Osho - Con đường nghịch lý (Tập 3)
Chương 6. An trú trong thực tại
là ân sủng
Câu hỏi thứ nhất:
Làm sao con có thể sống trong
giây phút ân sủng này? Khoảnh khắc của con?
Ân sủng phát xuất từ sự
vĩnh cửu, không bao giờ là một phần của thời gian. Thời gian tạo sự hối hả, tạo
sự căng thẳng. Càng ý thức thời gian, bạn sẽ càng dễ bị tác động thần kinh. Thời
gian là hội chứng thần kinh phân liệt. Khi bạn không ý thức thời gian, khi
không quá khứ vị lai, khi thời gian không liên quan đến bạn, bạn chỉ sống cho
bây giờ và ở đây, thì lòng tri ân dấy khởi. Ân sủng thuộc một phần của cảnh giới
thường hằng. Ân sủng là phẩm tánh Thượng Đế. Thượng Đế không hiện diện trong thời
gian. Sống trong thời gian tức là sống trong tâm trí. Sống trong thời gian tức
là sống qua tự ngã. Sống trong thời gian tức là sống trong khổ đau và địa ngục.
Con đường của Thiền nhân là làm thế nào siêu vượt trên thời gian, làm thế nào để
xả bỏ thời gian, làm thế nào lãng quên thời gian. Ý tôi không phải thời gian của
đồng hồ. Ý tôi là thời gian của tâm trí. Thời gian của đồng hồ thì hoàn toàn
ích lợi. Nếu bạn muốn canh giờ đón xe lửa, bạn phải nhớ thời gian của đồng hồ,
nhưng đó không thành vấn đề. Việc này không gây căng thẳng, không làm mất ân sủng.
Đồng hồ là một cách tiện lợi. Khi bạn vật lộn trong tâm lý thời gian, bạn mất
ân sủng.
Thời gian tâm lý là gì?
Sống trong quá khứ tức là sống trong căn bệnh lý giải của tinh thần. Từ đó thêm
một vấn đề nữa, đa số chỉ muốn sống cho tương lai. Quá khứ phóng chiếu trong
tương lai. Bạn kinh nghiệm vài sự việc hôm qua, bạn muốn ngày mai xảy ra nữa.
Có vài việc vào ngày hôm qua bạn không thích, bạn không muốn xảy ra ở ngày mai.
Ngày mai đến qua sự biến thể của hôm qua. Nó là bản lọc của hôm qua, của những
ngày hôm qua trước đó. Bạn hy vọng gì trong cuộc đời của bạn ở tương lai? Bạn sẽ
làm gì với một ngày mai, hay năm tới, hay kiếp tới? Có lúc bạn quán nó, bạn làm
gì? Bạn sẽ thấy toàn bộ quá khứ lập lại qua tiếng động... tốt hơn, dĩ nhiên. Những
giây phút thất vọng nên cắt bỏ. Mọi khúc mắc tối tăm phải sáng sủa hơn, lỗi lầm
cần nên sửa đổi... và nguồn vui nên gia hạn lâu hơn và tăng cường để bạn có thể
hạnh phúc hơn. Tương lai được chọn lựa qua quá khứ, nên bạn lúng túng trong cả
hai. Một là bạn vướng trong quá khứ, tư duy điều không nên, hoặc tư duy điều
chưa đến. Lúc đó, bạn đánh mất hiện tại. Thực tại thuộc một phần của cảnh giới
vĩnh hằng. Thực tại không bao giờ thuộc về thời gian. Hãy an trú trong thực tại
thì ân sủng sẽ đến...
Khi bạn an trú trong thực
tại, bỗng nhiên, bạn khám phá nguồn ân sủng trào sôi mãnh liệt, hài hòa, quân
bình, và vắng lặng... qua giai điệu bản thể. Sự vắmg lặng không cưỡng đoạt từ
ngoại cảnh, không phải một phần của kỷ luật, không thụ động, không chế ngự từ
tĩnh mịch. Nếu vẫn kiềm chế thì vẫn chưa là thực tại. Nếu qua sự nỗ lực mới có
nắm bắt nó, nó đã là quá khứ. Nếu bởi tham ái, bạn phải nắm bắt nó, nó thuộc về
tương lai. Khi không nỗ lực để giữ nó, không hỗ trợ, không bảo dưỡng, không kiềm
chế... chỉ hiện diện... nơi đó, bao bọc bạn thật thánh thoát, vắng lặng, hỷ lạc...
như vậy, kinh nghiệm đó chính là ân sủng. Đặc biệt, ân sủng không thuộc thời
gian...
Sao con có thể sống
trong giây phút ân huệ này?
Hãy bỏ ý thức thời
gian. Sống trong thứ tự thời gian, nhưng xả ly thời gian tâm lý. Đừng vọng thời
gian. Tất cả điều bạn muốn đều sẵn có. Không cần thêm gì để hạnh phúc, để được
sống trong Thiên đường. Thiên đường trước mặt bạn, nơi chốn của bạn bây giờ. Đừng
nghĩ rằng phải cần có gì khác xảy ra bạn mới hạnh phúc. Đó là cách sống trì
hoãn. Không có gì sẽ xảy ra. Tất cả đã xảy ra rồi. Thượng Đế đã hiện diện rồi.
Hãy tận hưởng Thượng Đế đã sẵn có cho bạn. Hãy xả ly thời gian tâm thì ân huệ
tìm đến bạn.
Sao con có thể sống
trong giây phút ân sủng này? Khoảnh khắc này của con?
Không có thời gian của
tôi. Thời gian hủy hoại ân huệ của bạn cũng giống như vậy... luôn giống như bao
nhiêu chúng sinh khác. Không phương Tây, không phương Đông. Không quá khứ vị
lai.
Thời gian quấy nhiễu bạn
đều chung một căn bệnh... Căn bệnh không có mặt tại đây và bây giờ. Phải thành
tựu gì đây? Thật ra, khi hỏi một câu hỏi như vậy thì đã hỏi sai rồi. Mọi tâm
hành bắt nguồn qua tâm lý. Bạn làm vì muốn được ân sủng, vì động lực. Hãy cố gắng
hiểu. Không có gì để thành tựu. Chỉ sự hiểu biết, chỉ nhận thức! Không cần làm
việc tốt để có ân huệ. Chỉ cần nhận biết tại sao bạn thiếu ân huệ... Tại sao bạn
lại thiếu ân sủng... không phải làm sao để thành tựu ...
Sự khác nhau rất lớn. Nếu
câu hỏi chính đáng, bạn nên hỏi, "Tại sao tôi khổ đau? Tại sao tôi thiếu
nó?" Bạn đã đi sai bước rồi. Chúng gần như nhau. Về ngôn ngữ học, gần như
nhau... "Tại sao?" và "Làm sao?" Chúng như hai mặt của một
đồng tiền, nhưng không phải vậy. Khi bạn hỏi "Làm sao?" Bạn đang hỏi
về tương lai. Thay vì quan sát hoàn cảnh hiện tại, bạn khát vọng, lại lý tưởng,
lại mục tiêu... Thời gian là như vậy. Bạn bị mắc bẫy lần nữa. Bây giờ, bạn tìm
kiếm, "Làm sao có ân huệ?" Đó là bạn tạo ra, không phải ân huệ. Cùng
lắm chỉ là một đồng tiền giả tạo, chỉ là một khuôn mặt nạ, không thể là sự thật,
không thể là chân lý... bởi chân lý không do tâm. Tâm có thể cho phép Chân lý
hiện diện, nhưng không thể do tâm phát sanh. Chân lý tự đến. Bạn chỉ là lộ
trình. Bạn không thể cản trở. Hãy hỏi tại sao bạn thiếu ân huệ... Hãy tìm hiểu
nguyên nhân, bạn sẽ thấy nguyên nhân căn bản là thời gian tâm lý, hay dính mắc
với vô sanh, quá khứ và tương lai lôi cuốn bạn trên hai bình diện khác nhau. Do
đó mà thiếu ân huệ. Tâm bạn phân tán từng phần thì sao bạn có thể tràn trề ân sủng?
Nhận thức nó, đối diện
sự thật, bạn bắt đầu cười... Nếu vậy, đừng bị lôi cuốn! Không có ai lôi cuốn bạn.
Bạn cho phép nó, tạo tác của bạn. Khi bạn nhận thức, "Chính ta đã cho phép
thời gian tâm lý hoạt động, không chỉ cho phép mà còn hỗ trợ nó, cung cấp năng
lượng cho nó." Nhận thức sự thật rằng hiện tượng này đã đoạn diệt ân điển,
gia trì và hỷ lạc. Bạn rút tay lại, không hỗ trợ nữa. Chỉ có vậy. Thiếu sự hỗ
trợ, nó sẽ vỡ tan, kết thúc. Khi nó vỡ tan rồi thì sẽ có ân huệ.
Ân huệ là sự vắng mặt của
thời gian. Ân huệ là sự hiện diện của cảnh giới vô lượng vô biên...
Câu hỏi thứ hai:
Có phải khoa tâm lý trị liệu
pháp của Tây phương đã mất đi tinh yếu căn bản?
Không phải chỉ tinh yếu
căn bản bị mất trong khoa Tây phương Tâm lý trị liệu pháp... Tính chất tinh yếu
đã bị đánh mất! Tâm lý trị liệu pháp vẫn chủ về đối tượng, từ ngoại cảnh, chưa
thành tựu được điểm mốc Thiền trở thành khoa tâm lý trị liệu pháp quan trọng nhất.
Nó vẫn quán ngoại cảnh, vẫn còn nghiên cứu cách hành xử. Hành xử là cách diễn đạt
ngoài cùng nhất qua tâm lý bạn, nhưng nó không phải nguyên nhân mà là kết quả,
sản phẩm phụ. Tâm lý trị liệu pháp Tây phương vẫn còn tỉa xén lá trên cây. Do sự
tỉa xén lá trên cây, bạn không thể hủy thân cây. Họ vẫn chưa thấy được rễ. Gốc
rễ vẫn nằm bên dưới Họ chỉ tìm kiếm trên bề mặt. Khi bạn nhìn thân cây, bạn có
khuynh hướng quên gốc nó. Gốc cây không thể thấy, không lộ liễu, không quá ngu
xuẩn để lộ mặt, âm thầm ẩn náu. Nó là nguồn cội bí mật, chỗ bí mật nhất để
không ai thấy được dễ dàng. Trường hợp con người cũng y vậy. Khoa Tâm Lý Học
Tây phương vẫn tiếp tục nghiên cứu về cành lá, và diễn đạt ngoại cảnh của tâm
lý, nhưng nơi đó, nó sanh khởi, nguồn cội tận cùng của nó, vẫn chưa khám phá.
Khi khoa tâm lý học đi vào sự chủ quan của nhân loại, trở thành con đường của
Thiền. Họ không quan tâm hành xử, không quan tâm hành động, không quan tâm triệu
chứng. Họ chỉ quan tâm quan tâm nguồn gốc nguyên nhân của tất cả. Bằng cách
thay đổi nguyên nhân, tất cả thay đổi. Nếu không thay đổi nguồn cội, bạn thay đổi
tất cả và căn bản chẳng có gì thay đổi hết.
Thiếu thay đổi nguồn gốc
thì tất cả chỉ là sự chắp vá hời hợt. Nếu có người nào mang bệnh tâm thần, biểu
thị điều gì? Nó cho thấy trong bản thể người đó bị thui chột hư hỏng, và bị nhiễm
độc. Bạn chắp vá họ lại, điều trị chỉ trên bề mặt, phân tích cách hành xử, và mọi
giấc mộng hư huyễn của họ, cố gắng tìm hiểu vấn đề của họ với tính cách khách
quan, từ ngoại cảnh. Bạn quan sát họ, cố gắng chắp vá họ. Vấn đề đó có thể thực
hiện. Căn bệnh sẽ chấm dứt ở một chỗ, nhưng không sớm thì muộn, nó sẽ nổi lên ở
nơi khác, bởi nguyên nhân nhiễm độc vẫn chưa điều trị đến tận gốc. Triệu chứng
được chữa trị, không phải căn bệnh. Trường hợp y dược cũng không khác gì. Bạn bị
nhức đầu? Họ sẽ cho bạn thuốc Aspiro. Aspro không phải để điều trị, chỉ giúp bạn
không nhận thức triệu chứng. Thuốc Aspro không giúp giảm đau đầu, chỉ không cho
bạn hiểu nó và gây cho bạn sự xáo trộn. Cơn đau đầu vẫn còn, nhưng bạn không biết.
Chỉ giúp bạn quên. Tại sao bạn bị đau đầu? Thuốc men thông thường không để tâm
điều trị vấn đề đó. Bạn đến y sĩ, ông cũng không quan tâm tại sao bạn lại bị
đau đầu. Vấn đề đối với ông thật đơn giản, "Triệu chứng ở đó. Uống thuốc
là hết nhức đầu ngay." Có lẽ, không còn bị nhức đầu, nhưng bạn sẽ bị đau bụng
ngày hôm sau. Triệu chứng khác lại nổi lên.
Con người là một, hoàn
hảo, hữu cơ đồng nhất. Bạn có thể nhét vấn đề vào một góc, nó sẽ nổi lên ở góc
khác. Có lẽ, nó chờ thời gian thuận tiện để nổi lên từ góc khác, nhưng nhất định
nó sẽ phát ra. Sau đó, họ tìm cách gạt nó qua một bên ... Con người có nhiều
góc. Họ tiếp tục đẩy căn bệnh từ góc này qua góc khác. Họ làm cho bạn bệnh thêm
thay vì khỏe khoắn hơn. Có lúc, căn bệnh nhẹ bỗng trầm trọng. Thí dụ, nếu cơn
nhức đầu không chữa trị kịp thời, cơn đau bụng không chữa trị ngay... khi cơn
đau hành hạ, bạn phải uống thuốc để giảm đau. Nhiều năm trôi qua, bạn vẫn tiếp
tục điều trị bằng cách kiềm chế nó, có một ngày, căn bệnh trầm trọng hơn, hoành
hành dữ dội, biến chứng ung thư. Căn bệnh bị kiềm chế, lâu ngày sẽ bộc phát. Tại
sao với bệnh ung thư, chúng ta vẫn chưa tìm ra cách chữa trị? Có lẽ, chứng ung
thư là diễn đạt của tất cả căn bệnh bị kiềm chế trong thân con người. Từ xưa đến
nay, chúng ta có phương pháp kiềm chế mỗi căn bệnh khi nó bộc phát. Bây giờ,
không phải chỉ một căn bệnh, mà là sự tấn công tổng hợp của mọi căn bệnh. Tất cả
hội chúng bệnh tật đều gộp chung, biến thành một quân đội... và đồng tấn công bạn.
Đó là lý do tại sao y dược thất bại. Khả năng tìm thuốc chữa trị có vẻ rất mỏng
manh. Ung thư là căn bệnh mới, không bộc phát trong xã hội man khai. Tại sao?
Chúng ta phải tìm hiểu tại sao nó lại không bộc phát tại các xã hội bán khai? Bởi
những con người man khai không kìm nén. Họ không cần thiết phải làm vậy. Đây là
sự nổi loạn từ hệ thống của bạn. Nếu bạn không kiềm chế, sẽ không có sự nổi loạn.
Những căn bệnh nhẹ chỉ bộc phát rồi biến mất.
Thái độ tôn giáo là
quan sát, không phải triệu chứng mà nguồn gốc căn bệnh. Đó là hiện tượng mà tôi
gọi là "Tâm thức của chư Phật." Nếu bạn nhức đầu. Đó không phải là bệnh,
đó là tín hiệu từ cơ thể bạn báo bạn biết có gì bị hư hỏng bên trong. Hãy tìm
nguồn gốc hư hỏng này, xem bị bệnh chỗ nào. Đầu bạn phát cho bạn tín hiệu nguy
hiểm, báo động rằng, "Hãy lắng nghe cơ thể. Có cái gì trục trặc bên trong.
Bạn đã làm gì không đúng, nên cơ thể không hài hoà. Đừng làm vậy nữa! Nếu
không, cơn nhức đầu sẽ tiếp tục hành hạ để nhắc nhở bạn. Nhức đầu không phải là
bệnh, không là kẻ thù, mà là thân hữu của bạn. Nó đang phục dịch bạn. Một tính
chất rất chủ yếu cho sự sinh tồn, khi cơ thể bạn giúp bạn cảnh giác những trục
trặc bên trong. Thay vì điều trị sự trục trặc này, bạn tắt máy báo động bằng
cách uống Aspro. Thật quái dị. Chuyện như vậy xảy ra cho ngành y dược, và đã xảy
ra trong khoa Tâm Lý Học trị liệu pháp Tây phương... điều trị mọi triệu chứng.
Đó là lý do tại sao yếu tố cần thiết thiếu vắng. Yếu tố cần thiết là: Hãy tìm
nguyên nhân. Lần tới, nếu bạn nhức đầu, hãy thử một pháp thiền nhỏ, chỉ kinh
nghiệm. Sau đó, bạn có thể điều trị những bệnh nguy hiểm và những triệu chứng
trầm trọng hơn.
Khi bạn đau đầu, hãy thử
thực hành chút kinh nghiệm nhỏ này. Hãy thiền và nội quán tọa, trực diện nó,
nhưng không phải là cách trực diện kẻ thù. Không phải vậy. Nếu bạn quán nó như
một kẻ thù, bạn sẽ không thể quán một cách đúng đắn được. Bạn sẽ trốn tránh...
Không ai chịu đối diện kẻ thù của mình một cách trực tiếp, họ sẽ trốn tránh.
Hãy quán nó như một người bạn. Nó đang phục dịch bạn, và đang khuyên, "Có
gì trục trặc bên trong. Hãy tìm hiểu xem chuyện gì xảy ra." Hãy quán trong
thinh lặng, trực diện cơn đau đầu mà không có ý nghĩ rằng bạn sẽ tiêu trừ nó,
không khao khát là nó biến mất, không xung đột, không tranh đấu, không thù
ghét. Hãy quán nó như quán chiếu một thực tại. Hãy nội quán. Nếu có thông điệp
của nội tại, cơn đau đầu thông báo cho bạn biết ngay. Nếu bạn quán trong thinh
lặng, bạn sẽ ngạc nhiên. Nếu bạn quán trong thinh lặng, có ba hiện tượng xảy
ra. Thứ nhất: Bạn càng quán thì cơn đau đầu càng dữ dội. Bạn sẽ lúng túng,
"Làm sao để giảm cơn đau đầu càng trầm trọng hơn?" Cơn đau càng nặng
nếu bạn trốn tránh. Nó ở đó nhưng bạn tìm cách trốn tránh cơn đau này, tìm cách
kiềm chế nó. Thậm chí, không dùng thuốc Aspro, bạn đã muốn kiềm chế nó rồi. Khi
bạn quán nó, sự kiềm chế chấm dứt. Cơn đau đầu sẽ nặng hơn theo tiến trình tự
nhiên, nghe nó với hai tai không bị bịt kín, không miếng vải nào che tai và cơn
đau sẽ khốc liệt hơn. Trước nhất, bạn sẽ đau đớn hơn. Nếu bị đau đớn hơn, bạn
có thể hài lòng là bạn đã trực diện nó một cách đúng đắn. Nếu không đau nặng
hơn, như vậy, bạn chưa trực diện nó, vẫn còn trốn tránh nó. Hãy quan sát nó...
nếu nặng hơn thì đúng. Đó là viễn cảnh.
Hiện tượng thứ hai: Cơn
đau sẽ không lan tràn ở không gian rộng lớn hơn. Trước nhất, bạn sẽ suy nghĩ,
"Toàn cái đầu tôi đều đau nhức." Bạn nhận thức không phải toàn cả đầu
mà chỉ một chỗ nhỏ. Điều đó biểu hiện là bạn đang nhìn chằm chằm nó. Cảm giác
đau đớn lan tràn chỉ là mưu mẹo, một cách trốn tránh. Nếu chỉ là đốm nhỏ thì sẽ
trầm trọng hơn. Cho nên, bạn có cảm tưởng là toàn bộ cái đầu đang bị đau khắp cả
đầu, không nhất thiết bị đau dữ dội ở điểm nào cả. Đây là mưu mẹo mà chúng ta
đang diễn trò. Hãy đối diện nó và kế tiếp, bạn sẽ bớt đau hơn và từ từ sẽ bớt
đau dần. Khi cơn đau chỉ còn là điểm cực nhỏ của mũi kim... thì cơn đau khác
gay gắt hơn, khốc liệt hơn đột nhiên hành hạ bạn. Bạn chưa bao giờ bị đau kinh
khủng như vậy, nhưng thật ra nó chỉ tập trung ở một điểm cực nhỏ trong đầu
thôi. Hãy tiếp tục quán nó.
Hiện tượng thứ ba, thì
có một điều rất quan trọng xảy ra. Nếu bạn tiếp tục trực diện ở điểm này khi
cơn đau trở nên khốc liệt, hạn chế và hoàn toàn tập trung ở một chỗ, bạn thấy
nhiều lần nó biến mất. Khi sự trực diện của bạn trọn vẹn thì cơn đau chấm dứt.
Khi nó chấm dứt rồi, bạn sẽ biết nó từ đâu phát khởi... nguyên nhân từ đâu đến.
Khi có kết quả rồi, bạn sẽ thấy nguyên nhân, đã xảy ra nhiều lần, sẽ xảy ra một
lần nữa. Khi sự quán thật sự, cơn đau chấm dứt, sau nó là nguyên nhân. Bạn sẽ
ngạc nhiên vì tâm trí sẵn sàng biểu thị nguyên nhân. Có thể có cả một ngàn lẻ một
nguyên nhân, nhiều nguyên nhân khác nhau báo động bởi hệ thống báo động rất đơn
giản. Không có nhiều hệ thống báo động trong thân bạn. Đối với mọi nguyên nhân
khác, vẫn sẽ cùng chung sự báo động. Thí dụ, khi bạn giận dữ, bạn không thể
phát tiết. Bỗng nhiên, như một mặc khải, nó có mặt ngay. Bạn sẽ ý thức cơn giận
bạn đang mang nặng như... vết thương đầy mủ. Cơn giận cần nên phát tiết, cần
thanh tẩy. Bạn sẽ thấy cơn đau đầu chấm dứt, không cần uống thuốc Aspro, và
cũng không cần chữa trị. Khi cơn giận chấm dứt rồi, một phẩm hạnh mới hơn của bản
thể sẽ dấy khởi trong bạn, chưa từng phát sanh qua sự dùng Aspro. Aspro chỉ kiềm
chế... Cơn giận vẫn còn trong bạn. Sự bạo động vẫn mãnh liệt trong bạn. Bạn chỉ
tắt báo động thôi, không có gì thay đổi hết, chỉ sự báo động không còn nữa. Vấn
đề này sẽ tiếp tục. Mỗi ngày mỗi nhiều hơn, sẽ thành ung nhọt, sẽ thành hội chứng
lao phỗi. Khi một tế bào bệnh tích tụ rồi, phẩm lượng thay đổi. Cơ thể có sự chịu
đựng giới hạn. Vượt quá giới hạn đó, thân sẽ bệnh. Trường hợp tâm trí cũng vậy.
Đừng bao giờ nghĩ rằng tâm và thân là hai cái khác nhau. Không phải. Con người
gồm thân tâm, và thần kinh.
Có hai khoa tâm lý ở
Tây phương: Tâm lý không quan tâm đến thân, và khoa tâm lý không chủ về tâm. Một
khoa tâm lý bám rễ ở thân, và khoa tâm lý kia mọc bám rễ ở tâm... Thuyết
Cartesian cổ kính phân hai. Khoa tâm lý học chân chính sẽ không nghiêng về tâm
hay thân, mà chấp nhận con người là một cá thể hợp nhất. Con người có thần kinh
hệ, có thân lẫn tâm. Thân không gì ngoài biểu hiện của tâm từ cảnh, và tâm
không gì ngoài biểu hiện của thân trong bản thể bạn. Cả hai là thái cực cùng
chung một năng lượng, và rung động, đập nhịp, ảnh hưởng cả hai, nên tâm lý học
không thể chỉ Pavlovian hay Skinnerian mà là nửa nửa. Nửa thật có lúc thê thảm
hơn toàn bộ nửa không thật. Sự không thật ít ra toàn bộ. Nửa thật nguy hại
hơn... Khoa Tâm Lý Học Trị liệu pháp Tây phương bị vướng trong nó, nửa vướng
trong thân, còn nửa vướng trong tâm. Descartes ảnh hưởng hoàn toàn và vẫn là
cha đẻ triết lý Tây phương. Cần hạ bệ ông càng sớm càng tốt. Bất kỳ điều gì
phân hai con người, mọi phân biệt nào cũng nguy hại, bởi con người là một hữu
cơ hợp nhất. Con người có mặt như giai điệu luân vũ, nối kết nhau, không riêng
rẽ, không nên điều trị ở phần cục bộ. Khi cái đầu bị đau, không phải chỉ có đầu
bị đau... Toàn bộ hệ thống đều nhiễm bệnh. Cái đầu chỉ thông báo triệu chứng.
Khi bao tử bệnh, không chỉ bao tử bệnh, mà là toàn hệ thống bị đau. Cho nên, mọi
bộ phận cần được chữa trị, và bệnh nhân nên được điều trị toàn bộ. Không nên chữa
trị với tính cách địa phương, không nên chỉ điều trị tâm lý ở phần cục bộ. Nếu
chỉ phân tâm lý ở phần cục bộ được chữa trị thì không giúp ích gì. Chính ý tưởng
này đã là một sự nguy hiểm. Nhưng đây là phương pháp của khoa học Tây phương đã
làm việc như vậy hơn ba trăm năm rồi. Nếu bạn bị đau đớn, họ sẵn sàng cắt bỏ
ngay. Nếu răng bạn đau, họ sẽ nhổ răng bạn. Nếu cuống lưỡi bạn có vấn đề, họ cắt
cuống lưỡi, nhưng cuống lưỡi không tự nhiên mà có. Nếu cuống lưỡi có vấn đề thì
có bộ phận nào đó bị trục trặc trong thân rồi. Nếu bạn cắt cuống lưỡi, có nghĩa
bạn tắt mất máy báo động. Căn bệnh tìm chỗ khác để bộc phát.
Đừng chữa trị con người
qua bộ phận, một việc làm thiếu sót lớn.
Hãy chữa trị con người
như một tổng hợp. Kính trọng họ là một tổng hợp, một sự thật trên phương diện y
dược kể cả khoa tâm lý trị liệu pháp. Tinh yếu cốt tủy bị đánh mất chính là thiền
Khoa Tâm lý học vẫn chưa bước vào nội tại con người, cội nguồn nội tại sâu thẳm
và trống rỗng của loài người vẫn chưa được khám phá. Nó không thể khám phá qua
phương pháp khoa học... Một vấn đề khá rắc rối. Nếu bạn quyết định khoa học là
phương pháp thực tiễn nhất, như vậy khả năng ngộ nhập nội tại trống rỗng của
con người sẽ không thể nào. Chính hệ phương pháp này bạn đã bị cản trở vì thành
kiến, vì thiếu cởi mở. Bạn hỏi... "Chúng ta chỉ có thể tiến xa trong khuôn
khổ khoa học cho phép?" Nhưng phương tiện khoa học chỉ tiến xa trong khuôn
khổ khách thể. Chủ thể vẫn xa vời, không thể tiến xa hơn được nữa. Chính bản chất
tự nhiên của nó mà nó không thể đi sâu vào tận cùng chân tánh của bạn, chỉ có
thể va chạm bề mặt. Cho nên, nếu bạn cho rằng phương pháp không thể thay đổi và
sẽ không có phương pháp nào khác, chỉ một phương pháp, và chính là phương pháp
của khoa học...Như vậy, Tâm lý học trị liệu pháp Tây phương ở bước đầu xem như
đã sụp đổ.
Đối với khách thể, phải
cần phương pháp khác; Đối với chủ thể cần một phương pháp khác. Đối với khách
thể, cần tư duy. Đối với chủ thể, cần vô niệm... đối lập lạ, như bạn đang cố gắng
ngửi bằng mắt của bạn. Bạn không thể ngửi bằng mắt. Đôi mắt không phải không tốt.
Đôi mắt thì tốt, nhưng nếu bạn muốn ngửi hoa hồng, bạn phải đưa mũi bạn thật gần
với hoa hồng, không phải gần với mắt hoặc tai của bạn. Nếu bạn muốn nghe nhạc,
bạn phải kề tai nghe, không phải kề mũi. Nếu có ai khăng khăng đòi, "Tôi
muốn nghe nhạc bằng mũi." Người đó không thể nghe nhạc được. Tất nhiên, họ
sẽ bảo, "Tôi không nghe gì được bởi không có nhạc." Chính sự tiếp xúc
của họ, chính ngay thành kiến của họ đã ngăn trở họ không nghe được nhạc.
Khách thể chủ về tư
duy. Chủ thể chủ về vô niệm. Nếu bạn muốn vọng cảnh, nếu bạn muốn suy nghĩ về
người khác, bạn sẽ suy nghĩ. Nếu bạn muốn hướng nội tại, không cần tư duy. Chỉ
có bạn, chỉ thinh lặng, vô niệm. Tâm trí có thể xả ly. Bạn có thể an trú ở tâm
mà không cần tâm. Kiến thức có thể xả ly, không cần đem nó vào. Nó là gánh nặng
không cần thiết, sẽ không cho phép bạn hướng nội tại. Bạn phải hoàn toàn trút bỏ
hết gánh nặng kiến thức. Nên nhớ, không phải ý tôi là phương tiện khách thể
sai. Tôi chỉ có ý rằng phương tiện khách thể thiếu chủ yếu. Tôi không cho nó là
sai. Phương pháp này đến bây giờ vẫn khá tốt, nhưng không thể tiến xa hơn nữa,
không thể đi sâu vào tận cùng chân tánh.
Yếu tố chủ yếu đó đã bị
thiếu, đã bị đánh mất... Khoa tâm lý trị liệu Tây phương vẫn chưa tiến xa hơn
trong lãnh vực thiền. Phương tiện như Thiền Minh Sát Tuệ (Vipassana) vẫn chưa
áp dụng. Ngoại trừ nó được áp dụng, tâm thể vẫn thiếu vắng, và khoa tâm lý trị
liệu pháp Tây phương vẫn chỉ là một xác chết, một tử thi. Nó sẽ không thở được
vì thiếu sinh khí...
Câu hỏi thứ ba:
"Có thể nào tin là có người
đã ngộ Phật tánh không? Có có thể nào chỉ tin bởi tự ngã? Nếu vậy, làm sao con
tránh nó?"
Có thể xảy ra. Tự ngã sẽ
lường gạt bạn, sẽ bảo, "Bạn đã ngộ rồi, đã thành tựu. "Bằng cách nói
như
vậy đã ngăn trở bạn chứng
ngộ, bởi nếu bạn ngộ, sẽ không cần nỗ lực nữa. Khi bạn khai ngộ rồi thì đâu còn
lý do để tạo thêm phiền não cho bạn? Đây là cái bẫy cuối cùng bản ngã ném vào bạn.
Trước nhất, nó bảo, "Nỗ lực ngộ nhập Phật tính là việc làm ngu xuẩn. Chưa
bao giờ xảy ra ở thế giới tự nhiên. Không thể nào, sẽ không bao giờ." Nếu
bạn không lắng nghe, bạn tiếp tục tu hành, bản ngã sẽ tìm mọi cách làm bạn phải
phân tâm. Cuối cùng, sẽ có ngày, thấy bạn không chịu lắng nghe, bản ngã lại bảo,
"Hãy xem kìa! Ngươi ngộ! Đây là Ngộ. Đây là Đại định. Ngươi đã là Phật."
Người tầm đạo nào cũng đối diện với thử thách này. Kẻ thù thật sự không ngoài bạn.
Sự quấy nhiễu thật sự không từ ngoại cảnh, mà từ trong. Đức Phật dạy, "Kẻ
thù của con trong con. Bạn bè con cũng trong con. Cả hai đều trong con." Nếu
bạn nghe lời kẻ thù, tự ngã, nó sẽ tiếp tục gạt bạn, lừa bạn.
Không có gì siêu vượt
trên Phật tánh. Nếu ngã cảm giác rằng. "Ta đã thành tựu rồi." Bạn đã
trên đỉnh cao thế giab. Thậm chí, A Lịch Sơn Đại Đế cũng không thể so sánh với
bạn. Người giàu có nhất thế giới sẽ trở thành nghèo nàn trước mắt bạn. Kẻ quyền
lực nhất trở nên hèn yếu trước mặt bạn. Bạn là đấng toàn năng, bất khả tư nghì,
bất khả nghĩ bàn... Bạn là Thượng Đế. Ngã có thể hành động như vậy, ngọai trừ,
bạn rất tỉnh giác. Khi nó bắt đầu những mưu mẹo mới với bạn, bạn có khuynh hướng
chấp nhận bởi nó rất ngọt ngào. Thật là tuyệt vời khi đón nhận các vọng tưởng
như vậy, dù bạn biết rõ rằng sẽ không chuyện gì xảy ra... Làm sao bạn có thể tự
lừa dối mình? Hiểu rõ thì sẽ không có vấn đề gì xãy ra, nhưng vẫn có khuynh hướng
rằng bạn sẽ trở thành nạn nhân.
Hai ông lão gặp nhau ở
một góc đường. Ông lão thứ nhất, "Già đi đâu trong tám tuần lể vừa qua vậy?"
Ông lão thứ hai, "Trong tù." Ông cụ thứ nhất. " Già trong tù? Tại
sao?" Ông cụ thứ hai, "Tám tuần lễ trước, khi tôi đứng ở một góc đường
thì có một cô gái thật xinh đẹp chạy đến với một cảnh sát viên bảo. "Chính
là ông ta. Ông lão này chính là người đã tấn công tôi đó, thưa thầy." Tôi
nói cho già biết. Tôi vô cùng hãnh diện, nên tôi nhận tội ngay."
Có thể xảy ra lắm. Một
ông cụ đã tám mươi tuổi, nếu có cô gái xinh đẹp nào chạy đến với một cảnh sát
viên, bảo rằng. "Thưa thầy, chính ông cụ này đã tấn công tôi", dĩ
nhiên là ông cụ rất là hãnh diện. Thật là xứng đáng ở tù một vài tuần. Ông
không thể chống án. Khi ý tưởng ném vào bạn từ ngã của bạn là bạn đã đạt được rồi,
thật là quyến rũ vô cùng, có sức thôi miên mãnh liệt và quá hấp dẫn. Hấp lực của
nó không thể nào có thể cưỡng lại được. Từ tận đáy lòng, bạn hiểu rằng... Làm
sao bạn không thể hiểu... hoàn toàn hiểu rõ ràng là chưa hề xảy ra! Bạn vẫn như
vậy, vẫn với cơn giận trầm kha đó, vẫn với sự ghanh tỵ cháy bỏng, vẫn với sở hữu
cũ, vẫn với tất cả mọi hệ lụy cũ... Chúng vẫn còn, nhưng bạn vẫn thíchchấp nhận
nó. Sau đó, bạn hỏi tôi, "Làm sao có thể tránh nó??" Chỉ có một cách
để nhận biết. Chỉ có một cách phán đoán là nó có thật xảy ra không hay chỉ là cạm
bẫy của tự ngã. Khi kinh nghiệm thật sự xảy ra, bạn không cảm giác bạn đã tìm
thấy, không cảm giác bạn đã đến bến bờ bên kia, rằng bạn đã thành tựu, sẽ không
có dấu vết của sự thành tựu... bởi ai sẽ là người thành tựu quả vị này? Ngay
chính quá trình của sự thành tựu, bạn đã biến mất, cho nên ai sẽ tuyên dương
kinh nghiệm này? Ai có thể bảo rằng, "Tôi đã tới rồi. Tôi đã đạt được."
Chữ "T" không còn nữa. Đây là tiêu chuẩn duy nhất: Khi bạn thật sự đạt
rồi, sẽ không có cảm giác của sự đạt được. Không có ai để đạt nó, và không có
ai tự cho là mình đã đạt. Nơi đó chỉ có sự vắng lặng vô bờ. Mọi rác rưởi của sự
đạt được... của sự đạt được kinh nghiệm này, đạt được kinh nghiệm kia... tất cả
đều biến mất. Đám đông quần chúng biến mất. Kinh nghiệm còn lại trong bạn là sự
vắng lặng trọn vẹn. Thậm chí, không một vọng tưởng dấy khởi, "Bây giờ, ta
đã đạt rồi!"
Bạn ý thức nó xảy ra,
nhưng không cảm giác chứng ngộ. Xin cho phép tôi được lập lại: Bạn ý thức kinh
nghiệm xảy ra. Hãy nhớ rằng, đây là sự xảy đến... bởi bạn sẽ không còn tìm thấy
bạn nữa! Bạn không còn hiện hữu! Kinh nghiệm xảy ra, Bạn trống rỗng. Bạn không
còn hiện diện. Bạn tìm khắp nơi nhưng bạn không thể nào tìm thấy bạn. Con người
xưa kia biến mất không để lại vết tích nào. Bạn khả tri nó! Nó đã xảy ra, nhưng
sẽ không có cảm giác của sự đại ngộ. Tự chứng là cảm nhận của tự ngã. Sự thành
tựu là ước vọng của tự ngã. Cho nên hãy nhớ đến sự khác nhau giữa kinh nghiệm
đang xảy ra và kinh nghiệm đang thành tựu. Ngã là người thành tựu. Nếu có dấu vết
thành tựu luẩn quẩn quẫn quanh bạn, kể cả cảm thọ đạt đạo đến với bạn, bạn thấy
mình thật mạnh mẽ, xứng đáng và lớn lao thì chắc chắn rằng bạn lại lỡ nữa rồi.
Khi kinh nghiệm thật sự xảy ra, sẽ không còn người khai ngộ. Người đó là chân
tánh. Không phải bạn trở thành một vị Phật... hốt nhiên, bạn hiểu rằng bạn
không phải. Nơi đây chỉ có một vị Phật. Một sự khiêm tốn thâm sâu. Sẽ không có
sự xác định nào...
Câu hỏi thứ tư:
Thầy nghĩ sao về những cá tính
này... lường gạt, trộm cướp, dối gian, cầu xin, ngồi lê đôi mách, giành giựt với
người có công làm việc? Đa số mọi tôn giáo đều có những giới cấm hầu mang đến lợi
lạc cho tất cả. Có phải hành vi đạo đức không liên quan gì đến giác ngộ? Con
suy nghĩ, "Nếu không làm việc thì sẽ không hưởng dụng" Đây là phương
châm rất hay. Xin thầy làm ơn soi sáng cho con.
Trước nhất, hạnh kiểm tốt
không liên hệ với sự khai ngộ. Dĩ nhiên, giác ngộ có liên hệ với hạnh kiểm tốt.
Bạn không khai ngộ qua nhân cách tốt. Bạn đạt nhân cách tốt qua sự giác ngộ.
Nhân cách và giác ngộ hoàn toàn ngược lại, như chiếc xe kéo sau các con bò vậy.
Nội tại phải tự tại trước, sau đó ngoại giới mới ảnh hưởng như hình với bóng.
Tâm thức phải được kinh nghiệm trước, sau đó lương tâm sẽ tự nhiên phát sanh. Nếu
bạn làm ngược lại, bạn đã sai lầm. Bạn sẽ trở thành người đạo đức nhưng bạn sẽ
không phải là bậc giác ngộ. Bạn sẽ trở thành người vô cùng đạo đức, trong sạch,
có nhiều hạnh kiểm tốt, nhưng những bản chất đó không gì ngoài sự trang trí bản
ngã, những mề đay cho tự ngã, một nền giáo dục khắc khe và văn bằng dành cho tự
ngã. Bạn có thể trở thành một thánh nhân qua hạnh kiểm tốt, nhưng bạn sẽ không
trở thành một vị Phật. Bạn có thể trở thành một thánh nhân, nhưng bạn không thể
trở thành Chúa Giê Su. Sự khác nhau rất lớn lao. Hãy cố gắng hiểu điều này.
Nhân cách tác động từ bên ngoài, một sự điều kiện hóa, một thứ nô lệ bị cưỡng
ép. Bạn không thật sự tự do. Bạn phải thực hành điều gì đó bởi nếu bạn thực
hành, bạn sẽ được ban thưởng đặc biệt. Bạn sẽ được trả công xứng đáng. Nếu bạn
không thực hành, bạn đau khổ, sẽ mất đi sự tôn trọng, sẽ mất đi sự tôn kính và
bạn sẽ trở thành một tội nhân. Một con người khéo léo và thông minh, sẽ không cảm
giác thích thú lắm nếu xã hội không tôn kính ông. Người thông minh là người
khôn khéo. Họ phải đức hạnh. Họ có hai sợi dây ràng buộc trong tâm thức. Họ sẽ
không hợp nhất. Ngoài bề mặt, họ tỏ ra rằng họ là người với nhân cách tốt,
nhưng từ cánh cửa sau, họ vẫn tiếp tục làm điều họ muốn. Họ có ít nhất là hai
khuôn mặt. Một khuôn mặt dành nơi công cộng để mọi người có thể thấy. Còn một
khuôn mặt riêng tư khác để sống. Họ sẽ là những con người đạo đức giả.
Nhân cách cưỡng chế sẽ
cho thế giới loại người đạo đức giả. Nhân cách cưỡng chế sẽ cho họ hội chứng thần
kinh phân liệt. Họ nói một đàng, làm một nẽo. Họ giả vờ là một người khác. Cuộc
đời họ thiếu ân huệ bởi họ không là một, thiếu sự hòa hợp, thiếu giai điệu, và
luôn thiếu sự dung hòa. Những giới cấm tôn giáo, quá nhấn mạnh trên quy tắc đạo
đức, vẫn không đủ khả năng xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Họ đủ khả năng tạo
ra một thế giới đấy tính chất giả tạo và xấu xa hơn. Bạn có thể ý thức được vấn
đề này, không cần tôi phải nhắc. Bạn có thể thấy cùng khắp... một thế giới xấu
xa, giả tạo, thiếu chân thật, và tự phụ lẫn kiêu căng. Người giả vờ... họ không
thể làm được gì khác... ngọai trừ họ đạt đến trình độ tâm thức nội tại, họ chỉ
có thể sống giả dối, và họ không thể làm gì khác. Tất cả mọi hạnh kiểm mà họ cố
gắng, họ phải tuân thủ, phải tuân theo lời răn của Moses, phải tuân theo điều
răn của Chúa Giê Su. Họ phải tuân theo lời dạy của Đức Phật, nhưng những lời dạy
này không phải kinh nghiệm của họ. Họ chưa bao giờ tự mình chứng nghiệm. Tất cả
mọi căn bản đạo đức họ đều vay mượn từ người khác. Họ chỉ là kẻ bắt chước, thiếu
sự trung thực.
Hạnh kiểm không bắt nguồn
qua tâm thức sẽ không giúp bạn tự do. Bạn luôn bị giam hãm, luôn vướng mắc
trong mọi phân liệt đến nỗi bạn không thể tận hưởng sự tự do. Hãy quan sát mọi
vấn đề xảy ra. Nhân cách của bạn tuy nói một đàng, nhưng làm một nẽo... Nhân
cách của bạn bảo bạn, "Hãy chung thủy với vợ và với một phụ nữ thôi. Hãy
tôn trọng và yêu thương chỉ có cô thôi. " Không vấn đề. Nếu bạn thật sự
yêu cô, bạn không cần tuyên bố là bạn phải chung thủy với vợ. Bạn vẫn chung thủy
với nàng, dù muốn dù không. Nếu bạn không yêu cô, đủ mọi vấn đề xảy ra. Nếu
tình yêu không còn... và chấm dứt... Trong thế giới này, không có gì thường hằng.
Ý tôi không phải là thiếu tình yêu từ bước đầu... Có lẽ có nhưng hiện thời đã
chấm dứt. Nếu tình yêu đến một ngày thì cũng sẽ ra đi vào một ngày . Bạn có thể
làm gì được? Nếu bạn bám cứng vào mọi luân lý, đạo đức, và luật lệ, bạn đã
không chân thật với bạn, với vợ. Bạn sẽ vẫn tỏ lộ cử chỉ yêu thương như bạn vẫn
còn yêu cô. Tận đáy lòng, bạn sẽ ấm ức và phẫn nộ. Từ tận đáy lòng, bạn chỉ muốn
giết cô thôi. Ít ra, bạn cảm giác là nếu cô chết đi thì có lẽ tốt đẹp hơn cho bạn,
đối với bạn sẽ là phước báu... Có một vấn đề gì đó... và bạn chờ đợi một vấn đề
khủng khiếp xảy ra...
Bạn là một người luân
lý, có niềm tin chắc chắn về cuộc đời. Bạn phải yêu vợ. Làm sao bạn có thể yêu
một người khi tình yêu không còn nữa? Bạn có thể giả vờ, nhưng mỗi khi bạn giả
vờ, bạn càng hủy đi năng lượng tình yêu và bạn huỷ đi khả năng được sống của
người đó. Cô sẽ không bao giờ mãn nguyện với sự giả vờ này. Có một ngày, bạn sẽ
yêu cô gái khác. Tất nhiên, bạn sẽ càng đau khổ hơn. Bạn sẽ giữ kín như một sự
thật cần phải giấu kín một bí mật. Bây giờ, bạn sống với hai mảnh đời khác
nhau. Bạn phải dấu người yêu, bởi bạn không muốn vợ bạn biết. Bạn sẽ sống trong
hai thế giới, và sẽ mỗi ngày mỗi càng giả dối hơn. Từ sự thiếu chân thật này dẫn
đến nhiều sự thiếu chân thật khác... bạn sẽ rối rắm hơn! Không sớm thì muộn, bạn
sẽ bị bắt quả tang. Không thể nào mà không bị bắt quả tang được. Nhất định. bạn
sẽ bị bắt quả tang. Từ đáy lòng, bạn đau khổ bởi bạn làm điều sai lầm. Nếu bạn
không làm điều sai lầm này, bạn cũng đau khổ, bởi bạn không yêu vợ nữa. Nếu bạn
làm đúng bạn đau khổ, nếu làm sai bạn cũng đau khổ. Cả hai con đường, bạn đều
không có lối thoát. Loại luân lý này là cạm bẫy đau khổ. Con đường của tôi thuộc
cấp tiến hoàn toàn. Phương pháp của tôi là: Tôi sẽ không cho bạn lời răn. Tôi
tin cậy bạn hơn tất cả bất kỳ các điều răn nào. Tôi muốn cho bạn tâm thức,
không phải là điều răn, không phải lương tâm mà là tâm thức. Tôi muốn bạn mỗi
ngày qua sẽ mỗi tỉnh thức hơn về cuộc đời của bạn. Tôi muốn bạn mỗi ngày qua mỗi
trung thực hơn về sự tỉnh thức này để bạn có thể hợp nhất dù bất kỳ hoàn cảnh
nào xảy ra. Khi bạn muốn làm điều gì, bạn phải hành động trong tinh thần trách
nhiệm. Hãy nhớ kỹ rằng, ý của tôi không có nghĩa là bạn sẽ có "trách nhiệm"
hơn với người nào khác. Khi tôi bảo hãy có tinh thần trách nhiệm, ý của tôi là
phải có trách nhiệm với tâm thức của bạn. Chỉ có vậy.
Không có ai phải gánh lấy
trách nhiệm giùm cho người khác. Làm sao tôi gánh trách nhiệm giùm bạn? Làm sao
bạn phải gánh trách nhiệm giùm tôi? Tôi phải gánh lấy mọi trách nhiệm do hành
vi của tôi tạo ra. Tôi phải hành động như vậy, và tôi phải hành động bằng hết cả
trái tim và bản thể của tôi. Bất kỳ hoàn cảnh gì xảy đến, tôi chấp nhận tất cả
và tôi sẽ đón nhận mọi hậu qủa. Tôi không xem mọi vấn đề là trò đùa giả tạo.
Đây là sự thành thật. Tôi không gọi sự thành thật đó, cái được gọi là
"Thành thật là giải pháp tốt nhất." Làm thế nào mà sự thành thật có
thể là một giải pháp? Điều khoản là bản chất của sự thiếu thành thật. Thành thật
không phải là một quy chế! Thành thật là con đường nổi loạn của sự sống, phi
chính trị và cũng phi quy chế. Người như thế này tôi mới cho là người luân lý
và ngay thẳng. Họ sống theo nội tại tâm thức. Dù nó hướng dẫn họ về đâu, họ
luôn chấp nhận kết quả, không che dấu, không cần giả vờ, sống trong sự hợp nhất.
Họ không phải là một đám đông. Họ chỉ là một và thật sự ẩn tàng trong tâm thức
hợp nhất. Họ không đa tâm. Nếu không, người luân lý là người giả dối và nguy hiểm
nhất trên thế gian. Thậm chí, một tội nhân còn vô tội hơn cả loại người mà bạn
cho là luân lý. Ý của Chúa Giê Su là vậy khi ngài bảo, "Luân lý của sự
luân lý vẫn chưa đủ." Một lời dạy rất quan trọng. Luân lý của người luân
lý vẫn chưa đủ. vẫn còn thiếu. Có một cái gì bị đánh mất... Linh hồn bị đánh mất.
Một tu sĩ nói với Thiền
sư Tuyết Phong (30), "Con đã cạo đầu, khoác y phục đen, đã thọ đạo, tại
sao con vẫn không được xem là Phật?" Seppo đáp, "Không gì tốt đẹp bằng
sự vắng mặt của cái gọi là thiện." Hãy suy gẫm nó. Tuyết Phong bảo,
"Không gì tốt đẹp bằng sự vắng mặt của cái gọi là thiện." Ngài nói vậy
có nghĩa gì? Ngài không chống cái Thiện, nhưng ý tưởng, "Tôi đã hành động
như vậy, nhưng tại sao vẫn như còn thiếu sót điều gì đó? Tại sao tôi vẫn chưa
là Phật? Tại sao tôi không được xem là Phật?"
Khi Bồ Đề Đạt Ma đến
Trung Quốc, vua Võ Lương Đế viếng ngài. Vị hoàng đế này đã tạo nên rất nhiều
công đức. Ông xây không biết bao nhiêu chùa chiền, đắp không biết bao nhiêu tượng
Phật cùng khắp quốc gia. Đạo Phật trở thành quốc giáo dưới triều đại ông. Ông
cúng dường cho biết bao nhiêu tăng chúng. Ông tu ở bao nhiêu tu viện. Hàng
nghìn học giả đã tốn công sức dịch giải biết bao nhiêu kinh điển Ấn Độ qua
Trung Hoa. Ông cống hiến tất cả kho tàng quốc gia trong việc xây dựng đạo pháp.
Tất nhiên, ông rất hài lòng. Vị vua này đang trên chuyến đò tự ngã. Khi Bồ Đề Đạt
Ma đến, ông hỏi ngài, "Trẫm từ ngày lên ngôi cho đến bây giờ, cất chùa,
chép kinh, độ tăng ni, vậy trẫm có công đức gì không?" Tổ Bồ Đề Đạt Ma
nhìn thẳng vào đôi mắt của nhà vua và đáp, "Không có công đức gì cả."
Nhà vua không thể tin được, bởi có rất nhiều vị sư đã đến đây trước đó. Bồ Đề Đạt
Ma là vị thiền sư đầu tiên. Ngày xưa đã có rất nhiều thiền sư tìm đến Trung Quốc.
Trung Quốc thay đổi rất nhiều. Đạo Phật gần như là quốc giáo. Có nhiều tu sĩ
tìm đến và họ ca tụng ông. Mọi người đều ca ngợi ông, "Vua Lương Võ Đế là
vị hoàng đế vĩ đại nhất trần thế." Ông đã kiến thiết tất cả cho Phật Giáo.
Thiên hạ tôn kính ông gần như là tôn kính Phật. Có biết bao nhiêu tác phẩm được
viết ca ngợi ông. Có biết bao nhiêu văn thơ sáng tác để tán tụng công đức này của
ông. Có biết bao nhiêu bản nhạc tán thán đạo hạnh của ông. Từ các tu sĩ Phật
Giáo cho đến các đại học giả Phật Giáo đều phải bái lậy ông. Còn vị Bồ Đề Đạt
Ma này lại dám vô ngôn bảo ông rằng, "Bạch Hoàng Thượng, không có công đức
gì hết. Không những vậy, ngài sẽ còn bị đày xuống bảy từng địa ngục. Hãy xả ly
vọng là Hoàng Thượng đang tạo nên nhiều công đức. Nếu không thì sẽ vô cùng nguy
hiểm.
Tại sao? Bởi vì cảm
giác bạn đang tạo công đức có nghĩa là bạn đang đánh bóng tự ngã. Ngã tính là
cánh cửa đi vào địa ngục. Người luân lý là người đầy bản ngã, loại người vị kỷ
nhất thế gian. Vị hoàng đế này đầy bản ngã. Ông có lý do để tự hào, và có thể
phô trương tất cả mọi công đức mà ông đã tạo ra, "Thế nào là Thánh Đế Đệ
Nhất Nghĩa? Thế nào là Công đức?" Một lần nữa, bằng một đòn sấm sét, Tổ Bồ
Đề Đạt Ma đáp, "Rỗng thênh thang không thánh. Tất cả thiền tăng khắp nơi
nhảy không khỏi chổ này." Đối với nhà vua thật là quá sức chịu đựng. Nhà
vua không mấy hài lòng. Tổ Bồ Đề Đạt Ma âm thầm ra đi, nhưng sau đó nhà vua hối
hận. Làm sao ông có thể quên được một bậc thiền sư như vậy? Bậc thiền sư đánh
kính này đã ám ảnh ông. Ngài trở thành cơn ác mộng của ông. "Tại sao vị
thiền sư này đã đập vỡ tan tành tất cả mọi niềm tin của ta?" Nhà vua đang
sống vui trong cung vàng điện ngọc, và cho rằng ông sẽ được tăng lên chín tầng
thiên giới và kể cả Đức Phật cũng sẵn sàng chào đón ông, nhưng vị tổ sư này đập
vỡ mọi huyễn mộng của ông. Vị tổ sư này tỏ ra là một vị thiền sư đắc đạo. Nhà
vua đều đã nghe qua tất cả mọi lời tán tụng. Trong cung đình đầy nhan nhãn những
lời tôn vinh này. Nhà vua đã gặp qua không biết bao nhiêu bậc đạo sư được gọi là
đắc đạo, là đại ngộ trước đó. Nhà vua thấy được sự khác biệt. Bồ Đề Đạt Ma như
là một ngọn lửa trung thực, bao bọc bởi đạo hạnh toàn chân, và ngài thuộc trên
một bình diện khác.
Nhà vua suy nghĩ nhiều
ngày. Càng suy nghĩ thì nhà vua càng cảm giác là Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã nói đúng,
nhưng nhà vua không đủ can đảm để vời ngài vào triều bệ kiến lần nữa. Đến ngày
kề cận với cái chết, nhà vua không thể chờ đợi được nữa nên mới bảo cận thần của
mình. "Các ngươi hãy vời vị tổ sư Bồ Đề Đạt Ma này vào cung cho trẫm. Ngài
mới là một thiền sư đắc đạo nhất mà trẫm đã gặp gỡ qua. Một bậc thiền sư đắc đạo
đến nỗi ngài không cho là ngài đại ngộ. Ngài đạo hạnh đến nỗi ngài không tin tưởng
ở luân lý và đạo hạnh. Ngài đã giác ngộ đến mức độ, thậm chí đạo hạnh chỉ là là
sự rỗng không. Các khanh hãy tìm ngài cho trẫm. Trẫm sắp băng hà rồi. Trẫm cảm
giác rằng ngài đã nói đúng. Có thể, trẫm sẽ bị đày xuống bẩy tầng địa ngục. Tất
cả những gì trẫm làm chỉ là hành trình của bản ngã." Nhưng đã quá trễ. Khi
các cận vệ của nhà vua tìm đến Bồ Đề Đạt Ma thì nhà vua đã băng hà. Trước khi
băng hà, nhà vua bảo với các cận thần của ông, "Trên mộ của trẫm, hãy ghi
chú lời dạy của Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Trẫm không thể khắc ghi trong trái tim của trẫm
thì ít ra lời dạy của ngài cũng phải được ghi chú trên mộ bia của trẫm."
Trên phần mộ của vua Lương Võ Đế vẫn còn khắc ghi toàn bộ cuộc đối thoại. Vua
Lương Võ Đế hỏi, "Trẫm có công đức không?" Bồ Đề Đạt Ma đáp,
"Không có công đức gì cả." "Thế nào là Thánh Đế Đệ Nhất
Nghĩa?" Tổ Bồ Đề Đạt Ma trả lời. "Rỗng thênh thang không thánh. Tất cả
thiền tăng khắp nơi nhảy không khỏi chốn này."
Theo thiển nghĩ của
tôi, trước khi băng hà, vì vua Lương Võ Đế này mới hiểu được điều mà Tổ Bồ Đề Đạt
Ma truyền đạt. Như vậy cũng được xem là quá đủ. Một giây phút của sự hiểu biết
này cũng quá đủ... hơn cả cái gọi là quá đủ, hơn cả hằng muôn triệu kiếp sống
trong luân lý. Ý của Chúa Giê Su là vậy khi ngài dạy, "Luân lý vẫn chưa đủ.
Phải cần nhiều hơn thế nữa." Lương tâm chỉ là cái vỏ bọc ngoài. Phải cần
chữ tâm thức. Cho nên, tôi không suy nghĩ nhiều đến vấn đề đạo đức. Tôi cũng
không chống đối. Tôi không suy nghĩ nhiều đến mọi hành vi đạo đức, bởi chúng
căn bản không phải là đạo đức... chỉ là sự giả tạm. Trước nhất và quan trọng nhất
là thiền. Sau đó thì sẽ có tất cả. Trước tiên, bạn phải đào sâu vào tận cùng cốt
lõi nội tại của bạn. Hãy quên tất cả những thứ khác... quan hệ, xã hội, trần thế
và tất cả mọi bận rộn phàm tục khác. Trước nhất, bạn phải đào sâu tận cùng cốt
lõi nội tại, hãy bám rễ nơi đó và để cho sự sống của bạn phát sinh từ đó. Tôi
chắc chắn bạn sẽ trở thành một người đạo đức mà không bị dính mắc vào chủ nghĩa
đạo đức.
Đó là hai vấn đề khác
nhau. Đạo đức là một vấn đề và chủ nghĩa đạo đức là một vấn đề. Người có tính
cách đạo đức là người xấu xa. Chủ nghĩa đạo đức không phải là đạo đức, chỉ là một
phương tiện để khoác lác. Tôi có nghe như vầy: Một người mới cải đạo, dâng
thánh lễ trong buổi cầu nguyện đầu tiên đã cầu nguyện rằng, "Con sẵn sàng
đáp ứng những gì mà Thượng Đế đòi hỏi nơi con. "Ông bảo, "Miễn là lời
yêu cầu này là chính trực." Đây là người đạo đức. Thậm chí với Thượng Đế
ông cũng phải chọn lựa sự đòi hỏi của ngài có chính trực hay không. Ông bảo,
"Con sẵn sàng đáp ứng những gì mà Thượng Đế đòi hỏi nơi con. Miễn là lời
yêu cầu này là chính trực." Người đạo đức lúc nào cũng chờ đợi phê phán...
thậm chí cả với Thượng Đế. Người đạo đức là người luôn chờ đợi cơ hội kết án mọi
người. Người đạo đức không phải đạo đức bởi ông ta là người đạo đức mà bởi vì
ông sợ. Sự đạo đức của ông bắt nguồn từ nỗi sợ hãi giữa địa ngục và trừng phạt,
hay bắt nguồn từ phát xuất từ tham ái... từ sự ban thưởng của Thiên đường và
cõi Cực lạc.
Gil Hodges không chịu
ăn buổi cơm chiều trên máy bay bởi ngày hôm đó là ngày Thứ Sáu. Một đồng nghiệp,
cũng là một tín đồ thuần thành khuyên ông nên ăn miếng thịt bò bít tết, "Vấn
đề này có thể miễn trừ khi chúng ta đang trên máy bay và họ chỉ có thể cung cấp
cho chúng ta như vậy mà thôi." Hodges rào đón, "Có thể là như vậy,
nhưng chúng ta cách Thiên đường chỉ có một gang tấc mà thôi." Chỉ vì sợ hãi
mà họ phải cố gắng đạo đức, nhưng sự sợ hãi là phi đạo đức, còn thái độ phi đạo
đức thì sao?... Thái độ của sợ hãi và tham ái... có thể nào có được giá trị đạo
đức bởi cấu trúc đạo đức đề xuất? Không khác gì xây lâu đài trên bãi cát. Người
đạo đức không sợ hãi, không tham sân si. Nếu bạn hỏi định nghĩa của tôi về đạo
đức, tôi sẽ bảo: Họ là người không sợ hãi và không tham sân si. Nếu bạn tư duy
định nghĩa này, bạn sẽ thấy người đạo đức của bạn chẳng có gì gọi là đạo đức, bởi
họ luôn sợ hãi và luôn sân si. Nếu có người tuyên bố với thế giới này, và thuyết
phục tất cả là không có địa ngục, một trong một trăm kẽ đạo đức của bạn, chín
mươi chín người sẽ phạm tội ngay. Sợ hãi biến mất. Nếu có một người nào tuyên bố,
"Không có Thiên đường nào cả. Các ngươi sẽ không được ban thưởng. Người tội
lỗi và thánh nhân đều như nhau sau khi họ chết", thì số phần trăm còn lại
sẽ rơi vào vực thẳm tội lỗi ngay. Có một câu chuyện về Chúa Giê Su, không liên
hệ gì đến Kinh Thánh nhưng có liên quan đến huyền môn Hồi giáo. Chúa Giê Su đến
một thị trấn. Ngài thấy có rất nhiều người ngồi dưới mái hiên lộ vẻ buồn khổ,
khóc lóc và không ngừng đập tay vào ngực. Ngài hỏi. "Chuyện gì xảy ra với
các ngài vậy? Ai gây nên tình trạng này? Ai đã làm quý vị phải thống khổ như vậy?"
Họ đáp, "Không có ai hết. Chúng tôi sợ hãi địa ngục. Chúng tôi là người
sùng đạo. Chúng tôi lo lắng đến mọi tội lỗi mà chúng tôi đã và đang gây ra.
Chúng tôi đang cầu xin được tha thứ." Chúa Giê Su lại đi tiếp. Ngài gặp một
nhóm người khác đang ngồi trong khu hoa viên. Họ không khoác lác, không than
van, nhưng vô cùng đau khổ và chán chường, năng lượng sống của họ gần như đều bị
ngưng trệ. Ngài hỏi, "Chuyện gì xảy ra với quý vị vậy? Tại sao các ngài lại
có vẻ ngớ ngẩn?" Họ đáp, "Chúng tôi lo lắng là chúng tôi sẽ không được
lên Thiên đường (Firdaus). Chúng tôi không biết là chúng tôi có đủ khả năng để
lên được cõi đó hay không! Sự căng thẳng này đã làm cho tinh thần của chúng tôi
gần như tê bại. Nếu chúng tôi đánh mất cơ hội này, thì phải làm sao đây? Chúng
tôi không phạm tội lỗi gì hết! Chúng tôi xa lánh tất cả mọi tội lỗi, nhưng
không hiểu sao chúng tôi vẫn rất lo lắng là chúng tôi không thể lên được Thiên
đường. Chính sự tham lam này đã làm cho chúng tôi vô cùng đau khổ, căng thẳng
và gần như tê liệt."
Đó là hai loại người
sùng đạo trên thế giới này. Một giai thoại nhỏ nữa: Một phụ nữ Huyền môn Hồi
giáo, Rabiya (31), có một ngày bỗng chạy vào xóm chợ, gào thét điên cuồng. Một
tay bà cầm một ngọn đuốc đang bốc cháy, còn tay kia của bà xách một thùng nước
lã. Có người thắc mắc hỏi, "Rabiya, chuyện gì xảy đến với bà? Tại sao lại
mang ngọn đuốc và thùng nước lã vào đây?" Bà đáp, "Tôi sẽ làm cho địa
ngục ngập lụt với thùng nước lã này, và tôi sẽ đốt Thiên đường bằng chính ngọn
đuốc này."
Người đạo đức là người
không biết sợ hãi và không tham dục, nhưng sự sợ hãi và tham ái chỉ biến mất
khi tâm trí không còn. Chúng là hai bánh xe của tâm. Cỗ xe tâm vận hành trên
hai chiếc bánh xe. Do đó, người khả tri, cho rằng đạo đức chỉ là sản phẩm phụ...
Thiền mới là chân thực. Khi bạn phạm điều sai lầm, bạn viện đủ một ngàn lẻ một
lý do để giải thích tại sao bạn lại hành động như vậy. Bạn bào chữa, nỗ lực bảo
vệ bạn, và đối kháng mọi sợ hãi. Bạn làm một việc nhỏ nhưng bạn phóng lớn công
việc đó. Bạn bố thí người ăn mày nào và bạn làm như bạn làm công đức gì vĩ đại
lắm. Khi bạn phạm một lỗi lầm thì bạn lại xem là chuyện rất nhỏ. Bạn viện đủ lý
do là tại sao bạn lại hành động như vậy. Không phải là bạn muốn hành động như
thế, nhưng vì hoàn cảnh nên bạn không thể nào xử sự khác. Chỉ vì tình thế mà bạn
phải hành động như vậy mà thôi. Sự bào chữa của tâm làm bạn mỗi ngày mỗi thêm mờ
mịt, tối tăm và u ám. Mỗi ngày qua, bạn mất hết sự đối xứng. Bạn không nhìn sự
vật đúng theo thực tướng của chúng. Một mặt, bạn phóng chiếu mọi công đức,
phóng đại chúng lớn ra. Một mặt khác, bạn nỗ lực giảm tội lỗi cho nhỏ lại. Bạn
mất viễn cảnh, không nhìn sự vật theo kích cỡ và hình tướng của chúng và thế giới
của bạn là một thế giới vô cùng hư vọng.
Mọi việc xảy ra như vậy.
Chúng ta luôn giải thích để viện lý lẽ là tại sao chúng ta hành động và không
hành động. Mọi lý lẽ ngu xuẩn đó làm tâm bạn phải ô nhiễm. Đừng đạo đức. Hãy khởi
sự thiền. Bạn sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra rằng đạo đức phát sanh mà không cần
nỗ lực nào từ bạn. Khi nó đếm không cần nỗ lực, nó có một vẻ đẹp riêng bởi vẻ đẹp
đó tự nhiên, khi bạn không khoe khoang hay cầu vọng Thiên đường. Bạn xử sự đúng
đắn bởi bạn thưởng thức nó, không bởi lợi lạc gì. Không động lực. Bạn làm đúng
bởi đây là cách bạn thưởng thức nó. Bạn làm sai bởi cách đó không gieo cảm giác
thích thú nào trong bạn. Rất đơn giản! Bạn không trở nên ngay thẳng. Bạn chỉ tận
hưởng niềm vui hơn. Chỉ có vậy. Mỗi ngày qua bạn càng hỷ lạc hơn, không cảm
giác bạn mắc nợ bất cứ ai, không cảm giác bạn đạo đức hơn ai và không cần Thượng
Đế phải ban thưởng bạn. Chánh mạng tự nó đã là một phần thưởng rồi. Đòi hỏi phần
thưởng cho một việc thiện chỉ đơn giản cho thấy bạn không biết hành thiện là
gì. Khi bạn yêu thương, chính sự yêu thương này đã cho bạn niềm vui rồi. Khi bạn
chia sẻ, chính sự chia sẻ này đã mang đến cho bạn sự bình an lớn lao, thanh tịnh
và khoái cảm. Khi bạn trộm cướp, chính ngay hành động đó đã cho bạn cảm giác xấu
xa rồi. Khi bạn lừa đảo, ngay chính sự tạo tác này đã kéo năng lượng của bạn xuống
thấp. Bạn sẽ cảm giác tuyệt vọng, không cần phải có thiên đường địa ngục nào
trong tương lai. Mỗi hành động chính nó đã cho bạn địa ngục, và mỗi việc thiện
đã tự nó cho bạn thiên đường. Bạn hiện hành giữa hai... một ngàn lẻ một lần
trong một ngày.
Bạn làm việc tốt, bạn
vui vẻ. Bạn làm việc xấu, bạn buồn phiền. Tôi không có ý đặt để một tiêu chuẩn
nào bên ngoài để phê phán. Nếu bạn hiểu tôi một cách đúng đắn, thì chỉ có một
tiêu chuẩn nội tại: Mỗi khi bạn vui khi làm điều gì, bất cứ những gì mà bạn
thích thú làm thì là đúng. Bất cứ những gì đem đến sự thống khổ khi bạn làm...
thì đó là sai. Nếu bạn thấy được quan điểm này, sự sống sẽ có sự đạo đức mà
không mang tính chất đạo đức. Bạn sẽ không là một người quá khắc khe. Hãy ngộ
nhập bản thể bạn và mọi vấn đề khác sẽ biến mất. Như vậy, đạo đức của bạn không
phải là một sự đền bù cho kẻ khác, mà là dòng chảy từ nội tại của bản thể. Bạn
đạo đức bởi đây là con đường hỷ lạc. Đạo đức là nguồn thơ, là điệu nhạc của bạn
và là hương vị của bạn.
Có một lần, lão sư D.
T. Suzuki, giảng về Thiền ở Đông Kinh. Ông thuyết về sự vắng lặng và tánh
Không, rằng tất cả mọi kinh nghiệm liên quan đến thiền, với chân lý sâu sắc
phát xuất từ Ngộ (Satori). Sau khi ông giảng xong, có một thính giả từ đám đông
đứng lên, với sự khó chịu, ông kêu lên, "Bác sĩ Suzuki, còn vấn đề xã hội
thì sao? Còn con người thì sao? Còn tất cả chúng sinh thì sao?" Bác sĩ
Suzuki nhìn vị thính giả này mỉm cười. "Không còn kẻ khác nào nữa."
Không còn một ai nữa vì
không còn bản ngã. Đó là ánh sáng chiếu rọi qua thiền. Bỗng nhiên, bạn biến mất
và mọi người biến mất, bởi mọi người hiện hữu chỉ qua sự trực nhận cái tôi. Cái
Tôi tạo nên "Anh". Bản ngã tạo ra cái ta. Khi tự ngã tính chấm dứt
trong thiền, họ cũng sẽ chấm dứt. Đây là sự tuôn chảy tự nhiên, mọi sự hòa hợp
theo tiến trình của nó. Không phải bạn cần phải làm đúng với mỗi việc. Không phải
bạn phải thật cẩn thận, phải để ý, và phải phân tâm. Đừng tạo căng thẳng. Nó
theo bạn như hình với bóng bất cứ nơi nào. Đạo đức là tôn giáo. Hãy cho phép
tôi lập lại. "Hành vi đạo đức không liên quan gì với sự giác ngộ?"
Không, không liên quan, nhưng sự giác ngộ có liên hệ với hành vi đạo đức, và
câu hỏi cuối cùng..
Con cho rằng, "Nếu
không làm thì không ăn" là một phương châm rất hay!
Rất đạo đức, nhưng
không tốt. Hãy biểu hiện sự hà tiện của bạn. Hãy biểu lộ tâm tiền tài của bạn.
Hãy biểu lộ trái tim khô cứng của bạn, ở trình độ thấp nhất. Nếu bạn chỉ tư duy
giùm người khác, có vẻ thì tốt lắm: Tại sao người đó không làm thì không được
ăn? Nhưng bạn không suy nghĩ giùm bạn. Bạn có thể rộng lòng chia sẻ cho người không
làm việc? Tại sao bạn hà tiện như vậy? Tại sao làm việc cũng phải có điều kiện?
Tôi biết vấn đề này đã từng là điều kiện của quá khứ, bởi quá khứ đã từng rất
nghèo đói, không liên quan gì đến vấn đề đạo đức. Nó chỉ là một phương châm của
những ngày quá khứ nghèo đói xưa kia. Vì vậy, phương châm này trở thành quan trọng,
những cần thiết tai hại. Phương châm không quan trọng mà chỉ là một sự cần thiết.
Có quá nhiều chúng sinh bị đói khổ trên thế giới này. Người không làm việc là một
gánh nặng lớn cho xã hội. Mọi người ai cũng phải làm việc, nhưng họ vẫn không đủ
ăn, đủ mặc, và vẫn không đủ nơi ăn chốn ở. Cuộc đời thật là thống khổ. Từ sự thống
khổ đó, nhiều phương châm được đặt ra và không liên quan gì với luân lý cả.
Phương châm chỉ là một phần quá khứ suy kém của kinh tế. Chúng cũng không quan
hệ gì với tôn giáo, nhưng trong tương lai, khi mà khoa học càng tiến bộ thì sẽ
càng có nhiều người không cần phải làm việc. Như vậy thì...? Phương châm này sẽ
còn hiệu lực hay sao? Trong thực tế, chúng ta sẽ phải đảo ngược hoàn toàn câu
phương châm này. Thậm chí, có lẽ chúng ta sẽ nói, "Nếu bạn làm, bạn không
được ăn." Bạn không thể có cả hai. Nếu bạn muốn làm việc, bạn có thể làm
việc, nhưng bạn không được ăn, bởi có thể sẽ tạo nhiều công việc hơn. Một khi kỹ
thuật phát triển, con người lười biếng sẽ trở thành một loại anh hùng lý tưởng.
Người không làm việc sẽ được hoan nghênh, bởi họ không đòi hỏi và không yêu cầu
điều gì từ xã hội. "Tôi cần làm việc!" Ông sẽ bảo, "Tôi sẽ hạnh
phúc hơn nếu tôi không làm việc."
Nhưng sẽ có hàng triệu
người không được thoải mái và họ sẽ đòi hỏi được làm việc. Họ sẽ bảo, "Làm
việc là một sự cần thiết. Chúng tôi không thể ngồi yên. Chúng tôi sẽ làm gì bây
giờ?" Bạn biết bạn sẽ làm gì trong những ngày lễ? Bạn mệt mỏi vì bạn không
có việc gì để làm. Bạn buồn chán đến độ bạn mong ngày thứ Hai đến nhanh hơn. Bạn
sẽ bắt đầu làm việc khi bạn trở lại văn phòng. Khi bạn không làm việc, không bận
rộn, bạn cảm giác thật khó chịu khi phải khắc phục sự trống vắng này, bởi bạn
không suy nghiệm. Chỉ có người vắng lặng mới thoải mái khi không bận rộn. Tương
lai thuộc về thiền nhân, không thuộc về người làm việc. Trong tương lai, không
sớm thì muộn, sau thế kỷ này, phương châm này sẽ là một phương châm tệ hại nhất.
Người yêu cầu làm việc sẽ bị xem là nguyên tố chống đối xã hội bởi tìm đâu cho
ra công việc mà làm đây? Bắt họ làm việc không khác gì tạo thêm rắc rối trong
khi máy móc có thể làm việc hiệu quả hơn, nhanh hơn và tốt hơn. Tìm việc ở đâu
ra bây giờ? Trong tương lai không chừng, sẽ có câu phương châm là nếu có ai đòi
làm việc thì không được quyền ăn. Mọi người ai cũng sinh ra lười biếng, và tồi
tệ hơn. Mọi người chỉ còn có cách nghỉ ngơi, thiền tọa hoặc chơi đàn ghi-ta
thôi. Như vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra với phương châm này của bạn?
Phương châm không liên
hệ đến luân lý, chỉ là sự cần thiết. Trong quá khứ đã xảy ra như vậy rồi. Đừng
nhầm lẫn kinh tế với tôn giáo, nếu không, những gì mỹ lệ sẽ biến mất. Làm sao định
nghĩa làm việc là gì? Đức Phật có phải là người làm việc hay không? Thật là khó
định nghĩa là ngài có làm việc hay không? Ngài có được quyền ăn hay không? Tôi
có được quyền ăn không? Tuỳ thuộc vào bạn. Nếu bạn thương tôi, bạn bảo,
"Vâng, công việc của ngài rất xứng đáng để được ăn. Ngài có tinh thần sáng
tạo vân vân và vân vân." Nếu bạn không thương tôi, bạn sẽ bảo, "Việc
làm của ngài vô dụng. Vậy mà ngài gọi là làm việc sao? Tốt nhất là ngài nên trở
thành một thợ mộc hay là thợ làm gốm. Hãy sáng tạo một chút! Hãy làm việc gì
mang đến ích lợi. Dạy mọi người thiền là vô dụng. Ngài không làm gì hết, và
ngài còn dạy mọi người không làm gì hết." Việc làm là gì vậy? Chúa Giê Su
có được quyền hưởng dụng không? Còn Michelangelo, Wagner, Kalidas, Shakespear
thì sao? Họ được quyền hưởng dụng hay không? Tùy theo cách bạn định nghĩa công
việc là gì.
Nếu Bồ Đề Đạt Ma tìm đến
Trung Quốc vào thời đại này, ngài sẽ bị giam cầm ngay. Ngài thật thông minh xuất
chúng, đã đến Trung Quốc vào hàng nghìn năm về trước. Nếu mà bây giờ ngài du nhập
vào quốc gia của Mao, ngài sẽ bị nhốt tù. Có nhiều tu sĩ Phật Giáo và Lão Tử đều
bị vào tù vì họ lười biếng, không làm điều gì được gọi là hữu dụng hay sáng tạo.
Chuyện xảy ra như vậy! Đã xảy ra tại Trung Quốc, và đang xảy ra tại Nga Sô. Nhiều
tu viện bị bỏ hoang. Mọi người đều bị cưỡng ép phải làm việc. Ở Đông phương, chúng
ta đã hổ trợ nhiều hành giả hằng bao nhiêu thế kỷ qua. Tại sao? Bởi chúng ta biết
rằng công việc của họ rất sáng tạo, không sáng tạo trên bề mặt, nhưng những gì
mà Đức Phật đã khai sáng chỉ bằng qua sự hiện hữu đã là một sự kiện vô cùng trọng
đại rồi, nhưng điều này còn tuỳ thuộc vào lý giải của bạn. Nếu không, Đức Phật
đối với bạn là người tệ hại. Công việc của ngài có tính cách vô hình. Không phải
vật thể bạn có thể thấy, và có thể phán đoán bởi tính chất huyền bí của nó. Nếu
có người sẵn sàng tu học với ngài, họ biết rằng những gì ngài đã làm thật sự
chưa có một nhân vật nào đã làm qua bao giờ.
Ngay chính công việc vốn
không thể đặt giá trị. Nên nhớ kỹ, người hiếu động lại là loại người nguy hiểm
nhất thế giới. Loại người tịnh tĩnh là những con người ít gây tai hại nhất, bởi
nếu cần gây tai hại, họ phải vô cùng hiếu động. Adolf Hitler đã từng thinh lặng.
Nếu ông ta có lười biếng, và thiếu sự năng động, thì thế giới này được cứu rồi,
nhưng ông đã không như vậy. Ông là một nhân công lớn. Nếu Mussolini và Stalin
có một chút đặc tính tịnh tĩnh thì thế giới sẽ hoà bình hơn. Hãy suy nghĩ đi,
Tamerlane, Thành Cát Tư Hãn, Nadir Shah, A Lịch Sơn Đại Đế và Nã Phá Luân. Họ
thuộc loại người vô cùng hiếu động. Họ thay đổi cả bộ mặt lịch sử. Không phải
là lịch sử, mà là cả một sự cuồng điên. Họ đã tạo ra cơn hội chứng thần kinh
phân liệt, cái mà chúng ta gọi là lịch sử. Tại sao bạn lại ca tụng sự làm việc?
Nên nhớ rằng, tôi không có ý cho là mọi người không nên làm việc. Không, tôi
không nói như vậy, chắc chắn rồi, nhưng điều đó không thể được ca ngợi là
phương châm đạo đức. Chúng thuộc về phương diện kinh tế, mà chỉ thuộc về địa hạt
của chúng, không thể trở thành những lời răn. Phương châm thay đổi với mọi hoàn
cảnh. Làm việc thì tốt, nhưng lần nữa, tôi nhấn mạnh là bạn phải làm việc từ
chân tánh của bạn. Nếu bạn thích làm một việc gì, bạn nên làm điều đó. Bạn
không nên bị thao túng bởi người khác. Thí dụ, nếu bạn không thích làm bác sĩ
mà bạn chỉ thích là một thợ mộc. Nếu là một bác sĩ thì bạn có thể kiếm tiền nhiều
hơn, nhưng làm một thợ mộc thì bạn sẽ không kiếm được nhiều tiền bằng, bạn sẽ
trở thành kẻ ăn mày, nhưng tôi muốn nhấn mạnh là hãy làm việc gì mà bạn thấy
thoải mái thì tốt hơn. Hãy bỏ nghề nghiệp mà bạn không thích! Hãy làm thợ mộc
hơn là làm bác sĩ nếu công việc đó bạn thích! Hay nếu bạn muốn thành một ngư phủ
ở một cái hồ nào đó dù bạn sẽ nghèo khó hơn, nhưng nếu bạn cảm giác nghề nghiệp
này thích hợp với bạn hơn thì bạn nên chọn nó. Những lý do khác không quan trọng.
Có một số người không
thích làm việc. Trong thế giới tiến bộ, họ được cho phép lười biếng sống một
cách tệ hại. Ít ra, chúng ta cũng nên nhân bản một chút. Nếu họ không thích làm
việc, sao chúng ta không có chút lòng từ bi, cho phép họ được sự lựa chọn này?
Họ không đòi hỏi nhiều lắm, chỉ nơi ăn chốn ở. Trong thế giới tôn giáo, chúng
ta không kết án họ, chúng ta nên cảm kích họ. Có người sinh ra là như vậy rồi.
Nếu bạn chấp nhận họ mà không kết án, không làm cho họ có mặc cảm phạm tội thì
bạn là người đạo đức chân chính và sùng đạo. Không cần thiết phải làm cho họ có
mặc cảm phạm tội. Có gì sai lầm đâu? Chuyện gì xảy với mọi việc làm của bạn? Mọi
sự đều kết thúc sau cái chết, nếu không ai cảm nhận được vấn đề này...
Tôi biết có một người.
Tôi thường để ý đến anh. Anh là học sinh của tôi, rất lười biếng. Sau đó, anh
trở thành một giáo sư và sống chung với tôi. Anh thật là lười biếng, nhưng tôi
rất thích anh ta. Anh có nhiều phẩm hạnh cao đẹp. Sự lười biếng của anh không
phải chỉ là lười biếng. Ở anh, như phảng phất một sự cao nhã và thuần khiết. Chính
vì sự cao đẹp này mà tôi không nỡ huỷ đi phẩm chất này bằng cách bắt anh phải
làm việc. Tôi chỉ muốn anh hiện hữu tại đó, tạo ra nguồn năng lượng mà bất kỳ
ai đến gần anh cũng cảm giác hạnh phúc, như bạn đi ngang qua một khu hoa viên
phảng phất sự tươi mát với hương hoa và làn gió mát thổi nhẹ qua. Anh thật là
nhà đại lười biếng. Anh chưa bao giờ làm qua bất cứ việc gì, và anh sẽ không đụng
tay vào bất cứ việc gì. Chúng tôi phải làm sao đây? Chúng tôi có nên làm cho
anh mang mặc cảm tội lỗi hay không? Mọi người đã đối xử như vậy với anh. Khi
anh gặp tôi, tôi cho anh sống với tôi. Trong ba tháng, anh để ý xem tôi có phê
phán anh không. Khi tôi không phê phán anh và tôi cũng không nói gì hết... bởi
anh quá là lười biếng dù anh khác nước đến chết anh cũng chỉ nằm dài trên giường.
Anh sẽ đợi tôi hỏi anh. "Anh có khát nước hay cần gì không?" Sau ba
tháng, tôi không phàn nàn bất cứ một điều gì về anh. Tôi cũng không thấy cần
thiết là anh phải thay đổi điều gì. Thấy vậy, anh khóc lóc bảo tôi, "Ông
là người đầu tiên đã không phê phán tôi. Ông là người đầu tiên cho tôi linh hồn.
Không ai thương tôi cả. Mọi người ai cũng làm cho tôi có mặc cảm phạm tội."
Tự nhiên rằng, cả thế giới làm cho bạn phải mang mặc cảm tội lỗi, và bạn có mặc
cảm tội lỗi, và đâm ra thù ghét lớn lao mọi người.
Trong ba tháng đó, anh
thật sự nở hoa. Từ sự nở hoa đó, có một điều gì đó bắt đầu nẩy sinh trong anh.
Anh khởi sự ca hát và sáng tác thơ. Rồi có một ngày, anh bắt đầu chơi đàn
ghi-ta. Điều này phát xuất từ sự chấp nhận. Ít nhất phải có một con người hoàn
toàn chấp nhận anh. Nếu anh thức dậy cở mười giờ sáng, tôi cũng sẽ không bảo
anh phải dậy lúc chín giờ rưởi sáng. Mười giờ sáng cũng tốt quá rồi! Nếu bạn
thích như vậy thì đã quá tốt rồi. Một con người nhất định phải được quyền sống
theo ý của anh. Cho nên, tôi hiểu ý bạn khi nói rằng...
Tôi cho rằng nếu một
người không làm việc thì không được quyền hưởng dụng là một phương châm rất tốt."
Phương châm đó hữu ích
bởi xã hội quá nghèo khổ rồi, nhưng đối với bạn thì không tốt! Bạn nên chấp nhận
thực tại của người khác mà không phê phán họ. Bạn nên cho họ được tự do nào
không bị một trở ngại gì. Đó mới thật sự gọi là tín ngưỡng. Vâng, có vài người
hay luôn lười biếng, nhưng không cần phải lo nhiều như vậy. Cũng có nhiều
phương tiện khai ngộ dành riêng cho loại người đại lãng này! Lão Tử là đạo sư của
nhóm người đại lãng này. Người hiếu động phụng sự không ít cho thế giới này. Loại
người lười biếng cũng phụng sự nhiều điều cao đẹp cần thiết cho thế gian. Họ tạo
cho thế giới thăng bằng, tương hợp và tương thân hơn...
Xem Chương 7 - Quay về Mục lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment