Osho
- Thiền: Con đường nghịch lý (Tập 2)
Chương
3. Và bầu trời vẫn thế
Khi
Thiền sư Bàn Khuê (Bankei, 1622-1693) tổ chức những tuần lễ thiền tập, những
Thiền sinh từ khắp nơi trên nước Nhật đã đổ về tham dự. Một trong những lần tụ
hội này, một Thiền sinh bị bắt quả tang đang ăn cắp. Việc này đã được tường
trình lên sư Bàn Khuê với lời đề nghị là thủ phạm phải bị trục xuất. Thiền sư
Bàn Khuê đã bỏ qua chuyện này.
Sau
đó Thiền sinh này lại bị bắt quả tang ăn cắp một lần nữa, và Thiền sư Bàn Khuê
cũng lại bỏ qua. Điều này đã làm cho các Thiền sinh khác tức giận, họ đã làm một
tờ thỉnh nguyện yêu cầu phải loại bỏ kẻ cắp, nếu không họ sẽ rời bỏ khoá tu.
Khi
Bàn Khuê đọc xong tờ thỉnh nguyện, ông kêu tất cả mọi người tập họp trước mặt
mình và bảo: "Này chư huynh đệ, các ngươi là những người khôn ngoan, biết
phân biệt điều phải, điều quấy. Các ngươi có thể đi bất cứ chỗ nào khác để tìm
thầy học đạo, nếu muốn. Còn người anh em đáng thương này không hề biết cả chuyện
phải quấy. Ai sẽ dạy cho y nếu ta không làm điều đó? Ta sẽ giữ y ở lại đây cho
dù tất cả các ngươi rời bỏ chỗ này."
Nước
mắt chảy ràn rụa trên khuôn mặt của người anh em đã phạm tội trộm cắp. Tất cả
lòng tham đắm trộm cắp đã biến mất.
Từ
bi là hoa trái cuối cùng của ý thức. Lòng yêu thương vô hạn này làm xoá tan đi
bóng tối, giải phóng mọi buộc ràng nô lệ, thanh lọc mọi độc chất. Lòng yêu
thương vô hạn này trở thành lòng từ bi. Tình cảm này là hạt giống làm nở hoa
lòng từ.
Từ
bi không phải là lòng tốt, lòng tốt không phải là từ bi. Lòng tốt chỉ là một sự
hướng ngã, làm củng cố thêm cái bản ngã của bạn. Khi bạn xử tốt với ai đó, bạn
cảm thấy mình đang ở vị thế kẻ cả, và đó cũng chỉ là một hình thái sỉ nhục nặng
nề -bạn đang làm bẻ mặt kẻ khác, bạn cảm thấy hạnh phúc trước sự hạ mình của y.
Đó là lý do tại sao lòng tốt không bao giờ có thể được tha thứ. Bất cứ ai được
bạn xử tốt cũng lưu lại ở một nơi nào đó trong lòng họ nỗi oán giận đối với bạn,
đợi dịp phục thù. Bởi vì mới chỉ nhìn trên mặt nổi, lòng tốt có vẻ như là lòng
từ bi, nhưng tận trong sâu thẳm, nó chẳng hề dính dáng gì đến từ bi. Nó có những
động cơ sâu kín.
Lòng
từ bi không hề có ẩn ý ở đằng sau, nó không hề có động cơ thúc đẩy. Đơn giản chỉ
là vì bạn sẵn có và bạn cho đi -không phải vì do nhu cầu của kẻ khác. Tha nhân
không hề mắc mứu gì đến từ bi. Bởi vì bạn chứa sẵn nên nó tuôn chảy chan hoà. Từ
bi là rất mực tự phát, tự nhiên, cũng giống như bạn đang thở. Lòng tốt thường
là hành động được nuôi dưỡng. Nó là một hình thái của xảo quyệt, được cân nhắc,
tính toán cộng trừ thêm bớt.
Bạn
đã từng được nghe một câu nói rất mực quan trọng -có ở trong hầu hết những kinh
điển trên thế gian này, dưới hình thức này hay hình thức khác: Hãy làm cho người
khác tất cả những gì mà bạn muốn người khác làm cho mình. Đây là một thái độ
tính toán chi li, không phải là từ bi chút nào. Cái này không hề dính dáng gì đến
tín ngưỡng -mà là một thứ luân lý rẻ tiền, loại luân lý rất mực trần tục: Hãy
làm cho người khác tất cả những gì mà bạn muốn người khác làm cho mình. Cũng giống
y hệt như một dịch vụ mua bán đổi chác, nó chẳng hề mang màu sắc tín ngưỡng
chút nào. Bạn đang làm việc đó bởi vì bạn mong chờ được đáp lại một điều giống
y như vậy. Đây là một thái độ ích kỷ, vị ngã, luôn coi mình là trung tâm. Bạn
không hề phục vụ tha nhân, không hề yêu thương kẻ khác -quanh đi quẩn lại cũng
chỉ là để phục vụ cho riêng cá nhân mình. Bạn đang lợi dụng kẻ khác.
Đây
là một thứ chủ nghĩa vị kỹ được đánh bóng, nhưng thực chất vẫn là vị kỹ -dù được
che dấu cực kỳ thông minh, những cũng vẫn là vị kỹ. Lòng từ bi trái lại là một
sự nở hoa không tính toán, là tuôn chảy như suối nguồn. Bạn cho đi bởi một lẽ
đơn giản là nó không thể nào xảy ra khác hơn.
Thế
nên hãy nhớ điều đầu tiên: Trong một ý nghĩa nào đó, từ bi không phải là lòng tốt
-cái ý nghĩa bạn dùng từ "lòng tốt" thường không phải là lòng tốt thực
sự. Nhưng trong một ý nghĩa khác thì từ bi lại là lòng tốt thực sự. Bạn không
ban lòng tốt cho bất cứ ai, bạn không hề là kẻ bề trên, bạn chỉ phóng thích những
năng lượng mà bạn nhận được từ tổng thể. Nó đến từ tổng thể và lại trở về tổng
thể -bạn không đứng đó như một vật cản trở, chặn đường, thế thôi.
Khi
A Lịch Sơn Đại Đế đến Ấn Độ, ông ta đã đến thăm một thánh nhân vĩ đại nhất của đất
nước này, Diogenes. Lúc bấy giờ Diogenes đang nằm tắm nắng bên cạnh một bờ
sông. A Lịch Sơn luôn ấp ủ ước vọng được gặp gỡ vị thánh nhân này vì đã nghe rằng
Diogenes là người hoàn toàn vô sản nhưng trên thế gian này chưa chắc có một người
nào giàu có phong phú hơn ông ta. Hẵn nhiên là Diogenes phải có một cái gì đó ở
bên trong, một bản thể sáng ngời rực rỡ. Ông ta là một tên ăn mày nhưng thực sự
là một ông vua. Thế nên A Lịch Sơn đã bị lòng tò mò kích động. Khi đặt chân đến
Ấn Độ, nghe tin
Diogenes
đang ở quanh quẩn gần đâu đây, A Lịch Sơn đã tìm đến để gặp ông.
Đó
là một buổi sáng nắng đẹp, mặt trời đang lên cao, và Diogenes đang nằm trần truồng
trên bải cát tắm nắng. A Lịch Sơn Đại Đế đến gần ông và bảo, "Tôi rất vui
mừng được gặp ngài. Bây giờ tất cả những gì tôi được nghe về ngài hình như đều
đúng sự thật cả. Tôi chưa hề trông thấy một ai hạnh phúc như thế. Tôi có thể
giúp được ngài điều gì không, thưa ngài?" Diogenes trả lời, "Tôi chỉ
xin ngài đứng tránh qua một bên -ông đang che lấp cái mặt trời của tôi. Và cũng
xin vui lòng nhớ cho! Đừng có ngăn che mặt trời. Ngài là người thật nguy hiểm,
có thể ngăn che mặt trời đến với biết bao nhiêu người. Xin làm ơn đứng tránh
dùm qua một bên."
Từ
bi không phải là cái gì đó mà bạn có thể ban phát cho tha nhân, chỉ đơn giản là
đừng ngăn che mặt trời. Hãy thấy rõ điểm này, một điểm rất đơn giản: Đừng ngăn
che Thượng Đế. Đó là phương tiện chuyển tải thiêng liêng thánh thiện, để nó được
tuôn chảy qua bạn. Bạn trở nên một ống trúc rỗng không và Thượng Đế tiếp tục
tuôn chảy qua bạn. Bạn có biết không? chỉ có một ống trúc rỗng mới có thể trở
thành một chiếc sáo -bởi vì chỉ có một ống trúc rỗng mới có khả năng để cho âm
thanh tuôn tràn qua nó.
Từ
bi không phải đến từ bạn, từ bi đến từ Thượng Đế; còn lòng tốt phát sinh từ bạn
-đây là điều đầu tiên cần phải hiểu rõ. Lòng tốt là cái gì đó do bạn thực hiện,
từ bi là cái gì đó do Thượng Đế thực hiện. Thế nên bạn chỉ làm một việc đơn giản
là không ngăn che nó, đừng ngăn đường, chặn lối. Bạn hãy để cho mặt trời rọi xuống,
chiếu tỏa đến muôn phương.
Lòng
tốt chỉ củng cố thêm bản ngã -và từ bi chỉ hiện hữu khi nào cái bản ngã này biến
mất hoàn toàn. Thế nên đừng để những cuốn từ điển của bạn làm cho bạn lạc lối,
bởi vì trong những cuốn từ điển đó, từ bi và lòng tốt có ý nghĩa tương tự nhau.
Tuy nhiên trong cuốn từ điển thực sự của đời sống nó không phải như thế. Và Thiền
chỉ có một cuốn từ điển duy nhất, cuốn từ điển của vạn hữu.
Những
người Hồi giáo có Koran là thánh kinh, người Ấn Độ Giáo có Vệ Đà, người Sik có
Gurugranth, người Cơ Đốc có Bible, người Do Thái giáo có Talmud. Nếu bạn hỏi
tôi, "Thế thì đâu là thánh kinh của Thiền?" Thiền không có kinh sách
nào cả, kinh sách của nó là vạn hữu. Và đó chính là nét tuyệt vời của Thiền.
Những
lời kinh ẩn chứa trong từng viên sỏi, âm thanh tụng đọc của Thượng Đế vang vọng
trong mỗi tiếng chim ca. Và trong từng khoảnh khắc, chung quanh ta là khúc luân
vũ bất tận của Thượng Đế.
Từ
bi là để cho khúc hát vô tận này tuôn chảy không ngừng qua bạn, rung lên không
ngừng trong bạn -đó là lúc bạn hoà điệu với nguồn mạch thiêng liêng này, tay
trong tay sánh bước cùng Thượng Đế, lúc đó không còn gì dính dáng với bạn nữa,
bạn phải biến mất đi để nó có thể hiện hữu. Để cho lòng từ bi có mặt, bạn phải
hoàn toàn tan biến đi -nó chỉ tuôn chảy vào nơi không còn bóng dáng cái ngã của
bạn.
Lòng
tốt được vun bón làm bạn trở thành rất mực ích kỷ. Bạn có thể nhìn ra chung
quanh và thấy điều này: Những người được xem là tử tế, nhân hậu thường cực kỳ
ích kỷ, ích kỷ còn hơn cả những kẻ độc ác. Cũng chẳng có gì lạ. Những người độc
ác còn cảm thấy một chút nào đó tội lỗi, còn người được gọi là tử tế nhân hậu
thì lúc nào cũng cảm thấy mình rất mực hoàn hảo -luôn luôn thánh- thiện-hơn-bạn,
luôn luôn cảm thấy mình tốt hơn kẻ khác. Y rất mực tự giác về những gì mình
đang làm; mỗi một hành động của y mang thêm nhiều năng lượng, năng lực cho cái
ngã của mình. Y phình to ra thêm mỗi ngày. Toàn bộ hành trình của y đếu quy hướng
về cái ngã.
Đây
là điểm thứ nhất cần phải đươc hiểu rõ, từ bi không phải là cái được gọi là tử
tế nhân hậu. Dĩ nhiên nó cũng có hàm chứa một phần đặc tính thiết yếu của lòng
tử tế nhân hậu -đó là sự dịu dàng, thân ái, cởi mở cảm thông, không cứng rắn,
là tinh thần sáng tạo, và sẵn lòng giúp đỡ. Tuy nhiên, không có gì được thực hiện
như là một phần hành động của ban, tất cả mọi chuyện chỉ tuôn chảy qua bạn
thôi. Nó đến từ Thượng Đế và bạn cảm thấy sung sướng và biết ơn khi Thượng Đế
đã chọn bạn để làm phương tiện chuyển tải. Bạn trở nên trong suốt nên nó có thể
đi ngang qua. Bạn trở thành một tấm gương trong nên mặt trời có thể chiếu dọi
qua -bạn không là vật cản trở, chướng ngại. Đây là lòng tử tế nhân hậu thuần
khiết không hề vương môt chút bụi bản ngã.
Điểm
thứ hai: Từ bi cũng không phải là cái mà bạn gọi là tình yêu. Dĩ nhiên nó cũng
hàm chứa phẩm chất thiết yếu của tình yêu, nhưng đó không phải là thứ tình yêu
của bạn. Tình yêu của bạn chỉ là một bộc lộ thèm khát. Tình yêu của bạn không hề
là một tình yêu đích thực -chỉ là một sự lợi dụng kẻ khác, được bọc dưới một
cái tên đẹp đẽ, một câu khẩu hiệu thật kêu.
Bạn
cứ tiếp tục lập đi lập lại, "Tôi yêu anh, tôi yêu em" -mà thực ra bạn
có bao giờ yêu bất cứ ai đâu? Bạn chỉ sử dụng kẻ khác thôi, bạn không hề yêu ai
cả. Làm sao sự lợi dụng kẻ khác lại có thể biến thành tình yêu? Trong khi thực
ra việc lợi dụng kẻ khác được xem như là một hành động hủy diệt lớn lao nhất
trong thế giới này - bởi vì dùng người khác như một phương tiện là một tội ác.
Immanuel
Kant, mô tả ý niệm của ông về đạo đức như sau, "Sử dụng người khác như một
phương tiện là chuyện vô luân -một hành động vô luân từ căn bản". Đừng bao
giờ sử dụng người khác như là phương tiện, bởi vì mỗi một cá nhân đều là một cứu
cánh tự thân. Kính trọng tha nhân như là một cứu cánh tự thân. Khởi đi từ niềm
kính trọng đó, ta có tình yêu đích thực. Còn khi bạn bắt đầu lợi dụng -chồng lợi
dụng vợ, vợ lợi dụng chồng- tức là đã có những động cơ thúc đẩy. Đó là điều mà
bạn có thể thấy xảy ra nhan nhản chung quanh.
Con
người không hề bị hủy diệt bởi thù hận, mà thường bị hủy diệt bởi cái mà họ gọi
là tình yêu. Và bởi vì họ gọi đó là tình yêu, họ không dám nhìn thẳng vào nó. Bởi
vì họ gọi đó là tình yêu nên họ nghĩ rằng nó phải tốt đẹp, hoàn hảo. Sự thực
không như thế. Nhân loại đang khổ đau vì cái căn bệnh được gọi là tình yêu này.
Nếu bạn nhìn sâu vào đó, bạn sẽ thấy rằng nó chỉ là một thèm khát trần truồng.
Thèm khát không phải là tình yêu. Thèm khát chỉ muốn nhận vào, tình yêu luôn muốn
cho đi. Toàn bộ trọng tâm của thèm khát là: Nhận vào càng nhiều càng tốt, cho
đi càng ít càng tốt. Cho ít, thu nhiều. Nếu buộc phải cho, chỉ cho như một miếng
mồi câu để nhữ, thả tép để câu tôm.
Thèm
khát hoàn toàn là một chuyện mặc cả, bán buôn đổi chác. Vâng, bạn bắt buộc phải
cho đi cái gì đó là vì bạn muốn nhận lại -nhưng luôn luôn cho ít, nhận nhiều.
Cái đầu óc con buôn là như thế. Nếu được nhận mà không phải cho đi gì cả thì
càng tốt. Nếu bị buộc phải cho thì chỉ cho một chút ít thôi nhưng làm bộ như đã
cho nhiều lắm để rồi tìm cách lột sạch túi kẻ khác.
Lợi
dụng là thèm khát tham muốn. Tình yêu không phải là lợi dụng. Thế nên từ bi không
phải là loại tình yêu thông thường của thế gian, mà là tình yêu với ý nghĩa
đích thực. Từ bi chỉ biết cho, nó không hề biết đến chuyện nhận lại. Không hề
nhận lại -không bao giờ, kể cả nghĩ đến nó trong một khoảnh khắc nhỏ. Khi bạn
cho mà không bao giờ nghĩ đến chuyện nhận lại, bạn nhận được một nghìn lần hơn.
Nhưng đó là một chuyện khác; chuyện đó chẳng dính dấp gì với bạn cả. Còn khi bạn
muốn nhận thật nhiều, thực ra bạn chỉ bị lừa gạt; bạn chẳng hề nhận được gì cả.
Kết cuộc rồi bạn cũng bị vỡ mộng thôi.
Mỗi
cuộc tình đều kết thúc bằng một sự vỡ mộng. Bạn có nhận thấy không, mỗi một cuộc
tình cuối cùng đều để lại trong bạn cả một biển buồn khổ, thất vọng, vì bị lừa
dối? Với từ bi không có chuyện vỡ mộng, bởi vì từ bi không hề được khởi đầu bằng
một ảo tưởng. Từ bi không bao giờ đòi hỏi phải nhận lại bất cứ cái gì, nó không
có nhu cầu. Trước tiên, "Bởi vì đó không phải là nguồn năng lượng của tôi
đem cho bạn, đó là nguồn năng lượng của Thượng Đế. Tôi là ai để đi đòi hỏi một
chuyện đáp đền như thế?" Ngay cả việc đòi hỏi một lời cảm ơn cũng vô nghĩa
nốt.
Đó
là chuyện xảy ra khi có một người bệnh tìm đến Chúa Giêsu và đã được Chúa chữa
lành bằng cách sờ vào người y. Người bệnh cảm tạ Chúa Giêsu -cũng tự nhiên
thôi, y vô cùng biết ơn Chúa. Y đã đau khổ vì căn bệnh bất trị này hằng bao
nhiêu năm rôi, căn bệnh mà thầy thuốc cũng đã phải bó tay bảo y rằng,
"Không có thể làm gì được với căn bệnh này, phải chấp nhận sống với nó
thôi." Thế mà bây giờ y được chữa lành.
Thế
nhưng Chúa Giêsu đã trả lời, "Không, thưa ông, chẳng có gì để phải cảm ơn
tôi, hãy cảm tạ Thiên Chúa. Đã có điều gì đó xảy ra giữa ông và Thiên Chúa!
Không hề có tôi trong đó. Đó chính là đức tin của ông đã chữa ông lành bệnh, và
đó cũng chính là năng lượng của Thiên Chúa đã biến thành hiện thực bởi chính đức
tin của ông. Tôi nhiều lắm chỉ là một chiếc cầu -chiếc cầu mà qua đó năng lượng
của Thiên Chúa và đức tin của ông đã gặp gỡ nhau. Ông không cần phải nghĩ đến
tôi, không cần phải cảm ơn tôi. Cảm ơn Thiên Chúa. Cảm ơn đức tin của chính
mình. Có một cái gì đó đã diễn ra giữa ông và Thiên Chúa. Tôi không hề dự phần
trong đó."
Đây
là điều mà ngườì ta gọi là từ bi. Từ bi là tiếp tục cho đi nhưng không bao giờ
nhận biết về sự cho và người cho. Và rồi sự sống tiếp tục đáp ứng trong hàng
ngàn cách thế khác nhau. Bạn chỉ cho đi một chút thương yêu thế rồi thương yêu
bắt đầu tuôn chảy đến từ muôn hướng. Con người của từ bi không cần phải chụp giựt,
y không hề là kẻ tham lam. Y không chờ đợi sự đền đáp mà tiếp tục sống. Và tiếp
tục nhận -nhưng không một chút bận tâm.
Tựu
trung, điểm thứ hai là: Từ bi không phải là cái mà người ta thường gọi là tình
yêu, thế nhưng đây là tình yêu đích thực.
Điểm
thứ ba: Từ bi là trí tuệ nhưng không phải là tri thức. Một khi trí tuệ được giải
phóng ra khỏi tất cả mọi hình thức, mọi khuôn khổ luận lý, mọi tranh biện luận
chứng, mọi điều được gọi là thuần lý -bởi vì thuần lý cũng chỉ là một hình thức
tù hãm- một khi trí tuệ được tự do, thì đó chính là từ bi. Một con người của từ
bi là rất mực trí tuệ nhưng không phải là nhà trí thức. Y có cái nhìn thấu suốt,
một tri kiến tuyệt đối, có đôi mắt thực để nhìn vạn hữu không qua bức màn che
-không phải là sự đoán mò. Sự lãnh hội này không thông qua luận lý, suy luận,
mà qua một nhãn quan trong suốt.
Hãy
nhớ điều này: Con người của từ bi không phải là vô trí tuệ, nhưng vượt ngoài
trí thức. Y là người rất mực trí tuệ, là biểu hiện của tuệ giác, là ánh sáng
thuần khiết. Y biết -nhưng không hề suy tưởng. Suy tưởng để làm gì một khi bạn
đã biết? Bạn suy tưởng có nghĩa là bạn đang làm công việc thay thế. Bởi vì bạn
không biết, hoặc không thể biết, thế nên bạn cần đến suy tưởng. Suy tưởng chỉ
là một tiến trình thay thế -một sự thay thế nghèo nàn, hãy nhớ như vậy. Khi bạn
có thể biết, có thể nhìn thấy, bạn đâu còn bận tâm gì đến chuyện suy tưởng nữa?
Con
người của từ bi biết; con người của tri thức suy tưởng. Người tri thức là một
người suy tưởng; con người của từ bi không suy tưởng, vượt ngoài tri thức. Trí
tuệ mà y có, nguồn tuệ giác vô biên đó, không hề vận hành thông qua một mô hình
nào của tri thức. Trí tuệ này vận hành do trực giác.
Và
đây là điểm thứ tư: Từ bi không phải là cảm thọ. Bởi vì cảm thọ hàm chứa bao
nhiêu điều không hề có trong từ bi. Cảm thọ bao hàm tình cảm và cảm xúc - những
cái đó không hề hiện hữu trong từ bi. Con người của từ bi cảm nhận, nhưng không
hề có tình cảm xen vào. Y cảm nhận, nhưng không bị cảm xúc khuấy động. Y có thể
làm bất cứ điều gì cần thiết, thế nhưng y không hề bị dính mắc vào đó. Đây là
điều cần phải được hiểu một cách cực kỳ sâu sắc. Và một khi bạn thấu hiểu được
từ bi là gì, cũng là lúc bạn hiểu được thế nào là một vị Phật.
Ai
đó đang khổ đau: Con người của cảm thọ sẽ bắt đầu than khóc. Nhưng than khóc sẽ
chẳng giúp đỡ gì cho y cả. Ngôi nhà của ai đó đang bốc cháy: Con người của cảm
thọ sẽ kêu la, than khóc, và đấm vào ngực mình. Điều đó sẽ chẳng giúp đõ gì cho
y cả. Con người của từ bi thì khác, y sẽ bắt đầu chuyển động -y sẽ không than
khóc, không làm môt chuyện vô nghĩa như thế. Nước mắt chẳng giúp đỡ được gì. Nước
mắt không hề dập tắt được đám cháy, nước mắt không thể nào trở thành phương thuốc
để chữa trị khổ đau, nước mắt không giúp ích gì cho một người đang chết chìm.
Một
người đang chết đuối và bạn thì đang đứng cạnh bờ thở than, khóc lóc -thở than,
khóc lóc rất mực thảm thiết. Bạn là con người của cảm thọ chứ không phải là con
người của từ bi, chắc chắn như thế. Con người của từ bi sẽ hành động. Y sẽ nhảy
vào hành động ngay lập tức. Hành động của y là cấp thời; không một giây phút đợi
chờ, nấn ná. Hành động của y xảy ra ngay tức khắc -cái khoảnh khắc mà sự kiện
hiện khởi trong tầm mắt cùa y lập tức được chuyển ngay thành hành động. Y không
chuyển mà là tự động, tự phát. Sự nhận biết và hành động của y là hai mặt của
cùng một hiện tượng, không phải là hai sự việc tách rời nhau. Mặt này là nhận
thức, còn mặt kia là hành động.
Đó
là lý do tại sao tôi gọi một người tín ngưỡng ngay tự bản chất là can dự, dính
líu -dính líu với đời sống, dính líu với Thượng Đế. Y sẽ không khóc lóc, thở
than. Con người của cảm thọ đôi khi bề ngoài có vẻ như là từ bi. Thế nhưng đừng
để bị đánh lừa -con người của cảm thọ sẽ không dùng được vào việc gì cả. Chưa kể
là trong thực tế y còn tạo ra thêm những điều lộn xộn. Y chẳng hề giúp ích được
cho ai mà có thể sẽ làm cho sự việc càng rối rắm hơn. Y sẽ làm cho công việc bị
trì trệ thay vì tiếp tay giúp đỡ.
Một
con người của từ bi luôn nhạy bén. Không nước mắt, không tình cảm, y nhảy vào
hành động. Không lạnh nhạt, cũng không nóng nảy nhưng nồng ấm tình người. Và trầm
tĩnh. Đây là điều nghịch lý của một người từ bi. Y nồng hậu nhiệt tình bởi vì
tràn ngập thương yêu thế nhưng luôn trầm tĩnh. Cho dù bất cứ sự việc gì xảy ra,
y cũng không bao giờ mất đi đức tính trầm tĩnh này, và hành động được phát xuất
từ đó. Vì luôn luôn trầm tĩnh, y thực sự hữu ích.
Đây
là bốn điểm mà bạn cần thấu hiểu để rồi bạn sẽ có cái nhìn từ bốn chiều kích của
những gì được gọi là từ bi. Lòng từ bi này được sinh khởi như thê nào? Hẵn
nhiên là sẽ không do nuôi dưỡng. Nếu bạn nuôi dưỡng thì đó là sự tử tế nhân hậu
chứ không phải là lòng từ. Lòng từ bi này đã được mang vào đời sống như thế
nào? Bạn không thể đi vào tìm kiếm lục lọi trong những kinh điển, bạn không thể
đọc và được trợ giúp bởi những điều mà Đức Phật hay Chúa Giêsu nói -bởi vì điều
đó sẽ mang đến cho bạn tri thức chứ không phải trí tuệ.
Bạn
không thể tiếp tục yêu thương nhiều và nhiều hơn nữa qua cách thế mà bạn thương
yêu từ trước tới nay. Nếu bạn vẫn cứ tiếp tục bước đi trên lối mòn xưa cũ, bạn
sẽ không bao giờ đạt đến từ bi. Tình yêu thương của bạn không đi đúng hướng. Nếu
bạn vẫn cứ tiếp tục yêu thương với cung cách cũ -lắng nghe lời Đức Phật hay
Chúa Giêsu dạy về tình thương, rồi nghĩ rằng, "Tốt lắm, ta phải yêu thương
nhiều hơn, như cách mà ta đã thể hiện cho đến bây giờ" -thì như thế, phần
lượng có thể tăng nhưng phẩm chất thương yêu không có gì thay đổi. Bạn cũng sẽ
bước đi trên cùng một hướng cũ.
Hướng
đi của bạn đã sai lầm từ căn bản. Bạn chưa hề biết thương yêu thật sự. Một khi
điều này chìm sâu vào tâm hồn bạn, rằng "Tôi chưa hề biết thương yêu thật
sự"... Vâng, đó quả là điều kinh khủng khi cảm nhận được rằng "Tôi
chưa hề biết thương yêu thật sự" -điều này thực nặng nề làm sao. Chúng ta
có thể tin là những kẻ khác không biết thương yêu -vâng, đó là điều chúng ta đã
luôn tin như vậy. Và giả dụ như trên cõi đời này không có ai thương yêu ta -thì
cũng được đi, người đời thường khô cứng như thế. Thế nhưng khi nhận ra rằng bạn
là người chẳng hề biết thương yêu ai, điều này quả đã làm tan vỡ cái bãn ngã của
bạn.
Đó
là lý do tại sao con người lại không muốn nhìn thẳng vào một sự thật đơn giản
"Tôi chưa hề biết thương yêu thật sự". Và bởi vì người ta không muốn
nhìn, người ta sẽ không bao giờ thấy. Và vì người ta không thấy, họ sẽ chẳng
bao giờ được chuyển hoá. Họ sẽ lại bước đi trên cùng một lối mòn cũ, sẽ lại tiếp
tục lập đi lập lại một công việc máy móc, để rồi sẽ lại rơi vào vòng ảo tưởng
muôn đời.
Như
vậy, làm thế nào để mang lại từ bi? Nếu đó vẫn chỉ là tình thương yêu cũ của bạn
thì bạn cũng chỉ chạy theo cùng một hướng cũ -bạn chạy nhanh hơn, gia tăng tốc
độ, gia tăng số lượng, đó là điều mà ai cũng nghĩ rằng mình đang làm đúng. Tuy
nhiên bởi vì bạn đã lạc hướng, thế nên càng chạy nhanh bao nhiêu bạn càng xa rời
mục tiêu bấy nhiêu, thay vì đến gần. Gia tăng tốc độ cũng sẽ chẳng giúp ích gì
cho bạn, bởi vì ngay từ căn bản bạn đã bị chệch hướng -đó chỉ là hướng của tham
đắm và khát vọng.
Thế
thì làm thế nào để mang lại từ bi? Tôi đã từng nói rằng đó cũng không phải là cảm
thọ.
Cho
dù bạn có thể than khóc với tận tâm can, có thể đấm vào ngực mình, có chảy nước
mắt cả ngàn lẽ một lần cho những khổ đau chung quanh, bạn có thể trở nên rất mực
xúc động, có thể cảm thương cho tất cả mọi người ở Việt Nam, Triều Tiên,
Pakistan hoặc bất cứ nơi đâu, có thể cảm thông với tất cả những người nghèo khổ
trên thế gian này.
Leo
Tolstoi đã nhắc nhở lại mẹ mình trong thiên hồi ký của ông. Đó là một người phụ
nữ rất mực nhân hậu - "nhân hậu" trong cái nghĩa thường tình chứ
không phải trong ý nghĩa của từ bi. Bà nhân hậu đến mức không thể nào cầm được
nước mắt trong suốt cả buổi xem hát. Đây là một gia đình giàu có, thuộc dòng
dõi hoàng gia. Thế nên mỗi lần đi xem hát bà mẹ Leo Tolstoi luôn luôn có một
người hầu mang sẵn theo hàng tá khăn tay để bà có thể dùng liên tục trong suốt
buổi trình diễn. Bà khóc suốt buổi.
Và
Tolstoy kể rằng: Thế nhưng quả tình điều làm cho tôi ngạc nhiên là tại nước
Nga, ngay cả vào mùa Đông thời tiết rất mực giá lạnh, có khi nhiệt độ xuống dưới
không, với tuyết phủ đầy trời, bà vẫn đi xem hát như thường -bà là người rất ái
mộ kịch nghệ- và người đánh xe đã phải dầm mình trong tuyết lạnh đợi chờ bà ở
ngoài xe.
Và
hầu như chuyện thường xảy ra là người đánh xe đã bị chết cóng. Bởi vì không ai
biết trước được lúc nào thì bà bá tước bỏ về -hễ bất cứ lúc nào bà cảm thấy buồn
phiền vì những tình tiết xảy ra trong vở hát thế là bà tức tốc chạy ngay về nhà
vào phòng riêng của mình để khóc cho đã. Thế nên người giữ xe, tài xế phải luôn
túc trực ở ngoài xe và chuyện xảy ra là y thường bị chết lạnh. Khi ra xe nếu
người tài xế này chết bà chỉ việc liệng bỏ và thuê người khác thay vào, rồi tiếp
tục như không có gì xảy ra. Bà chẳng bao giờ buồn để ý đến người đánh xe khốn
khổ kia, đã chết một cách lảng xẹt ở đó. Và bà lại tiếp tục chảy nước mắt vì những
chuyện ngang trái xảy ra trong vở hát.
Đó
là mẫu người tình cảm ủy mị, dễ dàng xúc động. Họ tha hồ khóc, tha hồ xúc cảm,
chẳng mất mát gì cả. Nhưng từ bi thì ngược lại, ta phải trá giá cao, có khi bằng
chính thân mạng mình. Một con người của từ bi là người rất mực thực tế. Con người
của cảm thụ thì chỉ sống trong những giấc mơ, trong những tình cảm mơ hồ, trong
thế giới tưởng tượng.
Thế
nên từ bi cũng không thể do cảm xúc mang lại. Như vậy làm thế nào để mang lại
lòng từ? Bằng cách nào Thiền mang đến từ bi? Chỉ có một phương cách duy nhất,
đó là thiền định. Ta chỉ đạt được nó thông qua thiền định. Thế nên điều trước
tiên ta phải hiểu rõ thiền định là gì.
Đức
Phật Cồ Đàm, người khai sinh ra Thiền, người khai sáng tất cả các kỹ thuật thiền
định vĩ đại nhất trong thế gian này, đã gói trọn ý nghĩa của nó bằng một từ duy
nhất. Một hôm có người hỏi ngài, "Thưa tôn giả, thiền định là gì? Ý nghĩa
bao quát của nó là gì?" Đức Phật Cồ Đàm đã trả lời trong một chữ: Ngưng lại!
Đó là định nghĩa của ngài về Thiền. Ngài bảo, "Nếu biết ngưng lại thì đó
là Thiền". Nếu có thể diễn giải ra trong một câu thì đó là, "Cái cuồng
tâm không bao giờ chịu ngưng lại. Nếu nó ngưng lại thì đó là Thiền".
"Cái
cuồng tâm không bao giờ chịu ngưng lại. Nếu nó ngưng lại thì đó là Thiền".
Thiền định là trạng thái tĩnh thức vô niệm. Thiền định là trạng thái của vô cảm,
vô thọ, tĩnh thức vô niệm. Đó là khi bạn hoàn toàn nhận biết, khi bạn trở thành
một cột trụ của tĩnh thức. Đó là khi bạn rời khỏi cơn mê, hoàn toàn tỉnh táo,
trụ tâm vào một chỗ. Một tĩnh thức hoàn toàn.
Làm
thế nào để nhập vào trạng thái này? Thiền gia đã dùng một từ ngữ đặc biệt để chỉ
tình trạng này, đó là thoại đầu (hua t'ou). Cái danh từ Hán ngữ này có nghĩa là
trạng thái trước khi có ý nghĩ hay lời xảy ra. Cái tâm, trước khi bị khuấy đông
bởi một niệm, được gọi là thoại đầu. Giữa hai niệm có một khoảng trống, khoảng
trống đó được gọi là thoại đầu.
Hãy
hình dung như thế này. Một niệm vừa thoáng qua trên cái màn hình của tâm -trên
cái màn sóng ra-đa của tâm bạn, một niệm đi ngang qua giống như một đám mây.
Trước tiên nó mơ hồ không rõ ràng -rồi thì nó dần dần hiện ra- và đột nhiên nó
xuất hiện trên tấm màn hình. Nó tiếp tục di chuyển, đi ra khỏi màn hình, trở
thành mơ hồ và biến mất... Rồi một niệm khác tiếp tục đến. Giữa hai niệm này sẽ
là một quảng cách -trong một khoảnh khắc đơn thuần hay là trong một sát na, cái
màn hình này không chứa một niệm nào cả.
Cái
trạng thái hoàn toàn vô niệm đó được gọi là là thoại đầu -trạng thái trước khi
ý hay lời xuất hiện, trước khi tâm bạn bị khuấy động. Bởi vì nội tâm của chúng
ta không tĩnh thức nên đã đánh mất nó -bằng không thiền định xảy đến trong mỗi
khoảnh khắc. Công việc của bạn chỉ là nhận biết khi nó xuất hiện, bạn phải trở
nên tỉnh táo để nhận ra cái kho tàng mà bạn luôn mang sẵn trong mình. Thiền định
không hề do bất cứ ai mang lại cho bạn. Thiền định luôn sẵn ở đó, hạt giống
luôn có sẵn ở đó. Bạn chỉ việc nhận ra nó, nuôi dưỡng nó, chăm sóc nó và rồi nó
sẽ bắt đầu lớn dậy.
Cái
khoảng cách thời gian giữa hai niệm xảy ra được gọi là thoại đầu. Đó là cánh cửa
mở vào thiền định. Thoại đầu -gồm hai từ thoại và đầu. Thoại là một lời được
phát ra, và "đầu" là trạng thái trước khi lời phát ra. Thoại đầu là
khoảnh khắc trước khi một niệm khởi dậy. Ngay khi mà một niệm khởi dậy nó liền
trở thành một thoại vĩ, hua wei. Và một khi niệm thoáng qua rồi hay lời đã
thoát ra rồi thì lại có một quảng cách, chúng ta lại có một thoại đầu. Thiền định
tức là nhìn sâu vào cái thoại đầu này.
"Ta
không có gì phải lo lắng khi niệm khởi dậy", Phật đã dạy như thế, "mà
vấn đề chỉ là chậm trễ không nhận ngay ra chúng". Đây là một phương thức
tiếp cận tâm rất mực mới mẻ, kỳ diệu chưa từng có trước khi Đức Phật ra đời.
Ngài dạy rằng ta không có gì phải lo lắng khi niệm khởi dậy mà chỉ nên lo lắng
một điều duy nhất -là không nhận ra chúng, chậm trễ trong tĩnh thức.
Khi
một niệm khởi dậy cùng một lúc với sự tĩnh giác của bạn có mặt -tức là nếu bạn
nhận biết nó khởi dậy, khi nó đến biết nó đến, khi nó ở đó biết nó ở đó, khi nó
đi biết nó đi -thì như vậy sẽ không có vấn đề. Sự nhận biết tức thì này, theo
thời gian, sẽ là chỗ nương tựa của bạn. Sự tĩnh thức này mang lại cho bạn rất
nhiều lợi lạc. Trước tiên là bạn có thể nhận biết, bạn nhận ra rằng cái niệm
này không phải là bạn. Niệm tách rời với bạn, bạn không hề đồng nhất với nó. Bạn
là chủ và nó là khách. Nó đến rồi đi -nó là khách và bạn là chủ. Đây là kinh
nghiệm đầu tiên của thiền định.
Thiền
đề cập đến hai chữ: trần cấu -tức là bụi bặm bám dơ ở bên ngoài. "Và đây
chỉ là nơi để chúng ta bắt đầu thực tập." Thiền nói rõ hơn, "Cụ thể
như, một người lữ hành dừng lại ở một khách điếm, hoặc để ngủ trọ qua đêm hoặc
để dùng bửa tối. Rồi ngay sau đó, y sẽ lại sửa soạn hành trang và tiếp tục lên
đường, bởi vì y không có thì giờ để lưu lại lâu hơn. Còn người chủ của khách điếm,
y phải ở ngay tại đó, y không có chỗ nào để đi cả.
Lấy
đó mà suy ra thì kẻ không trú lại là khách, kẻ trụ lại không đi là chủ. Thế
nên, vật gì không trú lại là khách ngoài. Cũng thế, lúc mặt trời bừng lên tỏ rạng
trong bầu trời và ánh dương quang chiếu dọi vào nhà qua một kẻ hở, ta nhìn thấy
những hạt bụi chuyển động trong vừng tia sáng đó -trong khi đó khoảng không gian
trống rỗng không hề chuyển động. Thế nên cái tĩnh lặng đó là tánh không, cái
chuyển động chính là bụi trần. Cái trần cấu thể hiện tà niệm và cái tánh không
thể hiện bản tánh chân thật -điều này có nghĩa là, người chủ vĩnh viễn không hề
bước theo chân người khách, lúc đến cũng như đi."
Đây
là tuệ quán, một cái nhìn xuyên suốt tận bên trong. Tánh biết không phải là cái
biết. Bạn là tánh biết: các niệm đến rồi đi, bạn là người chủ. Niệm là khách -
chúng đến và dừng lại chốc lát -nghỉ ngơi đôi chút, tìm kiếm thực phẩm, hoặc
trú chân qua đêm- rồi chúng ra đi. Bạn là thường trú nhân ở đó. Bạn vẫn luôn là
bạn, chẳng bao giờ thay đổi, có mặt ở đó muôn đời. Một vĩnh cửu tự thân.
Hãy
nhìn rõ điều này. Có lúc bạn ốm đau, có lúc bạn khoẻ mạnh, có lúc bạn xuống
tinh thần, có lúc bạn rất mực hạnh phúc. Hôm nào đó bạn còn nhỏ dại, chỉ là một
đứa bé, thoắt một cái bạn lớn khôn, rồi già nua. Hôm nào đó bạn khoẻ mạnh biết
bao, rồi thời gian đến, bạn trở nên già yếu. Tất cả những chuyện như thế cứ đến
rồi đi, nhưng cái tánh biết của bạn vẫn không hề thay đổi. Đó là lý do tại sao
khi nhìn vào nội tâm bạn không thể đoán được mình bao nhiêu tuổi -bởi vì nó
không có tuổi. Hãy đi vào nội tâm rồi tìm kỹ ở trong đó xem thử mình bao nhiêu
tuổi, bạn sẽ không bao giờ tìm ra lời giải đáp, bởi vì ở đó không có trục thời
gian. Bạn hoàn toàn giống hệt như là bạn của tuổi ấu thơ, của tuổi thanh niên.
Tuyệt đối giống nhau.
Để
tìm tuổi tác bạn phải nhìn vào cuốn lịch, vào cuốn nhật ký, vào giấy khai sanh
của mình -tức là phải tìm kiếm những vật ngoại thân. Bạn không thể tìm kiếm tuổi
tác của mình ở ngay chính bên trong nội tâm. Ở bên trong không có thời gian. Bạn
vẫn là bạn của thuở nào -cho dù được phủ lên bởi những đám mây mang tên chán nản,
hạnh phúc, bạn vẫn giống hệt nhau.
Thỉnh
thoảng trên bầu trời có những đám mây đen - nhưng bầu trời vẫn không hề thay đổi
bởi những đám mây đen. Có lúc bầu trời có những đám mây trắng bay qua, nhưng bầu
trời cũng không hề thay đổi vì những đám mây trắng. Những đám mây cứ đến rồi
đi, và bầu trời vẫn cứ là bầu trời cũ. Những đám mây cứ đến rồi đi, và bầu trời
vẫn thế.
Bạn
là bầu trời, niệm là những đám mây. Điểm cần lưu ý đầu tiên, nếu bạn theo dỏi
niệm của bạn trong từng giây phút, không đánh mất chúng, nhìn thẳng vào chúng,
bạn sẽ đạt đến tuệ giác -một tuệ giác sâu xa. Đây là bước đầu của Phật quả, khởi
điểm của tĩnh thức. Bạn sẽ không còn mê ngủ nữa, bạn không còn đồng hoá với những
đám mây thoắt đến thoắt đi nữa. Bây giờ thì bạn biết mình dừng lại vĩnh viễn.
Rồi
đột nhiên mọi lo toan băn khoăn biến mất. Không có gì thay đổi được bạn, sẽ chẳng
bao giờ có gì thay đổi được bạn -như thế thì băn khoăn, đau khổ để làm gì? Và tại
sao lại phải lo lắng? Không có sự lo lắng nào có thể giải quyết được bất cứ điều
gì cho bạn cả -mọi chuyện cứ đến rồi đi, chúng chẳng khác gì những gợn sóng lăn
tăn nổi lên ngoài mặt. Trong tận cùng sâu thăm của bạn, chẳng hề có một cơn
sóng nào nổi lên cả. Và bạn thì đang ở đó, chính là cái đó, cái hữu thể đó. Thiền
gia gọi trạng thái này là tìm thấy ông chủ.
Thông
thường, bạn bị dính mắc quá nhiều với những ông khách -thế nên đời bạn khốn khổ.
Một người khách đến, bạn trở nên dính mắc quá mức đối với y. Thế rồi người
khách lại khăn gói lên đường còn bạn thì bắt đầu than khóc, chạy quanh, đuổi
theo họ -ít nhất là để tiễn biệt, nói lời từ giả. Rồi nước mắt bạn tuôn tràn -một
người khách đã ra đi còn bạn thì đau khổ biết bao. Rồi một người khách khác lại
đến và bạn lại gắn bó với y, đồng hoá với y, và rồi y sẽ lại lên đường...
Những
người khách cứ đến rồi đi, họ không bao giờ dừng lại! Họ không thể dừng lại, họ
không lưu lại, khách đã bao hàm ý nghĩa là không trụ lại vĩnh viễn ở một bến đổ
nào cả.
Bạn
có bao giờ để ý đến bất cứ một cái niệm nào chưa? Nó không bao giờ lưu lại. nó
không thể trụ lại. Ngay cả việc bạn làm mọi cách để giữ nó lại, nó cũng không
thể trụ lại. Hãy thử đi. Đó là điều mà thỉnh thoảng người ta đã tìm cách thử -họ
tìm cách giữ lại một chữ ở trong tâm, chữ Aum chẳng hạn. Nhưng cũng chỉ được
vài giây thôi là nó chạy đi, nó tuột mất. Người ta bắt đâu lan man nghĩ đến
chuyện chợ búa, chuyện vợ chồng, con cái... Bỗng dưng người ta chợt nhận ra -Ô,
chữ Aum (Om) đâu rồi nhĩ? Nó đã tuột mất rồi.
Khách
muôn đời vẫn là khách -họ không đến để lưu trú với bạn. Một khi bạn nhận thức
được rằng tất cả những gì đến với bạn rồi cũng sẽ rời xa bạn, thế thì tại sao lại
phải lo lắng nhỉ? Hãy quán sát: Cứ mặc kệ chúng ở đó, cứ để chúng sửa soạn khăn
gói, cứ để chúng ra đi. Và bạn ở lại. Lúc này bạn có thể thấy sự an bình sinh
khởi nếu bạn cảm nhận được rằng bạn luôn luôn vẫn thế? Đấy là mặt hồ tĩnh lặng.
Đấy là trạng thái vô ưu, vô phiền não. Khổ đau đoạn diệt cùng một lúc với sự đồng
hoá đoạn diệt. Đừng để mình bị đồng hoá -tất cả chỉ có thế. Nếu bạn có thể thấy
được bất cứ ai đó đang sống trong một chiều kích thời gian vĩnh cữu vô tận như
thế, bạn sẽ cảm nhận cả một nguồn ân sủng, trầm tĩnh, tươi đẹp bao quanh y.
Điều
đó đã xảy ra -đây là câu chuyện về Đức Phật, một câu chuyện tuyệt vời. Bạn hãy
lắng nghe một cách kỹ lưỡng, bằng không bạn có thể sẽ chẳng lãnh hội được gì.
Một
hôm, gần đến giờ thọ trai, Đức Thế Tôn đã đắp y mang bình bát đi vào thành Xá Vệ
để khất thực. Ở trong thành Đức Phật cứ theo thứ lớp từng nhà mà xin ăn, xong
trở về nơi chúng ở. Sau khi thọ trai xong, cất y bát, Ngài rửa chân, trải pháp
toà và ngồi xuống.
Tất
cả diễn tiến một cách chậm rãi như trong một cuốn phim quay chậm. Đây là một cuốn
phim về Đức Phật, và là một cuốn phim chuyển động rất mực khoan thai chậm rãi.
Một lần nữa, hãy để tôi lập lại.
Một
hôm, gần đến giờ thọ trai, Đức Thế Tôn đã đắp y mang bình bát đi vào thành Xá Vệ
để khất thực. Ở trong thành Đức Phật cứ theo thứ lớp từng nhà mà xin ăn, xong
trở về nơi chúng ở. Sau khi thọ trai xong, cất y bát, Ngài rửa chân, trải pháp
toà và ngồi xuống.
Hãy
mường tượng ra trước mắt ta hình ảnh Đức Thế Tôn đang tiến hành những công việc
này xong an tọa trên pháp toà.
Điều
này cho thấy cuộc sống bình dị của Đức Phật, và những sinh hoạt thường nhật của
Ngài cũng giống như bao nhiêu người khác chẳng có điều gì tỏ ra đặc biệt. Thế
nhưng, có một điều rất khác thường mà ít người nhận ra.
Điều
gì vậy? Cái phẩm chất hoàn toàn đặc biệt khác thường đó là gí? -bởi vì đó là Đức
Phật đang làm những công việc bình thường. Rửa chân, trải pháp toà, ngồi xuống,
cất y bát, đi ngủ, thức dậy -những công việc bình thường như bao nhiêu người
khác đang làm.
Vào
lúc ấy,ngài Tu Bồ Đề, một đệ tử của Phật -một vị đại trưởng lão- từ trong đại
chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo phải, gối mặt quỳ xuống đất, chấp
tay cug kính bạch Phật rằng: "Thật rất hiếm có, Bạch Đức Thế Tôn! Thật rất
hiếm có!"
Bây
giờ, nếu ta chỉ nhìn ngoài mặt thì chẳng có vẻ gì là hiếm có cả. Đức Phật trở về
nơi chúng ở, cất y bát, rửa chân, trải pháp toà và ngồi xuống -hình như chẳng
có gì là đặc biệt, thế mà vị trưởng lão này, ông Tu Bồ Đề...
Tu
Bồ Đề là một trong những đại cao đồ vào bậc nhất của Phật -rất nhiều câu chuyện
tuyệt vời về Đức Phật đều có liên hệ đến ngài Tu Bồ Đề. Đây là một trong những
câu chuyện đó, cực kỳ hiếm có.
Vào
lúc ấy,ngài Tu Bồ Đề, một đệ tử của Phật -một vị đại trưởng lão- từ trong đại
chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo phải, gối mặt quỳ xuống đất, chấp
tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật rất hiếm có, Bạch Đức Thế Tôn! Thật rất
hiếm có!" Điều chưa hề được thấy bao giờ, độc nhất vô nhị.
Những
sinh hoạt thường nhật của Như Lai bề ngoài trông cũng tương tự như bao nhiêu
người khác, tuy nhiên có một điểm khác biệt ở đây mà tất cả những ai đang đối mặt
với Phật từ bao lâu nay chẳng hề nhận ra. Hôm ấy, bỗng nhiên ngài Tu Bồ Đề khám
phá ra, và tán thán rằng: "Thật rất hiếm có, Bạch Đức Thế Tôn! Thật rất hiếm
có!"
Trời
đất! Đức Như Lai đã có mặt với chúng đệ tử của Ngài trong suốt ba mươi năm qua
thế mà họ vẫn không hề nhận ra bất cứ điều gì về những hành hoạt thông thường
trong đời sống hằng ngày của Ngài. Bởi vì họ không nhận ra, họ cho rằng những hành
động này là bình thường và để chúng trôi qua chẳng mảy may lưu ý. Họ chỉ nghĩ rằng
Ngài cũng giống như bao nhiêu người khác thế nên cũng có thể họ đã có một
thoáng nghi ngờ và không tin vào những lời dạy của Ngài. Nếu như không có ngài
Tu Bồ Đề nhìn rõ khía cạnh này, hẵn không có ai đã thực sự biết Phật.
Kinh
sách đã cho ta biết như thế.
Nếu
như không có một vị Tu Bồ Đề, hẵn sẽ không có một ai nhìn thấy được những gì đã
xảy ra ở bên trong Phật. Thế thì cái gì đã xảy ra ở bên trong? Đó là Đức Phật vẫn
luôn là người chủ. Không có một khoảnh khắc nhỏ nào Ngài xa rời cái vĩnh cửu tự
thân của mình. Đức Phật vẫn luôn ở trong thiền quán. Không có một khoảnh khắc
nhỏ nào Ngài rời xa cái thoại-đầu của mình. Đức Phật vẫn luôn ở trong tam-ma-địa
-ngay cả khi Ngài đang rửa chân, ngài cũng rửa chân một cách tĩnh thức, tĩnh
giác, rất mực ý thức. Ngài nhận biết chắc thực rằng, "Đôi chân này không
phải là ta." Ngài nhận biết chắc thực rằng, "Cái bát này không phải
là ta." Ngài nhận biết chắc thực rằng, "Cái y này không phải là
ta." Ngài nhận biết chắc thực rằng, "Cái đói này không phải là
ta." Ngài nhận biết chắc thực rằng, "Tất cả những gì chung quanh ta
không phải là ta. Ta chỉ là chứng nhân, là người quan sát tất cả."
Từ
đấy ấy toát ra phong cách của Phật, từ đấy toát ra nét đẹp siêu nhiên thoát tục
của Phật. Ngài vẫn luôn khoan hoà trầm tĩnh. Cái trầm tĩnh này chính là thiền định.
Nó phải được đạt đến bởi sự tĩnh giác hơn của người chủ, bởi sự nhận rõ hơn về
người khách, bởi sự không đồng hoá mình với khách, không để mình dính líu với
khách. Những niệm thoạt đến thoạt đi, những cảm xúc thoạt đến thoạt đi, những
giấc mơ thoạt đến thoạt đi, những tâm trạng thoạt đến thoạt đi, thời tiết luôn
thay đổi. Tất cả những đổi thay đó không phải là bạn.
Có
cái gì đó vẫn không hề thay đổi? Đó chính là bạn. Và đó cũng chinh là Thượng Đế,
là Chân Như, là Ông Chủ. Nhận biết nó, trở thành nó, tan biến thể nhập vào nó
có nghĩa là đạt đến tam-ma-địa . Thiền định -Dhyana- là phương pháp, thiền quán
là phương pháp, tam-ma-địa là mục tiêu. Dhyana là kỹ thuật để tiêu diệt sự đồng
hoá mình và khách. Và tam-ma-địa tồn tại vĩnh viễn với ông chủ này, là tan hoà
vào với ông chủ này, vào tận cùng cốt lõi.
Ôm
trong lòng một vị Phật hằng đêm khi ta ngủ Thức dậy mỗi buổi sáng cùng với
ngài.
Lúc
đứng, lúc ngồi cả hai đều theo dõi nhau Lúc nói, lúc lặng im không hề rời xa một
bước Không chia lìa nhau dù chỉ trong khoảnh khắc Mà gắn bó cùng nhau như bóng
với hình Nếu bạn muốn biết nơi chốn nào có Phật
Ngài
ở ngay trong thanh âm tiếng nói của mình.
Đấy
là Thiền ngữ: "Ôm trong lòng một vị Phật hằng đêm khi ta ngủ." Phật
luôn có mặt ở đó, và phi-Phật cũng có mặt ở đó. Trong bạn vừa là cõi ta bà vừa
là niết bàn, vừa là Thượng Đế lẫn vật chất, vừa là thể xác lẫn linh hồn. Trong
bạn là muôn vàn bí ẩn của hiện hữu có mặt - bạn là điểm tụ hội gặp gỡ, bạn là một
ngả tư đường. Mặt bên này là ta bà thế giới, mặt bên kia là Thượng Đế, Chân
Như. Và bạn là gạch nối của hai phía.
Bây
giờ vấn đề còn lại chỉ là tập trung. Nếu bạn tiếp tục tập trung đời mình vào thế
tục, bạn sẽ gắn bó mãi với đời sống hệ lụy này. Nhưng nếu bạn bắt đầu thay đổi
tiêu điểm, chuyển hướng tiêu điểm và tập trung vào tâm thức, bạn là Thượng Đế,
Chân Như. Chỉ một thay đổi nhỏ thôi, như bạn đang sang số xe -giống y như vậy.
"Ôm
trong lòng một vị Phật hằng đêm khi ta ngủ. Thức dậy mỗi buổi sáng cùng với
ngài." Ngài luôn ở đó, bởi vì tâm thức luôn ở đó; không bao giờ mất đi dù
chỉ một khoảnh khắc nhỏ.
"Lúc
đứng, lúc ngồi cả hai đều chăm sóc theo dõi nhau." Ông chủ và người khách,
cả hai đều có mặt ở đó. Những người khách thì luôn thay đổi, nay người này mai
người khác và khách điếm thì không bao giờ trống chỗ - trừ phi bạn không còn đồng
hoá mình với khách. Chính lúc đó tánh không hiện khởi. Nó thỉnh thoảng xảy ra
khi khách điếm của bạn trống chỗ; chỉ còn ông chủ nhàn hạ ngồi đó, không còn bị
những người khách quấy rầy. Lưu thông đình chỉ, không có ai đến nữa. Những khoảnh
khắc đó là đại hồng ân, là đại phúc lành.
"Lúc
nói, lúc lặng im không hề rời xa nhau một bước." Khi bạn đang nói, trong bạn
là nỗi lặng im. Khi bạn đang tham đắm, vẫn có một cái gì đó đàng sau tham đắm.
Khi bạn đang khát khao ước vọng, cũng có một con người khác trong bạn chẳng hề
vọng tưởng chút nào. Hãy nhìn kỹ đi, rồi bạn sẽ tìm thấy nó. Vâng, bạn rất mực
gắn bó, thế nhưng bạn cũng rất mực xa cách. Bạn tiếp cận, thế nhưng không bao
giờ gặp gỡ. Sự tiếp cận của bạn giống như dầu và nước; vẫn chỉ là sự tách biệt.
Người khách có thể rất thân tình với ông chủ. Đôi khi họ nắm tay nhau, ôm chặt
nhau, thế nhưng người khách vẫn là người khách, ông chủ vẫn là ông chủ. Khách
là người sẽ đến rồi đi; họ luôn luôn thay đổi. Còn ông chủ là người vẫn ở lại
đó, luôn luôn vẫn thế.
"Không
chia lìa nhau dù chỉ trong khoảnh khắc. Mà gắn bó cùng nhau như bóng với hình.
Nếu bạn muốn biết nơi chốn nào có Phật. Ngài ở ngay trong thanh âm tiếng nói của
mình." Đừng có tiếp tục chạy đi tìm kiếm ông Phật ở ngoài mình nữa. Phật ở
ngay trong bạn -thường trụ ở trong bạn như là ông chủ.
Bây
giờ vấn đề là làm sao để đạt đến trạng thái ông chủ này? Tôi muốn chia xẻ cùng
các bạn ở đây về một kỹ thuật khá cổ điển, thế nhưng kỹ thuật này lại hữu ích
cho bạn vô cùng. Để tìm ra ông chủ không hề biết mặt này, để tiếp cận với cái
bí ẩn tối hậu của sinh thể bạn, đây là con đường -một trong những con đường đơn
giản nhất mà
Đức
Phật đã đề xuất cho chúng ta.
"Đoạn
diệt tất cả những mối liên hệ sẵn có của bạn, và nhìn rõ bạn là cái gì. Giả dụ
như bạn không phải là con trai của cha mẹ bạn, cũng không phải là chồng của vợ
bạn, cũng không phải là cha của con cái bạn, không phải là họ hàng thân thích của
bà con ruột thịt bạn, không phải là bằng hữu của những người quen biết, cũng
không phải là công dân của quốc gia bạn, v.v... và v.v... -thế là bạn thể nhập
mình-vào-bản-thể."
Chỉ
là chuyện đoạn diệt, cách giao. Thỉnh thoảng một lần trong ngày, bạn ngồi lặng
yên và tự cắt đứt mình với mọi ràng buộc liên hệ. Cũng giống như cắt đứt đường
dây điện thoại, bạn tự cắt đứt mình với mọi ràng buộc liên hệ. Đừng nghĩ đến
chuyện mình là cha của con cái bạn nữa - cắt đứt. Bạn không còn là cha của con
cái bạn nữa, và cũng không còn là con của cha mẹ mình nữa. Không còn là người
chồng hay người vợ -cắt đứt, bạn không còn là chồng hay vợ nữa. Bạn không còn
là chủ nhân, và cũng không là đầy tớ nữa. Bạn không còn là người da trắng hay
da đen. Bạn không còn là người Ấn Độ, người Trung Hoa, người Đức nữa. Bạn không
còn là người trẻ hay người già nữa. Cắt đứt hết, và tiếp tục như thế.
Có
cả một ngàn lẻ một mối liên hệ buộc ràng hiện hữu -bạn chỉ việc tiếp tục cắt đứt
chúng. Một khi bạn đã đoạn diệt cắt đứt tất cả chúng rồi, đột nhiên bạn tự hỏi:
Ta là ai? Sẽ không có một câu trả lời -bởi vì bạn đã hoàn toàn đoạn diệt tất cả
những câu trả lời ngay từ nơi mà chúng phát xuất.
Ta
là ai? Và một câu trả lời hiện ra, "Ta là một bác sĩ" -thế nhưng bạn
đã chặt đứt mối liên hệ với những bệnh nhân rồi. Và rồi một câu trả lời,
"Ta là giáo sư" -thế nhưng bạn đã chặt đứt mối liên hệ với những người
học trò của bạn rồi. Và một câu trả lời đến, "Ta là người Trung Hoa"
-thế nhưng bạn đã đoạn diệt khái niệm này rồi. Và rồi một câu trả lời, "Ta
là một người đàn ông hay là một phụ nữ" -thế nhưng bạn cũng đã cắt đứt
chúng rồi. Và một câu trả lời hiện đến, "Ta là một ông già" -thế
nhưng khái niệm này cũng đã bị đoạn diệt.
Đoạn
diệt, cách giao tất cả. Lúc đó là bản lai diện mục. Thế rồi đây là lần đầu tiên
chỉ còn lại một mình ông chủ, những người khách đã hoàn toàn vắng bóng. Quả là
một điều tuyệt vời nếu thỉnh thoảng bạn trơ trọi một mình không còn một người
khách vãng lai, bởi vì lúc đó bạn có thể nhìn suốt vào cái chủ thể của mình một
cách gần gũi, kỹ lưỡng hơn. Đám khách kia tạo ra những náo động, ồn ào, họ đến
và đòi hỏi sự lưu tâm, săn sóc của bạn. Họ yêu cầu bạn, "Làm cho tôi cái
này, tôi cần nước nóng đấy nhé, điểm tâm của tôi ở đâu? Đâu là phòng ngủ của
tôi? Giường này nhiều rệp quá đi mất",... một ngàn lẻ một thứ đại loại như
thế. Thế là ông chủ bắt đầu chạy theo những người khách. Vâng, dĩ nhiên là bạn
phải chăm sóc họ thôi.
Khi
bạn hoàn toàn cắt đứt với mọi liên hệ buộc ràng, sẽ không còn ai làm phiền bạn
-không ai có thể quấy rầy bạn nữa. Bỗng dưng bạn ở đó hoàn toàn trơ trọi riêng
mình -một cô đơn thuần khiết, cái cô đơn thuần khiết của thuở hồng hoang. Bạn
giống như một mảnh đất trinh nguyên không dấu chân người, một chóp đỉnh của Hy
Mã Lạp Sơn ngàn năm hoang vu. Đây là điều mà ta gọi là trinh khiết.
Đây
là ý nghĩa của điều mà tôi nói, "Vâng, thân mẫu của Chúa Giêsu là một người
nữ đồng trinh." Nó bao hàm ý nghĩa như thế. Tôi hoàn toàn không đồng ý với
các nhà thần học Cơ Đốc -bất cứ những gì họ nói ra đều hoàn toàn nhảm nhí. Đây
mới là ý nghĩa đích thực của trinh khiết - Chúa Giêsu phải được thụ thai lúc bà
Mary đang ở trong một trạng thái cách giao như thế. Khi bạn ở trong trạng thái
này, dĩ nhiên nếu một hài nhi đến với bạn sẽ chỉ là một Giêsu, chứ không thể ai
khác.
Tại
Ấn Độ thời cổ đã có rất nhiều phương pháp để thụ thai. Theo họ, trừ phi bạn
đang đắm chìm trong trạng thái thiền định sâu sắc, đừng nên làm tình. Hãy để
thiền định như là một bước chuẩn bị cho sự làm tình: đó là toàn bộ ý nghĩa của
tantra (mật giáo). Hãy để thiền định làm nền tảng -chỉ lúc đó mới làm tình. Vì
chỉ lúc đó bạn mới mời gọi được những thánh hồn nhập thai. Càng sâu trong thiền
định, sẽ mời gọi được những thánh hồn cao hơn.
Đức
Mẹ Maria chắc chắn phải ở trong trạng thái hoàn toàn cách giao trong khoảnh khắc
Chúa Giêsu thể nhập vào bà. Bà chắc chắn phải đang ở trong tình trạng trinh khiết
này; bà chắc chắn phải là người chủ. Bà không còn là một người khách, không còn
bị náo động bởi khách, không còn bị đồng hoá với khách nữa. Bà không là thân,
không là tâm, không là niệm, không là vợ, và cũng không là ai cả. Trong cái trạng
thái không là ai này, bà có mặt ở đó, an nhiên trong tĩnh lặng -như một ngọn
đèn tinh khiết, một ngọn lửa không vẩn đục bởi làn khói, một ngọn lửa tinh tuyền.
Bà đã là người nữ đồng trinh.
Và
tôi có thể nói với bạn điều này, trường hợp này cũng giống y như khi Đức Phật
nhập thai hay Mahavira nhập thai, hay Krisna, Nanak -bởi vì những vị này không
thể nhập thai bằng phương cách nào khác. Những vị này chỉ có thể thể nhập vào
trong cái bào thai trinh khiết nhất. Nhưng đây là ý nghĩa của riêng tôi về sự đồng
trinh. Nó chẳng hề dính dấp gì đến những ý tưởng điên khùng mà bạn đã từng nghe
đầy cả tai -rằng bà Maria chưa bao giờ yêu một người đàn ông nào, rằng Chúa
Giêsu không phải được thụ thai do bởi một người nam, rằng Chúa Giêsu không phải
là con trai của Joseph...
Đó
là lý do tại sao người Cơ Đốc cứ tiếp tục gọi: "Giêsu, người con trai của
Mẹ Maria." Họ tránh không nói đến thân phụ của ngài; ông ta không phải là
người cha. Đó là con trai của Maria và là con trai của Đức Chúa Cha -không hề
có Joseph là người trung gian ở giữa. Thế nhưng tại sao lại phải giận dỗi quá mức
với cái ông Joseph khốn khổ này? Tại sao Đức Chúa Cha lại không thể dùng đến
ông Joseph, khi Ngài đã dùng Maria? Có điều gì không ổn trong đó? Ngài đã dùng
Maria làm bào thai -điều này không hề làm hỏng đi câu chuyện. Thế thì tại sao lại
không dùng luôn Joseph? Cái bào thai chỉ mới là một nửa câu chuyện, bởi vì chỉ
mới dùng đến một cái trứng từ người mẹ. Tại sao lại không dùng luôn một cái trứng
khác từ Joseph? Tại sao lại giận dỗi quá mức với cái ông thợ mộc khốn khổ này?
Không,
không thể như thế, Thượng Đế dùng đến cả hai. Thế nhưng cái trạng thái của ý thức
phải là trạng thái của chủ thể. Và đúng vậy, nếu bạn đã là chủ thì sẽ không có
gì ngạc nhiên khi bạn đón nhận một người khách vĩ đại nhất: Giêsu đến với bạn.
Nếu bạn đã đoạn diệt với tất cả những người khách, thì lúc bấy giờ Thượng Đế sẽ
trở thành vị khách duy nhất. Trước tiên bạn trở thành người chủ, một người chủ
hoàn toàn. Lúc ấy, Thượng Đế trở thành người khách của bạn.
Khi
bạn được đoạn diệt, cách giao... thì đó là bản lai diện mục. Bây giờ hãy tự hỏi
mình: Thế nào là "bản lai diện mục"? Bạn sẽ không bao giờ có thể trả
lời được câu hỏi này -một câu hỏi không thể trả lời, bởi vì mọi buộc ràng liên
hệ có thể biết đã được cắt đứt từ gốc rễ. Bằng cách này ta rơi tỏm vào cái
không thể biết; đó là thể nhập vào thiền định. Khi bạn đã an trú trong đó, hoàn
toàn an trú trong đó, là bước vào tam-ma-địa.
Bây
giờ ta trở lại với câu chuyện của Thiền sư Bàn Khuê. Lúc này bạn có thể hiểu
câu chuyện này một cách dễ dàng hơn.
Khi
Thiền sư Bàn Khuê tổ chức những tuần lễ thiền tập, những Thiền sinh từ khắp nơi
trên nước Nhật đã đổ về tham dự.
Đó
là một thiền đường, một buổi thiền tập, thế nên bạn phải hiểu thiền định là gí.
Đó là lý do tại sao tôi phải đi sâu vào thiền định như thế -nếu không bạn sẽ
đánh mất toàn bộ trọng điểm của câu chuyện. Những câu chuyện Thiền không phải là
những câu chuyện thông thường, để hiểu được chúng bạn cần phải có một quá trình
hiểu biết sâu sắc. Trừ phi bạn hiểu được thiền định là gì, bằng không bạn sẽ đọc,
"Khi Thiền sư Bàn Khuê tổ chức những tuần lễ thiền tập" -nhưng sẽ chẳng
hiểu gì cả.
...
những Thiền sinh từ khắp nơi trên nước Nhật đã đổ về tham dự. Một trong những lần
tụ hội này, một Thiền sinh bị bắt quả tang đang ăn cắp.
Những
thiền sinh kia cũng có mặt ở đó -họ luôn có mặt ở mọi nơi, bởi vì tâm địa con
người nói chung thường rất mực hám tiền. Đừng bao giờ nghĩ rằng kẻ đang ăn cắp
khác biệt nhiều với kẻ bị ăn cắp; họ vẫn là những kẻ đồng hội đồng thuyền. Cả
hai đều hám tiền như nhau. Một bên là kẻ có tiền, một bên là kẻ không tiền -chỉ
khác nhau ở chỗ đó. Nhưng cả hai cũng đều hám tiền cả.
Việc
này đã được tường trình lên sư Bàn Khuê với lời đề nghị là thủ phạm phải bị trục
xuất. Thiền sư Bàn Khuê đã bỏ qua chuyện này.
Tại
sao ông ta đã bỏ qua chuyện này? Bởi vì cả hai đều là những kẻ hám tiền. Cả hai
đều là những kẻ cắp -kẻ cắp này đang tìm cách đánh cắp tài vật từ kẻ cắp khác,
vấn đề chỉ có vậy.
Trong
thế gian này, nếu bạn tích chứa bất cứ cái gì, bạn trở thành kẻ cắp, nếu bạn sở
hữu bất cứ cái gì, bạn trở thành kẻ cắp. Có hai loại kẻ cắp trong xã hội: loại
thứ nhất là những kẻ cắp được kính trọng, được công nhận bởi nhà nước, được phê
chuẩn, đăng ký, cho phép bởi nhà nước -và loại kia, những kẻ không có môn bài,
tự mình làm lấy. Trộm cắp bất hợp pháp và trộm cắp hợp pháp. Kẻ trộm cắp hợp
pháp thì được kính trọng; người trộm cắp bất hợp pháp thì bị chê trách, bởi vì
họ chống lại luật lệ.
Những
người rất mực khôn lanh sẽ không chống lại luật lệ, họ tìm ra những kẻ hở trong
luật lệ. Nhưng cũng có không ít những kẻ thiếu khôn lanh như thế. Nhận thấy rằng
nếu cứ tuân thủ theo những luật lệ này, họ sẽ chẳng bao giờ có được cái gì cả,
họ vượt ra ngoài luật lệ và bắt đầu làm những chuyện bất hợp pháp. Tuy nhiên,
trên căn bản mỗi người đều là một kẻ mê tiền. Đó là lý do tại sao Thiền sư Bàn
Khuê đã bỏ qua chuyện này.
Sau
đó Thiền sinh này lại bị bắt quả tang ăn cắp một lần nữa, và Thiền sư Bàn Khuê
cũng lại bỏ qua. Điều này đã làm cho các Thiền sinh khác tức giận, họ đã làm một
tờ thỉnh nguyện yêu cầu phải loại bỏ kẻ cắp, nếu không họ sẽ rời bỏ khoá tu.
Ông
ta biết rằng cả hai đều là kẻ đồng hội đồng thuyền; chẳng có gì khác nhau bao
nhiêu.
Bạn
sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng một người thành công trong những hành động tội ác sẽ
biến thành một người khả kính. Chỉ khi nào y thất bại, lúc đó y mới trở thành một
tên tội phạm. Cũng là kẻ cướp, nhưng được là vua, thua là giặc. Vấn đề còn lại
chỉ là ai là kẻ thành công. Nếu bạn đầy quyền lực trong tay, bạn là một vị đại
đế. Cái ông A Lịch Sơn, Đại đế A Lịch Sơn là ai vậy? Một tay đại thảo khấu
-nhưng ông ta đã thành công.
Những
kẻ được gọi là chính trị gia của bạn đều là những tên thảo khấu. Họ cố gắng làm
công việc tiêu diệt những tên thảo khấu khác -có thể bạn thấy họ đang chống lại
việc buôn lậu, chống cướp giật, chống cái này chống cái nọ; thế nhưng tự trong
bản chất họ là những tay trùm buôn lậu, chúa ăn cướp. Tuy nhiên họ biết làm việc
một cách hợp pháp -hay ít nhất cũng cố gắng tỏ ra mình làm việc một cách hợp
pháp. Và họ thành công -ít ra là lúc họ đang nắm quyền lực. Khi không còn trên
ngôi vị nữa, những hào quang, những câu chuyện tốt đẹp về họ tự nhiên biến mất.
Một
khi một chính trị gia bị hạ bệ, y sẽ là đầu đề của bao nhiêu chuyện tồi tệ. Y
có thể là Richard Nixon hay Indira Gandhi. Khi mà một chính khách bị hạ bệ, khi
quyền lực trong tay không còn, không có gì để bảo vệ mình được nữa, lúc đó tất
cả mọi chuyện được phơi bày.
Nếu
bạn biết được bằng cách nào mà một người trở nên giàu có, lúc đó bạn sẽ không
còn kính nễ y. Nhưng mà một người giàu thực sự, y biết cách làm thế nào để cho
người ta câm miệng. Y biết cách làm cho trí nhớ của người ta teo lại cực kỳ nhỏ
-để quên đi dễ dàng.
Tôi
vừa mới đọc trong một cuốn sách lịch sử nào đó, rằng có hai mươi người đã bị trục
xuất ra khỏi Anh Quốc vì họ là những tên hải tặc. Và điều gì đã xảy ra ba mươi
năm sau? Trong số hai mươi người đó, một số đã đến Úc Châu, một số đã đến Mỹ
Châu. Một số đã trở thành những ông thống đốc tại Mỹ, một số trở thành những
ông chủ ngân hàng -những đại ngân hàng, một số trở thành những đại điền chủ tại
Úc -tất cả hai mươi tên hải tặc đều đã trở thành những nhân vật rất mực khả
kính. Họ đã tạo dựng lên những dinh cơ đồ sộ -tất cả những ngôi nhà đẹp đẽ nhất
tại Mỹ đều thuộc quyền sở hữu của họ.
Đó
là lý do tại sao mà vị Thiền sư lại bỏ qua. Ông ta đã không quan tâm gì lắm đến
chuyện này, không một mảy may lưu ý. Chuyện nhỏ thôi, rất mực thường tình trên
thế gian này. Tâm của một người không hám tiền sẽ bỏ qua thôi.
Điều
này đã làm cho các Thiền sinh khác tức giận, họ đã làm một tờ thỉnh nguyện yêu
cầu phải loại bỏ kẻ cắp, nếu không họ sẽ rời bỏ khoá tu.
Bây
giờ ta thấy rằng những thiền sinh này chẳng phải đến đó để thực hành thiền định
gì cả. Nếu bạn đến để tham dự khoá tu thiền, chắc hẵn bạn đã phải hiểu rõ một
vài yêu cầu -rằng bạn cần làm cho tăng trưởng cái lòng bớt hám tiền hám lợi, rằng
bạn phải đạt đến một vài sự buông bỏ những vật mình đang sở hữu. Rằng bạn phải
hiểu cái tâm vận hành như thế nào, tại sao con người lại tham tiền như thế.
Chuyện đáng gì đâu nếu có ai đó lấy đi một vài đồng rupee -đâu có gì quan trọng,
đâu phải là chuyện sống chết.
Bạn
đang chống lại kẻ cắp bởi vì y đang lấy trộm tiền của bạn. Thế nhưng còn bạn
thì sao? Bạn cũng đã tước đoạt nó từ những kẻ khác bằng cách này hay cách khác
- bởi vì tất cả đều đến thế gian này với bàn tay trắng, chẳng có ai mang theo
tiền bạc gì cả. Như thế, tất cả những gì mà chúng ta đang sở hữu, chúng ta đều
chiếm hữu, nhận là của riêng mình. Không có gì thuộc về ai cả. Nếu một người thực
sự đến để dự khoá tu thiền, đây phải là thái độ của y -Không có gì thuộc về ai
cả. Y phải nên bắt đầu bớt tham cầu, bớt dính mắc vào mọi chuyện.
Thế
nhưng những người này là những kẻ hám tiền. Và khi bạn là kẻ hám tiền, chính trị
sẽ chen chân vào, chuyện tự nhiên thôi. Khi thấy kẻ cắp được bỏ qua cả hai lần,
chắc hẵn họ sẽ nghĩ rằng, "Ông thầy này thuộc loại người gì vậy? Hình như
ông ta có vẻ thiên vị với kẻ cắp!" Họ đã không thể hiểu được lý do tại sao
ông thầy lại bỏ qua chuyện này. Ông ta bỏ qua chỉ vì muốn cho mọi người thấy phải
nên từ bỏ cái tâm tham tiền của mình đi. Vâng, ăn cắp là chuyện xấu, nhưng cái
tâm tham tiền thì cũng chẳng tốt gì hơn.
Khi
họ thấy rằng cả hai lần yêu cầu của mình đều bị ông thầy bỏ qua, họ trở nên tức
giận. Họ đã soạn thảo một thỉnh nguyện thư -lập tức chính trị đã chen chân vào,
phản đối, thỉnh nguyện.
Bây
giờ thì họ chẳng phải đến đó để thực hành thiền tập gì cả. Nếu họ thực sự đến để
tu thiền, cách tiếp cận của họ đối với vấn nạn này chắc hẵn phải khác hơn hoàn
toàn. Ít ra là họ cũng sẽ ban rải một ít lòng từ với người anh em này, với lòng
tham đắm tiền bạc của y. Nếu họ thực sự là những thiền gia, chắc là họ đã đóng
góp chút đỉnh tiền cho người anh em này -"Bạn hãy vui lòng nhận số tiền
này thay vì đánh cắp." Điều đó sẽ là chỉ dấu cho thấy họ đến đó để thiền tập,
để được chuyển hoá.
Thế
nhưng bây giờ thì họ lại soạn thảo một thỉnh nguyện thư đòi trục xuất kẻ cắp.
Không những thế -mà còn kèm theo lời hăm dọa, rằng nếu y không bị đuổi đi họ sẽ
rời bỏ hội chúng.
Bạn
không thể hăm dọa được một vị Thiền sư như Bàn Khuê.
Khi
Bàn Khuê đọc xong tờ thỉnh nguyện, ông gọi tất cả mọi người tập họp trước mặt
mình và bảo: "Này chư huynh đệ, các ngươi là những người khôn ngoan, biết
phân biệt điều phải, điều quấy. Các ngươi có thể đi bất cứ chỗ nào khác để tìm
thầy học đạo, nếu muốn. Còn người anh em đáng thương này không hề biết cả chuyện
phải quấy. Ai sẽ dạy cho y nếu ta không làm điều đó? Ta sẽ giữ y ở lại đây cho
dù tất cả các ngươi rời bỏ chỗ này."
Rất
nhiều điều cần phải được hiểu rõ. Khi vị Thiền sư nói rằng, "Này chư huynh
đệ, các ngươi là những người khôn ngoan", ông ta đang chế nhạo, đang đánh
vào họ một đòn khá nặng. Không phải ông ta nói, "Các ngươi là những người
khôn ngoan" đâu, mà thực ra ông ta đang nói, "Các ngươi thực là những
tên quá đỗi ngu đần". Nhưng thói thường, tất cả những kẻ đần đều cho rằng
mình khôn. Nói rõ ra, cho rằng mình khôn ngoan là một trong những tiêu chuẩn
căn bản để trở thành một kẻ đần. Kẻ trí thường cho là mình ngu. Người ngu đần,
trái lại luôn luôn nghĩ rằng mình là kẻ trí.
Bây
giờ hãy nhìn xem, các ông thiền sinh này quả là những tên đần hạng nặng. Họ đâu
có phải đến đấy để kiếm tiền, để hái ra tiền -họ đến đấy vì một cái gì đó lớn
lao hơn, cao đẹp hơn. Họ nên quên đi hết tất cả mọi chuyện vặt vãnh ngoài đời mới
phải. Đúng ra, chính người thiền sinh ăn trộm này là người đã giúp cho họ một
cơ hội tốt để quán chiếu. Nếu họ là những thiền giả thực sự họ đã chạy đến với
y và cảm ơn y -"Đạo hữu đã cho chúng tôi một cơ hội tốt để quán chiếu rằng
chúng tôi đã dính mắc quá nhiều đến chuyện tiền bạc. Đạo hữu đã làm chúng tôi bối
rối đến mức nào! Hầu như chúng tôi đã quên hết chuyện thực hành thiền định,
chúng tôi đã quên hết mục đích của mình đến đây để làm gì, quên luôn cả ông Thầy
Bàn Khuê này."
Những
người này có thể đã phải bỏ công lặn lội cả trăm dặm, cả ngàn dặm đường không
chừng -Nhật Bản là một nước lớn. Họ đã phải ra đi cả hàng tháng trời để đến đó,
bởi vì vào thời điểm này chuyện đi lại đâu có dễ dàng gì. Họ đã tụ hội về đây từ
những nơi rất mực xa xôi, vì họ đã nghe danh tiếng của vị Thiền sư này nên muốn
đến để học Thiền. Rồi bây giờ chỉ vì có ai đó ăn cắp vặt, thế là họ đã quên đi
tất cả. Tất cả chỉ vì một chuyện như thế? Lẽ ra họ phải cảm ơn kẻ cắp: "Đạo
hữu đã mang đến cho tâm thức chúng tôi một cái gì đó -cái lòng đam mê dính mắc
quá mức vào tiền bạc đã sủi tăm, đã lộ mặt."
Khi
Thiền sư Bàn Khuê nói rằng, "Này chư huynh đệ, các ngươi là những người khôn
ngoan", thực ra là ông ta đang chế nhạo. Ông ta đang muốn nói như thế này,
"Các ngươi rất mực ngu đần. Thế nhưng các ngươi cứ tưởng rằng mình là người
khôn ngoan, biết phân biệt phải quấy, lại còn muốn dạy bảo tôi thế nào là đúng
thế nào là sai. Các ngươi nói rằng, "Phải loại bỏ kẻ cắp, nếu không chúng
tôi sẽ rời bỏ khoá tu". Các ngươi đang dùng cái ngôn ngữ ra lệnh đó với
tôi. Các ngươi cho rằng mình là những người biết phân biệt phải quấy chăng? Thế
thì cứ việc ra đi bất cứ nơi đâu -bởi vì các người khôn ngoan mà, học chỗ nào lại
chẳng được. Thế nhưng người này đi đâu bây giờ? Một người đần như thế?!"
Hãy
thấy cái trọng điểm, cái chất châm biếm trong câu nói. Vị Thiền sư cho rằng y
chỉ là một tên đần, một đồng đạo khốn khổ -người anh em đáng thương này. Nên nhớ
rằng, cái đúng của một hành động được xem là đúng đắn không phải bao giờ cũng
đúng hoàn toàn. Những người lúc nào cũng cho rằng mình là đúng hầu như đều toàn
là những kẻ xuẩn động. Đời sống rất mực phức tạp, rất mực vi tế thế nên bạn
không dễ dàng gì quyết định cho rằng chỉ có mình là phải còn thiên hạ là quấy.
Thực ra, một người với một chút thông minh tối thiểu cũng hiểu rằng y sẽ không
bao giờ bị rơi vào cái bẩy cho mình là đúng hoàn toàn.
Chúa
Giêsu đã từng bảo môn đệ, "Cái đúng của một hành động được xem là đúng đắn
vẫn chưa đủ -vẫn có cái gì thiếu sót ở trong đó." Thế mà bây giờ các người
này lại cho rằng mình là những kẻ biết phân biệt phải quấy, còn người ăn cắp
kia là làm chuyện hoàn toàn sai trái, và ông thầy có bổn phận phải tống xuất y
ra khỏi thiền đường. Còn nếu không thì cũng có nghĩa là ông ta đang sai quấy.
Những người này cứ luôn cho rằng mình có trí tuệ -họ nghĩ là họ biết cách ứng xử
như thế nào.
Đây
hẵn không phải là phương cách tiếp cận một vị Thiền sư. Những người này đã không
thấy được lòng từ bi của một vị thầy, không thấy được thiền chất của một vị thầy.
Họ không thấy được ông thầy này đã trở thành một vị Phật -Bàn Khuê là một vị đại
thiền sư. Họ không thấy được trước mặt mình là ai và họ đang phản đối, hăm doạ
ông ta.
Người
đời thường xuẩn động như thế. Từ thời này qua thời khác họ đã làm biết bao điều
xuẩn động, kể cả những hành vi xuẩn động nhất ngay trước mặt một vị Phật -bởi
vì bạn đâu có biết, đâu có thể nhận ra mình đang đối diện với ai đây. Thế là bạn
cứ tiếp tục hành động một cách trẻ con, tiếp tục nói những điều vô nghĩa.
Thiền
sư Bàn Khuê nói rằng, "Này chư huynh đệ, các ngươi là những người khôn
ngoan, biết phân biệt điều phải, điều quấy. Các ngươi có thể đi bất cứ chỗ nào
khác để tìm thầy học đạo, nếu muốn. Còn người anh em đáng thương này không hề
biết cả chuyện phải quấy. Ai sẽ dạy cho y nếu ta không làm điều đó? Thế thì cứ
việc ra đi, ta sẽ giữ y lại và giáo huấn y. Ta sẽ giữ y ở lại đây cho dù tất cả
các ngươi rời bỏ chỗ này."
Điều
khá phổ biến là, một người luôn cho rằng mình đúng đôi khi thường khó dạy hơn một
người cho rằng mình sai quấy. Quả là điều dễ dàng hơn khi dạy dỗ một kẻ tội phạm
hơn là dạy dỗ một ông thánh. Dễ dàng hơn khi dạy một người mà tự trong thẳm sâu
họ cảm nhận rằng mình đang làm điều gì đó không phải -bởi vì họ sẽ rất sẵn sàng
để học. Y muốn loại bỏ cái trạng thái này. Thế nhưng một người luôn cho rằng,
"Ta đang làm chuyện đúng" - y rất hài lòng với mình và không bao giờ
muốn loại trừ cái trạng thái đó. Rất khó mà thay đổi được y.
Tại
sao vị Thiền sư bảo, "Các ngươi cứ việc ra đi còn ta, ta sẽ giữ y lại, người
anh em khốn khổ này"? Tại sao? Bởi vì người anh em khốn khổ này là một tiềm
năng, là một hạt giống đã ươm mầm.
Chuyện
từng xảy ra là, đã có một người, một tên tội phạm hạng nặng, một kẻ sát nhân, tội
đồ đã tìm đến Phật và được ngài điểm đạo. Khi tìm đến, y rất mực lo lắng rằng sẽ
không ai cho y vào, các đệ tử chắc là sẽ ngăn chặn không cho y gặp Phật. Thế
nên y đã quyết định tìm đến Phật vào lúc thưa người. Và dĩ nhiên y không vào bằng
cửa chính mà tìm cách nhảy tường.
Tuy
nhiên điều không may là Đức Phật đã không có mặt lúc đó -ngài đang đi khất thực-
và y bị bắt tại trận. Y liền trình bày tâm nguyện của mình với các vị đệ tử,
"Tôi không đến đây để trộm cướp cái gì cả. Tôi nhảy tường vào vì sợ rằng
đi bằng cổng chính sẽ không ai cho phép tôi vào. Qúy vị ở đây đều đã biết đến
tôi, tôi là một khuôn mặt khá nổi tiếng trong vùng. Tất cả mọi người đều ghét bỏ
và sợ hãi tôi, một đứa con nít cũng biết tiếng tôi. Thế nên có thể qúy vị sẽ
không cho tôi vào, quý vị sẽ không bao giờ tin rằng tôi muốn trở thành một sa
môn thực sự."
Nghe
trình bày như thế, các vị đệ tử liền dẫn y đến gặp một cao đồ của Phật, ngài Xá
Lợi Phất -đồng thời cũng là một chiêm tinh gia lỗi lạc, một người có khả năng
thần thông nhìn suốt tiền kiếp quá khứ. Họ thưa với ngài Xá Lợi Phật, "Tôn
giả vui lòng xem xét kỹ người này. Chúng tôi biết rằng trong kiếp này y là một
tên sát nhân, một tội đồ, một tên đạo tặc không có chuyện bất hảo nào là không
dám làm. Thế nhưng biết đâu y đã lập một vài công đức nào đó trong những tiền
kiếp -có thể đó là lý do mà y muốn trờ thành một vị sa môn. Tôn giả hãy vui
lòng xem xét kỹ tiền kiếp của y thử xem."
Thế
là tôn giả Xá Lợi Phất đã vận dụng thần thông nhìn suốt tám vạn tiền kiếp của
y... và thấy rằng con người này không có gì thay đổi cả! Ngay cả ngài Xá Lợi Phất
cũng bắt đầu cảm thấy run khi trông thấy mặt y. Y quả là một tên cực kỳ nguy hiểm
-suốt tám vạn kiếp đều chỉ toàn là kẻ sát nhân, tội đồ, tội phạm chuyên nghiệp.
Y đúng là sinh ra để phạm tội! Không thể nào giúp y được cái gì cả -không mảy
may hy vọng nào có thể thay đổi được con người này. Ngay cả Đức Phật cũng không
thể cứu được y.
Thế
là tôn giả Xá Lợi Phất bảo, "Hãy mang y ra ngoài, đưa y đi ngay -bởi vì
ngay cả Đức Thế Tôn cũng không thể giúp gì y được. Cũng giống như Đức Phật được
ra đời để trở thành một vị Phật, người này được ra đời chỉ để phạm tội ác. Ta
đã nhìn rõ suốt cả tám vạn tiền kiếp của y, khả năng của ta không đi xa hơn.
Nhưng bấy nhiêu cũng đủ!"
Thế
là y bị đuổi ra ngoài. Y cảm thấy rất mực khổ đau, vì chẳng còn mảy may hy vọng
gì nữa. Lúc sống, y không thể gần gũi được Phật, thế thì nên chết đi cho rồi.
Thế là y xăm xăm tiến đến bức tường đá ngay góc cổng chính định đập đầu vào đó
tự sát. Thời may Đức Phật vừa trở về sau chuyến khất thực. Ngài trông thấy và
biết rõ ý định của y. Lập tức ngài ngăn lại, đưa y vào trong và điểm đạo cho y.
Chuyện
kể rằng chỉ trong vòng bảy ngày người này đã đắc quả A la hán -chỉ nội trong bảy
ngày y đã đạt thành giác ngộ. Bấy giờ mọi người vô cùng kinh ngạc. Ngài Xá Lợi
Phất tìm đến Phật và thưa rằng, "Bạch Thế Tôn, sao lại có chuyện lạ kỳ như
thế? Không lẽ khả năng thần thông của con hoàn toàn vô nghĩa? Con đã nhìn suốt
tám vạn tiền kiếp của người này! Nếu người này có thể thành tựu giác ngộ chỉ
trong vòng bảy ngày thì đâu còn gì là ý nghĩa của vấn đề tiền kiếp? Như vậy hoá
ra tất cả đều là chuyện phi lý. Sao lại có chuyện xảy ra như thế?"
Phật
liền bảo Xá Lợi Phất, "Ông chỉ biết nhìn vào quá khứ của y mà không biết
soi rọi vào tương lai. Quá khứ chỉ là quá khứ! Bất cứ khoảnh khắc nào mà một
người quyết định thay đổi vận mệnh mình, y có thể thay đổi -cái quyết định vào
ngay chính lúc đó sẽ là quyết định tối hậu. Một người trải qua tám vạn kiếp khổ
đau, y biết như vậy, và y khao khát được thay đổi, chính cái ước vọng mãnh liệt
được thay đổi này là vô hạn. Thế nên, chỉ trong bảy ngày...
"Xá
Lợi Phất, cho đến nay ông vẫn chưa đạt thành giác ngộ. Bởi vì ông là một hiền
nhân, ông đã trải qua những kiếp đời tốt đẹp -nên ông không cảm thấy những gánh
nặng của quá khứ đè lên. Chung quanh ông phủ lên những gì là đoan chính. Ông là
một người bà la môn trong bao nhiêu kiếp, là một học giả, một con người khả
kính trong xã hội. Thế nhưng hãy nhìn sâu vào con người này. Gánh nặng khổ đau
đã đè lên người y trong suốt tám vạn kiếp, bây giờ y ao ước được thoát ra. Thế
nên, đó chính là phép mầu -chỉ trong bảy ngày y đắc quả A la hán. Gánh nặng
mãnh liệt của quá khứ..."
Đây
là một trong những điểm căn bản nhất cần phải hiểu trong vấn đề chuyển hoá con
người: những người mang cảm giác phạm tội thường rất dễ dàng chuyển hoá. Những
người cho rằng mình là tốt, là đúng đắn thường rất khó chuyển hoá, cụ thể là những
người có tín ngưỡng. Bởi vậy bất cứ lúc nào có một người có tín ngưỡng tiếp cận,
tôi thường không mấy chú ý đến họ. Thế nhưng bất cứ lúc nào có một người vô tín
ngưỡng tìm đến, tôi rất mực thích thú. Tôi thể nhập vào y, với y và tất cả cho
y - bởi vì có khả năng y sẽ thành tựu.
Đó
là lý do mà Thiền sư Bàn Khuê đã nói: Ai sẽ dạy cho y nếu ta không làm điều đó?
Ta sẽ giữ y ở lại đây, dù tất cả các ngươi rời bỏ chỗ này."
Nước
mắt chảy ràn rụa trên khuôn mặt của người anh em đã phạm tội trộm cắp. Tất cả
lòng tham đắm trộm cắp đã biến mất.
Và
trong cơn mưa của lòng từ đến từ vị thầy, kẻ cắp đã không còn là kẻ ăn cắp nữa,
y đã hoàn toàn được thánh hoá. Y bắt đầu khóc, những giòng nước mắt đó đã thanh
lọc trái tim y. Nước mắt chảy ràn rụa trên khuôn mặt của người anh em đã phạm tội
trộm cắp. Tất cả lòng tham đắm trộm cắp đã biến mất. Đây là sự nhiệm mầu khi có
sự hiện diện của một vị thầy, một bậc đạo sư. Câu chuyện đã không cho ta biết
gì thêm về những gì xảy ra cho tất cả những thiền sinh còn nhuốm màu chính trị
kia. Đây là bí ẩn của đời sống. Đừng bao giờ cho là mình đúng, cũng đừng bao giờ
làm bộ cho mình là phải -đừng bao giờ để bạn bị dính mắc vào những ý tưởng như
thế. Và cũng đừng bao giờ cho rằng người khác là quấy. Bởi vì chuyện phải-quấy
là một cặp luôn sóng đôi cùng nhau -nếu bạn nghĩ rằng mình đúng, bạn thường lên
án người khác là sai.
Đừng
bao giờ lên án ai cả, cũng đừng bao giờ xưng tụng chính mình, bằng không bạn sẽ
đánh mất cơ hội. Người ta như thế nào, mình nên chấp nhận như thế. Đó là cách
thế mà họ hiện hữu. Và bạn là ai để lên tiếng phán quyết một người là phải hay
quấy? Nếu họ quấy, họ sẽ gánh chịu khổ đau, nếu họ đúng họ sẽ được phúc lợi.
Còn bạn là ai mà lên án họ?
Trong
sự lên án của bạn luôn mang theo một vài bản ngã của mình. Đó là lý do tại sao
người ta thường bàn tán đến những sai lầm của kẻ khác -vì điều này cho họ cái cảm
giác rằng mình là đúng. Có ai đó là kẻ sát nhân, người bàng quan sẽ có một
khoái cảm: "Ta không phải là tên sát nhân kia -ít nhất ta không phải là loại
người như
vậy".
Có ai đó là tên trộm cắp, và người ta lại thấy khoái cảm, "Kẻ trộm cắp đó
không phải là ta." Những chuyện như thế cứ tiếp diễn, và bản ngã của họ
ngày càng được củng cố thêm. Thế là người đời tha hồ đàm tiếu về tội lỗi của kẻ
khác, tội ác của kẻ khác, không bao giờ ngừng... Bao nhiêu sai lầm đều là chuyện
của thiên hạ, không hề là của mình, và người ta cứ tiếp tục nói về chúng, phóng
đại chúng lên, và họ cảm thấy khoan khoái khi bàn tán những chuyện như vậy -vì
tất cả những điều này tạo cho họ một cảm giác rằng "Ta là đúng". Tuy
nhiên cái cảm nghĩ này sẽ là một chướng ngại lớn lao cho bạn.
Hãy
trở nên từ bi, trí tuệ, yêu thương. Hãy nhìn kẻ khác không bằng đôi mắt phán
xét. Và cũng đừng bao giờ bắt đầu dấy lên cái cảm nghĩ cho rằng mình là đúng,
là thánh thiện. Đừng bao giờ trở thành một thứ "Đức Ngài". Đừng bao
giờ.
Hãy
sống rất mực bình thường, là kẻ vô danh. Trong cái ta-không-là-ai đó rồi vị
khách cuối cùng sẽ đến... trong cái ta-không-là-ai đó, rồi bạn sẽ tìm thấy ông
chủ.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment