri, điều đó tuỳ thuộc vào bạn có ý thức thế nào. Nếu bạn có ý thức thì
không thể bỏ lỡ được. Nếu bạn thực sự biết người quí hoàn hảo, nếu bạn nhận ra
nó, nếu nó là linh ảnh riêng của bạn, hiểu biết riêng của bạn, thì không thể
nào bỏ lỡ nó được. Nhưng nó có thể không như vậy. Bạn có thể đã nghe người khác
nói, "Đây là người quí hoàn hảo"; điều đó có thể là hiểu biết được
vay mượn. Thế thì đấy không chỉ là khả năng bỏ lỡ nó, điều tuyệt đối không
tránh khỏi là bạn bỏ lỡ nó - không thể nào không bỏ lỡ nó.
Nếu
bạn bắt gặp vị phật và bạn bày tỏ kính trọng chỉ bởi vì người khác đang bày tỏ
kính trọng của họ, bởi vì người khác đang nói, "Ông ấy là vị phật, ông ấy
đã chứng ngộ, ông ấy đã thức tỉnh," bạn sẽ lỡ. Nhưng nếu bạn cho dù có một
thoáng nhìn của riêng mình vào bản thể của vị phật, chỉ chút ít hương vị môi
trường của ông ấy, chỉ một kinh nghiệm nhỏ về hương thơm của ông ấy, thế là đủ;
không thể nào bỏ lỡ được. Thế thì không lực nào trên thế giới có thể làm sao
lãng được bạn. Nhưng nó phải là kinh nghiệm riêng của bạn. Và chúng ta vô ý thức
tới mức chẳng cái gì dường như là kinh nghiệm riêng của chúng ta.
Mọi
người nói rằng Jesus là Christ, cho nên bạn tin vào điều đó. Nhưng những người
đã đóng đinh ông ấy, họ chẳng thể thấy được cái gì trong ông ấy cả; bằng không,
bạn có cho rằng có khả năng cho họ đóng đinh một người như Jesus không? Họ đã
đóng đinh ông ấy dễ dàng thế. Chẳng cảm thấy vấn đề gì; lương tâm của họ không
bị quấy rối. Họ đã làm điều đó cũng như họ vẫn thường giết các tội phạm mọi
năm. Ngày họ đóng đinh Jesus họ cũng đã đóng đinh hai kẻ cắp. Họ đối xử với cả
ba người này theo cùng cách; thực tế, họ đối xử với kẻ cắp theo cách còn nhân đạo
hơn vởi vì kẻ cắp giống họ nhiều hơn.
Hàng
nghìn người đã tụ tập lại để xem. Không ai than, không ai khóc, không ai có đau
đớn gì trong tim. Ngay cả các đệ tử riêng của Jesus cũng trốn hết, sợ rằng họ
có thể bị bắt.
Khi
mọi người đã đi rồi - khi màn trình diễn đã xong rồi - và Jesus đã gần chết
trên cây thập tự, ba người lính ở đó chơi bài. Họ có bổn phận canh giữ để không
ai có thể đánh cắp xác chết của Jesus. Cho nên chỉ ngồi dưới cây thập tự họ
chơi bài!
Và
Maitri, bạn hỏi, "Liệu có thể bỏ lỡ người quí hoàn hảo không?"
Ba
người lính kia là người hệt như bạn thôi. Tất nhiên, bây giờ bạn sẽ nghĩ,
"Những người lính kia phải đã hoàn toàn ngu xuẩn, những kẻ tội đồ lớn, vô
ý thức, không biết điều họ đang làm - chúng ta không thể làm điều đó," bởi
vì bây giờ bạn đã nghe tuyên truyền trong hai nghìn năm liên tục rằng Jesus là
Christ. Nhưng người Do Thái vẫn không nghĩ rằng ông ấy là Christ; họ vẫn nghĩ rằng
ông ấy là lang băm, rằng ông ấy là kẻ lừa dối, rằng ông ấy là cứu tinh giả.
Tuyên truyền liên tục trong hai nghìn năm đã không ích chút nào; họ vẫn níu bám
lấy ý tưởng của họ.
Bạn
có cho rằng bạn sẽ nhận ra Phật không? Bây giờ, tất nhiên - bởi vì bây giờ hai
mươi nhăm thế kỉ đã qua rồi và Phật đã trở nên ngày càng lớn hơn, khổng lồ thế;
ông ấy lừng lững trên đường chân trời như mặt trời mọc đẹp đẽ - bạn không thể
nào tin được rằng mọi người có thể đã bỏ lỡ ông ấy. Nhưng họ đã bỏ lỡ ông ấy!
Ngay cả bố của ông ấy cũng không thể nhận ra được rằng ông ấy đã chứng ngộ;
ngay cả vợ của ông ấy cũng không thể nào nhận ra được rằng ông ấy đã chứng ngộ.
Chỉ có vài người có dũng cảm nhận ra ông ấy - bởi vì nhận ra ông ấy nghĩa là bạn
phải thay đổi kiểu sống của mình, nhận ra ông ấy nghĩa là bạn không thể vẫn còn
như cũ chút nào. Nhận ra vị phật nghĩa là bạn đang thức dậy.
Quán
cà phê lớn đang đông đúc. Một hàng người dài mang khay di chuyển chậm chạp tới
quầy thì ai đó hô lên, "Cháy! Nhà McGinty cháy rồi!"
Khay
đĩa vỡ lảng xoảng khi một người Italia ở đầu hàng nhảy bổ điên cuồng ra khỏi
nhà hàng, chạy quanh góc phố, và sang bên kia phố, đâm sầm vào mọi người và xô
ngã nhiều người khi anh ta tìm lối chạy về nhà.
Thế
rồi, bất ngờ, sau khi anh ta thoát chết trong gang tấc nhiều lần, người này dừng
lại, vỗ tay lên đầu và gào lên, "Này, tôi đang làm gì nhỉ? Tên tôi không
phải là McGinty!"
Mọi
người đang sống trong vô ý thức thế. Nói gì tới việc nhận ra vị phật? - bạn thậm
chí không biết mình là ai!
Maitri,
có thể bỏ lỡ người quí hoàn hảo nếu bạn không nhận biết. Nhưng nếu bạn nhận biết
thì không thể nào bỏ lỡ được. Tất cả đều tuỳ thuộc vào nhận biết của bạn.
Câu
hỏi thứ sáu:
Thưa
Thầy kính yêu,
Thượng
đế có thực sự làm ra thế giới không, và chỉ trong sáu ngày?
Sujata,
nhìn vào thế giới, một điều là chắc chắn: nó đã được làm ra trong vội vàng. Bất
kì ai đã làm ra nó, nó trong đống lộn xộn tới mức nó phải đã được làm ra trong
sáu ngày. Liệu Thượng đế có làm ra nó hay không thì tôi không thể nói được, bởi
vì nếu bạn nhìn vào thế giới nó dường như giống sáng tạo của quỉ hơn là của Thượng
đế!
Con
người có tính phá huỷ, bạo hành, điên khùng tới mức rất không thể nào có chuyện
Thượng đế đã làm ra kiểu tâm trí này. Hoặc là quỉ làm ra nó hoặc đó chỉ là lần
đầu tiên Thượng đế làm ra nó cho nên ông ấy đã phạm phải nhiều sai lầm. Và ông ấy
đã trở nên sợ việc sáng tạo riêng của mình tới mức ông ấy đã không thử lại nữa.
Dường như ông ấy đã trốn mất rồi! Nhìn điều mình đã làm, ông ấy phải đã trở nên
khiếp đảm.
Câu
chuyện là ở chỗ ông ấy đã làm ra cấy cối và núi non và dòng sông và con vật.
Vào ngày thứ sáu ông ấy làm ra con người và kể từ đó ông ấy đã không làm cái gì
nữa. Dường như con người đã đưa ông ấy về ý thức của ông ấy: "Mình đang
làm gì nhỉ?" Ông ấy đơn giản dừng lại một cách tuyệt đối.
Nhưng,
Sujata, sao những câu hỏi như vậy lại làm bạn bận tâm? Nó chẳng phải là việc của
bạn! Một điều là chắc chắn: bạn đã không làm ra nó, cho nên sao bạn phải lo
nghĩ? Bạn không chịu trách nhiệm, tôi không chịu trách nhiệm - tôi đã không làm
ra nó. Cho nên sao chúng ta phải phí thời gian của mình với nó? Có nhiều người
khùng người chẳng có gì để làm - để điều đó cho họ nghĩ đi. Đây là chủ đề lớn
lao; người ta có thể cứ nghĩ về chúng mãi mãi; chúng không chấm dứt. Đó là lí
do tại sao triết lí bắt đầu nhưng không bao giờ chấm dứt, thượng đế học bắt đầu
nhưng không bao giờ chấp dứt. Nó đi trong vòng tròn. Từng câu trả lời đều đem tới
nhiều câu hỏi hơn nó trả lời.
Nếu
tôi nói, "Vâng, Thượng đế đã làm ra nó," thế thì lập tức nhiều câu hỏi
sẽ nảy sinh: "Tại sao ông ấy đã làm ra nó ngay chỗ đầu tiên? Sao ông ấy
không hỏi chúng ta liệu chúng ta có muốn được làm ra hay không? Điều này dường
như là hành độc độc đoán thế, không dân chủ chút nào - mọi người được làm ra mà
thậm chí không hỏi họ! Và tại sao ông ấy làm ra kiểu thế giới này khi ông ấy là
toàn năng, toàn diện, toàn thức? Ông ấy phải đã thấy điều gì sắp xảy ra, ông ấy
phải thấy tương lai chứ. Ông ấy phải đã thấy rằng sẽ có Genghis Khan và
Tamerlane và Adolf Hitler và Mussolini và Tojo; ông ấy phải đã thấy tất cả những
người này chứ. Ông ấy phải đã thấy rằng con người sẽ đánh nhau hàng nghìn cuộc
chiến tranh. Ông ấy phải đã thấy rằng chẳng chóng thì chầy con người sẽ khám
phá ra bom nguyên tử và bom khinh khí và tia chết và đủ thứ linh tinh khác. Thế
thì tại sao ông ấy đã tạo ra thế giới này? Ông ấy có là bạo chúa không? Ông ấy
có thích thú mọi khổ sở này không? Và cả triệu người sống trong khổ thế - và
ông ấy tiếp tục làm gì? Ông ấy không thể tới và giúp được sao?"
Trong
kinh sách có nói... trong Shrimad Bhagavadgita, Krishna tuyên bố: Ta sẽ tới bất
kì khi nào có quá nhiều khổ sở. Thế chưa đủ sao, nỗi khổ mà con người đang sống
bây giờ? Khi nào ông ấy sẽ tới? Và ông ấy làm gì khi ông ấy thực sự tới? Ông ấy
đã chẳng giúp người nào. Thực tế, vào thời của ông ấy đã diễn ra cuộc chiến lớn
nhất ở Ấn Độ. Nếu chúng ta tin vào kinh sách, biết bao nhiêu người đã chết
trong cuộc chiến đó... toàn thể Ấn Độ đã không thể chứa được nhiều người thế.
Thậm chí bây giờ toàn thế giới chỉ chứa nhiều hơn ba lần. Đó phải đã là cuộc
chiến nào đó! Ngày nay cuộc chiến như vậy chắc đã là còn một người trong ba người;
vào những ngày đó, năm nghìn năm trước, dân số không lớn thế. Nó có thể đã là tận
cùng của toàn thể nhân loại. Đó là loại giúp đỡ gì vậy?
Và
Thượng đế tới trong Jesus: ngài chỉ phái đứa con duy nhất của ngài tới cứu nhân
loại. Không ai dường như đã được cứu. Jesus thậm chí đã không thể cứu được bản
thân mình - ông ấy đã bị đóng đinh! Vị cứu tinh bị đóng bởi những người mà ông ấy
đã tới; ông ấy đã tới để cứu họ.
Cả
nghìn câu hỏi sẽ nảy sinh. Bỏ những câu hỏi đó cho người điên đi.
Hai
bạn tù của viện tâm thần Michigan đang tán gẫu trong phòng giải trí. Người điên
thứ nhất nói, "Đừng nói với ta, ta là Napoleon!"
"Ông
ngụ ý gì vậy, ông là Napoleon à?" người điên thứ hai hỏi.
"Ta
bảo ông đừng nói với ta. Ta là Napoleon."
"Làm
sao ông biết ông là Napoleon?" "Thượng đế bảo ta, ta là
Napoleon."
Một
tiếng nói nhỏ bé lanh lảnh cất ra từ góc phòng, "Ta không nói thế!"
Cứ
để những vấn đề thượng đế học như thế cho lũ điên!
Một
số khách thăm tới nhà thương điên được người gác đưa đi quanh.
"Ông
thấy người đàn ông ở chỗ kia không?" người gác nói. "Anh ta nghĩ anh ta
là Trời."
Một
trong những khách thăm tiến tới người điên và hỏi, "Ông có thực sự làm ra
trái đất này trong bẩy ngày không?"
Người
điên cười khẩy vào ông ấy, "Ta không trong tâm trạng nói tới công việc!"
Sujata,
đây không thực sự là những câu hỏi tôn giáo đâu, mặc dầu người tôn giáo đã từng
nói về những câu hỏi này trong hàng thế kỉ - bởi vì tôn giáo đã từng bị người mất
trí chi phối hàng thế kỉ.
Những
câu hỏi tôn giáo thực liên quan tới bạn, với vô ý thức của bạn và cách biến đổi
vô ý thức của bạn thành ý thức. Tôn giáo thực không phải là siêu hình; nó được
bắt rễ trong tâm hồn, nó có tính tâm hồn, bởi vì tôn giáo thực nghĩa là cách
siêu việt lên trên tâm trí. Chừng nào bạn chưa hiểu tâm trí bạn không thể siêu
việt lên trên nó được.
Câu
hỏi thứ bẩy:
Thưa
Thầy kính yêu,
"Giữ
mồm miệng," thầy nói.
Khó
thay! Gần như không thể được cho người Italia. Cách tiếp cận của tôi tới Bồ đề
tâm trong những ngày này được chứa trong câu chuyện nhỏ này mà đã từng ám ảnh
tôi trong nhiều tháng:
Có
người nhỏ bé này (bất kì ai) mà tôi gặp trên phố (bất kì đâu) và người đó rất
khổ, giống như mọi người ở mọi nơi... và thấy tôi sau một thời gian dài, người
đó nói, "Này, anh trông khá thế!" "Hừ," tôi đáp, "tôi
muốn nói cùng điều đó với anh, nhưng anh trông buồn thế!"
"Này,
anh biết cuộc đời tôi đấy... Tôi cảm thấy khổ thế. Nhưng anh thì sao? Sao anh
trông rạng ngời thế?"
"Thế
này," tôi nói với anh ta bằng một nụ cười, "tôi đã tìm ra thầy."
"À!"
anh ta nhìn tôi một cách buồn bã. "và sao anh lại không bảo tôi?"
Cho
nên xin thầy, thầy và các anh chàng khác, Phật, đừng bảo tôi giữ mồm miệng. Tôi
không thể chịu được anh chàng nhỏ bé cứ gõ cửa ngay cả khi tôi đang nhảy múa,
và hỏi, "Sao anh không bảo tôi?"
Sarjano,
bây giờ bạn đã bảo anh ấy rồi, điều gì xảy ra? Người nhỏ bé đó chưa tới tôi. Chỉ
việc bạn bảo người đó thì sẽ không tạo ra khác biệt gì đâu; người đó đơn giản
nghĩ rằng bạn điên.
Người
khổ nghĩ rằng nếu bạn trông phúc lạc thì bạn điên. Họ không thể tin được rằng bất
kì ai cũng có thể phúc lạc; điều đó ở bên ngoài việc hiểu thấu của họ. Toàn thể
cuộc sống của họ là khổ thế, làm sao họ có thể tin được có khả năng nào của việc
được phúc lạc? - trừ phi bạn điên. Nếu bạn bảo họ rằng bạn đã tìm thấy thầy họ
có thể không nói gì trước mặt bạn, nhưng sau lưng bạn họ sẽ cười bạn; họ sẽ nghĩ
cái gì đó đã đi sai. Họ sẽ không tin bạn. Làm sao người ta có thể trở nên phúc
lạc bằng việc tìm ra thầy được? Họ không thể thấy ra được mối quan hệ họ hàng
nào giữa vấn đề của họ và việc tìm ra thầy. Nếu vợ của họ chì chiết họ tới chết,
làm sao việc tìm ra thầy sẽ thay đổi được điều đó? Bây giờ thầy sẽ chì chiết bạn
còn hơn! Nếu họ khổ do ác mộng - và mọi người đều khổ từ ác mộng, ngày nọ, ngày
kia - làm việc tìm ra thầy sẽ giúp được sao? Họ không thể hiểu được nghĩa nào của
phát biểu này.
Tôi
có thể hiểu được khó khăn của bạn, Sarjano. Rất khó giữ im lặng khi bạn biết
câu trả lời, nhưng một phần của việc là Bồ tát là học nghệ thuật im lặng. Để
cho họ hỏi đi hỏi lại. Để cho họ cảm thấy rằng phúc lạc của bạn không phải chỉ
là cái gì đó điên rồ, rằng phúc lạc của bạn là cái gì đó thực, đích thực. Cứ để
họ cảm thấy điều đó theo cách riêng của họ. Để họ tới và gõ cửa nhà bạn lặp đi
lặp lại.
Chỉ
vào đúng khoảnh khắc, khi bạn thấy rằng họ có thể hiểu được, khi bạn cảm thấy rằng
trái tim họ cởi mở, khi bạn thấy niềm khao khát thực, niềm mong ước trong họ,
khi việc tìm kiếm đã nảy sinh trong họ, chỉ thế thì mới nói với họ; bằng không
bạn sẽ đơn giản làm phí hơi mình. Và nếu bạn cứ nói với mọi người và không ai lắng
nghe, chẳng chóng thì chầy bạn sẽ cảm thấy rất mệt mỏi về toàn thể sự việc.
Phật
là phải - rằng anh chàng kia gần như bao giờ cũng đúng. Tất nhiên, ông ấy không
nói cho người Italia! Đó không phải là vấn đề của ông ấy, đó là vấn đề của tôi!
Nhưng tôi biết cách xoay xở điều đó.
Chân
lí khăng khăng rằng nó phải được nói ra, mặc dầu nó không thể được nói ra - đó
là điều ngược đời - nhưng nó khăng khăng rằng nó phải được nói ra.
Khi
bạn biết và bạn thấy rằng người khác có thể được giúp, không thể nào cưỡng lại
được cám dỗ nói cho họ - nhưng đó là phần của việc là Bồ tát.
Ai
đó khác đã hỏi: "Thưa Thầy kính yêu, thầy nói năm mươi phần trăm số người
trở thành a la hán và năm mươi phần trăm trở thành Bồ tát. Dầu vậy thầy nói đi
nói lại rằng có nhiều nhà huyền môn mà rất ít thầy - dường như có mâu thuẫn
trong đó...?"
Không
có mâu thuẫn nào trong đó cả. Vâng, dường như có đấy, nhưng chỉ dường như thôi.
Không phải tất cả Bồ tát đều là thầy. Bồ tát là người cố giúp người khác; thầy
là người thành công trong việc giúp người khác. Chỉ cố không có nghĩa là bạn sẽ
thành công. Nhiều người cố, rất ít người thành công. Bất kì ai đạt tới chân lí
đều nhất định bị cám dỗ nói nó. Nếu người đó theo bản chất không phải là a la
hán thì người đó sẽ cố nói nó cho từng người và mọi người, và người đó sẽ bị
coi là dở hơi. Trao đổi là nghệ thuật khó, và trao đổi chân lí tối thượng là hiện
tượng khó nhất trên thế giới. Thầy là người chờ cho tới đúng thời.
Nhiều
người đã hỏi tôi tại sao tôi giữ im lặng mặc dầu tôi đã trở nên chứng ngộ năm
1953. Trong gần hai mươi năm tôi chưa bao giờ nói điều gì về nó cho bất kì ai,
trừ phi ai đó đích thân hoài nghi về nó, trừ phi ai đó nói với tôi về hoài nghi
của người đó, "Chúng tôi cảm thấy rằng cái gì đó đã xảy ra cho ông. Chúng
tôi không biết nó là gì, nhưng một điều là chắc chắn: rằng cái gì đó đã xảy ra
và ông không còn là cùng người như chúng tôi đang là - và ông đang che giấu điều
đó."
Trong
hai mươi năm đó không quá mười người đã hỏi tôi, và cho dù tôi đã né tránh họ
nhiều nhất có thể được trừ phi tôi cảm thấy rằng ham muốn của họ là chính đáng.
Và tôi chỉ nói với họ khi họ đã hứa giữ bí mật điều đó. Và họ tất cả đều hoàn
thành điều đó. Bây giờ họ tất cả đều là sannyasin, nhưng họ tất cả đều hoàn
thành điều đó, họ giữ nó là điều bí mật. Tôi nói, "Ông đợi đấy. Đợi cho
đúng khoảnh khắc. Chỉ thế thì tôi sẽ công bố nó."
Tôi
đã học nhiều từ chư phật quá khứ. Nếu Jesus mà giữ yên tĩnh hơn chút ít về việc
là con của Thượng đế thì chắc đã ích lợi cho nhân loại hơn nhiều. Tôi đã thấy
ra vấn đề là chừng nào tôi chưa dừng việc du hành trong cả nước tôi sẽ không
tuyên bố về nó; bằng không tôi sẽ bị giết - bạn chắc đã không ở đây.
Có
lần tôi đã chấm dứt việc du hành, trộn lẫn vào đám đông, chuyển từ thị trấn này
sang thị trấn khác.... Trong hai mươi năm liên tục tôi đã di chuyển, và đã
không có một vệ sĩ nào. Shiva và các võ sĩ đạo của anh ấy còn chưa tới! Và tôi
thường xuyên trong nguy hiểm. Đá ném vào tôi, giầy ném vào tôi.
Tôi
tới một thị trấn sau khi du hành hai mươi bốn giờ trên tàu hoả và đám đông
không cho tôi xuống ga; họ buộc tôi quay về. Đánh nhau xảy ra sau đó giữa những
người muốn tôi xuống tàu và những người không muốn tôi xuống, ít nhất là vào thị
trấn của họ.
Nếu
tôi mà công bố điều đó tôi chắc đã bị giết rất dễ dàng. Sẽ chẳng có vấn đề gì
trong điều đó; nó sẽ đơn giản thế. Nhưng trong hai mươi năm tôi đã giữa tuyệt đối
im lặng về điều đó. Tôi đã tuyên bố điều đó chỉ khi tôi thấy rằng bây giờ tôi
đã thu thập đủ người có thể hiểu được điều đó. Tôi đã thu thập được đủ người,
những người của tôi, người thuộc về tôi. Tôi tuyên bố điều đó chỉ khi tôi biết
rằng bây giờ tôi có thể tạo ra thế giới nhỏ riêng của tôi và tôi không còn quan
tâm tới đám đông và quần chúng và dân chúng ngu xuẩn.
Sarjano,
có khó khăn đấy. Tôi có thể hiểu được khó khăn của bạn. Nhưng xin giữ cái mồm
to của bạn ngậm lại - người Italy hay không Italy! Bằng không bạn sẽ đơn giản bị
coi là dở hơi. Và nếu bạn không thể giữ được mồm đóng lại, thế thì tôi sẽ tuyên
bố, "Anh ấy dở hơi!" Thế thì chẳng ai sẽ nghe bạn. Thế thì bạn có thể
cứ nói với những người nhỏ bé này, "Tôi đã tìm thấy thầy," nhưng họ sẽ
nói, "Thầy nói ông dở hơi!"
Câu
hỏi cuối cùng:
Thưa
Thầy kính yêu,
Sao
mọi thứ đều lộn tùng phèo ở đây?
Anurati,
nó phải thế thôi bởi vì người Italia đấy!
Người
ta phải tìm ra lí do nào đó....
Người
Italia chết và lên Ngọc Môn tại đó anh ta được Thánh Peter đón chào và có ấn tượng
với Sách Vàng. Sau khi nhìn chăm chú vào khuôn mặt nông, cằm yếu và đôi mắt
gian giảo của đương đơn mới, Thánh Peter tuyên bố với giọng rền vang như sấm,
"Ta tin ông không phải là người Italia?"
Giọng
của Thánh Peter trở nên sang sảng, "Ông có phải là người Italia
không?"
Lời
đáp của người Italia thật nhu mì, "Dạ không ạ, thưa ngài, tôi là người
Puerto Rico."
Thánh
Peter mỉm cười. "Qua, anh bạn," ông ấy nói, "Vào đi."
Ngay
cả Thánh Peter cũng sợ!
Và
thế rồi có một cô gái Italia - xấu tới mức khi cô ấy đi vào phòng tất cả chuột
đều nhảy lên ghế.
Người
nào có thể hoài nghi rằng New York là thành phố lớn?
Người
Do Thái sở hữu nó, người Ai rơ len cai quản nó - và người Italia sau năm mươi
năm vẫn còn tự hỏi cái gì đã xảy ra!
Columbus
tình cờ phát hiện ra châu Mĩ thế nào? Ông ấy cố gắng thoát ra khỏi Italy.
Thượng
đế đã nói gì khi ngài làm ra người Italy đầu tiên?
"Cứt!
Tao đéo làm nữa!"
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment