Osho
- Kỉ luật của siêu việt – Tập 3
Chương
3. Chẳng có gì như thèm khát
Phật
nói:
"Chẳng
có gì như thèm khát.
Thèm
khát có thể được gọi là đam mê mạnh nhất.
May
mắn thay chúng ta có một thứ còn mạnh hơn.
Nếu
khao khát về chân lí mà yếu hơn đam mê,
thì
bao nhiêu người chúng ta trong thế giới này
sẽ
có khả năng theo con đường của lẽ phải?"
Phật
nói:
"Những
người nghiện với những đam mê
giống
như người mang đuốc chạy ngược chiều gió;
tay
người đó chắc chắn sẽ bị bỏng."
Ngọc
Hoàng Thượng đế phái tiên nữ đẹp tới Phật,
muốn
cám dỗ ông ấy sang con đường xấu.
Nhưng
Phật đã nói: "Đi đi!
Phỏng
có ích gì để ta có cái túi da đầy những rác rưởi
mà
các ông đã đem lại cho ta?
Thế
rồi, Ngọc hoàng Thượng đế chân thành cúi đầu
và
hỏi Phật về tinh hoa của Đạo,
theo
đó Phật đã hướng dẫn,
tương
truyền rằng thần đã đạt tới quả srotapanna- dự lưu.
Tinh
hoa của tôn giáo của Phật là nhận biết. Không có cầu nguyện trong nó, không thể
có được - bởi vì không có Thượng đế. Và không thể có bất kì cầu nguyện nào
trong nó được bởi vì cầu nguyện bao giờ cũng có động cơ. Cầu nguyện là một dạng
của ham muốn, một dạng của thèm khát.
Cầu
nguyện có ẩn chứa sâu trong nó chính nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của khổ
là ở chỗ chúng ta muốn kiểu cuộc sống khác, tình huống khác, thế giới khác, và
thế giới đang trước chúng ta mờ nhạt đi trước tưởng tượng của chúng ta. Nguyên
nhân của khổ là tưởng tượng, ham muốn, hi vọng. Và trong cầu nguyện tất cả mọi
nguyên nhân đều hiện diện, cho nên không có khả năng nào cho cầu nguyện trong
tôn giáo của Phật. Chỉ nhận biết mới là chìa khoá. Cho nên chúng ta phải hiểu
nhận biết là gì.
Khi
bạn cầu nguyện, bạn xin cái gì đó. Khi bạn thiền, bạn thiền về cái gì đó. Nhưng
khi bạn nhận biết, bạn đơn giản định tâm trong bản thể mình. Người khác là
không quan trọng chút nào. Người khác là không liên quan. Bạn đơn giản nhận biết.
Nhận
biết không có đối thể trong nó. Nó mang tính chủ thể thuần khiết. Nó là việc đặt
nền tảng trong bản thể bạn, nó là việc định tâm trong bản thể bạn. Đứng đó bên
trong bản thể mình, bạn bùng cháy sáng. Ngọn lửa của bạn không có khói. Trong
ánh sáng của bạn toàn thể cuộc sống trở thành rõ ràng.
Trong
sáng tỏ đó là im lặng. Trong sáng tỏ đó, thời gian dừng hiện hữu. Trong sáng tỏ
đó, thế giới biến mất. Bởi vì trong sáng tỏ đó không có ham muốn, không có động
cơ. Bạn chỉ hiện hữu… không muốn cái gì, bất kì cái gì. Không muốn bất kì tương
lai nào. Không muốn bất kì thế giới nào tốt hơn. Không muốn thiên đường,
moksha. Không muốn Thượng đế. Không muốn tri thức, giải thoát. Bạn chỉ hiện hữu.
Nhận
biết là sự hiện diện thuần khiết, tâm thức được định tâm. Toàn bộ nỗ lực của Phật
là làm sao làm cho bạn được định tâm, bắt vào nền tảng, ngọn lửa không khói, ngọn
lửa không biết tới chập chờn. Trong ánh sáng đó, mọi thứ trở nên rõ ràng và mọi
ảo tưởng biến mất và mọi mơ trở thành vô tồn tại. Và khi tâm trí mơ dừng lại,
có chân lí.
Nhớ
điều đó: chỉ khi tâm trí mơ đã dừng lại mới có chân lí. Tại sao? Bởi vì tâm trí
mơ liên tục phóng chiếu và bóp méo cái đang đấy. Nếu bạn nhìn vào một thứ mà có
ham muốn, bạn sẽ không bao giờ nhìn vào thứ đó như nó đang đấy. Ham muốn của bạn
bắt đầu giở trò với bạn.
Một
người đàn bà đi qua, người đàn bà đẹp, hay người đàn ông đi qua, người đàn ông
đẹp trai - bỗng nhiên có ham muốn: sở hữu cô ấy, sở hữu anh ta. Thế thì bạn
không thể thấy được thực tại. Thế thì chính ham muốn của bạn tạo ra mơ xung
quanh đối tượng này. Thế thì bạn bắt đầu thấy theo cách bạn muốn thấy. Thế thì
bạn bắt đầu phóng chiếu - người kia trở thành màn ảnh và những ham muốn thầm
kín nhất của bạn được phóng chiếu ra. Bạn bắt đầu tô mầu đối tượng này; thế thì
bạn không thấy cái đang đó. Bạn bắt đầu thấy các hình ảnh, bạn bắt đầu đi vào
trong tưởng tượng.
Tất
nhiên, tưởng tượng này nhất định sẽ bị tan tành; khi thực tại bùng ra, tâm trí
mơ của bạn sẽ bị tan nát. Điều đó xảy ra nhiều lần. Bạn yêu một người đàn bà; một
hôm nào đó bỗng nhiên giấc mơ này đã biến mất. Người đàn bà này trông không đẹp
như cô ấy vẫn thường trông thế. Bạn không thể tin được làm sao mình lại bị lừa
dối trong đó. Bạn bắt đầu tìm lỗi ở người đàn bà này. Bạn bắt đầu tình cách hợp
lí hoá - cứ dường như cô ấy lừa bạn trong việc đó, cứ dường như cô ấy đã lừa dối;
cứ dường như cô ấy đã giả vờ là đẹp trong khi cô ấy không đẹp. Chẳng ai đang lừa
bạn, chẳng ai có thể lừa được bạn - ngoại trừ ham muốn riêng của bạn và tâm trí
mơ của bạn. Bạn đã tạo ra ảo tưởng. Bạn chưa bao giờ thấy thực tại của người
đàn bà này. Chẳng chóng thì chầy thực tại sẽ thắng.
Đấy
là cách mà mọi chuyện tình bao giờ cũng treo trên tảng đá. Và những người yêu
nhau, dần dần, trở nên sợ thấy thực tại - họ lảng tránh. Vợ tránh chồng, chồng
tránh vợ. Họ không nhìn thẳng. Họ sợ. Họ đã nhận biết rằng giấc mơ đã biến mất.
Bây giờ, đừng làm rung chuyển con thuyền nữa. Bây giờ tránh lẫn nhau.
Tôi
đã từng nghe:
Một
người rất lo nghĩ về vợ mình. Anh ta đã nghe đồn rằng cô ấy đi với ai đó. Một
cách tự nhiên, anh ta bị rối loạn. Anh ta đề nghị thám tử theo dõi người đàn bà
này và quay phim: cô ấy đi với ai, họ làm gì.
Trong
vài tuần, viên thám tử quay lại với cuốn phim đã sẵn sàng. Cuốn phim được chiếu
cho anh này. Anh ta xem nó; anh ta cứ lắc đầu hoài dường như anh ta không thể
nào tin được vào điều đó. Người vợ đang bơi với ai đó, đang đi xem phim, ôm
ghì, hôn hít, làm tình với người đàn ông, và anh ta cứ lắc đầu hoài nghi vô
cùng. Viên thám tử không thể đừng được mình: "Sao anh ta cứ lắc đầu mãi thế
nhỉ?"
Cuối
cùng, khi phim đã hết, người này nói, "Tôi không thể tin được vào
nó!"
Viên
thám tử nói, "Thế này thì quá lắm - ông đã xem phim, bây giờ ông còn cần bằng
chứng nào thêm nữa?"
Anh
ta nói, "Chớ hiểu lầm tôi. Tôi không thể nào tin được rằng vợ tôi lại có
thể làm cho ai đó sung sướng thế! Bây giờ cố tìm ra xem người kia đã thấy cái
gì trong vợ tôi, bởi vì tôi đã sống với cô ấy và tôi chẳng thấy cái gì hết cả.
Người này đã thấy cái gì ở cô ấy?"
Các
ông chồng chấm dứt thấy những điều họ thường thấy trong vợ mình. Các bà vợ chấm
dứt thấy những điều trong chồng mình mà họ thường thấy. Điều gì xảy ra? Thực tại
vẫn còn như cũ, nhất quyết chống lại thực tại thì mơ không thể thắng mãi được.
Chẳng chóng thì chầy mơ sẽ bị tan vỡ. Và điều đó xảy ra theo đủ mọi chiều hướng.
Bạn
theo đuổi tiền bạc, bạn mơ về tiền; bạn chưa bao giờ nhìn vào những người có tiền,
bạn không thấy họ. Bạn chỉ đuổi theo tiền. Bạn nghĩ khi tiền có đó thì mọi thứ
sẽ đẹp. Thế rồi bạn sẽ nghỉ ngơi và thế rồi bạn sẽ tận hưởng, và thế rồi bạn sẽ
mở hội và ca hát và nhảy múa, và làm bất kì cái gì bạn bao giờ cũng muốn làm
khi không có tiền làm nó và không có cơ hội làm nó.
Nhưng
bạn đã bao giờ nhìn vào những người có tiền chưa? Họ không nhảy múa, họ không mở
hội. Họ trông không sung sướng. Đôi khi bạn có thể bắt gặp người ăn mày trông
sung sướng, nhưng không thể nào bắt gặp người giầu trông sung sướng được. Gần
như là không thể nào tìm ra người giầu trông sung sướng. Bởi vì người ăn mày có
thể vẫn còn mơ, đó là lí do tại sao người đó có thể vẫn còn sung sướng. Người
đó có thể tin rằng ngày mai mọi sự sẽ tốt hơn, hay ngày kia mọi sự sẽ tốt hơn.
Có
tương lai cho người ăn mày, nhưng với người giầu thì toàn bộ tương lai đã biến
mất. Người đó đã đạt tới bất kì cái gì mình muốn đạt tới, và chẳng có gì trong
nó cả. Khi tiền chất thành chồng, người đó bỗng nhiên cảm thấy thất vọng. Bất
kì điều gì người đó đã thấy trong tiền, bây giờ người đó không còn có thể tìm
thấy trong nó nữa. Mơ đó đã biến mất.
Con
người liên tục mơ về quyền lực, danh vọng, kính trọng. Và bất kì khi nào người
đó có được nó, lại có thất vọng. Người hạnh phúc nhất là những người không bao
giờ đạt tới những ham muốn của mình. Người bất hạnh nhất là những người đã
thành công trong việc đạt tới những ham muốn đó - thế thì có thất vọng.
Bản
chất của ham muốn là mơ, và bạn có thể mơ chỉ khi mọi sự không có đó. Bạn có thể
mơ về vợ của hàng xóm - làm sao bạn có thể mơ về vợ riêng của mình được? Điều
đó chưa hề xảy ra. Bạn có thể mơ về vợ của ai đó khác. Người đó có thể mơ về vợ
bạn.
Bất
kì cái gì ở xa xa trông đều đẹp cả. Lại gần hơn, và mọi sự bắt đầu thay đổi. Thực
tại làm tan nát.
Phật
nói rằng nhận biết nghĩa là không mơ, nhận biết nghĩa là vứt bỏ việc ngủ vô ý
thức này mà chúng ta vẫn sống một cách bình thường. Chúng ta là những kẻ mộng
du, người đi trong mơ. Chúng ta cứ sống, nhưng việc sống của chúng ta rất hời hợt.
Sâu bên dưới toàn những mơ là mơ. Và dòng chảy ngầm của việc mơ cứ tiếp diễn -
và dòng chảy ngầm đó cứ làm biến chất cái nhìn của chúng ta. Dòng chảy ngầm đó
của việc mơ cứ làm cho mắt chúng ta bị vẩn đục. Dòng chảy ngầm đó của việc mơ cứ
làm cho đầu chúng ta bị ngầu bùn.
Người
sống trong giấc ngủ không bao giờ có thể là thông minh - và nhận biết lại là ngọn
lửa thuần khiết nhất của thông minh. Người sống trong giấc ngủ trở nên ngày một
ngu xuẩn hơn. Nếu bạn sống trong ngẩn ngơ, thì bạn sẽ trở thành ngu ngốc, bạn sẽ
trở thành đờ đẫn.
Sự
đờ đẫn này phải bị phá huỷ. Và nó có thể bị phá huỷ chỉ bằng việc trở nên nhận
biết nhiều hơn. Bước đi với nhiều nhận biết hơn. Ăn với nhiều nhận biết hơn.
Nói với nhiều nhận biết hơn. Lắng nghe với nhiều nhận biết hơn. Tôi đã từng
nghe:
Ngày
xưa một con khỉ mẹ bị một thay đổi triết học của tâm trí. Điều này làm cho nó
hay quên và thường không chú ý tới đứa con mới sinh của mình, có tên là
Charles. Giống như nhiều bà mẹ hiện đại khác, nó không chăm nom đủ, hay bị lãng
trí bởi những ý nghĩ của mình. Dầu vậy, nó vẫn trải qua trình tự thông thường
như mẹ nó đã làm trước đây cho nó, nhưng không theo cùng tinh thần đó. Nó buộc
con lên lưng mình và lơ đãng trèo lên cây cọ. Thế là nó ở đó. Và khi nó lục lọi
trong những việc tầm tầm, các vấn đề nảy ra trong óc nó, thì đứa con nhỏ tụt
ra, với tất cả cuộc sống trẻ trung của nó trước nó.
Trên
đường leo xuống, Charles, cũng có khuynh hướng nghiền ngẫm, gọi với lên,
"Mẹ ơi, sao chúng ta lại ở đây?"
"Chúng
ta ở đây," nó quan sát, "để bám vào."
Chúng
ta ở đây để bám vào - người ngủ chỉ làm có vậy cho tất cả cuộc sống của mình.
Người đó cứ cố gắng bám vào - với hi vọng, với mơ, với tương lai. Người đó bằng
cách nào đó cứ bám quanh, dường như đó là mục tiêu duy nhất của cuộc sống, dường
như chỉ ở đây là đủ. Nó là không đủ đâu. Chỉ sống thì vẫn không đủ - chừng nào
bạn chưa đi tới hiểu biết cuộc sống là gì. Chỉ ở đây là không đủ, chừng nào bạn
còn chưa nhận biết đầy đủ về việc ở đây, rằng trong nhận biết đó là cực lạc, rằng
trong nhận biết đó là sự mãn nguyện, rằng trong nhận biết đó là an bình.
Con
người có thể sống theo hai cách. Một cách là chỉ cứ bám quanh quẩn. Hay, có nhận
biết nhiều hơn: tại sao mình lại ở đây, và mình là ai. Phật nói toàn bộ tôn
giáo không là gì khác ngoài nỗ lực vô biên để trở nên nhận biết.
Lời
kinh thứ nhất:
Phật
nói:
Chẳng
có gì như thèm khát. Thèm khát có thể được gọi là đam mê mạnh nhất.
Có
thể chia mọi người ra làm hai loại rất dễ dàng và rất khoa học. Những người có
toàn bộ cuộc đời dâm dục; bất kì điều gì họ làm, bất kì điều gì họ nói, đều chỉ
hời hợt: sâu bên dưới sự ám ảnh của họ vẫn còn với dục. Nó bắt đầu khi bạn là đứa
trẻ nhỏ thậm chí không nhận biết về dục là gì. Trẻ con bắt đầu chơi quanh, và
trẻ con bắt đầu học mọi thứ xung quanh. Và điều đó tiếp tục cả đời. Và khi mọi
người chết đi trong tuổi già của họ, thì thế nữa họ vẫn còn bị ám ảnh với dục.
Đây
là một trong những quan sát của tôi, rằng khi một người sắp chết, bạn có thể thấy
trên khuôn mặt người đó, trong mắt người đó, kiểu cuộc sống mà người đó đã sống.
Nếu người ấy chết đi theo cách ngần ngại, kháng cự, tranh đấu chống lại cái chết,
không muốn chết, cảm thấy bất lực, muốn níu bám lấy cuộc sống, thế thì cuộc sống
của người đó vẫn còn là cuộc sống bị ám ảnh bởi dục. Và trong khoảnh khắc đó của
cuộc khủng hoảng lớn, trong khoảnh khắc của cái chết, tất cả dâm dục của người
đó sẽ trồi lên trong tâm thức người đó.
Mọi
người chết đi trong khi nghĩ về dục; chín mươi chín phần trăm mọi người chết đi
khi nghĩ về dục. Bạn sẽ ngạc nhiên. Chỉ hiếm khi mới có một người chết đi mà
không nghĩ tới dục. Người chết đi khi nghĩ tới dục lập tức được sinh ra - bởi
vì toàn bộ ý tưởng của người đó không là gì ngoài ám ảnh với dục. Ngay lập tức
người đó đi vào bụng mẹ. Và điều này phải là như vậy bởi vì trong khoảnh khắc của
cái chết toàn thể cuộc sống của bạn trở nên được cô đọng lại. Bất kì cái gì bạn
đã sống vì nó đơn giản phải được gặp lại trong khoảnh khắc của cái chết.
Nếu
bạn đã sống một cuộc sống của nhận biết, thế thì cái chết là rất thanh thản, an
bình, duyên dáng; thế thì có thanh cao và duyên dáng cho nó. Thế thì người ta
chỉ trượt vào trong nó, đón chào nó. Không có xung đột - có hợp tác. Người ta
đơn giản hợp tác với cái chết.
Người
dâm dục sợ chết bởi vì chết là tương phản với dục. Điều này cần phải được hiểu.
Dục là sinh; chết là tương phản với dục, bởi vì chết sẽ phá huỷ bất kì cái gì
sinh đã trao cho bạn. Chết không tương phản với sống. Để tôi nhắc bạn - trong
tâm trí bạn đây là phân đôi, sống và chết, điều đó là sai - chết không trực tiếp
đối lập với sống. Chết là trực tiếp đối lập với dục, bởi vì dục là đồng nghĩa với
sinh; sinh là bắt nguồn từ dục. Chết là tương phản với sinh; chết là tương phản
với dục. Chết không tương phản với sống.
Nếu
bạn sống một cuộc sống có nhận biết, dần dần năng lượng đã đi vào dục sẽ được
biến đổi. Không phải là bạn phải biến đổi nó - chính bởi nhận biết mà nó biến mất,
đích xác như khi bạn đem đuốc cháy sáng vào trong phòng và bóng tối biến mất. Dục
giống như bóng tối trong bản thể bạn. Nó có thể tồn tại chỉ nếu bạn không nhận
biết. Và Phật nói:
Không
có gì giống thế, chẳng có gì như thèm khát. Thèm khát có thể được gọi là đam mê
mạnh nhất.
Điều
đó bắt đầu rất sớm. Nếu bạn nghe những người theo Freud, và họ phải được nghe
theo bởi vì họ còn đúng hơn cái gọi là thánh nhân của bạn... thánh nhân của bạn
có thể nói cho bạn những chân lí thuận tiện và thoải mái, nhưng chân lí chẳng
bao giờ thuận tiện và chẳng bao giờ thoải mái cả. Freud đã nói những chân lí rất
không thoải mái. Chân lí là không thoải mái, bởi vì bạn đã sống cuộc sống của dối
trá.
Bất
kì khi nào ai đó nói ra chân lí, nó đều làm chấn động bạn, nó đập sâu, nó đánh
vào những dối trá của bạn, nó làm cho bạn không thoải mái, không thuận tiện. Bạn
bắt đầu bảo vệ dối trá của mình. Khi Freud khẳng định điều này, rằng đứa trẻ
ngay từ chính lúc ban đầu đã mang tính dục, ông ấy đã bị khắp thế giới phản đối.
Tất cả những cái gọi là người tôn giáo đều đối lập với ông ấy. Bây giờ, tôi
không thể nào tin được vào điều đó, rằng người tôn giáo lại có thể đối lập với
chân lí mênh mông như vậy.
Đứa
trẻ được sinh ra trong dục, phải mang tính dục. Và trẻ con bắt đầu chuẩn bị cho
cuộc sống dục của chúng. Tôi đã đọc một câu chuyện hay:
Một
bé gái nhỏ bốn tuổi và một bé trai ba tuổi bước đi tay nắm tay tới trước nhà
hàng xóm của chúng. "Chúng cháu đang chơi nhà," đứa bé gái nói khi
người hàng xóm mở cửa ra. "Đây là chồng cháu và cháu là vợ nó. Chúng cháu
vào được chứ?"
Bà
chủ thích thú với cảnh này. "Vào đi các cháu," bà ấy nói.
Khi
vào nhà rồi, bà ấy cho lũ trẻ nước chanh và bánh, chúng nhận lấy một cách biết
ơn. Khi cốc nước chanh thứ hai được đem ra, bé gái nhỏ từ chối và nói,
"Thôi cám ơn bác - chúng cháu phải đi bây giờ đây - chồng cháu vừa làm ướt
quần anh ấy rồi."
Điều
đó bắt đầu rất sớm: chồng và vợ và chơi nhà. Chúng đang chuẩn bị. Và điều đó diễn
ra cho tới tận cùng.
Câu
chuyện khác:
Một
bà thọ tám mươi tới bác sĩ tâm thần để phàn nàn về sự bất lực của chồng mình.
"Thế
chồng bà bao nhiêu tuổi rồi?" ông bác sĩ hỏi.
"Ông
ấy chín mươi."
"Và
khi nào bà chú ý lần đầu tiên việc ông ấy không quan tâm tới bà về mặt thể chất?"
"Thế
này," bà ấy nói, "lần đầu tiên là đêm qua - và lại sáng nay."
Ông
già chín mươi tuổi, và bà vợ lo lắng về sự bất lực của ông ấy - và bà ấy đã chú
ý điều đó vào đêm qua và sáng nay nữa. Điều đó cứ tiếp diễn - cả đời bị ám ảnh
với dục, từ bắt đầu tới kết thúc.
Bạn
thu lấy năng lượng bằng việc ăn thức ăn, bằng việc thở ô xi, bằng luyện tập; bằng
việc sống bạn tạo ra năng lượng. Con người là cái máy phát. Người đó cứ liên tục
tạo ra năng lượng. Và khi năng lượng này tích luỹ vào trong bản thể bạn, thì bạn
không thoải mái, bạn muốn tống nó ra - bởi vì bạn cảm thấy như gánh nặng. Dục
chỉ được dùng như việc giảm nhẹ. Bây giờ điều này là ngu xuẩn.
Từ
đầu này bạn cứ tích luỹ năng lượng, từ đầu kia bạn cứ ném nó đi. Đây là toàn bộ
cuộc sống! - thu năng lượng vào, ném năng lượng ra; thu năng lượng vào, ném
năng lượng ra. Nếu điều này chỉ có thế, tất cả điều đó phỏng có ích gì? Tại sao
người ta phải sống? Đấy là sự lặp lại. Đấy là cái vòng luẩn quẩn. Khi năng lượng
bị mất bạn đói năng lượng; khi năng lượng có đó bạn sẵn sàng làm mất nó. Bạn
tìm mọi cách và phương tiện để làm mất nó.
Phật
nói rằng đây là thứ mạnh nhất trong cuộc sống con người. Và nếu cuộc sống được
sống tương ứng theo điều này, cuộc sống là lãng phí, là cực kì lãng phí. Chẳng
cái gì phát sinh ra từ nó. Biết bao nhiêu chạy đuổi, chẳng bao giờ đạt tới đâu
cả. Biết bao nhiêu công việc, chẳng có sự hoàn thành. Đến cuối cùng cái chết tới,
và người ta thấy tay mình trống rỗng. Đây có thể là mục đích duy nhất của cuộc
sống không? Nếu đây là mục đích duy nhất của cuộc sống, cuộc sống không có
nghĩa, thế thì cuộc sống trong bản thân nó chỉ là ngẫu nhiên.
Một
trong những nhà tư tưởng sâu sắc nhất của phương Tây là G.K. Chesterton. Ông ấy
hay nói rằng hoặc con người là thần bị sa ngã, hoặc là con vật nào đó đã mất
hoàn toàn cái đầu của nó. Chỉ có hai khả năng: hoặc con người là thần sa ngã,
hoặc là con vật nào đó đã mất hoàn toàn cái đầu của nó. Nếu dục là tình tiết
duy nhất, thì con vật nào đó đã mất hoàn toàn cái đầu của nó. Phải có cái gì đó
nhiều hơn nó chứ. Phải có cái gì đó nhiều hơn cho cuộc sống, bằng không nó là
vô nghĩa. Bố mẹ bạn sống để cho sinh thành ra thêm vài đứa con, và chúng sẽ sống
để cho sinh ra ai đó khác. Và điều này cứ tiếp tục mãi - nhưng mục đích của tất
cả những cái đó là gì?
Phật
nói: Bằng việc trở nên nhận biết, bạn mở ra cánh cửa khác cho năng lượng. Năng
lượng dục đi xuống; năng lượng dục đi xuống đất; năng lượng dục chuyển đi theo
lực trọng trường. Khi bạn trở nên nhận biết, có thay đổi, thay đổi về hướng. Bạn
càng trở nên nhận biết hơn, năng lượng dục càng bắt đầu đi lên hơn - nó bắt đầu
đi ngược với lực trọng trường. Nó bắt đầu đi lên bầu trời. Nó bắt đầu đi lên những
đường thanh tao, không theo đường trọng trường.
Nếu
năng lượng dục đi xuống, đấy là phí hoài. Nếu năng lượng dục bắt đầu đi lên, bạn
bắt đầu làm bùng ra những thế giới mới, sự đầy đủ mới của bản thể, tầm cao mới
của tâm thức.
Bây
giờ, có hai khả năng để năng lượng này đi lên. Bạn có thể bắt nó đi lên. Đó là
điều hatha yoga làm. Đó là lí do tại sao trồng cây chuối lại thành có ý nghĩa.
Bạn có hiểu ý nghĩa của việc trồng cây chuối không? Đấy là một mẹo để dùng lực
hấp dẫn làm cho năng lượng dục đi lên đầu - nhưng dầu vậy bạn vẫn sống dưới lực
hút. Bạn trồng cây chuối; đầu trở thành thấp hơn trung tâm dục, năng lượng có
thể bắt đầu đi tới đầu. Nhưng bạn có thể trồng cây chuối được bao lâu? Lần nữa
bạn sẽ phải đứng trên đôi chân của mình. Bạn không vượt ra ngoài luật hấp dẫn.
Bạn chỉ dùng luật hấp dẫn. Trong thực tế, bạn đánh lừa lực hấp dẫn. Đó là việc
làm cái gì đó phi pháp theo cách hợp pháp. Nhưng bạn không thay đổi, bạn không
được biến đổi. Bản thể bạn vẫn còn như cũ.
Hatha
yoga đã phát triển nhiều phương pháp để ngăn cản năng lượng dục không cho đi xuống
và cách bắt nó đi lên - nhưng chúng tất cả đều là bạo hành, một loại xung đột bị
bắt buộc. Trưởng thành là không tự nhiên. Bạn có thể thấy điều đó trên khuôn mặt
của nhà hatha yogi. Khuôn mặt người đó bao giờ cũng căng thẳng. Bạn sẽ không
tìm thấy nét duyên dáng ở đó. Bạn sẽ không tìm thấy cái đẹp, cái huy hoàng. Bạn
sẽ không tìm thấy Thượng đế ở đó - bạn sẽ thấy bản ngã tinh vi. Người đó đã lừa
gạt - người đó đã lừa gạt chính bản thân tự nhiên. Nhưng bạn không thể lừa gạt
được; nó không thể là một thứ thực.
Phật
đã phát triển một phương pháp luận hoàn toàn khác - phương pháp luận của thanh
tao, của duyên dáng. Với điều đó Phật đã trở thành biểu tượng. Bạn đã bao giờ
thấy tượng Phật chưa? - duyên dáng thế, thiêng liêng thế, an bình thế; không một
thiếu sót, không một thoáng căng thẳng trên khuôn mặt ông ấy - hồn nhiên thế.
Ông ấy đã làm gì với năng lượng của mình? Ông ấy chưa bao giờ bó buộc nó, ông ấy
chưa bao giờ đấu tranh chống lại nó, và ông ấy chưa bao giờ lừa gạt tự nhiên.
Phật
đã trở nên nhận biết về một điều rất tinh tế - bây giờ khoa học biết rất rõ về
điều đó - rằng mọi luật đều có cái đối lập của nó dù bạn có biết hay không. Nếu
có điện dương thì phải có điện âm, bằng không dương không thể tồn tại được. Nếu
có một luật mà chúng ta gọi là lực trọng trường, kéo xuống đất, thì phải có luật
khác - dù chúng ta có biết tới nó hay không - ngược lại với lực trọng trường.
Các luật là đối lập lẫn nhau, và chỉ bởi vì sự đối lập và tương phản của chúng
mà chúng tạo ra tình huống để cho cuộc sống thành có khả năng.
Đàn
ông tồn tại vì đàn bà tồn tại. Đàn ông không thể tồn tại một mình và đàn bà
không thể tồn tại một mình. Chiều xuống tồn tại bởi vì chiều lên tồn tại, và hướng
ra tồn tại bởi vì hướng vào tồn tại. Cuộc sống tồn tại bởi vì cái chết tồn tại.
Nếu dục tồn tại thì phải có một luật có thể vượt ra ngoài dục. Và nếu dục đi xuống,
thì phải có một luật đáng được thăm dò và khám phá, luật đi lên, luật giúp cho
năng lượng đi lên.
Phật
đã thấy rằng bạn càng trở nên nhận biết hơn, thì năng lượng lại càng tự động đi
lên hơn.
Trong
thân thể con người có nhiều trung tâm, và mỗi trung tâm lại thay đổi phẩm chất
của năng lượng. Bạn chẳng thấy mọi ngày rằng điện có thể được đổi thành nhiều dạng
thế sao? Đâu đó nó làm cho quạt chạy, đâu đó nó làm cho động cơ chạy. Chỉ cần
các máy móc khác là đủ cho nó và nó có thể được dùng trong hàng triệu dạng.
Trong từng con người cũng có nhiều trung tâm. Trung tâm dục là thấp nhất. Khi
năng lượng đi vào trung tâm đó, nó trở thành lực sinh sản; bạn có thể cho sinh
ra trẻ con. Đấy là cách sử dụng thấp nhất của năng lượng dục. Nếu nó bắt đầu đi
lên cao hơn chút ít, những phẩm chất khác bắt đầu tới với nó. Khi nó tới trung
tâm trái tim, nó trở thành tình yêu. Và tình yêu cho bạn một thế giới hoàn toàn
khác.
Người
có năng lượng đi vào trung tâm dục chẳng bao giờ biết được nhiều điều. Nếu một
người đàn bà đi qua, người đó sẽ chỉ thấy dạng vật lí. Nếu năng lượng của bạn
đi vào trung tâm trái tim, thì khi một người đàn bà đi qua bạn sẽ có khả năng
thấy thể tinh tế của cô ấy - thể cao cấp hơn nhiều, thể đẹp hơn nhiều. Nếu một
người đàn bà đi qua bên bạn và năng lượng của bạn đang đi tới trung tâm trái
tim, bạn sẽ có khả năng cảm thấy trái tim cô ấy, không chỉ thân thể cô ấy. Và
đôi khi việc xảy ra là một trái tim đẹp có thể tồn tại trong một thân thể rất
thô kệch. Và điều tương phản lại cũng đúng: một trái tim rất xấu có thể tồn tại
trong một thân thể rất đẹp.
Nếu
bạn chỉ có thể thấy thân thể vật lí, bạn sẽ gặp rắc rối chẳng chóng thì chầy -
bởi vì đàn ông không sống với thân thể đàn bà; đàn ông sống với trái tim đàn
bà. Cuộc sống là của trái tim. Bạn có thể chọn người đàn bà trông thì đẹp đấy
nhưng mà lại xấu, nếu trái tim cô ấy không đẹp, nếu dạng tinh tế của cô ấy
không đẹp - thế thì bạn sẽ gặp rắc rối. Bạn có thể chọn người đàn ông trông rất
đẹp trai, rất mạnh mẽ, nhưng có thể chỉ là một con vật, có thể không có cái đẹp
bên trong, có thể không có phẩm chất bên trong, có thể chỉ là thân thể và không
là gì khác - thế thì bạn nhất định gặp rắc rối. Chẳng chóng thì chầy bạn sẽ phải
sống với con vật. Và bạn bao giờ cũng sẽ tự hỏi rằng "Điều gì đã xảy ra
cho người đàn ông đẹp thế? Điều gì đã xảy ra cho người đàn bà đẹp thế?"
Nếu
năng lượng của bạn vẫn còn đi lên cao hơn, thế thì đỉnh cao nhất là sahasrar -
nơi nó trở thành cầu nguyện, nơi bỗng nhiên con mắt bên trong nhất của bạn mở
ra và bạn không chỉ thấy thân thể, bạn có thể thấy trái tim, bạn có thể thấy
linh hồn. Người có sahasrar đã mở cũng nhìn vào thế giới, nhưng thế giới này
hoàn toàn khác bởi vì người đó không bao giờ thấy chỉ thân thể. Ngay cả người
đó nhìn vào cây cối, người đó cũng nhìn vào linh hồn của cây cối. Dạng này
không chỉ là vật - nó có đó, nhưng bây giờ nó chói sáng từ ánh sáng bên trong.
Người
sống tại sahasrar của mình, sống trong một thế giới hoàn toàn khác. Bạn có thể
nghĩ rằng Phật đang bước đi cùng bạn trên đường - ông ấy đang bước trên con đường
khác đấy, ông ấy đang bước trong thế giới khác đấy. Ông ấy có thể chỉ bước cùng
bạn, nhưng điều đó không có ý nghĩa gì cả - bởi vì tầm nhìn của ông ấy là khác.
Năng lượng của ông ấy ở một tầm cao khác. Ông ấy nhìn vào thế giới từ sự sáng tỏ
khác.
Phật
nói rằng thèm khát là thứ mạnh nhất trong cuộc đời con người, bởi vì nó là bình
chứa cho mọi năng lượng của con người. Nhưng không cần phải cảm thấy nản lòng:
"Chẳng
có gì như thèm khát.
Thèm
khát có thể được gọi là đam mê mạnh nhất.
May
mắn thay chúng ta có một thứ còn mạnh hơn.
Nếu
khao khát về chân lí mà yếu hơn đam mê,
thì
bao nhiêu người trong chúng ta sẽ có khả năng
theo
con đường của lẽ phải?
Ông
ấy nói chỉ có một điều cao hơn thèm khát, đó là khao khát chân lí. Chỉ có một
điều cao hơn cuộc sống và đó là tìm kiếm chân lí. Mọi người có thể hi sinh cuộc
sống của mình cho nó. Họ có thể hi sinh niềm đam mê của mình cho nó. Niềm đam
mê cao nhất là về chân lí; Phật gọi điều đó là đam mê chân lí - bạn có thể gọi
nó là niềm đam mê Thượng đế - chúng đều mang cùng một nghĩa.
Đó
là lí do tại sao người đã sống chỉ cuộc sống dục không thể hiểu được câu chuyện
của một Meera, câu chuyện của một Chaitanya, câu chuyện của Christ, Phật,
Krishna - người đó không thể nào hiểu được. Đây là cái kiểu người gì vậy? Khi
Jesus có đó, nhiều người đã tự hỏi: "Jesus này là cái kiểu người gì vậy?
Cái loại người gì thế này?" bởi vì họ chỉ biết một cuộc sống, đó là cuộc sống
của thèm khát và dục vọng. Còn con người này dường như trong một thế giới hoàn toàn
khác. Dường như là toàn bộ năng lượng dục của ông ấy đã nhằm vào đâu đó cao
trên bầu trời. Mục tiêu của ông ấy dường như ở đâu đó khác - nó không ở trong
thế giới này. Nó là không thấy được: nó là vô hình. Bạn không thể chạm được vào
nó. Bạn không thể đo được nó. Bạn không thể thấy được nó. Nhưng cuộc sống của
ông ấy là từ đam mê lớn lao, cuộc sống của ông ấy là cuộc phiêu lưu lớn lao.
Phật
không thiên về từ bỏ, nhớ lấy. Ông ấy thiên về biến đổi. Năng lượng đi vào dục
phải được hướng tới chân lí.
Thông
thường, mọi người chỉ muốn thăm dò lẫn nhau: đàn bà muốn thăm dò đàn ông; đàn
ông muốn thăm dò đàn bà. Dường như là toàn bộ cuộc sống của họ chỉ là việc thám
hiểm bản thể của nhau. Niềm khao khát chân lí nghĩa là người ta muốn thăm dò
vào bản thể của toàn thể sự tồn tại này. Nó là niềm đam mê lớn - niềm đam mê lớn
lao nhất. Và nó phải mạnh hơn dục, bằng không, Phật nói, làm sao người nào sẽ
đi tới nó được?
Mọi
người đều di chuyển, nhưng làm sao họ đi tới biết được niềm khao khát về chân
lí này? Để tôi giải thích điều đó cho bạn. Và nhiều điều phụ thuộc vào cách bạn
cảm thấy niềm khao khát về chân lí này. Bạn có thể tới bằng việc nghe tôi, bạn
có thể tới bằng việc đọc sách, bạn có thể tới bằng việc thấy một con người của
sáng suốt - nhưng điều đó sẽ chẳng có ích gì nhiều, bởi vì điều đó sẽ là thứ
vay mượn còn niềm khao khát thì chẳng bao giờ có thể được vay mượn cả. Hoặc là
nó có đó, hoặc là nó không có đó - bạn không thể giả vờ rằng bạn khao khát. Với
việc giả vờ của bạn, niềm khao khát sẽ không được tạo ra, và điều đó tạo ra nhiều
khổ trên thế giới.
Nhiều
người tới tôi và họ nói họ muốn tìm kiếm và niềm khao khát lại không được tạo
ra, và điều đó tạo ra nhiều khổ trên thế giới.
Nhiều
người tới tôi và họ nói họ muốn tìm và kiếm chân lí là gì. Tôi hỏi họ chỉ mỗi một
điều: Cuộc sống của bạn, như bạn đã sống nó cho tới giờ, có chứng tỏ là ảo tưởng
không? Nếu nó còn chưa chứng tỏ là ảo tưởng, thế thì niềm khao khát thực về
chân lí vẫn còn chưa thể nảy sinh được. Khi bạn đã thấy ra tính ảo tưởng của cuộc
sống của mình, chỉ thế thì niềm khao khát thực mới nảy sinh - để biết chân lí
là gì. Nếu bạn vẫn còn trong ảo tưởng của cuộc sống, nếu bạn vẫn còn bị nó bỏ
bùa, nếu bạn vẫn bị nó gây ảo giác, nếu bạn vẫn trong thôi miên đó của ham muốn
và mơ, thế thì nói về chân lí sẽ chỉ là một ảo tưởng khác, ham muốn khác. Điều
đó sẽ chẳng ích gì.
Chân
lí không thể là một trong những ham muốn của bạn được. Chân lí chỉ có thể có đó
khi tất cả những ham muốn đã chứng tỏ là vô ích, và toàn bộ năng lượng của bạn
đều sẵn có và bạn không biết đâu mà đi, bởi vì toàn bộ cuộc sống dường như vô
nghĩa. Bạn bị mắc kẹt. Bạn cực kì thất vọng. Bạn đã thất bại và tất cả mọi giấc
mơ của bạn đều đã biến mất. Bạn bị tan tành tới tận cội rễ. Bạn đang đứng đó rộn
ràng với năng lượng mà chẳng biết đi đâu. Thế thì năng lượng đó trở thành cái
vũng và tạo ra niềm khao khát mới trong bạn: niềm khao khát biết chân lí. Khi
thế giới này đã được biết tới là như ảo tưởng, chỉ thế thì...
Cho
nên kinh nghiệm thế giới này thật sâu sắc hết mức đi. Đừng bỏ trốn khỏi đâu cả
- thậm chí với dục cũng không. Đừng bao giờ trốn khỏi đâu cả. Chỉ làm một điều:
bất kì khi nào bạn hiện hữu và bất kì khi nào giấc mơ của bạn di chuyển, đi với
tỉnh táo, nhận biết. Ngay cả bạn đi vào dục, làm cho nó thành thiền, mang tính
quan sát về điều đang xảy ra. Và dần dần bạn sẽ có khả năng thấy tính ảo tưởng
của nó, cái vô tích sự, cái lặp lại vô nghĩa, cái chán chường, cái đờ đẫn, cái
chết cứ ngày một tới gần hơn qua nó. Bạn càng làm phí hoài năng lượng của mình,
bạn lại càng tới gần cái chết hơn.
Tôi
đã từng nghe:
Một
người bạn của tôi kể câu chuyện này về một người bán rong đi qua một thị trấn
thôn quê nhỏ ở miền Tây, thấy một ông già bé nhỏ ngồi trên một tảng đá trên
hiên ngôi nhà mình. Ông già nhỏ bé trông mãn nguyện đến mức anh chàng bán rong
không thể cưỡng được việc đi tới và nói chuyện với ông ấy.
"Ông
trông cứ như là ông chẳng quan tâm gì tới thế giới cả," người bán rong nói
với ông ta. "Công thức của ông cho sống lâu và hạnh phúc là gì?"
"Thế
này," ông già nhỏ bé đáp, "Tôi hút sáu bao thuốc lá một ngày, cứ bốn
tiếng tôi lại uống một phần tư chai rượu ngô, và uống sáu hòm bia một tuần. Tôi
chưa bao giờ tắm táp và tôi đi chơi mọi đêm."
"Trời
đất," người bán rong than, "điều đó thật vĩ đại quá!
Ông
bao nhiêu tuổi rồi?"
"Hai
mươi nhăm" là câu trả lời.
Bạn
có thể cứ làm phí hoài năng lượng...
Mỗi
bước tiến vào trong ảo tưởng đều là tiến tới cái chết. Mỗi bước đi bạn tiến vào
thèm khát, bạn đã tiến thêm tới cái chết. Cho nên cẩn thận với nó và nhận biết
đi. Nhận biết thực sự bạn đang muốn gì qua nó. Đấy chỉ là thói quen sao? Đấy chỉ
là việc thôi miên tự nhiên sao? Đấy chỉ là bạn cứ làm điều đó bởi vì bạn không
biết phải làm gì khác sao? Đấy chỉ là nghề nghiệp sao? Đấy chỉ là việc quên đi
những lo toan của cuộc sống sao? Hay nó là cái gì?
Và
đừng đi với bất kì định kiến nào. Đừng nghe điều các thánh nhân đã nói. Họ có
thể nói điều đó là xấu, nhưng đừng nghe điều đó - và họ có thể là đúng, nhưng bạn
phải tìm ra nó bằng kinh nghiệm riêng của mình. Chỉ thế, và chỉ thế thì bạn mới
bắt đầu đi tới chân lí. Chỉ kinh nghiệm của bạn mới có thể đem bạn tới chân lí;
không kinh nghiệm của ai khác.
Một
khi bạn đã thấy chân lí của điều đó, rằng chẳng có gì trong nó cả, thì năng lượng
được giải toả khỏi gánh nặng, năng lượng được giải toả khỏi những hình mẫu cũ,
và năng lượng cứ tụ tập lại bên trong bạn.
Các
nhà khoa học đã phát hiện ra một luật là lượng đổi chất đổi ở giai đoạn nào đó.
Chẳng hạn, nếu bạn đun nước nó chỉ bay hơi khi nhiệt độ đạt tới một trăm độ,
chưa bao giờ trước đó. Tại chín mươi độ nước có thể nóng, nhưng không bay hơi.
Tại chín mươi chín độ nó rất nóng, nhưng không bay hơi. Và chỉ một độ thêm,
đúng một trăm độ, và bỗng nhiên có cái nhảy, bước nhảy, và nước bắt đầu chuyển
động.
Và
bạn có thấy sự thay đổi không? Nước tự nhiên chảy xuống, nhưng khi nó bay hơi,
nó bắt đầu bay lên - nó đã lấy một con đường khác. Mà bạn chẳng làm gì ngoài việc
đun nóng nó tới nhiệt độ nào đó. Một lượng nhiệt nào đó và thay đổi phẩm chất xảy
ra. Nước trở thành vô hình; hơi nước trở thành vô hình. Nước đi xuống, hơi nước
đi lên.
Đích
xác cùng điều đó xảy ra trong năng lượng dục: một lượng nào đó, một số lượng
nào đó, phải được tích luỹ trước khi thay đổi xảy ra. Bạn phải trở thành bình
chứa năng lượng, và từ số lượng cực đỉnh đó tại một khoảnh khắc nào đó có cú nhảy;
năng lượng không còn đi xuống nữa - năng lượng bắt đầu đi lên, và đích xác giống
như hơi nước.
Khi
năng lượng đi xuống, dục là thấy rõ được. Đó là lí do tại sao các nhà khoa học
không thể nào khám phá ra điều gì đã xảy ra khi năng lượng đi lên - nó trở thành
vô hình. Nó trở thành phi vật chất. Nó chắc chắn chuyển động, nhưng không có lối
chuyển cho nó. Nếu bạn mổ thân thể của vị phật, bạn sẽ không tìm ra lối chuyển
nào cho năng lượng dục đi lên - không có lối chuyển. Lối chuyển là không cần
thiết. Nếu nước chuyển xuống thì cần có kênh; nhưng khi nước trở thành hơi lại
chẳng cần kênh nào cả - nó đơn giản di chuyển và trở thành vô hình. Đích xác
cùng điều đó xảy ra cho năng lượng dục.
Nhận
biết là nhiệt. Tại Ấn Độ, chúng ta đã gọi nó chính xác là: tap - tap nghĩa là
nhiệt. Tap không có nghĩa là bạn đứng dưới mặt trời nóng; nó đơn giản nghĩa là
bạn đem nhiều lửa của nhận biết vào bên trong mình. Ngọn lửa đó của nhận biết
nung nóng năng lượng dục của bạn: đây là giả kim thuật bên trong - và năng lượng
bắt đầu đi lên.
Trước
hết dục của bạn sẽ trở thành tình yêu, và thế rồi nó sẽ trở thành thiền hay cầu
nguyện. Nếu bạn theo thuật ngữ của thành tâm, bạn có thể gọi nó là cầu nguyện.
Nếu bạn theo thuật ngữ khoa học hơn, bạn có thể gọi nó là thiền. Và một khi
năng lượng của bạn đi lên, thế thì bạn thấy mọi thứ trong ánh sáng hoàn toàn
khác.
Tôi
đã từng nghe:
Một
ông già nhỏ bé đang ngồi trên chiếc xe buýt kêu lầm rầm, "Dee dee dum dum,
dee dee dum."
Người
lái xe quay lại và để ý thấy một chiếc va li chắn lối đi. Ông ta quay về phía
ông già này và nói, "Xin phiền ông chuyển giùm chiếc va li này đi
cho?" còn ông già thì đáp lại, "Dee dee dum dum, dee dee dum."
Rất
thất vọng, người lái xe nhảy ra và tóm lấy chiếc va li quẳng nó ra khỏi cửa sổ
xe rồi nhìn trừng trừng vào ông già này và hét lên, "Bây giờ thì ông phải
nói gì đây?"
Ông
già nhìn vào ông ta mỉm cười và nói, "Dee dee dum dum, dee dee dum - nó
không phải là va li của tôi."
Một
khi bạn đã bắt đầu chuyển động, ngay cả cái chết cũng không phải là cái chết của
bạn, ngay cả thân thể cũng không phải là thân thể của bạn, ngay cả tâm trí cũng
không phải là tâm trí của bạn. Bạn có thể cứ hát: Dee dee dum dum.... Ngay cả
khi cái chết tới gần bạn, bạn cũng có thể cứ lầm rầm nói - bởi vì va li không
phải là của bạn.
Con
người của nhận biết có thể chết dễ dàng thế, an bình thế. Người đó sống an bình
thế, người đó chết an bình thế. Con người của bản năng dục sống bất ổn, chết bất
ổn. Điều đó là chọn lựa của bạn.
Phật
không ủng hộ kìm nén - ông ấy không thể thế được, mặc cho điều các nhà diễn giải
Phật giáo đã nói suốt nhiều thời đại. Tôi không đồng ý với họ. Diễn giải này phải
sai - bởi vì tôi biết điều đó từ kinh nghiệm riêng của mình rằng kìm nén không
thể nào giúp được ai, kìm nén không bao giờ có thể trở thành biến đổi hình
thái. Kìm nén lôi bạn xuống.
Vấn
đề không phải là kìm nén: vấn đề là nhận biết. Tất nhiên, từ bên ngoài nó có thể
giống như kìm nén. Bạn chạy xô về tiền; bỗng nhiên trên đường bạn bắt gặp một
kho báu, và ai đó khác đang đi qua. Người đó cũng nhìn vào nó nhưng lại không
quan tâm. Bạn sẽ nghĩ gì về người đó? Bạn sợ rằng người đó có thể tranh kho
báu, người đó có thể bắt đầu đòi kho báu phải được chia thành hai phần - nhưng
người đó cứ đi tiếp, người đó không bận tâm về kho báu đó. Bạn sẽ nghĩ hoặc người
đó điên, hoặc người đó là người từ bỏ, người đó đã từ bỏ thế giới và kìm nén
ham muốn về tiền bạc.
Bạn
không thể hiểu được rằng có thể có người không thể nào thấy được cái gì ở tiền
cả. Bạn sẽ nghĩ điều đó là không thể được bởi vì bạn thấy nhiều thứ trong nó thế.
Cả đời bạn dường như là vô nghĩa nếu không có tiền. Tiền dường như là cả cuộc đời
bạn. Làm sao bạn có thể tin được rằng có người mà tiền đối với người đó đơn giản
là vô nghĩa? Chỉ hai điều là có thể: hoặc người đó ngu quá đến mức chẳng biết
khác biệt giữa tiền và không tiền; hay người đó đã kìm nén ham muốn của mình -
người đó đã kìm nén ham muốn của mình, tham lam của mình, tham vọng của mình.
Khi
một người như Phật xuất hiện trên thế giới, mọi người diễn giải điều đó theo
tâm trí riêng của mình. Ông ấy trông xa xăm thế, chỉ có hai khả năng: những người
chống ông ấy, họ sẽ nói ông ấy là mất trí; những người ủng hộ ông ấy, họ sẽ nói
ông ấy đã rèn kỉ luật cho cuộc đời mình, một cách khéo léo ông ấy đã vứt bỏ
tham lam, thèm khát của mình. Nhưng cả hai đều sai. Cả hai phải sai bởi vì cả
hai đều không có khả năng hiểu vị phật.
Bạn
có thể hiểu vị phật chỉ khi bạn là vị phật; không có cách khác để hiểu. Nếu bạn
muốn hiểu ai đó người đang đứng trên đỉnh núi Himalaya, bạn phải lên tới đỉnh
đó - chỉ thế thì tầm nhìn của người đó mới trở thành tầm nhìn của bạn.
Tôi
muốn nói rằng tất cả mọi diễn giải về Phật đều sai - sai theo nghĩa là tất cả
chúng đều ngụ ý rằng dường như ông ấy dạy kìm nén. Ông ấy không dạy kìm nén.
Ông ấy chỉ dạy nhận biết. Trong nhận biết, mọi sự đều thay đổi. Qua kìm nén, bạn
có thể xoay xở cách nào đó nhưng mọi sự vẫn còn nguyên như cũ.
Tôi
đã đọc về nhà thờ và linh mục:
Một
cô gái hở ngực cố vào nhà thờ. Cha sở ngăn cô lại tại cổng. "Nhưng thưa
cha sở, cha không thể ngăn con vào nhà thờ được," cô ta phản đối.
"Con có quyền thiêng liêng."
"Chúng
cả hai đều thiêng liêng," ông ta nói, "nhưng đấy không phải là vấn đề
- con phải về nhà và mặc cái gì đó tôn kính hơn vào."
Bây
giờ cô ấy nói, "Con có quyền thiêng liêng," còn ông linh mục nói,
"Chúng cả hai đều thiêng liêng." Tâm trí kìm nén của ông linh mục -
ông ấy phải đang nhìn vào cặp vú của cô ấy. Ông ấy nói, "Chúng cả hai đều
thiêng liêng, nhưng dẫu sao con vẫn phải về nhà và mặc cái gì đó tôn kính hơn
vào."
Bạn
có thể kìm nén ham muốn, nhưng bạn không thể nhổ rễ nó đi được. Nó sẽ tới theo
những cách tinh vi. Nó sẽ trồi lên bề mặt dưới nhiều dạng. Nó có thể nguỵ trang
đến mức bạn thậm chí không có khả năng phát hiện ra nó. Người kìm nén không phải
là người được biến đổi. Người đó vẫn còn như cũ - người đó chỉ xoay xở để là ai
đó khác, không phải là người đó.
Phật
không ủng hộ kìm nén. Phật ủng hộ biến đổi. Kìm nén là rất dễ dàng. Bạn có thể
kìm nén dục của mình - đó là điều biết bao nhiêu thánh nhân đang làm. Bạn có thể
vứt bỏ xã hội, bạn có thể chạy trốn khỏi phụ nữ. Bạn có thể đi tới các hang động
Himalaya và ngồi đó, và bạn có thể nghĩ rằng mình đã đạt tới vô dục - nhưng điều
này không phải là vô dục. Ngồi đó trong các hang động Himalaya của mình, bạn sẽ
vẫn mơ về đàn bà - thậm chí còn nhiều hơn, bởi vì bạn sẽ ở xa đàn bà thế. Trí
tưởng tượng của bạn sẽ trở thành phiêu diêu và mầu sắc hơn. Tất nhiên, bạn sẽ
tranh đấu với nó, nhưng bằng việc tranh đấu bạn có thể buộc ham muốn vào sâu
trong vô thức của mình - bạn không thể nhổ bật gốc rễ của nó được. Bởi việc
tranh đấu chẳng ai đã bao giờ được thay đổi. Chỉ bằng nhận biết mà người ta mới
thay đổi.
Nhận
biết không phải là tranh đấu. Nhận biết là gì? Nhận biết là không chấp nhận
không bác bỏ.
Có
câu ngạn ngữ nổi tiếng của Tilopa: "Thực sự, bởi vì chấp nhận và bác bỏ của
mình mà chúng ta không mang tính như vậy của mọi thứ" - chúng ta bỏ lỡ
tính như vậy của mọi thứ. Chúng ta không thể trở nên nhận biết về thực tại nào
đang đấy bởi vì chúng ta chấp nhận hay chúng ta bác bỏ. Khi chúng ta chấp nhận,
chúng ta thích thú. Khi chúng ta bác bỏ, chúng ta kìm nén. Phật nói: Đừng chấp
nhận, đừng bác bỏ - chỉ tỉnh táo, chỉ thấy. Nhìn, không định kiến ủng hộ hay phản
đối.
Nếu
bạn có thể trong trạng thái dửng dưng như vậy - trong nhận biết không đánh giá,
không phán xét như thế, mọi sự bắt đầu thay đổi theo cách của chúng.
Tilopa
nói:
Nó
chưa bao giờ rời khỏi chỗ này
và
nó bao giờ cũng hoàn hảo.
Khi
bạn tìm nó,
Bạn
thấy mình không thể nào thấy được nó.
Bạn
không thể lấy được nó, bạn không thể gạt bỏ nó.
Khi
bạn không làm cả hai - nó có đó!
Khi
bạn im lặng, nó nói.
Khi
bạn nói, nó im lặng.
"Bạn
không thể lấy được nó, bạn không thể gạt bỏ nó - nó bao giờ cũng có đó. Khi bạn
không làm cả hai điều này, nó có đó.”
Nhận
biết không phải là cái gì đó bạn phải làm. Nhận biết không phải là cái gì đó bạn
phải ép buộc vào mình, áp đặt lên mình. Khi bạn không làm gì, nó có đó. Việc
làm của bạn là việc không làm của bạn.
May
mắn thay chúng ta có một thứ còn mạnh hơn.
Nếu
khao khát về chân lí mà yếu hơn đam mê,
bao
nhiêu người trong chúng ta sẽ có khả năng
theo
con đường của lẽ phải?
Phật
nói:
"Những
người nghiện với những đam mê
đều
giống như người mang đuốc chạy ngược chiều gió;
tay
người đó chắc chắn sẽ bị bỏng.
Bạn
có thể nhìn: tay mọi người đều bị bỏng. Nhưng bạn chưa bao giờ nhìn vào tay mình.
Bạn bao giờ cũng nhìn vào tay người khác và bạn nói, "Đấy, tay họ dường
như bị bỏng rồi - nhưng tôi khéo hơn, tôi giỏi hơn: tôi sẽ mang bó đuốc và chạy
ngược chiều gió, và tôi sẽ chỉ cho anh rằng tôi là ngoại lệ." Không ai là
ngoại lệ cả. Sự tồn tại không cho phép bất kì ngoại lệ nào. Tay bạn cũng sẽ bị
bỏng nếu bạn chạy, lao đi ngược chiều gió và mang bó đuốc, đuốc đang cháy. Thèm
khát là chạy ngược chiều gió. Không ai ra khỏi nó mà không bị bỏng.
Nhưng
mọi người cứ nhìn vào nhau. Chẳng ai nhìn vào mình cả. Khoảnh khắc bạn bắt đầu
nhìn vào mình bạn trở thành một sannyasin.
Tôi
đã đọc:
Bà
Cantor ngờ chồng mình dấm dúi với cô hầu. Khi phải đi vài ngày tới bà mẹ ốm yếu,
bà ta bảo đứa con nhỏ của mình, Harvey, để mắt tới bố và cô hầu.
Ngay
khi bà ấy trở về, bà ấy hỏi luôn: "Harvey, có chuyện gì xảy ra
không?"
"Thế
này," đứa bé nói, "Bố và cô hầu đi vào phòng ngủ và cởi quần áo và
..."
"Dừng!
Dừng lại!" Bà Cantor kêu lên. "Chúng ta sẽ đợi cho tới khi bố về
nhà."
Bố
bị bà vợ giận dữ, cô hầu hèn hạ và cậu con lẫn lộn gặp ngay tại cổng.
"Harvey, hãy kể cho mẹ điều đã xảy ra với bố và cô hầu," bà Cantor
quát tháo ầm ĩ.
"Như
con đã kể với mẹ đấy," Harvey nói. "Bố và cô hầu vào phòng ngủ và cởi
quần áo ra."
"Rồi!
Rồi! Tiếp đi, Harvey!" bà Cantor nôn nóng nói. "Rồi họ đã làm
gì?"
Harvey
đáp: "Thế này, mẹ ạ, họ làm cùng điều mẹ và bác Bernie đã làm khi bố đi
Chicago."
Mọi
người cứ nhìn, mọi người cứ thấy lỗi, khuyết điểm, cái ngu xuẩn của người khác.
Chẳng ai nhìn vào mình cả. Cái ngày bạn bắt đầu nhìn vào bản thân mình bạn là
sannyasin. Cái ngày bạn bắt đầu nhìn vào bản thân mình, thay đổi lớn diễn ra
trên con đường. Bạn đã lấy bước đầu tiên - ngược lại thèm khát, hướng tới tình
yêu; ngược với ham muốn, hướng tới vô ham muốn - bởi vì khi bạn nhìn bàn tay của
mình, chúng đã bị bỏng biết bao nhiêu lần rồi, bạn đang mang biết bao nhiêu vết
thương.
Nhìn
vào người khác chỉ là cách tránh né nhìn vào bản thân mình. Bất kì khi nào bạn
phê phán ai đó khác, quan sát đi: đấy là thủ đoạn của tâm trí để cho bạn có thể
tự tha thứ cho mình. Mọi người cứ đi phê phán người khác; khi họ phê phán toàn
thể thế giới họ cảm thấy rất thoải mái. Trong so sánh họ có thể nghĩ họ không tồi
hơn người khác; trong thực tế, họ tốt hơn. Đó là lí do tại sao khi bạn phê phán
người khác, bạn nói quá lên, bạn đi tới chính cực đoan; bạn làm ra núi từ đụn đất
chuột đào; bạn cứ làm cho núi đó ngày một lớn mãi lớn mãi và lớn mãi, thế thì
trái núi riêng của bạn trông rất nhỏ. Bạn cảm thấy hạnh phúc.
Dừng
điều này lại! Điều này sẽ chẳng ích gì cho bạn cả. Đây chính là tự tử. Tại đây
bạn đừng nghĩ về người khác. Cuộc sống của bạn là của bạn. Nghĩ về người khác sẽ
chẳng có ích lợi gì. Nghĩ về chính bản thân mình đi. Suy tư về cái ngã riêng của
bạn. Trở nên nhận biết hơn về điều bạn đang làm ở đây - chỉ quanh quẩn đấy sao?
Hay bạn đang thực sự làm cái gì đó? Và điều duy nhất có thể dựa vào được là nhận
biết. Chỉ nhận biết mới có thể mang bạn đi qua cái chết, qua cánh cửa của cái
chết - không cái gì khác.
Một
chuyện ngụ ngôn hay tiếp đó:
Ngọc
hoàng Thượng đế phái tiên nữ đẹp tới Phật,
muốn
cám dỗ ông ấy sang con đường xấu.
Nhưng
Phật đã nói: "Đi đi!
Phỏng
có ích gì để ta có cái túi da đầy những rác rưởi
mà
các ông đã đem lại cho ta?
Thế
rồi, thượng đế chân thành cúi đầu
và
hỏi Phật về tinh hoa của Đạo,
trong
đó Phật đã hướng dẫn,
tương
truyền rằng thượng đế đã đạt tới quả dự lưu srotaapanna.
Một
chuyện ngụ ngôn hay: Brahma tới Phật.... Người Hindu chẳng bao giờ tha thứ cho
các phật tử vì việc bầy ra chuyện cổ tích hay thế, bởi vì người Hindu nghĩ rằng
Brahma là Đấng sáng tạo thế giới. Mà phật tử thì lại nói Brahma tới Phật để được
hướng dẫn về đường Đạo. Tất nhiên, như phép thử thì ông ấy đã đem đến một tiên
nữ đẹp tuyệt trần.
Điều
đó là có ý nghĩa bởi vì chỉ có hai kiểu người: người của dục và người của chân
lí. Cho nên nếu Phật thực sự là con người của chân lí thế thì ông ấy không thể
bị lừa, thế thì bạn không thể tạo ra bất kì ảo giác nào cho ông ấy. Nàng tiên đẹp
nhất này sẽ chẳng có ý nghĩa gì với ông ấy cả. Và điều đó sẽ là hòn đá thử xem
liệu ông ấy đã đạt tới chân lí hay chưa. Khi một người hoàn toàn vượt ra ngoài
dục, chỉ thế thôi, bằng không năng lượng của người đó vẫn còn chuyển động, vẫn
còn chuyển động theo hướng thèm khát, vẫn còn đi xuống.
Ngọc
hoàng Thượng đế - Brahma - phái tiên nữ đẹp tới Phật,
muốn
cám dỗ ông ấy sang con đường xấu.
Cám
dỗ đó là phép thử, và cám dỗ đó tới ở ngay chỗ cuối cùng. Trong tất cả mọi tôn
giáo trên thế giới bạn phải bắt gặp những câu chuyện giống thế này. Khi Jesus tới
gần, sắp về nhà, quỉ cám dỗ ông ấy. Khi Phật đã đạt tới rất gần, thì Brahma tới
và cám dỗ ông ấy. Những câu chuyện như vậy có đó trong cuộc sống của Mahavira,
trong cuộc sống của mọi người đã đạt tới chân lí. Phải có ý nghĩa cho những
chuyện ngụ ngôn này.
Tôi
không định nói rằng điều đó đã xảy ra đích xác như nó được kể lại trong chuyện
ngụ ngôn này. Đây là những chuyện ngụ ngôn tượng trưng; chúng không có sự kiện
lịch sử - nhưng chúng rất có nghĩa.
Tôi
đã đọc về Baal Shem, một nhà huyền môn Hasid, người sáng lập ra phái Hasid. Một
hôm một đệ tử tới ông ấy và nói, "Thưa thầy, làm sao tôi có thể tránh được
cám dỗ? Làm sao tôi có thể tránh được quỉ cám dỗ tôi?"
Baal
Shem nhìn anh ta và nói, "Đợi đấy! Chẳng cần ông phải tránh cám dỗ nào, bởi
vì ngay bây giờ cám dỗ không thể được dành cho ông - ông chưa xứng đáng với
nó."
Anh
ta nói, "Thầy muốn nói cái gì?"
Ông
ta nói, "Cán dỗ chỉ tới vào khoảnh khắc cuối. Ngay bây giờ quỉ chẳng lo
nghĩ gì về ông cả. Trong thực tế, quỉ đâu có săn đuổi ông chút nào - ông đang
săn đuổi quỉ chứ - cho nên ông không phải lo về cám dỗ. Điều đó sẽ không xảy ra
sớm cho ông đâu. Và khi nó xảy ra, ta sẽ chăm lo cho điều đó. Ta sẽ bảo ông phải
làm gì."
Cám
dỗ chỉ tới vào khoảnh khắc cuối. Tại sao? Bởi vì khi năng lượng dục tới một điểm,
điểm một trăm độ, thì toàn bộ quá khứ, hàng triệu kiếp đã sống trong bản năng dục,
kéo bạn lại. Quỉ không phải là người ở đâu đó - nó chỉ là quá khứ của bạn. Nhiều
kiếp sống theo dục máy móc sẽ kéo bạn lại. Bạn do dự một chốc liệu có nên lấy
bước nhẩy hay không.
Cũng
như khi dòng sông tới đại dương nó phải ngần ngại một chốc bởi vì nó sẽ mất hút
vào trong đại dương, nó phải nhìn lại với nỗi buồn: những rặng núi đẹp, những đỉnh
núi tuyết phủ, những khu rừng, những thung lũng, bài ca của chim chóc, đôi bờ,
con người, cuộc hành trình - quá khứ, hàng nghìn dặm đường. Và bỗng nhiên bây
giờ ở đây một khoảnh khắc tới: bạn nhảy và bạn mất mãi mãi. Dòng sông phải
nghĩ: "Hiện hữu hay không hiện hữu đây?" - ngần ngại, run rẩy, chấn động
tới tận nền tảng.
Đó
là điều cám dỗ nghĩa là gì. Khi Phật đã tới điểm mà năng lượng sẵn sàng lấy bước
nhảy tối thượng và trở thành vô dục, khi ham muốn sẵn sàng tan biến vào trong
vô ham muốn, khi tâm trí sẵn sàng chết và vô trí sẵn sàng sinh ra - đấy là bước
nhảy lớn đến mức tự nhiên người ta phải ngần ngại. Đó là ý nghĩa của câu chuyện
ngụ ngôn này.
Phật
đã nói: Đi đi!
Phỏng
có ích gì để ta có túi da đầy những rác rưởi
mà
các ông đã đem lại cho ta?
Khi
một người đã tới điểm đó, thế thì thân thể là vô nghĩa; thế thì thân thể chẳng
là gì ngoài cái túi, cái túi da, đầy rác. Trong thực tế, đấy chính là cách thân
thể là thế nào. Nếu bạn không tin vào điều đó, lúc nào đó tới nhà giải phẫu và
xem cái xác được mổ ra - và thế thì bạn sẽ tin Phật. Hay bạn đến bệnh viện mà
xem giải phẫu tử thi, khi cả cái xác được giải phẫu ra, và thế thì bạn sẽ thấy
điều ông ấy nói.
Có
lần trong thành phố của tôi chuyện xảy ra: một người bị bắn chết và có cuộc giải
phẫu tử thi. Bằng cách nào đó tôi đã xoay xở - tôi lúc đó chỉ là một đứa bé - bằng
cách nào đó tôi đã xoay xở, tôi thuyết phục ông bác sĩ. Con ông ấy là bạn tôi
cho nên tôi thành công trong việc thuyết phục ông ấy: "Bác cho phép cháu
xem đi, cháu muốn xem." Ông ấy cứ khăng khăng, "Nhưng sao cháu lại muốn
xem?" Tôi nói, "Cháu bắt gặp lời của Phật nói rằng thân thể chẳng là
gì ngoài cái túi đầy rác rưởi. Bác cho cháu nhòm một tí!"
Ông
ấy cho phép tôi, và ông ấy nói, "Thôi được, cháu có thể ở lại." Nhưng
tôi nói, "Bây giờ thì chẳng cần ở lại nữa và dầu sao đi chăng nữa thì cháu
cũng không thể ở lại được." Nó bốc mùi kinh quá, và dạ dầy thì để mở - chỉ
toàn rác rưởi chứ không cái gì khác.
Từng
đứa trẻ nên được đưa tới chỗ mổ tử thi. Phật hay phái các đệ tử của mình tới chỗ
hoả thiêu, nơi các xác được đem đốt - chỉ để quan sát và suy tư ở đó. Ông ấy
nói, "Chừng nào mà các ông còn chưa hoàn toàn nhận biết về thân thể là gì
thì các ông sẽ không vứt bỏ ảo tưởng của mình về thân thể và các giấc mơ về
thân thể." Ông ấy đúng đấy.
Phật
nói: Đi đi!
Phỏng
có ích gì để ta có túi da đầy những rác rưởi
mà
các ông đã đem lại cho ta?
Thế
rồi, Thượng đế chân thành cúi đầu
và
hỏi Phật về tinh hoa của Đạo…
Hòn
đá thử đã chứng tỏ rằng Phật là vàng ròng.
Thế
rồi, Thượng đế chân thành cúi đầu ...
Trong
huyền môn phật giáo ngay cả thần cũng thèm khát như con người - thậm chí còn
hơn. Cả cuộc đời họ chẳng có gì ngoài cuộc đời của thèm khát. Brahma, Ngọc
hoàng Thượng đế...
Brahma,
Ngọc hoàng Thượng đế, cúi đầu
và
hỏi Phật về tinh hoa của Đạo,
theo
đó Phật đã hướng dẫn, tương truyền rằng
thượng
đế đã đạt tới quả spotaapanna (dự lưu) - tu đà hoàn.
Srotaapanna
- dự lưu nghĩa là người đã đi vào dòng - srotaapanna - dự lưu : người đã đi vào
dòng - dòng của tâm thức, nhận biết, tỉnh táo. Đó là thông điệp đặc biệt của Phật:
không cầu nguyện, không thánh lễ; không tu sĩ, không đền đài. Chỉ một điều là cần.
Phật đã rút yêu cầu về tối thiểu; ông ấy tuyệt đối toán học. Ông ấy nói chỉ nhận
biết là đủ; nếu bạn có thể nhận biết, mọi thứ sẽ tự chăm lo cho chính nó.
Hai
người say đang vẩn vơ trên đường tầu hoả. Một người nói, "Tớ chưa bao giờ
thấy nhiều bậc thế trong đời mình."
Người
kia nói, "Tớ chẳng bận tâm về bậc, chính là đường ray thấp kia."
Điều
duy nhất cần tới là bằng cách nào đó đem họ ra khỏi cái say của họ.
Hai
người say khác đang trên xe lăn, người nọ quay sang người kia và nói,
"Chúng ta có thể đang trong lúc tuyệt vời đây, nhưng tớ có cảm giác chúng
ta lên nhầm xe buýt."
Mọi
người đều đang trên xe buýt nhầm - vô ý thức là xe buýt nhầm. Thế thì bạn chẳng
thấy khác biệt gì dù ở bất kì đâu. Và bất kì điều gì bạn làm cũng chẳng khác biệt
gì. Trong vô ý thức của bạn, bất kì cái gì bạn làm cũng đều sai cả. Sai là cái
được làm trong vô ý thức, còn đúng là cái được làm có ý thức.
Edwin
Arnold đã viết một trong những cuốn sách hay nhất về Phật, Ánh sáng châu Á. Tóm
tắt lại đôi dòng:
“Đây
là an bình -
Chinh
phục tình yêu cái ngã và thèm khát cuộc sống,
Xé
toang đam mê bắt rễ sâu từ trong tâm khảm,
Làm
êm dịu đi bất hoà bên trong;
Với
tình yêu, đan xen kết thúc đẹp đẽ vĩnh hằng;
Với
vinh quang, là chủ của cái ngã;
Với
hài lòng, sống bên ngoài các thần;
Với
của cải vô số, để dành kho báu dài lâu
Của
phục vụ hoàn hảo được đem lại,
Các
bổn phận được thực hiện
Trong
từ thiện, nói năng mềm mỏng,
Và
những ngày trong sạch:
Những
giầu có này sẽ không phai mờ đi trong cuộc sống,
Chẳng
cái chết nào dè bỉu được.
An
bình này -
chinh
phục tình yêu cái ngã và thèm khát cuộc sống...”
Đây
là toàn bộ tinh hoa của thông điệp của Phật. An bình không phải được thực hành:
nó là sản phẩm phụ của nhận biết. Lẽ phải không được thực hành: nó là sản phẩm
phụ của nhận biết.
Nhận
biết là phương thuốc cho mọi bệnh tật, bởi vì nhận biết làm cho bạn mạnh khoẻ,
toàn thể và tất nhiên linh thiêng.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment