Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 8)
Chương
6. Tôi nói trắng ra
Câu
hỏi thứ nhất:
Thưa
thầy kính yêu,
Hôm
qua thầy nói rằng thầy không cần biết tất cả chúng tôi theo từng cá thể. Tôi cảm
thấy rằng mỗi người trong chúng tôi đều ở chỗ khác và có lí do khác để ở đây
trong cuộc đời này. Vậy tôi có sai không nếu tôi cảm thấy rằng con đường cho mọi
người là khác nhau nhưng đều dẫn tới cùng một đích?
Annemarie
Muller, không có mục đích và không có con đường cho nó. Bạn đã ở đó rồi, bạn
chưa bao giờ ở đâu khác cả. Chính ý niệm về con đường và mục đích là trò chơi
tâm trí. Đầu tiên bạn tạo ra mục đích, tham vọng, ham muốn xa xăm trong tương
lai, nơi không tưởng, thế giới này hay thế giới khác, Cơ đốc giáo hay cộng sản,
và thế rồi bạn bắt đầu nghĩ về con đường. Nhưng về căn bản không có mục đích,
do đó mọi con đường đều là giả. Và một khi bạn bắt đầu cố gắng đạt tới mục
đích, bạn sẽ lâm vào lẫn lộn càng ngày càng nhiều.
Mọi
con đường đều chỉ là chất liệu mơ, bởi vì ngay chỗ đầu tiên bạn chưa bao giờ rời
khỏi nhà, bạn chỉ rơi vào giấc ngủ. Adam và Eve chưa bao giờ bị đuổi khỏi Vườn
Eden, họ chỉ rơi vào giấc ngủ. Ăn từ cây tri thức, quả tri thức, họ đã trở
thành con người lí trí. Đó là giấc ngủ của họ; họ đã đánh mất dấu vết trái tim
riêng của mình, họ đã quên mất về nó. Nhưng nó có đó, nó không di chuyển đi chỗ
nào khác.
Bạn
vẫn trong Vườn Eden, bạn vẫn trong Thượng đế; bạn có thể ở đâu khác được? Không
có chỗ khác để ở. Đây là cách tiếp cận nền tảng của tôi: rằng không có mục
đích, không có con đường, bạn không đạt tới cái gì đó. Toàn thể ý niệm về đạt tới
không là gì ngoài trò bản ngã. Đầu tiên bạn cố gắng đạt tới tiền, quyền, danh,
và khi bạn thất bại - điều nhất định xảy ra, bởi vì tâm trí cứ đòi hỏi ngày một
nhiều hơn - khi bạn ở trong thất vọng sâu sắc, bạn bắt đầu quay sang thành người
tôn giáo. Nhưng toàn thể hình mẫu của bạn vẫn còn nguyên. Bạn vẫn ham muốn mục
đích. Bây giờ nó không còn là tiền, nó là thiền; bây giờ nó không còn là quyền
mà là thiên đường. Nó vẫn là cùng trò chơi được chơi với các từ khác. Tâm trí
đã lừa bạn, tâm trí đã đưa bạn đi trên cuộc hành trình khác.
Bạn
sẽ còn bị tâm trí riêng của mình lừa được bao lâu? Việc nhấn mạnh không phải
vào đi chỗ nào mà là thức dậy. Chẳng hạn, ba nghìn người đang ở đây ngay bây giờ;
nếu tất cả các bạn rơi vào giấc ngủ, tất cả các bạn sẽ ở đây, không ai đã rời
khỏi chỗ này nhưng tất cả các bạn sẽ mơ những giấc mơ tách biệt. Mơ là thứ rất
riêng tư; thực ra không có gì riêng tư hơn là giấc mơ. Bạn không thể chia sẻ giấc
mơ của mình ngay cả với người yêu của bạn, bạn không thể mời bạn của mình tham
dự vào giấc mơ được - điều đó là không thể được, bạn tuyệt đối một mình ở đó.
Giấc mơ không phải là hiện tượng khách quan, nó không phải là thực tại; nó chỉ
là ý niệm đã thôi miên bạn, nhiều tới mức nó dường như thật. Sự hiện diện của
người khác sẽ làm lộ ra cái không thật của nó.
Cho
nên nếu tất cả các bạn rơi vào giấc ngủ, một cách tự nhiên các bạn sẽ ở các chỗ
khác nhau. Ai đó sẽ ở Constantinople, và ai đó ở Tokyo, và ai đó ở Bắc Kinh,
nhưng thực ra tất cả các bạn sẽ ở đây và bây giờ. Chỗ của bạn sẽ khác: ai đó sẽ
là vua, ai đó là kẻ ăn xin, và ai đó sẽ là đàn ông, và ai đó sẽ là đàn bà, ai
đó sẽ rất nổi tiếng, ai đó chỉ là vô thực thể. Nhưng bạn có nghĩ những điều này
tạo ra khác biệt nào không? Tất cả các bạn đều có thể được thức dậy, và mọi giấc
mơ của các bạn, các giấc mơ tách biệt, các giấc mơ khác nhau, sẽ bay hơi như
nhau.
Bạn
nói, "Tôi cảm thấy rằng mỗi người trong chúng tôi đều ở chỗ khác..."
Chắc
chắn, nhưng trong mơ. Người này là tội nhân, người khác là thánh nhân; người
này là người Ki tô giáo, người khác là người Hindu; người này da trắng, người
khác da đen. Mọi giấc mơ! Trong cốt lõi bên trong nhất của mình bạn chỉ là tâm
thức thuần khiết, chỉ là nhận biết và không gì khác, tấm gương thuần khiết,
không bị đồng nhất với những cái phản xạ.
Đó
là toàn thể nỗ lực của thầy - đánh thức bạn dậy, không thúc giục bạn hướng tới
những mục đích nào đó. Nếu thầy thúc giục bạn hướng tới những mục đích nào đó,
ông ấy sẽ có hấp dẫn lớn cho tâm trí bạn; tâm trí bạn sẽ đồng ý với ông ấy, bởi
vì đó là điều tâm trí khao khát: mục đích mới, cho nên cuộc hành trình tiếp tục,
và cái ngu xuẩn của nó tất cả đều còn lại.
Thầy
thực làm tan nát mọi mục đích của bạn. Chính là chỉ bằng việc làm tan nát giấc
mơ của bạn mà bạn mới có thể được đánh thức dậy. Bạn ngụ ý gì bởi "persons
- cá thể"? Từ 'person' bắt nguồn từ gốc Hi Lạp persona. Persona nghĩa là mặt
nạ. Cá thể là hiện tượng giả, nó là mặt nạ, nó không phải là thực tại của bạn.
Nhưng bản ngã muốn được thừa nhận một cách cá thể. Bản ngã muốn quan hệ một
cách cá thể, bản ngã muốn thừa nhận, chú ý; bằng không bạn không là cá thể.
Không ai có cả, không ai đã từng có. Chỉ là ở chu vi mặt nạ mới có thể tồn tại
và có thể lừa người khác. Nhưng bạn phải biết rằng nó là mặt nạ, vật nguỵ trang.
Sâu bên dưới đằng sau mặt nạ bạn là cá thể sao? Không. Không chút nào. Bạn chỉ
là sự hiện diện, không phải cá thể.
Tôi
quan hệ với sự hiện diện của bạn, không với tính cá thể của bạn. Làm sao tôi có
thể quan hệ với giấc mơ của bạn được? Tôi quan hệ với bạn, nhưng không với giấc
mơ của bạn. Và chỉ trong giấc mơ bạn mới tách biệt. Trong thực tại chúng ta tất
cả là một, đó là một toàn thể hữu cơ.
Bạn
nói, "Tôi cảm thấy rằng mỗi người trong chúng tôi đều ở chỗ khác và có lí
do khác để ở đây trong cuộc đời này..."
Toàn
vô nghĩa. Nói trắng ra với bạn, chỉ là trò nhảm nhí! Nhưng bản ngã cứ chơi đùa
với ý niệm đẹp đẽ này, rằng "Mình có lí do đặc biệt để ở đây." Mọi
nhành cỏ cũng đều nghĩ theo cùng cách đó, và mọi hòn sỏi trên bãi biển cũng tin
theo cùng cách đó. Hỏi bất kì con chó nào hay con trâu hay con lừa, và chúng tất
cả đều tin rằng chúng ở đây vì một lí do đặc biệt và chúng đã mang thông điệp tới
thế giới này. Và những kẻ muốn khai thác bạn cứ nói với bạn về những điều vô
nghĩa thế.
Sự
tồn tại không có lí do nào hết cả; nó đơn giản hiện hữu. Đó là cái đẹp của nó.
Nó không có nguyên nhân cho nó, nó không có chiều hướng, nó không đi đâu cả, nó
không có gì để hoàn thành. Đó là cái đẹp của nó, cực kì đẹp. Nó tồn tại không bởi
lí do nào cả; đó là điều bí ẩn của nó, không thăm dò được, không đo được.
Nếu
bạn có thể biết lí do của sự tồn tại bạn đã giải huyền bí nó, bạn đã phá huỷ tất
cả cái đẹp của nó. Thế thì nó không còn mang nghĩa nữa, nhớ lấy. Thế thì sẽ
không có ý nghĩa. Tại sao có tình yêu? Có lí do nào cho nó không? Vâng, nếu bạn
hỏi nhà hoá học, nhà sinh lí học, ông ấy sẽ nói, "Có, đó là hooc môn trong
hoá chất thân thể bạn; thèm khát thì có thể, nhưng không phải tình yêu." Bạn
là nhiều hơn là tổng các bộ phận của bạn, và trong đó Thượng đế tồn tại nhiều
hơn. Trong yếu tố bất hợp lí đó mà thấm đẫm cái toàn thể, có tồn tại Thượng đế.
Tertullian
là đúng khi ông ấy nói: credo qua absurdum - tôi tin vào Thượng đế bởi vì Thượng
đế ngớ ngẩn. Tertullian là một trong những chư phật vĩ đại của thế giới, người
đã thực sự thấy thấu suốt. "Tôi tin vào Thượng đế bởi vì Thượng đế ngớ ngẩn,"
là một trong những phát biểu vĩ đại nhất đã từng được nói ra, một trong những
phát biểu hàm chứa nhất. Tin vào Thượng đế bởi vì có lí do để tin thì chẳng là
mấy; thế thì bất kì ai cũng sẽ tin. Nó không phải là bước nhảy lượng tử, nó
không phải là nhảy ra khỏi tâm trí bạn. Mọi luận cứ đều thuyết phục tâm trí, và
nếu tâm trí tin, đấy không phải là tính tôn giáo.
Khi
trái tim bạn bị khuấy động bởi cái gì đó bạn không thể diễn đạt được; điều
không thể đưa vào thành lời một cách thích hợp; từ đó không hệ thống nào có thể
được tạo ra, không kinh sách nào, không tôn giáo nào; cái đơn giản làm bạn câm,
trong kính nể và ngạc nhiên sâu sắc, trong một loại choáng váng vô cùng, mọi
khái niệm cũ bị tan tành, trong im lặng - bạn mất mọi lập luận của mình, mọi biện
luận của mình - chỉ thế thì bạn mới trong giao cảm với cái toàn thể. Vấn đề
không phải là biện luận, và bạn không ở đây để hoàn thành cái gì đó. Nó chỉ là
lễ hội: cuộc sống vì cuộc sống.
Nhưng
tâm trí của chúng ta muốn cái gì đó để được nuôi dưỡng, cho nên cái gọi là các
nhà thuyết giảng tôn giáo, các tu sĩ, các triết gia, nhà thượng đế học, họ cứ
cho bạn chất nuôi dưỡng. Họ nói, "Bạn được phái tới đây vì các mục đích đặc
biệt. Bạn có một chỗ đặc biệt. Công trình vĩ đại nào đó đang được bạn thực hiện."
Và bản ngã của bạn cảm thấy được thổi phồng.
Tôi
không thể làm được điều đó. Tôi không phải là kẻ thù của bạn. Khoảnh khắc tôi
thấy bất kì cơ hội nào tôi sẽ phá huỷ những bản ngã được thổi phồng đó, những bản
ngã tâm linh, những bản ngã ngoan đạo, bản ngã tôn giáo. Nhưng bản ngã là bản
ngã; nó đứng trên cái gì không thành vấn đề, nó được nuôi dưỡng bằng cái gì là
không liên quan.
Không,
tôi không thấy rằng bạn có chỗ khác; vâng, giấc mơ khác. Và tôi không thấy rằng
bạn có "... lí do khác ở đây trong cuộc sống này." Không có lí do nào
cả. Nó đơn giản là lễ hội. Nó là năng lượng tuôn chảy của sự tồn tại, hay Thượng
đế. Cái gì là lí do cho song của đại dương? Cái gì là lí do cho tia sáng mặt trời?
Cái gì là lí do cho chim hót? Tiếng gáy xa xa của con chim cu cu? Và cái gì là
lí do cho giọt sương lung linh trong ánh mặt trời buổi sáng? Cái gì là lí do
cho bông hồng ?
Bạn
không thể nhìn vào cuộc sống mà không có tâm trí kiểu kinh doanh này sao, bao
giờ cũng tính toán? Bạn không thể gạt nó sang bên cho dù vài khoảnh khắc để
nhìn vào thực tại như nó vậy sao? Và thế thì bạn sẽ ngạc nhiên: không có lí do
nào cả. Thế thì bạn có thể cười và nhảy múa và cầu nguyện, chỉ thế thì bạn mới
có phẩm chất khác cho bản thể mình. Cái toàn thể sẽ bắt đầu diễn đạt bản thân
nó qua bộ phận.
Nhưng
nhớ lần nữa, tôi không nói rằng điều đó sẽ diễn đạt thông điệp đặc biệt nào đó,
rằng bạn sẽ trở thành đấng cứu tinh. Tôi đơn giản nói cái toàn thể sẽ bắt đầu
chơi trò chơi ngớ ngẩn vô cùng của nó qua bạn mà không bị cản trở. Nó cực kì đẹp,
nó tuyệt vời, nhưng nó không phải là số học. Nó là thơ ca, nó là âm nhạc, nó là
điệu vũ - nghệ thuật vì nghệ thuật. Cuộc sống là vậy, sự tồn tại là vậy. Và
cách tiếp cận đó tôi gọi là tôn giáo.
Câu
hỏi thứ hai:
Thưa
thầy kính yêu,
Tại
sao mọi người nghĩ rằng sống không có chính trị là không thể được?
Mukesh
Bharti, tâm trí là chính trị, bởi vì tâm trí là tham vọng và tham vọng là gốc rễ
của chính trị. Nếu bạn tham vọng bạn có tính chính trị. Tham vọng của bạn có thể
lấy dạng tôn giáo, nhưng chính trị có đó. Thế thì bạn đang cạnh tranh với các
thánh nhân khác.
Cái
đêm Jesus rời khỏi đệ tử của mình, cái gọi là các tông đồ đã chẳng mấy lo nghĩ
gì về điều sẽ xảy ra cho Jesus. Mối lo của họ là: sau Jesus, khi Ngày phán xử
cuối cùng tới và tất cả họ sẽ lên thiên đường, ai sẽ đứng cạnh Jesus? Tất
nhiên, Jesus sẽ ở bên phải Thượng đế; chừng đó thì họ có thể nhân nhượng được.
Nhưng ai sẽ tiếp sau Jesus? Họ cãi cọ và tranh biện về điều này. Đêm cuối cùng
của thầy, ngày mai thầy có thể bị đóng đinh... nhưng đó không phải là mối quan
tâm của họ. Những tông đồ đó có tính chính trị, và những tông đồ đó đã tạo ra
Ki tô giáo, và Ki tô giáo là chính trị và không gì khác. Hindu giáo cũng thế và
Mô ha mét giáo cũng thế - mọi ham muốn chính trị đều được che giấu đằng sau những
lời lẽ tôn giáo.
Con
người không thể sống thiếu chính trị, bởi vì tâm trí. Bạn được nuôi dưỡng, bạn
được luấn luyện có tính chính trị. Mọi đứa trẻ đều bị đầu độc từ chính lúc ban
đầu, bị đầu độc bởi tham vọng. Chúng ta dạy đứa trẻ tham vọng: là ai đó trên thế
giới, là ai đó đặc biệt, là ai đó cao siêu, đánh bại người khác! Chúng ta cho mọi
đứa trẻ ý niệm rằng cuộc sống là cuộc tranh đấu và chỉ kẻ mạnh nhất mới sống
sót. Dù bạn sống sót bằng phương tiện đúng hay sai, điều đó không quan trọng.
Hai
mươi nhăm năm giáo dục - gần một phần ba cuộc đời bạn được huấn luyện để tham vọng.
Làm sao bạn có thể tránh được chính trị? Cách duy nhất để tránh chính trị là
thoát ra khỏi tâm trí bạn; điều đó nghĩa là chừng nào tâm trí chưa bị vứt bỏ
toàn bộ, chính trị sẽ cứ níu bám bạn. Bạn thậm chí có thể chống chính trị nhưng
điều đó sẽ trở thành chính trị.
Bạn
hỏi tôi, Mukesh, "Tại sao mọi người nghĩ rằng sống không có chính trị là
không thể được?" - bởi vì họ không thể quan niệm nổi làm sao sống mà không
có tâm trí và ham muốn, hay làm sao sống không có tham vọng. Họ chỉ biết một
cách sống: cạnh tranh, tranh đấu! Nếu bạn không chi phối người khác, người khác
sẽ chi phối bạn; cho nên trước khi người khác chi phối bạn, chi phối người khác
đi. Chi phối chắc chắn tốt hơn bị chi phối; làm chủ tốt hơn là làm nô lệ; là giầu
tốt hơn là nghèo. Và có cuộc vật lộn lớn, và triệu người đang tranh đấu về cùng
một thứ - và các thứ đó lại không nhiều mấy.
Bao
nhiêu người có thể là tổng thống, và bao nhiêu người có thể là thủ tướng, và
bao nhiêu người có thể là Ford, Rockefeller và Morgan và Birla và Tata? Bao
nhiêu người? Rất ít người. Và cuộc sống là ngắn ngủi, và đây là những mục đích
cần được hoàn thành. Nếu bạn không thể là một Rockefeller, nếu bạn không thể là
tổng thống của đất nước, cuộc sống của bạn là sự phí hoài vô cùng, bạn là thất
bại. Chừng nào bạn chưa hiểu rằng ngay cả với việc trở thành một Rockefeller, một
Morgan, bạn sẽ chẳng đạt tới cái gì cả... bạn sẽ còn xa xôi hơn với bản thân
mình. Bạn sẽ ở sâu hơn trong giấc mơ.
Với
việc trở thành tổng thống hay thủ tướng bạn sẽ không đạt tới bất kì an bình hay
phúc lạc nào. Không âm nhạc nào sẽ bùng phát trong bản thể bên trong nhất của bạn.
Thực
ra, bạn sẽ trở nên ngày một xấu hơn. Tới lúc một người trở thành thủ tướng, người
đó trở thành xấu nhất có thể được, bởi vì toàn thể cuộc tranh đấu làm cho người
đó thành xấu. Người đó phải tinh ranh, tinh ranh hơn người khác, bằng không người
đó sẽ không thành công. Người đó phải độc ác, người đó phải bạo hành, người đó
phải rất ngoại giao. Người đó phải nói điều này, nghĩ điều khác, làm còn khác nữa.Đến
lúc người đó đạt tới vị trí cao nhất của ham muốn của mình, người đó hoàn toàn
bị phá huỷ. Người đó không còn là con người nữa. Người đó hổng hoác bên trong;
người đó không có bản chất, không linh hồn.
Nhưng
những người này được coi là người thành công, những người này được coi là người
làm ra lịch sử. Những người này được coi là để lại dấu ấn của họ lên tiến hoá
con người. Đây là những người gây hại nhất trong thế giới, đây là những kẻ tội
phạm lớn nhất: Genghis Khan, Tamerlane, Adolf Hitler, Joseph Stalin, Mao Trạch
Đông, đây là những tội phạm thực trên thế giới. Những tội phạm nhỏ bị vào tù,
những tội phạm lớn trở thành tổng thống và thủ tướng.
Nhưng
những người không có khả năng đạt tới những ham muốn ngu xuẩn này cũng chịu khổ
rất nhiều. Họ khổ từ phức cảm tự ti, từ thất bại. Nền giáo dục của bạn tạo ra
chỉ hai loại người. Loại thứ nhất, những người thành công, và với thành công họ
đi tới biết rằng họ đã lãng phí cuộc sống của mình. Nhưng thật vô ích để nói điều
đó cho người khác, bởi vì thế thì người khác sẽ cười và sẽ nghĩ bạn lố bịch. Tốt
hơn cả là cứ mỉm cười mặc dầu sâu bên dưới bạn biết rằng bạn đã thất bại, cuộc
sống của bạn đã không có ý nghĩa gì, bạn đã không tận hưởng sống ở đây. Bạn đã
không nhảy múa, không bài ca nào đã được cất lên từ trái tim bạn. Toàn thể cuộc
sống của bạn đã là một thực nghiệm vô tích sự. Bạn biết điều đó nhưng quá trễ rồi.
Bạn
không thể quay lại được, và bạn không thể nói ra chân lí được - điều đó đơn giản
sẽ để lộ cái ngu xuẩn của bạn. Tốt hơn cả là cứ đóng vai thành công. Và thế rồi
loại kia là những người thấy những người thành công này và khổ vì ghen tị, đố kị,
bị tổn thương nặng rằng "Chúng ta không thể làm được điều đó trong cuộc đời
này." Đây là chính trị. Nỗ lực của tôi ở đây là để dạy bạn một cách sống
khác không chính trị chút nào. Để tâm trí bị gạt bỏ.
Đừng
là nô lệ của tâm trí bạn. Trở nên có ý thức nhiều hơn, tỉnh táo hơn về mọi phiền
toái mà tâm trí bạn đang làm cho bạn, những lộn xộn mà tâm trí đang tạo ra cho
bạn, những hỗn độn mà tâm trí đã thu bạn lại. Quan sát, tỉnh táo. Và dần dần, dần
dần khi tính quan sát của bạn phát triển - Phật gọi nó là "chính tâm"
- bạn sẽ có khả năng tuột ra khỏi tâm trí. Ở bên ngoài tâm trí và bạn ở bên
ngoài chính trị; bằng không, bất kì cái gì bạn làm cũng đều là chính trị. Nếu bạn
không làm gì cả, điều đó nữa cũng chính trị. Bạn tham gia, dù khẳng định hay phủ
định. Nếu bạn bỏ phiếu, bạn tham gia, nếu bạn không bỏ phiếu, bạn vẫn tham gia,
theo cách phủ định. Dường như không có chọn lựa. Trong mọi cách bạn sẽ là một
phần của nó.
Trong
những ngày Hitler còn thống trị, năm người Đức ngồi cạnh bàn trong quán cà phê,
mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Một người trong số họ thở dài, người
khác gầm to lên. Người thứ ba lắc đầu thất vọng, và người thứ tư cố kìm nước mắt.
Người
thứ năm, với giọng hoảng sợ, thì thào, "Các bạn, cẩn thận đấy! Các bạn biết
nói chuyện chính trị ở chỗ công cộng là không an toàn đâu."
Bất
kì điều gì bạn làm cũng đều sẽ là chính trị, ngoại trừ một điều: nếu bạn thực sự
trở thành người rút ra khỏi thế giới của tâm trí. Mọi người ghét tình huống
này, nhưng họ không biết làm gì về nó. Họ bị mắc vào trong tình huống phức tạp
thế, họ không biết cách thoát ra khỏi nó. Và toàn thể đám đông đang đi theo hướng
nào đó. Nếu bạn đi theo hướng khác đám đông trở nên giận dữ với bạn. Đám đông
không cho phép những người bất tuân thủ. Nó muốn sự qui phục toàn bộ, nó muốn
các nô lệ, nó kính trọng các nô lệ. Nó cho đủ mọi loại vinh dự - từ vinh dự thấp
nhất cho tới giải thưởng Nobel – cho các nô lệ, cho những người tuân thủ, cho
những người bằng cách nào đó hỗ trợ cho nguyên trạng.
Bạn
có thể thấy điều đó đang xảy ra ở mọi nơi. Cứ nhìn vào cái gọi là những người
đáng kính, họ đều là những kẻ nô lệ lớn. Đó là lí do tại sao họ được kính trọng.
Đó là việc hiểu lẫn nhau. Bạn tuân theo đám đông, đám đông kính trọng bạn, gọi
bạn là thánh nhân, là mahatma.
Adolf
Hitler không tin vào báo cáo ông ta đã nhận được rằng mọi người vẫn trung thành
với ông ta. Một tối ông ta cải trang và đi tới rạp chiếu bóng. Ngay lúc đó phim
thời sự được chiếu. Người giới thiệu nói, "Và bây giờ là bức ảnh mới nhất
của nhà độc tài nhân từ vĩ đại của chúng ta." Lời bình luận tiếp tục. Hình
nhoáng lên trên màn ảnh. Với niềm xúc động, khán giả đứng dậy chào mừng, hô to
"Heil, Hitler!"
Hitler
hài lòng với sự đáp ứng tới mức ông ta quên mất không đứng dậy. Người đằng sau
ông ta vỗ vai ông ta và thì thào, "Tôi biết ông cảm thấy thế nào với cái đồ
tàn nhẫn đó, nhưng tốt hơn cả ông nên đứng dậy nếu không thì cảnh sát sẽ bắt
ông đấy."
Đó
là cách mọi người cảm thấy, nhưng ai muốn lâm vào rắc rối không cần thiết?
Là
người không tuân thủ là kêu gọi rắc rối, bởi vì đám đông cảm thấy bị xúc phạm.
Tại sao đám đông cảm thấy bị xúc phạm bởi người không tuân thủ? - bởi vì người
không tuân thủ biểu lộ dấu hiệu thông minh, người đó biểu lộ dấu hiệu của tính
cá nhân, tính đích thực, tính trách nhiệm, và thế thì mọi người cảm thấy ngu xuẩn
khi so sánh với người đó. Họ không thể tha thứ cho người đó được - và chính
khách không thể cho phép những người như vậy tồn tại chút nào.
Một
ông vua Hồi giáo quyết định tổ chức cuộc đấu giữa một người Sufi với sư tử
hoang trong một đấu trường, để giải trí và cảnh báo đám đông. Nhiều nghìn người
kéo tới. Người Sufi đi vào đấu trường, tóm lấy tai sư tử và quẳng nó ra ngoài
vũ đài. Đám đông phát cuồng. Thế rồi nhà vua ra lệnh trói chân tay ông ta lại
và cho voi dày ông ta. Trong khoảnh khắc ông ta xoay xở quay mình thoát ra khỏi
chân voi. Đám đông gầm lên.
Bây
giờ nhà vua sai đào một cái hố, để người Sufi bị vùi tới cổ, và ra lệnh cho ba
tay kiếm giỏi và khoẻ chặt đầu ông ấy. Khi họ chém, ông ấy lắc đầu cách này
cách nọ để tránh cú đánh, đến mức họ bắt đầu mệt nhoài. Nhưng lúc đó đám đông đứng
cả dậy, la hét,
"Đứng
dậy và chiến đấu như con người đi, ông là nhà huyền môn thủ đoạn lắm!"
Bây
giờ người đáng thương này đang bị chôn vùi, chỉ cái đầu thò ra khỏi đất! Nhưng
thông minh có thể xoay xở được. Qua nhiều thời đại những người Sufi thực, các
Thiền nhân thực, chư Phật thực, người Hassid thực, các nhà huyền môn thực của mọi
nước, của mọi giống nòi, đã hoàn toàn chán ghét với toàn thể cái vô nghĩa này
đang diễn ra nhân danh chính trị. Họ đã từng dạy cho các đệ tử của mình,
"Thoát ra khỏi nó, nó là vô tích sự," và họ đã chịu khổ nhiều vì điều
đó.
Mukesh
Bharti, nếu bạn cảm thấy rằng chính trị là trò chơi bẩn thỉu, đừng lo nghĩ:
"Tại sao mọi người nghĩ rằng sống không có chính trị là không thể được?"
Đừng
phí thời gian của bạn vào điều đó. Đám đông sẽ vẫn còn như thế mãi mãi, nhưng bạn
có thể bước ra khỏi nó. Ngay cả bạn có thể xoay xở được điều đó, thế là đủ. Và
có thể nếu bạn có thể xoay xở, thế thì vài người khác sẽ thấy ánh sáng nữa, bởi
vì họ sẽ thấy vui vẻ mới nảy sinh từ bản thể bạn, hương thơm mới bao quanh bạn,
hào quang mới, bầu không khí mới, môi trường mới sẽ bắt đầu chạm tới trái tim của
mọi người khác.
Tôi
không nói, "Trở thành nhà truyền giáo." Đó là từ bẩn thỉu. Nhưng nếu
bạn ra khỏi những trò chơi xấu xí này, cuộc sống của bạn trở thành hiện tượng đẹp
đẽ mà những người có mắt sẽ thấy và những người có tai sẽ có khả năng nghe và
những người có trái tim sẽ có khả năng cảm nó. Và đó là mọi điều bạn có thể
làm. Đó là phục vụ thực.
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
thầy kính yêu,
Sao
thầy chống lại suy nghĩ, thượng đế học, triết học nhiều thế?
Gangadhar,
bởi vì suy nghĩ không là gì ngoài việc mơ bằng lời. Mơ không là gì ngoài suy
nghĩ bằng hình ảnh. Bạn có thể nghĩ cái gì? Bạn không thể nghĩ về cái không biết;
bạn chỉ có thể cứ lặp lại cái đã biết. Suy nghĩ có tính lặp lại, nó máy móc.
Suy nghĩ chưa bao giờ đem bạn tới sáng suốt mới, không trong tôn giáo không
trong khoa học. Chẳng ở đâu suy nghĩ đem đến cho bạn cánh cửa sổ mới tới sự tồn
tại. Ngay cả trong công việc khoa học, sáng suốt thực đã xảy ra không qua suy
nghĩ; chúng tất cả đều là trực giác, chúng đã không bắt nguồn từ trí tuệ. Mọi
nhà khoa học lớn đều được thuyết phục về sự kiện là không phải nỗ lực của họ
làm cho họ phát hiện ra những cách thức mới của cuộc sống, những bí mật mới của
tự nhiên, cái gì đó của cõi bên kia, cái gì đó rất huyền bí. Đó không phải là
công trình của họ, nhiều nhất họ chỉ là phương tiện.
Do
đó tôi không thiên về việc làm cho bạn thành nhà tư tưởng lớn. Thực ra, bạn đã
là những nhà tư tưởng lớn rồi. Mọi người đều là nhà tư tưởng lớn. Cho nên nhiều
giao thông cứ diễn ra trong tâm trí; bạn liên tục suy nghĩ, ngày nọ, ngày kia,
cả đời mình bạn đều suy nghĩ - tới mục đích gì, tới kết luận gì?
Và
tôi chống lại theology - thượng đế học nhiều hơn bất kì loại suy nghĩ nào bởi
vì đó là điều tối thượng trong ngu xuẩn. Chữ "Theo" nghĩa là thượng đế,
"logy" nghĩa là logic: logic về Thượng đế. Đó là mâu thuẫn ngay trong
thuật ngữ. Không có logic về Thượng đế. Tình yêu thì có, logic thì không, cả
nghìn lần không. Vâng, có thể có tình yêu về Thượng đế, nhưng không có logic.
Và nếu bạn tới tình yêu qua logic, tình yêu của bạn cũng giả, rởm, nhựa, chất tổng
hợp.
Tình
yêu xảy ra, nó không là luận cứ; thế thì nó xảy ra thế nào? Nó không xảy ra qua
suy nghĩ. Nó xảy ra bởi những thoáng nhìn vào vô ý nghĩ, bởi việc đi vào trong
các khoảng hở giữa hai ý nghĩ. Đó là những cánh cửa sổ, cửa sổ của điều thiêng
liêng. Tôi chống lại thượng đế học. Và triết học đã làm phí hoài nhiều tâm trí
đẹp tới mức bây giờ cứ đi dạy triết học cho mọi người là tội lỗi. Ít nhất trong
năm nghìn năm mọi người đã từng triết lí hoá. Và kết luận của họ đã là gì? Triết
học đã chẳng đi tới kết luận nào cả. Nó làm mọi người lẫn lộn. Bertrand Russell
đã viết trong hồi kí của mình rằng khi ông ấy còn trẻ và tới đại học, ông ấy có
ý nghĩ rằng bằng nghiên cứu triết học ít nhất ông ấy cũng có khả năng giải quyết
được vài vấn đề. Đến cuối cuộc đời mình - và ông ấy đã sống cuộc sống lâu, rất
lâu, và chính cuộc đời triết học của việc suy nghĩ thường xuyên - đến cuối cuộc
đời mình ông ấy nói, "Mọi thứ triết học đã làm là tạo ra nhiều vấn đề hơn.
Nó đã không giải quyết được một vấn đề nào. Các vấn đề cũ của tôi đích xác là
như chúng vẫn vậy. Các vấn đề mới chắc chắn đã nảy sinh từ suy nghĩ triết lí của
tôi." Và đó là kinh nghiệm của mọi nhà tư tưởng, mọi triết gia. Triết học
suy nghĩ về cái không biết, về Thượng đế, về cuộc sống sau cái chết. Bạn không
biết cuộc sống là gì trước cái chết, và bạn nghĩ về cuộc sống sau cái chết.
Nhấn
mạnh của tôi là, xin biết cuộc sống là gì trước cái chết, bởi vì nếu bạn có thể
có kinh nghiệm về cuộc sống trước cái chết, cái chết sẽ biến mất trong chính
kinh nghiệm đó. Cái chết bay hơi. Thế thì không có cái chết; cuộc sống là vĩnh
hằng. Nhưng thay vì kinh nghiệm, các triết gia cứ suy nghĩ, và bạn phải phân biệt
rõ ràng giữa suy nghĩ và kinh nghiệm. Người ta có thể nghĩ về thức ăn, nhưng điều
đó sẽ không nuôi dưỡng cho người ta. Ăn là chuyện khác toàn bộ. Và bạn có thể
nghĩ về những thức ăn rất ngon với đủ mọi chất vi ta min được thêm vào đó. Dầu
vậy điều đó sẽ chẳng ích gì. Và chỉ bánh mì và bơ, nếu được ăn thực sự, sẽ làm
ra bí quyết; chúng sẽ nuôi dưỡng bạn.
Triết
gia nghĩ về yêu. Ông ấy không yêu, ông ấy không biết gì về yêu cả. Ông ấy đã
không kinh nghiệm nó, nhưng ông ấy nghĩ về nó. Bạn có thể nghĩ gì về cái gì đó
mà bạn không kinh nghiệm? Và cần gì nghĩ nếu bạn đã kinh nghiệm? Do đó tôi chống
lại triết học. Theo cả hai cách nó đều vô tích sự. Nếu bạn đã không kinh nghiệm
nó, nó là vô tích sự; nếu bạn đã kinh nghiệm nó, nó còn vô tích sự hơn bao giờ.
Mới
gần đây một con khỉ hình người trốn khỏi vườn bách thú địa phương. Chắc đó phải
là một triết gia rồi! Nhiều giờ sau con thú cuối cùng bị người ta tìm thấy
trong phòng đọc của thư viện. Nó đang mải mê nghiên cứu các chương đầu của cuốn
"Chúa sáng tạo ra thế giới" và nó cũng có một cuốn sách của Darwin
Nguồn gốc các loài.
Khi
cảnh sát hỏi con khỉ hình người đang làm gì, con khỉ đáp, "Tôi đang cố gắng
hình dung ra một lần cho thoả đáng liệu tôi là người trông coi của anh tôi hay
liệu tôi là anh của người trông coi tôi."
Đó
là cách triết học tiếp diễn - toàn lời và lời. Và lời có thể được đặt theo cách
hệ thống tới mức chúng có thể lừa bạn, cũng như con bài có thể được xếp lại
theo cách chúng có thể cho bạn ảo tưởng về lâu đài. Thuyền giấy có thể được làm
để trông đích xác như thuyền; bạn có thể vẽ chúng, nhưng chúng vô dụng. Bạn
không thể đi sang bờ bên kia bằng thuyền giấy được. Triết học là lâu đài được
làm bằng quân bài, thuyền làm bằng giấy. Được sơn vẽ đẹp, nó trông đích xác như
thuyền nhưng không phải là thuyền. Ngoại trừ kinh nghiệm tồn tại chẳng cái gì sẽ
cứu bạn đâu.
Hai
người được phái đi xác định biên giới giữa Ba Lan và Nga. Một hôm, ở giữa khu rừng
lớn, họ đi tới một ngôi nhà rất cổ đứng ngay trên đường biên. Không thể nào xác
định được ngôi nhà phải thuộc vào nước nào, họ đi tới các cư dân. Sau khi rung
chuông một lúc lâu một triết gia rất già nhưng nổi tiếng ra mở cửa. Họ giải
thích khó khăn của họ và hỏi ông ấy muốn thuộc vào nước nào.
"Ồ,"
ông ấy nói, "tôi đã sống ở đây lâu thế tới giờ, tôi chẳng quan tâm chút
nào," và ông ta bắt đầu đóng cửa lại.
Bỗng
nhiên ông ấy mở cửa ra và nói nhanh, "Không, đợi đã, cho tôi vào Ba
Lan."
Người
Nga hơi bị tổn thương quay lại sau một giờ để hỏi triết gia già lí do ông ta có
quyết định bất thần đó.
"Ồ,
chẳng lí do gì đặc biệt cả," ông ta đáp. "Tôi đã đọc trong báo chí
hai mươi năm trước rằng mùa đông ở Nga rất lạnh."
Triết
học là sách vở, lời nói, chẳng có quan hệ gì với sự tồn tại cả. Nỗ lực của tôi ở
đây là để giúp bạn đi vào sự tồn tại, và triết học là việc phí hoài cực kì cuộc
sống và năng lượng - cuộc sống vô giá thế, năng lượng có thể đưa bạn tới Thượng
đế, năng lượng thiêng liêng. Tránh triết lí ra, tránh các triết gia. Ngồi cùng
người trí huệ đi, và họ là những người khác toàn bộ. Thời cổ đại triết gia là
người trí huệ. Socrates là loại triết gia khác toàn bộ với Bertrand Russell,
Immanuel Kant, Hegel, Heidegger. Socrates là người trí huệ, trí huệ như Phật.
Pythagoras cũng được gọi là triết gia, nhưng vào thời đó từ triết học có nghĩa
nguyên thuỷ của nó: tình yêu trí huệ. Sophy nghĩa là trí huệ, philo nghĩa là
tình yêu. Nhưng dần dần, dần dần nghĩa đó đã thay đổi. Bây giờ điều được dạy
trong các đại học chẳng liên quan gì tới trí huệ. Nó tất cả đều là tri thức rác
rưởi.
Phân
tích ngôn ngữ bây giờ được gọi là triết học. G.E. Moore và Ludwig Wittgenstein
bây giờ được coi là các triết gia vĩ đại. Họ là nhà ngôn ngữ, nhà phân tích -
những nhà ngôn ngữ lớn và nhà phân tích lớn, nhưng không phải là triết gia chút
nào, không theo nghĩa của Socrates, Phật, Lão Tử.
George
Bernard Shaw bị mệt lử bởi cuộc nói chuyện chán ngắt của một triết gia, người
đang cố gắng gây ấn tượng cho ông ấy bằng tri thức của mình. Cuối cùng Shaw cắt
lời, "Ông biết đấy, giữa hai chúng ta, chúng ta biết mọi cái có đó để cần
được biết."
"Thế
là thế nào?" triết gia này hỏi một cách vui mừng.
"Ông
dường như biết mọi thứ," Shaw nói, "ngoại trừ mỗi điều ông là người
chán lắm, và tôi biết điều đó!"
Câu
hỏi thứ tư:
Thưa
thầy kính yêu,
Sao
tôi cảm thấy buồn về Nô en khi toàn thể thông điệp là hân hoan và vui vẻ?
Vachana,
thông điệp của Christ là hân hoan và vui vẻ. Nhưng đó không phải là thông điệp
của Ki tô giáo. Thông điệp của Ki tô giáo là: phải buồn, mặt dài ra, trông khổ;
bạn càng trông khổ, bạn càng thánh thiện hơn. Đôi khi tôi thực sự cảm thông cho
Jesus đáng thương. Ông ấy rơi vào toán người sai thế, và tôi tự hỏi làm sao ông
ấy xoay xở được trong thiên đường với mọi thánh nhân Ki tô giáo này, buồn thế,
đờ đẫn thế.
Ông
ấy không phải là người đờ đẫn, ông ấy không phải là người buồn - ông ấy không
thể thế được. Từ 'christ' đích xác đồng nghĩa với phật. Ông ấy là người đã chứng
ngộ. Ông ấy hân hoan trong cuộc sống, trong những điều nhỏ bé của cuộc sống.
Ông ấy hân hoan trong ăn, uống, bạn bè. Ông ấy thích bầu bạn, ông ấy yêu toàn
thể cuộc sống.
Nhưng
người Ki tô giáo trong nhiều thời đại đã vẽ ông ấy rất buồn. Họ đã vẽ ông ấy
bao giờ cũng ở trên cây chữ thập, cứ dường như trong ba mươi ba năm ông ấy bao
giờ cũng trên cây chữ thập. Và hiểu biết riêng của tôi là ở chỗ người như Jesus
sẽ không chết buồn, ngay cả trên cây chữ thập. Ông ấy phải đã cười trước khi
ông ấy chết. Đó là điều al-Hillaj Mansoor đã làm trước khi ông ấy bị những người
Mô ha mét giáo cuồng tín giết, bởi vì ông ấy đã tuyên bố: Ana'l haq - Ta là Thượng
đế. Người Mô ha mét giáo không thể nào tha thứ được điều đó, cũng như người Do
Thái không thể tha thứ được Jesus. Họ đã giết ông ấy - nhưng trước khi họ giết
ông ấy, ông ấy đã nhìn lên trời và cười to.
Một
trăm nghìn người đã tụ tập để xem hiện tượng xấu xa này, việc giết hại một
trong những người vĩ đại nhất đã từng bước đi trên trái đất. Ai đó hỏi từ đám
đông, "al-Hillaj, sao ông cười vậy? Ông sắp bị giết rồi!" Và ông ấy
đã bị giết theo cách tàn ác nhất, xẻo từng mảnh. Việc đóng đinh Jesus chưa là
gì so với việc giết Mansoor: đầu tiên hai chân ông ấy bị chặt rời, rồi tay bị
chặt rời, rồi mắt bị móc ra, rồi mũi bị xẻo đi, rồi lưỡi bị cắt, rồi đầu bị chặt.
Họ hành hạ ông ấy nhiều nhất có thể được, nhưng ông ấy cười. Ai đó hỏi,
"Sao ông cười?"
Mansoor
nói, "Ta cười bởi vì người các ông đang giết là ai đó khác, ta không là
người đó. Ta cười vào Thượng đế nữa. Điều gì đang xảy ra? - nhưng người này đã
điên rồi sao? Họ đang giết ai đó khác! Ta thì các ông không thể giết được; điều
đó là nực cười, toàn thể nỗ lực của các ông là nực cười. Cho nên để điều đó được
ghi nhớ, để điều đó được ghi lại rằng ta đã cười vào cái ngu xuẩn của các
ông!"
Và
đó đích xác là điều Jesus phải đã làm, đã cười. Nhưng người Ki tô giáo đã cố gắng
nhiều nhất để mô tả Jesus là người buồn. Họ đã tạo ra một thánh nhân từ con người
đích thực; họ đã cắt gọt đi mọi thứ. Các sách phúc âm không phải là chuyện thực;
nhiều thứ đã bị thay đổi, nhiều thứ đã bị rút bớt đi, nhiều thứ đã được thêm
vào. Chúng đã trở thành hư cấu.
Trong
nhiều thời đại, người Ki tô giáo đã từng cố gắng vẽ Christ ngày một buồn hơn. Tại
sao? - bởi vì trên khắp thế giới tôn giáo đã bị chi phối bởi loại người thần
kinh. Nó đã bị chi phối bởi những người tự bạo, những người bạo ác. Ở phương
Đông cũng thế, Hindu giáo, Phật giáo, Jaina giáo - họ tất cả đều đã bị những
người tự bạo chi phối, những người tận hưởng việc hành hạ bản thân mình, những
người không có khả năng sống cuộc sống trong tính toàn bộ của nó.
Những
người quá hèn nhát không dám sống, những kẻ đào tẩu, đã chi phối tôn giáo mãi
cho tới giờ. Những kẻ đào tẩu này đã mô tả Phật không cười, Mahavira không cười.
Và
người Ki tô giáo thực tế nói rằng Jesus chưa bao giờ cười trong cuộc đời ông ấy.
Bạn có thể tin được điều đó không? Jesus chưa bao giờ cười trong cuộc đời? - và
ông ấy đã tận hưởng uống và ăn, ông ấy đã tận hưởng đánh bạc và gái mãi dâm, và
ông ấy đã tận hưởng đủ mọi loại người, và ông ấy chưa bao giờ cười sao? Bạn có
thể tưởng tượng rằng một người như Jesus, người bao giờ cũng chè chén hàng giờ
với bạn mình, không bao giờ cười sao? Điều đó không thể nào quan niệm nổi! Làm
sao bạn có thể cứ uống rượu và ăn mà không cười? Ông ấy phải đã đùa, ông ấy phải
đã kể chuyện cười. Những điều đó đã bị lược bỏ đi. Ông ấy đã là một người rất
thật, và rất dũng cảm. Ông ấy đã chấp nhận Mary Magdalene, gái mãi dâm nổi tiếng
vào thời đó làm đệ tử của mình. Điều đó cần dũng cảm, điều đó cần can đảm. Tôi
không thể tin được rằng ông ấy chưa bao giờ cười.
Thay
vì thế tôi có thể tin vào câu chuyện rất hư cấu về Zarathustra - rằng điều đầu
tiên ông ấy làm khi ông ấy được sinh ra là cười to. Điều đó tôi có thể tin được,
nhưng tôi không thể tin được câu chuyện này về Jesus, rằng ông ấy chưa bao giờ
cười. Điều đó có vẻ không thể được. Đứa trẻ... ngay điều đầu tiên ông ấy làm là
tiếng cười bụng. Nhưng tôi có thể tin được điều đó. Điều đó có cái đẹp nào đó về
nó, ý nghĩa nào đó. Điều đó đơn giản nói rằng Zarathustra được sinh ra đã trí
huệ, ông ấy được sinh ra đã chứng ngộ, có vậy thôi. Dù ông ấy có cười hay
không, điều đó không phải là vấn đề.
Và
điều đó dường như không quá khó: nếu đứa trẻ có thể khóc, sao chúng không thể
cười? Các bác sĩ nói rằng trẻ con khóc chỉ để làm sạch họng chúng, để cho chúng
có thể thở dễ dàng. Nhưng điều đó có thể được thực hiện theo cách tốt hơn nhiều
bằng cái cười bụng. Và bây giờ có các bác sĩ nói rằng nếu được chăm sóc đủ thì
trẻ con không khóc; ngược lại, chúng mỉm cười. Đó là việc bắt đầu tốt. Chẳng mấy
chốc Zarathustras sẽ tới.
Nhưng
mãi cho tới giờ các bác sĩ đều đã rất Ki tô giáo. Điều đầu tiên họ làm là treo
lộn ngược đứa trẻ và đánh vào mông nó. Bạn có trông đợi đứa trẻ cười được
không? Đây là đón chào vĩ đại của việc tới thế giới này, treo đứa trẻ lộn ngược,
cho nó một cú đánh - sự bắt đầu hay nhỉ, bởi vì cả đời mình nó sẽ nhận cú đánh
vào mông, lặp đi lặp lại. Và treo lộn ngược, làm sao nó có thể cười được? Chẳng
ngạc nhiên mà nó khóc!
Bây
giờ có vài bác sĩ đang làm việc theo chiều hướng khác. Họ cho đứa trẻ ra khỏi bụng
người mẹ theo cách tự nhiên hơn; họ không cắt dây rốn ngay bởi vì điều đó tạo
ra việc khóc, điều đó là bạo hành. Họ để đứa trẻ trên bụng người mẹ với dây rốn
vẫn nguyên si. Họ cho đứa trẻ tắm, tắm nước nóng, họ để đứa trẻ trong bồn tắm
đích xác theo cùng nhiệt độ như nó đã ở trong bụng người mẹ.
Trong
bụng người mẹ đứa trẻ nổi trong nước. Nước có cùng chất liệu như nước biển, mặn.
Trong dung dịch hoá chất cùng độ mặn, cùng nhiệt độ, đứa trẻ được đặt vào trong
bồn. Nó bắt đầu mỉm cười. Đó là sự đón tiếp thực đẹp. Và không với ánh sáng
chói của đèn ống... điều đó làm đau mắt đứa trẻ. Thực ra, nhiều người đeo kính
chỉ bởi vì sự ngu xuẩn này của các bác sĩ. Đứa trẻ đã sống chín tháng trong bụng
người mẹ, trong bóng tối, hoàn toàn tối. Thế rồi bỗng nhiên nhiều ánh sáng thế...
điều đó làm đau đôi mắt tinh tế của nó. Bạn đã phá huỷ cái gì đó tinh tế trong
mắt nó. Đứa trẻ nên được đón nhận trong ánh sáng rất mờ nhạt, và ánh sáng này
nên tăng dần dần, từ từ để cho mắt nó trở nên quen với ánh sáng. Một cách tự
nhiên đứa trẻ mỉm cười với việc tiếp đón hay đó.
Tôi
có thể tin Zarathustra cười to, nhưng tôi không thể tin được Jesus không cười
chút nào. Ông ấy đã sống ba mươi ba năm và không cười sao? - điều đó chỉ có thể
nếu ông ấy tuyệt đối hư hỏng, tuyệt đối bệnh hoạn, ốm yếu. Cái gì đó phải đã
sai nếu ông ấy không cười. Nhưng chẳng cái gì sai với ông ấy cả; cái gì đó sai
với các tín đồ. Họ mô tả thánh nhân của họ, đấng cứu tinh của họ, nhà tiên tri
của họ, là rất nghiêm trang, u tối, buồn bã, chỉ để chỉ ra rằng họ ở trên thế
gian, rằng họ ở bên ngoài, rằng họ không phải là phàm nhân. Tiếng cười dường
như nông cạn, dường như phi tâm linh.
Đó
là lí do tại sao, Vachana này - bởi vì bạn đã được nuôi dưỡng lớn lên như một
người Ki tô giáo. Mặc dầu thông điệp của lễ Nô en là hân hoan và vui vẻ, vẫn có
cái buồn nào đó, bởi vì toàn thể Ki tô giáo dạy bạn buồn. Nó không phải là tôn
giáo khẳng định cuộc sống, nó là tôn giáo phủ định cuộc sống. Nó còn phủ định
cuộc sống nhiều hơn Hindu giáo, phủ định cuộc sống nhiều hơn Do Thái giáo. Nó
không có cảm giác hài hước chút nào. Và một tôn giáo không có hài hước là ốm yếu,
bệnh hoạn. Nó cần trị liệu tâm lí.
Peter,
đứng trong đám đông, nhìn lên Jesus trên cây chữ thập. Khi ông ấy quan sát, ông
ấy rõ ràng thấy Jesus ra hiệu cho ông ấy tiến lên trước.
"Xuỵt,
này Peter, lại đây," Chúa nói.
Khi
Peter tiến lên, hai lính La Mã cản đường ông ấy và đánh ông ấy ngã lăn ra đất.
Vài
khoảnh khắc sau đó, Peter, thâm tím và chảy máu, nhìn lên và lại thấy Jesus ra
hiệu cho ông ấy tiến lên.
"Xuỵt,
này Peter, lại đây!"
Nhìn
quanh, Peter để ý rằng đám đông đã đi mất và lính La Mã cũng vậy. Ông ta lại gần
Jesus hơn, "Dạ, thưa Chúa, cái gì vậy? Ngài cần cái gì?"
"Này
Peter," Jesus nói. "Đoán xem cái gì? Ta có thể thấy nhà ông từ
đây!"
Câu
hỏi thứ năm:
Thưa
thầy kính yêu,
Tại
sao chính phủ Ấn Độ chống lại thầy?
Vijayanand,
bất kì chính phủ nào cũng sẽ vậy, bởi vì tôi nói trắng ra, và điều đó làm tổn
thương. Điều đó chẳng liên quan đặc biệt gì với chính phủ Ấn Độ; bất kì chính
phủ nào cũng làm vậy thôi. Thực ra, tôi đã chọn còn ở Ấn Độ bởi vì chính phủ Ấn
Độ là chính phủ tệ nhất trên thế giới. Ở Đức họ sẽ không dung thứ tôi cho dù một
ngày. Chính phủ Ấn Độ dường như hỗn độn tới mức ngay cả khi họ muốn làm cái gì
đó chống lại tôi điều đó cũng phải mất vài tháng. Đến lúc đó tôi sẽ trốn mất.
Chính phủ Ấn Độ là một hiện tượng...
Có
ít nhất ba mươi vụ kiện tôi ở toà án. Trong toà án này chúng tôi bị thua vụ kiện,
và quan chức chính phủ trong nhiều tháng dường không biết rằng chúng tôi đã
thua. Họ nghĩ vụ kiện vẫn còn tiếp diễn. Đến lúc đó chúng tôi chuyển sang toà
án khác. Nó thực sự là chính phủ hay, nhưng họ nhất định thỉnh thoảng giận tôi.
Cơ
hội là cuộc viếng thăm của nhà lãnh đạo Xô viết, Nikita Khrushchev, tới Ấn Độ.
Thủ tướng Ấn Độ muốn gây ấn tượng cho vị khách của mình bằng những tiến bộ lớn
mà Ấn Độ đã làm dưới quyền lãnh đạo của ông ấy đi theo các nguyên tắc của chủ
nghĩa xã hội và dân chủ.
Họ
lái xe qua một công viên lớn bao quanh toà nghị viện Ấn Độ ở Delhi, và
Khrushchev bắt gặp cảnh tượng một hình người đang ngồi xổm ỉa dưới gốc cây.
"Nhìn kìa!" Khrushchev vừa nói vừa chỉ vào hình người đó. "Ông
nói về những tiến bộ lớn lao nước ông đã làm, nhưng tôi thấy chính phủ của ông
thậm chí đã không cung cấp được tiện nghi nhà xí thích hợp cho quần chúng! Ông
gọi điều này là tiến bộ xã hội kiểu gì vậy?"
Người
ta nói rằng Nehru ngượng lắm bởi nhận xét này.
Năm
sau đến lượt Nehru làm khách của Khrushchev ở Moscow. Ông ấy khao khát ghi điểm
và tìm cách phê bình nào đó để chế nhạo chủ nhà. Khi hai nhà lãnh đạo bước qua
công viên gần điện Kremlin, ông Nehru bắt gặp cảnh tượng một người. "Nhìn
kia kìa!" Nehru kêu lên. Khrushchev nhìn... và khi ông ấy thấy người này,
khuôn mặt ông ta thành đỏ tía tai với cơn thịnh nộ.
"Bắt
ngay người kia!" ông ta la hét với nhân viên mật của mình.
Một
tá cảnh sát chạy xô lại chiếc cây đó và bắt người này. Họ lôi người đó tới
trung tâm cảnh sát gần nhất để thẩm vấn.
Người
này - lại hoá ra - là viên đại sứ Ấn Độ!
Câu
hỏi cuối cùng:
Thưa
thầy kính yêu,
Tôi
bây giờ bẩy mươi rồi, nhưng dầu vậy thôi thúc dục vẫn có đó. Tôi phải làm gì?
Narayandas,
bạn không nên làm gì cả. Thế là đủ rồi. Mới hôm trước tôi đã nhận được từ
Madhuri vĩ đại một tấm thiếp Nô en đẹp, nhưng tấm này là đẹp nhất. Và đặc biệt
với bạn đấy, Narayandas, nó sẽ có ích. Cho nên tôi sẽ đọc tấm thiếp này của
Madhuri. Từ hai mươi tới ba mươi, nếu bạn cảm thấy đúng Thì một vào sáng và một
vào đêm.
Từ
ba mươi tới bốn mươi, nếu bạn vẫn sống đúng, Bạn bỏ sáng nhưng tiếp tục ban
đêm!
Từ
bốn mươi tới năm mươi, nó là thỉnh thoảng...
Và
từ năm mươi tới sáu mươi, Thượng đế mới biết khi nào!
Từ
sáu mươi trở đi, nếu bạn vẫn có ý thích, Tin tôi đi, anh bạn -
Nó
tất cả trong tâm trí bạn!
Chúc
Giáng sinh hạnh phúc!
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment