Osho
- Kỉ luật của siêu việt – Tập 4
Chương
4. Buông bỏ cành
Câu
hỏi thứ nhất:
Làm
sao trở nên được hoà nhập?
Hoà
nhập chẳng liên quan gì tới việc trở nên.
Thực
tế, mọi nỗ lực để trở nên đều đem tới tan rã.
Hoà
nhập đã có đó tại cốt lõi sâu nhất của bản thể bạn; nó không phải được đem vào.
Tại chính trung tâm bạn được hoà nhập, bằng không bạn không thể tồn tại được
chút nào. Làm sao bạn có thể tồn tại được mà không có trung tâm? Chiếc xe bò
chuyển động, bánh xe chuyển động, bởi vì có một trung tâm bất động mà bánh xe
chuyển động trên nó. Nó chuyển động trên trục. Nếu chiếc xe chuyển động thì trục
có đó. Bạn có thể biết nó, bạn có thể không biết nó.
Bạn
đang sống động, bạn đang thở, bạn có ý thức; cuộc sống đang chuyển động, cho
nên phải có cái trục cho bánh xe cuộc sống. Bạn có thể không nhận biết, nhưng
nó có đó. Không có nó, bạn không thể hiện hữu được.
Cho
nên điều đầu tiên, và rất nền tảng: việc trở thành không phải là vấn đề. Hiện hữu
đi. Bạn phải đi vào và thấy nó. Đó là khám phá, không phải là thành đạt. Bạn đã
mang nó đi suốt rồi. Nhưng bạn đã trở nên quá bị gắn bó với ngoại vi, và quay
lưng vào trung tâm. Bạn đã trở thành quá đi ra ngoài, cho nên bạn không thể
nhìn vào trong.
Tạo
ra chút ít việc nhìn thấu. Từ ‘insight - nhìn thấu' là hay - nó nghĩa là: cái
nhìn vào trong, nhìn vào, thấy bên trong. Mắt mở ra bên ngoài, tay vươn ra bên
ngoài, chân đi xa từ bạn. Ngồi im lặng, thảnh thơi ngoại vi, nhắm mắt lại và đi
vào trong... và không nỗ lực nào. Chỉ thảnh thơi - cứ dường như người ta đang
chìm đắm và người ta không thể làm gì cả. Chúng ta cứ làm ngay cả khi chúng ta
chìm đắm.
Nếu
bạn có thể đơn giản cho phép nó xảy ra, nó sẽ đi tới bề mặt. Từ các đám mây bạn
sẽ thấy trung tâm nảy sinh.
Có
hai phương thức sống: một là phương thức hành động, bạn làm cái gì đó; phương
thức kia là phương thức tiếp nhận - bạn đơn giản tiếp nhận. Phương thức hành động
là đi ra. Nếu bạn muốn nhiều tiền hơn, bạn không thể chỉ ngồi đấy. Nó sẽ không
tới theo cách đó đâu. Bạn sẽ phải tranh đấu vì nó, cạnh tranh, và bạn sẽ phải
dùng đủ mọi cách thức và biện pháp - hợp pháp, bất hợp pháp, đúng, sai. Tiền sẽ
không tới chỉ bởi việc ngồi. Nếu bạn muốn trở nên quyền lực, nếu bạn muốn trở
thành chính khách, bạn sẽ phải làm cái gì đó về nó. Nó sẽ không tới theo cách
riêng của nó.
Có
phương thức hành động. Phương thức hành động là phương thức đi ra ngoài. Và có
phương thức bất hành nữa: bạn không làm gì cả, bạn đơn giản cho phép nó xảy ra.
Chúng ta đã quên mất ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ bị lãng quên đó phải được học lại.
Hoà
nhập không cần phải được mang vào - nó đã có đó rồi. Chúng ta đã quên mất cách
nhìn vào nó, chúng ta đã quên mất cách hiểu nó. Chuyển từ phương thức hành động
ngày một nhiều sang phương thức tiếp nhận, thụ động đi.
Tôi
không nói rời bỏ thế giới hành động - bởi vì điều đó sẽ lại làm cho bạn bị
thiên lệch. Bạn đã bị thiên lệch ngay bây giờ. Bạn chỉ có một phương thức cho
cuộc sống của mình, và đó là hành động, làm cái gì đó. Có những người không thể
nghĩ được tới việc ngồi im lặng; điều đó là không thể được. Họ không thể cho
phép bản thân mình có lấy thảnh thơi trong một khoảnh khắc. Họ chỉ quan tâm tới
hành động.
Tôi
đã nghe...
Vợ
của Mulla Nasruddin đang đứng gần cửa sổ, và lúc đó là lúc mặt trời lặn đẹp, và
chim chóc đang bay về tổ. Đó thực sự là buổi tối kì diệu. Và cô ấy nói với
Nasruddin, "Anh nhìn kìa! Lại đây đi. Nhìn xem mặt trời lặp đẹp làm sao!''
Nasruddin,
chẳng hề ngước mắt khỏi tờ báo của mình, nói "Bây giờ nó đang làm gì thế,
mặt trời ấy?''
Nếu
cái gì đó đang được làm; thế thì anh ta quan tâm. Nếu đấy chỉ là mặt trời lặn,
thế thì phỏng có ích gì mà nhìn vào nó?
Bạn
quan tâm chỉ vào hành động, nếu cái gì đó đang xảy ra. Điều này đã trở nên quá
cố định. Điều này phải được làm thảnh thơi một chút: bạn phải đi vài khoảnh khắc,
trong vài giờ, đôi khi vài ngày, toàn bộ sang phương thức kia của cuộc sống, chỉ
ngồi và cho phép mọi sự xảy ra. Khi bạn nhìn vào mặt trời lặn bạn không được
trông đợi làm điều gì. Bạn đơn giản nhìn. Khi bạn nhìn vào hoa, bạn được giả
thiết làm gì? Bạn đơn giản nhìn.
Thực
tế không có nỗ lực, ngay cả việc nhìn vào hoa. Nó là vô nỗ lực. Mắt bạn mở, hoa
có đó... một khoảnh khắc của giao cảm sâu sắc tới khi cái được nhìn và người
nhìn cả hai biến mất. Thế thì có cái đẹp, thế thì có phúc lành. Thế thì đột
nhiên bạn không là người quan sát, và hoa không là vật được quan sát - bởi vì để
quan sát vẫn phải có hành động nào đó. Bây giờ bạn có đó và hoa có đó, và bằng
cách nào đó các bạn chờm lấp lên biên giới của nhau. Hoa đi vào bạn, bạn đi vào
hoa, và có khải lộ bất thần. Gọi nó là cái đẹp, gọi nó là chân lí, gọi nó là
Thượng đế.
Những
khoảnh khắc hiếm hoi này phải được phép có ngày một nhiều hơn. Tôi không thể
nói chúng phải được nuôi dưỡng, tôi không thể nói bạn phải huấn luyện về những
khoảnh khắc đó, tôi không thể nói rằng bạn phải làm điều gì đó - bởi vì điều đó
lại sẽ là dùng ngôn ngữ của phương thức hành động, và sẽ bị diễn giải sai rất
sâu. Không, tôi chỉ có thể đơn giản nói cho phép những khoảnh khắc này ngày một
nhiều hơn. Đôi khi, đơn giản không làm gì. Thảnh thơi trên thảm cỏ và nhìn lên
trời. Đôi khi nhắm mắt lại và chỉ nhìn vào thế giới bên trong của bạn - các ý
nghĩ chuyển động, trôi nổi; ham muốn nảy sinh, đi qua. Nhìn vào thế giới mơ đầy
mầu sắc cứ diễn ra bên trong bạn. Chỉ nhìn thôi. Đừng nói, "Mình muốn dừng
các ý nghĩ này lại" - lần nữa bạn đã chuyển vào phương thức hành động đấy.
Đừng nói, "Ta đang thiền - đi đi! Tất cả các ý nghĩ, đi xa khỏi ta" -
bởi vì nếu bạn bắt đầu nói điều đó, bạn đã bắt đầu làm điều gì đó rồi. Cứ dường
như bạn không có...
Có
một trong những cách thiền cổ đại nhất vẫn còn được dùng trong vài tu viện ở
Tây Tạng. Phương pháp thiền này dựa trên chân lí mà tôi đang nói với bạn. Họ dạy
rằng đôi khi bạn đơn giản có thể biến mất. Ngồi trong vườn, bạn chỉ bắt đầu cảm
thấy rằng bạn đang biến mất. Xem cách thế giới trông thế nào khi bạn đã đi khỏi
thế giới này, khi bạn không còn ở đây nữa, khi bạn đã trở nên tuyệt đối trong
suốt. Thử một giây không hiện hữu.
Trong
nhà riêng của bạn, hiện hữu cứ dường như bạn không có.
Nghĩ
xem, một ngày nào đó bạn sẽ không có. Một ngày nào đó bạn sẽ mất đi, bạn sẽ chết;
radio vẫn tiếp tục, vợ vẫn chuẩn bị bữa sáng, con vẫn sẵn sàng đi tới trường.
Nghĩ xem: hôm nay bạn qua đời, bạn không còn nữa. Trở thành ma. Vẫn ngồi trên
chiếc ghế, bạn đơn giản biến mất, bạn đơn giản nghĩ, "Mình không còn thực
nữa; mình không có." Và xem cách thức nhà vẫn tiếp tục. Sẽ có an bình và
im lặng vô cùng. Mọi thứ sẽ tiếp tục như nó thế. Không có bạn, mọi thứ vẫn tiếp
tục như nó thế. Chẳng cái gì sẽ bị thiếu cả. Thế thì phỏng có ích gì mà bao giờ
cũng vẫn còn bận bịu, làm cái gì, làm cái gì đó, bị ám ảnh với hành động? Vấn đề
là gì? Bạn sẽ qua đời, và bất kì cái gì bạn đã làm cũng đều sẽ biến mất - cứ dường
như bạn đã kí tên mình trên cát, và gió tới, và chữ kí biến mất... và mọi thứ đều
được kết thúc. Hiện hữu cứ dường như bạn chưa bao giờ tồn tại đi.
Đó
thực sự là cách thiền hay. Bạn có thể thử nó nhiều lần trong hai mươi bốn giờ.
Chỉ cần nửa giây thôi cũng có tác dụng; trong nửa giây, đơn giản dừng lại... bạn
không có... và thế giới vẫn tiếp tục. Khi bạn trở nên ngày một tỉnh táo hơn với
sự kiện là không có bạn thế giới vẫn tiếp tục tốt hoàn hảo, thế thì bạn sẽ có
khả năng học phần khác của bản thể mình mà đã từng bị quên lãng lâu dài, trong
nhiều kiếp - và đó là phương thức tiếp nhận. Bạn đơn giản cho phép, bạn trở
thành cánh cửa. Mọi sự cứ xảy ra mà không có bạn.
Đây
là điều Phật ngụ ý khi ông ấy nói: Trở thành mẩu gỗ trôi giạt. Nổi trong dòng
chảy như mẩu gỗ, và bất kì chỗ nào dòng nước đi thì cứ để nó đem bạn đi; bạn
không làm nỗ lực nào. Toàn thể cách tiếp cận Phật giáo đều thuộc vào phương thức
tiếp nhận. Đó là lí do tại sao bạn thấy Phật ngồi dưới gốc cây. Mọi hình cảnh của
ông ấy đều là về ngồi, ngồi và không làm gì. Ông ấy đơn giản ngồi đó, ông ấy
không làm gì cả.
Bạn
không có kiểu hình ảnh đó của Jesus. Ông ấy vẫn cứ đi theo phương thức hành động.
Đó là chỗ Ki tô giáo đã bỏ lỡ khả năng sâu nhất: Ki tô giáo trở thành tích cực.
Việc truyền giáo Ki tô giáo cứ phục vụ cho người nghèo, đi tới bệnh viện, làm
điều này điều nọ, và toàn thể nỗ lực của ông ấy là để làm điều gì đó tốt lành.
Vâng, rất tốt - nhưng ông ấy vẫn còn trong phương thức hành động, và Thượng đế
chỉ có thể được biết trong phương thức tiếp nhận. Cho nên nhà truyền giáo Ki tô
giáo sẽ là người tốt, người rất tốt, nhưng theo nghĩa phương đông, thì không phải
là thánh nhân.
Bây
giờ thậm chí ở phương Đông người làm những điều này được tôn thờ như một
mahatma - bởi vì phương Đông nghèo, ốm. Có cả nghìn người hủi, người mù, người
vô giáo dục; họ cần giáo dục, họ cần thuốc, họ cần phục vụ, họ cần cả nghìn lẻ
một thứ. Bỗng nhiên người hoạt động đã trở thành quan trọng - cho nên Gandhi là
một mahatma, Vinoba là thánh nhân, và Mẹ Theresa ở Calcutta đã trở thành rất
quan trọng. Nhưng không ai nhìn vào xem liệu họ đã đạt tới phương thức tiếp nhận
hay không.
Bây
giờ nếu Phật tới, chẳng ai định biểu lộ kính trọng với ông ấy, bởi vì ông ấy sẽ
không tới trường học hay bệnh viện. Ông ấy sẽ lại ngồi dưới gốc cây bồ đề, chỉ
ngồi im lặng. Không phải là ông ấy không làm cái gì cả - sự hiện hữu của ông ấy
đã tạo ra rung động vô cùng, nhưng chúng rất tinh tế. Ông ấy biến đổi toàn thể
thế giới bằng việc ngồi dưới gốc cây bồ đề, nhưng để nhìn vào những rung động
đó bạn sẽ phải được hoà hợp, bạn sẽ phải trưởng thành. Nhận ra vị phật là đã
trên con đường rồi. Nhận ra Mẹ Theresa là rất dễ dàng. Chẳng có gì nhiều trong
điều đó. Bất kì ai cũng có thể thấy rằng bà ấy đang làm việc tốt.
Làm
việc tốt là một điều, và là tốt là điều khác hoàn toàn. Tôi không nói đừng làm
việc tốt. Tôi đang nói: để việc tốt bắt nguồn từ bản thể tốt của bạn.
Trước
hết đạt tới phương thức tiếp nhận, trước hết đạt tới tính thụ động, trước hết đạt
tới bất hoạt. Và khi bản thể bên trong của bạn nở hoa và bạn đã đi tới biết việc
hoà nhập bên trong - cái bao giờ cũng có đó, trung tâm bao giờ cũng có đó - khi
bạn đã nhận ra trung tâm đó, bỗng nhiên cái chết biến mất với bạn. Bỗng nhiên tất
cả mọi lo nghĩ biến mất bởi vì bạn không còn là thân thể bây giờ, không còn là
tâm trí.
Thế
rồi từ bi nảy sinh, tình yêu nảy sinh, cầu nguyện nảy sinh. Bạn trở thành việc
mưa rào, thành phúc lành cho thế giới. Bây giờ, không ai có thể nói điều gì sẽ
xảy ra cho con người như vậy - liệu người đó có đi và trở thành nhà cách mạng như
Jesus và đuổi những kẻ cho vay lãi khỏi đền hay không; hay liệu người đó có đi
và phục vụ người nghèo hay không; hay liệu người đó có tiếp tục ngồi dưới gốc
cây bồ đề và lan toả hương thơm của mình hay không; hay liệu người đó có trở
thành một Meera và nhảy múa và ca hát niềm vinh quang của Thượng đế hay không.
Chẳng ai biết cả; điều đó là không thể dự đoán nổi.
Bạn
hỏi tôi, "Làm sao để trở nên được hoà nhập?"
Toàn
thể nỗ lực của tôi ở đây là để làm cho bạn nhận biết rằng chẳng cái gì được cần
tới cả, chẳng cái gì hơn được cần tới. Bạn đã có nó ở đó rồi, tồn tại bên trong
bạn. Nhưng bạn phải làm ra cách tiếp cận, cánh cửa, lối đi để khám phá ra nó. Bạn
phải đào xới vì nó; kho báu có đó.
Cho
nên vấn đề không phải là làm sao để trở nên được hoà nhập. "Làm sao để biết
rằng tôi đã được hoà nhập?" mới là câu hỏi đúng.
Câu
hỏi này tới từ Nisagar, và tôi có thể hiểu được tại sao nó lại tới từ cô ấy. Cô
ấy đã từng có quan hệ với công trình của Gurdjieff ở phương tây. Gurdjieff có một
ý tưởng rất kì lạ; có nghĩa nhưng vẫn kì lạ. Ông ấy hay nói cho các đệ tử của
mình, "Linh hồn không tồn tại đâu. Trung tâm không tồn tại đâu; nó phải được
tạo ra. Con người không được sinh ra với linh hồn"... một lí thuyết rất lạ.
Nhưng tôi có thể hiểu được điều ông ấy nhấn mạnh: con người không được sinh ra
với linh hồn, con người phải kết tinh linh hồn của mình lại bằng nỗ lực. Do đó
toàn thể hệ thống của Gurdjieff có tên là ‘công trình'. Nó có tác dụng và có
tác dụng và có tác dụng. Nó là nỗ lực - lại phương thức hành động.
Thực
tế, ở phương tây, rất khó dạy cho mọi người phương thức bất hành. Cho nên ông ấy
đã dạy các kĩ thuật, phương pháp về cách trở nên được hoà nhập. Ông ấy sẽ nói,
"Không có sẵn linh hồn đâu." Không phải là không có linh hồn, và
không phải là ông ấy không nhận biết về nó; nhưng điều đó là một phương cách. Mọi
người đã trở nên rất thờ ơ về linh hồn. Họ coi nó đã có đó rồi - Cho nên sao lo
nghĩ, sao bận tâm? Nó có đó. Bất kì ngày nào chúng tôi cũng có thể tìm thấy nó,
cho nên để chúng tôi trong lúc đó đi tìm những thứ khác đã không có đó. Trong
khi đó để chúng tôi tìm ra đàn bà đẹp, nhiều rượu, nhiều tiền, nhiều quyền lực
- những thứ đang không có đó. Cho nên để chúng tôi tìm kiếm những thứ này đã.
Vào cái ngày chúng tôi phát chán với tất cả những cái này, vào bất kì khoảnh khắc
nào, chúng tôi sẽ nhắm mắt lại và chúng tôi sẽ đi vào trong, và linh hồn sẽ có
đó. Nó chưa bao giờ bị mất; bạn không thể làm mất nó được và bạn cũng không thể
thu được nó. Nó đã có đó rồi." Cho nên mọi người đã trở nên rất thờ ơ.
Bạn
có thể thấy điều đó ở phương đông. Toàn thể phương Đông đã trở thành tồi tệ và
lờ phờ thế. Linh hồn có đó và mọi người đều biết nó, mọi người đều đã nghe nói
về nói. Thượng đế là ở bên trong trái tim, ngài đã ở đó rồi, cho nên sao tạo ra
ồn ào nhặng sị về ngài thế? Mọi người tìm kiếm cái không có đó.
Gurdjieff
đã trở nên nhận biết về sự kiện này: rằng lí thuyết về linh hồn đã có đó nay đã
làm cho mọi người thành rất lờ phờ, rất không quan tâm tới linh hồn; rất không
quan tâm, tuyệt đối không quan tâm tới thế giới bên trong. Tâm trí chỉ quan tâm
tới cái gây thách thức, cái là cuộc phiêu lưu. Cho nên Gurdjieff, để khớp với
tâm trí phương tây, đã bắt đầu nói rằng linh hồn không có đó: "Đừng ngồi
kiên nhẫn, làm điều gì đó đi - bởi vì khi người ta chết đi, tất cả mọi người đều
không sống sót đâu. Chỉ những người đã hoà nhập trung tâm của họ mới sống sót
thôi. Những người khác đơn giản sẽ biến mất tựa rau cỏ. Cho nên điều đó là tuỳ
bạn chọn lựa. Bạn đang nhận rủi ro đấy," Gurdjieff nói. "Nếu bạn làm
điều gì đó - và làm nghĩa là làm cật lực, công việc vất vả, cả đời cống hiến -
chỉ thế thì bạn mới có khả năng sống sót sau cái chết. Bằng không bạn sắp bị thải
hồi rồi. Bạn sẽ bị ném vào đống đồng nát. Thượng đế sẽ không chọn bạn đâu trừ
phi bạn được hoà nhập. Bạn phải kiếm lấy điều đó. Chỉ rất ít người mới được cứu
sau cái chết, không phải tất cả đâu."
Đây
là một lí thuyết rất kì lạ, chưa bao giờ được nêu ra trước đây, chưa bao giờ
trong toàn thể lịch sử nhân loại. Đã từng có những người nói, "Không có
linh hồn." Chúng ta biết họ; họ là người vô thần. Họ bao giờ cũng có đó.
Có những người nói, "Có linh hồn, và nó không thể bị phá huỷ. Ngay cả cái
chết cũng không thể phá huỷ được nó." Chúng ta đã nghe nói về họ; họ bao
giờ cũng có đấy. Nhưng Gurdjieff đang nói điều gì đó tuyệt đối mới, cái gì đó
chưa bao giờ được nói trước đây. Ông ấy đang nói, "Linh hồn là có thể đấy;
nó không phải là thực tại đâu. Nó đơn giản là có thể thôi. Bạn có thể đạt tới
nó, bạn có thể không đạt tới nó - bạn có thể bỏ lỡ nó. Có nhiều khả năng là bạn
sẽ bỏ lỡ nó, bởi vì cách bạn đang sống, bạn không kiếm nó." Gurdjieff nói,
"Con người giống như hạt mầm. Không nhất thiết là hạt mầm sẽ trở thành
cây. Không nhất thiết đâu - hạt mầm có thể không tìm thấy mảnh đất đúng. Cho dù
có tìm thấy mảnh đất đúng, vẫn có thể không có mưa. Hay cho dù có mưa, con vật
có thể tới và phá cây. Có cả nghìn lẻ một khó khăn. Hạt mầm không nhất thiết sẽ
thành cây đâu. Nếu cả nghìn lẻ một việc bảo vệ được thực hiện, chỉ thế thì hạt
mầm mới trở thành cây. Bạn không là linh hồn đâu; bạn chỉ là một khả năng thôi.
Cả nghìn lẻ một nỗ lực phải được tiến hành; chỉ thế thì bạn mới trở thành linh
hồn. Chỉ hiếm hoi thôi: trong cả triệu người, một người trở thành linh hồn. Tất
cả những người khác đơn giản sống vô vị, chết và biến mất."
Tôi
nói nó là một lí thuyết kì lạ, bởi vì nó không đúng. Và tôi nói nó rất có
nghĩa, bởi vì cái gì đó giống như thế này đang được cần tới - ít nhất ở phương
Tây nó được cần tới. Bằng không, chẳng ai bận tâm về linh hồn cả. Nhưng tất cả
các kĩ thuật mà Gurdjieff đã dùng về căn bản là cùng những kĩ thuật mà chúng ta
đã dùng ở phương Đông để khám phá ra linh hồn. Ông ấy đơn giản thay đổi từ ngữ.
Ông ấy gọi nó là ‘tạo ra linh hồn', 'hoà nhập linh hồn', 'kết tinh trung tâm'.
Nhưng các kĩ thuật đó là một.
Bạn
đã được hoà nhập rồi. Không ở ngoại vi - ở ngoại vi chỉ có rối loạn. Bạn bị
phân mảnh trên ngoại vi. Đi vào bên trong nhiều hơn, và bạn đi càng sâu hơn, bạn
sẽ càng thấy rằng bạn được hoà nhập hơn. Tới một điểm, tại chính điện thờ bên
trong nhất của bản thể bạn, nơi bạn bỗng nhiên thấy mình là một thể thống nhất,
thể thống nhất tuyệt đối. Cho nên đó là vấn đề khám phá. Làm sao khám phá ra
nó?
Tôi
muốn cho Nisagar một kĩ thuật. Nó là kĩ thuật rất đơn giản, nhưng ban đầu nó có
vẻ rất khó nhằn. Nếu bạn thử, bạn sẽ thấy nó đơn giản. Nếu bạn không thử và chỉ
nghĩ về nó, nó sẽ có vẻ rất khó nhằn. Kĩ thuật này là: chỉ làm điều bạn thích.
Nếu bạn không thích, đừng làm nó. Cứ thử nó mà xem - bởi vì việc tận hưởng chỉ
tới từ trung tâm bạn. Nếu bạn đang làm cái gì đó và bạn thích thú nó, bạn bắt đầu
được nối lại với trung tâm. Nếu bạn làm cái gì đó mà bạn không thích thú, bạn bị
ngắt khỏi trung tâm. Vui vẻ nảy sinh từ trung tâm, và không từ đâu khác cả. Cho
nên để điều đó thành tiêu chuẩn, và là người cuồng tín về nó.
Bạn
đang đi trên đường; bỗng nhiên bạn nhận ra rằng bạn không thích bước đi. Dừng lại.
Kết thúc - điều này không được làm.
Tôi
thường làm điều đó trong những ngày ở trường đại học, và mọi người cứ nghĩ rằng
tôi điên. Bỗng nhiên tôi sẽ dừng lại, và thế rồi tôi sẽ vẫn còn ở chỗ đó trong
nửa giờ, một giờ, chừng nào tôi còn chưa bắt đầu thấy thích thú bước đi nữa.
Các thầy giáo của tôi cũng ngại điều đó nên khi có thi cử họ sẽ cho tôi vào xe
và đem tôi tới phòng đại học. Họ sẽ để tôi ngoài cửa và đợi ở đó: liệu tôi có
đi tới bàn của mình hay không? Nếu tôi tắm và bỗng nhiên tôi nhận ra rằng tôi
không thích điều đó, tôi sẽ dừng lại. Thế thì phỏng có ích gì? Nếu tôi ăn và
tôi bỗng nhiên nhận ra rằng tôi không thích ăn, thế thì tôi sẽ dừng lại.
Tôi
đã tham gia vào lớp toán hồi ở trường trung học. Ngày đầy tiên, tôi đi vào và
thầy giáo giới thiệu chủ đề. Đến giữa chừng tôi đứng dậy và cố bước ra. Thầy
nói, "Em đi đâu thế? Không xin phép, tôi sẽ không cho phép em vào lại
đâu." Tôi nói, "Em không quay lại đâu; thầy đừng lo. Đó là lí do tại
sao em không hỏi xin. Kết thúc rồi - em không thích nó! Em sẽ tìm chủ đề nào đó
khác mà em thích, bởi vì nếu em không thể thích nó được thì em sẽ không làm điều
đó. Điều đó là tra tấn, điều đó là bạo hành."
Và,
dần dần, điều đó trở thành chìa khoá. Tôi bỗng nhiên nhận ra rằng bất kì khi
nào bạn thích thú cái gì đó, bạn được định tâm. Thích thú chính là âm thanh của
bản thể được định tâm. Bất kì khi nào bạn không tận hưởng cái gì đó, bạn đều bị
ngắt khỏi trung tâm. Thế thì đừng ép buộc nó; không có nhu cầu. Nếu mọi người
nghĩ bạn điên, thì cứ để họ nghĩ bạn điên đi. Trong vòng vài ngày, bằng kinh
nghiệm riêng của mình, bạn sẽ tìm ra cách bạn đã bỏ lỡ bản thân mình. Bạn đã
làm cả nghìn lẻ một điều mà bạn chưa bao giờ thích thú, và dầu vậy bạn vẫn làm
chúng bởi vì bạn đã được dạy như vậy. Bạn chỉ hoàn thành nghĩa vụ của mình.
Mọi
người đã phá huỷ ngay cả điều đẹp đẽ thế như tình yêu. Bạn về nhà và bạn hôn vợ
bạn bởi vì điều đó phải là như vậy, nó phải được làm. Bây giờ, một điều đẹp đẽ
như nụ hôn, một điều như đoá hoa, đã bị phá huỷ. Dần dần, không thích thú việc
đó, bạn sẽ cứ hôn vợ bạn; bạn sẽ quên mất vui vẻ của việc hôn con người khác. Bạn
bắt tay bất kì ai bạn gặp - lạnh nhạt, không có nghĩa gì trong nó, không thông
điệp nào trong nó, không nồng nhiệt tuôn chảy. Nó chỉ là bàn tay chết bắt lẫn
nhau và nói ‘xin chào'. Thế rồi bạn bắt đầu, dần dần, học cử chỉ chết này, cử
chỉ lạnh nhạt này. Bạn trở nên đông cứng, bạn trở thành tảng băng. Và thế rồi bạn
nói, "Làm sao đi vào trung tâm?"
Trung
tâm là có sẵn khi bạn nồng nhiệt, khi bạn tuôn chảy, tan ra, trong tình yêu,
trong vui vẻ, trong điệu vũ, trong hân hoan. Điều đó là tuỳ ở bạn. Làm chỉ những
điều mà bạn thực sự yêu thích làm và bạn tận hưởng. Nếu bạn không thích thú, dừng
lại. Tìm ra cái gì đó khác mà bạn thích. Nhất định có cái gì đó bạn sẽ thích.
Tôi chưa bao giờ bắt gặp người không thể thích thú bất kì cái gì. Có những người
có thể không thích thứ này, thế rồi thứ khác, thứ khác nữa, nhưng cuộc sống là
bao la. Đừng vẫn còn bị vướng mắc; trở nên nổi. Cứ để có nhiều luồng năng lượng
hơn. Cứ để nó trôi nổi, để nó tan ra cùng với các năng lượng khác bao quanh bạn.
Chẳng mấy chốc bạn sẽ có khả năng thấy rằng vấn đề không phải là cách trở nên
được hoà nhập, vấn đề là ở chỗ bạn đã quên mất cách tuôn chảy. Trong năng lượng
tuôn chảy, bạn bỗng nhiên được hoà nhập. Điều đó đôi khi xảy ra một cách ngẫu
nhiên nữa, nhưng lí do là như nhau.
Đôi
khi bạn rơi vào tình yêu với người đàn bà hay người đàn ông, và bỗng nhiên bạn
cảm thấy được hoà nhập, bỗng nhiên bạn cảm thấy là một lần đầu tiên. Mắt bạn toả
sáng, khuôn mặt bạn rạng ngời, và trí tuệ của bạn không còn đờ đẫn nữa. Cái gì
đó bắt đầu bùng cháy sáng trong bản thể bạn; bài ca nảy sinh, bước đi của bạn
có phẩm chất của điệu vũ trong nó bây giờ. Bạn là một con người hoàn toàn khác.
Nhưng
đây là những khoảnh khắc hiếm hoi - bởi vì chúng ta không học bí mật này. Bí mật
này là: có cái gì đó bạn đã bắt đầu thích thú. Đó là toàn thể bí mật này. Hoạ
sĩ có thể đói mà vẫn vẽ, và bạn có thể thấy rằng khuôn mặt người đó được mãn
nguyện thế. Nhà thơ có thể nghèo, nhưng khi người đó ca lên bài ca của mình thì
người đó là người giầu nhất trên thế giới. Không ai giầu hơn người đó. Bí mật của
điều đó là gì? Bí mật là: người đó đang thích thú khoảnh khắc này. Bất kì khi
nào bạn thích thú điều gì đó, bạn đang hoà điệu với bản thân và bạn đang trong
hoà điệu với vũ trụ - bởi vì trung tâm của bạn là trung tâm của tất cả.
Cho
nên để sáng suốt này là bầu khí hậu cho bạn: chỉ làm điều bạn thích, bằng không
thì dừng lại. Bạn đang đọc báo và nửa chừng qua nó bạn đột nhiên nhận ra rằng bạn
không thích nó: thế thì không có nhu cầu. Thế thì sao bạn lại đọc? Dừng nó lại ở
đây và bây giờ. Nếu bạn đang nói với ai đó và giữa chừng bạn nhận ra rằng bạn
không thích điều đó, bạn chỉ mới nói nửa câu, dừng lại ở đó đi. Bạn không thích
thú, bạn không có nghĩa vụ phải tiếp tục. Lúc ban đầu điều đó sẽ có vẻ kì quái.
Nhưng các sannyasin của tôi đều kì quái cả, cho nên tôi không coi là có vấn đề
gì. Bạn có thể thực hành điều đó.
Nisagar
già rồi, nhưng tôi có thể thấy phẩm chất trẻ thơ trong bà ấy. Bà ấy cũng có thể
làm điều đó. Và tôi hi vọng bà ấy sẽ làm điều đó. Trong vòng vài ngày mối liên
hệ sẽ được thiết lập với trung tâm, và thế rồi bạn sẽ hiểu điều tôi ngụ ý khi
tôi cứ lặp đi lặp lại mãi rằng cái bạn đang tìm kiến là đã có trong bạn rồi. Nó
không ở trong tương lai. Nó chẳng có liên quan gì với tương lai cả. Nó đã ở đây
bây giờ rồi, nó đã là hoàn cảnh rồi.
Câu
hỏi thứ hai:
Sao
có chuyện là bởi việc gắn cái tên hay gắn một lí thuyết cho một thứ không thoải
mái, lẫn lộn, hay chỗ đau, tôi lại cảm thấy tốt hơn?
Bản
ngã con người bao giờ cũng cảm thấy bẽ bàng khi nó bắt gặp một sự kiện mà nó
không thể giải thích nổi. Bất kì khi nào bản ngã con người bắt gặp một sự kiện
mà nó không thể nào đặt tên được, và nó phải thừa nhận dốt nát của nó, nó đều cảm
thấy rất bị xúc phạm. Đó là lí do tại sao mọi người cứ dán nhãn lên mọi sự. Họ
không quan tâm tới bản thân mọi sự; họ quan tâm nhiều hơn tới việc dán nhãn.
Nếu
họ thấy đoá hoa, họ không thấy cái đẹp của nó, họ không ngửi hương thơm của nó,
họ không nhìn vào thông điệp của nó. Họ đơn giản bắt đầu nhìn đoá hoa này thuộc
vào loại nào, tên nó là gì. Đoá hoa này thực sự không có tên. Nếu bạn hỏi đoá
hoa, nó không thể nói tên nào cho bạn được. Nó không có chứng minh thư, nó không
có hộ chiếu; nó không có danh tính. Nó đơn giản có đó; và tất cả mọi cái tên đều
do con người đặt ra. Và con người thực sự liên tục đặt tên, kể từ thời Adam.
Có
một câu chuyện trong Kinh Thánh là Thượng đế tạo ra mọi thứ và ông ấy bảo Adam,
"Con đặt tên cho nó và điều đó sẽ là tên của nó"... một câu chuyện
hay. Cho nên anh ta bắt đầu đặt tên cho mọi thứ. Thượng đế tạo ra hoa hồng, và
Adam nhìn nó và anh ta gọi nó là 'hoa hồng'. Không phải anh ta biết nó là hoa hồng
đâu - chẳng ai biết cả, ngay cả Thượng đế cũng không biết. Thượng đế đã bảo
Adam nói, và bất kì điều gì anh ta nói ra đều sẽ là cái tên. Và cái tên mà anh
ta đã cho mọi sự vẫn còn lại, nhưng chúng chỉ là ngẫu nhiên. Cách đặt tên cho mọi
sự quả thực rất kì quái, nhưng đó là cách duy nhất - bởi vì mọi sự không có
tên. Và con người đã đặt tên cho nhiều thứ rất sai.
Khi
Thượng đế tạo ra đàn bà, Ông ấy hỏi Adam; đó là điều cuối cùng Adam đặt tên.
Anh ta gọi cô ấy là 'Hava' hay 'Eva' hay 'Eve' hay 'Havva'. Đây là những cách
phát âm khác nhau của điều anh ta gọi cô ấy: 'Hava' hay 'Habba' hay 'Eve'.
'Hava' nghĩa là cuộc sống; anh ta đã gọi đàn bà là cuộc sống của mình. Nhưng
qua nhiều thế kỉ đàn ông đã chịu đựng quá nhiều; và nhiều lần đàn ông đã cố gắng
thay đổi cái tên này, nhưng điều đó nữa, lại muộn. Và kể từ đó điều này đã là nỗ
lực liên tục: tất cả các nhà khoa học cứ làm chỉ mỗi việc đặt tên cho mọi sự.
Và
bạn hỏi, "Làm sao thầy đặt tên cho nó?" Đó là cũng kĩ thuật cũ thôi;
nó chỉ là một cách thức điên khùng. Họ phát hiện ra ngôi sao mới; họ đặt tên
cho nó thế nào? Làm sao họ gọi nó là Pluto-Diêm vương tinh, hay Neptune-Hải
vương tinh, hay bất kì cái gì? Ai quyết định? Họ cứ đặt tên cho mọi thứ, bất kì
cái gì có thể tới với tâm trí. Bây giờ thậm chí trên mặt trăng họ cũng đã quyết
định các cái tên. Bất kì chỗ nào con người đi tới, điều đầu tiên người đó làm
là quyết định về cái nhãn. Con người có ám ảnh. Khoảnh khắc bạn thấy ai đó bạn
hỏi, "Tên anh là gì? Tôn giáo của anh là gì? Nước anh là nước nào?"
Những điều này có ích theo bất kì cách nào để bạn biết con người đang đứng trước
bạn không? Điều đó tạo ra khác biệt gì? Làm sao nó tạo ra thay đổi nào đó khi
anh ta được gọi là Robert, hay Rama hay Rahim? Nó chẳng tạo ra khác biệt nào.
Nhưng nó là dễ dàng hơn - nếu người này được gọi là Rahim bạn có biết người đó
là người Mô ha mét giáo không. Và nếu bạn là người Hindu, bây giờ có xung đột.
Bây giờ bạn có thể tránh người này; người này không xứng đáng. Điều đó là nguy
hiểm. Bây giờ bạn có thể vẫn còn tỉnh táo: "Đây là người Mô ha mét giáo;
anh ta phải mang một con dao, và anh ta có thể giết bạn!" Hay nếu anh ta
là Rama, bạn rất hạnh phúc: “Vậy anh ta là người Hindu - và không chỉ là người
Hindu, anh ta phải là người mang tính tôn giáo; tên anh ta là Rama." Bạn rất
hạnh phúc. Bỗng nhiên không có rào chắn: bạn muốn nói với người này, bạn sẽ tới
gần hơn chút ít. Bạn sẵn sàng phơi bày bản thân mình cho người đó.
Đặt
tên, biết ai là ai, giúp cho bạn trở nên chắc chắn hơn chút ít về thực tại
không chắc chắn. Nhưng thực tại vẫn còn là không chắc chắn.
Có
lần chuyện xảy ra...
Tôi
đi du hành, và chỉ có một hành khách nữa trong khoang của tôi. Người đó hỏi tôi
tên gì. Tôi nói cho ông ta một cái tên. Thế rồi sau vài phút tôi nói, "Rất
tiếc. Đó không phải là tên tôi." Tôi bảo ông ta cái tên khác. Bây giờ ông
ta trở nên rất nghi ngờ. Tôi vẫn là cùng người đó nhưng ông ta lại trở nên rất
nghi ngờ. Khi người soát vé tới ông ta bảo anh ta rằng ông ta muốn đổi khoang.
"Đây là cái kiểu người gì thế này? Mới vài phút trước ông ta nói 'đây là
tên tôi', và thế rồi đích thân ông ta lại nói 'Tôi rất tiếc'. Ông ấy có điên
không? Và thật nguy hiểm mà ngủ cùng với người này trong đêm."
Khi
ông ta đi tôi nói, "Rất tiếc, cái tên đầu tên là đúng."
Ông
ta đơn giản trốn biệt mà chẳng nói điều gì.
Tên
tuổi, nhãn hiệu, phân loại... tâm trí cảm thấy rất sung sướng. Nếu bạn có thể
giải thích - có thể giải thích của bạn là ngớ ngẩn, ngu xuẩn - chỉ giải thích
này cũng đủ làm bạn cảm thấy sung sướng. Mọi người cứ đưa ra những lời giải
thích kì cục, dài dòng lạ lùng - bởi vì chẳng ai muốn thừa nhận sự kiện đơn giản
là họ không biết. Nếu ai đó hỏi, "Tên anh là gì?" và bạn nói,
"Tôi không biết, bởi vì khi tôi tới đã không có tên"; nếu ai đó hỏi bạn
thuộc vào nước nào và bạn nói, "Tôi không biết, bởi vì trái đất là một,"
thế thì người đó sẽ cảm thấy không thoải mái, không dễ chịu. Bất kì lời giải
thích nào cũng có tác dụng.
Mọi
người có ham muốn rất lớn là vẫn còn thông thái, bởi vì tri thức là an ninh và
tri thức là quyền lực. Đó là lí do tại sao từng thế kỉ đều phát minh ra cái vô
nghĩa của riêng nó - bởi vì có hàng triệu vấn đề mà không bao giờ có thể được
giải quyết. Ai biết ai đã làm ra thế giới này? Nhưng có những người ngu cứ muốn
biết. Chỉ người ngu mới muốn biết ai đã làm ra thế giới này; câu hỏi này là ngu
xuẩn. Nó là ngu xuẩn bởi vì câu hỏi này sẽ dẫn vào thoái lui vô tận. Nếu bạn
nói, "Thượng đế đã làm ra thế giới này," thế thì câu hỏi nảy sinh,
"Ai đã làm ra Thượng đế?" Và bạn cứ tiếp tục mãi; nó không thể được
chấm dứt. Không có cách nào để chấm dứt nó.
Nhưng
có những người sẵn sàng cung cấp cho bạn câu trả lời. Bạn hỏi và họ sẵn sàng
đáp. Họ chế tạo ra câu trả lời. Ba trăm tôn giáo tồn tại trên trái đất, và ba
trăm tôn giáo có ít nhất ba nghìn lí thuyết siêu hình, và từng lí thuyết lại
ngược lẫn nhau, và không có cách nào quyết định ai là đúng - bởi vì tất cả đều
sai. Bạn không thể quyết định được bởi vì tất cả đều chỉ là tưởng tượng.
Tôi
đã đọc:
Trong
nhà tắm Thổ Nhĩ kì cho quí bà, một người đàn bà đứng ra bởi vì chiều dài của vú
bà ấy. Bà ấy có cặp vú rất, rất dài, gần như không thể tin nổi.
"Ôi
bà bạn, chuyện gì xảy ra với vú của bà thế?" một người bạn hỏi bà ấy.
"Thế
này," bà ấy cố gắng giải thích, "chồng tôi như đứa bé, anh ấy thích
ngủ mà bú vú tôi."
"Ồ,
chồng tôi cũng thế," bà bạn nói, vẫn không hiểu.
"Vấn
đề là," bà thứ nhất tiếp tục, "chồng tôi và tôi ngủ trong hai phòng
khác nhau."
Bây
giờ thì mọi thứ được giải thích, bây giờ không có vấn đề gì! Nếu bạn nhìn vào
các lí thuyết siêu hình của mình bạn sẽ thấy những giải thích như vậy. Chúng tất
cả đều ngu xuẩn, nhưng chúng thoả mãn cho thôi thúc nào đó. Chúng giúp bạn thảnh
thơi: "Thượng đế đã tạo ra thế giới này à? Tốt." Thế là bạn biết câu
trả lời; thế là bạn đang trong cái biết, bạn không dốt nát. Thế thì bạn sẽ muốn
biết Thượng đế giống cái gì. Thế thì ai đó - hoạ sĩ nào đó, nhà điêu khắc nào
đó, sẽ làm ra một hình ảnh.
Một
đứa trẻ nhỏ đang vẽ cái gì đó và người mẹ hỏi, "Con dường như thích thú thế.
Con đang làm gì vậy? Trong hàng giờ còn đã ở đây."
Và
đứa bé nói, "Con đang cố gắng làm khuôn mặt của Thượng đế."
Người
mẹ cười. Bà ấy nói, "Chẳng ai biết Thượng đế trông thế nào cả."
Đứa
trẻ nói, "Đợi đã. Khi con hoàn thành, mọi người sẽ biết."
Đó
là điều đã được thực hiện. Đền chùa, hình ảnh, tranh vẽ - chẳng ai biết Thượng
đế trông như thế nào. Đó là phỏng đoán của mọi người, cho nên bạn có thể cho
Thượng đế bốn khuôn mặt, cho Thượng đế một nghìn tay; điều đó là tuỳ ở bạn. Thượng
đế của bạn là sáng tạo của bạn, nhưng một khi bạn đã làm ra nó, điều đó rất
khó. Nếu ai đó nói rằng đó chỉ là tưởng tượng, phỏng đoán, bạn sẽ giận dữ. Bạn
sẽ bắt đầu đánh nhau. Đó là lí do tại sao các tôn giáo đã từng đánh lẫn nhau.
Sao đánh nhau cứ tiếp diễn mãi thế? Thượng đế có ba mặt hay bốn mặt, điều đó tạo
ra khác biệt gì? Nhưng không, đó là vấn đề lớn, và vấn đề là tâm lí.
Nếu
bạn nói với một người bao giờ cũng tin rằng Thượng đế có ba mặt rằng ngài có bốn
mặt, bạn quấy rối đấy. Bạn đang quấy rối tri thức của người đó. Người đó không
lo lắng về Thượng đế; ai lo nghĩ về Thượng đế? Nhưng người đó lo nghĩ về điều
đó. Người đó đã tự giải quyết cho mình, người đó đã cảm thấy an toàn trong tri
thức của mình, người đó đã cảm thấy rằng người đó trong hiểu biết. Bây giờ ở
đây bạn tới và bạn nói, "Không, Thượng đế có bốn mặt chứ." Bây giờ bạn
tạo ra lo âu trong người đó, lại cùng một lo âu đã có trước khi người đó quyết
định. Đó là lí do tại sao tôn giáo này không muốn nghe ý tưởng của tôn giáo
khác - bởi vì điều đó tạo ra lo âu. Nó tạo ra rối loạn lớn, nó tạo ra hỗn loạn
lớn.
Mọi
người muốn vẫn còn được cố định trong ý tưởng của họ; không ai nên quấy rối họ.
Nhưng đây không phải là tri thức. Đấy chính là đức tin là gì. Đức tin nghĩa là:
bạn không thể thừa nhận sự kiện rằng bạn không biết. Bạn không đủ dũng cảm để
thừa nhận rằng bạn dốt nát. Người hèn nhát mang nhiều đức tin với họ, cho nên
không có nhu cầu thừa nhận sự kiện về dốt nát. Nhưng dốt nát còn đẹp hơn là tri
thức giả; ít nhất nó cũng còn đúng, đích thực. Nếu một người nói, "Tôi
không biết," với tôi, người đó là chỗ bắt đầu của tâm thức tôn giáo. Người
đó ở tại cánh cửa. Người mà nói, "Tôi biết," và nếu bạn nói điều gì
đó ngược với anh ta thì anh ta sẽ bị rối loạn và bị lo nghĩ và bắt đầu tự bảo vệ
và tự phòng thủ, thế thì điều đó dường như là tri thức của anh ta chỉ là phương
tiện an ninh. Anh ta đã tạo ra niềm tin nhân tạo quanh mình. Anh ta đã sống
trong mơ, và bạn tới và bạn quấy rối giấc mơ này.
Bạn
không thể quấy rối được con người của hiểu biết - bởi vì con người của hiểu biết
biết rằng điều tối thượng không thể được biết. Bạn có thể có hương vị của nó,
nhưng bạn không bao giờ có thể công thức hoá nó được. Điều tối thượng vẫn còn
là bí ẩn; bí ẩn là chính bản tính của nó. Không có cách nào làm tan biến bí ẩn
này. Người đó biết cái dốt nát của mình, người đó biết bí ẩn tối thượng. Và bí ẩn
tối thượng và dốt nát của người tìm kiếm gặp nhau, và có giao cảm lớn lao.
Khi
con người của tri thức đi tới chân lí, người đó không bao giờ nghe chân lí cả -
bởi vì chân lí cũng quấy rối. Người đó có niềm tin của mình: chân lí phải đi
theo niềm tin của người đó. Chân lí phải tới dưới dạng của niềm tin của người
đó; chỉ thế thì người đó mới thừa nhận.
Người
ta nói về Tulsidas, nhà thơ Hindu vĩ đại - tôi sẽ không gọi ông ấy là thánh
nhân Hindu vĩ đại, nhưng ông ấy thực sự là nhà thơ vĩ đại...
Ông
ấy được đưa tới ngôi đền Mathura thờ Krishna. Ông ấy là tín đồ của Rama. Một
người đưa ông ấy tới ngôi đền đẹp này, và bức tượng của Krishna có đó với chiếc
sáo trên môi ông ấy. Nhưng Tulsidas lại không cúi lạy. Bạn bè hỏi, "Sao thế?
Sao ông lại không cúi lạy?" Ông ấy nói, "Ta không thể lạy được. Ta chỉ
có thể cúi lạy Rama thôi. Nếu," ông ta nói với bức tượng Krishna, "nếu
ông muốn ta cúi lạy ông, thế thì ông sẽ phải trở thành Rama. Đổi hình dạng đi,
và thay vì cầm sáo thì cầm cung, vì Rama mang cung." Câu chuyện kể rằng
Krishna đã biến đổi hình dạng của ông ấy. Ông ấy trở thành Rama với chiếc cung
trên vai. Và thế rồi Tulsidas cúi lạy.
Câu
chuyện này phải là hư cấu thôi, nhưng nó rất biểu tượng: người có niềm tin bao
giờ cũng thích buộc chân lí tới theo niềm tin của mình, tương ứng với kênh của
mình. Nhưng chân lí không bao giờ tới tương ứng với bạn cả. Cho nên một nửa câu
chuyện này dường như là đúng và nửa kia dường như là hư cấu. Dường như đúng là
Tulsidas đã nói rằng ông ấy sẽ không cúi lạy chừng nào Krishna còn chưa lấy
hình dạng của Rama, bởi vì ông ấy là một trong những người sùng kính Rama. Cho
tới điểm này thì câu chuyện có vẻ như là đúng. Nhưng Krishna lấy hình dạng của
Rama sao? Chân lí tuân theo niềm tin của bạn sao? - điều đó nghĩa là đầu tiên
chân lí phải cúi mình trước bạn đã, và thế rồi bạn sẽ cúi mình với chân lí. Điều
đó là xấu. Ngay cả quan niệm về nó cũng là điều xấu. Không, chân lí không có đó
để đáp ứng cho trông đợi của bất kì người nào.
Niềm
tin trở thành rào chắn, nhưng niềm tin giúp đỡ. Chúng giúp cho bạn làm tan biến
lo âu.
Người
hỏi này hỏi, "Sao có chuyện là bởi việc gắn cái tên hay gắn một lí thuyết
cho một thứ không thoải mái, lẫn lộn, hay chỗ đau, tôi lại cảm thấy tốt
hơn?" - bởi vì bạn trở thành thông thái rồi. Thế thì vấn đề được giải quyết.
Không có bí ẩn; bạn biết. Nhưng tri thức này là rất nguy hiểm. Đừng làm điều đó
chút nào nữa.
Vẫn
còn không thoả mái. Tốt hơn cả là vẫn còn không thoải mái. Nếu bạn cảm thấy
không dễ chịu, vẫn còn với sự không dễ chịu của mình đi, nhưng đừng cố gắng tìm
lời giải thích. Đừng bịa ra bất kì giải thích nào. Vẫn còn không dễ chịu đi. Chấp
nhận điều đó là tự nhiên, và chẳng mấy chốc bạn sẽ đi tới điểm mà bạn sẽ bắt đầu
yêu bí ẩn của mọi sự. Thế thì cái không dễ chịu sẽ biến mất, và bạn sẽ không trở
thành thông thái. Bạn sẽ không trở thành học giả, bác học - bởi vì học giả là
chỗ tồi tệ. Ngay cả tội nhân cũng đã đạt tới chân lí, nhưng không ai đã bao giờ
nghe nói về bác học nào đạt tới chân lí. Điều đó là không thể được; điều không
xảy ra. Bạn càng biết nhiều, bạn càng xa với chân lí, bởi vì bạn càng trở nên bị
biến chất với tri thức của bạn. Bạn càng hồn nhiên, và mắt bạn càng không bị chồng
chất bởi bất kì lí thuyết nào và đơn giản có đó giống như cửa sổ mở sẵn sàng hấp
thu chân lí, thì nó càng tốt hơn.
Hồn
nhiên, không thông thái đi. Dốt nát đi. Điều đó là tốt hơn, bởi vì trong dốt
nát bạn chấp nhận bí ẩn của cuộc sống. Cuộc sống không thể được giải thích. Tất
cả mọi giải thích đều rất tí hon, nhỏ nhoi, cứng nhắc; còn cuộc sống thì bao la
thế, mênh mông thế - nó không thể bị chứa trong bất kì giải thích nào. Không
người Ki tô giáo, không người Hindu, không người Mô ha mét giáo, không người
Jaina giáo, không Phật tử nào: tất cả mọi nỗ lực để giải thích đều đã thất bại.
Tất cả các tôn giáo đều đã thất bại.
Cho
nên đừng chọn thuận tiện, chọn chân lí. Chân lí là ở chỗ chân lí là bí ẩn. Đừng
gọi tên nó, và đừng cảm thấy tốt chỉ bởi việc đặt tên nó. Với việc đặt tên bạn
chẳng giải thích cái gì cả; nó đơn giản bảo vệ bạn khỏi chân lí. Bạn trở nên bị
khép kín với chân lí, bạn đang phòng thủ bản thân mình chống lại chân lí. Và
đây là kiểu phòng thủ gì vậy? - nó mang tính huỷ diệt. Đừng mang tính phòng thủ,
mong manh đi. Nếu chân lí làm cho bạn không thoải mái, thì cứ để cho nó là như
vậy đi. Đó là cái giá người ta phải trả cho chân lí.
Câu
hỏi thứ ba:
Tôi
biết tôi là đàn bà, nhưng nhiều lúc tôi thể hiện các nét dường như rất nam
tính. Liệu có những điều như nữ tính bẩm sinh hay đặc trưng nam tính không?
Nghe
câu hỏi này. "Tôi biết tôi là đàn bà" - điều đó nữa đã trở thành tri
thức: "Tôi biết." Điều đó không thể đơn giản được nói rằng bạn là đàn
bà sao? Nó có phải đi qua tri thức không? Cứ dường như là nếu ai đó nói,
"Tôi nghĩ lửa là nóng." Bạn không thể nói một cách đơn giản, "Lửa
có nóng không?" Nó cứ phải đi qua suy nghĩ của bạn trước sao? Bạn nói,
"Tôi nghĩ rằng lửa nóng." Lửa đơn giản nóng; việc nghĩ của bạn là
không cần thiết. Hoặc bạn là đàn bà hoặc đàn ông. Phỏng có ích gì mà nói,
"Tôi biết tôi là đàn bà?" Sao mọi thứ lại cứ phải đi qua cánh cửa của
tri thức? Sao sự kiện không thể đơn giản là sự kiện?
Ngay
cả câu hỏi cũng chỉ ra... mọi thứ đều chỉ ra tâm trí bạn; ngay cả việc tạo ra
câu hỏi cũng chỉ ra điều đó.
Tôi
đã nghe...
Khi
được nhà tư vấn hôn nhân hỏi điều gì dường như là vấn đề trong hôn nhân của họ,
người chồng đáp, "Tôi không có vấn đề. Nhưng tên cũ của cô ấy là
gì..." và anh ta dừng lại và trỏ sang vợ mình, "cô ấy cho là tôi
không chú ý đủ mức tới cô ấy."
'Tên
cô ấy là gì' anh ta nói. Anh ta thậm chí không biết tên của vợ mình.
Chính
việc phát biểu chỉ ra vấn đề.
"Tôi
biết tôi là đàn bà" - xin dừng việc biết, bắt đầu cảm. Cảm thấy bạn là đàn
bà đi. Cảm giác là từ một trung tâm khác, nó là từ trái tim. Việc biết là từ
trung tâm khác; nó là từ cái đầu. Việc biết là chết, việc cảm là sống động.
Mọi
người tới tôi và họ nói, "Tôi nghĩ tôi đã rơi vào tình yêu." Bạn
không thể đơn giản nói rơi vào tình yêu được sao? Cái đầu bao giờ cũng phải
chen vào giữa bạn và quan hệ của bạn, trong bất kì quan hệ nào, trong mọi quan
hệ sao? Bạn không thể gạt cái đầu mình sang bên một chút được sao?
Có
câu ngạn ngữ nổi tiếng của triết gia phương tây, Rene Descartes: cogito ergo
sum - Tôi tư duy, do đó tôi hiện hữu. Điều này là ngớ ngẩn: tôi tư duy, do đó
tôi hiện hữu sao? Điều đó chỉ ra rằng tư duy là chính còn hiện hữu là phụ - tôi
tư duy, do đó tôi hiện hữu.
Tư
duy là thứ hai, hiện hữu là thứ nhất. Trước hết bạn hiện hữu, thế rồi bạn tư
duy. Nếu bạn không hiện hữu, thế thì ai sẽ tư duy? Tư duy không thể tồn tại
trong chân không được. Nếu ai đó nói, "Tôi hiện hữu, do đó tôi tư
duy," điều đó là đúng. Nhưng nói "Tôi tư duy, do đó tôi hiện hữu"
đơn giản là ngớ ngẩn. Nhưng dầu vậy vẫn có nghĩa cho nó: Descartes là cha của
triết học phương tây, và toàn thể tâm trí phương tây đã bị ảnh hưởng bởi hai
người - Aristotle và Descartes. Cho nên ở phương Tây mọi thứ đều đi qua tư duy;
ngay cả hiện hữu cũng đi qua tư duy. Ngay cả hiện hữu cũng không phải là sự kiện
đơn giản; bạn phải nghĩ về nó trước, thế rồi bạn hiện hữu - cứ dường như nó là
một kết luận logic. Nó mang tính tồn tại, nó không là logic.
Cho
nên trước hết chấm dứt tư duy rằng bạn là đàn ông hay đàn bà. Biết điều đó đi.
Biết là trực tiếp. Ai đó khác có thể trong hoài nghi, nhưng bạn không nên trong
hoài nghi. Ai đó khác có thể nghĩ về liệu bạn là đàn ông hay đàn bà - và nếu bạn
sống theo kiểu hippie, đôi khi điều đó có thể rất khó.
Khi
tôi cho ai đó tính chất sannyas và tôi không thể quyết định được, tôi phải hỏi
Mukta, "Mukta, bạn nghĩ gì?" Và bây giờ cô ấy đã biết; bất kì khi nào
cô ấy cảm thấy rằng tôi sẽ trong hoài nghi, cô ấy im lặng thì thào, "Cô ấy
là đàn bà."
Hai
người hippies đi vào một khách sạn, và người quản lí khách sạn nói, "Các
ngài không thể vào được bởi vì chúng tôi tuân theo qui tắc đặc biệt. Bất kì ai
vào đây đều phải đeo cà vạt."
Thế
là một người nói, "Được thôi." Anh ta đeo cà vạt vào. Mười lăm phút
sau anh ta tới với chiếc cà vạt, và người quản lí nói, "Được rồi, anh có
thể vào, nhưng người kia thì sao?"
Anh
ta nói, "Anh ta là vợ tôi. Ông thậm chí không cho phép đàn bà vào khách sạn
mà không có cà vạt sao?"
Nếu
người khác mà đang hoài nghi liệu bạn là anh ấy hay cô ấy, điều đó là được. Nhưng
bản thân bạn thì sao? - thế thì hoài nghi đã đi vào rất sâu và đã trở thành bệnh
tật. Vứt điều đó đi.
Nhưng
câu hỏi này rất có ý nghĩa: "Tôi biết tôi là đàn bà, nhưng nhiều lúc tôi
thể hiện các nét dường như rất nam tính. Liệu có những điều như nữ tính bẩm
sinh hay đặc trưng nam tính không?"
Từng
cá nhân đều là cả hai - bởi vì từng cá nhân đều được sinh ra từ cả hai, người mẹ
và người bố. Một phần của bạn tới từ bố bạn, một phần của bạn tới từ mẹ bạn,
cho nên bạn không thể tuyệt đối là đàn ông hay tuyệt đối là đàn bà. Thực tế, mọi
người đều là cả nam lẫn nữ; khác biệt chỉ ở mức độ, số lượng. Đàn ông nhiều
tính đàn ông hơn đàn bà, có vậy thôi; đàn bà nhiều tính đàn bà hơn đàn ông, có
vậy thôi. Khác biệt là ở mức độ. Đó là lí do tại sao có khả năng đổi giới tính.
Nếu hoóc môn có thể được tiêm vào và cân bằng bên trong của bạn có thể bị thay
đổi, đàn ông có thể trở thành đàn bà, đàn bà có thể trở thành đàn ông. Và đến
cuối thế kỉ này mọi người sẽ thay đổi giới tính theo số lượng lớn, bởi vì điều
đó là tự nhiên. Người ta phát chán với việc là đàn ông, bao giờ cũng đàn ông;
người ta phát chán với việc là đàn bà, và người ta muốn đổi chỗ. Đến cuối thế kỉ
này việc đổi giới tính sẽ trở thành điều rất thông thường. Và điều đó là tốt. Một
người có thể có ba hay bốn kiếp trong một đời: trong vài năm bạn vẫn còn là đàn
bà, thế rồi bạn trở thành đàn ông, và thế rồi bạn lại trở thành đàn bà. Và điều
đó bây giờ có thể thực hiện được. Điều đó là khả thi về khoa học và các qui
trình tốt hơn sẽ sớm có sẵn. Điều đó có thể được thực hiện, bởi vì từng người đều
là cả hai.
Nếu
bạn là đàn ông thế thì phần ý thức của bộ não bạn là đàn ông và phần vô thức là
đàn bà. Nếu bạn là đàn bà, thế thì phần ý thức là đàn bà và phần vô thức là đàn
ông. Và nhiều lúc có đảo ngược nữa.
Chẳng
hạn: khi đàn ông trở nên già đi, ông ta bắt đầu trở nên nữ tính hơn, và khi đàn
bà trở nên già đi họ bắt đầu trở nên nam tính hơn. Bà già bắt đầu phát triển cơ
bắp, giọng của họ trở nên giống giọng nam, họ trở nên dễ cáu bẳn, đánh nhau, giận
dữ, càu nhàu hơn. Khi đàn ông trở nên già, họ bắt đầu dễ bảo hơn, vâng lời hơn,
dễ bị bắt nạt hơn.
Vợ
của Mulla Nasruddin nói với lũ con cô ấy, một trong chúng quãng mười lăm tuổi,
"Từ tháng này trở đi, mỗi tháng mẹ sẽ cho đứa nào vâng lời nhất một phần
thưởng."
Tất
cả chúng đều nói, "Điều này là không công bằng."
Cô
ấy nói, "Tại sao?"
Tất
cả chúng đều nói, "Bố sẽ được phần thưởng."
Dần
dần đàn ông trở thành dễ bảo, và dần dần đàn bà trở nên ngày một chi phối hơn.
Và có thay đổi mọi ngày nữa. Nếu đàn bà trở nên rất giận dữ, cô ấy mất hết phần
ý thức của mình và phần vô thức trở nên rất chiếm ưu thế. Đàn bà giận dữ còn
nguy hiểm hơn đàn ông giận dữ. Đàn bà phát rồ còn nguy hiểm hơn đàn ông phát rồ.
Bởi vì phần vô thức của đàn bà rất tươi mới, nó hiếm khi được dùng tới, cho nên
khi nó được dùng, cô ấy có thể trở nên rất nguy hiểm. Nếu đàn bà yêu bạn, cô ấy
yêu bạn vô cùng; nếu cô ấy ghét bạn, thế thì cô ấy ghét bạn vô cùng.
Khi
người đàn ông đang yêu, tình yêu của anh ta rất sâu, còn sâu hơn tình yêu của
người đàn bà, bởi vì phần vô thức của anh ta không được dùng. Trong tình yêu,
đàn ông đi rất sâu, sâu hơn đàn bà - bởi vì với đàn bà tình yêu là rất bình thường.
Cô ấy mà đang yêu, điều đó là cách thức bất thường của cô ấy. Nhưng với đàn ông
rơi vào tình yêu là rất khó. Đó không phải là cách thức thông thường của anh
ta, nó hiếm khi xảy ra. Nhưng khi nó xảy ra thế thì tình yêu của anh ta lại sâu
sắc tới mức không đàn bà nào có thể đua tranh được với anh ta.
Đây
là quan sát của tôi: nếu đàn bà yêu - và mọi đàn bà đều yêu - tình yêu là tự
nhiên. Đó là một phần của tâm trí nữ tính. Thông thường đàn ông không bao giờ
yêu nhiều thế. Thông thường tình yêu chỉ là một trong nhiều thứ mà họ làm, một
trong nhiều thứ, và thậm chí có thể không là quan trọng nhất. Đôi khi công việc
còn quan trọng hơn, còn tình yêu chỉ là việc nghỉ ngơi giải trí, chỉ là thảnh
thơi khỏi công việc, cái phụ cho công việc. Nếu họ phải chọn lựa, họ sẽ chọn
công việc.
Một
người Do Thái bị bắt quả tang với khẩu súng trong tay.
Anh
ta định giết một người: người này đã làm tình với vợ anh ta. Quan toà hỏi,
"Súng của anh đã nạp đạn, thế thì sao anh không thực sự giết chết anh ta?
Anh đơn giản giả vờ hay làm cái gì?"
Người
này nói, "Khi tôi cần súng và định giết anh ta, người đó hỏi, 'Anh mua khẩu
súng bao nhiêu tiền thế?' Bây giờ, làm sao ông có thể giết một người đang nói
chuyện về kinh doanh?"
Người
Do Thái là người Do Thái: làm sao bạn có thế giết được một người khi anh ta
đang nói về kinh doanh? Thế thì bạn quên hết tất cả về vợ bạn, rằng anh ta đã
làm tình với vợ bạn, khi công việc kéo tới.
Có
những người mà chính trị còn quan trọng hơn là tình yêu - tiền bạc, kính trọng,
đạo đức; cả nghìn lẻ một thứ có đó cho đàn ông. Nhưng đàn bà yêu. Cô ấy yêu
toàn bộ - đó là một thứ của cô ấy. Nó không phải là một thứ trong nhiều thứ.
Khi đàn ông yêu, anh ta yêu vài phút trong ngày. Khi đàn bà yêu, cô ấy yêu hai
mươi bốn giờ. Điều này là tự nhiên. Nhưng nếu đôi khi đàn ông yêu, thế thì
không đàn bà nào sánh nổi người đó - bởi vì thế thì người đàn bà bên trong của
anh ta bùng phát ra. Thế thì nảy sinh ra một Majnu, hay một Farhad; người yêu
vĩ đại được sinh ra. Bạn có quan sát sự kiện này không? rằng Majnu và Farhad và
kiểu đàn ông này đã tồn tại, nhưng không đàn bà nào đã tồn tại trong lịch sử để
so sánh với họ? Tại sao? Không ai đã yêu điên cuồng thế; không đàn bà nào đã
yêu điên cuồng như Majnu, không người đàn bà nào đã yêu điên cuồng như Farhad -
bởi vì khi đàn ông thực sự đi vào tình yêu, thế thì anh ta không còn là đàn ông
nữa. Thế thì vô thức bên trong của anh ta bùng nổ và chiếm lĩnh anh ta toàn bộ.
Khi
đàn bà trở nên giận dữ, hùng hổ, thế thì cô ấy có thể rất nguy hiểm. Đừng bao
giờ kích động đàn bà. Nếu bạn kích động đàn ông anh ta sẽ tuân theo qui tắc và
qui định nào đó của đấu tranh và chiến tranh; đàn bà không tuân theo những điều
này. Cô ấy đơn giản sẽ nhảy lên bạn và cấu xé bạn, cắn bạn, giết bạn - cô ấy sẽ
không cho phép bất kì qui tắc nào. Cô ấy không biết chúng. Người đàn ông của cô
ấy không được huấn luyện chút nào: khi anh ta bùng nổ, anh ta đơn giản bùng nổ.
Cả
hau điều này đều cùng có trong bạn. Người tìm kiếm phải làm gì, đệ tử phải làm
gì? Người đó phải trở nên nhận biết về cả hai, và người đó phải vứt bỏ việc bị
đồng nhất với cả hai. Người tìm kiếm thực sự phải vứt bỏ đồng nhất. Người đó phải
học rằng mình không là đàn ông, không là đàn bà; người đó là nhân chứng. Thế
thì bạn vượt ra ngoài sinh học. Chỉ thế thì bạn mới đi ra ngoài thân thể - bởi
vì đàn ông và đàn bà tồn tại trong thân thể. Nhiều nhất, phản xạ của họ tồn tại
trong tâm trí. Nhưng linh hồn không là đàn ông không là đàn bà. Bạn phải vượt
ra ngoài cả hai. Cho nên quan sát... và vẫn còn xa cách, tách rời. Vẫn còn nhận
biết. Khi người đàn bà đang vận hành ở đó, quan sát; khi người đàn ông đang vận
hành ở đó, quan sát - nhưng vẫn còn tỉnh táo rằng bạn không là cả hai.
Đó
là lí do tại sao nhận biết thực bao giờ cũng dẫn bạn vượt ra ngoài dục, và vô dục
xảy ra chỉ theo cách riêng của nó. Bởi vì ở trong dục bạn phải bị đồng nhất với
tính nam hay bị đồng nhất với tính nữ. Vô dục thực là người đã vượt ra ngoài,
người không là cả hai.
Nhưng
tôi không nói về kìm nén. Tôi không nói rằng bạn phải kìm nén. Tôi không nói rằng
bạn phải kìm nén người đàn bà hay kìm nén người đàn ông. Tôi chống lại mọi sự
kìm nén. Tôi đang nói: bày tỏ tính đàn bà của bạn, bày tỏ tính đàn ông của bạn,
nhưng vẫn còn tỉnh táo. Bởi vì nếu bạn kìm nén thế thì nó sẽ tới theo cách này
cách khác nào đó.
Để
tôi kể cho bạn một giai thoại:
Ba
tu sĩ, mặc bộ đồ thường và áo phông, định đi đánh bóng thì một người thích chơi
golf dừng họ lại và hỏi liệu người đó có thể được tham gia để thành bộ tứ được
không. "Được thôi," tu sĩ già nhất nói. "Nhưng chúng ta phải nói
trước cho anh, chúng ta không phải là người chơi golf cừ đâu." Tất nhiên,
người thích chơi cũng là người chơi xoàng thôi. "Và cá cược thì sao, để
làm cho trò chơi thú vị hơn?" Một trong các tu sĩ phản đối rằng họ chưa
bao giờ cá cược cả, nhưng để làm vừa lòng anh ta họ đã đánh cược theo từng bước.
Một cách tự nhiên người thích chơi golf thắng và các tu sĩ phải trả tiền.
Khi
tất cả họ đã quay về phòng khoá cửa, người thích chơi bị choáng khi thấy các bộ
quần áo tu sĩ của họ và xin trả lại tiền.
"Không,
chúng ta đã cá và chúng ta trung thành với điều đó. Điều đó sẽ dạy cho chúng ta
một bài học," tu sĩ lớn tuổi nhất nói.
"Thôi
được," người này nói, "Tôi vẫn cảm thấy thúc ép khôi hài với các tu
sĩ. Tôi có thể làm được cái gì không?"
"Anh
có bố mẹ không?" viên tu sĩ này hỏi.
"Có,
tôi có ạ."
"Được
thế thì hãy đưa họ tới đây và ta sẽ làm lễ cưới cho họ."
Kìm
nén giống thế này: bạn muốn nói 'đồ con hoang', nhưng bạn cứ đi vòng vo.
Và
kìm nén có thể tạo ra thay đổi, nhưng không phải là thay đổi thực. Bạn sẽ đi từ
cực đoan này sang cực đoan khác. Chỉ nhận biết mới có thể đưa bạn vượt ra ngoài
nhị nguyên.
Để
tôi kể cho bạn thêm một giai thoại nữa.
Trên
chuyến tàu hoả dài vào buổi trưa nóng bức, một trong các hành khách cứ lăp lại
thật to, "Trời ơi, tôi khát! Trời ơi, tôi khát! Trời ơi, tôi khát!" Bị
khó chịu bởi việc lặp lại câu mật chú như vậy, hành khách ngồi ngay trước anh
ta đem lại cho người đó một chai to nước sô đa lạnh ở ga sắp tới. Với đôi mắt
loé ra lòng biết ơn, người khát đứng dậy, vồ lấy cái chai, và uống ngay lập tức.
Trong một thoáng chốc anh ta dường như hạnh phúc, thoả mãn, hài lòng. Thế rồi
anh ta ngồi xuống và lại bắt đầu lặp lại thật to, "Trời ơi, tôi khát! Trời
ơi, tôi khát! Trời ơi, tôi khát thế!"
...Nhưng
câu mật chú vẫn tiếp tục.
Bạn
có thể đi từ cực đoan này sang cực đoan khác; thay đổi sẽ chỉ ở trên bề mặt.
Sâu bên dưới bạn sẽ vẫn còn như cũ, và thay đổi phải xảy ra ở chiều sâu. Chỉ nhận
biết mới đi vào chiều sâu. Kìm nén chỉ là quét vôi trắng; nó không thay đổi gốc
rễ của bạn, nó không triệt để.
Câu
hỏi 4
Tôi
bị lẫn lộn về khác biệt giữa buông xuôi và đi theo ánh sáng bên trong của mình.
Dường như là khi tôi muốn buông xuôi, tôi sợ phải chịu trách nhiệm cho bản thân
mình, và khi tôi muốn đi theo ánh sáng bên trong của mình, tôi sợ điều thầy sẽ
yêu cầu tôi buông xuôi.
Bạn
phải tuyệt đối rõ ràng về điều đó: nếu bạn có ánh sáng bên trong thì không cần
buông xuôi nào cả, bởi vì buông xuôi chỉ có ích cho bạn để đem ánh sáng bên
trong ra. Nếu bạn đã có nó, thế thì quên mọi thứ về buông xuôi đi. Nhưng... bạn
không có nó. Chỉ để né tránh buông xuôi bạn tưởng tượng rằng bạn có nó.
Nếu
bạn có nó, thì bạn có nó. Thế thì vấn đề buông xuôi không nảy sinh. Bạn không
có nó đâu. Bạn chỉ có bóng tối bên trong, không có ánh sáng. Cho nên khi bạn đi
vào bạn thấy bóng tối; thế thì bạn bắt đầu nghĩ tới buông xuôi. Khi bạn bắt đầu
nghĩ tới buông xuôi thế thì bạn trở nên sợ - bởi vì bản ngã bước vào. Không phải
là ánh sáng bên trong cản trở bạn. Ánh sáng bên trong chưa bao giờ cản trở ai cả.
Để
tôi nói điều đó theo cách này: nếu bạn buông xuôi, đó là sự giúp đỡ cho ánh
sáng bên trong; nếu có ánh sáng bên trong, đó là sự giúp đỡ cho buông xuôi - bởi
vì ánh sáng bên trong và buông xuôi là hai mặt của cùng một đồng tiền.
Nếu
bạn có ánh sáng bên trong thế thì không có sợ hãi trong việc buông xuôi, bởi vì
sợ hãi tới chỉ từ bản ngã. Ánh sáng bên trong đã là hiện tượng buông xuôi rồi;
bạn đã buông xuôi rồi.
Cho
nên nếu bạn có ánh sáng bên trong, trước hết tôi nói không có nhu cầu buông
xuôi; thứ hai tôi nói rằng nếu bạn có ánh sáng bên trong, thế thì sẽ không có vấn
đề gì trong buông xuôi cả. Nếu bạn không có ánh sáng bên trong, thế thì có rắc
rối. Thế thì bạn cần buông xuôi ngay chỗ đầu tiên, và bạn sẽ né tránh buông
xuông chỗ thứ hai. Để tôi kể cho bạn một câu chuyện rất hay. Suy ngẫm về nó.
Một
hôm, một người vô thần đang bước đi dọc theo mỏm đá thì anh ta trượt chân và
ngã khỏi mỏm đá. Khi ngã lộn rơi xuống anh ta xoay xở tóm được một cành cây nhỏ
mọc ra từ một kẽ nứt trong tảng đá. Treo ở đó, đung đưa trong gió lạnh, anh ta
nhận ra hoàn cảnh của mình mới bất lực làm sao. Xa phía dưới là nhưng tảng đá
cuội lởm chởm và không có cách nào để trèo lên. Việc bám víu của anh ta vào
cành cây cứ mỗi giây một yếu dần. "Thôi được," anh ta nghĩ, "chỉ
Thượng đế mới có thể cứu được mình bây giờ. Mình chưa bao giờ tin vào Thượng đế
cả nhưng mình có thể sai. Mình có mất gì đâu?" Thế là anh ta kêu lên,
"Thượng đế ơi, nếu ngài tồn tại, xin u con, và con sẽ tin vào ngài."
Không có câu trả lời. Anh ta kêu lần nữa, "Cầu xin Thượng đế đấy, con chưa
bao giờ tin vào ngài, nhưng nếu ngài cứu con, con sẽ tin vào ngài từ giờ trở
đi!"
Bỗng
nhiên một giọng nói to lớn oang oang vọng xuống từ mây, "Ồ con không tin
đâu, ta biết loại người con rồi."
Người
này quá đỗi ngạc nhiên, anh gần như quên mất việc bám vào cành cây. "Cầu
xin Thượng đế, ngài sai rồi. Con thực sự ngụ ý điều đó; con sẽ tin."
"Ồ,
con sẽ không tin đâu. Đó là điều họ tất cả đều nói."
Người
này bào chữa và biện minh. Cuối cùng Thượng đế nói, "Thôi được, ta sẽ cứu
con. Hãy bỏ cành cây ra."
"Bỏ
cành cây ra!" người này kêu lên. "Ngài cho rằng con khùng hay
sao?"
Nghĩ
về điều này.
Ngay
cả khi bạn không có gì để mất, bạn vẫn sợ buông xuôi. Bây giờ người này nói,
"Bỏ cành cây ra! Ngài cho rằng con khùng sao?" Bị treo trên cái cành
này trong gió lạnh, và sức bám mỗi khoảnh khắc lại càng yếu hơn, mà dầu vậy anh
ta vẫn không sẵn sàng buông xuôi.
Thượng
đế có thể cứu bạn chỉ khi bạn buông xuôi. Việc buông xuôi của bạn chỉ ra sự tin
cậy của bạn; không có cách khác để biểu lộ nó. Lời cầu nguyện của bạn là không
đủ. Người này đang cầu nguyện. "Xin u con!" nhưng anh ta không thể biểu
lộ được sự tin cậy. Lời cầu nguyện của bạn là bất lực. Nếu không có tin cậy hỗ
trợ cho nó, thế thì nó chẳng ngụ ý điều gì cả. Duy nhất tin cậy của bạn mới chỉ
ra rằng lời cầu nguyện của bạn là có nghĩa, rằng bạn thực sự ngụ ý điều đó.
Nếu
bạn cảm thấy rằng về phần riêng của mình chẳng cái gì xảy ra cả và bạn đang bị
mất dần ngày một nhiều vào bóng tối; về phần riêng của mình nếu bạn thấy rằng
chỉ cái chết đang tới ngày một gần hơn và việc níu bám của bạn đang trở nên
ngày một yếu đi và bạn sẽ tan biến vào trong cái chết chẳng chóng thì chầy; nếu
bạn thấy rằng, đây là thông điệp của tôi: hãy buông bỏ cành ra. Và nếu bạn có
thể buông bỏ, thì ngay lập tức, trong chính việc buông bỏ đó bạn được cứu... bởi
vì bạn được cứu khỏi chính bạn.
Vấn
đề không phải ở đâu đó bên ngoài; vấn đề là bản ngã của bạn. Bạn phải được cứu
từ bản ngã. Vấn đề là bản thân con người; con người phải được cứu từ bản thân
con người. Kẻ thù không phải ở bên ngoài, kẻ thù là ở bên trong. Trong buông
xuôi bạn vứt bỏ kẻ thù đó. Trong chính việc vứt bỏ đó bóng tối biến mất. Không
phải là bạn buông xuôi và tôi sẽ làm điều gì đó; nhớ, không ai có thể làm được
bất kì cái gì. Khi bạn buông xuôi, trong chính việc buông xuôi đó, cái gì đó xảy
ra và ánh sáng bên trong của bạn bắt đầu trở nên rõ ràng. Mây biến mất.
Không
phải là qua việc buông xuôi của bạn tôi sẽ làm điều gì đó cho bạn đâu; bạn làm
điều gì đó cho bạn đấy, qua việc buông xuôi của bạn. Tôi chỉ là cái cớ, và điều
này phải được hiểu.
Đừng
buông xuôi theo tôi để không có trách nhiệm gì. Đừng buông xuôi theo tôi trong
tham lam. Đừng buông xuôi theo tôi mà nghĩ rằng bây giờ tôi sẽ làm cái gì đó.
Chẳng ai có thể làm được cái gì cho bạn cả: đó là tự do toàn bộ của bạn, không
ai có thể can thiệp được vào trong đó. Tôi chỉ là cái cớ. Không có tôi sẽ khó
cho bạn buông xuôi. Bằng không, bạn có thể đi và vẫn có thể buông xuôi theo bầu
trời; cùng điều đó sẽ xảy ra. Bạn có thể đi và bạn có thể buông xuôi theo tượng
Phật và cùng điều đó sẽ xảy ra. Bạn có thể đi tới giáo đường nơi không có tượng
nào và buông xuôi, và cùng điều đó sẽ xảy ra. Đây tất cả đều là cái cớ. Bất kì
cớ nào bạn thích nhất bạn đều có thể dùng - nhưng buông xuôi thì bạn phải làm.
Trong
buông xuôi bản ngã của bạn bị vứt bỏ. Bản ngã của bạn là dốt nát của bạn, bản
ngã của bạn là bóng tối của bạn, bản ngã của bạn là nhà tù của bạn.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment