Osho - Con đường nghịch lý (Tập 3)
Chương 3. Không xa cõi Phật
Một sinh viên đại học đến
thăm Gasan (13) và hỏi: "Có bao giờ ngài đọc Thánh Kinh không?" Gasan
bảo, "Không, hãy đọc cho ta nghe". Người sinh viên mở cuốn Kinh Thánh
và đọc một đoạn ở phần thánh Mathew: "Còn về đồ mặc, sao các ngươi lo lắng
làm chi? Hãy gẫm xem hoa huệ ngoài đồng lớn lên như thế nào... Chẳng lao khổ,
chẳng kéo chỉ, nhưng ta nói cùng các ngươi, dẫu Solomon vinh hiển như vậy, cũng
không bằng một trong những loài hoa ấy... Vậy nên, chớ lo lắng chi về ngày mai,
vì ngày mai tự lo lắng cho ngày mai rồi."
Gasan bảo, "Ai đã
nói được những lời đó, ta cho là kẻ giác ngộ." Người sinh viên đọc tiếp:
"Hãy xin, sẽ cho. Hãy tìm, sẽ gặp. Hãy gõ, sẽ mở. Vì ai xin thì được. Ai
tìm thì gặp. Ai gõ thì được mở cho." Gasan nhận xét: "Thật tuyệt. Ai
nói điều ấy, không xa cõi Phật là bao."
Có một câu chuyện về một
bậc thánh: Có một du tăng, ông đi cùng khắp thế gian để tìm minh sư. Cuối cùng,
sau bao nhiêu nỗi cực nhọc, phiền não và gian nan, ông cũng tìm đến được Hi Mã
Lạp Sơn, và gặp vị đạo sư minh triết trong một hang động. Vị du tăng này cố gắng
thu hết hơi tàn thì thào, "Xin thầy cho con biết, hỡi bậc Thầy thông thái
và vĩ đại kia, bí mật của sự sống là gì?" "Tattvamasi: Thực tướng của
ngươi là như thế." Nhà hiền triết đáp ngay, "Thực tướng của con là
như vậy?" Vị du tăng này kêu lên, bỗng nhiên ông tỉnh táo ngay. Ông căm phẫn
nói. "Câu trả lời gì mà kỳ thế? Con đã đi đây đi đó cùng khắp quả đất ngu
muội này đâu phải để nghe một câu trả lời như vậy. Con tìm tới ngài, cột trụ
tâm linh của thế gian này, mà ngài lại ban cho con câu trả lời thiếu giá trị
như vậy hay sao? Con đã chịu đựng đủ rồi. Con sẽ tự mình giải đáp."
Vị du tăng này quay
mình, hậm hực leo xuống núi. Ông dành thêm hai mươi năm nữa học huyền học môn Hồi
giáo, Thiền, Shakti, Bhakti, Gyana, và Prana Yoga: Kabbalah, Kinh Koran, Thánh
Kinh, Vệ Đà, Trang Tử Nam Hoa Kinh... Lão Tử Đạo đức Kinh... và tất cả mọi kinh
điển mà bạn có thể biết, ông học hết, cả mười bảy chiêu võ thuật, lẩn quẩn bên
cạnh các bậc thầy mà ông thấy họ xứng đáng với chữ hoa "T" . Ông học
pháp khống chế tâm trí, cảm thức và chuyển hoá tâm lý với các chuyên đề như Thiền,
khinh công, và pháp biến hóa lửa. Cuối cùng, ông bạn bè công nhận rằng ông là một
bậc đạo sư lỗi lạc tài ba nhất. Vì vậy, ông đã hăng hái trèo lên núi Hi Mã Lạp
Sơn để tìm nhà hiền triết xưa kia. "Hiện giờ, con được tham dự câu lạc bộ
tâm linh rồi. Người này bảo, "Con đã nỗ lực học hỏi các pháp bí truyền của
thế gian rồi. Cuối cùng, con đã trở thành một thánh sư. Ngài có thể cho con biết.
Ý con là mong ngài cho con nhận biết được bí mật của sự sống là gì. Xin ngài
hãy tiết lộ cho con biết." Bậc hiền triết cười lớn, nhìn thẳng vào mặt bậc
thánh sư đang ba hoa chích chòe một cách ngớ ngẫn. "Tattvamasi! Thực tướng
của ngươi là như thế!" Vị Thánh Sư này cố gắng hiểu, nhưng tâm trí của ông
không thể nào hiểu nổi thâm ý trong câu nói này. Ông gào lên một cách điên cuồng.
Tâm trí ông đã sai khiến ông phải thốt lên, "Thật tức cười! Vẫn câu nói ngốc
nghếch mà ngài đã trả lời cho con hơn hai mươi năm về trước hay sao?" Vị
hiền triết nhìn ông có vẻ chưng hửng. "Đúng vậy con. Chân lý vẫn không
thay đổi sau hai mươi năm đó con."
Chân lý vẫn không thay
đổi dù đã hơn hai mươi năm qua, và sẽ không thay đổi dù nghìn năm rưởi năm, hay
hai mươi lăm triệu năm trôi qua và Chân lý sẽ không bao giờ thay đổi. Chân lý
chỉ có một. Có hàng nghìn cách diễn đạt nó, nhưng chân lý thì đồng nhất. Có nhiều
ngón tay chỉ mặt trăng, nhưng vầng trăng vẫn là một. Đừng dính mắc vào các ngón
tay. Hãy hiểu diệu nghĩa của lời pháp mà quên văn tự. Có nhiều cách diễn đạt,
nhưng chân lý vẫn chỉ có một. Ẩn dụ vô tận nhưng chân lý thì đồng nhất. Chân lý
chỉ có một, vô thời gian, vô biên giới và huyền diệu. Phải nên hiểu chân lý thật
sâu sắc. Sự hiểu biết này sẽ giải phóng bạn từ tâm trí của tín đồ Công giáo,
tín đồ Ấn giáo, tín đồ Kỳ nan, tín đồ Hồi giáo và Phật tử. Sự hiểu biết này, sẽ
chuyển hoá bạn thành người sùng đạo.
Tôn giáo không bị giam
hãm trong trung gian. Có quá nhiều sự nỗ lực... nó không bị giam hãm qua nguồn
văn tự đang muốn diễn đạt nó. Diễn đạt khác với ẩn dụ, với giai thoại, với ngôn
ngữ, và ngôn từ diễn đạt. Hãy nhớ đến cốt tủy tinh yếu và quên hết tất cả những
điều không cần thiết. Đức Phật, Mahavira, Krisna, Chúa Giê Su, Mohammed... đều
giảng pháp giống nhau, dù cách giảng pháp khác nhau. Họ là những bậc đắc ngộ
khác nhau nên pháp thoại của họ cũng khác. Họ được giáo dục khác với môi trường
khác nhau từ thưở ấu thơ nên cách ẩn dụ của họ cũng khác. Chân lý, thật sự, chỉ
có một.
Hãy quan sát... Thậm
chí, khoa học chỉ có một. Không có hóa học Ấn độ và không có cả toán học Công
giáo. Chân lý, khoa học chỉ có một. Nếu chân lý là một, thì tất nhiên tâm thức
cũng vậy. Khi chân lý là nhất thể, tại sao nó lại khác nếu so sánh với trung
tâm? Trung tâm là một dù phạm trù không giống nhau. Ngoại vi đủ lớn để phân
chia. Trung tâm không đủ lớn để phân chia, và không thể nào phân chia. Có khả
năng thành nhà toán học Công giáo, hay nhà toán học Ấn giáo, nhưng sẽ không đủ
khả năng trở thành tín đồ Công giáo hay tín đồ Ấn giáo bởi toán lý chỉ xuất hiện
ở vòng phạm trù của thế tục. Tôn giáo là cốt tủy tinh yếu của thực tại, trung
tâm vòng xoáy. Đây là Nhất Thiết Trí! Chúng ta có thể nhận xét nó với cái nhìn
khác nhau. Chúng ta có thể có những đôi mắt kiếng khác nhau... những cập kiếng
mầu, có cấu trúc tâm trí khác nhau, lý tưởng để lý giải, nhưng điều lý giải chỉ
có một. Tôn giáo chỉ có một. Những tôn giáo khác không phải là tôn giáo mà chỉ
là giáo phái. Các tôn giáo khác chỉ là con đường hướng về tôn giáo... ngón tay
chỉ trăng...
Hãy để khái niệm này lắng
đọng tâm bạn. Mới ngày kia, có một câu hỏi từ Divya, "Khi ngài giảng về Đức
Phật, thì Đức Phật là một thiền sư. Khi ngài giảng về Mahavira, thì Mahavira có
vẻ là một thiền sư. Khi ngài nói đến Chúa Giê Su, Chúa Giê Su cũng có vẻ là một
thiền sư. Khi ngài nhắc đến người nào đó, thì xem ra họ cũng là thiền sư. Tại
sao vậy?"
Họ đều là thiền sư, bởi
Thiền không phải tôn giáo. Thiền là cốt tủy tinh yếu của mọi tôn giáo. Thiền có
nghĩa là Dhyan. Gốc Phạn ngữ chữ Thiền là Dhyan. Sau đó Dhyan trở thành Zen ở
Pali. Ở Trung Quốc, thiền biến thành Chan. Tại Nhật bản, Thiền thành Zen. Nhưng
gốc của thiền vẫn là Dhyan. Dhyan là nguồn cội cốt yếu. Dhyan có nghĩa là trạng
thái Tỉnh thức trong Vô niệm, khi mọi tư duy chấm dứt, bạn quán thực tại vô chướng
ngại, khi mọi ô nhiễm thế gian đã được gột rửa và gương có thể phản chiếu thật
hoàn hảo... như khi nó phản chiếu mà không có lý giải nào bắt đầu qua bạn. Đó
chính là Thiền! Divya nói đúng. Có lẽ bạn thấy phiền não khi tôi giảng về
Tilopa, Mohammed, Mahavira, Krisna, và Chúa Giê Su. Tôi sẽ giảng pháp như họ, một
cái cớ hướng dẫn bạn về nhà. Nếu bạn không muốn nghe và không hiểu pháp phương
tiện mà Đức Phật đã giảng, tôi sẽ dùng pháp phương tiện của Mohammed vậy. Nếu bạn
vẫn chưa hiểu, tôi sẽ sử dụng phương tiện của thiền sư Tilopa. Tôi hy vọng là
vào một ngày nào đó, sẽ có một ẩn dụ giúp khai mở được tâm thức bạn, và mở rộng
trái tim bạn.
Thanh gươm này à? Tốt lắm.
Nếu thanh gươm này không thể chém bạn được, tôi sẽ sử dụng thanh gươm khác. Tôi
không bám víu vào những thanh gươm này. Toàn bộ nỗ lực của tôi là làm cách nào
chém đứt bạn. Lưỡi gươm nào cũng được. Tôi không mong mỏi là bạn sẽ được đoạn
lìa bởi chỉ lưỡi gươm này. Gươm trí tuệ của Đức Phật, của Mahavira, hay là của
Chúa Giê Su... Thanh gươm trí tuệ nào cũng được, thiền viện nào cũng được. Người
cầu nguyện đã xuất hiện. Sự tham thiền phải xảy ra. Trước khi chúng ta bước vào
giai thoại tuyệt vời này, có nhiều câu chuyện vốn không thật... Những câu chuyện
giả dối thì nhiều vô kể, và các câu chuyện thật thì khá hiếm hoi. Làm thế nào
có thể có hai sự thật? Một là chúng đồng ý nhau, sau đó thành một. Hai là chúng
bất đồng, thì cuối cùng chỉ có một câu chuyện là thật. Có lẽ cả hai câu chuyện
đều giả dối, nhưng không có hai câu chuyện đều thật. Sự thật không hai. Dư luận
thì quá nhiều, và thường là dối trá. Sự dối trá được bịa đặt bởi con người. Thí
dụ, chúng ta ngồi đây. Một ngàn lẻ một người ngồi đây. Nếu bạn suy nghĩ bạn là
một trong số một ngàn này. Mỗi người đều có cách suy nghĩ riêng của họ. Mỗi người
đều có tư tưởng riêng của họ, qua vọng của họ. Nhưng nếu bạn vắng lặng, không
ai suy nghĩ, thì sẽ không có một ngàn lẻ một người thiền tọa tạy đây. Chỉ có một
sự vắng lặng, một số không... một số không vĩ đại... và tất cả đều là dòng chảy
trong nó.
Khi bạn tham thiền, bản
ngã biến mất. Với bản ngã, mọi phân biệt, mọi dị biệt chấm dứt. Nếu tất cả mọi
người đều tham thiền tại đây, trong một giây phút nhỏ, tại đây sẽ không còn ai
hiện hữu. Chỉ có Một chiếm ưu thế... sự bất khả tư nghì... chỉ có Thượng Đế bao
trùm pháp giới. Bạn tan biến, đánh mất cả biên giới của bạn. Bạn ngộ nhập và hợp
nhất trong lòng đại dương. Mỗi khi bạn tư duy, bạn là một cá thể. Mỗi khi bạn
suy nghĩ, bạn tạo sự náo động, gây nên làn sóng biên giới bao bọc bạn, và hàng
rào ngăn cách đối kháng với tất cả. Mỗi khi bạn vọng, bạn thuận lẫn nghịch. Vọng
luôn tạo ra thuận và nghịch. Khi bạn suy nghĩ, bạn thành tín đồ Ấn Độ hay Hồi
giáo. Nếu bạn không vọng , bạn là ai đây, Ấn giáo hay Hồi giáo? Bạn không nói
được. Nếu bạn bảo bạn là người Ấn, bạn đang vọng. Nếu bạn cho bạn là người Hồi,
bạn vẫn còn tri kiến. Mỗi khi bạn không vọng, bạn không còn hiện hữu. Chỉ có
Thượng Đế có mặt. Bạn là thân tre rỗng, một ống sáo, và tiếng nhạc trời là của
Thượng Đế, không phải của bạn.
Sự dối trá thì vô số kể,
bởi lời dối trá bịa đặt bởi con người. Bạn có thể tiếp tục bịa đặt. Vì lý do đó
nên chúng sinh hay có hứng thú với sự giả dối, bởi giả dối tạo cho họ sự kích
thích và mới mẻ. Chân lý không bao giờ mới, rất cổ... như thế, như thế và như
thế. Chân lý luôn buồn tẻ. Sự dối trá luôn gây cảm hứng và đầy hấp dẫn. Vì vậy,
bạn thích chuyện giả tưởng, thích đi xem phim. Vì sự sống quẩn quanh nên bạn
không thấy được sự sống này... Bạn xem phim, trả tiền, trong ba tiếng đồng hồ,
bạn chìm đắm trong thế giới giả tưởng, không thật, nhưng bạn hết lòng tận hưởng.
Tại sao bạn lại tận hưởng nó, bởi nó mới. Nhưng Chân lý thì cổ xưa. Thực tế, gọi
nó cổ xưa cũng không đúng, bởi nó chưa bao giờ là mớithì làm sao cổ được? Bất kỳ
điều gì mới cũng sẽ trở thành cũ. Bất kỳ điều gì cũ thì sẽ trở thành mới. Chỉ
có sự mới trở thành cũ. Chân lý không hai. Vì vậy, ý chúng tôi, tại Ấn khi
chúng tôi gọi Chân lý là Sanatan... Bất diệt... không mới không cũ. Cũ như mọi
thứ và cũng mới như mọi thứ, nhưng không hai.
Chỉ có người thông minh
tuyệt đỉnh mới có thể lắng nghe chân lý. Tâm vô minh thích chạy đuổi theo những
câu chuyện giả tưởng, tin đồn nhảm. Họ không thích nghe phúc âm. Tâm trí ngu xuẫn
hay hứng thú ngồi lê đôi mách vì nó có sự kích thích, vì có cái mới đang xảy
ra! Bạn đọc tin tức vào mỗi sáng, không đọc Thiên Hùng Ca (Gita), không đọc
Thánh Kinh, không đọc Pháp Phật (Dhammapada) mà bạn đọc nhật trình: Nhật trình
là thế giới của sự giả dối... thế giới của chính trị gia, thế giới của giả tưởng.
Bạn thích thú đọc nhật báo, bởi bạn có cảm nhận cái mới đang xảy ra. Càng nhiều
cái mới càng tốt.
Tôi có nghe kể về một
phóng viên quá vãng. Ông bay thẳng lên Thiên đường. Vì ông là một phóng viên
danh tiếng lừng lẫy nên ông không quan tâm có được lên Thiên đường hay không.
Ông gõ cửa... Tất cả các cánh cửa lớn dưới trần thế đều luôn mở rộng đón chào
ông, kể cả các cánh cửa của thủ tướng, tổng thống, và tất cả mọi nhân vật quan
trọng dưới trần thế. Lúc ông gõ cửa, Thánh Peter mở cửa nhìn ra, hỏi ông là ai,
ông đáp, "Ngài không biết con sao? Ngài chưa bao giờ nghe tên của con sao?
Ngài không có đọc báo bao giờ à?" Thánh Peter đáp. "Báo chí ở trần thế
không gởi lên thiên đàng được. Chúng tôi chỉ có 12 ký giả trên thiên đường mà
thôi. Họ là ký giả thâm niên, nhưng dù có họ cũng vô dụng, bởi thiên đàng không
có tin tức gì cả! Họ chỉ là hình thức. Không có gì để xuất bản cả. Muốn có tin
tức, phải cần có người mất trí mới được."
George Bernard Shaw
(14) nói, "Khi một con chó cắn một con người, đó không phải là tin tức.
Khi một con người cắn một con chó, đó mới gọi là tin tức." Chó cắn người?
Tin tức gì mà lạ vậy? Chuyện bình thường, nhưng một con người mà cắn một con
chó thì tin đó mới được xem là tin tức. Chỉ có người mất trí mới háo hức với
tin tức. Nếu bạn muốn nghe tin tức thật sự, bạn phải đến những thành phố đầy sự
điên loạn... như Tân Đề Li, Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa, Luân Đôn, Hoa Thịnh Đốn... Ở
các nơi này, bạn sẽ nghe tin tức khắp nơi.
Vì vậy, Thánh Peter
nói, "Con làm ơn đi chỗ khác đi. Hãy đến địa ngục đi. Chỉ có địa ngục mới
cần nhiều ký giả... Ký giả thì thường được tôn trọng ở đó. Nơi này, không có gì
xảy ra hết! Lúc nào cũng vậy. Không có gì thay đổi cả. Vĩnh viễn vẫn như vậy. Ở
Thiên Đàng chỉ có sự vắng lặng, hoàn toàn tĩnh lặng. Nơi này không có sự ngồi
lê đôi mách, không cạnh tranh, không chiến tranh, không sát nhân, không cưỡng
hiếp... không có gì xảy ra hết cả con à." Nhưng ký giả này đã có ý định.
Ông bảo, "Nếu ngài đã có 12 ký giả thì xin cho con hai mươi bốn tiếng đồng
hồ thôi, con sẽ khuyên họ rời Thiên Đàng. Sau đó, ngài có thể giúp con vì con
muốn được sống tại Thiên Đàng."
Thấy tội nghiệp, Thánh
Peter đồng ý cho ký giả này hai mươi bốn tiếng đồng hồ để ông khuyến cáo thử một
vài ký giả. Ký giả này liền phổ biến tin tức... bởi ông là ký giả... Được phép,
ông vào Thiên Đàng quảng cáo với mọi người, "Có một nhật báo mới, một tờ
nhật báo thật tân kỳ, và vô cùng mới mẻ sẽ sớm được phát hành tại địa ngục. Tòa
soạn đang cần nhiều nhân viên, chủ bút với lương tháng rất hậu hỉ và đặc biệt
còn tặng biệt thự và xe mới nữa..." Ông phổ biến tin tức, và hai mươi bốn
tiếng đồng hồ sau, ông tìm Thánh Peter. Thánh Peter vội khép cổng lại,
"Con ơi, con đừng có cố gắng trốn nhé con? 12 tên ký giả đó đã trốn mất rồi."
Ký giả này đâm ra nghi ngờ. Ông hỏi thánh Peter, "Cả 12 ký giả đều bỏ trốn?
Con tưởng chỉ một hay hai người bỏ trốn là cao nhất. Vậy là cả 12 ký giả này đều
trốn hết rồi hả? Vậy Thánh hãy cho con ra ngoài xem thử. Chắc có điều gì lạ
lùng rồi."
Ông là người đã phổ biến
tin tức. Ông biết tin tức mà ông phổ biến đều dối trá, nhưng khi bạn xạo với ai
quá nhiều, rồi có ngày chính bạn cũng đâm ra tin. Lời giả dối thường có khuynh
hướng thành sự thật, chỉ cần lặp đi lặp lại nhiều lần là được. Adolf Hitler viết
trong tự truyện của ông, Mein Kampf. Sự khác nhau giữa giả dối và sự thật là sự
thật chỉ được kể vào lần đầu tiên mà thôi, và sự thật là sự giả dối là điều được
kể đi kể lại rất nhiều lần. Đó là sự khác nhau duy nhất. Và ông hiểu điều đó rất
rõ. Ông đã thực hành quy tắc này rất nghiêm túc. Bạn có thể lặp đi lặp lại lời
giả dối nhiều lần, không sớm thì muộn, ai cũng sẽ tin thật. Khi họ nghe nó quá
nhiều lần thì tất nhiên họ sẽ bị ảnh hưởng vì nó sẽ tạo một con đường rãnh trong
tâm trí họ. Khi họ tin thì ngay chính bạn cũng phải tin theo, bởi cách sống của
bạn tuỳ thuộc vào số đông. "Nếu có nhiều người tin thì chắc chắn là có sự
thật gì trong đó rồi." Ký giả này bảo, " Xin Thánh cho phép con xuống
địa ngục đi. Con không muốn sống ở Thiên đường của ngài nữa vì chỉ vô dụng
thôi. Ở đây xem ra chẳng có gì xảy ra và chắc chắn là mãi mãi sẽ không có gì xảy
ra ở đây." Cho nên, hãy an trụ trong trạng thái nơi mà chẳng có gì xảy ra.
Thiền là vậy. Thiền là Thiên đường. Đức Phật giảng về nó. Chúa Giê Su cũng nói
đến thiền. Zarathustra đã nói về thiền. Lão Tử cũng giảng về thiền. Họ đều nói
chung một hiện tượng. Vẫn năng lượng đó, vẫn kinh nghiệm đó.
Divya nói đúng. Khi tôi
thuyết pháp, tôi giảng đi giảng lại một đề tài. Bài pháp thoại chỉ là những cái
cớ. Tôi sử dụng pháp thoại để làm bàn đạp. Nếu một trong các lời pháp đó có thể
giúp bạn khai ngộ, thì tất cả mọi lời pháp khác sẽ giúp bạn khai ngộ. Nếu bạn
có thể hiểu Đức Phật, bạn có thể hiểu tất cả: Mahavira, Krishna, Chúa Giê Su...
tất cả... Nếu bạn thấu triệt Chúa Giê Su, bạn sẽ thấu triệt tất cả các bậc minh
sư. Người giác ngộ thấu triệt và bạn thấu triệt tất cả... toàn bộ quá khứ của
các bậc Giác ngộ! Không chỉ vậy, nhưng toàn bộ vị lai cũng vậy. Tất cả chư Phật
đã xảy ra, và mọi chư Phật đang xảy ra đều dung chứa trong trí tuệ của một vị
Phật.
Hãy nhớ rằng, chân lý
không phải khái niệm, không là kiến thức. Kiến thức có thể thay đổi và tích lũy
và sự thật mới mẻ có thể được khám phá, nhưng kiến thức không thường hằng. Chân
lý không phải kiến thức. Khoa học thay đổi mỗi ngày, bạn biết điều đó.
Vài năm trước, những điều
được xem là chân lý, bây giờ không được xem là chân lý nữa. Định luật của
Newton không còn là sự thật. Einstein đã hoàn toàn huỷ diệt thế giới của
Newton. Định luật của Einstein sẽ không tồn tại lâu, sẽ sớm mất hiệu lực. Trong
ba trăm năm khoa học, ít nhất có đến ba mươi lần, cấu trúc khoa học phải thay đổi
từng ngày bởi có những nghiên cứu mới được khám phá. Sẽ không có sự kết thúc.
Kiến thức là sự tích lũy. Khi sự thật mới được khám phá, bạn đã thay thuyết cũ
rồi. Có lẽ, bạn khám phá dữ kiện mới bởi do thuyết cũ. Sau đó, dữ kiện mới phải
cần thích nghi và thuyết này cần phải thay đi. Khoa học luôn phát triển. Bây giờ,
khoa học gia nào cũng bảo, "Chúng ta sẽ không bao giờ chứng minh được chân
lý tuyệt đối. Tất cả chỉ đều là giả thuyết." Bằng từ ngữ "Giả thuyết",
họ có ý rằng nó có hiệu lực. Nó sẽ là chân lý nếu điều đó có hiệu lực. Mỗi khi
có điều gì xem ra có hiệu quả tốt hơn thì điều đó sẽ là sự thật. Vì vậy, sự thật
rất lợi lạc trong thế giới khoa học. Nhưng trong tôn giáo, chân lý không kiến
thức, không khái niệm, không tuỳ thuộc vào dữ kiện. Chân lý là hiểu biết, nhận
thức, bản thể, và không liên hệ đến đối tượng. Chân lý liên hệ tính chủ quan của
bạn, nhưng không liên hệ với sự quan sát sự vật ngoại cảnh như một đối tượng,
mà liên hệ với phẩm tính quan sát tại Ấn độ, chúng tôi gọi là Darshan. Dharsan
có nghĩa là khả năng quan sát. Thế giới bạn đang thấy là thế giới khoa học và
là thế giới nghệ thuật. Mỗi khi sự nhận thức thuần tính... của đối tượng, khi sự
đang nhận thấy thuần tính nghệ thuật và khoa học... thì đó là tôn giáo. Hãy cho
phép tôi lập lại để bạn có thể hiểu hoàn toàn. Khi bạn quan sát một đối tượng,
một thân cây, toàn bộ tâm thức của bạn đều hướng vào thân cây như là một đối tượng.
Chính từ ngữ "Đối tượng" đã gây chướng ngại cho bạn rồi. Nó đứng ở giữa,
đối nghịch bạn, bên ngoài bạn. Mũi tên trực diện thân cây và bạn quên bạn.
Một nhà khoa học chú
tâm hoàn toàn vào công việc đến quên cả chính mình. Ông phải vậy. Thực tế, đây
là nền tảng căn bản khoa học mà nhà khoa học không thể can thiệp được. Ông
không thể đặt để định kiến, phán đoán, đặt để, ưa ghét vào đó. Ông phải là một
quan sát viên không bị vướng mắc, chỉ tách biệt. Ông hoàn toàn là không, chỉ là
một quan sát viên. Bất kỳ thực tướng sự vật là gì, ông ghi chú đúng y như vậy.
Đó là ý thức khách quan. Nhà thi sĩ, họa sĩ, hay ca sĩ quan sát cây. Họ quan
sát cây, nhưng họ đặt để tư duy họ vào, nên họ không còn là một quan sát viên
vô tư nữa. Họ là người đang yêu, có cái nhìn thẩm mỹ qua viễn cảnh của họ, suy
ngẫm sự mỹ lệ, hướng về cái đẹp, khả tri, bất khả tri. Ông sẽ thấy nét đẹp của
cây khi nhà khoa học gia thấy các hóa học. Nhà khoa học chỉ thấy mầu sắc, nhưng
họa sĩ sẽ thấy những điều khác... không phải chỉ có mầu sắc, nhưng hình dáng,
cách pha trộn mầu sắc và sự thi vị của mầu sắc. Nhà khoa học gia chỉ đơn giản
đo lường sức nặng của cây, chiều cao của cây.
Thi sĩ không quan tâm với
chiều cao hoặc sự đo lường, họ chỉ chú tâm đến linh thể của cây, không phải chỉ
ngoại hình của cây, nhưng cả bên trong, linh hồn của cây. Thi sĩ đối xử với cây
cối như đối xử với con người, trong sự kết liễu của nó.
Khoa học gia quan sát bằng
đôi mắt vị lợi. Thi sĩ quan sát bằng đôi mắt thẩm mỹ. Thi sĩ dùng phương pháp
quán cây. Có những pháp, bằng cách thi vị hơn, quán cây, chỉ có vậy, cây cối mới
hiển lộ vẻ mỹ lệ và sự huyền bí thiêng liêng của nó. Khi thiền nhân quan sát
cây, họ không chú tâm cây như là một đối tượng, cũng không chú tâm quá vẻ mỹ lệ
của cây. Họ chỉ chú tâm đến khả năng nhận thức của họ, đến câu hỏi của họ.
"Điều gì đang phản ảnh từ thân cây qua nội tại của ông? Ai là chủ thể? Ta
là ai?" Còn nhà khoa học gia thì hỏi, "Ai làm trở ngại cách của
tôi?" Thiền nhân hỏi, "Ta là ai đã bị cây làm trở ngại?" Câu hỏi
được đảo ngược hoàn toàn... quay đúng một trăm tám chục độ. Giữa thiền nhân và
khoa học gia là họa sĩ... Họa sĩ là chiếc cầu, có chút phẩm hạnh của nhà khoa học
và của nhà huyền học. Họ nửa này nửa kia. Vì lý do đó nghệ sĩ thường thuộc loại
người căng thẳng, luôn bị lôi kéo giữa hai chiều hướng. Nghệ sĩ thường rất dễ bị
nổi điên, vì họ luôn bị căng cứng giữa hai đối cực, tuyệt đối giữa hai chiều hướng,
một chút đối tượng và một chút chủ thể, và họ không thể thoải mái giữa hai.
Nhà khoa học thì lúc
nào cũng cảm giác thoải mái với đối tượng. Thiền nhân thì luôn nhàn hạ với chủ
thể của họ. Chân lý không là đối tượng, cũng không là sự kiện mà là sự nhận thức.
Khi Chân lý xảy ra, nó cũng sẽ xảy ra. Một hiện tượng nữa cần nên được hiểu thì
giai thoại này mới đơn giản hơn. Bạn sẽ thích nó và đủ khả năng suy nghiệm lộ
trình của nó. Hiện tượng chỉ đến mỗi một lần. Bạn không thể xác định là bạn biết
tất cả mọi hiện tượng. Có nhiều cách quán, nhiều công cụ, nhiều pháp khác nhau.
Bạn ý thức hiện tượng về sự vật xưa kia. Hiện tượng thì vô số kể, đến từng phần,
theo thứ tự... Một hiện tượng xảy ra, rồi một hiện tượng nữa, xếp đuôi nhau, đến
từ từ. Newton hiểu biết được một vài hiện tượng. Einsteins thì hiểu biết khá
hơn. Heinsberge thì hiểu biết nhiều hơn, và tiếp tục như vậy. Con cái của bạn sẽ
hiểu biết hơn bạn ở thế giới sự vật này. Con cái của con cái bạn sẽ còn biết
nhiều hơn nữa. Đó là lý do khi nhà học khoa học cho rằng cha mẹ họ không được
thông minh bằng họ. Vì thật sự, họ hiểu biết hơn.
Kiến thức ngày mỗi phát
triển, không bao giờ kết thúc, và không bao giờ đưa đến kết luận. Vì vậy, bạn
không thể nói, "Đây là kết luận." Chân lý xảy ra trong sự trọn vẹn. Bỗng
nhiên, nó có mặt, trong bản thể nó. Không phải lần đầu bạn biết Thượng Đế. Nó
là sự tiệm ngộ, từ từ đến... chậm rãi và hốt nhiên đến như luồng sấm sét. Pháp
giới bỗng hiển lộ. Đó là ý nghĩa "Mặc khải." Hiện tượng khám phá.
Chân lý khai phóng và đến thật trọn vẹn. Một sự xác định. Chân lý tạo nên tin cậy.
Nghi lớn kết thúc. Kết luận đã đến! Chân lý mà các bậc Giác ngộ thuyết... Đức
Phật, Chúa Giê Su... là sự nhận thức. Còn một điều nữa, Sự nhận thức này không
phải là một điều gì mới mẻ bạn đạt được hôm nay. Nó luôn sẵn có. Nó sắn có
nhưng bạn chẳng bao giờ quán nó, quay lưng lại với nó. Vì vậy, nhận thức không
gì ngoài sự thừa nhận.
Tôi có nghe kể về một
giai thoại thiền: Có một hôm, Bách Trượng đang đi dạo với Thiền sư Mã Tổ (15)
thì có một đàn ngỗng bay qua. "Chúng là gì?" Mã Tổ hỏi . "Chúng
là ngỗng hoang." "Chúng bay về đâu?" "Chúng đã bay đi rồi,
bạch Sư phụ." Ở cái điểm này, đột nhiên Mã Tổ kẹp mũi của Bách Trượng vặn
thật mạnh đau đến nỗi Bách Trượng phải la lớn lên, "Ouch! Ouch! Ui
da!" "Ngươi nói chúng bay hết rồi mà." Mã Tổ bảo, "Thật ra,
chúng vẫn có mặt tại đây từ thuở sơ nguyên rồi."
Chúng có thể bay đi đâu
được? Không có nơi nào để bay đi, và lúc nào chúng cũng hiện diện nơi này.
Không có không gian nào khác ngoài không gian này, và không có thời gian nào
khác ngoài thực tại. Mã Tổ là bậc Thiền sư lớn. Bách Trượng cũng trở thành một
thiền sư lớn. Câu chuyện này nhất định xảy ra trước khi ông thành thiền sư. Đàn
ngỗng rừng bay đi, Mã Tổ hỏi, "Chúng bay đi đâu? Chúng có mặt ở tại nơi
nào?" Môn đồ đáp. "Chúng đã bay xa rồi." Có một hiện tượng làm đảo
lộn toàn bộ câu chuyện. Thiền sư nào cũng sử dụng công án. Ngài vặn mũi Bách
Trượng đến nỗi đau quá ông phải la lên. "Úi! Úi!" Mã Tổ nói,
"Ngươi nói chúng đã bay đi rồi mà, Thật ra, chúng vẫn có mặt tại đây từ
thuở sơ nguyên rồi." Chúng đang có mặt tại đây. Không có gì vượt ngòai vạn
hữu và không có gì ngoài vạn hữu. Vạn pháp đều như vậy!"
Sự sống đều cùng vận
hành. Chúng ta ngồi đây, trên bầu trời, mặt trời rạng chiếu trên đám mây. Vượt
trên mặt trời là vô số tinh tú... với dòng ngân hà bao la vô tận. Có những vì
sao mà ánh sáng của chúng phải mất cả nghìn năm mới đến được trái đất. Có những
ngôi sao vẫn chưa đến mặt đất từ ngày địa cầu hiện hữu. Có những ngôi sao, ánh
sáng của chúng có lẽ sẽ không bao giờ đến được mặt đất vì quá xa. Chúng ta đồng
có mặt. Ngay thực tại này, các ngôi sao đó đang hiện diện như chúng ta đang hiện
diện. Thế giới đang hiện hành, không nối đuôi nhau tiếp diễn. Chúng sinh có thể
về đâu? Khi Ramara Maharshi (16) sắp chết, có người khóc bảo, "Bhagwan,
Ngài sắp từ giả chúng tôi rồi phải không?" Ramara mở mắt ra bảo, "Đi
đâu? Ta còn có thể đi đâu được đây? Ta luôn có mặt ở đây mà . Ngươi nên tự tại
mới phải. Ta còn có thể đi đâu đây?" Ramakrishna sắp chết, vợ của ông
khóc. Ramakrishna nói, "Không được khóc! Bà có nghe tôi không? Bà có thấy
tôi hay không? Bà sống với tôi vô nghĩa lắm hay sao? Hãy đối diện tôi! Tôi có
thể đi đâu? Tôi luôn có mặt tại thế giới này mà."
Tất cả đều vậy. Điều bạn
cần biết về chân lý là đừng vướng mắc. Thiền là vậy. Nếu bạn an trú ngay bây giờ,
tâm không chút vọng động... bởi vọng sẽ đưa bạn đi sai đường, hoặc quá khứ hoặc
tương lai. Chúng sẽ đóng kín các cửa và mắt bạn sẽ bị vẫn đục, gương sẽ đầy bụi
bậm, không thể phản chiếu. Khi không còn vọng thì chân lý hiển lộ. Tâm trí là
chướng ngại. Khi được xã bỏ rồi, chân lý hiển lộ. Bạn có thể thấy sự khác biệt
này. Kiến thức thông qua tâm. Chân lý thông qua vô tâm. Kiến thức là ký ức.
Chân lý là sự biến mất của ký ức, của tâm trí và của tất cả.
Một tu sĩ hỏi Vân Môn
(17). Vân Môn là một trong những đại thiền sư mà mỗi lời pháp của ngài là kim
cương, "Mọi hoạt động của Phật là gì?" Vân Môn đáp, "Ta không có
ý kiến." Chính ngài là một vị Phật, đã hoàn toàn tỉnh thức. Ngài đáp,
"Tôi không có ý kiến." Vị tu sĩ kinh ngạc. "Tại sao ngài không
có ý kiến?" Vân Môn trả lời, "Tôi chỉ muốn không có ý kiến." Một
lời pháp tuyệt diệu: "Tôi chỉ muốn không có ý kiến gì hết", bởi vì hiện
hữu trong vô niệm tức là chân lý. Khi không còn vọng tưởng, bạn là Chân lý. Khi
bạn còn vọng tưởng, bạn đã bị ô nhiễm và đã lạc đường. Một lần khác, có một kẻ
tầm đạo tìm tới Vân Môn. Ngài đang tản bộ trong vườn. Người này nói. "Thưa
ngài, ngài rất là thông thái. Con luôn ngạc nhiên ở sự minh triết tuyệt thế này
của ngài!" Vân Môn cười lớn đáp, "Minh triết? Ngươi đang nói gì vậy?
Ta không biết gì hết. Tôi là người vô minh nhất thế gian." Người này bảo.
"Tại sao ngài nói vậy? Không phải biết nhiều là tốt sao?" Vân Môn
đáp, "Kiến thức có lẽ tốt thật, nhưng không biết thì thân thiện hơn."
Vô minh rất là thân thiện
hơn. Kiến thức có lẽ tốt và xấu, nhưng không bao giờ thân thiện được. Nó là một
hiện tượng xa lạ, ngoại biên, góp nhặt từ bên ngoài, thiếu sự thân cận. Hiện tượng
bất khả tư nghì thì thân thiện hơn. Hãy quán sát! Kiến thức là sự vay mượn. Bất
khả tư nghì là chân tánh của bạn. Điều bắt nguồn từ chân tánh là thuộc về bạn,
rất gần gũi. Bạn có thể nương tựa nó. Cảnh không thể nương tựa vì không thường
hằng. Bạn chỉ có thể sử dụng, nhưng sẽ không đắc ngộ được. Sự giác ngộ là kinh
nghiệm bản thể Chân như. Bức màn mỏng vọng tưởng cũng không thể tách rời được.
Jalaluddin, một Huyền môn Hồi giáo dạy, "Hãy bán hết thông minh và kiến thức
của bạn. Hãy mua sự hồn nhiên. Thông minh là khái niệm. Hồn nhiên là trực giác.
Chúng sinh gặp được Thượng Đế thông qua sự kinh ngạc này. Hãy tự chứng bằng đôi
mắt đầy ngạc nhiên, bằng sự khờ khạo, bằng sự vô tội; Hãy tự chứng bằng nhãn
quan thân thiện. Trong cảnh giới bất khả tư nghì, bạn đầy giá trị. Qua tri kiến,
bạn chỉ là người bình thường.
Tâm trí làm việc qua lý
luận, toán học, biện luận và chứng minh. Sự sống không thể chứng minh, và không
bao giờ nỗ lực chứng minh bất cứ sự vật gì, chỉ đơn thuần có mặt. Nếu bạn sẵn
sàng, bạn sẽ ý thức nó. Nếu bạn bận rộn, bạn sẽ không bao giờ sẽ ý thức nó được.
Có một câu chuyện đã xảy ra... Có một giáo sư triết gia danh tiếng viếng một phụ
nữ thuộc giai cấp thượng lưu. Ông ngắm nhìn con két của bà bằng sự hứng thú nhiệt
thành. "Sợi dây đó dùng làm gì vậy?", ông chỉ vào hai sợi dây lủng lẳng
từ đôi chân của con két. "Ồ!" Bà đáp, "Con két này rất thông
minh. Khi tôi kéo dây bên phải, nó sẽ ngâm thơ Shakespeare. Nếu tôi kéo dây bên
trái, nó sẽ ca những bản nhạc Kalidas." Người giáo sư nhăn trán, suy nghĩ
một chút rồi nói. "Nếu vậy, chuyện gì xảy ra nếu bà kéo luôn hai
dây?" Lập tức, con két la lớn, "Thì tôi sẽ rớt xuống đất, đồ ngu xuẫn!"
Chỉ có giáo sư mới đi hỏi
những câu hỏi loại đó, và nữa, lại là giáo sư triết lý... luôn bận tâm với
"Tại sao? Thế nào? Cái gì?". Luôn tư vấn, tư vấn và tư vấn, không bao
giờ nhìn sự vật theo thật tướng của chúng, không bao giờ nhìn sự vật bằng cái
nhìn đơn giản, Họ luôn tạo nhiều phức tạp từ các hiện tượng đơn giản. Triết gia
không thể sống với tri thức đơn giản. Họ cần phải có các vấn đề để suy luận thì
họ mới thoải mái và tự tại được. Khi không có vấn đề, họ sẽ rất bồn chồn vì họ
không biết họ phải nên làm gì.
Darshan không phải là
triết lý và cũng phi triết lý. Darshan có nghĩa là khả năng nhận thấy, không phải
khả năng tư duy, hoàn toàn khác nhau! Tư duy không liên hệ với sự nhận thấy. Sự
nhận thấy chỉ đạt khi bạn không còn tư duy. Có một vài điều về tư duy: Điều thứ
nhất là... kiến thức luôn tích lũy, tăng trưởng, không bao giờ đi đến kết luận,
nên không có sự tin cậy thông qua tri kiến. Những gì bạn hiểu biết, bạn có thể
hiểu biết nhiều hơn. Làm sao bạn có thể quyết định là hiểu biết nhiều là điều tốt?
Người có kiến thức luôn nghi ngờ. Đó là vận mạng của kiến thức. Bạn càng hiểu
biết, bạn càng sanh tánh nghi ngờ nhiều. Bởi bạn càng hiểu biết, lại càng thấy
có nhiều việc bạn phải cần biết. Không bao giờ đi đến kết thúc. Bạn sẽ sống mãi
như vậy. Cuộc đời quá ngắn ngủi. Đó là lý do thông qua tri kiến, sẽ không bao giờ
có sự chuyển hoá. Người tích lũy kiến thức và sẽ chết đi... chết bởi gánh nặng
kiến thức, và sẽ không có sự chuyển hoá nào xảy ra. Do đó, tôn giáo dạy,
"Hãy can đảm buông bỏ kiến thức, và hãy mua lấy sự kinh ngạc, sự kỳ diệu.
Những đôi mắt ngạc nhiên là những đôi mắt thuộc về các đứa bé, luôn chiếu rọi sự
ngây thơ thuần khiết.
Điều thứ hai: kiến thức
luôn giới hạn... Nó là con đường thẳng. Vạn vật luân lưu đồng một nhịp. Kiến thức
thì nửa vời, không bao giờ hoàn toàn. Bạn chỉ hiểu biết đến mức độ nào đó thôi.
Nó phân hai: biết và không biết, nhưng vẫn là Một. Vạn vật đồng nhất thể, không
phân chia. Không có biên giới giữa biết và không biết. Tất cả chỉ là một. Biên
giới do con người tạo ra. Kiến thức có tính chất giới hạn. Chân lý thì vô hạn,
vĩnh hằng, vô khởi nguyên, vô tận cùng. Kiến thức bắt đầu và kết thúc. Chân lý
không bắt đầu và không kết thúc. Để hiểu chân lý, kiến thức không thể sử dụng
như một trung gian đúng đắn được, vì kiến thức có tính chất giới hạn. Kiến thức
tạo ra sự dính mắc vào quá khứ. Kiến thức thuộc về quá khứ. Kiến thức bạn biết
đã là quá khứ. Khi kiến thức đầy tâm trí, bạn bị giam cầm trong quá khứ, trở
thành tội nhân của quá khứ, không thấy được thực tại đang có mặt với bạn, và bạn
sẽ sống trong vòng lẩn quẩn, không thể thấy được thực tướng của sự vật. Thông
qua quá khứ. bạn không thể ý thức thực tướng của mọi sự vật đang đối chất bạn,
đương đầu với bạn. Bạn không có trí tuệ hốt nhiên qua sự vật, vì bạn chỉ ngắm
nhìn xuyên suốt qua hiểu biết chuyên môn. Kiến thức chuyên môn là quá khứ, tê
liệt và đã qua rồi. Trong kiến thức, tử thần khống chế sự sống. Trong nhận thức,
sự sống khống chế tử thần, hoàn toàn đối lập.
Điều thứ ba: Kiến thức
đối lập nhau, bởi nó tạo ra sự phân chia trong bản thể. Tâm trí tách biệt trái
tim. Tư tưởng tách biệt cảm thọ. Bạn là một cá thể riêng rẽ, con người trí thức,
từng ngày qua, mất đi khả năng cảm thọ, và đánh mất kho tàng vô giá nhất của bạn.
Thượng Đế không đến qua tư duy. Ngài có mặt như một cảm thọ, một cuộc tình. Thượng
Đế không đến qua hình thức Tam Đoạn Luận, mà xuất hiện như một bản nhạc. Thượng
Đế không đến như một bài toán, mà ngài đến như những giọt lệ, như những tiếng
cười vang động, như nước mắt và nụ cười. Người bị giam hãm trong trí não sẽ
đánh mất trái tim họ, không thể cười, không thể khóc, không thể khiêu vũ, trở
thành tàn phế và tê liệt. Kiến thức là sự thiếu hài hoà.
Điều thứ tư: Kiến thức
có tính chất hư huyễn, luôn hấp dẫn bạn qua sự trừu tượng, vốn không phải là thực
tại. Bạn không biết tình thương là gì. Bạn vọng tình thương, nhưng tình thương
không phải là sự vật mà là ngôn từ. Bạn không nỗ lực tìm Thượng Đế mà chỉ tư
duy qua từ ngữ "Thượng Đế". Danh từ "Thượng Đế" không là
Thượng Đế mà là một nhãn hiệu. Bạn có tư duy thực phẩm, nhưng sự tư duy này
không giúp bạn thoả mãn cơn đói khát. Bạn có thể tìm hiểu những tác phẩm nấu
ăn, nhưng điều đó cũng không giúp bạn giảm cơn đói khát. Đa số không ngừng tụng
Kinh Thánh, Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Chí Tôn Ca (Bhagavat Gita), và họ tư duy
là họ sẽ đắc ngộ, và họ lãng phí cả cuộc đời của họ. Tham sân si vẫn còn đó.
Đói khát vẫn không thể giải quyết. Kiến thức là hư huyễn. Bản chất của nó là hư
huyễn.
Điều thứ năm: kiến thức
là vô hiệu năng và lãng phí, rất lãng phí. Như người cố gắng nắm bắt biển cả
trong chiếc muỗng... Họ đổ đầy muỗng, về nhà, rồi trở lại, đổ đầy muỗng lần nữa...
rồi về nhà... Thật lãng phí, vô ích lợi, không có gì xảy ra. Kiến thức không thể
có bởi bạn đang góp nhặt từng phần một... từng muỗng một của giòng đại hải. Tôn
giáo thì hành trình trên những lộ trình khác. Tôn giáo dạy nếu bạn muốn tìm về
biển cả, hãy đến bờ biển và lao mình vào biển cả, trở thành đại dương. Bạn
không thể đem biển về nhà. Nhà bạn không đủ sức dung chứa nó. Đầu bạn quá nhỏ,
chỉ chứa đựng đến mức độ nào đó thôi, nhưng bạn kéo căng vượt trên sức chứa giới
hạn. Chỉ lợi lạc trong xóm chợ, với sinh hoạt mỗi ngày. Để thức ngộ cảnh giới bất
khả tư nghì, cảnh giới mà bạn sẽ hành trình, và thức ngộ cội nguồn của mọi tự
tánh, và để biết là chúng ta sẽ đi đâu và về đâu... trí não chúng ta không có
khả năng này. Tâm trí quá vi tế nên đã tạo ra gánh nặng trong trong đầu bạn.
Trí não chúng sinh gánh nặng quá nhiều thứ. Đầu của họ thật nặng nề. Cuộc đời họ
giam hãm trong khối trí não nhỏ bé của họ. Họ không sống ở đâu khác mà sống bằng
đầu của họ.
Bộ não... Họ là vậy, đánh
mất mọi niềm vui, mọi nguồn hỷ lạc, đánh mất phẩm hạnh cao thượng của tình
thương, của cảm thọ, của trái tim. Họ không thuộc về thế giới mỹ lệ đang chuyển
hoá quanh họ... Con chim Cukoo hót vang lừng. Những đóa hoa xinh đẹp đang nở rộ.
Những cánh chim giang rộng cánh trên bầu trời xanh. Mặt trời, mặt trăng, tinh
tú, lời gào thét của đại dương... cát mịn mềm dịu trên bờ biển, và những đỉnh
hoang sơn cao vút. Bạn là một phần tử của vạn vật, nhưng bạn đang bị giam cầm
trong trí não. Bạn luôn vọng bằng ngôn ngữ chết và trì chậm. Khi tư duy được
khai phóng từ năm căn bệnh của tâm trí, thì sẽ không còn sự tư duy như vậy nữa
mà trở thành trí tuệ... Wu, theo tiếng Hoa ngữ. Ngộ, "Satori", theo
Nhật ngữ. Đại định (Samadhi) theo Phạn ngữ. Đạt đến Wu, Satori, hay là Samadhi
tức là đại ngộ.
Bây giờ là giai thoại
này..
Một sinh viên đại học đến
thăm Gasan và hỏi, "Có bao giờ ngài đọc Thánh Kinh không?"
Một câu hỏi quá ngu xuẫn
để hỏi bậc giác ngộ, nhưng sinh viên vẫn là một sinh viên. Anh chỉ biết có đọc
sách, không biết điều gì khác. Anh hỏi Gasan, "Có bao giờ ngài đọc Thánh
Kinh không?" Nhất định anh phải là tín đồ Công giáo. Khi bạn đọc Thánh
Kinh, bạn không muốn đọc Thánh Kinh Công giáo. Khi bạn ca hát một bản nhạc, bạn
không bận tâm đến Bhagavad Gita. Những hiện tượng này quá xa vời với tiếng vọng
của những gì rất thật. Có một kinh nghiệm gì đó đang vang vọng trong Bhagavad
Gita, và có một kinh nghiệm gì đó đang văng vẵng qua Thánh Kinh, trong Kinh
Koran, nhưng nếu bạn đã nhận thấy mọi thực tướng của sự vật, bạn không còn bận
tâm đến hình ảnh. Nếu đã thấy tôi, bạn đâu còn quan tâm đến chân dung nữa?
Gasan đã thức ngộ chân
lý. Ngài đã kinh nghiệm nó, đã trở thành nó. Bây giờ anh hỏi, "Có bao giờ
ngài đọc Thánh Kinh không?" là một câu hỏi vô cùng ngu xuẫn. Tất cả mọi câu
hỏi đều ngu xuẫn khi nó đặt ra với bậc Thiền sư đã chứng ngộ... Trước mặt một đại
thiền sư đã khai ngộ, bạn chỉ đơn thuần chiêm bái. Còn câu hỏi nào nữa? Bạn có
thể hiểu được gì? Bất kỳ câu hỏi gì của bạn đều thuộc tâm trí. Chúng ta có thói
quen hỏi về mớ tri thức chồng chất trong đầu chúng ta. Sinh viên này là tín đồ
Công giáo, một sinh viên đại học. Sự tư duy của anh như bao tín đồ sùng đạo
khác đã tư duy. Tín đồ Công giáo không đọc Kinh Pháp Cú. Phật tử cũng không đọc
qua Thánh Kinh. Ấn giáo không đọc kinh Koran. Hồi giáo không đọc qua các Thiên
Hùng Ca (Gita). Họ hay suy nghĩ, "Còn điều gì tốt hơn điều ta đã biết
trong tôn giáo của ta?" Họ luôn tin kinh Koran là thông điệp cuối cùng, hoặc
Thiên Hùng Ca (Gita) là thông điệp cuối cùng. Tất cả lời pháp khác đều tầm thường.
Có lẽ sự suy nghĩ của người sinh viên Công giáo này là vậy. Họ đầy những tư tưởng
quái gở, luôn cho rằng Chúa Giê Su là con trai duy nhất của Thượng Đế, rằng Thượng
Đế là Đấng Cha Lành của tất cả. Thật phi lý. Nếu nói vậy, mỗi một chúng sinh là
đứa con bị lãng quên của Thượng Đế hay sao? Không chỉ loài người, kể cả cỏ cây,
đá sỏi cũng thuộc về Thượng Đế như Chúa Giê Su vậy. Thượng Đế là Đấng Cha Lành
của tất cả. Đó là điều mà Chúa Giê Su đã cố gắng giảng cho chúng ta, nhưng loài
người thì thật là vô minh.
Chúa Giê Su luôn thuyết
giảng những lời pháp tuyệt diệu này, ít nhất là năm mươi phần trăm trong những
bài pháp thoại mà ngài đã giảng qua, "Ta là con của mọi chúng sinh",
và năm mươi phần trăm còn lại, ngài dạy, "Ta là con trai của Thượng Đế."
Tại sao ngài luôn nhắc đi nhắc lại hai thông điệp khác nhau này? "Con của
con người và con của Thượng Đế?" Ngài muốn cho chúng ta thấy sự đồng nhất,
và muốn nói rằng mỗi chúng ta đều là con trai một của Thượng Đế... như tôi vậy.
Tôi là con của loài người và cũng là con trai Thượng Đế... Bạn cũng! Tat - Tvam
- Asi. Bạn là cái đó (Thou Art That), nhưng anh sinh viên Công giáo này lại hỏi
Gasan, "Có bao giờ ngài đọc Thánh Kinh không?" Chắc anh nghĩ là ngài
sẽ kinh ngạc. "Ông sẽ kinh ngạc!", hay là có lẽ anh nghĩ là ngài sẽ
chống báng, biện luận ngược lại Thánh Kinh, bởi vì ngài là một Phật tử...
Không, hãy đọc cho ta
nghe...
"Nhưng anh có thể
đọc. Tôi sẽ lắng nghe." Bậc đại thiền sư đắc ngộ lúc nào cũng sẵn sàng. Bất
kỳ thông điệp nào bạn mang đến, ngài luôn sẵn sàng nghe, không định kiến, không
tự phụ. Với tâm thức sáng suốt, Gasan bảo, "Vâng, anh hãy đọc đi. Tôi sẽ
nghe." Như là không có điều gì khác để học hỏi bằng! Ngài đã thức ngộ sự
Vô thượng, phẩm hạnh khiêm cung này là bản chất của sự đại ngộ. Ngài sẵn sàng học
hỏi, dù rằng ngài đã đắc ngộ, dù rằng không còn gì nữa để ngài học hỏi, nhưng bậc
trí huệ lúc nào cũng cởi mở. Trong Thiền, họ có một câu nói khá đặc biệt. Họ
cho đó là "Tâm nguyên sơ". Họ cho là Thiền nhân lúc nào cũng giữ tâm
"nguyên sơ", không bao giờ lão luyện, lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi bất
kỳ là điều gì. Ngài vẫn luôn là một đệ tử... mặc dù ngài đã là bậc minh sư lớn.
Ngài sẵn sàng học hỏi, không khép kín, vẫn có nhược điểm và ngài cởi mở. Bất cứ
thông điệp gì bạn mang đến, ngài sẽ không nói với bạn, "Tôi bắt hết rồi.
Anh không cần phải đọc Thánh Kinh cho tôi nghe. Anh hãy mang Thánh Kinh về nhà
đi." Không, ngài bảo...
Anh có thể đọc cho tôi
nghe...
Đây là tâm nguyên sơ.
Thành ngữ "tâm nguyên sơ." rất quan trọng. Khi bắt đầu làm việc gì,
như lúc bạn mới học lái xe... thật hào hứng làm sao! Sau một tháng học hỏi, mọi
hào hứng biến mất, trở nên buồn chán, và chỉ là việc làm thường lệ. Bạn không
còn thích nghe tiếng động rền rĩ của động cơ, không còn cảm giác luồng không
khí thổi qua mặt, không còn thấy mọi hoạt động nhịp nhàng của chiếc xe, hoàn
toàn không còn nhận thấy gì nữa. Bạn không thấy cây cối bên đường, những cánh
chim bay, và mặt trời tỏa sáng. Thời gian mới bắt đầu, chỉ vài ngày đầu mà
thôi. Thật là tuần trăng mật tuyệt vời... tuần trăng mật với xe của bạn. Tất cả
mọi kinh nghiệm sống của chúng ta đều là vậy. Lúc mới đầu, mọi sự đều tuyệt vời!
Bạn yêu một cô gái, thật là một cảm giác kỳ diệu, lạ lùng. Vài tuần sau, cảm
giác nóng bỏng háo hức thuở ban đầu biến mất. Bạn rơi vào ngỏ cụt, và bạn chạy
đuổi một cô gái khác. Chuyện gì đã xảy ra? Bạn đánh mất tâm nguyên sơ. Tâm hồn
của người mới bắt đầu là một tâm hồn rất ngây thơ. Tâm nguyên sơ có nghĩa là
tâm chưa biết những gì bạn chưa được biết. Vì bạn biết bạn không biết, nên bạn
sẵn sàng học hỏi và rất là cởi mở. Bạn luôn hiếu kỳ với mọi diễn biến của cuộc
đời và sẵn sàng đón nhận những giây phút thần diệu đó. Đây là nguồn hỷ lạc lớn.
Với mỗi miếng cắn của nó là bạn đã đầy sự kích thích rồi. Không sớm thì muộn, bạn
trở nên lão luyện. Ngày mà bạn lão luyện, tri thức mòn mỏi trong sự tích lũy chất
chồng của nó. Người thức ngộ luôn trong tâm thái "nguyên sơ", không
bao giờ trở thành nhà chuyên gia, và họ vẫn luôn học hỏi.
Không, hãy đọc cho ta
nghe," Gasan bảo.
Người sinh viên mở cuốn
Kinh Thánh và đọc một đoạn ở phần thánh Mathew: "Còn về đồ mặc, sao các
ngươi lo lắng làm chi? Hãy gẫm xem hoa huệ ngoài đồng lớn lên như thế nào. Chẳng
lao khổ, chẳng kéo chỉ, nhưng ta nói cùng các ngươi, dẫu Solomon vinh hiển như
vậy, cũng không mặc được bằng một trong những loài hoa ấy... Vậy nên, chớ lo lắng
chi về ngày mai, vì ngày mai tự lo lắng cho ngày mai rồi."
Một trong những lời
pháp thậm thâm vi diệu nhất được giảng bởi Chúa Giê Su, và dung chứa ý nghĩa vô
cùng trọng đại và kỳ diệu.
Còn về đồ mặc, sao các
ngươi lo lắng làm chi?
Chúa Giê Su cùng các
môn hạ đi vào thị trấn. Môn đồ của ngài ai cũng lo lắng... như mọi người vẫn
thường lo lắng trong cõi tục này. "Chúng ta sẽ ngủ ở đâu?" Chúng ta sẽ
ăn cái gì? Có ai cho chúng ta đồ mặc hay không?" Bụi bậm và lấm lem, họ
ghé vào thị trấn. Họ không biết chuyện gì sẽ xảy ra, bởi thông thường, dân làng
không đối với họ niềm nở lắm và thường xua đuổi họ. Họ giận Chúa Giê Su và lời
pháp vô cùng cách mạng của ngài. Những con người chính thống không thích nghe những
lời pháp biểu có tính cách nổi loạn như vậy. Chúa Giê Su thì lúc nào cũng đầy sự
nổi loạn và tràn trề nhiệt huyết. Đức Phật rất là trầm tĩnh. Chúa Giê Su không
có đức tánh trầm tĩnh như Đức Phật. Bạn không thể tưởng tượng Đức Phật cầm cây
roi, vào đền thờ đánh đập mọi người với cây roi này. Chúa Giê Su đã hành động
như vậy. Đức Phật vô cùng trầm tĩnh. Đức Phật thì già nua, Chúa Giê Su thì còn
rất trẻ trung... Ngài qua đời lúc ngài chỉ mới ba mươi ba tuổi đời. Bạn có thể
tha thứ cho Chúa Giê Su. Ngài còn rất là trẻ, luôn đầy nhiệt huyết. Ngài rất giận
thế gian này và mọi sự bất công đang diễn ra ở thế giới quanh ngài.
Đức Phật tịch diệt khi
ngài tám mươi hai tuổi. Đức Phật bốn mươi tuổi khi ngài chứng đạo Vô thượng.
Cách mạng, từ ngữ hùng mãnh này đã chìm sâu dưới đáy sông Hằng. Sự trầm tĩnh đã
hoà nhập tâm ngài. Tuổi già đem lại những kinh nghiệm mới mẻ mà tuổi trẻ thường
không có. Tuổi thanh niên thật tuyệt vời, nhưng họ luôn nóng bỏng. Khi người
già tỉnh thức, ngài tuyệt mỹ hơn bởi ngài dung chứa những phẩm hạnh mà tuổi trẻ
không thể có, đặc tính cao nhã mà tuổi già thường mang đến. Thanh đạm và cao
nhã là một tổng hợp tuyệt diệu. Chúa Giê Su thì không có đức tánh đó. Ngài còn
quá trẻ, đầy tánh nổi loạn, và với những tư tưởng lớn chỉ muốn thay đổi thế gian,
nên dân Do thái tức giận và họ chỉ muốn đóng đinh ngài.
Trong lúc đó, môn đồ ai
cũng lo lắng. "Chuyện gì xảy ra với cái làng khác đây?" Họ đã quá mệt
mỏi và đói khát, không còn trao đổi nhau. Họ đang đi bộ... mệt mỏi, kiệt sức và
đói khát. Chúa Giê Su bảo họ.
Sao các ngươi lo lắng
làm chi? Tại sao các ngươi luôn lo lắng về sự an toàn, về bánh mì và bơ sữa, về
nơi ăn chốn mặt? Tại sao lại như vậy?"
Họ đang vượt qua một
cánh đồng, và ngài dạy...
Hãy gẫm xem hoa huệ
ngoài đồng. Những cánh hoa Huệ thật nhỏ nhoi, nhưng tuyệt đẹp làm sao! Chúng đã
phát triển lên như thế nào? Nếu có năng lượng vũ trụ bảo hộ chúng, tất nhiên
nguồn năng lượng này sẽ bảo hộ các ngươi. Nếu nguồn năng lượng vũ trụ không thể
bảo vệ những đóa hoa huệ nhỏ nhoi xinh đẹp đó, nguồn năng lượng này sẽ che chở
cho các ngươi? Những đóa hoa Huệ đang đang nở rộ thật xinh đẹp và chúng không vẻ
gì sợ hãi. Các ngươi là những đóa hoa tâm thức... sáng tạo vĩ đại nhất của Thượng
Đế trên trái đất này...Tại sao các ngươi phải lo lắng làm chi? Hãy gẫm xem hoa
huệ ngoài đồng lớn lên như thế nào, "Chẳng lao khổ, chẳng kéo chỉ, nhưng
ta nói cùng các ngươi, dẫu Solomon vinh hiển như vậy, cũng không mặc được bằng
một trong những loài hoa ấy...
Solomon là một hoàng đế
vĩ đại nhất của dân tộc Do Thái, danh tiếng lừng lẫy nhất trong lịch sử Do
thái. Chúa Giê Su lại dạy, Dẫu Solomon vinh hiển như vậy, cũng không mặc được bằng
một trong những loài hoa ấy...Vâng, vì vua này có những trang phục đắt giá nhất,
gắn bằng những hạt kim cương giá trị nhất, và dát những mảnh vàng thật óng ả
ngát hương... Hãy xem kìa! Hãy gẫm xem những đóa hoa Huệ ngoài đồng kia. Và ta
nói với các ngươi rằng, thậm chí Solomon cũng không mỹ lệ như các đóa hoa tội
nghiệp này...
Sự khác nhau như thế
nào? Solomon phải tự mình phấn đấu. Vì vua này dám đẩy lui dòng sông, nhưng những
đóa hoa nhỏ nhoi xinh đẹp này chỉ lặng lẽ trôi theo dòng sông đến bất kỳ nơi
nào giòng nước đưa đẩy. Chúng tin cậy Thượng Đế! Ngoại trừ con người ra, vạn vật
đất trời, tất cả đều tin cậy Thượng Đế. Cây cối mọc cao ngất. Chim chóc hoan
ca, hoa sớm nở tối tàn, mặt trời mọc rồi lặn, các tinh tú lấp lánh vẫn quay
trong vòng quay ngân hà. Vạn vật đều trong sự tin cậy sâu sắc. Nếu bạn nhìn
quanh bạn, bạn sẽ thấy cả tảng đá bên đường cũng đầy sự cầu nguyện. Mỗi cây cối
cũng cầu nguyện. Dòng sông cũng cầu nguyện. Biển lớn cũng cầu nguyện. Toàn bộ vạn
hữu là một đền thờ... ngọai trừ con người. Con người thật vô minh, chỉ muốn tự
nỗ lực. Đau khổ bắt nguồn từ đó, và bao nỗi lo lắng phiền muộn luôn đè nặng tâm
thức họ.
Vậy nên, chớ lo lắng
chi về ngày mai...
Chúa Giê Su dạy,
"Đừng lo lắng đến một ngày mai..." Đừng mang tương lai vào. Khoảnh khắc
bạn mang tương lai vào, bạn đã lầm lạc rồi. Thượng Đế là sự hiện hữu. Vị lai là
ảo cảnh. Vị lai nằm trong tâm bạn. Vị lai có hay không? Đừng mang tương lai
vào. Hãy buông bỏ tương lai. Hãy sống giây phút này thật trọn vẹn... như những
đóa hoa Huệ phơi phới trên cánh đồng xanh, như những đốm tinh tú sáng lấp lánh
trong đêm mịt mù, như dòng sông lững lờ trôi hửng hờ với ngày tháng, như những
đỉnh hoang sơn ngạo nghể cùng gió bụi. Hãy sống trong giây phút thực tại này
trong sự hiến dâng hoàn toàn, trong sự tin cậy trọn vẹn... và Thượng Đế sẽ sẵn
sàng chào đón bạn. Thượng Đế là nguồn nước thanh bình và hỷ lạc. Không có sự
bình an nào kỳ diệu hơn. Thượng Đế là mái che. Không có mái che nào ấm áp hơn.
Vì ngày mai tự lo lắng
cho ngày mai rồi...
Đừng lo lắng cho một
ngày mai. Khi ngày mai đến, người được chăm sóc vẫn sẽ được chăm sóc. Đây là lời
pháp tối diệu nhất của một bản thể tâm thức đã thức ngộ. Không có tâm thức nào
Vô thượng hơn tâm thức này... Sống trong Thượng Đế bằng sự quy phục trọn vẹn.
Không có sự khao khát thầm kín. Không có vọng tưởng tư hữu, không có tự ngã.
Thượng Đế đã lo lắng cho tất cả rồi. Chúng ta chỉ đơn thuần tự tại. Tự tại là nền
tảng căn bản tối thượng của Thiền. Vì lý do đó, Gasa bảo...
Ai đã nói được như thế,
ta cho là kẽ giác ngộ.
"Ai đã nói được
như thế, ta cho là kẽ giác ngộ." Gasan bảo, "Ta không biết người này.
Chúa Giê Su là ai ta không được biết. Ta không biết bất cứ điều gì về ngài. Ta
chưa bao giờ nghe qua về ngài. Đây là sự đắc ngộ của ngài. Nếu ngài gieo sự thất
bại cho bạn thì đó cũng là sự thất bại của ngài. Nếu ngài cho bạn sức sống, tốt.
Nếu ngài muốn hủy diệt bạn, tốt. Bạn không dung chứa khái niệm của riêng bạn,
không đánh giá, không ưa ghét. Đây là sự nguyện cầu, nhưng bạn sẽ làm gì với
người đang cầu nguyện. Bạn đến thánh đường, cho thấy tâm thức tham sân si của bạn.
Bạn bảo Thượng Đế, "Xin ngài hãy làm như vầy và như vầy! Nếu ngài làm được
vậy, con sẽ luôn cầu nguyện ngài, và sẽ làm nhiều việc cho ngài. Nếu ngài không
làm như vậy, con sẽ tức giận." Mỗi khi bạn cầu nguyện, bạn yêu cầu. Mỗi sự
yêu cầu của bạn làm mất đi phẩm hạnh cao thượng của sự nguyện cầu. Nó không còn
là cầu nguyện. Nguyện cầu chỉ có nghĩa là, "Con có mặt tại đây. Con xin
hoàn toàn quy phục ở ngài. Ngài hãy thành toàn bất kỳ điều gì theo ý ngài muốn.
Bất kỳ những gì ngài ban cho con cũng tốt đẹp. Bất cứ việc làm gì của ngài
cũng... vô điều kiện... và tốt đẹp."
Tôi có nghe kể về một
nhà huyền môn Hồi giáo thường hay cầu nguyện vào mỗi bình minh, mỗi hoàng hôn,
và sẽ luôn thầm thì với Thượng Đế: "Con rất là cảm ơn ngài, Thượng Đế
ơi... Ngài đã lo lắng cho con. Con luôn ngạc nhiên rằng, trong hằng muôn triệu
người, tại sao ngài vẫn nhớ đến con? Tại sao ngài luôn lo lắng tận tình cho con
một cách tốt đẹp như vậy? Sự tận tình của ngài đối với con quả là hoàn mỹ."
Có một ngày xảy ra như
thế này, nhà huyền môn và đệ tử của ông đi ngang một thị trấn. Không ai bố thí
cho miếng bánh mì nào. Dân làng đều chống giáo phái Huyền môn Hồi giáo. Một
ngày nữa, một ngày nữa trôi qua... liên tục trong ba ngày, họ không có ăn. Đệ tử
của ông ai cũng hết sức bực bội. Vào ngày thứ ba, trong một buổi sáng bình
minh, nắng đẹp, họ nghe minh sư cầu nguyện như sau: "Thượng Đế ơi! Ngài đã
lo lắng cho con thật là tận tình! Con luôn ngạc nhiên không hiểu sao ngài có thể
chu toàn mỹ mãn cho con được như vậy. Hàng triệu người trên thế giới này, và
ngài vẫn không ngừng ban cho con tình thương đến với con, không ngừng nghỉ, thật
là hoàn mỹ. Không có một giây phút nào mà ngài lại quên con." Một đệ tử
không chịu đựng được nữa và quát lên: "Con xin thầy làm ơn chấm dứt sự cầu
nguyện vô lý đó đi! Ba ngày qua, chúng ta đã không có một chút gì trong bụng,
không có cả nơi ăn chốn ở và đã phải ngủ dưới gốc cây trong rừng rậm, nguy hiểm
vô cùng, thế mà Minh sư còn cảm ơn ai vậy?" Vị minh sư này đáp,
"Nhưng ngài đã cung cấp cho ta bất cứ những gì ta muốn. Đây là những gì ta
cần trong ba ngày qua... Giữ sự thiếu thốn không nơi ăn chốn mặc! Ta đang cần
những phiền não này mà, bởi ngài lúc nào cũng ban cho chúng ta những gì chúng
ta không có! Hay là các ngươi cầu nguyện một cách khác. Bất cứ những phiền não
gì xảy ra đều là những cái chúng ta cần. Ta vô cùng cảm ơn ngài. Ba ngày đói
khát đã dạy dỗ ta nhiều hơn bất cứ những điều mà ta đã học hỏi suốt cuộc đời của
ta. Trong ba ngày khốn khổ này đã cho ta thấy nhiều hơn bất cứ điều ta đã thấy
qua suốt cuộc đời của ta. Ba ngày sỉ nhục, bẽ bàng, nguy hiểm, và ta đã không
ngừng quán tưởng... Các con có thể vẫn tin cậy Thượng Đế dù các con đang gặp
hoàn cảnh nào hay không? Ta vẫn tin cậy ngài. Thậm chí, nếu ngài có làm cho ta
bị đói khát trong ba mươi năm, ta vẫn sẽ tin ngài. Sự tin cậy của ta là vô điều
kiện... Ngài đã cho ta thấy như vậy. Ta rất là hạnh phúc! Ta hạnh phúc vì ta có
được sự tin cậy này. Sự cầu nguyện của ta vẫn không bị vẩn đục bởi hoàn cảnh
khó khăn."
Khi bạn thật sự cầu
nguyện, bạn đơn thuần chỉ nói một điều: "Hãy giúp con quy phục ngài. Đừng
cho phép con lo lắng đến ngày mai, hay là ngày hôm qua. Đừng để con suy nghĩ đến
quá khứ vốn đã không còn nữa, và đừng cho phép bận tâm đến tương lai khi nó
chưa đến... Thực tại đã quá đủ cho con rồi. Con đã đầy đủ quá rồi, và con đã được
chăm sóc một cách tận tình. Con là phần thể của ngài, và con sẽ cùng luân lưu
cùng một dòng chảy với ngài."
Gasan bảo, "Ai đã
nói được như thế, ta cho là kẽ giác ngộ."
Người sinh viên đọc tiếp:
"Hãy xin, sẽ cho. Hãy tìm, sẽ gặp. Hãy gõ, sẽ mở. Vì ai xin thì được. Ai
tìm thì gặp. Ai gõ thì được mở cho."
Gasan nhận xét: "Thật
tuyệt. Ai nói điều ấy, không xa cõi Phật là bao."
Chắc bạn đang ngơ ngác.
Trước tiên, ngài nói, "Ai đã nói được như thế, ta cho là kẻ giác ngộ."Sau
đó, ngài lại bảo, "Thật tuyệt. Ai nói điều ấy, không xa cõi Phật là
bao."
Có một vài điều cần nên
hiểu.
Không phải bậc giác ngộ
nào cũng là một vị Phật, mặc dù mỗi vị Phật là một bậc giác ngộ. Một vị Phật có
nghĩa là một bậc minh sư. Người giác ngộ có nghĩa là người đã đến được bến bờ
bên kia, nhưng có lẽ, họ không độ chúng sinh. Đây là một phẩm hạnh khác. Có nhiều
người đắc ngộ, nhưng họ không đủ khả năng truyền bá Chân lý. Họ không phải minh
sư mà chỉ là người giác ngộ. Trong tất cả mọi truyền thống, đều có phân loại.
Trong pháp Phật, sự phân loại giữa A La Hán (Arhat)... A La Hán có nghĩa là vị
Thanh Văn đã đắc quả vị giác ngộ cao nhất, không còn luân hồi sinh tử nữa. Hành
trình của họ đã kết thúc, không còn nơi nào để đi. Họ đã về nhà, nhưng họ sẽ
không lo lắng về việc độ cho chúng sinh đang ngập lục trong luân hồi sinh tử.
Đó không phải là con đường pháp mà họ muốn đi. Không phải là bản tính của ông.
Không có gì là sai lầm cả. Không cần phải phê phán họ bởi phẩm hạnh của A La
Hán là vậy.
Bạn dạo chơi trong rừng,
nhìn thấy mặt trời lặn thật tuyệt đẹp, và bạn đã tận hưởng cảnh đẹp vi diệu
này, nhưng bạn không sơn phết cảnh đẹp đó thành họa phẩm. Bạn là vậy, nhưng vì
có họa sĩ nên mới có sự sáng tác những bức họa độc đáo, những bức họa tuyệt
tác, đem về xóm chợ chia xẻ với tất cả, "Hãy ngắm nhìn bức họa này, tôi đã
đi ngang nơi đó. Cảnh mặt trời lặn trong khu rừng thẳm đó thật là quá vi diệu .
Rừng xanh thật là tuyệt vời quá, ngoài sức tưởng tượng của tôi." Phải có
nhạc sĩ sáng tác nhạc và chia xẻ lời nhạc với tất cả mọi người. Có người chỉ
thinh lặng, không thốt lên một lời nói nào với bất kỳ ai, tuy vậy, nhưng người
gặp họ sẽ cảm nhận rằng chỉ cần một lời nói thôi cũng đủ huỷ diệt toàn bộ vẻ đẹp
tuyệt vời của nó... bởi ngôn ngữ không thể nào diễn đạt được sự vắng lặng tối
thượng này. A La Hán có nghĩa là một người đã đắc quả vị Vô thượng. Còn một loại
nữa đắc quả vị Vô thượng, nhưng họ sẽ nỗ lực độ cho tất cả chúng sinh thì được
xưng tán là Bồ tát (Bodhíattva). Bồ tát là bậc cũng đắc được quả vị Vô thượng
như A La Hán qua thiền, nhưng vì sự đại từ bi, nên các ngài đã du hành truyền
pháp cho tất cả chúng sinh đang trầm luân trong khổ ải. Hơn bốn mươi năm trời,
Đức Phật đã du hành từ thôn xóm này đến thị trấn khác để độ chúng, Ngài cũng có
thể tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ đề và tan biến trong hư không, không cần phải nhọc
nhằn tấm thân như vậy, và không cần phải gõ quá nhiều cửa. Thật sự, ngài không
cần phải làm như vậy, nhưng bởi ở tấm lòng từ bi vĩ đại này của ngài nên ngài
đã độ chúng hơn bốn mươi năm. Lòng bi mẫn này đã tạo ra một vị Phật.
Tín đồ Kỳ Na Giáo có
hai từ ngữ. Một là Kewali. Kelawi có nghĩa là người đã đắc quả vị Vô thượng.
Danh từ thứ hai là Tirthankara... người cũng đã đắc quả vị Vô thượng, nhưng
ngài trở về, chèo chống chiếc bè để độ chúng sinh. Ngài đã đến bến bờ bên kia,
nhưng tấm lòng từ bi của ngài đưa ngài trở lại bến bờ bên này. Ngài sử dụng Ghat,
chiếc bè, chào đón mọi người và đưa đón tất cả các chúng sinh nào muốn qua được
bến bờ bên kia, "Ta đã kinh nghiệm được bến bờ bên kia. Hãy lên chiếc bè
này của ta". Ngài là Tirthankara. Hàng nghìn Kewali, hàng nghìn Arhat,
nhưng chỉ có một vị Phật (Tirthankara). Một trong hàng triệu người chỉ có một
người có thể đắc được quả vị giác ngộ, và từ hàng nghìn đắc quả vị giác ngộ, chỉ
có một trở thành minh sư. Đó là sự khác biệt.
Hãy nghe lời pháp thứ
hai...
Người sinh viên đọc tiếp:
"Hãy xin, sẽ cho. Hãy tìm, sẽ gặp. Hãy gõ, sẽ mở cho. Vì ai xin thì được.
Ai tìm thì gặp. Ai gõ thì được mở cho." Gasan nhận xét: "Thật tuyệt.
Ai nói điều ấy, không xa cõi Phật là bao."
Có hai vấn đề. Vấn đề
thứ nhất là lời pháp về sự tự tại. Lời pháp thứ hai là sự kích động, một lời thử
thách đến với tất cả.
Hãy xin, sẽ cho...
Phật tánh đang ngộ nhập.
Chúa Giê Su trở thành minh sư. Trước tiên, ngài đơn thuần diễn đạt Chân lý...
Hãy gẫm xem hoa huệ ngoài đồng
kia...
Chúng không lo tưởng đến
ngày mai và tự tại sống. Lời pháp thứ hai là một sự thử thách dành cho các môn
đồ. Lời pháp biểu đầu tiên chỉ đơn thuần nhấn mạnh, ngón tay chỉ vầng trăng. Lời
pháp thứ hai dạy rằng, " Hãy nhanh lên! Hãy sẵn sàng cho chuyến hành
trình."
Hãy xin, sẽ cho. Hãy tìm, sẽ gặp...
Chúa Giê Su là một minh
sư, người nào được ngài nhắc đến, họ trở thành môn đồ của ngài. Vì lý do đó,
Gasan bảo, ""Thật tuyệt. Ai nói điều ấy, không xa cõi Phật là
bao..." Nhưng tại sao ngài lại
không cho rằng người đó
là một vị Phật? Tại sao ngài lại nói rằng, "...Không xa cõi Phật bao
nhiêu?" Bởi lời pháp biểu này chỉ mới có một nửa. Đó là tại sao. Chúa Giê
Su giảng pháp trọn một lời, nhưng đoạn Phúc Âm kế tiếp đã bị mất đi. Đây là nửa
đoạn pháp của ngài. Đã xảy ra nhiều lần như vậy. Khi tôi dạy bạn điều gì đó, bạn
sẽ không đủ căn cơ để tiếp nhận con đường pháp mà tôi hướng dẫn bạn. Nếu bạn về
nhà trao đổi lời pháp này với vợ, một phần pháp thoại sẽ bị đánh mất và bạn sẽ
thêm phần khác vào... Nó sẽ thành sự xuyên tạc. Có nhiều người nghe, những đệ tử
tội nghiệp của Chúa Giê Su. Họ không có máy thu thanh, không có sách vở ghi
chép lại bởi họ không phải là các nhà trí thức. Họ chỉ ghi nhớ trong ký ức. Khi
Chúa Giê Su qua đời rồi, họ mới viết lại những đoạn pháp thoại họ đã được nghe
qua. Có một vài người phải tự ghi chú. Có vài người đọc cho người khác viết xuống
bởi họ không biết viết. Họ là người bình thường, rất đơn thuần mộc mạc và bình
dân. Vì vậy, nên những bản pháp thoại của Chúa Giê Su bị mất mát.
Lời dạy của Đức Phật
thì hoàn hảo hơn lời pháp của Chúa Giê Su, bởi Chúa Giê Su không có đệ tử như Đức
Phật. Pháp thoại của Krishna cũng còn hoàn hảo, nhưng Chúa Giê Su thì không may
mắn lắm. Môn đồ của ngài đều là những người bình dân, bình thường, nên phần lớn
những bài pháp thoại của ngài bị đánh mất. Đó là lý do tại sao Gasan bảo...
Ngài không nhắc gì về Chúa Giê Su, ngài chỉ đơn thuần bảo rằng lời pháp này chỉ
có một nửa. Ngài không nói trực tiếp mà chỉ ám chỉ...
"Thật tuyệt..."
Ngài bảo, "Thật là tuyệt diệu! Ai nói điều ấy, không xa cõi Phật là
bao..."
"Rất gần với Phật
tánh, nhưng vẫn có một cái gì đó chưa được hoàn toàn. Ông vẫn chưa là một vị Phật."
Hãy nhớ rằng, Gasan không nhắc đến Chúa Giê Su, bởi Gasan không biết gì về Chúa
Giê Su, không biết một chút gì về Thánh Kinh.
Tôi xin trao đổi với bạn,
Chúa Giê Su là một vị Phật, một vị Phật Vô thượng như bất kỳ vị Phật nào khác.
Gasan chỉ nhắc đến lời pháp thoại này... Hãy nhớ kỹ. Ngài không biết Chúa Giê
Su là ai. Vì vậy, ngài không đề cập đến Chúa Giê Su. Ngài bảo, "Ai nói điều
này...." Ngài rất cẩn thận... Vị lão sư này thật là cẩn thận, ngài bảo,
"Ai nói điều này..." nhưng tại sao lời pháp này chỉ còn có một nửa. Tại
sao chỉ có một nửa? Vấn đề này cũng nên được...
Sự cố gắng sùng tín có
hai mặt. Một là... Hãy tìm...Nếu không tìm, bạn sẽ không bao giờ thấy. Một mặt
khác: Đừng tìm... Nếu bạn tìm, bạn sẽ không bao giờ thấy. Đây là hay lời pháp
nghịch lý nhất. Trước nhất, hãy tìm kiếm, nếu không, bạn sẽ không bao giờ thấy.
Bạn phải bắt đầu tìm kiếm. Nếu bạn không truy tầm, và đã không ngừng truy tầm,
không đặt hết tâm trí vào, bạn sẽ không bao giờ thấy. Ngày mà bắt đầu sự truy tầm
phải buông bỏ, như một cái thang. Bạn leo lên những từng lầu cao của căn nhà bằng
những nấc thang. Bạn sẽ không thể nào leo lên lầu được nếu thiếu những bậc
thang. Bạn phải leo lên từng nấc thang lầu, nhưng nếu bạn bám hoài vào những bậc
thang, bạn sẽ bị dính mắc, không thể nào vượt qua nó. Hãy leo lên các bậc
thang, nhưng khi giây phút đắc ngộ đến rồi, hãy buông bỏ tất cả. Sự tầm đạo như
là cái thang, như chiếc bè. Bạn lên chiếc bè, ngồi trong chiếc bè, vượt qua bến
bờ bên kia. Sau đó, bạn phải rời bè.
Lời pháp của Chúa Giê
Su chỉ có một nửa. Hãy tìm kiếm, chắc chắn rồi. Nếu không, bạn sẽ không bao giờ
thấy. Có ngày, bạn phải xả bỏ sự tìm kiếm này, bởi cuối cùng sự tìm kiếm sẽ như
là một cái đuôi. Bạn sẽ đâm ra căng thẳng, đau khổ và nóng nẩy: "Ta vẫn
chưa thể thấy được Thượng Đế!" Bạn quá lo lắng về Thượng Đế. Bạn xả ly hết
mọi lo lắng về cái ăn cái mặc, nhưng bạn lại lo lắng vì bạn vẫn chưa thể tìm thấy
Thượng Đế. Một nữa, bạn lại rơi vào vực thẳm sợ hãi. "Chừng nào tôi mới thấy
được Thượng Đế?" Bạn đã lo lắng quá rồi.
Có một ngày, bạn sẽ phải
xả ly hết mọi sự tìm kiếm. Trước nhất, hãy xả bỏ sự tìm kiếm này, dồn hết năng
lực vào chỉ một sự tìm kiếm... Tìm kiếm Thượng Đế. Sau khi bạn xả ly sự tìm kiếm
rồi... tiền tài, quyền lực, danh vọng, và bạn chỉ còn lại một ý tưởng duy nhất,
hãy xả ly luôn ý tưởng đó. Hãy đập vỡ nó!. Hãy tĩnh tọa trong thinh lặng. Hãy
quên Thượng Đế. Thượng Đế chỉ là mưu mẹo của tâm trí, giúp bạn xả ly thế gian
này. Khi thế gian cũng được xả ly rồi, bạn hãy xả bỏ cả Thượng Đế. Bỗng nhiên,
chính bạn là Thượng Đế. Vì vậy, Gasan bảo, "Người này sắp là một vị Phật...
chỉ sắp thành, rất gần nhưng chưa phải là một vị Phật. Bậc Chính đẳng Chính
giác." Lời phát biểu của Gasan là về lời pháp thoại của Chúa Giê Su, nhưng
không phải là về Chúa Giê Su. Nếu bạn là người giác ngộ, ngài nhận thấy bạn
ngay... Bất kỳ kinh nghiệm gì xảy ra với bạn qua, dù chỉ là một thoáng ngộ, với
ánh minh quang chiếu soi bạn, ngài sẽ biết ngay. Nó rạng ngời trong mắt bạn, có
mặt nơi đó.
Cách bạn đi cũng biểu
thị sự đắc ngộ. Dù là lúc bạn tĩnh tọa, hoặc bất kỳ cư xử gì. Bạn không cần nói
với ngài. Ngài sẽ nhận thấy tất cả qua mọi lo lắng, tâm trí, và tất cả mọi âm
thanh náo động quanh bạn.
Khi bạn gặp bậc khai ngộ,
dù chỉ cách bạn một vài bước. Bạn vào phòng, ngồi trước mặt ngài, đụng chân
ngài, hoặc dù là bạn chào hỏi ngài, cũng đủ rồi. Sự chào hỏi chuyên chở phạm hạnh
của bạn, và lập tức, ngài sẽ nhận thấy ngay. Chỉ cần một lời pháp là Gasan đã
nhận biết. Không cần phải thuộc hết toàn bộ Kinh Thánh. Tự thân của ngài đã nếm
hương giác ngộ, ngài biết. Chỉ có người nếm hương giác ngộ mới có thể phát biểu
như vậy.
Hãy gẫm xem hoa huệ
ngoài đồng lớn lên như thế nào: Chẳng lao khổ, chẳng kéo chỉ, nhưng ta nói cùng
các ngươi, dẫu Solomon vinh hiển như vậy, cũng không mặc được bằng một trong những
loài hoa ấy... Vậy nên, chớ lo lắng chi về ngày mai, vì ngày mai tự lo lắng cho
ngày mai rồi.
và...
Hãy xin, sẽ cho. Hãy tìm, sẽ gặp.
Hãy gõ, sẽ mở cho. Vì ai xin thì được. Ai tìm thì gặp. Ai gõ thì được mở
cho."
Gasan nhận xét:
"Thật tuyệt. Ai nói điều ấy, không xa cõi Phật là bao."
Trong hai lời pháp này,
dung chứa toàn bộ tinh túy của tôn giáo. Nếu bạn suy gẫm hai đoạn pháp này, bầu
trời vô tận của Phật tánh sẽ sẵn sàng cho bạn. Bạn không cần phải đọc một ngàn
lẻ một kinh điển. Chỉ cần suy nghiệm một lời pháp của bậc giác ngộ, cảm nhận nó
lắng đọng trong bạn, và nếu bạn nghiền ngẫm thì đoạn pháp thậm thâm vi diệu đó
đã đủ chuyển hoá bạn. Những lời pháp của Đức Phật, Chúa Giê Su, hay là của
Mahavira, Kriskna, Mohammed đều là những hạt giống gieo. Hãy cho phép chúng lắng
đọng qua tim. Không sớm thì muộn, chúng sẽ đâm chồi nẩy lộc. Trái tim bạn sẽ
đong đầy những cánh hoa tươi xinh đẹp. Bạn sẽ tràn đầy hương vốn không thuộc về
thế giới này. Chỉ khi nào làn hương thiêng liêng đó ngào ngạt trong bạn, bạn sẽ
biết được ý của các bậc tiên tri của Áo Nghĩa Thư (Upanishads). Bạn sẽ biết ý
Lão Tử muốn nói gì trong Đạo Đức Kinh. Bạn sẽ biết Koran nói gì, và bạn đủ khả
năng để ngộ nhập cảnh giới của Vệ Đà... nhưng không trước đó.
Hiện tượng cuối cùng
tôi muốn trao đổi với bạn là, chúng ta không thể đắc được chân lý qua cách đọc
sách. Chúng ta phải đạt được chân lý trước rồi mới nhận thức được ý nghĩa thậm
thâm vi diệu trong sách. Sách vở chỉ là quan sát viên. Không phải là bạn phải học
kinh Vệ Đà trước, rồi sẽ trở thành bậc đại học giả về Vệ Đà rồi bạn sẽ thấu triệt
chân lý. Chân lý là văn bằng trao tặng cho bạn, không phải từ Vệ Đà, Thánh
Kinh, Koran, Thiên Hùng Ca (Gita), hoặc Kinh Pháp Cú... Mỗi lời pháp của bậc
giác ngộ, của mỗi vị Phật sẽ gia trì đến bạn. Nếu chỉ có Vệ Đà gia trì cho bạn,
nhưng Koran không bổ túc được gì cho bạn thì đã có sự sai lầm gì đó. Nếu vậy, bạn
vẫn chưa đắc. Nếu chỉ có kinh điển Kỳ Na Giáo là gia trì cho bạn nhưng Thánh
Kinh Công giáo thì không thì đã có sự sai lầm. Bạn vẫn chưa đắc... Khi có người
khai ngộ rồi... thật sự đắc ngộ rồi... thì chư Phật, Tam Thiên Thế giới của những
bậc trí huệ Vô thượng sẽ gia trì cho bạn. Kẻ vô minh có thể đối kháng bạn,
nhưng không phải là vấn đề lớn. Người không biết có thể được tha thứ. Kinh
Koran, Thánh Kinh, Kinh Pháp Cú sẽ hiển lộ hữu với bạn. Bạn sẽ nhận được sự gia
trì của mọi chư Phật. Bạn sẽ trở thành phương tiện truyền bá của họ để bước vào
cảnh giới vô minh, bước vào màn đêm thăm thẳm trầm luân của nhân loại.
Mỗi một vị Phật đại diện
cho tất cả các vị Phật...


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment