Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 11)
Chương
5. Được tự do dịu ngọt làm sao
Cái lên và cái xuống.
Hạnh
phúc làm sao!
Tự
do ngọt ngào làm sao!
Đó
là bắt đầu của cuộc sống,
của
việc làm chủ và kiên nhẫn,
của
bạn tốt cùng trên đường,
của
cuộc sống thuần khiết và tích cực.
Cho
nên sống trong tình yêu.
Làm
việc của ông.
Làm
chỗ kết thúc của nỗi buồn của ông.
Để
thấy cách hoa nhài
nở
ra và làm rơi xuống những bông hoá héo của nó.
Để
rơi rụng đi chủ tâm và hận thù.
Ông
có yên tĩnh không?
Làm
yên tĩnh thân thể ông.
Làm
yên tĩnh tâm trí ông.
Người
tìm kiếm!
Đừng
khinh suất.
Thiền
thường xuyên
nếu
không ông sẽ nuốt lửa
và
kêu la: "Không thêm nữa!"
Nếu
ông không trí huệ,
Làm
sao ông có thể làm vững chắc được tâm trí?
Nếu
ông không thể làm yên tĩnh bản thân mình,
Ông
bao giờ học được cái gì?
Ông
sẽ trở nên tự do thế nào?
Ông
không muốn gì.
Ông
tĩnh lặng.
Lời
ông tĩnh lặng.
Với
tâm trí yên tĩnh
Bằng
nỗ lực riêng của ông
đánh
thức bản thân mình, quan sát bản thân mình.
đi
vào trong nhà trống đó, trái tim ông,
và
cảm thấy niềm vui của đạo và sống vui vẻ.
Bên
ngoài thế giới.
Ông
là người chủ,
Ông
là chỗ trốn tránh.
Nhìn
vào trong –
Như
lái buôn luyện ngựa tốt,
Làm
chủ bản thân ông.
Sung
sướng làm sao ông đi theo
Lời
của người đã thức tỉnh.
Yên
tĩnh làm sao, chắc chắn làm sao
Ông
tiến tới nước hạnh phúc,
Trái
tim của tĩnh lặng.
Dù
trẻ thế nào,
người
tìm kiếm khởi hành trên đạo chiếu sáng lên cả thế giới.
như
mặt trăng,
ló
ra từ sau đám mây! chiếu sáng.
Người
đánh cá Scots chết, tìm đường lên cõi trời, và bị Thánh Peter bắt dừng lại trước
cửa và nói, "Ông đã nói quá nhiều điều dối trá nên không vào đây được!"
"Có
lòng đi ông," người đánh cá đáp. "Nhớ là bản thân ông có thời cũng đã
là người đánh cá rồi!"
Phật
Gautama đang nhắc nhở các Bồ tát của mình rằng con đường mà bản thân họ đi
theo, chính chỗ bắt đầu của con đường, họ có thể đã quên hoàn toàn bây giờ. Ai
nhớ những giấc mơ buổi sáng khi mình tỉnh dậy? Trong vòng vài giây những giấc
mơ đó bị quên đi.
Cùng
điều đó xảy ra khi bạn trở nên chứng ngộ: mọi khổ, mọi ác mộng, mọi nỗi buồn mà
bạn đã chịu đựng nhiều thế đơn giản trở thành không có ý nghĩa, không liên quan
tới mức chúng biến mất khỏi tâm thức bạn. Chúng không còn là một phần của câu
chuyện cuộc sống của bạn - cứ như chúng đã xảy ra cho ai đó khác và không cho bạn.
Do đó Phật nhắc nhở các Bồ tát của ông ấy về cách cuộc hành trình bắt đầu từ
chính lúc đầu; chỉ thế thì những người này mới có thể có ích cho người khác.
Điều
đầu tiên ông ấy nói: Nhớ chỉ nói cho người tìm kiếm. Có nhiều người là người hỏi
nhưng không phải là người tìm kiếm, nhiều người tò mò nhưng không là người tìm
kiếm. Người tò mò có chút ít trẻ con. Mọi đứa trẻ đều tò mò - tò mò về từng và
mọi thứ, tò mò về cả nghìn lẻ một thứ, nhưng không thực sự quan tâm tới việc biết.
Nó hỏi một câu hỏi; đến lúc bạn trả lời, nó đã bắt đầu hỏi cái gì đó khác. Nó
không lắng nghe câu trả lời của bạn chút nào, nó không quan tâm tới câu trả lời
đó thêm nữa; đó là hiện tượng tạm thời. Nó trở nên bị hấp dẫn tới cái gì đó: nó
thấy bông hoa và nó hỏi về bông hoa, và thế rồi nó nghe tiếng động của máy bay
và nói bắt đầu hỏi về máy bay, và thế rồi cái gì đó khác bắt lấy mắt
nó...
Người
tìm kiếm nghĩa là người mà việc hỏi của mình không chỉ là tò mò, không là hiện
tượng trẻ con, mà là việc hỏi chín chắn, với người đó nó đã trở thành câu hỏi sống
và chết. Chừng nào chân lí còn chưa trở thành câu hỏi sống và chết thì bạn còn
chưa là người tìm kiếm.
Phật
đang nói cho các Bồ tát của ông ấy, các tông đồ của ông ấy: Chỉ nói cho người
tìm kiếm, chỉ đề cập bản thân mình cho người tìm kiếm. Đừng phí hoài thời gian
của bạn với những người ấu trĩ, người tò mò về từng và mọi thứ. Câu hỏi của họ
có thể có vẻ lớn lao, nhưng trái tim họ không trong câu hỏi của họ. Họ đã hỏi
chỉ để hỏi; họ không quan tâm tới việc tìm ra câu trả lời và họ không sẵn sàng
mạo hiểm bất kì cái gì. Nếu họ có thể có được câu trả lời tự do, có thể họ sẵn
sàng nghe; nhưng họ không sẵn sàng trả giá. Và câu hỏi thực của cuộc sống không
phải để được giải theo cách rẻ thế. Bạn phải trả giá và bạn phải trả bằng toàn
thể bản thể của bạn. Bạn phải tham dự vào; nó cần cam kết.
Bất
kì ai cũng có thể hỏi về Thượng đế, nhưng rất ít người sẵn sàng mạo hiểm bất kì
cái gì, để đi vào cái không biết, đi vào trong cuộc phiêu lưu - và cuộc phiêu
lưu vì Thượng đế là cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất có đó. Và nó đòi hỏi; nó rất đòi
hỏi - nó đòi hỏi cam kết toàn bộ của bạn. Nó sẽ không cho phép bạn vào bất kì
tham dự nào khác. Nó không thể chỉ là một tham dự trong nhiều tham dự khác; nó
phải là một và chỉ một tham dự. Chỉ thế thì mới có hi vọng rằng một ngày nào đó
bạn có thể tìm ra câu trả lời, điều giải thoát cho bạn. Do đó ông ấy nói:
Người
tìm kiếm!
Đừng
khinh suất.
Và
điều đầu tiên cần được dạy cho những người từ đâu, tại sao họ làm điều gì đó.
Có thể người khác đang làm nó cho nên họ bắt chước, nhưng người bắt chước không
phải là người tìm kiếm. Có thể người khác đi tới nhà thờ hay đền chùa nên họ
cũng đi. Họ không thực sự là người mà là cừu.
Người
tìm kiếm phải là sư tử. Người đó phải học tự do khỏi tâm lí đám đông, khỏi tâm
lí quần chúng. Người đó phải học cách thức của tính cá nhân, của sự độc lập.
Người đó phải nghĩ về điều mình đang làm và tại sao. Người đó không nên chỉ là
nạn nhân của các sinh lực tự nhiên; người đó nên có khả năng định hướng nào đó.
Chỉ thế thì mới có khả năng đạt tới, khả năng quay về nhà, khả năng đạt tới đâu
đó, khả năng đạt tới mãn nguyện, hoàn thành, nở hoa, kết quả. Bằng không cuộc sống
vẫn còn vô nghĩa; nó chỉ là mớ bòng bong các biến cố không liên quan.
Đừng
khinh suất. Điều thứ nhất: Đừng chỉ tò mò.
Điều
thứ hai: Đừng khinh suất.
Thành
phố New York bị kẹt cứng vì cuộc hội nghị. Mọi khách sạn và nhà nghỉ đều đầy.
Phillips mệt mỏi - anh ta đơn giản phải tìm ra chỗ để ngủ đêm đó.
"Cái
gì cũng được," Anh ta nói với nhân viên khách sạn.
"Tôi
có thể cho ông một cũi trong phòng khiêu vũ," nhân viên đáp, "Nhưng
có người đàn bà ở góc đối diện. Nếu ông không làm gì ầm ĩ gì cô ấy sẽ không
khôn hơn đâu."
"Tốt,"
Phillips nói. Anh ta đi vào phòng khiêu vũ nhưng năm phút sau chạy ra chỗ nhân
viên khách sạn.
"Này,"
anh ta kêu lên, "người đàn bà kia chết rồi!"
"Tôi
biết," là câu trả lời, "nhưng làm sao anh đã tìm ra?"
Mọi
người đều tò mò chẳng bởi lí do nào cả - đấy không phải việc của người đó. Cho
dù người đó không thể trả lời được tại sao - bản năng vô thức nào đó, có thể là
sinh học, có thể là hoá chất, nhưng không phải là tâm thức của người đó.
Ai
hay cái gì quyết định cuộc sống của bạn? - sinh học của bạn, hoá chất của bạn,
tâm lí của bạn, hooc môn của bạn? Ai quyết định cuộc sống của bạn? Bạn có đó
không? - bạn có như một sinh linh có ý thức không?
Một
người say bước vào quán rượu ở Glasgow và hỏi, "Đêm qua tôi có ở đây
không?"
"Có,
ông có ở đây," người chủ quán đáp. "Tôi có tiêu nhiều tiền
không?"
"Quãng
ba mươi bảng."
"Ơn
trời - tôi cứ tưởng tôi đã đánh mất nó!"
Angus
loạng choạng về nhà sau một đêm với các bạn thân về câu cá, anh ta bắt gặp một
bù nhìn, tay thò ra ngoài.
"Này,
Jimmy," anh ta nói, "tôi từ chối tin vào anh.
Chưa
bao giờ có cá hồi cỡ đó."
Một
số lính Scot bị đưa ra toà án quân sự vì phá hoại một nhà công cộng, và một người
trong số họ được yêu cầu giải thích với toà án sự việc rắc rối đó đã bắt đầu thế
nào.
"Dạ
thưa ngài," anh ta nói, "Binh nhì McSporran gọi binh nhì McDougall là
đồ dối trá, và binh nhì Paterson dùng ghế nện lên đầu anh ta. Binh nhì Fraser
rút dao găm của mình ra và chặt một mảnh chân của binh nhì McDougall. Hai hay
ba bạn thân của binh nhì McDougall đè lên binh nhì Fraser, và đôi người khác bắt
đầu ném cốc và bàn xung quanh. Điều nọ dẫn tới điều kia và thế rồi đánh nhau bắt
đầu."
Phật
nói:
Người
tìm kiếm! Đừng khinh suất.
Thiền
thường xuyên
nếu
không ông sẽ nuốt lửa
và
kêu la: "Không thêm nữa!"
Thiền
thường xuyên. Người là người tìm kiếm sẽ không thực sự quan tâm tới việc có được
các câu trả lời triết lí từ người khác; người đó sẽ quan tâm tới việc biết của
riêng mình. Người đó sẽ không quan tâm tới triết lí, người đó sẽ quan tâm tới
tôn giáo. Đó là khác biệt giữa triết học và tôn giáo. Triết học đang tung hứng
với lời, nghệ thuật chẻ sợi tóc ra, biện luận vô hạn về các ý tưởng trừu tượng,
chẳng đi tới đâu cả. Tôn giáo giống khoa học nhiều hơn: nó thực nghiệm, nó nhấn
mạnh vào kinh nghiệm. Khoa học là tôn giáo của thế giới khách quan, và tôn giáo
là khoa học của thế giới chủ quan.
Triết
học sẽ chết một ngày nào đó; nó đã trên giường chết rồi. Bạn có thể tới các đại
học và nhìn: mọi năm càng ngày càng ít người chuyển sang khoa triết học. Nhiều
khoa triết trống rỗng, bỏ trống. Mọi người đang đi vào khoa học hay tôn giáo.
Những người quan tâm tới việc biết chân lí về thế giới đều đi vào cuộc truy tìm
khoa học, vào vật lí, vào hoá học, vào toán học, vào sinh học. Hay, những người
quan tâm tới lãnh thổ riêng của mình, tính chủ quan riêng của mình, tâm thức
riêng của mình, đều đi tới tôn giáo, càng ngày càng hướng tới tôn giáo.
Tôn
giáo là khoa học về cái bên trong. Triết học không là cả hai: nó không là khoa
học của cái bên ngoài, không là khoa học của cái bên trong; nó ở giữa. Nó chỉ
nghĩ; nó nghĩ về mọi thứ - về khoa học, về tôn giáo - nhưng nó chỉ nghĩ. Và chỉ
bằng suy nghĩ, chẳng cái gì đã bao giờ xảy ra. Bạn có thể làm ra câu trả lời rất
thông minh, nhưng chúng sẽ không giải quyết được vấn đề thực của bạn; vấn đề là
thực và câu trả lời là trừu tượng. Vấn đề thực có thể được giải quyết chỉ bởi
câu trả lời thực.
Do
đó Phật nói: Người tìm kiếm có thể được thuyết phục thiền - chỉ người
tìm kiếm mới có thể được thuyết phục thiền. Thiền nghĩa là bạn bắt đầu thay đổi
thế giới bên trong của mình. Bạn bắt đầu loại bỏ bụi khỏi thế giới bên trong, bạn
bắt đầu loại bỏ tất cả những cái không cần thiết trong thế giới bên trong. Bạn
loại bỏ mọi lộn xộn, mọi rác rưởi mà bạn đầy trong mình. Thiền nghĩa là làm trống
rỗng bản thân bạn khỏi mọi điều xã hội đã đưa vào trong bạn để cho bạn có thể
có cái nhìn rõ ràng, sạch sẽ, để cho bạn có thể có phẩm chất như tấm gương. Khi
tấm gương có đó mà không có bụi nào, nó phản xạ thực tại; đấy cũng là trường hợp
với thiền.
Thiền
nghĩa là làm cho tâm thức của bạn thành tấm gương. Ý nghĩ giống như bụi, chúng
phải được loại bỏ. Và ý nghĩ chứa mọi thứ thuộc về tâm trí: ham muốn, tham vọng,
kí ức, mơ mộng... mọi chất liệu tâm trí đều là những dạng khác nhau của ý nghĩ,
các loại khác nhau, các tầng bụi khác nhau. Và bụi dầy tới mức tấm gương không
hoạt động chút nào - do đó bạn phải hỏi người khác. Một khi bụi bị loại bỏ đi bạn
không cần hỏi người nào, bản thân bạn có thể thấy. Sự tồn tại đã cho bạn tấm
gương thần - nó ở bên trong bạn.
Tôi
đã nghe một chuyện ngụ ngôn hay; nó phải là ngụ ngôn, nó không thể là hiện tượng
lịch sử được:
Khi
Alexander Đại đế tới Ấn Độ ông ấy thu thập nhiều châu báu có giá trị. Và khi
ông ấy ra đi ông ấy bắt gặp một fakir, người tu khổ hạnh, một fakir trần trụi.
Ông ấy hỏi ông này, "Ông có thấy kho báu của ta không? Ông đã bao giờ thấy
người nào với nhiều châu báu thế không?"
Fakir
nói, "Mọi châu báu của ông đều không là gì, nhưng tôi có thể cho ông một
thứ mà sẽ thực sự làm cho ông giầu có!"
Alexander
không thể hình dung được người fakir trần trụi này có thể cho mình cái gì.
Trong bình bát ăn xin của mình ông ta có một tấm gương nhỏ. Ông ta đưa tấm
gương cho Alexander.
Alexander
nói, "Tấm gương này sẽ làm cho ta thành người giầu nhất thế giới sao? Ông
phải điên rồi!"
Fakir
nói, "Trước hết nhìn vào tấm gương đã."
Và
Alexander nhìn vào trong tấm gương: nó không hiện lên khuôn mặt ông ấy - nó hiện
lên bản thể bên trong của ông ấy, nó hiện lên lãnh thổ bên trong của ông ấy, nó
hiện lên tính chủ quan của ông ấy. Bản thể của ông ấy được phản xạ trong tấm
gương.
Ông
ấy chạm chân fakir và nói, "Ông đúng rồi - mọi châu báu của ta chẳng là gì
trước tấm gương này."
Và
tương truyền ông ấy đã giữ tấm gương đó liên tục với mình.
Câu
chuyện ngụ ngôn này là hay. Tấm gương đó đại diện cho thiền. Fakir phải đã đưa
cho ông ấy cách thiền nào đó bởi vì chỉ thiền mới có thể làm cho bạn nhận biết
về mình là ai.
Nhưng
Phật nói thiền phải trở thành cái gì đó thường hằng. Phật đem tầm nhìn mới toàn
bộ về thiền cho thế giới. Trước Phật, thiền là cái gì đó bạn phải làm một hay
hai lần một ngày, một giờ buổi sáng, một giờ buổi tối, và đó là tất cả. Phật đã
cho cách diễn giải mới toàn bộ cho toàn thể quá trình thiền. Ông ấy nói: Loại
thiền này mà ông làm một giờ buổi sáng, một giờ buổi tối, ông có thể làm năm lần
hay bốn lần một ngày, chẳng có giá trị gì mấy. Thiền không thể là cái gì đó mà
bạn có thể làm bên ngoài cuộc sống chỉ trong một giờ hay mười lăm phút. Thiền
phải trở thành cái gì đó đồng nghĩa với cuộc sống của bạn; nó phải giống như thở.
Bạn không thể thở một giờ buổi sáng và một giờ buổi tối, bằng không tối sẽ
không bao giờ tới. Nó phải là cái gì đó giống như thở: ngay cả khi bạn ngủ việc
thở vẫn tiếp tục. Bạn có thể đi vào cơn mê, nhưng việc thở vẫn tiếp tục.
Phật
nói thiền nên trở thành hiện tượng thường xuyên; chỉ thế thì nó mới có thể biến
đổi bạn. Và ông ấy đã mở ra một kĩ thuật thiền mới.
Đóng
góp lớn lao nhất của ông ấy cho thế giới là Vipassana; không thầy giáo nào khác
đã đem cho thế giới món quà lớn thế. Jesus là đẹp, Mahavira là đẹp, Lão Tử là đẹp,
Zarathustra là đẹp, nhưng đóng góp của họ, so với Phật, không là gì cả. Cho dù
họ tất cả gắn với nhau, thế nữa đóng góp của Phật vẫn lớn hơn bởi vì ông ấy đã
cho phương pháp khoa học thế - đơn giản, vậy mà xuyên thấu tới mức một khi bạn
hài hoà với nó, nó trở thành nhân tố thường xuyên trong cuộc sống của bạn.
Thế
thì bạn không cần làm nó; bạn phải làm nó chỉ lúc bắt đầu. Một khi bạn đã học
được mẹo về nó, nó còn lại với bạn; bạn không cần làm nó. Thế thì bất kì cái gì
bạn làm, nó đều có đó. Nó trở thành phông màn cho cuộc sống của bạn, nền tảng
cho cuộc sống của bạn. Bạn bước đi, nhưng bạn bước có tính thiền. Bạn ăn, nhưng
bạn ăn có tính thiền. Bạn ngủ, nhưng bạn ngủ có tính thiền. Nhớ lấy, ngay cả phẩm
chất của giấc ngủ của thiền nhân cũng hoàn toàn khác với phẩm chất của giấc ngủ
của người không là thiền nhân. Mọi thứ đều trở thành khác bởi vì một nhân tố mới
đã đi vào làm thay đổi toàn thể động thái.
Vipassana
đơn giản nghĩa là quan sát hơi thở của bạn, nhìn vào hơi thở của bạn. Nó không
giống như yoga pranayam: nó không thay đổi hơi thở của bạn sang nhịp điệu nào
đó - thở sâu, thở nhanh. Không, nó không thay đổi việc thở của bạn chút nào; nó
không liên quan gì tới việc thở. Việc thở chỉ phải được dùng như phương cách để
quan sát bởi vì nó là hiện tượng thường xuyên trong bạn. Bạn có thể đơn giản
quan sát nó, và đó là hiện tượng tinh tế nhất. Nếu bạn có thể quan sát hơi thở
của mình thế thì sẽ dễ dàng cho bạn quan sát ý nghĩ của mình.
Một
điều lớn lao vô cùng mà Phật đã đóng góp là khám phá ra mối quan hệ giữa hơi thở
và ý nghĩ. Ông ấy là người đầu tiên trong toàn thể lịch sử nhân loại đã làm tuyệt
đối rõ ràng là việc thở và suy nghĩ có quan hệ sâu sắc Việc thở là phần thân thể
của suy nghĩ và suy nghĩ là phần tâm lí của việc thở. Chúng không tách rời,
chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền. Ông ấy là người đầu tiên nói về thân
tâm như một đơn vị. Ông ấy nói lần đầu tiên về con người như hiện tượng tâm
thân. Ông ấy không nói về thân thể và tâm trí, ông ấy nói về thân tâm. Chúng
không phải là hai, do đó không cần có 'và' để nối chúng. Chúng đã là một rồi -
thân tâm - thậm chí không cần dấu gạch nối; thân tâm là một hiện tượng. Và từng
quá trình thân thể đều có phần tương ứng của nó trong tâm lí và ngược lại.
Bạn
có thể quan sát điều đó, bạn có thể thử thực nghiệm. Dừng thở trong một chốc và
bạn sẽ ngạc nhiên: khoảnh khắc bạn dừng thở, suy nghĩ của bạn dừng lại. Hay bạn
có thể quan sát điều khác: bất kì khi nào suy nghĩ của bạn đi quá nhanh việc thở
của bạn thay đổi. Chẳng hạn, nếu bạn đầy thèm khát dục và suy nghĩ của bạn trở
nên quá nóng, việc thở của bạn sẽ khác: nó sẽ không theo nhịp điệu, nó sẽ mất
nhịp điệu của nó. Nó sẽ hỗn độn hơn, nó sẽ không nhịp điệu.
Khi
bạn giận dữ việc thở của bạn thay đổi bởi vì việc nghĩ của bạn đã thay đổi. Khi
bạn yêu việc thở của bạn thay đổi bởi vì suy nghĩ của bạn đã thay đổi. Khi bạn
an bình, thoải mái, ở nhà, thảnh thơi, việc thở của bạn khác. Khi bạn bất ổn,
trong rối loạn, trong đau khổ, việc thở của bạn khác. Chỉ bằng việc quan sát
hơi thở của mình bạn có thể biết loại trạng thái nào đang xảy ra trong tâm trí
mình.
Thiền
nhân đi tới một điểm: khi tâm trí thực sự dừng lại đầy đủ, việc thở cũng dừng lại.
Và thế thì nỗi sợ lớn nảy sinh - đừng sợ. Nhiều thiền nhân đã báo cáo cho tôi,
"Chúng tôi trở nên sợ lắm, rất hoảng, bởi vì bỗng nhiên chúng tôi trở nên
nhận biết rằng việc thở đã dừng lại." Một cách tự nhiên, người ta nghĩ rằng
khi việc thở dừng lại cái chết ở cận kề. Đó chỉ là vấn đề vài khoảnh khắc - bạn
đang chết. Việc thở dừng lại trong cái chết; việc thở cũng dừng lại trong thiền
sâu. Do đó thiền sâu và chết có một điểm tương tự: trong cả hai việc thở dừng lại.
Do đó, nếu một người biết thiền người đó cũng đã biết chết. Đó là lí do tại sao
thiền nhân trở nên tự do khỏi sợ chết: người đó biết việc thở có thể dừng lại
và dầu vậy người đó vẫn hiện hữu.
Việc
thở không phải là sống; sống là hiện tượng lớn hơn nhiều. Việc thở chỉ là nối với
thân thể. Việc nối có thể bị cắt rời; điều đó không có nghĩa là cuộc sống đã chấm
dứt. Cuộc sống vẫn có đó; cuộc sống không chấm dứt chỉ bởi không xuất hiện việc
thở.
Phật
nói: Quan sát việc thở của ông; để nó bình thường, như nó vậy. Ngồi im lặng,
quan sát hơi thở của bạn. Tư thế ngồi cũng sẽ có ích; tư thế Phật, tư thế hoa
sen, là rất có ích. Khi xương sống của bạn dựng thẳng và bạn đang ngồi trong tư
thế hoa sen, chân bạn xếp chéo, xương sống bạn được gióng thẳng theo lực trọng
trường, và thân thể ở trạng thái thảnh thơi nhất. Để xương sống được dựng thẳng
và thân thể chùng lỏng, treo trên xương sống - không căng thẳng. Thân thể nên
chùng lỏng, thảnh thơi, xương sống dựng thẳng, cho nên sức hút có lực kéo ít nhất
lên bạn.
Bạn
có quan sát điều đó không? Nếu bạn muốn đi ngủ bạn phải nằm ra, bởi lẽ đơn giản
là khi bạn nằm ngang trên đất bạn trong tiếp xúc với lực hút ở mức tối đa, bởi
vì trên khắp thân thể lực hút trọng trường tác động, nó kéo bạn. Bạn lập tức bắt
đầu rơi vào giấc ngủ. Đứng thì khó rơi vào giấc ngủ. Tư thế khó nhất để rơi vào
giấc ngủ là tư thế hoa sen.
Thân
thể thảnh thơi thế không cần rơi vào giấc ngủ, và lực trọng trường ở mức tối
thiểu; do đó chúng không thể kéo bạn xuống được; chúng không thể làm cho bạn nặng
nề và đờ đẫn và lờ phờ. Bạn hoạt bát, bạn đầy cuộc sống. Bạn thông minh khi ở
tư thế hoa sen hơn là bạn có thể ở trong bất kì tư thế nào khác. Thân thể ảnh
hưởng tới tâm trí bạn.
Các
nhà khoa học bây giờ đồng ý với điều này: rằng chỉ bởi vì vài con khỉ bằng cách
nào đó... họ đã không có khả năng tìm ra lí do tại sao và làm sao điều đó đã xảy
ra, và khỉ vẫn là khỉ - có thể chỉ ngẫu nhiên do tò mò, vài con khỉ cố đứng
trên hai chân và đây là những con khỉ đã trở thành con người nguyên thuỷ; chúng
là người khởi thuỷ. Đó là đổi mới vĩ đại nhất; không cái gì khác lớn hơn điều
đó. Vài con khỉ đứng thẳng trên hai chân chúng đã tạo ra cuộc cách mạng vĩ đại;
cuộc cách mạng xảy ra trong trưởng thành của tâm trí. Tư thế đứng thẳng giúp
cho tâm trí thoát ra khỏi giấc ngủ. Tâm trí trở nên thông minh hơn, nó trở nên
tỉnh táo hơn, nó trở nên ý thức hơn.
Các
con vật khác di chuyển trên bốn chân đã không có khả năng phát triển thông
minh, mặc dầu nhiều con trong chúng có trí não gần cùng năng lực như con người.
Chẳng hạn, voi có trí não gần cùng năng lực như con người, nhưng đã không có khả
năng phát triển nó và tôi không nghĩ điều đó sẽ xảy ra. Trong rạp xiếc họ cố gắng
vất vả để dạy voi ngồi trong ghế hay đứng trong vài giây trên hai chân, nhưng
thân thể nặng nề thế, voi không thể xoay xở đứng trên hai chân được. Do đó não
vẫn còn bị đóng; lực hút trọng trường giữ cho nó vô ý thức.
Do
đó tư thế hoa sen này là cái gì đó có giá trị. Nó không chỉ là hiện tượng thân
thể; nó ảnh hưởng tới tâm trí. Nó làm thay đổi tâm trí. Ngồi trong tư thế hoa
sen - toàn thể vấn đề là ở chỗ xương sống của bạn phải dựng thẳng và phải làm
thành góc chín mươi độ với đất. Đó là điểm mà bạn có khả năng thông minh nhất,
tỉnh táo nhất, ít buồn ngủ nhất.
Và
thế rồi quan sát hơi thở của bạn, hơi thở tự nhiên. Bạn không cần thở sâu, bạn
không thay đổi việc thở của mình; bạn đơn giản quan sát nó như nó vậy. Nhưng bạn
sẽ ngạc nhiên bởi một điều: khoảnh khắc bạn bắt đầu quan sát, nó thay đổi - bởi
vì ngay cả sự kiện quan sát cũng là việc thay đổi và việc thở không còn như cũ.
Hơi
chút thay đổi trong tâm thức của bạn lập tức ảnh hưởng tới việc thở của bạn. Bạn
sẽ có khả năng nhìn thấy nó; bất kì khi nào bạn quan sát bạn sẽ thấy việc thở của
mình đã trở nên sâu hơn chút ít. Nếu nó trở nên như vậy theo cách riêng của nó
thì thế là tốt, nhưng bạn không làm nó bằng ý chí của mình. Quan sát hơi thở của
mình, dần dần, dần dần bạn sẽ ngạc nhiên là khi hơi thở của bạn trở nên bình thản
và yên tĩnh, tâm trí của bạn cũng trở nên bình thản và yên tĩnh. Và quan sát
hơi thở sẽ làm cho bạn có khả năng quan sát tâm trí.
Đó
mới chỉ là bắt đầu, phần đầu tiên của thiền, phần vật lí. Và phần thứ hai là phần
tâm lí. Thế thì bạn có thể quan sát những điều tinh tế hơn trong tâm trí mình -
ý nghĩ, ham muốn, kí ức.
Và
khi bạn đi sâu hơn vào trong tính quan sát, phép màu bắt đầu xảy ra: khi bạn trở
nên có tính quan sát, càng ngày càng ít giao thông xảy ra trong tâm trí, càng
ngày càng tĩnh lặng, im lặng hơn; càng ngày càng nhiều không gian im lặng hơn,
càng ngày càng nhiều lỗ hổng và khoảng hở. Các khoảnh khắc trôi qua và bạn
không bắt gặp một ý nghĩ nào. Dần dần, dần dần nhiều phút trôi qua, nhiều giờ
trôi qua ...
Và
có số học nào đó trong nó: nếu bạn có thể vẫn còn tuyệt đối trống rỗng trong bốn
mươi tám phút, chính ngày đó bạn sẽ trở nên chứng ngộ, chính khoảnh khắc đó bạn
sẽ trở nên chứng ngộ. Nhưng đó không phải là vấn đề về nỗ lực của bạn; đừng cứ
nhìn đồng hồ bởi vì mỗi lần bạn nhìn, ý nghĩ đã tới. Bạn phải đếm lại từ chính
ban đầu; bạn quay lại số không. Không cần bạn quan sát thời gian.
Nhưng
điều này đã từng là kinh nghiệm ở phương Đông của mọi thiền nhân vĩ đại: rằng bốn
mươi tám phút dường như là điểm tối thượng. Nếu lỗ hổng ngần đó là có thể, nếu
trong lỗ hổng như thế suy nghĩ dừng lại và bạn vẫn còn tỉnh táo, không ý nghĩ
nào bắt chéo qua tâm trí bạn, bạn có khả năng đón nhận Thượng đế bên trong. Bạn
đã trở thành người chủ và khách lập tức tới.
Nếu
ông không trí huệ,
Làm
sao ông có thể làm vững chắc được tâm trí?
Bạn
phải rất thông minh; chỉ thế thì bạn mới có thể làm vững chắc tâm trí. Và ông ấy
ngụ ý gì bởi thông minh? Thông thường chúng ta cư xử theo cách rất không thông
minh: chúng ta cư xử theo niềm tin; niềm tin giữ chúng ta không thông minh.
Chúng ta cư xử theo tri thức vay mượn; điều đó giữ chúng ta không thông minh.
Thử
chấp nhận trực tiếp thách thức của cuộc sống; đừng hành động từ niềm tin hay
tri thức. Đừng tuân theo kinh sách và truyền thống. Chúng là căn nguyên của việc
làm cho bạn thành ngu, bởi vì chừng nào bạn còn chưa đối diện trực tiếp với cuộc
sống, chừng nào những thách thức đó còn chưa được đương đầu, thông minh của bạn
sẽ không nảy sinh - bởi vì sẽ không có cơ hội cho nó nảy sinh. Cho nó cơ hội
đi. Cuộc sống cho nhiều cơ hội nhưng bạn cứ bỏ lỡ cơ hội bởi vì bạn sống trên
những câu trả lời vay mượn.
Đối
diện cuộc sống và những câu hỏi của nó và các thực tại của nó theo cách riêng của
bạn, cho dù đáp ứng riêng của bạn không lớn vậy - chúng không thể thế được. Tất
nhiên bạn không thể đáp ứng như vị phật, nhưng bằng vay mượn câu trả lời nào đó
từ Phật bạn sẽ không bao giờ đủ thông minh để tự mình trở thành vị phật. Vâng,
bạn sẽ phạm nhiều lỗi, nhiều sai lầm. Vâng, bạn sẽ đi lạc lối nhiều lần - cứ
đi, đừng lo nghĩ! Cuộc sống được ngụ ý cho điều đó, để cho bạn có thể thử.
Chính là quan thử, nhiều lỗi, nhiều sai lầm mà người ta học. Khi bạn học bằng nỗ
lực riêng của mình, bạn trở nên thông minh. Và chỉ người thông minh mới có thể
thấy cái đẹp của thiền, mới có thể hiểu ý nghĩa của thiền.
Nếu
ông không thể làm yên tĩnh bản thân mình,
Ông
bao giờ học được cái gì?
Và
tất cả việc học xảy ra qua thiền; nó không xảy ra qua nghiên cứu. Nghiên cứu là
tích luỹ thông tin, đó không phải là học. Bao giờ cũng tỉnh táo về tri thức vay
mượn: dù nó có vẻ quí giá thế nào nó cũng là giả, rởm - cho bạn. Nó không rởm
cho người đã sống nó. Nó là đúng cho Phật, đúng cho Jesus, đúng cho Krishna,
nhưng không đúng cho bạn. Bạn sẽ phải sống ...
Phật
cũng có kinh sách sẵn có. Ông ấy có thể đã đọc Krishna; Gita có sẵn rồi. Và ông
ấy là người được giáo dục tốt - ông ấy là con vua. Mọi kinh sách đều phải có sẵn
cho ông ấy và các học giả lớn và các học giả lớn cũng sẵn có cho ông ấy. Ông ấy
có thể đã trích đọc Gita mọi ngày; ông ấy có thể đã học Gita cho nên tuyệt đối
chắc là ông ấy đã có khả năng lặp lại nó từ kí ức, nhưng thế thì ông ấy đã bỏ lỡ
phật tính.
Và
trong thời của Krishna Vedas cũng đã sẵn có rồi, nhưng Krishna đã không vay mượn
tri thức từ Vedas. Vào thời của Jesus Kinh Cựu ước đã sẵn có rồi, nhưng Jesus cố
tìm ra chân lí cho bản thân mình. Đây là cái gì đó rất bản chất cần hiểu: chân
lí phải được tìm thấy bởi bản thân người ta. Chỉ thế thì nó mới giải thoát; bằng
không nó trở thành tù túng - tù túng đẹp, nhưng tất mọi dạng tù túng đều như
nhau.
Và
nếu bạn không thể học...
Ông
sẽ trở nên tự do thế nào?
Chính
chỉ qua kinh nghiệm chân lí theo cách riêng của bạn mà tự do mới xảy ra. Tự do
là hương thơm của kinh nghiệm về chân lí.
Với
tâm trí yên tĩnh
đi
vào trong nhà trống đó, trái tim ông, và cảm thấy niềm vui của đạo
Bên
ngoài thế giới.
Phật
nói: Với tâm trí im lặng, tâm trí yên tĩnh... đi vào trong nhà trống đó, trái
tim ông.
Trái
tim bạn là nhà thực của bạn; nó hoàn toàn trống rỗng. Cái đầu bạn đầy rác rưởi,
trái tim bạn trống rỗng toàn bộ. Đi từ đầu xuống tim đi! Toàn thể quá trình thiền
là đi từ cái đầu xuống trái tim, từ tâm trí sang vô trí.
Đi
vào trong nhà trống đó, trái tim ông, và cảm thấy niềm vui của đạo - và bạn sẽ
đầy niềm vui – bên ngoài thế giới. Niềm vui không của thế giới này, hương thơm
tới từ cõi bên kia.
Nhìn
vào trong -
Cái
lên và cái xuống.
Lên
và xuống của hơi thở của bạn: đó là cách nhìn vào bên trong. Nhiều người đã
nói: Nhìn vào bên trong. Socrates đã nói: Nhìn vào bên trong, biết bản thân
ông, nhưng không ai đã cho phương pháp đích xác. Phật cho bạn phương pháp đích
xác: lên và xuống của hơi thở. Chính là qua hơi thở mà bạn được bắc cầu. Hơi thở
là cây cầu giữa linh hồn bạn và thân thể bạn. Nếu bạn có thể quan sát hơi thở của
mình lên và xuống, dần dần, dần dần bạn sẽ có khả năng nhìn thân thể như tách rời
khỏi bản thân mình và cũng vậy hơi thở như tách rời khỏi bản thân bạn, bởi vì
người quan sát không thể là cái được quan sát, người quan sát không thể là cái
được quan sát. Bỗng nhiên một hôm bạn sẽ nhận ra rằng bạn là nhân chứng của tất
cả nó. Và nhân chứng chắc chắn siêu việt lên trên tất cả mọi cái nó chứng kiến.
Trong chính khoảnh khắc đó tự do đã xảy ra cho bạn. Thế thì:
Hạnh
phúc làm sao!
Tự
do ngọt ngào làm sao!
Đó
là bắt đầu của cuộc sống...
Sinh
không phải là bắt đầu của cuộc sống. Đây là bắt đầu của cuộc sống, khi bạn kinh
nghiệm linh hồn chứng kiến của mình. Đó là bắt đầu ...
của
việc làm chủ và kiên nhẫn, của bạn tốt cùng trên đường,
của
cuộc sống thuần khiết và tích cực.
Thiền
về những lời này đi. Phật tử đã không hiểu những lời này chút nào. Làm sao người
này, Phật Gautama, lại là kẻ trốn chạy? Ông ấy nói: Đó là bắt đầu của cuộc sống
mới, của việc làm chủ và kiên nhẫn, của bạn tốt cùng trên đường ...
Ông
ấy đang cho bạn thế giới mới, cách thức mới để yêu, cách thức mới để thân thiện;
ông ấy đang cho bạn những người bạn mới. Thực tế, chỉ thiền nhân mới có thể
thân thiện với nhau bởi vì họ không phải là kẻ cạnh tranh. Không ai khác có thể
thân thiện được, họ chỉ có thể giả vờ. Làm sao kẻ cạnh tranh có thể thân thiện
được? Sâu bên dưới họ là kẻ thù bởi vì mọi người đều thèm muốn cùng thứ. Bạn
tham tiền, bạn của bạn cũng tham tiền. Làm sao bạn có thể thân thiện được?
Không thể được. Mọi tình bạn đều hư huyễn, rởm.
Bạn
muốn là thủ tướng và bạn của bạn cũng muốn là thủ tướng. Ai không muốn là thủ
tướng? Làm sao bạn có thể thân thiện được? Do đó họ nói trong chính trị không
có tình bạn chút nào. Vài người là kẻ thù công khai, vài người là kẻ thù theo
cách mai danh ẩn tích. Đó là lí do tại sao trong chính trị mọi ngày thay đổi đều
xảy ra: ai đó đã là bạn hôm qua, hôm nay là kẻ thù; ai đó đã là kẻ thù hôm qua,
hôm nay là bạn.
Đó
là một thế giới kì lạ, thế giới chính trị.
Machiavelli,
trong cuốn Hoàng tử, gợi ý cho các chính khách, "Đừng bao giờ nói cái gì
cho bạn của bạn về điều bạn không muốn kẻ thù của mình được biết, bởi vì bất kì
người bạn nào cũng có thể trở thành kẻ thù của bạn vào bất kì ngày nào."
Ông ấy cũng nói, "Đừng bao giờ nói cái gì chống lại kẻ thù của bạn mà bạn
không muốn nói chống lại bạn của mình bởi vì bất kì kẻ thù nào cũng có thể trở
thành người bạn vào bất kì ngày nào " - thế thì sẽ khó khăn. Thế thì bạn sẽ
phải nuốt cái gì đó và điều đó sẽ bẽ mặt.
Chính
khách cứ làm điều đó: họ cứ chia chẻ và nuốt nó lặp đi lặp lại. Họ nói điều này
hôm nay, điều khác ngày mai; họ phải vậy. Trong chính trị không thể có bạn bè
được.
Bạn
bè là có thể chỉ trên đường, trên đường hướng tới Thượng đế, bởi vì đó không phải
là cạnh tranh. Bạn có thể có Thượng đế, tôi có thể có Thượng đế; không có vấn đề
là bằng việc bạn có Thượng đế tôi sẽ không có khả năng có Thượng đế nữa. Hàng
triệu người có thể có Thượng đế và không có vấn đề gì vì Thượng đế là vô hạn,
chân lí là vô hạn. Việc có chân lí của tôi không có nghĩa là bây giờ bạn không
thể có nó. Thực tế, ngược lại, việc có chân lí của tôi nghĩa là bạn cũng có thể
có nó! Nếu tôi có thể có nó, sao bạn không có được? Do đó, trên đường, có một
loại tình bạn hoàn toàn mới.
...
của cuộc sống thuần khiết và tích cực. Làm sao Phật có thể bị gọi là kẻ đào tẩu
được? Ông ấy nói: ...của cuộc sống thuần khiết và tích cực. Ông ấy ngụ ý tính
sáng tạo, tính sáng tạo tới từ hồn nhiên mang tính thiền, của thuần khiết tính
thiền. Và người sáng tạo thực là có thể chỉ qua thiền. Cái gọi là hoạ sĩ của bạn,
chín mươi chín phần trăm số họ, không phải là hoạ sĩ thực. Cái gọi là nhà thơ của
bạn không phải là nhà thơ, cái gọi là nhạc sĩ của bạn không phải là nhạc sĩ -
có thể là các nhà kĩ thuật. Họ biết cách chơi, họ biết cách soạn, họ biết cách
vẽ, nhưng chỉ biết cách vẽ không làm cho bạn thành người sáng tạo.
Người
sáng tạo là hiện tượng hoàn toàn khác. Người sáng tạo đem cái gì đó của Thượng
đế vào trong thế giới, cái gì đó của người sáng tạo vào trong thế giới. Nhưng
làm sao bạn có thể đem cái gì đó của Thượng đế vào trong thế giới nếu bạn không
biết bản thân Thượng đế?
Một
Phật là người sáng tạo, một Jesus là người sáng tạo. Lời của họ, hành động của
họ là bằng chứng duy nhất rằng Thượng đế tồn tại. Chính sự hiện diện của họ là
bằng chứng rằng Thượng đế tồn tại. Sự hiện diện của họ có tính sáng tạo: trong
chính sự hiện diện của họ hàng nghìn người được biến đổi. Phật không phải là kẻ
đào tẩu; ông ấy không thể thế được. Không người thức tỉnh nào có thể là kẻ đào
tẩu. Kẻ hèn nhát đào tẩu, người dũng cảm sáng tạo.
Cho
nên sống trong tình yêu - đây là lời của Phật, nhắc bạn:
Cho
nên sống trong tình yêu. Làm việc của ông.
Làm
chỗ kết thúc của nỗi buồn của ông.
Ông
ấy không chống lại tình yêu, ông ấy không chống lại tính sáng tạo, ông ấy không
chống lại công việc. Làm việc của ông - bởi vì chừng nào bạn còn chưa làm việc ở
gần trái tim bạn, bạn sẽ vẫn còn chưa được hoàn thành. Và thiền nhân lập tức thấy
công việc của mình là gì. Thiền nhân thấy về bản chất rằng đây là công việc của
mình; người đó không phải nghĩ về nó. Nó rõ ràng và kêu to tới mức người đó biết
rằng mình phải là nhạc sĩ hay người đó phải là nhà thơ hay người đó phải thế này
hay thế nọ. Điều đó tới rõ ràng tới mức không có vấn đề hoài nghi. Và thế thì
người đó bắt đầu làm việc; công việc đó là thiền của người đó.
Có
nhiều người ở đây sợ công việc. Họ không biết điều đang xảy ra ở đây là hoàn
toàn khác với việc bạn đã bắt gặp trong cuộc sống của mình. Đó là cái gì đó
hoàn toàn khác. Khi tôi trao cho bạn việc nào đó, nó là để giúp bạn trưởng
thành. Chừng nào bạn còn chưa có khả năng tìm ra công việc của riêng mình tôi sẽ
cứ trao nó cho bạn - chỉ cho tới khoảnh khắc bạn có khả năng tự mình tìm thấy
nó. Và bất kì công việc nào được trao ở đây cũng không là gì ngoài việc thiền
cho bạn. Nếu nó không phải là thiền cho bạn thì bạn đã không hiểu thông điệp của
tôi chút nào.
Để
thấy cách hoa nhài nở ra và làm rơi xuống
những
bông hoá héo của nó.
Để
rơi rụng đi chủ tâm và hận thù.
Phật
nói: Như hoa nhài rụng khi chúng đã tàn hay lá rụng khỏi cây khi chúng chết, lá
khô. Cũng hệt như thế, để rơi rụng đi chủ tâm và hận thù. Điều đầu tiên ông ấy
nói mà phải bị vứt bỏ - dễ dàng, không nỗ lực, cũng hệt như hoa nhài héo rụng
theo cách riêng của nó - là chủ tâm, ý chí của bạn, bản ngã của bạn.
Cho
nên đôi khi tôi phải đưa bạn vào công việc nào đó nơi bạn phải vứt bỏ bản ngã của
mình và bạn nghĩ đó là một loại trừng phạt. Nó không phải là một loại trừng phạt
đâu; nó là thách thức, nó là tình huống nơi bạn phải vứt bỏ bản ngã chẳng chóng
thì chầy bởi vì nó tạo ra khổ lặp đi lặp lại cho bạn. Nó sẽ làm cho bạn nhận biết
rõ ràng rằng bản ngã của bạn gây ra khổ của bạn.
Mới
hôm nọ, Anshumali đã viết nói rằng, "Thưa thầy kính yêu, làm việc ở
Vrindavan dưới Deeksha dường như là sự trừng phạt." Nó không phải vậy,
Anshumali. Nó là phần thưởng, không phải là trừng phạt! Nó là trừng phạt nếu bạn
muốn níu bám lấy bản ngã của mình; nếu bạn để bản ngã rụng đi, nó là phần thưởng.
Và thế thì bạn sẽ có khả năng thấy cái đẹp của công việc này, và bạn sẽ có khả
năng thấy cái đẹp của Deeksha nữa. Cô ấy là bà mẹ Italy đẹp! Cô ấy yêu công
nhân của mình, cô ấy yêu người của mình; cô ấy hết lòng tận tuỵ. Tất nhiên, cô ấy
yêu nhiều tới mức cô ấy cũng quát lên, cô ấy cũng la lên nữa. Tình yêu của cô ấy
tới mức cô ấy tin cậy rằng bạn sẽ hiểu việc la của cô ấy nữa. Nhưng cô ấy là
phương cách tốt; cô ấy đã từng là sự giúp đỡ mênh mông cho nhiều người.
Có
một trăm nhóm trị liệu ở đây, nhưng nhóm của Deeksha là tốt nhất! Mặc dầu nó
không được biết như nhóm trị liệu - nó là nhóm trị liệu bí mật.
Nếu
bạn vứt bỏ chủ tâm của mình, bản ngã của mình, thế thì hận thù cũng bị vứt bỏ bởi
vì hận thù không là gì ngoài cái bóng của bản ngã của bạn. Nếu không có bản ngã
thì không có hận thù; nếu có bản ngã, bao giờ cũng có hận thù theo sau nó. Bất
kì ai tới trên con đường... và mọi người sẽ tới trên con đường bởi vì các bản
ngã không thể điều chỉnh lẫn nhau được. Các bản ngã bao giờ cũng trong xung đột,
các bản ngã bao giờ cũng cãi nhau, chúng hay sinh sự, do đó có hận thù.
Vứt
bỏ bản ngã và nhìn cái đẹp của vô ngã. Thế thì không có hận thù, không có giận
dữ. Bạn trở nên im lặng thế, năng lượng của bạn trở nên bình thản và yên tĩnh tới
mức bỗng nhiên bạn bắt đầu nhìn thế giới trong ánh sáng khác, trong cảnh quan
khác. Thế thì thế giới bình thường này không còn là bình thường nữa - nó trở
thành thiêng liêng.
Ông
có yên tĩnh không? Làm yên tĩnh thân thể ông. Làm yên tĩnh tâm trí ông.
Phật
nói: Trước hết hãy bắt đầu với thân thể và thế rồi đi sang tâm trí. Làm yên
tĩnh thân thể ông bằng việc quan sát hơi thở, làm yên tĩnh tâm trí ông bằng việc
quan sát ý nghĩ của ông.
Ông
không muốn gì. Lời ông tĩnh lặng.
Ông
tĩnh lặng.
Thế
thì bạn sẽ đi tới thấy rằng không có ham muốn. Làm sao ham muốn có thể tồn tại
trong tâm trí im lặng được? Ham muốn là trạng thái rối loạn, ham muốn là trạng
thái của vô ý thức, ham muốn là điên khùng. Khi bạn im lặng, điên khùng biến mất.
Ba
lần Jessie đem Sandy tới toà linh mục, hi vọng được làm lễ kết hôn với anh ta
và làm vợ, nhưng mỗi lần mục sư lại từ chối vì tình trạng say xỉn của chú rể
tương lai.
"Sao
cô cứ khăng khăng đem anh ta lại tôi trong trạng thái thế?" mục sư hỏi.
"Dạ
thưa cha tôn kính," Jessie giải thích, "anh ấy sẽ không tới khi anh ấy
tỉnh táo!"
Khoảnh
khắc bạn tỉnh táo, im lặng, bạn sẽ không làm nhiều thứ bạn đang làm và bạn sẽ bắt
đầu làm những thứ bạn chưa bao giờ nghĩ tới trước đây. Cuộc sống của bạn sẽ
không còn bị phí hoài; nó sẽ trở nên có tính sáng tạo, cực kì sáng tạo. Cuộc sống
của bạn sẽ không phát triển gai, nó sẽ phát triển hoa. Nó là cùng năng lượng!
Nhưng
tâm trí giữ cho bạn bận rộn trong những thứ ngu xuẩn thế, trong những chi tiết
ngu xuẩn thế về những điều ngu xuẩn. Nhìn điều tâm trí vẫn đang làm mà xem...
và bạn sẽ không cần bất kì ai nói cho bạn rằng bạn điên.
Một
người nhỏ bé bước vào "Cửa hàng văn phòng phẩm hoàn hảo" - một cửa
hàng duy nhất ở New York chuyên bán các sản phẩm giấy tờ. Một người bán hàng
thanh lịch tiếp cận anh ta trong bộ com lê Brooks Brothers. "Thưa ông tôi
có thể giúp gì được cho ông?" người bán hàng ngân nga với giọng có văn
hoá.
"Vâng,
tôi muốn có giấy viết."
"Ông
thích giấy có đường kẻ hay không đường kẻ, thưa ông?"
"Ồ,
bất kì cái gì cũng được. Không thành vấn đề." "Rồi ông sẽ viết bằng
bút máy hay bút bi?"
"Tôi
thực sự không biết. Bất kì cái gì tới tay ..."
"Ông
muốn dùng giấy dầy hay giấy mỏng mặt láng, thưa ông?"
"Này,
bất kì cái gì cũng được. Cứ đưa tôi bất kì gói cũ nào!"
"Có
lẽ ông ưa một trong các loại có mùi thơm?" "Nếu ông thích. Nhưng tôi
phải đón xe bus - cứ
đưa
tôi giấy nào đó thôi!"
"Mất
một chút thời gian thưa ông. Ông muốn dùng giấy thủ công trong hộp quà tặng đặc
biệt hay thương hiệu đơn giản?"
Giọng
của người nhỏ bé nâng lên một quãng tám. "Trông này, lần thứ mười... giấy
nào cũng được! làm điều đó nhanh lên, được không?"
"Vậy
có lẽ ông có sở thích mầu - đỏ, lam, vàng...?"
Vừa
lúc đó một người khác xô vào cửa hàng. Mắt anh ta có quầng thẫm bên dưới và má
anh ta ướt nước mắt.
"Trông
đây," anh ta nức nở, "đá lát này là mầu nhà tắm của tôi và đây là
kích cỡ nhà vệ sinh của tôi. Tôi đã chỉ cho ông xem lỗ đít tôi hôm qua. Bây giờ,
tôi có thể có chút giấy vệ sinh được không?"
Nhìn
vào tâm trí bạn... những điều ngu xuẩn và những chi tiết ngu xuẩn tới vô hạn! Bạn
đi mãi - khi nào bạn sẽ dừng lại?.. xin mời! Đó là điều Phật đang nói.
Feinberg,
giám đốc tang lễ, đang ăn trưa với bạn mình, Weinstein.
"Tao
kiếm được một mặc cả hời cho mày về quan tài," anh ta nói.
"Tao
không thích nghĩ về những điều như thế.
Bao
nhiêu?"
"Nó
được làm bằng gỗ gụ với tay cầm bạc và một khoá. Nói cho mày, chỉ hai nghìn đô
la thôi."
"Tao
sẽ nghĩ về điều đó."
Trên
đường về nhà từ chỗ làm, Weinstein dừng lại ở nhà xác Minkis để so sánh giá.
"Tôi
không thể cho anh cái gì đẹp," ông giám đốc nói. "Tôi có một cỗ quan
tài gỗ gụ với tay cầm bạc và tôi thậm chí còn để vào đó một chiếc khoá. Giá một
nghìn đô la."
Weinstein
chạy xô tới nhà Feinberg và bắt đầu la lên. "Mày là thằng bạn gì thế! Tao
vừa thấy cùng chiếc quan tài mày muốn bán và nó rẻ hơn một nghìn đô la."
"Nó
có bằng gỗ gụ với tay cầm bạc và có khoá không"
"Có
chứ!" Weinstein đáp.
"Nó
có lớp vải lót bằng bạc không?" "Tao không nhìn. Tao nghĩ là
không."
"Mày
thấy đấy!" Feinberg nói. "Trong sáu tháng mày sẽ cần lớp vải lót mới."
Không
chỉ về cuộc sống mà thậm chí về sau cuộc sống, tâm trí cứ chuẩn bị ngay cả điều
đó. Mọi người quyết định về di chúc của họ, họ quyết định về văn bia của họ, họ
quyết định cách nấm mồ của họ phải được làm, bằng loại đá cẩm thạch nào. Con
người dường như hoàn toàn không thông minh và người đó cứ phí hoài cuộc sống của
mình về những điều như thế mà chẳng tạo ra ý nghĩa gì hết cả. Nhưng bạn phải
nhìn vào tâm trí riêng của mình.
Ông
không muốn gì. Lời ông tĩnh lặng. Ông tĩnh lặng. Phật nói đây là cách chúng ta
phải vậy - không ham muốn, bởi vì mọi ham muốn đều vô tích sự. Chúng là về
tương lai; cuộc sống là trong hiện tại. Mọi ham muốn đều làm bạn sao lãng khỏi
hiện tại, mọi ham muốn đều làm bạn sao lãng khỏi cuộc sống, mọi ham muốn đều
phá huỷ cuộc sống, mọi ham muốn đều là trì hoãn cuộc sống. Cuộc sống là bây giờ
và ham muốn đem bạn đi xa, ngày càng xa hơn khỏi bây giờ. Và khi chúng ta thấy
rằng cuộc sống của mình là khổ chúng ta cứ đổ trách nhiệm lên người khác, và
không ai chịu trách nhiệm ngoại trừ chúng ta.
"Người
tốt ơi," một vị khách tới thăm tù nhân nói, "làm sao ngẫu nhiên mà
anh tới chỗ buồn tẻ này?"
"Dạ,
thưa ngài," người tù nói, "ông nhìn tôi đây, nạn nhân bất hạnh của số
mười ba không may."
"Thế
à!" vị khách thăm nói. "Điều đó là thế nào?" "Mười hai bồi
thẩm và một quan toà, thưa ngài."
Không
ai muốn nhận trách cứ về bản thân mình. Bất kì cái gì cũng có tác dụng - con số
không may, tướng tay, số mệnh, chiêm tinh... sao, sao xấu đang tạo ra khổ cho
Anshumali! Cho dù họ đi tìm Anshumali, sẽ khó cho họ tìm thấy anh ta; họ thậm
chí không thể thấy trái đất - trái đất nhỏ bé thế. Mặt trời của chúng ta lớn
hơn trái đất mười hai nghìn lần và mặt trời của chúng ta là ngôi sao rất tầm
thường. Có ngôi sao lớn hơn mặt trời hàng triệu lần; so với các ngôi sao đó
trái đất này chỉ là hạt bụi, không đáng để ý, có thể bỏ qua được. Nó có thể bị
bỏ qua, có thể bị quên mất, có thể bị lờ đi. Và có hàng triệu ngôi sao mà khoa
học đã đếm và hàng triệu ngôi sao nữa phải ở bên ngoài bởi vì tầm với của chúng
ta là giới hạn, công cụ của chúng ta bị giới hạn. Và những sao này đang quyết định
số mệnh của thư kí trong văn phòng thu thuế, của một người làm công ở ga tầu hoả!
Con
người ngu thế, ngu không thể tin được. Người đó cứ đổ trách nhiệm lên ai đó
khác. Chừng nào bạn còn chưa dừng điều này bạn sẽ không bao giờ trở thành tôn
giáo. Người tôn giáo là người nhận trách nhiệm về bản thân mình.
Điều
đầu tiên làm bạn khổ là ham muốn của bạn, ham muốn thường xuyên về cái này và
cái nọ. Dừng điều đó lại. Và khi không có ham muốn, cũng không có ý nghĩ. Chức
năng của ý nghĩ là giúp bạn ham muốn; chúng là công cụ. Nếu bạn không có ham muốn,
ý nghĩ nhất định biến mất theo cách riêng của nó. Và khi không có ham muốn,
không có ý nghĩ... Ông tĩnh lặng. Bạn bình thản, tự chủ, định tâm, bắt rễ.
Đó
là đám cháy vào sáng sớm, và một phóng viên Italy trẻ khá may đã tới chứng kiến
cảnh tượng để viết bài tường trình về đám cháy từ một trong những cư dân của
nhà căn họ đã thoát ra ngoài.
"Thật
là khủng khiếp," người này kể lại. "Ông tưởng tượng các bức tường vỡ
vụn về phía ông, ngọn lửa thực tế liếm vào má ông theo bất kì hướng nào ông
quay tới và chính sắt của lan can bốc khói dưới tay ông. Nhưng trong khói mù của
tất cả những cái đó, tôi muốn ông biết, tôi giữ hoàn toàn bình thản và cân bằng."
"Thật
là xấu hổ, vì ông đã bình thản và tự chủ," phóng viên đáp lại, "tới mức
ông đã không nghĩ tới việc mặc quần vào."
Những
người nghĩ họ yên tĩnh và bình thản lại không yên tĩnh và bình thản, Họ chỉ tin
điều đó; họ chỉ hi vọng rằng họ yên tĩnh và bình thản. Chỉ rất hãn hữu nói có một
người yên tĩnh và bình thản. Điều đó chỉ xảy ra ở đỉnh tối thượng của thiền,
không trước điều đó. Cho nên đừng tự lừa mình.
Bằng
nỗ lực riêng của ông
đánh
thức bản thân mình, quan sát bản thân mình. và sống vui vẻ.
Nhận
trách nhiệm và điều đó cho bạn sáng suốt lớn lao. Nếu bạn chịu trách nhiệm cho
tất cả khổ của mình, nếu bạn chịu trách nhiệm về tất cả ác mộng của mình, thế
thì điều khác cũng là có thể: bạn có thể thức dậy. Nếu bạn chịu trách nhiệm về
giấc ngủ của mình, bạn có thể thức dậy; nếu bạn không chịu trách nhiệm, ngôi
sao nào đó chịu trách nhiệm, thế thì bạn có thể làm gì? Bạn chỉ là nạn nhân và
bạn phải chịu đựng. Chừng nào sao còn chưa đổi ý của chúng, nếu chúng có tâm
trí ...
Bằng
nỗ lực riêng của ông đánh thức bản thân mình, quan sát bản thân mình. Và sống
vui vẻ. Và mọi người nói Phật là người bi quan sao? - và ông ấy nói: sống vui vẻ.
Phật
nói: Đừng tin vào cứu tinh bởi vì đó là tâm trí cũ, cùng tâm trí muốn đổ trách
nhiệm lên ai đó khác. Bây giờ người Ki tô giáo nghĩ Jesus cứu. Người Hindu nghĩ
rằng bất kì khi nào nhu cầu nảy sinh, Krishna sẽ quay lại; ông ấy sẽ lấy hoá
thân khác để cứu nhân loại. Khi nào bạn sẽ cảm thấy trách nhiệm của mình? Và mọi
người không nghĩ rằng đây là điều xấu xa, sỉ nhục, bẽ mặt; nó hạ thấp nhân phẩm
con người.
Một
người Ki tô giáo và một người Do Thái đang bước đi. Họ bắt gặp một nhà thờ và
phía trước nó có một tấm biển lớn với dòng chữ, "Jesus cứu rỗi!"
Người
Do Thái nói, "Điều đó không là gì cả - Moses đầu tư!"
Không
ai có thể cứu bạn được; đừng đợi bất kì cứu tinh nào. Bạn có thể tự cứu mình,
điều đó là đúng.
Đây
cũng là một trong những cái nhìn thấu lớn lao của Phật vào khổ của con người,
vào thực tại con người, rằng ông ấy nói: Đừng tin rằng ai đó sẽ cứu ông. Bạn là
nguyên nhân của khổ của mình, bạn có thể là nguyên nhân của phúc lạc của mình.
Ông
là người chủ, Ông là chỗ trốn tránh.
Như
lái buôn luyện ngựa tốt, Làm chủ bản thân ông.
Sung
sướng làm sao ông đi theo Lời của người đã thức tỉnh.
Và
nếu bạn thiền, nếu bạn trở nên im lặng chút ít, tỉnh táo chút ít, bạn sẽ yêu những
lời này bởi vì chúng có hương vị của chân lí - nhưng chỉ cho những người đang
thiền.
Sung
sướng làm sao ông đi theo lời của người đã thức tỉnh. Thế thì tất cả những người
đã thức tỉnh bỗng nhiên trở thành người đương đại của bạn. Chỉ thế thì bạn mới
có thể hiểu được Jesus, Phật, Krishna, Mahavira, Lão Tử. Chỉ thế thì, khi bạn
thiền, bỗng nhiên các điều huyền bí mở ra, những cánh cửa đã đóng nay mở ra và
mọi sự chưa bao giờ rõ ràng cho bạn thì bỗng nhiên trở nên rõ ràng. Nhưng nó xảy
ra qua thiền và không có cách khác. Không phải bằng nghiên cứu, không phải bằng
việc thu thập ngày một nhiều tri thức, không phải bằng biện luận, không bằng
triết lí hoá, mà chỉ bằng việc trở thành ngày một im lặng hơn. Trong im lặng
hoàn toàn, Thượng đế nói với bạn qua tất cả những người đã thức tỉnh.
Yên
tĩnh làm sao, chắc chắn làm sao Ông tiến tới nước hạnh phúc,
Trái
tim của tĩnh lặng.
Và
thế rồi các bước đi của bạn có tự tin bởi vì mọi chư phật đều là nhân chứng cho
bạn. Khi bạn bắt đầu nếm trải niềm vui của thiền, khi bạn bắt đầu trở nên tỉnh
táo với cái đẹp của thiền, khi hoa bắt đầu nở bên trong bạn, mọi chư phật trở
thành nhân chứng cho bạn. Bạn biết bạn trên đường đúng; tự tin lớn nảy sinh
trong bạn.
Yên
tĩnh làm sao, chắc chắn làm sao Ông tiến tới nước hạnh phúc,
Trái
tim của tĩnh lặng.
Dù
trẻ thế nào, người tìm kiếm khởi hành trên đạo chiếu sáng lên cả thế giới.
Và
đó không phải là vấn đề tuổi tác. Phật là người đầu tiên điểm đạo cho thanh
niên mang tính chất sannyas. Ngoài ra, ở Ấn Độ truyền thống là chỉ người rất, rất
già, già hơn bẩy mươi nhăm tuổi, mới được phép nhận tính chất sannyas. Tính chất
sannyas dành cho người già. Phật đã tạo ra cuộc cách mạng: ông ấy điểm đạo cho
thanh niên.
Và
kinh nghiệm riêng của tôi là: bạn càng trẻ hơn, càng tốt hơn, bởi vì khi bạn trở
nên già hơn bạn thu thập ngày càng nhiều gỉ hơn, ngày càng nhiều bụi hơn. Khi bạn
trở nên già hơn bạn trở nên ngày càng bị nặng gánh bởi kinh nghiệm, tri thức và
đủ mọi loại thứ ngu xuẩn. Khi bạn trở nên già hơn bạn bắt đầu mất đi hăng hái,
nhiệt tình, dũng cảm để thực nghiệm với cái không biết, để thám hiểu cái không
biết. Khi bạn trở nên già hơn bạn trở nên sợ chết tới mức do sợ bạn đi tới Thượng
đế, và những người đi từ sợ hãi tới Thượng đế thì không bao giờ đạt tới Thượng
đế. Sợ không phải là cây cầu, nó là bức tường. Những người đi tới Thượng đế
truy tìm chân lí từ tình yêu chân lí, chỉ họ mới được bắc cầu. Nó cần tuổi trẻ
nào đó, dũng cảm nào đó, năng lực nào đó để nhận mạo hiểm. Nó cần nhiệt tình,
tươi trẻ; bởi vì tôn giáo về căn bản là nổi dậy.
Phật
nói: Dù trẻ thế nào ... Đừng lo về điều đó. Chín chắn không có liên quan gì tới
tuổi tác cả; già đi không nhất thiết đã là trưởng thành lên. Người ta có thể trẻ
và trưởng thành và người ta có thể rất già và rất trẻ con. Tuổi tác và chín chắn
không có móc nối cần thiết nào. Chín chắn tới qua thiền. Già đi là quá trình
thông thường; mọi người đều già đi. Con vật già đi, cây cối già đi, mọi người
già đi; điều đó chẳng liên quan gì tới biến đổi.
Dù
trẻ thế nào,
người
tìm kiếm khởi hành trên đạo chiếu sáng lên cả thế giới.
như
mặt trăng,
ló
ra từ sau đám mây! chiếu sáng.
Phật
nói với các Bồ tát của mình, hãy đi và nói cho người tìm kiếm: Như mặt trăng,
ló ra từ sau đám mây! chiếu sáng.
Cùng
điều đó tôi nói với bạn: Như mặt trăng, ló ra từ sau đám mây! chiếu sáng.
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment