Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 12)
Chương
5. Ông ấy là mặt trăng
Không ham muốn gì, không hoài nghi gì,
Bên
ngoài phán xét và buồn khổ và hoan lạc của giác quan,
Người
đó đã đi ra ngoài thời gian.
Người
đó thuần khiết và tự do.
Người
đó rõ ràng làm sao.
Người
đó là mặt trăng.
Người
đó chân thành.
Người
đó chói sáng.
Vì
người đó đã du hành
Hết
kiếp nọ sang kiếp kia
Bùn
và đường không chắc chắn của ảo tưởng.
Người
đó không run rẩy
hay
chộp giật hay ngần ngại.
Người
đó đã tìm ra an bình.
Điềm
tĩnh
Người
đó buông bỏ cuộc sống,
gia
đình và hoan lạc và ham muốn.
Không
cái gì của người có thể giữ được người đó.
Không
cái gì của thần có thể giữ được người đó.
Không
cái gì trong mọi sáng tạo có thể giữ được người đó.
Ham
muốn đã rời bỏ người đó, không bao giờ quay lại.
Buồn
khổ đã rời bỏ người đó, không bao giờ quay lại.
Phật
Gautama đang mô tả điều không thể mô tả được. Ông ấy đang mô tả thế giới bên
trong của thầy. Ông ấy đang định nghĩa thầy là gì, phẩm chất tâm thức của thầy
là gì. Thầy tồn tại ở đâu? - trong thời gian hay bên ngoài thời gian, trong
không gian hay bên ngoài không gian? Thầy có giới hạn nào không? có biên giới
nào không? hay thầy chỉ có sự bao la thuần khiết, bao la của bầu trời? Chính hiện
tượng này bí ẩn tới mức nó ở bên ngoài lời chúng ta vẫn dùng, điều chúng ta có
thể dùng. Nhưng dầu vậy vài chỉ dẫn phải được cho. Đây chỉ là những gợi ý - đừng
níu bám lấy những gợi ý này. Chúng không phải là phát biểu khoa học; nghĩ về
chúng như thơ ca thuần khiết đi. Vâng, ngón tay chỉ trăng, nhưng quên ngón tay
đi và nhớ tới trăng.
Không
lời nào là đủ thích hợp để định nghĩa thầy. Mọi lời đều làm điều bất công với
thầy bởi vì lời được ngụ ý để mô tả cái bình thường còn thầy đã siêu việt lên
trên cái bình thường. Lời thuộc về thế giới; thầy ở trong thế giới vậy mà thầy
không còn của nó nữa.
Thầy
tồn tại ở đây và dầu vậy thầy không tồn tại ở đây. Thầy chỉ là phản xạ trong hồ.
Thầy chỉ là cái bóng còn nấn ná trên bờ này; người thực đã đạt tới bờ bên kia.
Nếu
bạn có thể nhớ được điều này, thế thì ngay cả những từ này sẽ có ích lợi lớn; bằng
không bạn nhất định hiểu lầm chúng... Tôi đã từng nói đi nói lại với bạn rằng
cuộc sống là bí ẩn để được sống, không phải là vấn đề để được giải quyết. Và
Prem Mukta thông báo cho tôi, "Osho ơi, điều này thực sự xảy ra: Tôi nghe
lỏm một sannyasin Italy tán tụng sau bài nói, 'Osho thực sự biết cuộc sống giống
như cái gì. Đúng thế về điều thầy nói, rằng: Cuộc sống không phải là vấn đề để
được giải quyết mà là nỗi khổ được sống.'"
Lời
là nguy hiểm! Bạn có thể nghe trong chúng cái gì đó không có đó. Bạn có thể
phóng chiếu trong chúng thành cái gì đó của riêng bạn, và không thể nào phát hiện
được điều bạn đang làm. Cũng tốt là sannyasin này đã nói điều đó cho ai đó
khác, nhưng nếu bạn không nói điều đó cho bất kì ai khác... và có cả nghìn lẻ một
thứ bạn sẽ không bao giờ nói cho bất kì ai khác - thế thì chúng đơn giản vẫn
còn là một phần của thế giới bên trong của bạn. Và nếu bạn đã hoàn toàn hiểu lầm
chúng ngay chỗ đầu tiên, thế thì bạn có thể bắt đầu tạo ra nền tảng từ chúng
cho cuộc sống của mình. Lời có thể là nguy hiểm.
"Con
trai tôi thiền đấy," một người nói.
Người
kia đáp, "Này, tôi cho rằng tốt hơn thì đó là ngồi quanh đâu đó không làm
gì."
Nhưng
đó đích xác là điều thiền là gì: ngồi quanh đâu đó không làm gì - thực sự không
cái gì, thậm chí không bên trong, thậm chí không nghĩ, thậm chí không cảm. Khi
hành động dừng lại như thế trong sự toàn bộ, thiền bắt đầu. Khi việc làm dừng lại
hoàn toàn, toàn bộ, khi không có chuyển động nào trong bản thể bạn, thế thì lần
đầu tiên có việc nở hoa của thiền.
Cho
nên lắng nghe những lời này đi. Những lời này hay nếu được hiểu đúng - điều này
rất khó bởi vì bạn vô ý thức thế, bạn mù thế. Bạn đang sống trong trạng thái ngẩn
ngơ. Bạn gần như say - mặc dầu bạn chưa bao giờ nghĩ về điều đó theo cách đó. Bạn
có thể thấy sự say của người khác, nhưng bạn chưa bao giờ nghĩ rằng bạn cũng
say - say với tham lam, thèm khát, tham vọng, bản ngã. Và đây là chất say còn
hơn mọi chất cồn nào.
Một
trong những vấn đề lớn nhất với con người là: con người có thể rất dễ dàng thấy
người khác sai nhưng người đó không thể thấy rằng bản thân mình trong cùng con
thuyền đó.
Một
câu chuyện thực:
Hai
bà mẹ bị nghe lỏm việc nói chuyện của con họ.
Hai
con voi hồng bước vào trong tiệm rượu.
Người
đứng quầy nhìn lên và nói, "Ông ấy chưa có ở đây!"
Hiểu
không? Ông ta nghĩ về người say khác nào đó thấy voi hồng. Ông ta không say, đó
là anh chàng khác nào đó bị say và bắt đầu thấy voi hồng. Bây giờ ông ta thấy họ,
nhưng ông ta bảo các con voi, "Đợi đã, ông ấy còn chưa tới. Ông ấy phải tới
chẳng chóng thì chầy."
Khoảnh
khắc bạn bắt đầu thấy trạng thái riêng của mình, một thay đổi triệt để, lớn lao
bắt đầu.
Cho
nên lắng nghe những lời kinh này với tỉnh táo lớn lao, với nhận biết, không
trong trạng thái nửa ngủ nửa thức. Mọi người gần như trong trạng thái đó hai
mươi bốn giờ một ngày: nửa ngủ, nửa thức. Cái gì đó họ nghe thấy, cái gì đó bao
giờ cũng bị bỏ lỡ. Và rắc rối là ở chỗ bất kì cái gì có nhiều ý nghĩa bao giờ
cũng bị bỏ lỡ bởi vì cái đó ở bên ngoài khả năng của họ. Bất kì cái gì không bản
chất đều lập tức được họ nghe, hiểu; cái đó ở trong khả năng của họ. Nhưng họ cứ
quên điều bản chất - cho dù họ nghe thấy nó.
Quan
sát bản thân bạn mà xem. Hiểu vị Phật, một Christ, một Krishna là một trong những
kinh nghiệm lớn lao nhất trong nhận biết.
Paul
đi xe đạp trong ngày hè nóng bức gắt gao. Nhưng nhiệt độ và mệt mỏi cuối cùng
đã làm cho cậu ta phải dừng lại và ngồi xuống bên vệ đường. Vài phút sau, một
chiếc Mercedes nhỏ dừng lại.
"Có
gì sai sót không?" người sau tay lái hỏi. "Không, thưa ngài, tôi đang
trên đường tới thị trấn," cậu bé da đen đáp. "Tôi hoàn toàn bị kiệt sức."
"Như
cậu có thể thấy tôi không có đủ chỗ cho cậu và chiếc xe đạp của cậu," người
ngồi trong xe Mercedes nói. "Nhưng nếu cậu buộc xe đạp của cậu vào đuôi xe
tôi, cậu có thể ngồi trên xe đạp và tôi sẽ kéo cậu đi."
Vài
khoảnh khắc sau chiếc xe đã kéo theo cậu bé da đen trên chiếc xe đạp, nhắm tới
xa lộ. Ở chỗ đèn đỏ đầu tiên một chiếc Jaguar đi bên cạnh. "Này," người
bên trong nói, "muốn đua không?"
"Đua
thì đua!" là câu trả lời.
Họ
chẳng mấy chốc đã đua nhau với tốc độ trên một trăm và một trăm hai mươi dặm một
giờ, người lái xe Mercedes đã hoàn toàn quên mất cậu da đen đằng sau mình trên
chiếc xe đạp.
Cả
hai chiếc xe chạy lên tới một trăm bốn mươi dặm khi họ chạy qua một chiếc xe đi
tuần của cảnh sát. Viên sĩ quan cảnh sát bối rối nhanh chóng vớ lấy chiếc micro
phôn radio. "Này, Sarge, anh không thể tin được vào điều này đâu!"
anh ta kêu lên. "Chiếc Jaguar đang đua với chiếc Mercedes cực nhanh, và có
đứa trẻ da trắng đuổi theo họ trên xe đạp!"
Lắng
nghe những lời kinh hay này một cách rất có ý thức, có tính thiền, trong tôn
kính vô cùng, trong tin cậy sâu sắc đi, bởi vì Phật đang để lộ bí mật lớn nhất
của cuộc sống.
Không
ham muốn gì, không hoài nghi gì,
Bên
ngoài phán xét và buồn khổ và hoan lạc của giác quan,
Người
đó đã đi ra ngoài thời gian.
Người
đó thuần khiết và tự do.
Đi
chậm thôi - từng lời đều có ý nghĩa. Không ham muốn gì, không hoài nghi gì... Bạn
đã từng được các tu sĩ nói cho qua nhiều thời đại, "Đừng hoài nghi, vứt bỏ
hoài nghi." Nhưng tại sao ngay chỗ đầu tiên bạn hoài nghi? Bạn hoài nghi bởi
vì bạn ham muốn. Phật đang đem chính gốc rễ của vấn đề cho tâm thức bạn. Nếu một
người không ham muốn gì người đó không cần hoài nghi bất kì cái gì chút nào; chính
ham muốn làm cho hoài nghi thức dậy.
Đây
là cái gì đó rất đặc biệt, không ai đã từng nói điều đó rõ ràng thế. Thực tế,
không ai đã từng nói điều đó trước Phật. Nếu bạn ham muốn bạn không thể gạt bỏ
được hoài nghi bởi vì ham muốn đem tới tin tưởng và tin tưởng đem tới hoài
nghi. Và điều các tu sĩ đang làm đơn giản là lố bịch. Họ khăng khăng rằng bạn
phải tin tưởng và bạn phải không hoài nghi. Họ đang đưa bạn vào tình huống khó
khăn không thể nào duy trì được. Nếu bạn tin, bạn nhất định hoài nghi; mọi người
tin đều là người hoài nghi. Đây là sáng suốt lớn của Phật: không người tin tưởng
nào đã bao giờ có thể gạt bỏ được hoài nghi.
Tin
tưởng về căn bản nghĩa là có hoài nghi và bạn đang che đậy nó bằng tin tưởng.
Hoài nghi có đó như vết thương và bạn che đậy nó bằng hoa đẹp của tin tưởng.
Nhưng với việc che đậy vết thương bằng hoa bạn không chữa nó, nó không được chữa
lành. Thực tế bằng việc che đậy nó bạn sẽ làm cho nó còn nguy hiểm hơn nhiều.
Nó sẽ phát triển sâu bên trong bạn, nó sẽ cứ lan rộng; chung cuộc nó sẽ trở
thành ung thư.
Sao
bạn tin ngay chỗ đầu tiên? Nếu bạn không hoài nghi, cần gì tin?
Cách
tiếp cận của Phật bao giờ cũng rất nền tảng; ông ấy đi tới chính gốc rễ của vấn
đề. Bạn tin bởi vì bạn hoài nghi. Và tại sao bạn hoài nghi? Ông ấy không dừng ở
đó. Tại sao bạn tin, tại sao bạn hoài nghi? - bởi vì bạn ham muốn.
Chẳng
hạn, bạn tin vào kiếp sống sau và bạn cũng hoài nghi kiếp sống sau. Cả hai tin
tưởng và hoài nghi bên nhau cứ còn dai dẳng trong bạn. Bạn tin vào kiếp sau bởi
vì bạn ham muốn; có thèm khát lớn về cuộc sống, bạn không muốn chết. Bởi vì bạn
không muốn chết, bất kì tu sĩ nào cũng có thể khai thác bạn. Ông ta có thể bảo
bạn, "Đừng lo, chỉ thân thể chết; linh hồn bạn sẽ sống mãi. Linh hồn bạn
là bất tử." Và bạn lập tức sẵn sàng tin tưởng. Tại sao? Không truy tìm vào
vấn đề quan trọng như thế, bạn tin tu sĩ ngu xuẩn nào đó, người chẳng biết gì về
điều đó, người đã không đích thân kinh nghiệm cái gì về nó, người đã không đi
sâu hơn vào trong bản thể riêng của mình. Có thể người đó biết kinh sách, người
đó có thể trích dẫn Kinh Thánh và Koran và Gita, nhưng thế thì sao? Bằng việc
biết Gita hay Koran hay Kinh Thánh người đó không biết rằng linh hồn là bất tử.
Làm sao người đó biết được? Người đó nói theo thẩm quyền nào? theo thẩm quyền của
Christ sao? - thế thì nó là vay mượn. Theo thẩm quyền của Krishna sao? - thế
thì nó không phải của riêng người đó. Và chừng nào nó còn chưa phải là của
riêng người đó thì phải có hoài nghi trong người đó.
Chừng
nào kinh nghiệm nào đó còn chưa nảy sinh trong bản thể riêng của bạn, hoài nghi
không thể bị xua tan. Bạn có thể cứ tin vào ánh sáng mà vẫn ngồi trong phòng tối,
nhưng điều đó không có nghĩa là bóng tối sẽ biến mất bởi việc tin của bạn. Bạn
có thể trích dẫn Gita và bạn có thể nói về ánh sáng, nhưng bóng tối sẽ vẫn còn.
Bạn có thể tự lừa dối mình bằng việc tin vào ánh sáng, bạn có thể nói không có
bóng tối, bạn có thể giả vờ rằng không có bóng tối, nhưng bạn biết rằng có bóng
tối. Bằng không, tại sao bạn nói về bóng tối nếu không có bóng tối? Nếu không
có bóng tối thì không có bóng tối! Sao phí thời gian của bạn?
Sao
các tu sĩ liên tục dạy mọi người rằng linh hồn là bất tử? Họ biết mọi người đều
sợ chết và muốn sống. Sợ chết và muốn sống là hai mặt của cùng một đồng tiền.
Phật
nói: Nếu ông ham muốn cái gì đó thì ông phải tin. Sao bạn tin vào Thượng đế? Bạn
có thấy Thượng đế không? Bạn có kinh nghiệm Thượng đế không? Bạn có thể nói
Jesus đã thấy Thượng đế, nhưng ông ấy có thể đã là người bị lừa. Hoặc bản thân
ông ấy sống trong ảo tưởng hoặc ông ấy đang lừa bạn. Ai biết được? Làm sao bạn
có thể chắc chắn rằng ông ấy biết? Bạn có cơ sở nào rằng người nào đó đã bao giờ
thấy Thượng đế không?
Nếu
bạn bị đau đầu, không ai khác có thể biết được ngoại trừ bản thân bạn. Vâng, nếu
bạn nói điều đó, mọi người có thể thông cảm với bạn. Họ có thể không nói thế -
họ có thể đồng ý với bạn, họ có thể bất đồng với bạn - nhưng làm sao họ có thể
biết rằng bạn đau đầu? Chỉ bạn biết.
Một
nhà tâm thần đi thăm, vẩn vơ qua các phòng của nhà thương điên quốc gia, thấy một
bệnh nhân nằm co trong góc phòng gãi mình không dừng.
"Tôi
xin lỗi," bác sĩ nói, "sao ông tự gãi mình như thế?"
"Bởi
vì," người này đáp, "tôi là người duy nhất biết tôi ngứa ở đâu."
Có
những điều chỉ có thể được tin cậy nếu chúng trở thành kinh nghiệm cá nhân của
bạn.
Nhưng
bạn sợ chết, bạn tin vào cuộc sống sau cái chết, bạn ham muốn cuộc sống sau cái
chết. Bạn sợ ở một mình, bạn muốn bảo vệ. Bạn muốn Thượng đế, hình ảnh người bố.
Bạn vẫn còn trẻ con. Bạn không thể sống theo cách riêng của mình được, bạn
không thể đứng trên đôi chân riêng của mình. Người bố thực của bạn có thể chết
hay nếu ông ấy không chết bây giờ bạn biết hoàn toàn rõ rằng ông ấy cũng bị giới
hạn như bạn vậy - ông ấy có nỗi sợ riêng của ông ấy, ông ấy có run rẩy riêng của
ông ấy. Bây giờ bạn không thể tin được vào ông ấy theo cùng cách như bạn thường
tin khi bạn còn là đứa trẻ nhỏ; thế thì bố bạn là người biết tất, có mọi quyền
lực.
Mọi
đứa trẻ đều ba hoa về bố nó, nói, "Bố tao là người vĩ đại nhất trên thế giới!"
Nhưng chẳng chóng thì chầy, nó thấy ông ấy cũng chỉ là người thường như mọi người
khác. Nó biết rằng, "Bố khổ từ cùng nỗi sợ như mình khổ." Bây giờ ông
ấy không còn là việc bảo vệ cho nó nữa.
Bạn
không thể trốn đằng sau mẹ bạn thêm nữa... Bạn cần người bố lớn hơn, do đó mới
có phóng chiếu về Thượng đế. Đó chỉ là nhu cầu của bạn, ham muốn của bạn về an
ninh, an toàn, về bảo vệ. Bạn chưa đủ chín chắn; do đó bạn tin vào Thượng đế.
Và
nhìn vào phẩm chất của Thượng đế mà xem: có mặt khắp nơi... hiển nhiên. Nếu
ngài không ở mọi nơi, thế thì phỏng có ích gì mà tin vào ngài? Bạn có thể ngã
xuống rãnh và ngài không có đó, và bạn có thể cứ kêu và ngài không có đó, hay
ngài đang dính líu ở đâu đó khác. Và có cả triệu người trên trái đất này và đây
không phải là trái đất duy nhất. Các nhà khoa học nói có ít nhất năm mươi nghìn
trái đất có sự sống, hàng triệu ngôi sao. Nếu ngài không có mặt khắp nơi - và bạn
nhỏ bé thế và vũ trụ lớn thế - làm sao ngài chăm nom cho bạn được? Tất nhiên bạn
tin ngài là có mặt khắp nơi, ngài ở mọi nơi, cho nên bất kì chỗ nào bạn cần
ngài, ngài lập tức sẵn có, sẵn có ngay lập tức.
Cho
nên ngài có thể có mặt khắp nơi, toàn diện, nhưng nếu ngài không có toàn quyền,
quyền tuyệt đối, thì sao? Ngài có thể không có đủ khả năng để giúp bạn; ngài có
thể chỉ có hai tay, và với hai tay ngài có thể làm được bao nhiêu? Do đó có những
dân tộc tin rằng ngài có nghìn tay. Nhưng ngay cả nghìn tay cũng chẳng làm được
mấy, cho nên bạn phải tin rằng ngài là vô hạn, rằng quyền lực của ngài là vô hạn,
ngài có thể làm bất kì cái gì.
Và
không chỉ có thế: bạn cũng phải tin rằng ngài toàn thức bởi vì ngài có thể toàn
quyền và ngài có thể toàn diện, nhưng nếu ngài không toàn thức thế thì ngài chỉ
có thể chăm nom cho hiện tại. Điều đó nghĩa là khi bạn đã ngã xuống rãnh, chỉ
thế thì ngài mới có thể giúp bạn được, nhưng bạn đã ngã và làm gẫy chân mình và
bạn đã bị gẫy xương. Ngài là toàn thức, ngài có thể thấy được tương lai, ngài
có thể thấy mọi thứ, cho nên trước khi bạn ngã xuống rãnh ngài có thể ngăn cản
bạn khỏi ngã xuống rãnh chứ.
Cứ
nhìn vào những phẩm chất mà bạn đã cho Thượng đế của mình. Những phẩm chất đó
không phải là phẩm chất của Thượng đế đâu, những phẩm chất đó là ham muốn của bạn
về cách Thượng đế phải vậy. Thế thì bạn có thể tin tưởng vào ngài; nếu những phẩm
chất này bị thiếu thì hoài nghi sẽ bắt đầu nảy sinh. Và Thượng đế phải không thể
sai được; nếu ngài mà sai được, thế thì có nguy hiểm. Làm sao bạn có thể tin được
vào Thượng đế có thể sai? Bạn không thể tin được vào Thượng đế có thể sai bởi
vì ngài có thể quản lí sai, ngài có thể làm bạn thành đống lộn xộn. Thay vì
giúp bạn ngài có thể tạo ra nhiều rắc rối hơn. Ngài phải không thể sai được. Và
khi Thượng đế là không thể sai được, con của ngài Jesus Christ phải không thể
sai được, bởi vì nếu bố mà không thể sai được làm sao con có thể không phải là
không sai được? Và thế thì đại diện của ngài, giáo hoàng Vatican, phải không thể
sai được.
Bây
giờ, bạn thấy cách logic của mình cứ đi theo cách này... nhưng nó được bắt rễ
trong ham muốn. Bạn tin vào những điều ngu xuẩn thế - rằng giáo hoàng không thể
sai được. Và ngay cả bây giờ, sau hai nghìn năm, bạn vẫn tin rằng giáo hoàng là
không thể sai được. Và giáo hoàng đã làm nhiều điều ngu xuẩn thế.
Galileo
đã nói rằng trái đất quay quanh mặt trời, chứ không phải điều ngược lại... Kinh
Thánh nói mặt trời quay quanh trái đất, mọi kinh sách của thế giới đều nói rằng
mặt trời quay quanh trái đất, bởi vì điều đó rõ ràng thế. Mọi ngôn ngữ đều có
những từ này - 'mặt trời mọc', 'mặt trời lặn'. Chúng ta kinh nghiệm điều đó mọi
ngày; mọi ngày chúng ta thấy mặt trời mọc buổi sáng và lặn buổi chiều. Chúng ta
thấy toàn thể chuyển động của mặt trời từ đông sang tây, và thế rồi trong đên
nó biến mất; nó đã đi sang phía bên kia của trái đất, nó đi vòng quanh trái đất.
Đó là kinh nghiệm của chúng ta! Đó là điều chúng ta biết, cho nên trước
Galileo, mọi kinh sách của thế giới đều tin rằng mặt trời đi vòng quanh trái đất.
Galileo
là người đầu tiên nói rằng thực tại là điều đối lập lại: trái đất đi quanh mặt
trời. Bây giờ điều này chống lại Kinh Thánh và tìm bất kì lỗi nào trong Kinh
Thánh đều nguy hiểm. Nếu một điều có thể là sai trong Kinh Thánh, thế thì về
các điều khác thì sao? Có thể chúng cũng là sai; chúng cần ai đó khác Galileo để
tìm ra sai. Thế thì nó sẽ chấm dứt ở đâu? Và nếu các nhà tiên tri mà sai, thì
giáo hoàng sẽ ra sao? Và tất cả các giáo hoàng đều đã được tin...
Galileo
bị triệu vào toà án của giáo hoàng. Ông ấy bị ép buộc - ông ấy đã rất già, bẩy
mươi tuổi, ốm yếu - ông ấy bị kéo lê tới toà án trong xiềng xích. Ông ấy đang nằm
trên giường và ốm tới mức ông ấy sắp chết bất kì ngày nào. Và ông ấy đã không sống
lâu sau đó. Ông ấy bị buộc phải xin lỗi. Và Galileo phải đã là con người của
sáng suốt lớn lao. Ông ấy nói, "Tất nhiên, nếu Kinh Thánh nói và nếu tất cả
các nhà tiên tri đồng ý và nếu mọi giáo hoàng, những người không thể sai được,
nếu họ nói rằng mặt trời quay quanh trái đất, tôi xin lỗi, tôi rất tiếc."
Giáo
hoàng rất hạnh phúc, toà án rất hạnh phúc rằng họ đã đem một kẻ tội lỗi về với
ý thức của người đó.
Thế
rồi Galileo nói, "Nhưng một điều tôi phải nói với các ông: tôi có thể xin
lỗi, tôi có thể nói nếu các ông muốn tôi nói rằng mặt trời quanh quanh trái đất
- nhưng mặt trời sẽ không nghe lời tôi và trái đất chẳng có nghĩa vụ gì phải
theo lệnh của tôi. Dầu vậy trái đất sẽ cứ quay quanh mặt trời, mặc cho xin lỗi
của tôi. Tôi xin lỗi, nhưng tôi có thể làm gì được? Nếu trái đất quay quanh mặt
trời tôi không thể dừng nó lại được."
Và
tất cả những giáo hoàng này đã từng ngăn cản mọi sự trưởng thành khoa học. Dầu
vậy trong thế kỉ hai mươi hàng triệu người Cơ đốc giáo vẫn cứ tin rằng giáo
hoàng là không thể sai được. Nhưng đây thực sự là hệ quả logic: nếu bạn tin Thượng
đế không thể sai được, thế thì tất nhiên con của ngài là không thể sai được, thế
thì đại diện của con của ngài là không thể sai được.
Nhưng
sâu bên dưới, tại sao bạn tin vào điều vô nghĩa thế? Và đây không chỉ là về người
Cơ đốc giáo; nó cũng là về người Hindus, về người Mô ha mét giáo, về người
Jaina, ngay cả về Phật tử. Họ tất cả đều cứ tin vào điều vô nghĩa hoàn toàn.
Phật
tử tin rằng Phật Phật được sinh ra khi mẹ ông ấy đang đứng trong vườn; bà ấy đi
dạo. Không chỉ thế, bản thân ông ấy cũng được sinh ra trong tư thế đứng. Ông ấy
ra khỏi bụng mẹ, đứng trên đất, bước đi bẩy bước và tuyên bố, "Ta là người
đã chứng ngộ!" Bây giờ trong hai mươi nhăm thế kỉ các Phật tử đã tin vào
điều vô nghĩa này. Không đứa trẻ nào có thể làm được điều đó, nhưng nếu bạn
hoài nghi điều đó thế thì bạn hoài nghi kinh sách. Nếu bạn hoài nghi kinh sách
thế thì run rẩy lớn nảy sinh trong bạn bởi vì thế thì bạn trở nên sợ. Hoài nghi
là không tốt, hoài nghi là phi tôn giáo; người ta phải tin. Và tin tưởng càng
ngớ ngẩn, việc kiểm tra cho người tin càng lớn.
Phật
nói: Không ham muốn gì, không hoài nghi gì... Thầy không ham muốn gì, do đó thầy
không hoài nghi gì - bởi vì thầy không tin gì. Thầy sống không có ham muốn,
không tin tưởng, không hoài nghi. Và thế thì cái còn lại trong bản thể bên
trong của thầy là tin cậy. Tin cậy không phải là tin tưởng; nó là thiếu vắng của
cả hoài nghi và tin tưởng. Phật gọi nó là shraddha. Nó chỉ có thể được dịch là
tin cậy - tin cậy vào sự tồn tại.
Tin
tưởng bắt rễ trong ham muốn và mọi tin tưởng đều mang cái tương ứng của riêng
nó, hoài nghi, như cái bóng. Tin cậy là thiếu vắng ham muốn, tin tưởng, hoài
nghi. Nó là thuần khiết của trái tim, hồn nhiên của trái tim. Trong hồn nhiên
đó có gặp gỡ và hội nhập với vũ trụ. Điều đó là tin cậy; nó chẳng liên quan gì
tới bạn. Không phải là bạn tin cậy; bạn không còn đó nữa, chỉ tin cậy có đó.
Không
ham muốn gì, không hoài nghi gì, bên ngoài phán xét và buồn khổ... Thầy đi ra
ngoài phán xét; do đó không có vấn đề về tin tưởng hay hoài nghi. Thầy không
bao giờ phán xét; thầy không bao giờ nói, "Cái này là đúng và cái kia là
sai." Thầy đã vứt bỏ tâm trí, cái là quá trình phán xét thường xuyên. Tâm
trí liên tục phán xét; phát xét của nó đã trở thành ám ảnh.
Bạn
thấy hoa hồng và trước đây bạn đã từng thấy nó, tâm trí đã nói, "Nó đẹp."
Bạn thấy người đàn ông đi qua và trước đây bạn đã thấy đúng người đàn ông này,
tâm trí nói, "Người đó xấu." Phán xét là ngay lập tức, nó dường như
không mất thời gian. Bạn liên tục phán xét.
Thầy
nhìn vào sự kiện nhưng không có phán xét, bởi vì thực tế đẹp và xấu tất cả đều
là phóng chiếu của bạn. Khi bạn nói hoa hồng đẹp đó là ý tưởng của bạn, không
cái gì khác. Hoa hồng là hoa hồng là hoa hồng; nó không đẹp không xấu, nó đơn
giản là bản thân nó. Người xấu không phải là xấu và người đẹp không phải là đẹp;
đó chỉ là vấn đề ý tưởng của bạn về đẹp là gì. Do đó với người khác nhau các thứ
khác nhau được coi là đẹp.
Ở
Trung Quốc cái đẹp có mầu sắc khác, hình dạng khác; ở Ấn Độ nó có hình dạng và
mầu sắc khác, ở châu Âu hiển nhiên nó sẽ khác. Mỗi nước có ý tưởng riêng của
mình về cái đẹp và những ý tưởng đó cứ thay đổi, chúng tới như thời trang. Một
điều là đẹp hôm nay và ngày mai nó trở thành xấu; hôm nay nó xấu và ngày mai bỗng
nhiên nó trở thành đẹp.
Bạn
có thể tin được rằng hai trăm năm trước tranh của Picasso được coi là đẹp
không? Không thể được! Thậm chí không thể tìm được một người trên thế giới nói
chúng là đẹp. Và bất kì ai đã nói chúng là đẹp chắc đã bị coi là điên.
Vincent
van Gogh không thể bán được tranh nào của mình, cho dù là một tranh, bởi lẽ đơn
giản là mọi người nghĩ chúng không lành mạnh - không chỉ xấu mà còn không lành
mạnh nữa. Bây giờ chỉ hai trăm tranh còn trong sự tồn tại và từng tranh có nhiều
giá trị tới mức nếu những người đó quay lại và thấy rằng tranh của Vincent van
Gogh được bán hàng triệu đô la họ sẽ không có thể tin được vào mắt mình, điều
đã xảy ra cho loài người. "Mọi người đã bắt đầu bỗng nhiên thấy cái đẹp gì
trong tranh của Vincent van Gogh? Không ai coi chúng là đẹp." Ý tưởng về
cái đẹp đã thay đổi.
Thơ
ca hiện đại không hay theo cùng cách như thơ của Shakespear đã hay; nó không
hay theo cùng cách như Kalidas hay Bhavabhuti, như Byron hay Shelley. Nó là một
loại đẹp hoàn toàn khác. Chỉ là ý tưởng của chúng ta! Nếu loài người biến mất
khỏi trái đất sẽ không có gì đẹp và không có gì xấu. Cỏ dại sẽ có giá trị như
hoa hồng; sẽ không có khác biệt gì, sẽ có bình đẳng đơn giản.
Thầy
là người đã vứt bỏ mọi ý tưởng con người về mọi thứ, do đó thầy không có phán
xét. Thầy sống theo cách không phán xét. Và bạn có thể thấy được không? - khi bạn
sống theo cách không phán xét bạn thu được chân thành lớn lao, một cách tự
nhiên; không cái gì quấy rối bạn, không cái gì xúc phạm bạn, không cái gì hấp dẫn
bạn, không cái gì làm mê đắm bạn.
Bên
ngoài phán xét và bạn bên ngoài buồn khổ. Phật nói: Nếu ông thực sự muốn đi ra
bên ngoài buồn khổ, đi ra bên ngoài phán xét. Nhưng đi ra ngoài phán xét nghĩa
là đi ra ngoài tâm trí. Tâm trí là phán xét; nếu bạn sống trong tâm trí nó sẽ
giữ cho bạn bị khô héo đi với mọi loại phán xét. Nếu bạn vứt bỏ tâm trí thì bỗng
nhiên toàn thể sự tồn tại trở thành sẵn có cho bạn. Lần đầu tiên bạn không bị
che mờ.
"Lại
đây, ta giao cấu," người Italy nói việc hẹn hò mới năm phút sau khi anh ta
gọi điện cho cô ấy.
"Ồ,
anh phức tạp thế, Pietro," cô ấy nói.
"Phức
tạp thế " - chỉ sau năm phút! Nhưng ở Italy nó có thể là phức tạp; sau năm
phút, ở Ấn Độ, nó sẽ là cưỡng hiếp và cô gái sẽ kêu cảnh sát. Sẽ phải mất nhiều
tháng cho bạn tán tỉnh người đàn bà, thuyết phục cô ấy, đem cô ấy xuống đất. Nó
là quá trình dài, dài lâu. Nhưng mọi sự ở Italy dường như nhanh chóng: năm phút
và cô ấy nói, "Anh phức tạp thế, văn hoá thế!" Điều đó tất cả đều là
ý tưởng của bạn.
Không
ham muốn gì, không hoài nghi gì,
Bên
ngoài phán xét và buồn khổ và hoan lạc của giác quan,
Người
đó đã đi ra ngoài thời gian.
Người
đó thuần khiết và tự do.
Bốn
điều này phải được hiểu. Điều thứ nhất là giác quan và hoan lạc của chúng; đó
là loại cuộc sống thấp nhất. Và nhớ, bằng việc gọi nó là "thấp nhất"
Phật không phán xét nó, đó không phải là đánh giá - đó đơn giản là phát biểu sự
kiện. Cũng như bạn nói "bậc thang thấp nhất của chiếc thang" - không
có phán xét. Nó không xấu, nó không đặc biệt gì hơn bậc thang cao nhất. Nó đơn
giản là phát biểu về sự kiện. Điều này phải được nhớ liên tục, bằng không bạn sẽ
quên; bạn sẽ bắt đầu nghĩ rằng bản thân Phật đang phán xét. Thế thì ông ấy là
thầy hay không? Ông ấy không phán xét, ông ấy đơn giản phát biểu sự kiện.
Giác
quan là thấp nhất bởi vì chúng ở chu vi, chúng là một phần của thân thể bạn. Có
những người sống chỉ trong giác quan, họ vẫn sống như con vật. Lại nhớ, đó
không phải là phán xét: con vật không xấu, con vật không vô đạo đức. Không có vấn
đề về cấp bậc. Nhưng con vật sống trong thân thể, và con người sống chỉ trong
giác quan là đang sống một loại cuộc sống con vật. Người đó sống trong hành
lang của lâu đài của mình. Không phải là người đó vô đạo đức, nhưng chắc chắn
người đó không thông minh. Người đó có thể đã sống trong lâu đài và người đó vẫn
sống ở hành lang - và chịu nóng của mặt trời, và trong cơn mưa người đó bị mưa
ướt và trong giá rét người đó bị lạnh. Người đó có thể đã ở trong chỗ an toàn
và thoải mái và ấm cúng của lâu đài. Lâu đài thuộc về người đó, nhưng người đó
sống trong hành lang cứ tin rằng đấy là tất cả mọi thứ có đó cho cuộc sống.
Người
sống chỉ trong nhục dục, thèm khát, người bị ám ảnh với thức ăn, người bị ám ảnh
bởi thân thể mình, liên tục nghĩ về thân thể, còn chưa là người. Người đó là
con vật tốt, nhưng hoàn toàn mù quáng với tiềm năng mà người đó được sinh ra,
hoàn toàn mù với điều người đó có thể trở thành, vô ý thức về toàn thể miền bản
thể mình.
Vòng
thứ hai, sâu hơn thân thể, là vòng của tâm trí. Tâm trí có vui thú riêng của
nó, có cao hơn hơn chút ít. Lại nhớ, nó chẳng liên quan gì tới phán xét. Chúng
có sâu hơn chút ít, chúng có gần hơn với điện thờ bên trong nhất. Chúng thực tại
hoá một chút ít tiềm năng của bạn. Người tận hưởng toán học, khoa học, triết học
chắc chắn có cảm giác vui vẻ sâu hơn. Plato có cảm giác vui vẻ sâu hơn Nero.
Người
ta nói về Nero rằng ông ấy thường mang theo bốn ngự y trị liệu ngay cả khi ông ấy
đi trận. Bốn ngự y này giúp ông ấy nôn ra bởi vì ông ấy thích ăn nhiều lần
trong ngày. Bây giờ bạn không thể ăn được nhiều lần thế trong một ngày; có giới
hạn. Bạn có thể ăn ba lần, bốn lần, năm lần nhiều nhất; hơn thế sẽ là không thể
được. Thân thể sẽ không chứa được nó, bạn sẽ bị đầy bụng. Cho nên sau khi ăn,
các ngự y sẽ giúp cho ông ấy nôn ra ngay để cho ông ấy có thể ăn nữa. Ông ấy
thường ăn ít nhất hai mươi lần một ngày. Ông ấy phải đã là người ăn lớn nhất
trên thế giới. Nhưng đây là loại cuộc sống gì vậy? - hai mươi lần nôn ra để ăn
hai mươi lần! - cứ dường như ông ấy chỉ sống trong các gai lưỡi, trong gai vị
giác.
Tất
nhiên Plato sâu sắc hơn nhiều. Ông ấy hưởng thú cuộc sống suy tư: ông ấy suy tư
về các ngôi sao, ông ấy suy tư về mặt trời lên và mặt trời mọc, ông ấy suy tư về
khả năng tiến bộ của con người. Và ông ấy tận hưởng nó - và ông ấy tận hưởng nó
nhiều tới mức nhiều lần ông ấy quên cả ăn, ông ấy quên hoàn toàn rằng ông ấy đã
bỏ lỡ bữa ăn.
Có
lần chuyện xảy ra:
Người
ta đem bữa sáng tới cho Albert Einstein còn ông ấy đang chìm sâu trong suy tư -
đó chắc phải đã là thách đố toán học lớn lao nào đó mà ông ấy bị dính vào - tới
mức ông ấy ngồi nhắm mắt lại. Cho nên người phục vụ không quấy rầy ông ấy; anh
ta bỏ bữa sáng ngay trước ông ấy rồi đi mất.
Trong
khi đó một người bạn tới. Người này cũng thấy ông ấy bị cuốn hút sâu tới mức
người này nghĩ, "Tốt hơn cả... bữa sáng đang bị nguội đi rồi." Thế là
người này chén luôn bữa sáng đó và đẩy đĩa sang bên.
Vào
khoảnh khắc đó Einstein mở mắt ra, nhìn vào cái đĩa trống rỗng, nhìn người bạn
và nói, "Tiếc quá, ông đến hơi chậm rồi. Tôi vừa mới ăn sáng xong."
Bây
giờ, điều này còn tốt hơn là một Nero. Nhưng có tầng thứ ba còn cao hơn, còn
sâu hơn: tầng của trái tim - tình yêu, âm nhạc, thơ ca, nhảy múa. Người tận hưởng
nghệ thuật, người có thể tận hưởng và tán thưởng sự hài hoà, mầu sắc, người có
thể thấy thơ ca nào đó trong cuộc sống và sự tồn tại, người có thể cảm thấy lễ
hội nào đó đang diễn ra khắp xung quanh, tất nhiên họ đi sâu hơn. Một
Rabindranath... nhà thơ đi sâu hơn nhà toán học, nhạc sĩ đi sâu hơn triết gia.
Nhưng đây vẫn là những vòng tròn đồng tâm bao quanh trung tâm của bạn.
Cái
thứ tư - các nhà huyền môn Ấn Độ đã đơn giản gọi nó, "cái thứ tư,"
turiya - là thế giới của bản thể bạn, cốt lõi bên trong nhất. Những người tận
hưởng thiền, không thức ăn không triết lí không thơ ca, nhưng người đã đi ra
ngoài tất cả những điều này và đã đi vào trong thế giới của im lặng hoàn toàn,
của trống rỗng tuyệt đối, người biết cách không hiện hữu... Vâng, câu hỏi là,
"Hiện hữu hay không hiện hữu?" Những người đã chọn không hiện hữu, họ
là thiền nhân. Họ đã đi từ giác quan tới samadhi, và đó là kinh nghiệm cao nhất
của cuộc sống.
Phật
nói: Không ham muốn gì, không hoài nghi gì, bên ngoài phán xét và buồn khổ và
hoan lạc của giác quan, người đó đã đi ra ngoài thời gian.
Người
đã đi vào trong bản thể mình đã đi ra ngoài thời gian. Thời gian tồn tại với
thân thể, với tâm trí, với trái tim, nhưng với bản thể không có thời gian. Bạn
bỗng nhiên kinh nghiệm vô thời gian - hay bạn có thể gọi nó là vĩnh hằng. Chính
chỉ trong trạng thái đó khi bạn đã siêu việt lên trên tâm trí, siêu việt lên
trên thời gian mà bạn là thuần khiết và tự do. Lần đầu tiên bạn biết thuần khiết
là gì. Nó không phải là cái gì đó được trau dồi; nó là cái gì đó như hương thơm
của thiền sâu. Niềm vui, bài ca, lễ hội nảy sinh từ im lặng, âm thanh của im lặng
vô âm - đó là thuần khiết, đó là hồn nhiên, bạn đã trở thành đứa trẻ lần nữa.
Và đó là chín chắn nữa, đó là trưởng thành. Bạn đã đến tuổi. Bạn thực sự được
sinh ra, bạn được sinh ra mới mẻ.
Người
đó rõ ràng làm sao...
Bây
giờ thầy có sáng tỏ bởi vì mọi mây mù đã biến mất, mây tạo ra bởi thân thể...
Thân thể tạo ra mây đen nhất, mây đậm đặc nhất, mây dầy đặc nhất. Khi bạn đi xa
thêm vào bên trong mây kém đen đi, kém dầy đi, kém đậm đặc đi. Khi bạn đã đạt tới
cái thứ tư, turiya, mọi mây đã biến mất; có sáng tỏ thuần khiết. Bạn có thể thấy
xuyên thấu. Toàn thể sự tồn tại trở thành trong suốt. Không cái gì bị che giấu
khỏi bạn nữa. Người đó rõ ràng làm sao.
Người
đó là mặt trăng.
Người
đó chân thành.
Người
đó chói sáng.
Tại
điểm này, bỗng nhiên có thay đổi giả kim thuật trong năng lượng của người đó.
Bình thường người ta sống như năng lượng mặt trời; thầy sống như năng lượng mặt
trăng. Đây là biểu dụ, nhưng cực kì có ý nghĩa, những chỉ báo rất diễn đạt.
Năng lượng mặt trăng nghĩa là năng lượng mát mẻ, năng lượng mặt trời nghĩa là
năng lượng nóng. Khi bạn sống trong đam mê, thèm khát, giận dữ, tham lam, ghen
tị, sở hữu, hận thù, bạn sống như lửa. Đó không chỉ là người khác bị thiêu qua
bạn, bạn đang tự thiêu chính mình. Thực tế, nếu bạn muốn thiêu người khác bạn
phải thiêu mình trước đã; chỉ thế thì bạn mới có thể thiêu được người khác. Bạn
thường xuyên trong cơn sốt. Năng lượng mặt trời là sốt nóng, nó tạo ra không
lành mạnh, nó làm bạn phát rồ. Nó giữ bạn chạy và xô theo ảo tưởng.
Thiền
là phép màu biến đổi năng lượng mặt trời thành năng lượng mặt trăng. Mặt trăng
tạo ra phép thần mọi đêm. Mặt trăng không có tia sáng của riêng nó, nó đơn giản
phản xạ ánh mặt trời. Nó hấp thu ánh mặt trời và phản xạ lại chúng; mặt trăng vận
hành chỉ như chiếc gương. Do đó mặt trăng đại diện cho hai điều: thứ nhất nó là
tấm gương. Thầy là tấm gương, thiền làm bạn thành tấm gương - không có bụi nào,
tuyệt đối sạch và thuần khiết, cho nên mọi thứ đều được phản xạ trong bạn như
nó vậy, không phán xét mà đơn giản như nó vậy trong tính sự kiện tuyệt đối của
nó.
Và
thứ ai, mặt trăng, chỉ bởi việc phản xạ chúng, biến đổi tia nóng của mặt trời
thành năng lượng mát mẻ. Đó là điều xảy ra qua thầy. Thầy hấp thu cùng năng lượng
mà bạn hấp thu, thầy ăn cùng thức ăn như bạn ăn, thầy uống cùng nước như bạn uống,
thầy thở cùng không khí như bạn thở, nhưng thay đổi giả kim thuật nào đó thường
xuyên diễn ra trong thầy.
Từ
thức ăn của mình bạn trở nên ngày một dâm dục hơn, từ việc thở của mình bạn trở
nên ngày một nóng hơn. Thầy thở cùng không khí, nhưng phép màu nào đó xảy ra
bên trong thầy mà không cảm nhận được với bạn. Cùng không khí đó không tạo ra
cùng kết quả cho thầy như nó tạo ra cho bạn, cùng thức ăn đó không tạo ra cho
thầy cùng vấn đề như nó tạo ra cho bạn. Thầy không sống trong thế giới khác; thầy
sống trong thế giới của bạn và thầy sống theo cùng cách như bạn sống.
Những
người trốn khỏi thế giới không phải là thầy thực; họ sợ thế giới. Họ sợ hấp thu
năng lượng điên khùng này. Thế giới đầy nó; do đó họ trốn lên Himalaya. Nhưng họ
đơn giản chỉ ra bằng việc trốn chạy của họ rằng họ chưa phải là thầy. Thầy thực
sống ở đây trong thế giới này. Thầy hấp thu cùng năng lượng điên khùng, nhưng
khi nó quay lại, khi nó được phản xạ lại qua thầy, nó không còn điên khùng nữa.
Nó trở thành ân huệ, nó trở thành mát mẻ. Thầy mưa rào cả nghìn lẻ một phúc làm
ngay cả lên những người không xứng đáng, ngay cả lên những người sẽ không bao
giờ cảm thấy cám ơn, ngay cả những người có thể làm hại thầy.
Jesus
thậm chí đã hôn Judas và rửa chân ông ta, và ông ấy biết người này đã phản bội
mình. Ông ấy biết hoàn toàn rõ, bởi vì trước khi rửa chân của Judas ông ấy đã
nói với các đệ tử của mình, "Đêm nay ta sẽ bị phản bội bởi một người trong
các ông." Nhưng ông ấy không thể làm khác được: ông ấy chỉ có thể hôn, ông
ấy chỉ có thể rửa chân. Ông ấy không có bản ngã, ông ấy hoàn toàn khiêm tối. Thực
tế, ông ấy không có cái ngã; ông ấy là một vô ngã. Lời của Phật dành cho nó là
anatta - vô ngã. Và ông ấy thường xuyên toả ra năng lượng mát mẻ của mặt trăng.
Người
đó là mặt trăng. Người đó chân thành. Người đó chói sáng - người đó chân thành
như mặt trăng và người đó chói sáng đẹp đẽ như mặt trăng.
Vì
người đó đã du hành
Hết
kiếp nọ sang kiếp kia
Qua
bùn lầy và đường không thật của ảo tưởng.
Người
đó biết từ kinh nghiệm cay đắng. Người đó có mọi từ bi với bạn. Nếu bạn ở sâu
trong bùn người đó chỉ có từ bi với bạn. Người đó làm mọi nỗ lực để kéo bạn ra
khỏi bùn lầy bởi vì người đó đã từng ở trong cùng bùn lầy đó nhiều kiếp rồi.
Người đó đã du hành trên cùng con đường, người đó đã đi lạc lối cả nghìn lần,
người đó đã khổ theo cùng cách.
Đó
là một trong những điều đẹp nhất mà Phật đã dạy, bởi vì tất cả các tôn giáo
khác đều cố gắng chứng minh cái gì đó khác. Người Hindu nói ở Ấn Độ rằng
Krishna, Rama và tất cả các hoá thân của họ, họ đều giáng xuống từ cõi trời, họ
là một phần của Thượng đế, họ là hiện thân của Thượng đế. Đó là nghĩa của
'avatara'; avatara nghĩa là "giáng xuống từ trên." Họ không phải là một
phần của chúng ta, họ tới như sứ giả của Thượng đế. Họ đã không du hành trên
cùng con đường bùn lầy. Làm sao họ có thể hiểu nỗi khổ của chúng ta? Làm sao họ
có thể hiểu được vấn đề của chúng ta? Họ chưa bao giờ chịu đựng cùng vấn đề.
Và
cùng điều đó là trường hợp với Do Thái giáo. Và nhớ lấy, đây chỉ là hai tôn
giáo; mọi tôn giáo khác đều được sinh ra từ hai tôn giáo này. Do Thái giáo cũng
đã thuyết giảng cùng ý tưởng: rằng Thượng đế phái sứ giả của ngài, vị cứu tinh,
nhà tiên tri. Những người đó là người đặc biệt, họ không phải là người thường
như bạn.
Cách
tiếp cận của Phật là cực kì nhân bản; ông ấy là nhà huyền môn nhân đạo đầu
tiên. Ông ấy nói, "Ta đã du hành trên cùng con đường bùn lầy, ta đã chịu
khổ theo cùng cách các ông đang khổ, ta đã phạm phải cùng sai lầm. Do đó ta có
thể hiểu được các ông, và ta có thể hiểu được tại sao các ông không thể hiểu được
ta, bởi vì ta đã bắt gặp nhiều chư phật trong các kiếp khác của ta, nhiều chư
phật; ta chưa bao giờ hiểu được họ, ta bao giờ cũng hiểu lầm họ. Cho nên nếu
các ông hiểu lầm ta thì cũng chẳng có gì để làm ầm ĩ lên cả. Điều đó là đơn giản,
điều đó là tự nhiên, điều đó là không tránh khỏi. Cho nên bất kì điều gì các
ông làm cho ta," Phật nói, "điều đó là được. Dầu vậy ta sẽ cứ mưa rào
hoa của ta lên các ông bởi vì ta chẳng có gì khác để mưa rào."
Phật
không phải là hoá thân. Ông ấy đã không tới từ bên trên, ông ấy đã vươn lên từ
bên dưới. Ông ấy là hoa sen: ông ấy đã mọc lên từ cùng bùn lầy mà trong đó bạn
đang vật lộn. Và tôi hoàn toàn đồng ý với ông ấy. Khái niệm của Hindu và Do
Thái là hoàn toàn vô nhân; khái niệm đó không đúng. Điều đó không thể giúp cho
nhân loại được biến đổi.
Phật
đem tới sáng suốt hoàn toàn mới. Cách tiếp cận của ông ấy là không huyền thoại,
cách tiếp cận của ông ấy là khoa học. Vì người đó đã du hành hết kiếp nọ sang
kiếp kia qua bùn lầy và đường không thật của ảo tưởng - cho nên ông ấy biết và
ông ấy hiểu bạn. Bạn có thể không hiểu ông ấy, nhưng ông ấy hiểu bạn.
Bé
gái chập chững được dẫn đi trong chiếc xe do bà đẩy.
"Đừng
đi quanh góc nhanh thế, bà ơi," nó cầu xin. "Làm như bà làm ấy,
cưng," bà già dịu dàng nói, "và nhắm mắt lại!"
Người
mù đang dẫn người mù và họ đã tạo ra đủ mọi loại mê tín, thần thoại, tôn giáo.
Chỉ vị phật mới có khả năng, chỉ người được thức tỉnh, chỉ người cho tới giờ đã
thuộc vào bạn. Bạn ngủ và người đó thức, đó là khác biệt duy nhất; không có
khác biệt khác. Người đó có thể giúp bạn để được thức tỉnh bởi vì người đó biết
cách người đó đã trở nên thức tỉnh, việc đó khó làm sao, vấn đề nào phải được đối
diện. Người đó biết trạng thái của bạn.
Bệnh
nhân băng đầy người đang nằm trong giường bệnh viện nói một cách sửng sốt với bạn
tới thăm. "Cái-cái gì đã xảy ra?"
"Anh
đã quá say đêm qua và thế rồi đánh cá rằng anh có thể nhảy ra khỏi cửa sổ và
bay quanh khối nhà."
"Sao
anh không dừng tôi lại?" anh ta la lên. "Dừng anh lại, đồ chết tiệt!
tôi cá hai mươi nhăm đô la vào anh đấy!"
Người
tiếp tân của khách sạn năm sao cầm lấy điện thoại: "Tôi có thể giúp gì cho
ông?"
"Vâng,"
lời đáp, "ông làm ơn nói cho tôi khi nào quán của ông mở cửa?"
"Vâng,
thưa ngài. Quán mở vào năm giờ." "Cám ơn."
Một
giờ sau điện thoại lại reo và cùng giọng đó hỏi, "Ông-ông có-có thể nói
cho tôi khi-khi nào quán mở cửa?"
"Năm
giờ, thưa ngài," người tiếp tân nói. "Cám-cám ơn ông!"
Một
giờ nữa trôi qua và điện thoại lại reo. "Xin ông, khi-khi nào quán (hic) mở-mở
cửa?"
"Tôi
nhắc lại, năm giờ," người tiếp tân khó chịu trả lời.
Một
giờ sau điện thoại lại reo. "Hic! Hic! Xin-xin chào!"
"Lại
ông!" người tiếp tân kêu lên, "tôi bảo ông chúng tôi mở cửa quán lúc
năm giờ, nhưng trong trạng thái say xỉn của ông chúng tôi không thể cho phép
ông vào quán chúng tôi được!"
"Nhưng...
nhưng... nhưng - hic - tôi không muốn vào!" người say gào lên. "Tôi
muốn ra!"
Chỉ
ai đó đã từng ở trong mới biết những cái trong và cái ngoài. Chỉ người đã say
như bạn mới có thể giúp được bạn. Đó là lí do tại sao tổ chức có tên Những kẻ
say vô danh lại có ích thế. Nó đã giúp hàng nghìn người say bởi lẽ đơn giản là
người say khác đang giúp đỡ. Họ hiểu lẫn nhau, họ hiểu vấn đề. Họ không đứng
cao trên người khác nhìn với con mắt kết án vào họ, nhìn vào họ với cái nhìn
linh thiêng ngu xuẩn, "linh thiêng hơn ngươi," và thuyết giảng để họ
thành tốt. Họ đã từng trong cùng cảnh ngộ, họ đã chịu khổ nhiều; họ hiểu ngôn
ngữ của nhau.
Do
đó Phật đã giúp nhiều người trở nên chứng ngộ hơn bất kì ai khác trong toàn thể
nhân loại. Tôi không nghĩ Krishna đã giúp bất kì ai trở nên chứng ngộ; ông ấy
đã chứng ngộ, nhưng ông ấy không thể giúp được ai khác. Tôi sợ Jesus không thể
giúp được bất kì ai, thậm chí ngày cả trong số mười hai tông đồ của ông ấy. Họ
vẫn còn rất bình thường tới tận cùng; không người nào trong số họ trở nên chứng
ngộ.
Phật
dường như là một thầy ngoại lệ - thực tế người đầu tiên mà chúng ta có thể thực
sự gọi là thầy, bởi vì qua ông ấy hàng nghìn người đã trở nên chứng ngộ. Và lí
do tại sao sự hấp dẫn của Thầy lại sâu thế là ở chỗ ông ấy không phải là người
giả vờ. Ông ấy không phải là cứu tinh, ông ấy đã không tới từ bên trên, ông ấy
không tuyên bố cái gì. Ông ấy không phải là đứa con duy nhất của Thượng đế; ông
ấy không nói về Thượng đế chút nào. Ông ấy không nói bất kì điều gì đó vô
nghĩa. Ông ấy rất nhạy cảm và rất thực tế. Ông ấy ngụ ý công việc. Và ông ấy có
thể giúp đỡ nhiều lắm. Ông ấy nói: Vì người đó đã du hành - thầy đã du hành - hết
kiếp nọ sang kiếp kia qua bùn lầy và đường không thật của ảo tưởng.
Khi
nào bạn sẽ dậy? Bạn cứ trì hoãn, bạn cứ nói ngày mai. Và bạn đã làm điều này
trong hàng thế kỉ, và ngày mai vẫn chưa tới. Khi nào nó sẽ tới? Dừng trì hoãn lại.
Trì hoãn là mẹo của tâm trí.
Sau
cú cất cánh nhẹ nhàng cơ trưởng của chiếc Boeing 707 chào mừng các hành khách:
"Thưa quí khách, xin chào mừng quí khách đang trên máy bay. Tôi, cơ trưởng
Cook, và phi hành đoàn mong ước quí khách có một chuyến bay thú vị. Chúng ta hạ
cánh ở Amsterdam trong khoảng năm giờ."
Vài
phút sau cùng giọng đó được nghe thấy qua loa: "Cứt thật, Johnny, tôi cảm
thấy thích một cốc bia mát ngon và cú giao cấu hay..."
Khi
cô tiếp viên chạy vào buồng lái để thông báo cho phi công rằng loa đang bật, một
hành khách nắm lấy tay cô ấy và nói, "Này, thưa bà, xô vào làm gì? Chúng
ta vẫn còn năm giờ nữa để đi!"
Chúng
ta bao giờ cũng nghĩ dưới dạng tương lai. Dừng nghĩ dưới dạng tương lai đi; đó
là cách thức của tâm trí để sống, để kéo dài, để được nuôi dưỡng. Tương lai là
thức ăn của tâm trí. Khoảnh khắc bạn trở nên quyết định về hiện tại, tâm trí đã
bắt đầu chết. Nó là bắt đầu của cái cuối, cái cuối của tâm trí. Và chỗ cuối của
tâm trí là bắt đầu của sự tồn tại thực của bạn, cuộc sống thực của bạn.
Và
bạn không thể thấy được rằng cuộc sống đã là rất hay thay đổi, rằng nó đã từng
lừa dối bạn lặp đi lặp lại đó sao? Dầu vậy bạn vẫn cứ bị lừa. Bạn khờ dại làm
sao! Và bạn cứ rơi vào cùng rãnh - chúng thậm chí không khác - vẫn cùng cái bẫy.
Một
người Do Thái và người Polack đang ngồi cùng nhau trong một khoang tầu hoả. Người
Do Thái đang ăn hột táo nào đó.
Sau
một lúc, người Polack trở nên tò mò và hỏi người Do Thái, "Sao anh ăn hột
táo?"
Người
Do Thái đáp, "Hột táo làm cho ông khôn!"
Người
Polack, càng tò mò hơn, hỏi, "Chúng có đểbán không?"
Người
Do Thái trả lời, "Có chứ, tất nhiên. Ông có thể được năm hột táo này chỉ với
năm đô la thôi."
Người
Polack đồng ý chuyện mua bán này và bắt đầu ăn hột. Bỗng nhiên người Polack
quay sang người Do Thái và nói, "Này, ông, nghe đây, với năm đô la tôi có
thể đã mua được năm ki lô táo!"
Người
Do Thái quay sang anh ta với nụ cười thoả mãn và trả lời, "Bây giờ ông thấy
đấy - nó đã bắt đầu có tác dụng rồi!"
Bạn
cứ lặp lại cùng sai lầm. Bạn cứ bị cuộc sống hay thay đổi khai thác, bởi đủ mọi
loại bẫy có ở khắp xung quanh bạn. Và vua và kẻ ăn xin tất cả đều trong cùng
con thuyền; không có khác biệt. Người nghèo và người giầu đều trong cùng con
thuyền; không có khác biệt bởi vì tất cả đều đầy ham muốn. Và bất kì khi nào
ham muốn tồn tại, bản ngã tồn tại, và bất kì khi nào bản ngã tồn tại ảo tưởng tồn
tại vì bản ngã là ảo tưởng lớn nhất có đó. Ngay cả trong kẻ ăn mày người chẳng
có gì khác bạn sẽ thấy cùng bản ngã như bạn thấy trong Alexander Đại đế, bởi vì
ham muốn là như nhau. Alexander Đại đế có thể có nhiều tiền và nhiều quyền, điều
đó không thành vấn đề; ông ta vẫn ham muốn. Kẻ ăn xin có thể không có gì, nhưng
người đó cũng ham muốn.
Khoảng
cách giữa bạn và ham muốn của bạn bao giờ cũng vẫn còn như nhau. Nó giống như
đường chân trời: giữa bạn và đường chân trời khoảng cách bao giờ cũng như nhau.
Bạn có thể cứ đi tới đường chân trời cả đời mình; khoảng cách không bao giờ được
làm ngắn lại, nó vẫn còn như cũ. Bạn có thể từ bỏ thế giới, bạn có thể bắt đầu
chạy khỏi đường chân trời, nhưng thế rồi bạn lại đối diện với chân trời khác.
Và bây giờ ham muốn đạt tới đường chân trời khác... Nếu bạn nhắm về phương tây,
bây giờ bạn sẽ nhắm về phương đông, nhưng nó là cùng đường chân trời - hay
phương nam hay phương bắc. Bạn có thể đi theo bất kì hướng nào, nó là cùng đường
chân trời. Trốn chạy sẽ không ích gì. Bạn có thể từ bỏ thế giới, điều đó sẽ
không thay đổi bạn.
Chỉ
có một thay đổi - chỉ một thay đổi, một cuộc cách mạng và đó là cách mạng vứt bỏ
ảo tưởng của bản ngã. Chính bản ngã giữ bạn trong bùn lầy và con đường không thật
của ảo tưởng.
Và
nhớ, đừng tự lừa mình rằng "Alexander Đại đế là kẻ bản ngã. Mình là người
nghèo, người khiêm tốn. Mình đi nhà thờ mọi chủ nhật - làm sao mình có thể bản
ngã được?" Bạn đang trong cùng con thuyền, theo cùng cách. Bạn có cùng bản
ngã.
Khi
chiếc xe Rolls Royce có người lái dừng lại tại đèn giao thông, một kẻ lang
thang gõ vào cửa sổ và giơ tay ra. Bằng cách nào đó một quí ông người Anh có học
vấn ngồi ở ghế sau vặn cửa sổ xuống và nói theo một giọng rất văn hoá,
"'Không kẻ mượn không kẻ vay nào là'... William Shakespeare." Và chiếc
Rolls Royce đi tiếp.
Kẻ
lang thang, thấy rằng chiếc Rolls đã dừng ở đèn giao thông tiếp, chạy ngược xuống
đường và lại gõ vào cửa sổ lần nữa. Quí ông vặn cửa sổ xuống và kẻ lang thang
nói, "Đéo mày... D.H. Lawrence."
Người
đó không run rẩy hay chộp giật hay ngần ngại. Người đó đã tìm ra an bình.
Người
đó không có sợ hãi. Một khi ham muốn đã mất rồi sợ hãi không thể tồn tại được.
Khi ham muốn có đó bạn bao giờ cũng sợ - bạn sẽ làm nó lần này hay không? Hay nếu
bạn đã đạt tới mục đích của ham muốn của mình thì bạn sợ liệu bạn có khả năng
giữ được nó mãi mãi không. Nếu bạn muốn trở thành tổng thống thế thì nỗi sợ tới
- bạn sẽ làm làm nó thế nào? Cả triệu người muốn là tổng thống. Có nhiều người
thần kinh thế - bạn không phải chỉ là một. Toàn thế giới điên; bạn không phải
là người điên duy nhất. Bạn có định làm nó không? Và bạn phải thực sự là người
điên nhất để làm nó bởi vì bạn sẽ phải tranh đấu với những người điên khác. Bao
giờ cũng có run rẩy.
Và
nếu bởi ngẫu nhiên - và nó bao giờ cũng ngẫu nhiên - nếu bởi trùng hợp ngẫu
nhiên nào đó bạn trở thành tổng thống, thế thì nỗi sợ mới nảy sinh: bạn có giữ
được nó không? - bởi vì nhiều người thế đang co kéo bạn. Chân bạn đang bị kéo,
mọi người đang đẩy bạn ra khỏi ghế của bạn. Và có nhiều người quanh bạn và mọi
người đều nguy hiểm bởi vì mọi người đều muốn ngồi trong cùng ghế, nhưng ghế có
thể chứa chỉ một người. Bây giờ có nỗi sợ lớn, bạn không thể ngủ được. Thực tế
bây giờ bạn còn sợ hơn bạn đã từng sợ; bạn biết chẳng chóng thì chầy họ sẽ lật
nhào bạn. Họ là nhiều còn bạn là một mình. Họ sẽ tụ tập cùng nhau lật nhào bạn.
Nhưng
thầy không có run rẩy bởi vì thầy không có ham muốn. Và thầy không níu bám vào
bất kì cái gì bởi vì thầy biết rằng chẳng có gì đáng níu bám; thầy có sự sáng tỏ
đó của trí huệ. Tất cả những thứ của thầy bao giờ cũng là của thầy, không ai có
thể lấy được nó đi. Thầy thấy nó bây giờ. Và tất cả những thứ không phải của thầy
đều sẽ bị lấy đi dù bạn níu bám lấy nó hay không, cho nên phỏng có ích gì mà
níu bám? Sao phí thời gian?
Thầy
không bao giờ ngần ngại - sáng tỏ của thầy là thế đấy. Với thầy không bao giờ
có vấn đề quyết định giữa các phương án; thầy đơn giản thấy... và thầy hành động.
Không có vấn đề hoặc nọ hoặc kia. Không bao giờ! Thầy thấy cửa và đi ra qua nó.
Không có vấn đề quyết định liệu có đi qua tường hay qua cửa. Với bạn bao giờ
cũng có vấn đề quyết định liệu có đi qua tường hay qua cửa. Thực tế, tường có vẻ
hấp dẫn hơn bởi vì hàng triệu lần bạn đã cố gắng qua tường và bạn thực sự giận
tường và bạn muốn chứng minh rằng một ngày nào đó bạn sẽ đánh bại tường này.
Cái tường câm này đã từng đánh bại bạn lặp đi lặp lại; bạn muốn trả thù. Thực tế,
bạn không thể thấy được cửa; bạn chỉ thấy tường này và tường kia. Vấn đề bao giờ
cũng là chọn tường nào bạn muốn đi qua.
Với
thầy không bao giờ có vấn đề chọn lựa. Thầy sống vô chọn lựa bởi vì thầy sống
có ý thức. Thầy tỉnh táo, thầy có mắt để thấy, còn bạn mù; do đó bạn bao giờ
cũng ngần ngại. Bởi vì thầy không sợ, không níu bám, không ngần ngại: Người đó
đã tìm ra an bình. Một cách tự nhiên, có an bình vô cùng trong bản thể người
đó.
Điềm
tĩnh
Người
đó buông bỏ cuộc sống,
gia
đình và hoan lạc và ham muốn.
Điềm
tĩnh người đó buông bỏ cuộc sống...
Người
đó không làm ồn ào về nó, người đó không ba hoa về từ bỏ. Bất kì cái gì người
đó thấy vô tích sự, người đó vứt bỏ nó. Thực tế, nói người đó vứt bỏ nó là
không đúng - người đó để nó đi, người đó cho phép nó được rơi rụng đi. Người đó
không chống cự, có vậy thôi. Người đó không làm nỗ lực nào để giữ nó. Và rất
bình thản, không nỗ lực nào. Cuộc sống của người đó là vô nỗ lực.
Gia
đình... Gia đình đại diện cho an ninh - người đó vứt bỏ ý tưởng về an ninh. An
ninh nào có thể có đó khi cái chết sẽ lấy đi mọi thứ? Trong cuộc sống này không
thể có an ninh được, trên bờ này không có an ninh; do đó người đó không bận tâm
về an ninh.
Và
hoan lạc... bởi vì người đó biết hoan lạc bao giờ cũng đem tới đau đớn. Người
đó đã thấy nó rõ ràng, rằng hoan lạc chỉ là mẽ ngoài; đằng sau nó đau đớn ẩn
kín kéo tới.
Người
đó có thể thấy thấu suốt; do đó người đó để nó đi. Và người đó đã sống trong
nhiều, nhiều kiếp và đã thấy rằng ham muốn đó là không thể hoàn thành được. Nó
bao giờ cũng theo sau nhiều hơn: bạn càng có nhiều, bạn càng đòi hỏi nhiều. Nó
là bài tập tuyệt đối ngớ ngẩn về vô tích sự.
Được
thấy, tất cả những điều này bắt đầu biến mất khỏi cuộc sống của người đó. Không
phải là người đó từ bỏ... Đó là điều nhấn mạnh của tôi: đừng bao giờ từ bỏ cái
gì. Nếu mọi thứ vô giá trị chúng sẽ rơi rụng đi theo cách riêng của chúng. Và
khi mọi sự rơi rụng đi theo cách riêng của chúng, có cái đẹp vô cùng trong
chúng, bởi vì chúng để cho bạn an bình, bình thản và yên tĩnh, bình tĩnh và định
tâm.
Không
cái gì của người có thể giữ được người đó. Không cái gì của thần có thể giữ được
người đó. Không cái gì trong mọi sáng tạo có thể giữ được người đó.
Khi
không có ham muốn, cái gì có thể giữ được người đó? Cái gì có thể làm cho người
đó thành tù nhân? Không thế giới này không thế giới nọ, không trần gian không
thiên đường.
Tất
cả các tôn giáo của thế giới đều nói về cõi trời và địa ngục. Phật nói có cái
gì đó bên ngoài cõi trời và địa ngục và cái đó là sự tồn tại thực. Ông ấy gọi
nó là niết bàn. Không tôn giáo nào khác nói về niết bàn; niết bàn là cảnh nhìn
hoàn toàn khác. Nó nghĩa là bạn không khao khát ham muốn cõi trời, niềm vui và
hoan lạc cõi trời, bởi vì nó là cùng cái ngu xuẩn được lặp lại ở tỉ lệ lớn hơn,
trên bình diện cao hơn, nhưng ngu xuẩn là như nhau.
Thầy
biết cái vô tích sự của ham muốn; do đó thầy không có ham muốn về cõi trời, thầy
không có ham muốn chút nào. Không cái gì trói buộc thầy và không cái gì bắt giữ
thầy.
Ham
muốn đã rời bỏ người đó, không bao giờ quay lại.
...
Bởi vì người đó đã thấy rằng nó là vô tích sự. Nếu bạn vứt bỏ nó bởi vì tôi nói
điều đó, thế thì nó sẽ quay lại lặp đi lặp lại. Nếu bạn vứt bỏ nó từ kinh nghiệm
riêng của mình qua thiền, thế thì nó đi mãi mãi, không bao giờ quay lại.
Buồn
khổ đã rời bỏ người đó, không bao giờ quay lại.
Và
buồn khổ là cái bóng duy nhất của ham muốn. Bao giờ cũng nhớ điều đó: mọi thứ
phải xảy ra cho bạn qua kinh nghiệm riêng của bạn.
Lời
cuối cùng của Phật cho các đệ tử của ông ấy là: Hãy là ánh sáng lên bản thân
mình. Và làm sao bạn có thể là ánh sáng lên bản thân mình? Đi ra ngoài thân thể,
tâm trí, trái tim. Tìm ra trung tâm của bản thể mình và bỗng nhiên có ánh sáng.
Nó đã có đó, nó đã cháy sáng. Nó là chính bản thể bạn; bạn chỉ phải khám phá ra
nó.
Khám
phá nó người ta khám phá ra chân lí. Khám phá nó người ta khám phá ra an bình.
Khám
phá nó người ta khám phá ra phúc lạc, niết bàn.
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment