Osho
- Thiền: Con đường nghịch lý (Tập 2)
Chương
5. Ngọn lửa trắng tinh tuyền của sự sống
Nobunaga,
một vị tướng tài ba của Nhật Bản đã quyết định mở cuộc tấn công địch thủ mặc dầu
quân số của ông chỉ bằng một phần mười lực lượng đối phương. Nobunaga tin rằng
mình sẽ chiến thắng, nhưng binh sĩ của ông ta đã tỏ ra rất hoài nghi.
Trên
đường ra trận ông ta dừng lại ở một đền thờ Thần đạo và bảo quân sĩ: "Sau
khi thăm viếng đền Thần ta sẽ bói một quẻ bằng đồng tiền. Nếu mặt đồng tiền có
hình người lật ngữa, chúng ta sẽ thắng trận này, ngược lại, chúng ta thất trận.
Không ai cải đổi được số trời."
Nobunaga
vào đền thờ và im lặng cầu nguyện. Xong ông ta đi ra và gieo đồng tiền. Mặt đồng
tiền có hình người lật ngữa. Binh sĩ dưới quyền đều nức lòng chiến đấu và ông
ta đã chiến thắng trận đánh một các hết sức dễ dàng.
"Thật
là không ai có thể cải đổi được số trời," vị võ quan hầu cận thốt lên cùng
ông sau khi trận đánh kết thúc.
"Không
hẵn thế," Nobunaga đưa đồng tiền cho người hầu cận xem: Cả hai mặt đồng tiền
đều giống nhau.
Đây
là một trong những trọng điểm của Thiền -tất cả đều do tâm tạo, rằng bất cứ cái
gì chúng ta nhận biết không là gì cả ngoài sự phóng chiếu của tâm. Rằng cái được
gọi là thực tại không hề có thực. Sở dĩ nó xuất hiện như thực là vì chúng ta
tin rằng nó có thực -như vậy chính sự tin tưởng đã tạo ra thực tại. Tận gốc rễ
của tất cả những gì mà chúng ta gọi là thực tại không là gì cả ngoài sự tin tưởng
của bạn. Nó là như thế bởi vì bạn tin như thế; nếu bạn không tin, nó sẽ không
còn như thế.
Thiền
cho rằng tâm là cỏi ta bà -sansar, và đồng thời cũng là niết bàn, nirvana. Tất
cả đều chỉ là trò chơi của tâm. Hãy nhớ điều này, Thiền cho rằng tất cả đều chỉ
là trò chơi của tâm -không có một miễn trừ nào. Ngay cả Thượng Đế cũng là một
trò chơi lớn nhất của tâm. Đây là điểm mà Thiền vượt trội lên trên hẵn các tôn
giáo khác.
Những
tôn giáo khác cũng cho rằng thế gian này là một trò chơi của tâm, ngoại trừ
moksha -niết bàn . Những tôn giáo khác cũng cho rằng thế giới vật chất này, thế
giới của tiền tài, quyền lực, danh vọng đều là trò chơi của tâm, ngoại trừ Thượng
Đế, thiên đàng, đức hạnh. Đây là điểm cho Thấy Thiền là một tôn giáo tối hậu.
Thiền khẳng định rằng tất cả đều chỉ là một trò chơi của tâm. "Tất cả"
là tất cả -bất cứ điều gì Thiền phát biểu đều mang ý nghĩa. Tâm bao gồm cả mọi
thứ mà bạn có thể nhận biết, có thể thực nghiệm, tất cả mọi chuyện khả thể.
Thế
thì có cách gì để nhận ra rằng thực tại chân thật không phải là một trò chơi của
tâm? Vâng, có một cách, đó là buông bỏ ngay cái tâm. Khi tâm được buông bỏ, thực
tại sẽ hiện bày. Khi tâm khăng khăng xác định sự hiện hữu, nó sẽ tiếp tục tạo
ra cái thực tại của riêng nó. Và qua cái tâm này, đây không phải là thực tại
chân thật của một tâm buông bỏ.
Đó
là lý do tại sao Thiền tuyệt đối im lặng về Thượng Đế. Không phải là vì không
có Thượng Đế -thế nhưng cái Thượng Đế mà chúng ta luôn nói đến sẽ vẫn chỉ là một
trò chơi của tâm, sẽ chỉ là cái vọng tưởng phóng chiếu của chính chúng ta.
Meera phóng chiếu ra Krishna, Theresa phóng chiếu ra Giêsu, Ramakrishna phóng
chiếu ra Mẹ Kali -nhưng đây chỉ toàn là những vọng tưởng phóng chiếu. Những
phóng chiếu đẹp đẽ. Hiển nhiên, khi Meera trông thấy Krishna đang hiện ra thổi
sáo, đó là một giấc mộng tuyệt vời -thế nhưng đối với Thiền, đó vẫn chỉ là một
giấc mơ. Đó vẫn chỉ là một ảo tưởng. Bạn có thể tô điểm thật nhiều lên đó để nó
có thể trở nên hiện thực hơn cả chính bạn. Nhưng cái thực tại này là do chính bạn
tạo dựng lên, do bạn hư cấu nên.
Meera
sẽ không hề trông thấy Chúa Giêsu, bà đã không trút hết vốn liếng đời mình vào
đó. Mẹ Theresa cũng sẽ không trông thấy Krishna, bà đã không đầu tư vào lãnh vực
này. Người Cơ Đốc sẽ vẫn tiếp tục trông thấy Chúa Giêsu và người Phật tử vẫn sẽ
tiếp tục trông thấy Đức Phật. Bất cứ cái gì mà bạn tin vào, bạn đều có thể
trông thấy nó hiện ra. Và nếu niềm tin của bạn mãnh liệt chừng nào, nó càng trở
nên hiện thực chừng nấy. Tuy nhiên cái thực tại mà bạn trông thấy đó chỉ là một
thực tại tương đối, một thực tại hư cấu. Sẽ không có sự khác biệt bao nhiêu giữa
nó và giấc mơ.
Mỗi
đêm bạn hư cấu nên một thực tại, và trong khi bạn đang nằm mơ, nó trông cứ giống
y như thật, rất chân thực. Rồi mỗi buổi sáng thức dậy bạn nhận ra rằng nó là hư
vọng -nhưng rồi bạn cứ tiếp tục đi vào giấc ngủ mỗi đêm, lại thấy cái thực
trong mộng. Cái tâm của bạn sẽ lại bày ra trò chơi mới.
Ngay
cả những giấc mơ phi lý vẫn xuất hiện y như thật, một điều khó có thể xảy ra,
khó tin tưởng được. Cái hòn đá bỗng dưng biến thành con chó ... rồi con chó bắt
đầu nói chuyện với bạn... thế nhưng trong mơ chúng vẫn xuất hiện y như thật. Luận
lý của bạn nằm ở chỗ nào? Lý lẽ ở đâu? Tất cả những kinh nghiệm về quá khứ của
bạn đã đi đâu rồi? Bạn lại bị gạt gẫm thêm một lần nữa.
Thiền
cho rằng những chuyện tương tự như thế vẫn tiếp tục xảy ra ngay cả khi bạn đang
thức. Cái được gọi là thức của bạn chưa phải là một sự tĩnh thức thật sự, vì
cơn mơ vẫn còn đang tiếp diễn. Bạn trông thấy một cô gái và cho rằng cô ta đẹp
tuyệt trần. Chẳng qua có thể là bạn đang phóng chiếu cái đẹp của bạn. Có thể là
bạn đang trông thấy những cái thực ra không hề có mặt ở đó. Đó là những gì mà Đức
Phật đã từng nói đến -bởi vì làm sao có thể tìm thấy cái đẹp ở trong thân xác
kia? Trong xương, trong thịt, trong máu mủ? Tất cả các loại bệnh hoạn đang ẩn nấp
ở trong thân xác đó. Và cái chết lởn vởn chung quanh ... thế mà bạn gọi là đẹp.
Bởi vì bạn tin như thế. Khi bạn tin, nó có mặt ở đó, khi niềm tin biến mất, tất
cả nét diễm kiều kia cũng mất theo.
Nhìn
kỹ đi. Bạn đang không ngừng sáng tạo ra một thế giới của riêng bạn. Chúng ta
đang sống trong những thế giới khác nhau vì chúng ta đang sống trong những cơn
mộng khác nhau, chúng ta đang sống trong những hệ thống niềm tin khác biệt. Một
người Ấn Độ giáo có một hệ thống niềm tin khác, thực tại đến với y theo cách riêng.
Một người Hồi giáo cũng giống y như vậy. Cái chân lý đối với một người Ấn giáo
có thể hoàn toàn phi lý đối với một người Hồi giáo, và ngược lại. Họ có thể là
láng giềng, bằng hữu với nhau, nhưng họ thuộc về những hệ thống niềm tin khác
biệt.
Như
thế, có cách nào để nhận ra chân lý? Vâng, có chứ. Thiền cho rằng: Hãy buông bỏ
tất cả các hệ thống niềm tin. Đó là lý do tại sao Krishnamurti cứ tiếp tục khẳng
định -buông bỏ tất cả các hệ thống niềm tin, rồi bạn có thể nhận ra chân lý. Thế
nhưng không có cách nào để nói rằng bạn sẽ nhận ra được cái gì ở đó, bởi vì ở
đó, cái biết và người biết đã không còn phân lìa, điều thực chứng và người thực
chứng đã là một.
Thế
nên, Thiền cho rằng, tam ma địa -samadhi- không hề là một kinh nghiệm. Thượng Đế,
giác ngộ
không
phải là những kinh nghiệm -bởi vì những kinh nghiệm chỉ xảy ra trong tâm thức,
còn những cái này vượt ra ngoài tâm. Nếu chúng là những chứng nghiệm, chúng vẫn
chỉ là bộ phận của niềm tin bạn.
Lắng
nghe điều tôi nói rồi bạn có thể khởi sự có được những kinh nghiệm về satori
-chứng ngộ. Tiếp tục lắng nghe tôi, bạn có thể hình thành nên một hệ thống niềm
tin -một cái máy phóng chiếu cực mạnh. Từng ngày một, lắng nghe rồi thiền quán,
lắng nghe rồi thiền quán, một sự việc biến thành một sự lập đi lập lại liên tục
trong tâm - tạo ra một đường rãnh, lối mòn, ngày càng trở nên sâu đậm hơn. Đến
một hôm bỗng dưng kinh nghiệm chứng ngộ xuất hiện. Tuy nhiên nếu đây là một
kinh nghiệm, nó không phải là một chứng ngộ thực sự. Nếu bạn có thể kinh nghiệm
về nó, có thể thấy nó xảy ra, đó không phải là thực sự chứng ngộ -bởi vì vẫn
còn có sự tách biệt giữa sự chứng ngộ và bạn, kẻ chứng ngộ. Bất cứ ở đâu khi vẫn
còn sự tách biệt giữa bạn và kinh nghiệm của bạn, cái chia cách bạn đó chính là
tâm.
Thế
nên Thượng Đế không thể là một kinh nghiệm, tam ma địa không thể là một kinh
nghiệm và chân lý không thể là một kinh nghiệm. Khi cái tâm biến mất, tất cả mọi
kinh nghiệm đều biến mất. Bỗng dưng thực tại xuất hiện -nhưng lúc đó bạn không
còn tách biệt ra khỏi nó để nhận biết nó. Bạn với nó là một.
Đây
là một câu chuyện ngụ ngôn khá hay ho. Trước khi thưởng thức nó, có một vài điều
cần phải được hiểu thấu đáo.
Thiền
sư Takan sắp lìa trần -ông là một vị đại Thiền sư rất được môn đệ yêu mến. Đồ
chúng đã thỉnh cầu ngài để lại cho họ một bài kệ. Trong truyền thống thiền môn,
một vị thiền sư khi từ giả cõi đời, thường lưu lại những lời nói sau cùng dưới
hình thức một bài kệ. Đó thường là một tác phẩm xuất thần, rất mực ý nghĩa. Cái
chết trở nên đẹp đẽ như một bài thơ, một lời chúc tụng, một khúc ca tuyệt vời.
Khi một vị Thiền sư sắp ra đi, khi ông ta nói lời từ giả với tất cả những người
quen biết, những người đã từng làm việc cùng nhau, những người đã được ông giáo
huấn -tất cả những môn đồ pháp quyến- ông ta để lại một di sản cuối cùng như một
bài ca. Có thể nó chỉ gồm hai câu, có thể bốn câu -chỉ là một bài hài cú nhỏ.
Nhưng đấy là món quà tặng quý giá của thầy.
Thế
nên họ thường lưu lại những bài kệ trước giờ lâm tử. Và đồ chúng thường thỉnh cầu
-khi họ thấy rằng vị thầy của mình sắp từ giả để ra đi, rằng, "Còn một việc
cuối cùng nữa, xin Thầy hãy ban cho chúng tôi một bài kệ." Cái chết như thế,
nên được kết thúc như một bài ca - đó là tất cả ý nghĩa. Cái chết không hề là một
chuyện buồn đau mà nên là một niềm vui. Và những vị Thiền sư đã hát lên những
khúc ca tuyệt vời. Những bài thi kệ này đều có tính cách tự phát bởi vì vị thầy
có thể không phải là một nhà thơ, chưa từng sáng tác một bài thơ bao giờ. Thế
nhưng đứng trước một sự kiện lớn lao như cái chết, mọi người đều trở thành một
nhà thơ, nếu bạn còn đủ tỉnh táo.
Đây
là một kinh nghiệm thật tuyệt vời. Kinh qua cái chết là kinh qua một sự thư giản
hoàn toàn, đi vào nỗi chết là đi vào sự an nghỉ không còn căng thẳng nữa. Tất cả
mọi chuyện đã bắt đầu trở nên thư giản, tất cả mọi chuyện bắt đầu được buông bỏ.
Ta đã sẵn sàng cho cuộc viễn du, chiếc thuyền đời đã cặp bến ... đến một nơi
chưa hề biết ... và bao nhiêu điều bí ẩn bao quanh. Như thế, ngay cả một người
cả đời chưa hề là một nhà thơ, chưa hề biết làm thơ cũng phải bật ra một lời gì
đó.
Thế
nên đồ chúng đã thỉnh cầu Thiền sư Takan để lại một bài kệ. Ngài đã từ chối.
Nhưng rồi trước sự khẩn khoản của môn đệ, ngài đã viết lên một chữ duy nhất,
yume -có nghĩa là "giấc mơ"- rồi qua đời. Đã có không biết bao nhiêu
bài kệ đã được viết lên trước giờ lâm tử, nhưng không có bài nào có thể so sánh
được với bài kệ một chữ của Thiền sư Takan: yume -giấc mơ. Sống và chết đều chỉ
là những giấc mơ: đó là nhận định cuối cùng của sư Takan. Rất mực dứt khoát. Đó
là điều mà các thánh nhân Ấn giáo luôn luôn nói đến, maya - ảo ảnh... Nó không
hề có ở đó, nó có ở đó là vì bạn muốn nó có mặt. Cái tâm rất mực sáng tạo, nó
là một nhà đạo diễn tài ba. Nó không ngừng dựng lên, tiếp tục dựng lên bất cứ
cái gì mà bạn muốn, nó tạo ra mọi chuyện trong tầm tay với của bạn. Bạn chỉ cần
đi vào giấc mơ thôi, thế là thực tại bắt đầu thay đổi chung quanh bạn.
Thế
nhưng tất cả đều chỉ là giấc mơ. Đời sống là giấc mơ, cái chết là giấc mơ, Thượng
Đế là giấc mơ. Tất cả đều là giấc mơ. Ngoại trừ một điều -cái ý thức mà trên đó
giấc mơ này được tạo dựng lên, vì nó mà giấc mơ này xảy ra.
Bạn
đi xem chiếu bóng và trông thấy một giấc mơ hư cấu được phóng chiếu lên màn ảnh.
Màn ảnh trống trơn, không có gì cả -chỉ có ánh đèn và bóng tối. Thế nhưng bạn
đã dính mắc vào, bị cuốn hút vào đó không rời. Đôi lúc bạn chảy nước mắt ra,
đôi lúc tim bạn đập loạn xạ. Có lúc bạn cười ngất, có lúc bạn cảm thấy rất mực
căng thẳng, nhưng cũng có lúc bạn rất thoải mái thư giản. Bạn biến chuyển theo
câu chuyện, bạn trở thành một bộ phận của câu chuyện. Và bạn biết rất rõ rằng
-ngầm hiểu rằng tất cả chỉ là một chuyện hư cấu. Thế nhưng bạn lại tiếp tục
quên đi. Bạn không hề nhớ rằng đó chỉ là một sản phẩm hư cấu -đã thế bạn còn
cho là cuốn phim này rất hay, hoàn toàn quên đi rằng đó chỉ là một cuốn phim. Một
cuốn phim hay là cuốn phim không tạo cho người xem bất cứ ấn tượng nào đó là
chuyện giả tạo. Người viết chuyện, người kể chuyện hay là người mà câu chuyện của
y khi được kể ra, giống y như là sự thật -nó làm cho bạn sống theo với câu chuyện.
Cuốn
phim tác động lên bạn. Nó làm bạn rung động, nó kéo bạn tham dự vào. Bạn cười
và khóc cùng với nó. Nó chẳng có vẻ gì là giả tạo cả -bằng không làm sao nó có
thể tác động lên bạn được? Nếu nó giả tạo, nó đã không làm bạn chảy nước mắt
ra. Bạn đã quên đi một sự thật, rằng đó chỉ là sự phóng chiếu.
Cái
tính hay quên này là cái mà chúng ta gọi là đời sống. Bạn đã trả tiền cho cuốn
phim này để xem những điều giả tạo biến thành sự thật. Cũng không thiếu những
người sẽ bỏ tiền ra để xem những thảm kịch kinh hoàng, những chuyện chẳng có gì
ngoài hành hạ, tra tấn. Họ đã bỏ tiền ra để xem phim, để bị tác động lôi cuốn
vào đó. Họ sống trong cái địa ngục đó vài giờ đồng hồ. Thế rồi họ nức nở khen
cuốn phim thật tuyệt vời, hoàn toàn giống như thật. Cùng với tỷ lệ cuốn phim
tác động lên họ bao nhiêu, cuốn phim càng thật bấy nhiêu. Còn nếu nó không tác
dụng lên bạn chút nào, nó sẽ luôn giả tạo.
Khi
bạn bị tác động, điều gì sẽ xảy đến? Bạn sẽ không còn là khán giả nữa, bạn trở
thành bộ phận của nó. Người ta bắt đầu đồng hoá mình với những tài tử trong
phim. Lần tới, khi đi xem chiếu bóng, hãy nhìn kỹ mà xem -bạn sẽ trở thành đồng
hoá với ai đó. Thành công của y sẽ là thành công của bạn, thất bại của y sẽ là
thất bại của bạn. Tình yêu của y sẽ là tình yêu của bạn, thảm kịch của y sẽ là
thảm kịch của bạn. Bạn sẽ cười khi y cười, bạn sẽ khóc khi y khóc -bạn trở nên
đồng hoá với một phần nào đó của cuốn phim. Nó trở thành chuyện đời của bạn.
Trong một vài khoảnh khắc, bạn lìa bỏ cuộc đời thực của bạn để hoà nhập vào cuộc
đời của những người xa lạ đang chuyển động trên màn ảnh.
Sau
ba giờ xem phim, lúc trở về nhà, bỗng dưng bạn nhớ ra rằng đây chỉ là một câu
chuyện hư cấu trên màn ảnh-chẳng có gì để phải thắc mắc lo âu. Bạn không cần phải
mang nỗi lo âu thắc mắc đó về nhà, bạn cũng không cần để cho nó phải làm bận
tâm bạn trong giấc ngủ. Nụ cười lại nở trên môi -Bạn bắt đầu đi ra khỏi nỗi ám ảnh
của cuốn phim. Thế nhưng trong suốt ba tiếng đồng hồ khi còn ở trong rạp chiếu
bóng, không những bạn chỉ ở trong rạp hát mà bạn còn ở ngay trong cuốn phim nữa.
Bạn
đã trở thành một bộ phận của nó. Bạn không còn là một khán giả, bạn đã là người
tham dự.
Lần
tới nếu đi xem phim, hãy lưu ý. Nếu bạn vẫn giữ mình ở vị trí của một khán giả,
bạn sẽ không hề bị cuốn phim tác động, bởi vì người khán giả sẽ tiếp tục biết rằng
đó chẳng là cái gì cả. Sẽ không có gì xảy ra ở trong đời sống thực. Thế nhưng bất
cứ khoảnh khắc nào khi bạn trở thành một kẻ tham dự, nó sẽ không còn là chuyện
không có gì mà trở thành mọi thứ. Ở đây bạn không còn tỉnh thức, trên màn hình
giấc mơ hư cấu trở thành hiện thực. Ở đây, khi bạn sực tỉnh trở lại và trên màn
hình giấc mơ hư cấu trở thành giấc mơ hư cấu trở lại.
Thế
nên câu hỏi nguyên vẹn được đặt ra là: Bạn đang làm gì trên thế gian này? Bạn
tham dự vào hay chỉ đóng vai một khán giả? Nếu bạn là người tham dự, bạn trở
thành giả và cuộc đời biến thành thực. Chính bạn là người mang thực tại vào thế
gian này và rồi thế giới này biến thành thực. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào bạn: Bạn
có thể thu hồi nó lại. Lúc đó bạn trở nên tỉnh giác, và rồi thế giới bắt đầu trở
nên hư ngụy. Thực tại của thế gian hoàn toàn tùy thuộc vào vị trí của bạn, bao
nhiêu phần bạn là người tham dự và bao nhiêu phần bạn là kẻ chứng nhân. Trong
những khoảnh khắc hiếm hoi của một chứng nhân đó, bạn sẽ thấy Ấn Độ giáo quả
tình rất đúng khi cho rằng thế gian này chỉ là mộng ảo -maya.
Takan
cũng rất đúng khi bảo rằng tất cả chỉ là giấc mộng, là bào ảnh nhấp nhô -sống
và chết. Lời cuối cùng của Takan cũng là lời đầu tiên -đây là toàn bộ của câu
chuyện.
Thế
nhưng chúng ta đã trút hết vốn liếng đời vào những hệ thống niềm tin của mình.
Bạn phải nhận thức rõ một điều -nếu bạn không bị dính mắc vào đó, bạn sẽ trở
nên tỉnh giác. Một người đang yêu một người -điều này có thể làm bạn cười. Tất
cả những kẻ yêu nhau trước mắt những người không yêu đều trông có vẻ lố bịch. Tất
cả những người đang yêu đều có vẻ ngây ngô, ngu xuẩn, điên điên. Đó là lý do tại
sao chúng ta nói rằng một người đã bị rơi vào lưới tình. Đã bị rơi vào -có
nghĩa là y không còn đứng thẳng nữa, sẽ không còn tỉnh táo trước những việc
mình đang làm. Đó cũng là lý do mà người ta gọi những người đang yêu là mù
quáng, bởi vì tình yêu là mù quáng. Điều đó đúng, dĩ nhiên là đối với những ai
không bị dính mắc vào. Thế nhưng đối với những kẻ đang yêu, đây không phải là một
cơn mộng ảo mà là một thực tại duy nhất đang hiện hữu. Tất cả những thực tại
khác đều biến mất, chỉ còn một thực tại này thôi.
Khi
hai kẻ đang yêu tay trong tay sánh bước cùng nhau, họ không còn sống trong cái
thế giới mà bạn đang sống.. Họ có thế giới của riêng họ, một thế giới cách biệt.
Thế nên quả là điều dễ hiễu khi thấy những người ngoại cuộc không thich những kẻ
đang yêu -bởi vì những người yêu nhau không sống trong cùng một thế giới với họ,
mà biệt lập riêng tư. Họ có một thứ ngôn ngữ riêng. Họ cảm thấy quá đủ; chỉ có
nhau trong đời là đủ rồi. Nếu cả cái thế giới này có tan biến đi, họ cũng không
cần quan tâm đến, không một mảy may. Mà không chừng thế giới này có vẻ như là một
chướng ngại đối với họ. Những kẻ yêu nhau muốn được để yên, không bị quấy rầy.
Họ đang đi vào một thực tại hoàn toàn khác biệt.
Nhưng
một khi tình yêu tan biến, ngay cả những kẻ đã từng yêu say đắm này cũng sẽ bật
cười về những ngày tháng cũ của mình. Họ sẽ thốt lên, "Ồ, tại sao ta lại
điên khùng dại dột như thế!" Vâng, đó là tất cả những gì mà các người lớn
tuổi thường nói -họ bảo rằng sao lúc trẻ họ lại có thể rồ dại đến như vậy. Điều
này không có nghĩa là bây giờ họ trở nên khôn ngoan hơn. Nếu họ được trẻ trở lại,
nếu có một phép mầu nào đó xảy ra biến họ trở lại tuổi thanh niên, rồi họ cũng
sẽ lại điên khùng dại dột như thế.
Thực
ra, bây giờ cái ông già này sẽ bắt đầu tìm đến với đền chùa, hoặc thánh đường Hồi
giáo, hoặc gurudwara, hay nhà thờ -bây giờ thì ông ta bắt đầu sống trong một
cơn mộng khác, cơn mộng tôn giáo. Bây giờ thì y nói chuyện với Krishna, vớí Phật,
với Chúa... Trước kia thì y trò chuyện với người tình yêu dấu của mình -có khi
cách xa nhau đến cả hàng ngàn dặm, nhưng vẫn không ngừng nói chuyện và tâm hồn
y luôn tràn ngập hình ảnh của nàng. Còn bây giờ thì y nghĩ về Krishna, về Chúa,
về Thượng Đế. Lại bắt đầu đi vào một cơn mộng khác.
Quả
là điều dễ dàng khi bỏ rơi một cơn mộng này để đi vào một cơn mộng khác. Nhưng
lại là một điều rất khó khăn khi buông bỏ hoàn toàn tất cả những giấc mộng -đó
là đặc điểm của Thiền. Thiền khẳng định: Thật là chuyện vô nghĩa khi thay đổi một
cơn mộng này bằng một cơn mộng khác. Bạn cứ tiếp tục xây đắp những cơn mộng mới,
nhưng bản chất vẫn y nguyên, không có gì thay đổi. Và nếu bạn mơ tưởng đến một
cách mãnh liệt, với tất cả niềm tin sâu sắc, không một chút hoài nghi, không khởi
dây nghi vấn, bạn có thể biến đổi giấc mơ thành sự thật.
Có
một trong những câu xưa nhất của Thánh kinh đã nói rằng: "Người ta suy niệm
cái gì, người ta trở thành cái đó." Vâng, chính bạn sáng tạo ra thế giới của
riêng mình và cũng tạo ra chính mình. Những ý tưởng biến thành những thực tại.
Tin tưởng một cách sâu sắc, những ý tưởng rồi sẽ trở thành những thực tại cụ thể
-một sự vật cụ thể không là gì khác hơn ngoài ý tưởng được kết tụ lại. Tất cả mọi
thực tại trong đời sống này thoạt tiên được phát khởi như là một ý tưởng.
Hãy
nhìn xem: Chiếc máy bay ban đầu chỉ là một ý nghĩ thoáng qua trong đầu óc của
ai đó. Có thể cái ý nghĩ này đã tồn tại mãi trong đầu óc của rất nhiều người
khác. Phải đợi đến cả hàng ngàn năm sau cái ý nghĩ này mới biến thành sự thật,
chuyện đó không thành vấn đề. Con người đã từng mơ ước được bay lượn như chim.
Từ thuở xa xưa, con người đã từng có ước mơ như thế -và cái ý tưởng này cứ luôn
luôn bền bỉ, cứ luôn luôn dai dẳng. Cho đến một ngày, ý tưởng đã biến thành sự
thực.
Tất
cả những phát minh khoa học không là gì khác hơn ngoài những giấc mơ dai dẳng của
nhân loại. Nếu bạn cứ tiếp tục, cứ khăng khăng tiếp tục -không ngừng thể nhập
vào giấc mơ đó hàng trăm ngàn lần, trút vào đó tất cả những năng lực của mình,
đầu tư vốn liếng đời mình vào đó, đến một ngày nó sẽ trở thành thực tại. Nó sẽ
không thể nào vuột khỏi tay bạn; điều cần thiết duy nhất là sự bền bỉ kiên tâm.
Đó
cũng là những gì mà nền vật lý hiện đại đã nói đến - ở một góc cạnh hoàn toàn
khác biệt. Nhà bác học Abert Einstein đã vô tình mang Thiền học vào ngành vật
lý đương đại. Ngành vật lý đương đại cho rằng vật chất và năng lượng có thể được
chuyển đổi. Những nhà tâm lý học luôn luôn khẳng định rằng tư tưởng có thể được
chuyển đổi thành những sự vật cụ thể, và tất cả những sự vật cụ thể vốn chỉ là
những ý tưởng. Một ý tưởng được kết tụ sẽ biến thành một sự vật cụ thể, nó là một
vật chất hoá. Cùng một ý niệm này, bây giờ ngành vật lý đương đại cho rằng vật
chất và năng lượng có thể được chuyển đổi. Ý tưởng là năng lượng, sự vật là vật
chất. Cái công thức vĩ đại của Einstein, E=mc2, đánh dấu một bước ngoặc cực kỳ
quan trọng. Bất cứ cái gì mà bạn gọi là vật chất không phải là vật chất, nó
cũng là tư tưởng như bất cứ những tư tưởng nào khác.
Eddington
được biết đã từng phát biểu: "Càng nhìn kỹ vào thực tại chừng nào, tôi
càng có cảm tưởng rẳng nó xuất hiện như là một ý tưởng hơn là một sụ vật cụ thể."
Và bây giờ trong giới khoa học hiện đang có những bàn cãi nổi cộm liên quan đến
khái niệm về những thực tại thay phiên. Hình học Euclid xây dựng lên một loại
hình thực tại. Hình học phi-Euclid xây dựng lên một loại hình thực tại khác,
hoàn toàn đối nghịch. Bây giờ người ta đang đề cập đến rất nhiều loại hình toán
học khác nhau, rất nhiều hệ thống luận lý khác nhau. Tất cả đều tùy thuộc vào
cách nhìn. Nếu bạn tin vào một hệ thống luận lý, bạn sẽ bắt gặp một thực tại dựng
nên bởi hệ thống này, nếu bạn không tin bạn sẽ không bao giờ gặp vì một lẽ đơn
giản là bạn không hề đi vào chiều kích đó.
Thế
nên thực tại không bao giờ có một, có rất nhiều thực tại khác nhau.
Và
không phải bạn đang sống trong một đơn vũ trụ mà trong một đa-vũ-trụ. Có rất
nhiều chuyện xảy ra hằng ngày, nếu nhìn kỹ rồi bạn sẽ thấy.
Một
đứa trẻ đang sống trong một thế giới khác biệt -ở đó, sự phân cách giữa thực và
giả chưa hề được khởi dậy. Có thể đó là lý do tại sao chúng ta đều hoài niệm về
tuổi thơ của mình với nỗi nhớ khôn nguôi. Tất cả chúng ta đều xem đó như là một
quảng thời gian tuyệt vời, khó tin, kỳ diệu. Tất cả những kỳ diệu đó là gì? Đó
là, không có một sự phân cách nào giữa thực tại và mộng mơ -bạn có thể trôi tuột
một cách dễ dàng từ cơn mơ này sang cơn mơ khác; không hề có bất cứ chướng ngại
nào.
Đứa
trẻ không hề gặp bất cứ vấn nạn nào vì nó không có những niềm tin cố định. Đó
là những niềm tin không vững chắc ... chưa có niềm tin nào trở thành một hiện
tượng ổn cố, chưa có niềm tin nào trở thành một sự kiện cụ thể. Tất cả như ở
trong thể lỏng, tuôn chảy -đứa trẻ và ý thức của nó cũng thế.
Nam
giới cũng sống trong một loại hình thực tại khác với nữ giới, bởi vì họ sống
trong một hệ thống suy tưởng, hệ thống niềm tin khác biệt. Thế giới của đàn ông
là thế giới của xông xáo, năng nổ; thế giới của phụ nữ là thế giới của tiếp
thu, cảm thụ. Tất cả những gì mà họ hành động, suy nghĩ, tin tưởng đều rất mực
khác biệt.
Khi
người đàn ông nghĩ đến phụ nữ, họ thường nghĩ đến tình yêu mà không hề nghĩ đến
hôn nhân. Khi người phụ nữ nghĩ về đàn ông, trước tiên họ nghĩ đến hôn nhân.
Tình yêu là thứ yếu, đời sống được đảm bảo là ưu tiên. Nàng sống trong một thế
giới khác biệt -điều này có thể thay đổi trong tương lai, tuy nhiên trong quá
khứ, vấn nạn duy nhất của người phụ nữ là làm thế nào để có được một đời sống
an toàn. Nàng rất mực ẻo lả, mỏng manh, yếu ớt, luôn luôn lo sợ. Tất cả thế giới
chung quanh đều do đàn ông xây dựng lên, nàng như là kẻ lạ mặt ở trong đó. Điều
cần thiết của nàng là sự an sinh. Thế nên khi yêu ai, cái ý niệm đầu tiên, cái
tư tưởng nhen nhúm đầu tiên là làm thế nào để có được một cuộc sống đảm bảo, an
toàn. Nàng hầu như không muốn có quan hệ tình dục với người đàn ông, trừ phi
sau khi đã thành hôn. Hôn nhân là chính, mọi chuyện khác rồi sẽ theo sau.
Đàn
ông ít quan tâm lắm đến chuyện hôn nhân, rất ít khi, hay thực ra họ không hề
quan tâm chút nào. Nếu phải chấp nhận hôn nhân, họ chỉ chấp nhận một cách miễn
cưỡng -bởi vì hôn nhân đồng nghĩa với trách nhiệm. Hôn nhân có nghĩa là câu
thúc, là bị cầm tù. Bây giờ thì bạn không còn được tự do la cà, ve vản những
người đàn bà khác. Thế nên đối với người đàn ông, hôn nhân chẳng khác gì một
nhà tù, còn đối với phụ nữ, hôn nhân là chỗ dựa an toàn, là mái ấm. Với phụ nữ,
hôn nhân đồng nghĩa với tổ ấm gia đình nhưng với đàn ông, đó là kiếp sống nô lệ.
Khác nhau hoàn toàn về niềm tin, đàn ông và phụ nữ hành động một cách hoàn toàn
khác biệt. Hệ quả là những xung đột niềm tin.
Một
người thanh niên cũng sống trong một thực tại thế giới khác với một người già.
Đối với người trẻ, cái chết hầu như không hiện hữu. Cái chết chưa hề là một
bóng đen che lấp hệ thống niềm tin của y; y sống tưởng như là không bao giờ chết.
Y ôm ấp rất nhiều hoài bảo về tương lai, y muốn làm nên những chuyện lấp biển
vá trời, như muốn chứng tỏ cho cả thế giới biết rằng: "Ta đang có mặt ở
đây. Cả thế giới nên biết là ta đã đi vào đời."
Một
cậu bé thỏ thẻ với mẹ, "Thế giới này đã đổi thay nhiều lắm." Bà mẹ rất
ngạc nhiên trước lời nhận xét này, vì cậu bé chỉ mới lên năm. Y đã trông thấy
gì trong cái thế giới này để cho rằng nó thay đổi khá nhiều? Bà liền hỏi con,
"Con muốn nói gì khi cho rằng thế giới này đã thay đổi khá nhiều? Mẹ có thấy
gì khác lạ đâu kể từ khi con sinh ra? Năm năm đâu có lâu lắc gì. Mà sao con biết?
Con chưa sống đủ lâu để có thể nhận xét một điều nhưthế."
Cậu
bé trả lời với mẹ, "Vâng, thế giới đã thay đổi nhiều lắm. Bởi vì bây giờ
đã có mặt con trong đó." Thế giới chắc chắn là không còn giống như cũ nữa
rồi. Và tất cả mọi người, lúc còn trẻ, đếu muốn chứng tỏ cái nhuệ khí hăm hở
vào đời của mình. Cái chết chưa là vấn đề, tất cả trước mắt chỉ là đời sống.
Nhưng
khi người thanh niên bước vào cái tuổi tri thiên mệnh, đời sống bắt đầu cạn kiệt.
Cái chết trở thành nỗi ám ảnh lớn -nó là bóng đen trùm phủ lên mọi thứ. Bây giờ
thì y không còn những khát vọng cháy bỏng nữa, bây giờ thì y không còn muốn chứng
tỏ điều gì nữa. Y biết chắc một điều là mình sẽ biến mất trên cõi đời này chỉ nội
trong vài ngày, vài tháng, hoặc vài năm tới -ngày ra đi càng lúc càng được rút
ngắn lại. Bây giờ còn thì giờ đâu nữa để mà chứng tỏ cái gì. Bây giờ y biết rằng
dù có làm bất cứ điều gì cũng chẳng chứng tỏ được gì, cũng chẳng ai buồn quan
tâm.
Y
đã sống trọn cuộc đời mình, và bây giờ mọi phiền não đã ổn cố. Y đã không còn
những khát khao tham vọng. Đôi mắt đã không còn đầy ắp những giấc mơ thuở nào
-đôi mắt đã tràn ngập sợ hãi, đôi mắt đã tràn đầy nỗi chết. Bước chân của tử thần
như lảng vảng quanh đây. Cho dù muốn chạy y cũng không thể nào chạy nỗi. Không
bao giờ -đi lên cầu thang cũng đã đủ làm y thấy mệt, đã thở hỗn hễn rồi. Y đâu
còn thích thú thưởng thức những món ăn mà trước đây mình yêu thích, đã không
còn cả thú yêu đương. Mọi chuyện hầu như tan biến dần... từng tí một, y đang bước
vào nỗi chết. Và tử thần đang đứng đợi trước hiên nhà, y cần phải thanh thỏa với
cái chết.
Bây
giờ thì y nghĩ về Thượng Đế. Bây giờ lần đầu tiên trong đời, những đền chùa bắt
đầu trở nên có ý nghĩa đối với y. Nhiều lần y đi ngang qua những đền chùa đó,
nhưng chẳng bao giờ để mắt đến.
Điều
mà tôi đang muốn nói với bạn là, chúng ta đang đi trên những lối mòn khác nhau.
Con đường đó y đã bao nhiêu lần đi ngang qua, ngôi chùa luôn ở đó -thế nhưng nó
như chưa hề có mặt. Đối với y, nó không hề có mặt ở đó, nó không hề là một phần
trong thực tại đời sống của mình. Những tiếng chuông chùa chưa một lần vang vọng,
vì tai y đầy ắp bởi bao nhiêu thứ âm thanh khác. Âm thanh của đồng tiền rất mực
quyến rũ, y còn đang mãi mê chạy theo những tham vọng và cái ngã của mình, bận
tâm đến việc tranh dành quyền lực -ngôi chùa đó chưa hề hiện hữu bao giờ. Đó là
một thực tại cách biệt xa vời -mà có hay không cũng chẳng có gì quan trọng.
Nhưng
bây giờ bỗng dưng tiền bạc, quyền lực đã không còn ý nghĩa. Y đã không còn chạy
theo quyền lực và danh vọng nữa. Bỗng dưng ngôi chùa hiện ra, với đủ mọi góc cạnh.
Rạp hát biến mất, đàn bà biến mất, tiền bạc biến mất, những bạn bè, hội nhóm -tất
cả đều biến mất. Bỗng dưng ngôi chùa hiện ra ở đó, như một cõi thực. Cái chết
đã trở thành một bộ phận trong hệ thống tín ngưỡng của y, thực tại đời sống của
y đã thay đổi.
Nhà
Thiền cho rằng đây là cách mà người đời cứ tiếp tục chạy lòng vòng từ một hệ thống
niềm tin này chuyển sang một hệ thống niềm tin khác. Nay thay đổi chỗ này một
ít, mai thay đổi chỗ kia một ít -thế nhưng cái hệ thống niềm tin cứ mãi vây chặt
lấy chúng ta. Thế thì có cách nào để ta có thể buông bỏ tất cả những hệ thống
niềm tin? Vâng, dĩ nhiên là có cách -và chỉ khi nào ta buông bỏ tất cả các hệ
thống niềm tin, lúc đó ta mới có thể biết được chân lý là gì. Thế nên cái được
gọi là thực tại không phải là thực tại, cái được gọi là thực tại chẳng qua chỉ
là một cách gọi tương đối của thế gian. Chân lý không thể nhận thức được bởi bất
cứ hệ thống niềm tin nào -cái hệ thống niềm tin của bạn đã làm ô nhiễm nó, đã
xâm nhập vào và làm biến chất nó.
Ta
chỉ có thể đến được với thực tại như một kẻ khỏa thân, không xiêm y, mình trần
thân trụi. Không giáo điều, học thuyết. Đó là lý do tại sao mà Thiền rất mực chống
đối kinh điển, học thuyết. Chống lại cả lề thói suy nghĩ. Đừng mang cái tâm thức
sẵn có của bạn để đi tìm thực tại, chân lý. Bằng không bạn cũng sẽ tìm thấy một
cái gì đó mà thực ra nó không hề hiện hữu. Bạn sẽ tìm ra một cái gì đó -vì nếu
bạn muốn thấy nó bạn sẽ tìm ra. Nếu bạn tin, bạn sẽ tìm thấy -nó còn đẹp đẽ tuyệt
vời nữa là khác. Bởi vì bạn sẽ tạo ra nó, không khó khăn gì. Cái tâm của bạn
luôn vẽ ra đủ chuyện: Hãy cảnh giác với cái tâm này.
Thế
cho nên, không phải chỉ là khoa vật lý đương đại mà còn là toàn bộ triết lý đứng
đằng sau khoa thôi miên học, trải qua thời đại kể từ Mesmer cho đến Coué. Đây
là toàn bộ triết lý của thôi miên, thôi miên thuật: Cứ tin vào nó, rồi nó sẽ
như thế. Coué đã từng đưa ra lời khuyên cho bệnh nhân của mình: "Hãy tin rằng
tình trạng của bạn đang được cải thiện từng ngày, hãy tin là sức khoẻ của bạn ngày
càng khả quan hơn. Hãy tin như thế." Và nếu bạn tin mạnh mẽ như thế, tin
không một chút hoài nghi, điều bạn tin tưởng rồi sẽ xảy đến. Căn bệnh có thể sẽ
biến mất -bạn có thể làm cho nó biến mất. Nếu bạn tin tưởng một cách vững chắc,
căn bệnh rồi sẽ biến mất. Còn nếu như bạn khởi sự tin rằng bạn đang bệnh nặng,
căn bệnh sẽ ở lại với bạn, tăng trưởng thêm.
Đây
là giá trị tuyệt vời của khoa thôi miên, bởi vì con người sống trong thế giới
tâm thức của họ. Và bởi vì họ sống trong thế giới do tâm tạo, thôi miên trở
thành rất mực hữu ích. Nó có thể mang đến cho bạn những niềm tin tốt hơn. Nó
không thể mang đến cho bạn chân lý, sự thực -hãy nhớ như vậy- nhưng nó có thể
mang đến cho bạn những giấc mơ tốt đẹp. Tốt hơn là tin rằng bạn đang khoẻ mạnh
hơn là tin rằng mình đang bệnh hoạn. Nếu bạn tin rằng mình đanh bệnh thì rồi bạn
sẽ bệnh thôi.
Lúc
tôi còn là một sinh viên đại học, một trong những vị giáo sư của tôi là người cực
kỳ chống đối khoa thôi miên. Còn tôi thì luôn luôn yêu thích môn này -bởi vì
trong cả hai cách thế, khoa thôi miên đều rất mực quan trọng. Thứ nhất, nó có
thể giúp bạn sống trong một hệ thống niềm tín tốt hơn. Thứ hai, nó có thể giúp
bạn cảnh giác rằng tất cả chỉ là những hệ thống niềm tin -sức khoẻ và bệnh tật,
mạnh và yếu, hạnh phúc và bất hạnh, thiên đàng và địa ngục, tất cả chỉ là những
hệ thống niềm tin. Chính khoa thôi miên cũng đã chứng tỏ cho bạn thấy điều đó.
Thế
nên khoa thôi miên, một mặt có thể giúp bạn sống trong những giấc mơ tốt đẹp
hơn, mặt khác nó cũng có thể giúp bạn cảnh giác rằng tất cả đều chỉ là những
cơn mộng. Từ đó bạn có thể bước thêm một bước đi vào một cảnh giới thôi miên
cao hơn -và cảnh giới này trở thành giải-trừ-thôi-miên. Thôi miên cao hơn có
nghĩa là buông bỏ thôi miên. Hãy nhận thức rõ -rằng bạn có thể thay đổi niềm
tin của bạn, có thể thay đổi thực tại của bạn, rồi một ngày nào đó bạn sẽ nhận
ra rằng, bây giờ bạn có thể buông bỏ tất cả mọi niềm tin -và cuối cùng, tất cả
những thực tại tương đối đều biến mất. Khoa thôi miên đã không cất bước đi tối
hậu của giải-trừ-thôi-miên. Trong thực tế, những nhà thôi miên thuật cho rằng
giải-trừ-thôi-miên là một cái gì đó chống lại khoa học thôi miên của họ. Thực
ra không phải thế. Đây là thành tựu cuối cùng của nó. Khởi đi từ thôi miên để
tiến đên giải-trừ-thôi-miên.
Thiền
là một giải-trừ-thôi-miên. Tất cả các tôn giáo khác đều là thôi miên thuật, thế
nên tất cả các tôn giáo khác chỉ mới đi những bước khởi đầu. Thiền đã đạt đến cứu
cánh tối hậu. Không có một tôn giáo nào khác sẽ thỏa mãn bạn; nó sẽ chỉ cho bạn
một hệ thống niềm tin tốt hơn, nó chỉ giúp bạn hạnh phúc hơn. Và bạn có thể thấy
rõ điều này -tại Mỹ người ta có tất cả, nhưng những điều này không giúp người
ta có hạnh phúc. Họ đã không có được một hệ thống thôi miên tốt. Tại Ấn Độ, người
ta không có gì cả, nhưng người ta vẫn hạnh phúc. Họ đã nhận được một hình thái
thôi miên tốt hơn -sự khác nhau chỉ là vấn đề thôi miên ru ngủ. Nước Mỹ đã có đủ
tất cả mọi thứ để có thể sống hạnh phúc, nhưng mất đi cái đầu mối liên kết, một
loại thôi miên tốt hơn -thực ra đó là sự sai lầm trong thái độ sống. Thế nên có
thể bạn đã có tất cả. Một xã hội giàu mạnh, khoa học giúp bạn một ngàn lẻ một
phương tiện tân tiến để sống. Thế nhưng vẫn khốn khổ. Bởi vì đã thiếu đi một đầu
mối -và rồi khoa học cũng chẳng giúp ích gì cho bạn cả, trừ phi bạn thay đổi hệ
thống niềm tin của mình.
Ở
Ấn Độ bạn có thể bắt gặp một người ăn mày nhưng y hạnh phúc không kém một vị
hoàng đế. Y chẳng có gì để sống hạnh phúc, ngoại trừ một điều -y có cả một niềm
tin ru ngủ. Y tin rằng đây là sự an bài của Thượng Đế. "Đây là điều mà Thượng
Đế muốn tôi phải như thế và Ngài sẽ lo liệu cho tôi. Đây là phần số của
tôi." Y tự mình hoà giải với số mệnh. Y nghĩ rằng, "Tôi đã tạo nên những
ác nghiệp trong quá khứ, thế nên bây giờ tôi là tên ăn mày. Không tạo ra những
ác nghiệp nữa, kiếp tới tôi sẽ là một vị hoàng đế." Chấm hết. Cực kỳ đơn
giản. Chỉ cần một việc duy nhất, bây giờ y sẽ không tạo ra những ác nghiệp nữa.
Quá khứ là quá khứ -bạn đâu có thể làm gì khác hơn? Và bởi vì bạn không thể nào
cải sửa được, thế thì tại sao phải chìm đắm trong khổ đau một cách vô ích như
thế?
Khổ
đau chỉ hiện hữu khi nào bạn nghĩ rằng bạn có thể làm một cái gì đó đối với nó.
Bạn phủ nhận nó, bạn không chấp nhận thực tại trước mắt. Tại Ấn Độ người ta chấp
nhận -người ta tự hoà giải mình với số mệnh, thế là người ta sống hạnh phúc.
Người ta không có gì để hạnh phúc cả -chỉ là niềm tin, một hệ thống niềm tin. Họ
có một hệ thống niềm tin tốt hơn cái kiểu cách sống của người Mỹ.
Kiểu
cách sống của người Mỹ bắt nguồn ở chỗ không có được một sự thôi miên tốt, rằng
bạn không thể sống hạnh phúc -gốc rễ sâu xa là ở chỗ này. Bạn không thể nào hạnh
phúc nếu bất cứ ai khác có một chiếc xe đẹp hơn xe bạn -làm sao bạn có thể hạnh
phúc được? Làm sao bạn có thể hạnh phúc được nếu ai đó có căn nhà to hơn căn
nhà của bạn. Làm sao bạn có thể hạnh phúc dược? -khi ai đó đang là chủ tịch,
giám đốc mà không phải là bạn. Làm sao bạn có thể hạnh phúc dược? -khi ai đó
đang kết hôn với một cô gái tuyệt trần mà không phải bạn. Làm sao bạn có thể hạnh
phúc dược? Thế nên bạn không bao giờ cảm thấy đủ về bất cứ những gì mà bạn đang
có, bởi vì những người khác có vẻ như đang sống trong lạc thú, sung sướng hơn bạn
-ở đó đời sống mê ly hơn. Vườn cỏ nhà hàng xóm luôn luôn xanh hơn vườn nhà bạn
-bạn cứ mãi sống trong sự so sánh.
Ở
phương Đông, tất cả những gì mà bạn có trong tay đều là tặng vật của Đấng Tối
Cao. Đây là những gì mà ngài muốn bạn đón nhận: đón nhận với tất cả lòng trân
trọng biết ơn. Không có sự tranh đua, không có sự so sánh với tha nhân. Chỉ là
một đơn thuần chấp nhận. Hệ thống niềm tin này tạo nên một thái độ sống lành mạnh
hơn. Thôi miên học vì thế có thể dạy cho bạn làm cách nào để có một thái độ sống
lành mạnh hơn, tích cực hơn, làm thể nào để có thể mê đắm trong những niềm tin
tích cực -bởi vì người đời đang đắm say trong những niềm tin tiêu cực. Đó là
công việc mà những tôn giáo khác đang làm; nhưng chỉ mới làm nửa vời. Cũng tốt
thôi -bởi vì thà là có một niềm tin tích cực hơn là một niềm tin tiêu cực. Thay
vì tạo ra những khổ đau vì niềm tin sai lầm, tốt hơn là tạo ra hoan lạc với niềm
tin tích cực.
Tuy
nhiên hãy nhớ cho, Thiền bảo rằng, cả hai đều chỉ là những niềm tin. Khổ đau
hay hạnh phúc đều do tâm tạo. Tất cả chỉ là hư vọng. Tất cả không phải là thực
tại chân thực.
Có
một trạng thái thứ ba của con người mà ở đó tất cả mọi loại niềm tin đều được
buông bỏ -tiêu cực cũng như tích cực, tất cả, toàn bộ. Khi tất cả mọi niềm tin
đều được buông bỏ, lúc đó chân lý hiện bày. Trong cái thực tại này, không có khổ
đau cũng không có hạnh phúc. Khổ đau phát xuất từ một hệ thống niềm tin nào đó,
và hạnh phút phát xuất từ một hệ thống niềm tin đối nghịch. Một khi bạn buông bỏ
hết tất cả mọi hệ thống niềm tin, cái còn lại là một như thị thuần khiết. Không
còn hạnh phúc, không còn bất hạnh. Không còn thiên đường, không còn địa ngục.
Thiên
đường chỉ là niềm tin, địa ngục cũng thế. Và có khả năng là những người tin rằng
nếu phạm tội rồi mình sẽ đi vào địa ngục. Có tất cả mọi khả năng tình huống như
thế -vì con người đang tiếp tay tạo ra nó. Tin tưởng vào nó và người ta sẽ tạo
ra nó. Bạn có nhận thấy điều ấy không? Có hôm bạn đi ngủ với tâm hồn đầy lo âu,
phiền não, bồn chồn -đêm đó chắc chắn là bạn sẽ gặp những cơn ác mộng. Bạn thấy
mình đang bị tra tấn, đang bị tống vào trong những trại tập trung của Adolf
Hitler, bị mật vụ hành hạ, giết chóc. Hoặc bạn nằm thấy mình bị liệng xuống từ
trên núi cao, những tảng đá đang rơi xuống ngực mình... tất cả đều do bạn tạo
ra.
Đi
vào giấc ngủ với những ý tưởng tốt đẹp, những ước mơ, và rồi bạn sẽ gặp những
giấc mộng lành. Bạn tạo ra những giấc mơ của chính mình. Thiên đường và địa ngục
đều là những hiện tượng giới do con người tạo dựng. Một người tin rằng mình là
kẻ tội lỗi, y sẽ đi vào địa ngục. Một người tin rằng mình thánh thiện, suốt đời
không hề làm hại ai, y sẽ lên thiên đường.
Thế
nhưng Thiền cho rằng cả hai đều chỉ là những hệ thống niềm tin. Cả hai đều do bạn
tạo dựng ra, cả hai đều hư vọng. Nếu bạn bị bắt buộc phải chọn lựa giữa hai điều
hư ngụy, tốt hơn là chọn cái tích cực hơn là cái tiêu cực. Đó là bước đầu tiên
của thôi miên -và khoa thôi miên vẫn còn nấn ná kéo dài chung quanh bước đầu
tiên này. Nó cần thêm một chút hiểu biết, một chút tuệ giác. Thôi miên đang cần
đến một cơn mưa Thiền.
Nếu
thôi miên được tưới tẩm bằng cơn mưa này, nó sẽ có đủ can đảm để bước thêm một
bước khác, một bước xa hơn, bước đi vào giải-trừ-thôi-miên. Thế nên việc trướctiên
là giúp cho con người thay đổi những hệ thống niềm tin của họ. Đó là những gì
mà Santosh đang tiếp tục thực hiện ở đây -anh ta đang nỗ lực kéo bạn ra khỏi
cái thế giới tiêu cực của bạn để đưa vào cái thế giới tích cực. Và một khi anh
ta kéo bạn ra được rồi, tôi sẽ đẩy bạn ra khỏi cái thế giới tích cực này luôn.
Thế là bất cứ những gì mà Santosh thực hiện, tôi tiếp tục vô hiệu hoá -Tôi bắt
buộc phải làm như thế.
Hãy
nhớ rằng, thật là điều dễ dàng khi kéo bạn ra khỏi cái tích cực hơn là cái tiêu
cực. Đó là điều cần được nhận thức rõ. Con người thường có thói quen bám víu
vào khổ đau nhiều hơn. Con người đã được huấn luyện để nhận chịu khốn khổ từ
lâu đời nên họ cứ bám chặt mãi lấy nỗi khổ đau. Cũng còn có một lý do khác:
Trong khổ đau cái ngã có mặt. Thế là bạn cứ tiếp tục bám chặt vào đó nhiều hơn
bởi vì khổ đau cho bạn cơ hội để hiện hữu. Khi bạn ở trong tận cùng khốn khổ,
cái ngã chắc chắn sẽ có mặt ở đó. Khi bạn hạnh phúc, cái ngã sẽ nghỉ xả hơi,
thư giản.
Con
người sẵn sàng bước ra khỏi nỗi hạnh phúc dễ dàng hơn là sẵn sàng để bước ra khỏi
khổ đau. Điều này có vẻ lạ thường, thế nhưng tôi đã làm việc với hàng ngàn người
và đã quan sát kỹ. Một người hạnh phúc sẵn sàng buông bỏ niềm tin của mình một
cách dễ dàng, thoải mái; một người bất hạnh thì trái lại, rất khó khăn. Người bất
hạnh đã không còn lại gì cả ngoài nỗi khổ đau, thế nên y cứ mãi bám chặt vào. Y
sẽ than van, "Nếu tôi mất đi nỗi khổ đau này thì rồi sẽ còn lại gì? Ngay cả
khổ đau cũng bỏ tôi mà đi! Ít nhất nó cũng đã cùng tôi gắn bó thân quen. Tôi đã
sống với nó khá lâu, đã trở thành thân thiết."
Con
người hạnh phúc sẵn sàng vì nhiều lý do. Thứ nhất, y tin rằng có thể có những nỗi
hạnh phúc lớn hơn đang ở trong tầm tay. Con người bất hạnh thì không bao giờ
suy nghĩ như thế. Y nghĩ rằng, "Nếu ta đánh mất niềm bất hạnh này, có thể
ta sẽ rơi vào một nỗi bất hạnh khác cay độc hơn." Con người bất hạnh rất mực
tiêu cực, bi quan. Y chỉ khăng khăng tin tưởng một điều rằng, cuộc sống không
bao giờ mang đến bất cứ niềm vui nào. Thế nên bất cứ cái gì đang có, y cứ bám
chặt vào, không muốn bị mất đi -nếu không, biết đâu y có thể càng gặp bất hạnh
hơn nữa. Và nỗi bất hạnh mới càng tệ hại hơn so với nỗi bất hạnh cũ. Với nỗi bất
hạnh cũ, y đã điều chỉnh và đã quen rồi, bây giờ với nỗi bất hạnh mới, y lại phải
điều chỉnh và làm quen trở lại.
Con
người hạnh phúc bao giờ cũng cảm thấy lạc quan. Y đã từng nếm được mùi vị hạnh
phúc, y sẽ càng tin tưởng vào nó nhiều hơn. Thế nên y không ngần ngại để thử -để
bước vào một cuộc phiêu lưu mới. Y có thể đi một chút xa hơn vượt ra khỏi giới
hạn hiểu biết, để kiếm tìm -"Có thể có nhiểu hạnh phúc hơn ở nơi chốn ấy.
Có thể vẫn còn một tầng bậc ý thức cao hơn mà ta chưa vươn tới."
Đó
là lý do mà tôi thường cho rằng hễ bất cứ lúc nào một quốc gia đắm chìm trong
khổ nạn, nó thường đánh mất mối liên hệ gắn bó với tôn giáo, tín ngưỡng. Ngược
lại một quốc gia sống trong an lạc hạnh phúc, tôn giáo, tín ngưỡng thường được
ưa chuộng nhiều hơn. Những người hạnh phúc có thể trở thành những con người tín
ngưỡng dễ dàng hơn là những kẻ bất hạnh. Những kẻ bất hạnh thường trở thành cộng
sản hay phát xít. Người hạnh phúc dễ dàng vươn tới những cảnh giới cao hơn -họ
có nhiều tự do, nhiều nghị lực và sôi nổi hơn. Và nhất là có niềm tin hơn. Họ
có thể tin vào đời sống -đời sống đã ban cho họ nhiều tặng vật, và có thể sẽ
còn nhiều hơn nữa.
Toàn
bộ khoa học thôi miên tựu trung có thể gói gọn lại như thế này, rằng chúng ta tạo
nên cuộc sống của chính mình phù hợp với hệ thống niềm tin của chúng ta. Thế
nên nếu bạn muốn biết chân lý, bạn phải buông bỏ hoàn toàn mọi niềm tin -tích cực,
tiêu cực, tất cả, toàn bộ.
Cứ
tiếp tục quan sát không ngừng cách thế mà bạn đang ngắm nhìn mọi vật. Bạn sẽ thấy
rằng mỗi cái nhìn của bạn đều hàm chứa một loại niềm tin nào đó đang ẩn dấu ở đằng
sau. Mỗi cái nhìn đều là một sự biểu hiện của một hệ thống niềm tin. Quan sát kỹ
đi. Bất cứ điều gì bạn nói, bất cứ cái gi bạn trông, bất cứ chuyện gì bạn lý giải,
cứ tiếp tục lặng lẽ quan sát, bạn sẽ thấy những hệ thống niềm tin của bạn được
phản chiếu khắp mọi nơi như thế nào.
"Con
chim trên đôi cánh," một nhà thơ phát biểu như thế. "Chuyện hoàn toàn
phi lý," nhà luận lý phản đối, đúng ra phải là "Đôi cánh trên con
chim".
Tất
cả đều tùy thuộc vào cách thế mà bạn nhìn đời sống. Nhà thơ có thể nói,
"Con chim trên đôi cánh." Thế nhưng dưới mắt nhà luận lý, ông ta có một
phương cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt. Ông ta không thể nào chấp nhận chuyện
này -chuyện hoàn toàn phi lý. "Đôi cánh trên con chim" -như vậy mới
phù hợp với luận lý, với thực tế hơn, gần gũi với cái thực tại mà nhà luận lý
đang sống hơn.
Roshi
Taji, một vị đại thiền sư, sắp viên tịch. Các cao đồ của ngài tụ tập ở chung
quanh giường bệnh. Một người chợt nhớ ra là thầy của mình đặc biệt ưa thích một
loại bánh ngọt nên đã bỏ ra suốt nửa ngày rảo tìm trong các tiệm bánh tại
Tokyo, và bây giờ đem dâng lên thầy. Với một nụ cười héo hắt, vị thiền sư đang
hấp hối đón nhận một miếng bánh và trệu trạo nhai một cách chậm rãi. Khi thấy
thiền sư đang yếu dần, các môn đồ nghiêng sát vào thầy và thỉnh cầu ngài có thể
ban cho họ một bài kệ hay không.
"Vâng.
Ta sẽ," vị thiền sư trả lời.
Các
đệ tử nghiêng sát vào hơn, thiết tha, "Xin Thầy vui lòng ban cho chúng
con."
"Bài
kệ của ta. Cái bánh này ngon tuyệt!" Xong, ngài qua đời.
Một
vị Thiền sư không nói về Thượng Đế, không nói về cái chết, không nói về cảnh giới
bên kia. Ông ta nói về những gì xảy ra ngay lúc ấy. Thiền sư Taji đang trệu trạo
nhai một miếng bánh; đó chính là thực tại. Trong khoảnh khắc đó, cái này mới là
thực tại chân thực. Những gì xảy ra ngay lúc ấy mới là thực tại chân thực. Câu
trả lời của ngài quả tình là rất mực bất ngờ: "Bài kệ của ta. Cái bánh này
ngon tuyệt!" -nhưng lại biểu thị cái khoảnh khắc đó một cách tuyệt vời. Bạn
không thể nào tưởng tượng ra một người theo Ramakrishna, một người Cơ Đốc giáo,
hay một người Hồi giáo có thể phát biểu như thế -không thể nào. Duy chỉ có một
vị Thiền sư...
Trong
khoảnh khắc này đây, cái hương vị tuyệt hảo của miếng bánh trong miệng vị Thiền
sư là Thượng Đế. Trong khoảnh khắc này đây, nó chính là Chân Lý. Cái chân lý của
khoảnh khắc này là tất cả những gì đang có mặt ở đó. Ngay cả khi đang hấp hối,
một vị Thiền sư cũng sẽ không mang ra bất cứ hệ thông niềm tin nào, cũng sẽ
không mang ra cái tâm chấp ngã của mình. Ông ta luôn an lạc trong thực tại chân
thực trước bất cứ cái gì đang hiện hữu.
Tôi
đang đọc về một giấc mộng tuyệt vời của J. B. Priestly. Xin hãy lắng nghe và
quán chiếu.
"Tôi
mơ thấy mình đang đứng đơn độc trên chóp đỉnh của một ngọn tháp cao ngất trời,
dõi mắt nhìn xuống dưới là vô số chim chóc, tất cả đang bay lượn về cùng một hướng.
Mọi loại chim hầu như đều đủ mặt, tất cả các loại chim trên thế gian này. Trong
tầm nhìn bao quát, đây là cả một dãi thiên hà rộng lớn của những loài chim.
Bây
giờ trong một cung cách đầy bí ần, tốc độ bỗng dưng được thay đổi, vòng quay thời
gian chạy nhanh hơn khiến cho tôi nhìn thấy được cả hàng thế hệ chim chóc diễn
ra trước mắt, trông thấy chúng đập vỡ những chiếc vỏ của mình, tung cánh vào đời,
rồi già yếu, chập choạng bay, và chết. Từng đôi cánh phát triển lên chỉ để tan
rã, những thể xác đang mượt mà sinh lực chỉ trong chớp mắt đã rỉ máu, quéo quắt,
héo hon; và rồi cái chết ùa đến khắp nơi trong từng giây phút. Thế thì tất cả mọi
phấn đấu mù quáng hướng đến đời sống này, cái thao thiết được vận dụng đôi cánh
này, tất cả cái nỗ lực sinh học lớn lao vô nghĩa này, có lợi ích gì đâu? Khi
tôi đang chăm chú nhìn xuống, hầu như chỉ mới nhìn thoáng qua cái lịch sử nhỏ
bé hèn mọn của từng tạo vật, tôi không khỏi cảm thấy mình đau buồn đến tận tâm
can. Tốt nhất là nếu không có một ai trong bọn chúng, không có một ai trong
chúng ta được sinh ra, tốt nhất là nếu nỗ lực này chấm dứt vĩnh viễn.
Tôi
vẫn đứng ở trên cái tháp đó, một mình đơn độc, buồn rầu chán nản, nhưng rồi cái
tốc độ lại thay đổi một lần nữa và vòng quay thời gian trôi qua càng nhanh hơn,
nhanh đến độ bây giờ không còn phân biệt được sự chuyển động của đàn chim, tất
cả giống như một thảo nguyên bao la được trồng cấy với những lông chim. Tuy
nhiên dọc theo thảo nguyên này, bây giờ là một ngọn lửa trắng lung linh, chập
chờn, run rẩy hối hả chạy xuyên suốt qua những thể xác kia: ngay khi vừa trông
thấy nó tôi đã biết ngay rằng ngọn lửa này chính là sự sống, là bản chất uyên
nguyên của một sinh thể.
Thế
rồi ý thức bừng sáng trong tôi, bùng vỡ như trong một trạng thái xuất thần, rằng
chẳng còn gì quan trọng nữa, chẳng bao giờ có gì quan trọng nữa, bởi vì không
có bất cứ cái gì khác là chân thực ngoại trừ cái ngọn lửa run rẩy, hối hả của sự
sống này. Chim chóc, con người hay tất cả tạo vật chưa hề được định hình, chưa
hề có bản sắc, tất cả chẳng là gì cả cho đến khi nào ngọn lửa của sự sống chạy
xuyên suốt qua chúng. Nó không để lại bất cứ cái gì đàng sau để thương tiếc
than khóc; những gì mà tôi đã từng cho là thảm kịch hoàn toàn chỉ là sự trống vắng
của một diễn xuất vô hình, bây giờ tất cả mọi cảm xúc chân thực đã được nắm bắt,
thánh hoá, và nhảy múa trong khúc hoan ca cùng với ngọn lửa trắng tinh tuyền của
sự sống.
Từ
trước đến giờ, tôi chưa bao giờ cảm thấy rất mực hạnh phúc như tôi đã có khi giấc
mơ kết thúc."
Đây
là hình ảnh toàn bộ đời sống của chúng ta. Một cơn mơ dưới hàng triệu sắc tướng,
một cơn mơ dưới hàng triệu danh hiệu, môt cơn mơ dưới hàng triệu nhân dáng.
Chúng ta trở thành cái này, chúng ta trở thành cái kia. Chúng ta sinh ra, sống,
yêu đương, làm đủ một ngàn lẻ một chuyện, rồi chết. Mà thực sự ra, tất cả đều
chỉ là sắc tướng. Chỉ là những sợi sắc không, những bóng mờ trống rỗng.
Chỉ
có ngọn lửa của sự sống là thực tại chân thực - ngọn lửa trắng tinh tuyền của sự
sống. Để có thể nhận ra được ngọn lửa trắng này, con người phải buông bỏ tất cả
mọi sắc tướng nhìn từ đôi mắt. Đôi mắt này phải trở nên hoàn toàn trống rỗng.
Thế nên, Thiền nhấn mạnh đến tình trạng rỗng không. Nếu bạn muốn nhận ra, bạn
phải trở nên rỗng không. Nếu bạn muốn nhận ra, bạn phải trở nên không là gì cả.
Nếu bạn muốn nhận ra, bạn phải tan biến vào trong tánh không. Chỉ trong cái
tánh không này bạn mới có thể nhìn thấy được ngọn lửa của sự sống. Tất cả mọi sắc
tướng đều biến mất. Cây sẽ không là cây, con người sẽ không là con người, chim
chóc sẽ không là chim chóc nữa. Chỉ còn lại một sự sống, một sự sống bất tận.
Thế
nhưng để nhận ra một sự sống bất tận đó, con người phải buông bỏ đời sống bám
víu vào sắc tướng.
Bây
giờ chúng ta trở lại với câu chuyện.
Nobunaga,
một vị tướng quân tài ba của Nhật Bản đã quyết định mở cuộc tấn công địch thủ mặc
dầu quân số của ông chỉ bằng một phần mười lực lượng của đối phương. Nobunaga
tin rằng mình sẽ chiến thắng, nhưng binh sĩ của ông ta đã tỏ ra rất hoài nghi.
Dĩ
nhiên, ông ta là một vị tướng tài ba. Một vị tướng tài ba sống với niềm tin của
chiến thắng, y không thể nào bị đánh bại, do bởi niềm tin vững chắc của y. Trừ
phi y đang chiến đấu chống lại một chiến sĩ tài ba khác có niềm tin mạnh mẽ hơn
mình, y không thể nào bị đánh bại. Y rất mực vững vàng, y không hề có yếu điểm.
Niềm tin của y chính là chiếc giáp sắt kiên cố.
Ngày
xưa, một vị tướng quân tài giỏi có một tên đầy tớ. Người đầy tớ này lại đem
lòng yêu bà chủ của mình. Vị tướng quân đã lên đường đi chinh chiến xa -khi trở
về nhà ông ta mới phát hiện ra sự thực. Ông ta rất mực giận dữ. Là một nhà võ
sĩ đạo samurai tài ba -thế nên ông ta giao cho tên đầy tớ một thanh kiếm để
thanh toán món nợ danh dự này bằng một trận quyết đấu.
Không
thấy cơ may nào thắng trận, người đầy tớ liền thưa với vị tướng quân,
"Thưa chủ nhân, tại sao ngài không trực tiếp giết tôi đi? Tôi chỉ là một
tên đầy tớ hèn mọn -ngay cả không biết đến việc cầm một thanh kiếm như thế nào.
Làm sao tôi có thể chiến đấu với một nhà võ sĩ đạo tài ba, một vị tôn sư kiếm
thuật có đến hàng ngàn đệ tử ... Trên khắp nước này chưa chắc có ai có thể so
tài nỗi với ngài -thế mà bây giờ ngài lại trao thanh kiếm này và bảo tôi quyết
đấu với ngài! Tại sao ngài lại không trực tiếp giết tôi đi? Nếu ngài muốn giết
tôi, cứ việc giết -việc gì lại phải buộc tôi so kiếm với ngài?"
Nhà
võ sĩ đạo trả lời, "Đây là truyền thống. Ta không thể giết ngươi, bởi vì
làm như vậy là chống lại nhân phẩm của ta. Ngươi phải chiến đấu với ta. Ngươi
phải chấp nhận sự thách đấu này và bước ra đấu trường."
Bây
giờ thì người đầy tớ không còn thấy một con đường nào khác -không cách gì có thể
thoát khỏi vấn nạn này, y biết chắc là mình sẽ khó thoát chết- trong khoảnh khắc
tình huống thay đổi hoàn toàn. Khi thấy cái chết chắc chắn sẽ đến, y đâu còn gì
để mất nữa. Khi cái chết là cầm chắc, thì đâu còn gì để mất? Thế là y cầm lấy
thanh kiếm và nhào vào nhà võ sĩ đạo. Và rồi trong suốt cuộc đời cầm kiếm của vị
tướng quân, chưa bao giờ ông ta gặp phải một địch thủ hung hản như vậy, đang
chiến đấu tận sức bình sinh. Vị tướng quân đã buộc phải bắt đầu thối lui. Người
đầy tớ hình như đang có một năng lực điên cuồng. Đây là một người chưa từng biết
làm thế nào để cầm lấy thanh kiếm, và y cũng biết là mình cầm kiếm không đúng
sách vở lắm -thế nhưng đúng hay sai đâu phải là trọng điểm khi bạn đang đối đầu
với cái chết? Thế rồi chỉ trong vài giây đồng hồ, nhà kiếm sĩ lừng danh đã bị dồn
vào đến tận chân tường -không còn chỗ nào để thối lui nữa.
Nhà
tôn sư kiếm thuật liền lên tiếng thỉnh cầu, "Thôi được rồi. Đừng giết ta
trong lúc này. Ngươi có thể giết ta vài hôm sau cũng được, nhưng trước tiên,
ngươi phải dạy cho ta kiếm thuật của ngươi. Ta đã chiến đấu suốt cả đời người,
nhưng ta chưa bao giờ gặp được một kiếm sĩ tài ba như ngươi!"
Người
đầy tớ cười lớn, "Chẳng có gì cả. Chẳng có kiếm thuật gì hết. Tuy nhiên
khi cái chết đến gần, tại sao tôi lại không thử? Ngài thì chơi trò kiếm thuật.
Còn với tôi, thì đó là vấn đề sinh tử. Đối với ngài đây chỉ là một trò chơi, thế
nên ngài đã không thể đặt trọn niềm tin vào. Đó là lý do tại sao ngài bị đánh bại."
Quả
đúng thế, đôi lúc những chuyện như vậy đã xảy ra. Nếu có người bị lâm vào đường
cùng, thấy mình không còn lối thoát, y bỗng nhiên trở nên mạnh mẽ vô song. Thế
nên một tên đầy tớ tầm thường vẫn có thể đánh bại được một nhà kiếm sĩ võ sĩ đạo.
Một chiến sĩ võ sĩ đạo có nghĩa là người đã được huấn luyện -một người được
thôi miên bằng niềm tin rằng y sẽ chiến thắng.
Cái
khoảnh khắc mà bạn nghĩ rằng mình sẽ bị đánh bại, bạn sẽ bị thảm bại. Chuyện đã
từng xảy ra rất nhiều lần trong lịch sử kiếm thuật của xứ Phù Tang, rằng hai
nhà kiếm sĩ đã tranh tài cao thấp với nhau trong rất nhiều năm. Họ đã thách đấu
với nhau không biết bao nhiêu lần nhưng rồi vẫn bất phân thắng bại bởi vì những
hệ thống niềm tin của họ đều ngang nhau. Cả hai đều tin chắc là mình sẽ thắng.
Tuy nhiên những hệ thống niềm tin của họ đều tương đương, tiềm lực của họ đều
tương đương. Thế nên bao nhiêu năm trôi qua vẫn chưa ai hạ được đối thủ của
mình.
Chiến
thắng luôn ở về phía những ai có niềm tin cao hơn, tích cực và mạnh mẽ hơn. Nếu
bạn chấp nhận sự thua cuộc một cách dễ dàng, chắc chắn bạn sẽ bị đánh bại. Chuyện
như thế đã tái diễn không biết bao nhiêu lần trong lịch sử. Chuyện thường xảy
ra là -các xứ giàu vẫn hay bị các xứ nghèo đánh bại dễ dàng. Ông chủ vẫn thường
bị kẻ nô lệ của mình cho đo ván.
Chuyện
như vậy cũng đã xảy ra tại Ấn Độ trong suốt hơn hai ngàn năm, trải qua bao thời
đại. Các xứ nghèo đã từng đánh chiếm, chinh phục Ấn Độ một cách dễ dàng. Ấn Độ
lúc đó là một xứ giàu. Các xứ nghèo đói kia chẳng có gì để mất cả, nhưng nếu được
là họ được tất cả. Cho dù có bị giết, có bị đánh bại, họ cũng chẳng có gì để mất
mát, bởi vì sớm muôn gì rồi họ cũng sẽ chết -họ đang sống trong thiếu thốn, họ
đang chết đói dần mòn. Thế nhưng Ấn Độ có rất nhiều thứ để mất. Khi có nhiều thứ
để mất, bạn sẽ trở nên lo sợ. Khi bạn có nhiều thứ để mất, bạn trở nên thoả hiệp;
bạn không mấy tin tưởng vào chiến thắng.
Đó
là lý do tại sao nước Mỹ cứ tiếp tục bị đánh bại bởi những xứ văn hoá nghèo
nàn, yếu kém hơn. Đó có thể là Việt Nam, đó có thể là Triều Tiên, có thể là bất
cứ nơi nào khác -nước Mỹ sẽ còn bị đánh bại ở khắp nơi, bởi vì nước Mỹ có nhiều
thứ để mất. Việt Nam không có gì để mất mát cả. Việt Nam là kẻ đầy tớ trong câu
chuyện nói trên -nghèo nàn, chết đói. Có gì để mất đâu? Còn một người Mỹ thì
luôn luôn lo lắng; y có đến cả một ngàn lẻ một thứ chuyện để lo. Y lo cho sinh
mạng của mình, cho lạc thú của mình, cho vợ con mình, đại khái những điều như
thế. Vì sống trong lo sợ -y rất muốn trở về nhà. Y không muốn dính vào chiến
tranh nữa, y muốn chấm dứt cuộc chiến bằng cách thế nào đó. Y không thích chiến
tranh.
Các
xứ giàu thường bị các xứ nghèo đánh bại. Cứ như là phép lạ -mà thật ra không có
gì là phép lạ cả. Đây chỉ là một luận lý rất mực đơn giản: Kẻ giàu không thể đánh
nhau với kẻ nghèo.
Karl
Marx đã từng lên tiếng kêu gọi: "Vô sản trên thế giới, hãy đoàn kết lại.
Các người không có gì để mất ngoài xiềng xích nô lệ." Ông ta có lý của
mình -không có gì mất cả ngoài xiềng xích nô lệ. Bạn có thể đánh tới cùng: nếu
có mất mát cái gì thì chỉ là xiềng xích thôi. Và một khi bạn chiến đấu quyết liệt
như thế, có thể bạn sẽ không mất gì cả mà là được tất cả. Toàn bộ cái thế giới
này.
"Một
vị tướng quân tài ba" có nghĩa là một người đã được huấn luyện kỹ lưỡng từ
lúc ấu thơ, một người được thôi miên bằng niềm tin rằng y sẽ chiến thắng. Đó là
kỷ cương, là nội dung của đào luyện. Như vậy, kỷ cương của giới võ sĩ đạo là
gì? Cơ bản, đây không phải là kỷ luật trong kiếm thuật, bắn cung, hay đô vật
-đó chỉ là những chuyện thứ yếu. Điểm then chốt trọng yếu là niềm tin thôi miên
ru ngủ rằng, "Tôi sẽ là kẻ chiến thắng," rằng "không ai có thể
đánh bại tôi."
Trong
thực tế người ta không cần phải trải qua một cuộc huấn luyện quy mô, lâu dài;
không cần phải đòi hỏi thời gian nhiều năm -mười lăm năm, hai mươi năm. Nhà
thôi miên thuật có thể tiến hành công việc này một cách dễ dàng, chỉ trong vòng
vài tháng -thế nhưng chưa có ai nắm vững chuyện này. Vâng, nhà thôi miên thuật
có thể làm công việc này một cách dễ dàng, và đã có không biết bao nhiêu chuyện
được hoàn thành thông qua kỹ thuật này.
Một
nhà thôi miên Trung Hoa đã từng thí nghiệm kỹ thuật này trên một số họa sĩ nghiệp
dư. Ông ta chỉ nêu ra cho họ một giả định. Ông ta thôi miên họ, đưa họ vào sâu
trong giấc ngủ nhân tạo, rồi nêu lên đề nghị với họ. Với một sinh viên trường
cao đẳng mỹ thuật đang học về ngành họa, ông ta nêu lên giả định với y: "Bạn
là Picasso." Ông ta cứ tiếp tục nhồi nhét ý tưởng này vào vô thức của người
sinh viên: "Bạn là Picasso." Và thế rồi, giống như phép lạ, chỉ trong
vòng vài ngày, họa pháp của người sinh viên bỗng nhiên thay đổi. Đôi tay của y
trở nên nhuần nhuyễn hơn, và cái gì đó lập dị bắt đầu xuất hiện trong nét vẽ.
Người sinh viên không hề biết chuyện gì đã xảy ra cho mình -bởi vì bất cứ điều
gì mà nhà thôi miên bảo y đều được nói lên trong giấc ngủ nhanh chóng. Y không
hề biết là đã được gieo vào vô thức cái ý tưởng rằng mình là Picasso hay Van
Gogh, thế nhưng những bức hoạ của y đã khởi sự thay đổi. Và chỉ trong vòng vài
tháng, y đã trở thành một họa sĩ tài danh. Nếu không là Picasso, ít ra y cũng
là một họa sĩ nổi tiếng.
Nếu
được đào luyện theo những phương cách thông thường, người ta phải cần ít nhất
là sáu năm để đạt đến cái kết quả chỉ cần vài tháng huấn luyện bằng phương cách
thôi miên.
Bây
giờ thuật thôi miên có thể trở thành một năng lực lớn lao trên thế giới -đặc biệt
là thế giới đương đại. Sẽ không còn cần thiết phải tốn hàng năm trường để dạy
cho học sinh về những điều thông thường mà người ta có thể dạy chúng một cách dễ
dàng hơn bằng khoa thôi miên học. Sẽ không còn cần thiết phải tốn hàng năm để
huấn luyện cơ bản thao diễn cho binh sĩ diễn hành -sắp hàng, tan hàng, quay phải,
quay trái, bước tới, bước lui trong ba, bốn, hoặc năm giờ đồng hồ mỗi ngày. Chỉ
là chuyện điên rồ -một phương pháp thôi miên cổ điển. Đây cũng là thôi miên thuật,
nhưng là phương pháp của thời đại xe bò. Bạn đang làm công việc hủy diệt cái cơ
cấu cũ của một người để dựng lên một cơ cấu mới, nhưng với một phương cách vô
cùng dã man. Công việc như thế bây giờ có thể hoàn thành dễ dàng bằng khoa thôi
miên.
Rồi
đây bạn sẽ thấy rằng, những binh sĩ sẽ được huấn luyện bởi thuật thôi miên chứ
không còn ở trên chiến trường. Và ai là người đầu tiên biết tận dụng khoa thôi
miên sẽ là người nắm chắc phần thắng.
Một
người võ sĩ đạo Nhật Bản là người được đào luyện tuyệt đối để chiến thắng. Thế
nên Nobunaga biết chắc là ông ta sẽ chiến thắng, không có vấn đề ... nhưng binh
sĩ của ông ta đã tỏ ra rất hoài nghi. Những người lính vẫn là những người lính,
họ chưa phải là những chiến sĩ võ sĩ đạo.
Trên
đường ra trận ông ta dừng lại ở một đền thờ Thần đạo và bảo quân sĩ: "Sau
khi thăm viếng đền Thần ta sẽ bói một quẻ bằng đồng tiền. Nếu mặt đồng tiền có
hình người lật ngữa, chúng ta sẽ thắng trận này, ngược lại, chúng ta thất trận.
Không ai cải đổi được số trời."
Nobunaga
vào đền thờ và im lặng cầu nguyện. Xong ông ta đi ra và gieo đồng tiền. Mặt đồng
tiền có hình người lật ngữa. Binh sĩ dưới quyền đều nức lòng chiến đấu và ông
ta đã chiến thắng trận đánh một các hết sức dễ dàng.
"Thật
là không ai có thể cải đổi được số trời," vị võ quan hầu cận thốt lên cùng
ông sau khi trận đánh kết thúc.
"Không
hẵn thế," Nobunaga đưa đồng tiền cho người hầu cận xem: Cả hai mặt đều giống
nhau
Đây
là một thí nghiệm thuần túy về thôi miên, nhưng ở đây ông ta đang thôi miên hoá
cả toàn bộ đạo quân. Ông ta đã không dùng đến bất cứ phương pháp truyền thống
thông thường nào để thôi miên hoá họ -đã không hề
bảo
họ tập trung nhìn vào một điểm đen trên tường, bắt họ lập lại một câu thần chú,
bảo họ "nhắm mắt lại," ông ta không nói gì cả. Nobunaga dùng đến một
phương pháp thuần tuý, rất mực vi tế. Ông ta đi vào một đền thờ thần đạo và lặng
yên cầu nguyện.
Binh
sĩ của ông ta chắc chắn là đang tụ tập ở ngoài cửa đền để đợi chờ kết quả -chắc
chắn là họ đang lo sợ. Lực lượng kẻ thù mười lần mạnh hơn, họ thua là cái chắc.
Những binh sĩ này chắc chắn là đang lo lắng cho tính mạng của mình -họ sẽ bị giết,
sẽ bị thảm sát. Họ sẽ không còn trở về với gia đình nữa. Một đánh với mười, mọi
người đều biết chuyện này. Chỉ có ông Nobunaga này đang bị khùng nên không biết!
Không có cách gì có thể đánh thắng, chỉ là một cuộc tự sát tập thể thôi. Thế mà
ngay cả việc ban lệnh, "Hãy sẵn sàng và chờ đợi thời cơ" cũng không.
Ông Nubanaga này đúng là đang lên cơn khùng -nhưng là binh sĩ, họ phải phục
tùng mệnh lệnh của vị tướng quân.
Chắc
chắn là họ đang chờ đợi ở ngoài kia với trái tim đập loạn xạ, với run rẩy và rất
mực lo buồn. Thế rồi Nobunaga xuất hiện, gieo đồng tiền quẻ, và mặt có hình người
lật ngữa hiện lên. Bây giờ, chỉ trong một khoảnh khắc đơn thuần, ông ta đã thay
đổi toàn bộ cục diện. Bây giờ toàn bộ binh sĩ biết rằng họ sắp sửa chiến thắng.
Trong
một quốc gia Đông Phương, hàng trăm năm trước đây, đã có một niềm tin tuyệt đối
rằng cái gì sẽ xảy ra rồi sẽ xảy ra, tất cả đều do số mệnh an bài. Bây giờ thì
không còn nỗi lo lắng bị đánh bại nữa, bây giờ thì toàn bộ bầu khí đã thay đổi.
Họ sẽ gặt hái chiến thắng.
Số
mệnh đang thuận lợi cho họ, trời đất quỹ thần đang ở về phía họ -thế là điều dĩ
nhiên, họ trở nên nức lòng chiến đấu. Chỉ mới một khoảnh khắc trước đây, họ đã
tính đến chuyện đào ngũ, đã tính chuyện kiếm chỗ trốn. Thất bại là cầm chắc -chỉ
mới khoảnh khắc trước đây thôi, với họ, thua trận là điều chắc chắn. Nhưng rồi
cũng chỉ một khoảnh khắc sau đó, họ tin rằng chiến thắng sắp sửa ở trong tầm
tay. Thế là họ xông ra trận. Chắc chắn là họ đã vô cùng dũng mãnh trong ngày
hôm đó -ai có thể đánh bại được đoàn quân này, những người đang tin tuởng rằng
"số mệnh đã thuận tình với họ."
Đó
là những gì mà Adolf Hitler đã nỗ lực thực hiện. Và ông ta đã làm nên chuyện, hầu
như đã gần đạt đến mục đích. Ông ta đã cố gắng thôi miên hoá toàn bộ chủng tộc
Nhật Nhĩ Man: "Các người là giống dân Bắc Âu, là chủng tộc Nhật Nhĩ Man
thuần khiết nhất trên thế giới. Chủng tộc này được sinh ra để làm nhiệm vụ thống
trị thế giới, Thượng Đế đã an bài như thế. Các người là một số rất ít đã được
Thượng Đế chọn lựa." Chỉ là một chủng tộc ít oi, thế mà ông ta đã gần như
chiếm trọn toàn bộ thế giới - gần như thế. Cả thế giới đã phải đoàn kết cùng
nhau để chống lại ông ta, để chỉ đánh bại một con người, một quốc gia không lớn
gì cho lắm. Thế mà ông ta đã buộc cả thế giới phải qùy gối xuống trước mình. Có
gì bí ẩn trong chuyện này? Điều bí ẩn đó là thuật thôi miên. Ông ta đã tạo ra một
bầu khí thôi miên, đã tạo ra niềm tin ru ngủ: "Các người sẽ là những người
chiến thắng. Định mệnh đã an bài như thế. Thượng Đế đã quyết định như thế. Nếu
các người không chiến thắng vinh quang thì các ngươi chỉ là một lũ tồi -Thượng
Đế đã quyết định rồi. Giống dân Bắc Âu, chủng tộc Nhật Nhĩ Man là chủng tộc đã
được chọn lựa. Thượng Đế đang trông chờ ở các ngươi!"
Thật
ra đây chỉ là một mánh khoé cổ điển của người Do Thái mà Hitler đã học được.
Người Do Thái trải qua bao thời đại luôn cho rằng mình là giống dân đã được Thượng
Đế chọn lựa. Trong thực tế, chính cái niềm tin ru ngủ này đã cứu vớt họ không
biết bao nhiêu lần. Họ đã đối đầu với không biết bao nhiêu thảm kịch, đã bị thảm
sát không biết bao nhiêu lần -không có một giống dân nào bị tàn sát, bị hành hạ
nhiều đến như vậy. Thế nhưng họ vẫn sống còn. Và không những tồn tại mà là tồn
tại với một năng lực phi thường.
Đâu
là lý do? Đó chính là niềm tin thôi miên mà Moses đã gieo cấy vào họ. Moses là
một chiến sĩ -một chiến sĩ tài ba. Và tất cả những gì mà ông ta xây dựng lên hiện
vẫn còn tồn tại với thời gian: "Các ngươi là một số rất ít đã được chọn lựa,
các ngươi là giống dân mà Thượng Đế chọn lựa. Tất cả các giống dân khác chỉ là
tôi tớ phục dịch các ngươi; các ngươi là những chủ nhân ông. Các ngươi phải là
những chủ nhân ông." Đây chỉ là một mánh khoé cổ điển của người Do Thái.
Có thể đó là lý do mà Adolf Hitler đã rất mực phẫn nộ, chống lại sắc dân Do
Thái tới cùng -bởi vì chỉ có hai giống dân được chọn lựa, người Do Thái và người
Nhật Nhĩ Man. Và dĩ nhiên, đối với Hitler, người Do Thái phải bị tiêu diệt như
một chứng minh rằng Thượng Đế nay đã đổi ý.
Người
Do Thái phải bị tiêu diệt hoàn toàn. Tại sao thế? Có một nguyên nhân tâm lý, nếu
bạn chịu khó đi sâu vào sẽ hiểu. Mỗi lần một người Do Thái bị giết, có nghĩa là
một người Bắc Âu được sinh ra. Mỗi lần giống dân Do Thái bị tàn sát, tiêu diệt,
đức tin của giống dân Đức càng được nâng cao, củng cố. Bởi vì trải qua thời
gian, người Do Thái cho rằng mình là chủng tộc được chọn lựa, nay bỗng dưng họ
biến mất trên mặt địa cầu. Điều này là một minh chứng cho giả thiết của Adolf
Hitler. Rằng Thượng Đế đã không còn bảo vệ dân Do Thái, rằng Thượng Đế đang bảo
vệ chúng ta, người Nhật Nhĩ Man. Thượng Đế đang chống lại dân Do Thái. Họ đang
biến mất trên mặt đất này.
Thế
là toàn bộ những thành phố của người Do Thái biến mất trong giây phút. Hàng
ngàn người Do Thái bị đưa vào những lò thiêu ở các trại tập trung trong nháy mắt-
trong các lò điện đó, chỉ một vài giây thôi, họ hoàn toàn biến mất. Bây giờ thì
chuyện rõ ràng rằng: "Thượng Đế đang ở về phía chúng ta. Có thể là trước
đây ngài đã chẳng bao giờ đứng về phía Do Thái, họ chỉ tự lừa dối mình mà thôi,
hoặc là bây giờ ngài đã đổi ý. Hoặc có thể là ngài bây giờ đã chán mứa những
ông Do Thái này rồi - họ chẳng làm gì nên chuyện cả. Phải vậy không? Trải qua
bao thời đại, họ đã có mặt ở đây mà có làm nên tích sự gì đâu, thế nên Thượng Đế
đã thay đổi cách xử sự. Bây giờ ngài quan tâm đến chúng ta."
Adolf
Hitler đã tạo dựng nên cái bầu khí thôi miên ru ngủ như thế. Và trong cái bầu
khí thôi miên đó, chủng tộc đã trở thành quyền lực. Cũng cái chủng tộc đó vừa bị
đánh bại trong Thế Chiến Thứ Nhất -chỉ mới mười năm thôi. Trong vòng mười năm
sau phương pháp thôi miên của Adolf Hitler đã thành công vực dậy nước Đức.
Nobunaga
cũng đã phải sử dụng tiểu xảo đối với binh sĩ dưới quyền. Cái đồng tiền của ông
ta có hai mặt đều giống nhau. Thế nhưng một khi bạn tin tuởng, bạn tạo ra thực
tại. Đây là toàn bộ cấu trúc của thuật thôi miên, và đây cũng là toàn bộ cấu
trúc của thế giới này -thế giới mà bạn đang sống.
Thiền
muốn rằng bạn phải vượt ra ngoài. Thiền muốn bạn nhận rõ rằng thất bại của bạn
là do niềm tin, chiến thắng của bạn cũng do niềm tin, ưu điểm của bạn, khuyết
điểm của bạn, bạn là kẻ tội lỗi, bạn là một ông thánh, đều chỉ là niềm tin. Tất
cả đều do những niềm tin, là do tâm tạo, là trò chơi của tâm. Thượng Đế của bạn
cũng chỉ là trò chơi lớn của tâm.
Hãy
buông bỏ tất cả mọi niềm tin. Rồi thực tại tương đối sẽ biến mất và chân lý hiện
bày.
Bây
giờ là một câu chuyện ngắn, một câu chuyện Tây Tạng.
Trước
đây lâu lắm rồi, có một khách hành hương đang loanh quanh lạc lối trong một sa
mạc ở ngoài Tây Tạng. Đó là một đêm không trăng sao, trời tối đen như mực, ngọn
gió mang đầy bụi cát không ngừng thổi giật từng cơn vào râu tóc y, và đôi chân
y cũng đã sưng tấy lên vì cứ mãi dẫm vào những tảng đá lởm chởm sắc cạnh. Y đã
hy vọng rằng mình sẽ vượt qua vùng hoang dã này để đến gặp một vị đạo sư danh
tiếng, nhưng niềm hy vọng này nay đã tiêu tan. Có thể là y sẽ chết khát trong
đêm nay, trước khi bình minh đến. Thế rồi y thiết tha cầu nguyện với Đức Phật A
Di Đà -Vô Lượng Quang Phật- để xin ngài cứu giúp.
Lập
tức, chân của y đụng phải một cái gì đó mà y biết chắc không phải là một tảng
đá. Đấy là một cái bình bạc với nước tuyết vừa tan tràn đầy lên đến miệng, tinh
khiết mát lạnh. Kẻ hành hương uống một trận thoả thuê, xong với lòng tràn đầy
biết ơn, y cất giọng khàn đục tán tụng chư Phật rồi lăn ra ngủ vùi trên cát.
Bừng
tỉnh giấc vào sáng sớm hôm sau, người hành hương vội quơ tay tìm kiếm ngay cái
bình bạc cứu mạng. Dưới ánh sáng đầu ngày y nhìn kỹ lại thì ra đó là một cái sọ
người. Chút đỉnh da thịt vẫn còn dính vào trên xương sọ, cho thấy là nạn nhân vừa
mới chết không lâu lắm. Thêm vào đó, trong chỗ trũng của chiếc đầu lâu còn đọng
lại một chút gì đó giống như não tủy với đàn giòi đang nhung nhúc đặc kín trong
cái chất sền sệt dơ dáy kia. Trông thấy xong là y nôn mửa ngay tại chỗ. Trong
lúc nôn mữa này đồng thời y bỗng hoát nhiên đạt ngộ. Y liền quay về nhà ngay
không chút chậm trễ. Hành trình tìm kiếm của y đã hoàn tất. Y đã tìm thấy vị đạo
sư của mình, kể cả ngôi chùa của mình nữa -ngôi chùa của chiếc đầu lâu.
Câu
chuyện này rất mực quan trọng. Cái gì đã xảy ra? Sự hoát nhiên đạt ngộ đã xảy đến
như thế nào? Vào hồi đêm, trong cơn khát cháy bỏng của mình y đã tin rằng Đức
Phật đã ban cho y cái bình bạc này. Đó là một đêm tối trời, không trăng sao
-cái bình kia đã được tạo nên bởi lòng tin tưởng, bởi cơn khát của y. Y đang đứng
bên bờ vực của tử thần, sắp chết đến nơi, tâm của y chắc chắn là phải ở trong
tình trạng mộng tưởng, phóng chiếu. Cái sọ người biến thành cái bình bạc -y
phóng chiếu. Y cho rằng não tủy chứa trong đó là nước lạnh tinh khiết -và đã uống
ngon lành. Quả đúng như thế -một khi y nghĩ rằng đó là nước lạnh tinh khiết thì
nó là nước lạnh tinh khiết, khi y nghĩ rằng đó là cái bình bạc thì nó là cái
bình bạc.
Bạn
luôn sống trong thế giới vọng tưởng, phóng chiếu của mình.
Rất
đổi vui mừng, y cảm ơn Đức Phật và lăn ra ngủ. Vào sáng hôm sau khi mặt trời
lên, y mở đôi mắt ra. Y muốn nhìn cho thật tường tận cái bình bạc đã cứu mạng mình...
nhưng đó là một cái sọ người. Chút đỉnh da thịt vẫn còn dính vào trên xương sọ,
cho thấy là nạn nhân vừa mới chết không lâu lắm. Thật kinh tởm. Thêm vào đó,
trong chỗ trũng của chiếc đầu lâu còn đọng lại một chút gì đó giống như não tủy...
nôn mửa... với đàn giòi đang nhung nhúc đặc kín trong cái chất sền sệt dơ dáy
kia.
Bạn
có thể hình dung ra cái anh chàng hành hương khốn khổ kia. Y đang nôn mửa. Bây
giờ thì không còn cái bình bạc nữa, không còn chất nước mát lạnh tinh khiết nữa.
Y nôn mửa. Và trong cơn nôn mửa này, một cái gì đó đã bừng sáng lên trong tâm
thức của y. Y có thể nhận ra được rằng tất cả đều chỉ là trò chơi của tâm: nếu
bạn cho rằng đó là cái bình bạc thì nó là cái bình bạc.
Đêm
hôm rồi, đã không hề có chuyện nôn mửa. Y đã uống cạn não tủy của người chết với
đàn giòi ở trong ấy, nhưng không hề nôn mửa, không có vấn đề nôn mửa. Y đã
không ngừng cảm tạ Trời, Phật, với lòng biết ơn vô hạn. Thế rồi y lăn ra ngủ,
ngủ một giấc ngon lành suốt đêm, không hề có chuyện gì xảy ra. Thế mà bây giờ, khi
trông thấy sự thực, y lại nôn mửa -chỉ mấy tiếng đồng hồ sau đó.
Một
sự tỏ ngộ đã bừng lên -tất cả đều do tâm tạo. Và nếu tất cả đều do tâm tạo thì
đâu cần phải chạy đi chỗ nào: bạn có thể buông bỏ cái tâm ngay tại nhà mình. Đó
là sự hoát nhiên đạt ngộ, hãy thấy cái trọng điểm này -tất cả chỉ thuần là một
ý tưởng. Nếu y thức dậy sớm hơn và bỏ đi ngay, chắc chắn là sẽ không có chuyện
nôn mửa. Tất cả chỉ thuần là một ý tưởng. Nhưng ai mà biết được?
-trong
đêm rồi, biết đâu Phật A Di Đà đã có thể vận dụng thần thông biến ra một cái
bình bạc như thế. Biết đâu? Những ông Phật là những người kỳ dị, có thể tạo ra
những chuyện đại loại như thế. Nếu y đã uống cạn hết cái chén bạc đó đêm rồi
-ai mà biết- thì chắc cũng đã không có chuyện nôn mửa. Hoặc có thể sáng hôm sau
Phật A Di Đà đã biến hoá ra cái sọ người chứa đầy não tủy, với nhung nhúc một bầy
giòi, những con giòi ghê tởm. Ai mà biết?
Thế
nhưng đó không phải là trọng điểm. Chỉ có một điều chắc chắn là -khi bạn tin tưởng
vào một cái gì đó bạn sống trong thực tại đó, khi bạn tin tưởng vào một cái
khác, bạn sống trong một thực tại khác. Tất cả chỉ là vấn đề của niềm tin. Và tất
cả những thế giới mà bạn sống đều là những thế giới do lòng tin tạo nên.
Thế
là hoát nhiên đạt ngộ. Chắc là y phải bật cười: cái nôn mửa đó đã là một kinh
nghiệm lớn. Chắc chắn là y đã bật cười, chắc chắn là y đã hiểu rõ tất cả căn
nguyên nguồn cội của vấn đề. Thế là đâu còn có nhu cầu đi tìm thầy nữa, y đã
tìm thấy người thầy. Và cũng không còn có nhu cầu đi tìm ngôi chùa mà y đang
tìm đến, y đã tìm thấy ngôi chùa... trong cái sọ người kia.
Chắc
là y đang đi trở về nhà với lòng nhảy múa reo vui, với lòng đang mở hội; chắc
chắn là y đang trở về nhà với một con người mới hoàn toàn khác biệt. Một con
người không còn mê ngủ trong ý, trong tâm -một con người không còn sống trong
thế giới của vọng tưởng, phóng chiếu, điên đảo. Một con người nay đã tỏ ngộ -
trong sáng tuyệt đối, với tâm thức trong suốt như gương.
Đó
là hoát nhiên đạt ngộ -satori.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment