Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 11)
Chương
7. Bên kia cõi bên kia
Không muốn gì bằng cả trái tim ông dừng dòng suối.
Khi
thế gian tan biến
mọi
thứ trở thành rõ ràng.
Đi
ra ngoài
đường
này này hay đường kia, tới bờ xa hơn
nơi
thế gian tan biến
và
mọi thứ trở thành rõ ràng.
Bên
ngoài bờ này và bờ xa hơn,
Bên
kia cõi bên kia, nơi không có bắt đầu, không kết thúc.
Không
sợ, cứ đi.
Thiền.
Sống
thuần khiết. Yên tĩnh.
Làm
việc của ông, với quyền làm chủ.
Ban
ngày mặt trời chiếu sáng,
và
chiến binh trong giáp trụ rạng ngời.
Ban
đêm trăng chiếu sáng,
và
người chủ sáng lên trong thiền.
Nhưng
ngày và đêm Người đã thức tỉnh
chiếu
sáng trong rạng ngời của tâm linh.
"Trông
kìa, thuyền trưởng Columbus, đất liền!
Chúng
ta đã khám phá ra đất liền!"
"Tuyệt
vời! Đánh điện cho Hoàng hậu Isabella ngay lập tức!"
"Nhưng,
thưa thuyền trưởng, điện tín còn chưa
được
phát minh ra!"
"Mẹ
kiếp! Tôi có-a phải tự mình-a làm mọi thứ không!"
Khoa
học là truyền thống, nó không phụ thuộc vào khám phá của con người. Nó là sự
liên tục; nhiều người đã đóng góp, dầu vậy nhiều người sẽ còn đóng góp. Thế nữa
nó cũng không bao giờ đầy đủ; cái gì đó bao giờ cũng còn lại để được khám phá.
Nó là hiện tượng xã hội. Không có Newton sẽ không có khả năng về Albert
Einstein; không có Albert Einstein sẽ không có khả năng cho bất kì ai khác tìm
ra cái gì đó bên ngoài các khái niệm về tương đối. Khoa học là liên thuộc; nó
không phải là công việc của một người. Nhiều điều phải được chấp nhận từ người
khác, nhiều điều phải được vay mượn; nó là việc kế thừa. Do đó khoa học phụ thuộc
vào quá khứ, nó được bắt rễ trong quá khứ.
Tôn
giáo là hoàn toàn khác: mọi cá nhân phải khám phá ra theo cách riêng của mình.
Tôn giáo không phải là truyền thống và không bao giờ có thể là truyền thống. Bạn
không thể vay mượn sáng suốt từ ai đó khác được; sáng suốt phải đích thực của bạn.
Chỉ thế thì nó mới có ý nghĩa. Bạn có thể thấy chỉ qua con mắt riêng của mình,
bạn có thể hiểu chỉ qua thiền riêng của mình, bạn có thể kinh nghiệm chỉ qua việc
nở hoa của trái tim riêng của bạn.
Và
không có vấn đề về phụ thuộc. Nếu như không có Phật bạn có thể vẫn được thức tỉnh,
nếu như không có Christ bạn có thể vẫn chứng ngộ. Chứng ngộ của bạn tuyệt đối
là của riêng bạn, nó mang tính cá nhân. Đó là cái đẹp của tôn giáo; đó là lí do
tại sao tôn giáo không thể được dạy. Khoa học có thể được dạy; tôn giáo phải được
khám phá lặp đi lặp lại bởi từng và mọi cá nhân, bởi từng và mọi người tìm kiếm.
Con đường của khoa học giống như bước đi trên đất; bạn để lại dấu chân mình. Phật
đã nói: Con đường của tôn giáo giống như chim bay trên trời - chúng không để lại
dấu chân nào... cho nên không ai có thể theo vị phật được.
Bạn
có thể yêu một Phật, nhưng bạn không thể theo ông ấy được. Bạn có thể yêu một
Christ, nhưng bạn không thể theo ông ấy được. Vâng, tình yêu của bạn sẽ giúp bạn,
sẽ giúp bạn hiểu, sẽ cho bạn dũng cảm để truy tìm, sẽ làm mạnh tâm linh của bạn
để đi vào trong cái không biết. Nó sẽ là sự giúp đỡ mênh mông bởi vì cuộc hành
trình này không có bản đồ nào và bạn đang đi vào trong đại dương. Bờ bên kia, bờ
xa hơn là không thấy được; không có gì đảm bảo rằng bạn sẽ đạt tới nó. Bằng việc
yêu một Phật, một Christ, một Zarathustra, một Krishna, một Lão Tử, tin cậy sâu
sắc nảy sinh trong bạn về bờ xa xăm - rằng nó tồn tại: "Nếu mình tìm với
toàn bộ bản thể mình, sẽ có khả năng mình có thể phát hiện ra nó." Nhưng rủi
ro là lớn và mọi thứ phải được bạn thực hiện. Bạn phải đi một mình. Bạn phải
toàn bộ một mình; không ai có thể đi cùng bạn trên con đường này.
Thầy
có thể chỉ cho bạn con đường, nhưng thầy không thể đi cùng bạn được. Thầy có thể
đẩy bạn, thầy có thể động viên bạn, thầy có thể giúp theo nhiều cách, nhưng dầu
vậy bạn vẫn phải đi một mình. Bạn phải khám phá ra mọi thứ, từng chi tiết của
chân lí, lần nữa.
Trong
khoa học lại hoàn toàn khác: một khi chân lí được khám phá ra, nó được khám phá
cho toàn thể nhân loại. Một khi điện được khám phá ra, không có nhu cầu cho mọi
người khám phá nó lặp lại lần nữa. Điều đó sẽ là ngu xuẩn, cực kì ngu xuẩn. Một
khi được khám phá ra nó trở thành một phần của di sản kế thừa của toàn nhân loại.
Nhưng
điều đó không đúng về chân lí chủ quan, bên trong. Hàng nghìn lần nó đã được
khám phá ra, nhưng khi thành vấn đề, là cuộc truy tìm để bạn khám phá nó, bạn
phải đi lại từ ABC, cứ dường như bạn là người đầu tiên, cứ dường như không ai
đã đi trước bạn. Bạn phải phá vỡ tảng băng, bạn phải đi vào vùng đất chưa khai
phá.
Đây
là thách thức lớn. Kẻ hèn nhát co lại từ điều đó, nhưng người dũng cảm cảm thấy
cực kì hấp dẫn. Người dũng cảm thấy nó gần như từ lực hút họ. Do đó Phật bao giờ
cũng nói về bạo dạn. Ông ấy nói: Không sợ, cứ đi.
Các
tôn giáo khác, đặc biệt là các tôn giáo có tổ chức, đều bắt rễ trong sợ hãi. Nếu
Phật mà viết chuyện ngụ ngôn cổ về Adam và Eve và việc đuổi họ khỏi cõi trời,
ông ấy chắc đã viết nó theo cách khác toàn bộ. Ông ấy đã ca ngợi Adam và Eve.
Ông ấy sẽ không gọi đó là tội lỗi nguyên thuỷ, ông ấy sẽ gọi đó là đức hạnh
nguyên thuỷ - rằng họ đã nổi dậy, rằng họ đã không sợ Thượng đế và trừng phạt,
rằng họ đã là những người bạo dạn.
Ông
ấy sẽ không kết án họ, chừng đó là chắc chắn; ông ấy sẽ ca ngợi họ vô cùng. Đó
là thách thức cho tâm linh của họ, cho chính linh hồn họ, để đã được dặn,
"Không được ăn từ cây này, cây tri thức, bởi vì nếu các ngươi ăn từ cây
này các ngươi sẽ bị trừng phạt, trừng phạt cực nặng - không chỉ các ngươi mà
con cháu các ngươi cũng sẽ bị trừng phạt đời đời kiếp kiếp."
Và
trừng phạt sẽ là lớn. Thượng đế đã nói với Adam và Eve, "Nếu các ngươi ăn
từ cây tri thức, nếu các người ăn quả của cây tri thức, các ngươi sẽ thành hữu
tử. Ngay bây giờ các ngươi bất tử." Cái chết sẽ là trừng phạt. Còn trừng
phạt nào hơn có thể có đấy? Chết là điều tối thượng trong trừng phạt.
Phật
chắc đã đánh giá cao họ. Nếu Adam và Eve không nổi dậy, không ăn từ cây tri thức,
chắc đã không có nhân loại - và chắc sẽ không có Christ, không có Phật, không
có Zarathustra, không có Lão Tử. Adam và Eve chắc vẫn lang thang trần trụi như
con vật trong vường Địa đàng. Chắc đã chẳng có cái gì như nhân loại. Tâm thức
này, nhận biết này, truy tìm này - chẳng cái gì đã có đó. Toàn thể công trạng
thuộc về Adam và Eve.
Và
con rắn không chắc đã là quỉ đâu. Trong câu chuyện của Phật, rắn phải đã là vị phật
cổ khêu gợi Adam và Eve, "Cứ đi không sợ và ăn quả đấy đi và đừng sợ, đừng
là kẻ hèn nhát!" Ở phương Đông rắn bao giờ cũng đại diện cho trí huệ.
Jesus cũng nói: Hãy khôn ngoan như rắn. Rắn ở phương Đông đại diện cho quyền
năng cố hữu, quyền năng hạt mầm của việc nở hoa tối thượng của bạn; nó là tiềm
năng của bạn. Do đó kundalini được gọi là xà năng.
Kundalini
nghĩa là con rắn nằm đó đang ngủ say; nó phải được đánh thức dậy. Một khi nó thức
dậy nó bắt đầu ngóc lên. Khi nó đạt tới trung tâm tối thượng của bản thể bạn -
sahasrar - trung tâm cuối cùng, bậc thang cuối cùng của chiếc thang, bạn đã về
tới nhà. Rắn không phải là đại diện, dạng trá hình của quỉ. Phật chắc đã viết
ra toàn bộ câu chuyện này theo cách hoàn toàn khác.
Nhưng
Ki tô giáo, Do Thái giáo, cả hai đều hướng sợ hãi; Hồi giáo cũng vậy, Hindu
giáo cũng vậy. Chỉ hai tôn giáo trên thế giới, Phật giáo và Jaina giáo, là
không; ngoài ra tất cả các tôn giáo khác đều hướng sợ hãi. Chỉ hai tôn giáo này
mới bắt rễ trong bạo dạn, và tôi không thể thấy làm sao tôn giáo có thể hướng sợ
hãi được. Trong mọi ngôn ngữ của thế giới chúng ta đều có các từ như 'sợ Thượng
đế' dành cho người tôn giáo; điều đó là hoàn toàn vô nghĩa. Người tôn giáo
không sợ Thượng đế, người đó yêu Thượng đế - và yêu và sợ không tồn tại cùng
nhau. Nếu bạn yêu ai đó bạn không sợ; nếu bạn sợ bạn không thể yêu được.
Yêu
không tồn tại trên thế giới bởi lí do đơn giản là chúng ta đã cố tạo ra yêu qua
sợ. Bố, mẹ, tu sĩ, chính khách, họ tất cả đều cố tạo ra sợ trong bạn. Người mẹ
nói, "Nghe mẹ, bằng không con sẽ khổ!" Người bố nói, "Bố có quyền."
Theo cả nghìn lẻ một cách người đó chứng minh quyền lực của mình trên đứa trẻ bất
lực và thế rồi nói với đứa trẻ, "Yêu bố đi - bố là bố của con!" Tất
nhiên đứa trẻ phải giả vờ, bởi vì nó phụ thuộc, nó bất lực. Nó yêu người mẹ do
sợ; tình yêu của nó là giả. Nó yêu người bố vì sợ; đó chỉ là giả vờ, đó là đạo
đức giả. Nó yêu Thượng đế vì sợ - sợ địa ngục, sợ bị trừng phạt, sợ bị hành hạ.
Và
bạn có biết không? Ki tô giáo tin rằng nếu bạn bé? Trong bẩy mươi năm một phần
ba đã dành cho ngủ; bạn không thể phạm tội nào trong giấc ngủ của mình trừ phi
mơ của bạn cũng được tính là tội. Một phần ba khác đi vào văn phòng, vào xưởng
máy, vào cánh đồng, vào cửa hiệu.... Bạn có bao nhiêu thời gian để phạm tội? Cứ
tính cả ngày - bạn sẽ không tìm ra mấy thời gian. Và tội của bạn sẽ chỉ tầm thường.
Vâng, bạn có thể rơi vào tình yêu với vợ hàng xóm, nhưng vì điều đó bạn sẽ bị
khổ mãi mãi sao? Điều đó hoàn toàn không công bằng, không thoả đáng! Có thể ba
hay bốn năm ở tù trong địa ngục sẽ đủ, nhưng vĩnh viễn sao? Bạn có thể quan niệm
được vĩnh hằng không? Nó sẽ không bao giờ chấm dứt, khổ sẽ không tận
cùng!
Điều
này chỉ để tạo ra sợ. Và mọi người yêu Thượng đế từ sợ hãi này, họ cầu nguyện từ
sợ hãi này.
Phật
chống lại sợ hãi; sợ là tội lỗi nguyên thuỷ theo ông ấy. Ông ấy tin vào không sợ
- ông ấy tin, và ông ấy tin đúng; đó là kinh nghiệm của ông ấy. Đó cũng là kinh
nghiệm của tôi nữa, rằng tình yêu thực xảy ra chỉ khi sợ biến mất toàn bộ.
Tôn
giáo thực đã không xảy ra trên thế giới này bởi vì chúng ta đã từng cố tạo ra
tôn giáo rẻ tiền dựa trên sợ. Tình yêu thực đã không xảy ra trên thế giới. Vợ sợ
chồng, do đó cô ấy giả vờ yêu; chồng sợ vợ, do đó anh ấy cứ nói, "Cưng ơi,
anh yêu em!" thật là nhiều lần có thể được.
Đó
là điều Dale Carnegie gợi ý cho mọi đức ông chồng: "Dù anh yêu cô ấy hay
không, đó không phải là vấn đề. Cứ lặp lại điều đó thật nhiều lần trong ngày,
như nhiều cơ hội có đó. Một hay hai lần từ văn phòng điện về cho vợ chỉ nói
'Anh yêu em.'" Và đây tất cả đều từ sợ.
Vì
sợ mà thế giới bỏ lỡ hoa hồng của tình yêu. Tình yêu có thể xảy ra - mọi người
đều được sinh ra với năng lực yêu vô hạn - nhưng sợ làm què quặt mọi người, làm
tê liệt mọi người.
Phật
nói với các Bồ tát của ông ấy: Đi và dạy mọi người vài điều nền tảng này. Điều
thứ nhất ông ấy nói:
Không
muốn gì bằng cả trái tim ông dừng dòng suối.
Những
lời này là lời mã hoá; bạn sẽ phải hiểu lời mã hoá của ông ấy. Vào những ngày
xưa đó mọi sự toàn phải được nhớ, cho nên chỉ những lời kinh rất nhỏ, những lời
kinh rất cô đọng mới được cho. Từng lời kinh đều được diễn đạt trong ngôn ngữ
mã; bạn phải giải mã nó. Bạn phải dịch nó vào ngôn ngữ đương đại; bằng không bạn
sẽ bỏ lỡ ý nghĩa của nó.
Không
muốn gì.... Làm sao điều đó là có thể được - không muốn gì sao? Đó là chân lí nền
tảng nhất trong giáo huấn của Phật. Ông ấy không nói đừng muốn gì, nhớ lấy; điều
đó sẽ là hiểu lầm. Ông ấy nói: Không muốn gì, bằng cả trái tim ông dừng dòng suối.
Với
"dòng suối" ông ấy ngụ ý tâm trí. Ông ấy bao giờ cũng gọi tâm trí là
dòng suối bởi vì nó cứ chảy; dù bạn thức hay ngủ nó vẫn cứ chảy. Nó là dòng suối
các ý nghĩ.
Trong
thế giới hiện đại, William James, một trong những nhà tâm lí lớn, lần đầu tiên
dùng cách diễn đạt Phật giáo về tâm trí; ông ấy gọi nó là "dòng suối tâm
thức." Phật nói nó giống như dòng sông thường xuyên chảy. Làm sao bạn có
thể dừng nó lại được? Các phương pháp cũ là kìm nén, kiểm soát, nhưng chúng đã
thất bại, hoàn toàn thất bại; chúng đã thất bại ngay cả vào thời của Phật.
Theo
một nghĩa nào đó Phật là nhà tâm lí đầu tiên của thế giới, không phải Sigmund
Freud. Và cái nhìn sâu của Phật vào tâm trí còn đi sâu hơn nhiều so với mọi nhà
tâm lí gắn lại với nhau. Không có cách nào gạt bỏ cơn lụt quá mạnh của năng lượng
tâm trí, của chất liệu tâm trí, chỉ bằng việc kiểm soát nó hay bằng việc kìm
nén nó. Kìm nén tuyệt đối mang tính phá huỷ. Nếu bạn kìm nén cái gì đó nó sẽ tới
đi tới lại mãi và bạn sẽ phải kìm nén nó lặp đi lặp lại. Cả đời bạn sẽ trở
thành cuộc nội chiến; bạn sẽ thường xuyên đánh nhau với bản thân mình. Và cuộc
chiến sẽ không kết thúc bởi vì bạn không thể phá huỷ được tâm trí theo cách
này; đây không phải là cách để gạt bỏ tâm trí. Thực tế, bạn đang cho tâm trí
năng lượng lớn bằng việc đánh nhau với nó.
Tâm
trí có thể được cho năng lượng theo hai cách: hoặc bằng việc đánh nhau với nó
hoặc bằng việc mê say trong nó. Cách này dẫn tới kìm nén, cách kia dẫn tới đồng
nhất, và cả hai cứ nuôi dưỡng tâm trí. Dòng suối trở nên ngày một lớn hơn.
Bạn
có thể kìm nén - kìm nén là dễ dàng - và toàn thể nhân loại đã học kìm nén bởi
vì bạn bao giờ cũng sa ngã vì dễ dàng. Kìm nén không phải là điều khó. Giận nảy
sinh: bạn có thể ngồi trên nó, bạn có thể cứ mỉm cười nụ cười giả tạo, và chẳng
chóng thì chầy bạn sẽ quên về nó. Nhưng nó có đó đang sôi lên bên trong bạn và
bạn đang tích luỹ mọi ngày nhiều giận hơn. Giận có cái đẹp của riêng nó nếu nó
tự phát, nhưng bạn đang tích luỹ giận, cái trở nên không liên quan, cái sẽ
không tự phát.
Cái
gì đó có thể đã xảy ra từ mười năm trước; bây giờ nó không có tham chiếu tới thực
tại, không hoàn cảnh - và bỗng nhiên bạn bùng nổ. Bạn trông điên khùng. Đó là
cách mọi người phát điên khùng. Nếu họ đã giận từ mười năm trước khi hoàn cảnh
đúng có đó, không ai đã gọi họ là điên khùng, nhưng trong mười năm họ vẫn ngồi
trên nó; thế thì điều đó trở thành quá nhiều. Và thế thì trong mười năm liên tục
họ đã tích luỹ ngày một nhiều giận hơn. Mọi ngày họ đã kìm nén, họ đã ngồi trên
núi lửa; chẳng chóng thì chầy nó sẽ bùng ra. Hoặc là thế, hoặc bạn phải trở nên
chết và đờ đẫn, không sống tới mức chẳng cái gì có thể bùng ra được. Bạn phải
rút lui bản thân mình toàn bộ khỏi cuộc sống, vào tu viện, bạn phải trở nên
không nhạy cảm với cuộc sống tới mức mọi người có thể cứ xúc phạm bạn và bạn
thu thập làn da dầy tới mức không cái gì xuyên vào bạn được...
Giovanni
bị xử tù vì đã làm tình với xác vợ mình vài giờ sau cái chết của cô ấy.
"Anh có gì nói để bào chữa cho mình không?" chánh án hỏi.
"Nói
thực nhé, thưa quí ông," người Italy đáp, "Tôi đã không biết cô ấy-a
chết đâu. Cô ấy đã-a giống-a thế trong hai mươi năm qua-a rồi!"
Có
hàng triệu người không thực sự sống - sợ việc sống bởi vì nếu họ sống thì giận
dữ của họ, thèm khát của họ, tham lam của họ, tất cả trở thành sống động. Để giữ
cho chúng bị kìm nén họ phải sống ở mức tối thiểu; họ chưa bao giờ sống ở mức tối
đa. Và không sống ở mức tối đa là bỏ lỡ Thượng đế, là bỏ lỡ tất cả - tất cả cái
đẹp và phúc lành của cuộc sống.
Bạn
nên sống ở mức tối đa; chỉ thế thì bạn mới đi tới biết cái đẹp vô cùng của sự tồn
tại. Chỉ từ chiều cao đó bạn mới trở nên nhận biết về huy hoàng mênh mông, về lễ
hội thường xuyên vẫn diễn ra mãi. Nhưng bạn không thể sống tới mức tối đa được;
bạn sợ bởi vì nếu bạn sống một cách toàn bộ thế thì mọi thứ bạn đã kìm nén sẽ
trồi lên.
Hàng
triệu người đã quyết định vì cuộc sống chết; trước khi họ thực sự chết họ đã chết
rồi. Họ chỉ sống ở mức tối thiểu, để kiếm sống; không sống mà chỉ lờ phờ tẻ nhạt.
Họ sợ thế - các tu sĩ đã làm cho họ sợ thế.
Phật
chống lại kìm nén. Và nếu bạn kìm nén cái gì đó nó sẽ bắt đầu tìm cách khác nào
đó để trồi ra, cách thức hư hỏng nào đó. Đó là lí do tại sao tôi nói mọi đồi bại
dục đều có nguồn gốc tôn giáo, bởi lẽ đơn giản là mọi tôn giáo đều đã từng chống
lại dâm dục.
Dục
phải được biến đổi, không bị kìm nén. Nó là năng lượng thuần khiết, nó là lửa!
Nhưng bạn không cần đốt nhà mình bằng lửa đó. Bạn có thể sưởi nóng ngôi nhà của
mình khi nó quá lạnh, bạn có thể làm cho nhà của mình đầy ánh sáng khi nó tối.
Đó là cùng ngọn lửa trở thành ánh sáng, trở thành nhiệt, nhưng nó cũng có thể
thiêu cháy ngôi nhà bạn. Bạn phải rất tỉnh táo, cẩn thận, thận trọng.
Sinh
lực của bạn là trung lập: chúng có thể làm hại bạn, chúng có thể giúp bạn; tất
cả đều phụ thuộc vào bạn. Đừng kết án chúng. Bạn chịu trách nhiện - và chỉ bạn
thôi!
Nhưng
mọi người cứ kết án dục dường như dục có cái gì đó liên quan tới bạn. Dục không
có gì liên quan tới bạn cả; dục là năng lượng thuần khiết. Nhưng nếu bạn kìm
nén nó, nó sẽ trở thành hư hỏng; thế thì nó sẽ tìm ra các con đường. Nếu bạn
đóng con đường tự nhiên, thế thì nó tới qua con đường phi tự nhiên. Và bạn vẫn
là cùng người ngu xuẩn đó, bạn đã không thay đổi chút nào; hiểu biết của bạn đã
không trưởng thành.
Mulla
Nasruddin từ làng mình ra thành phố lớn, và một người bạn giầu có mời anh ta tới
xem nhạc kịch trong một khoang xem.
Người
bạn nói, "Chúng ta sẽ ngồi gần người khác, cho nên để chắc anh về thay tất
đi trước khi tới!"
Một
thời gian ngắn sau khi vào chỗ ngồi của mình trong rạp hát, người bên cạnh bắt
đầu nhăn mũi vì mùi thối.
"Tôi
đã bảo anh phải đổi tất đi mà," người bạn nói với Mulla.
"Chắc
chắn là tôi đã đổi rồi," Nasruddin nói. "Và hơn nữa tôi biết anh sẽ
không tin tôi, cho nên tôi đem đôi tất cũ để ngay trong túi tôi để chứng minh
điều đó!"
Nếu
bạn là cùng anh chàng ngu xuẩn cũ đó thì chẳng thành vấn đề bạn làm gì với dục
của bạn, với tham của bạn, với ghen tị của bạn. Chúng sẽ quay lại dưới dạng
khác, theo con đường khác nào đó; chúng thậm chí trở thành tinh vi hơn.
Phật
nói điều được cần tới là nhận biết nhiều hơn, hiểu biết nhiều hơn - không kìm
nén không kiểm soát. Nếu bạn có thể trở nên nhận biết về ham muốn của mình, nếu
bạn có thể quan sát ham muốn của mình, thế thì phép màu xảy ra, phép màu lớn nhất
trong tất cả các phép màu. Khoảnh khắc bạn trở nên nhận biết về ham muốn của
mình, bạn có thể dễ dàng thấy rằng không ham muốn nào có thể được hoàn thành;
chính bản chất của nó là không thể được hoàn thành. Mọi ham muốn đều chỉ là
khao khát về cái gì đó không thể có được, mọi ham muốn đều nghĩa là thêm nữa, nữa
và nữa. Bây giờ, làm sao bạn có thể hoàn thành khao khát thường xuyên này về
thêm nữa? Bạn có thể có mọi của cải của thế giới, dầu vậy ham muốn sẽ vẫn có
đó.
Tôi
đã nghe nói rằng khi Diogenes nói với Alexander Đại đế, "Ông đã bao giờ
nghĩ về một điều này chưa? - mặc dầu nó là một khả năng rất xa vời, ông đã bao
giờ nghĩ về nó chưa? Ông có thể thực sự chinh phục cả thế giới - thế rồi cái gì
nữa? Không có thế giới khác để chinh phục, chỉ có duy nhất một thế giới này. Nếu
ông thực sự thành công - ông đã bao giờ cân nhắc về vấn đề đó chưa? - thế thì
ông sẽ làm gì?"
Và
tương truyền rằng Alexander trở nên rất buồn. Diogenes cười và ông ấy nói,
"Trông đấy! Ông vẫn chưa chinh phục được nó, nhưng chính ý tưởng rằng nếu
ông chinh phục toàn thế giới... ông sẽ làm gì tiếp đó? - bởi vì không có thế giới
khác. Ông sẽ hoàn toàn lúng túng, bởi vì tâm trí sẽ đòi hỏi thêm nữa. Nó sẽ
không được thoả mãn chỉ với thế giới này - nó sẽ không được thoả mãn đâu."
Tâm
trí nghĩa là không hài lòng; đó là chính bản tính của nó. Ham muốn là cách biểu
lộ duy nhất của không hài lòng này. Khi bạn quan sát ham muốn của mình bạn dần
dần, dần dần trở nên nhận biết về cái vô tích sự của việc ham muốn, bạn trở nên
nhận biết về bản tính ngớ ngẩn của việc ham muốn. Bạn trở nên nhận biết rằng bởi
chính bản chất của chúng ham muốn là không thể nào được hoàn thành. Thấy ra điều
này, biến đổi xảy ra, phép màu xảy ra, thay đổi triệt để tạo ra; nhưng bằng việc
thấy điều này - không bằng kìm nén, không bằng kiểm soát mà bằng hiểu biết.
Một
nghệ sĩ violon bị thuyết phục anh ta có thể dùng nghệ thuật của mình để thuần
dưỡng con vật hoang. Cho nên, violon trong tay, anh ta đi vào trung tâm rừng rậm
châu Phi để chứng minh điều đó.
Anh
ta bắt đầu chơi nhạc và chẳng mấy chốc chỗ quang đãng trong khu rừng đã đầy các
con vật đủ các loại tụ tập lại để nghe anh ta chơi đàn. Chim, sư tử, hà mã, voi
- tất cả đều đứng vòng tròn mê mải với âm nhạc tuyệt trần của anh ta.
Vừa
lúc đó một con cá sấu bò lên từ con sông cạnh đó và đi vào chỗ quang đãng và -
đớp luôn! - ăn ngấu nghiến nghệ sĩ violon.
Các
con vật khác cực kì tức giận. "Mày làm cái quái gì thế?" chúng hỏi.
"Chúng tao đang thưởng thức điều đó."
"Ê
thì sao nào?" con cá sấu nói, đưa tay bịt tai nó.
Tâm
trí tuyệt đối điếc; nó cứ làm cùng những điều ngu xuẩn mãi, chưa bao giờ nhìn,
chưa bao giờ nghe thông điệp. Mọi ham muốn đều đem bạn tới điểm thay đổi triệt
để xảy ra, nhưng tâm trí không thể thấy mà cũng không thể nghe được. Nó mù, nó
điếc. Khi ham muốn này rụng đi nó đơn giản nhảy sang ham muốn khác. Nếu ham muốn
này thất bại, tâm trí nghĩ, "Nếu ham muốn này đã thất bại điều đó không có
nghĩa là tất cả các ham muốn khác sẽ thất bại." Nó cứ hi vọng rằng sẽ phải
có ham muốn nào đó có thể được hoàn thành, có thể không lúc này nhưng lúc sau;
nếu không hôm nay thì ngày mai; nếu không trong kiếp này thì trong kiếp sau,
trong cõi trời. Nhưng tâm trí cứ nghĩ mãi theo cùng con đường mòn cũ.
Trong
cảnh cuộc vây bắt ở ngân hàng viên trung sĩ cảnh sát chạy tới viên thanh tra và
nói, "Nó chạy mất rồi, thưa ngài!"
Viên
thanh tra nổi cáu. "Nhưng tôi đã bảo ông để người ở mọi lối ra rồi cơ
mà!" ông ta gầm lên. "Làm sao nó có thể chạy mất được?"
"Nó
ra bằng cửa vào thưa ngài!"
Tâm
trí bao giờ cũng tìm cách thuyết phục bạn về cùng trò chơi ngu xuẩn. Phật nói
quan sát nó. Chính là qua quan sát mà không việc muốn nào xảy ra.
Và
tính quan sát của bạn phải ở cùng với toàn bộ trái tim bạn; nó phải không bộ phận,
bằng không nó sẽ không có tác dụng - bởi vì nếu bạn chỉ quan sát một phần thế
thì phần đã không được tham gia sẽ cứ giờ các thủ đoạn cũ, chiến lược cũ. Toàn
thể trái tim của bạn phải có tính quan sát để cho không chỗ tối nào còn lại
trong bạn, để cho toàn thể bản thể bạn trở nên nhận biết về cái ngớ ngẩn của việc
ham muốn.
Jimmy
Carter tới thăm một trong những viện lớn nhất về mất cân bằng tinh thần. Ông ấy
hoàn thành việc giám định toà nhà chính và muốn xem Phần Nông trại. Lái xe của
ông ấy không ở quanh đó nên tổng thống lên chiếc xe bus thường.
Trong
vài phút người quản lí đưa lên một số bệnh nhân. Khi họ đã ngồi vào chỗ ông ấy
bắt đầu đếm, "1, 2, 3, 4, 5...." Ông ấy tới tổng thống và nói,
"Ông là ai?"
Ông
Carter nói, "Sao, tôi là tổng thống nước Mĩ đây!"
Người
quản lí nói, "6, 7, 8...."
Chả
thành vấn đề bạn là ai, bạn ở đâu. Nếu bạn vẫn ham muốn, bạn vẫn điên: "6,
7, 8...." Bạn khùng hâm. Thực tế, chừng nào bạn còn chưa đủ điên khùng,
làm sao bạn có thể cố gắng vất vả thế để là tổng thống của một nước? Trong nhiều
năm mọi người cố gắng trở thành tổng thống của một nước; gần hết cả đời họ được
dành cho một mục đích đơn giản, là tổng thống của một nước. Và cái gì được đạt
tới? Với cùng năng lượng đó họ có thể đã trở thành chư phật, với cùng năng lượng
đó họ có thể đã trở nên thức tỉnh. Nhưng chúng ta đưa năng lượng của mình vào
những mục đích sai thế - tiền, quyền, danh - và chúng tất cả dều dẫn tới điên
khùng.
Việc
ham muốn là điên khùng. Tận hưởng cuộc sống đi! - nhưng đừng quá bận tâm về
tương lai. Đừng hi sinh hôm nay của bạn cho ngày mai; bằng không bạn bao giờ
cũng sẽ bỏ lỡ mọi cơ hội mở ra cho trưởng thành bên trong của bạn.
Không
muốn gì, bằng cả trái tim ông dừng dòng suối.
Quan
sát. Cố hiểu chính bản chất của việc ham muốn, và trong chính hiểu biết đó một
điểm dừng sẽ tới theo cách riêng của nó. Dòng suối đơn giản biến mất, bay hơi,
cứ dường như nó chưa bao giờ có đó. Và khoảnh khắc bạn tự do với tâm trí, bạn tự
do với mọi khổ, với mọi không hài lòng.
Khi
thế gian tan biến
mọi
thứ trở thành rõ ràng.
Với
tan biến của tâm trí, toàn thế giới mà tâm trí đã tạo ra quanh bản thân nó cũng
tan biến đi, hiển nhiên - thế giới tuỳ thuộc vào tâm trí, nó là phóng chiếu của
tâm trí. Không phải là cây sẽ biến mất và hoa hồng sẽ biến mất đâu... hoa hồng
sẽ là hoa hồng nhiều hơn và cây sẽ xanh nhiều hơn. Mọi người sẽ đẹp hơn nhiều;
ngay cả đá cuội trên bờ biển cũng sẽ như kim cương. Mọi thứ sẽ trở thành quí
giá.
Thế
giới này, thế giới thực này, sẽ không biến mất với tâm trí bạn, nhưng bạn đang
sống trong một thế giới riêng tư hoàn toàn khác: thế giới của ham muốn của bạn.
Bạn không thấy thế giới thực, bạn chỉ thấy thế giới riêng tư của riêng mình được
phóng chiếu lên thế giới thực. Thế giới thực đơn giản được dùng như màn ảnh
trên đó bạn cứ phóng chiếu các ham muốn của mình. Bạn chưa bao giờ thấy cái
đang đó; bạn chỉ cứ thấy cái bạn ham muốn.
Người
ta nói là thợ làm giầy chưa bao giờ nhìn vào mặt mọi người, ông ta bao giờ cũng
nhìn vào giầy của họ. Tất nhiên ông ta không quan tâm tới khuôn mặt của họ, ông
ta chẳng liên quan gì tới mặt họ; ông ta quan tâm tới giầy của họ. Và bằng việc
nhìn giầy ông ta biết về người này; giầy chứa mọi thông điệp cho ông ấy: liệu
người này giầu hay nghèo, thành công hay không thành công. Giầy sẽ nói mọi điều:
hình dáng của giầy, tính mới, tính cũ, sự mệt mỏi của giầy; mọi thứ sẽ nói người
này thuộc loại nào. Giầy, được người làm giầy phân tích, sẽ cho bạn phân tích
hoàn hảo về con người này. Không có nhu cầu đi tới nhà phân tâm, bạn có thể đi tới
người đóng giầy, để giầy chỗ ông ấy. Và ông ấy có thể làm ra sơ đồ về bạn: bạn
là loại người nào, cái gì đang xảy ra trong cuộc sống của bạn.
Thợ
may chưa bao giờ nhìn bạn, họ chỉ nhìn quần áo của bạn. Họ quyết định từ quần
áo của bạn. Mọi người chỉ nhìn cái họ ham muốn và họ phóng chiếu ham muốn của họ.
Nếu ai đó đầy thèm khát thì ngay cả người đàn bà xấu cũng có thể trông đẹp.
Mulla
Nasruddin thỉnh thoảng đi tới ga trên đồi; anh ta có nhà gỗ ở đó. Thỉnh thoảng
anh ta nói, "Tôi sẽ đi ba tuần," và quay về chỉ sau mười ngày. Điều
đó xảy ra nhiều lần nên tôi hỏi anh ta, "Anh chưa bao giờ theo quyết định
của mình. Anh nói, 'Tôi sẽ đi ba tuần,' thế rồi anh quay về trong vòng một tuần.
Đôi khi anh nói, 'Tôi sẽ đi năm tuần,' và anh quay về trong mười ngày. Có chuyện
gì vậy?"
Anh
ta cười; anh ta nói, "Tôi có tiêu chí và tôi không thể quyết định được từ
đây. Ông biết rằng tôi có căn nhà gỗ ở ga trên đồi - ở đấy, tôi đã để một người
đàn bà ở đó để trông nom căn nhà. Cô ấy là người đàn bà xấu nhất ông có thể
quan niệm được và bao lâu tôi sẽ ở đó được người đàn bà đó xác định."
Tôi
nói, "Tôi không hiểu."
Anh
ta nói, "Để tôi giải thích. Cô ấy kinh tởm thế, gớm ghiếc thế, nhưng khi
tôi tới đó, sau hai hay ba ngày cô ấy không kinh tởm, không gớm ghiếc thế. Sau
bốn hay năm ngày tôi thậm chí bắt đầu thấy cái gì đó đẹp trong cô ấy. Đến ngày
thứ bẩy hay thứ tám cô ấy bắt đầu trông thực đẹp. Khoảnh khắc tôi thấy rằng ham
muốn về cô ấy nảy sinh trong tôi, tôi trốn đi - đó là cách tôi quyết định. Điều
đó nghĩa là bây giờ đến lúc cho tôi ra đi. Tôi biết cô ấy xấu, nhưng mắt tôi
đang lừa dối tôi bây giờ, bây giờ chúng đang phóng chiếu. Bây giờ thèm khát dục
không được hoàn thành của tôi bắt đầu phóng chiếu lên cô ấy; cô ấy không phải
là điều cô ấy hiện ra cho tôi. Thế thì tôi bắt đầu trốn đi - tôi sắp điên
khùng. Thế thì tôi lập tức xô về nhà; đó là lúc về nhà, bằng không sẽ có nguy
hiểm. Và tôi không muốn làm tình với người đàn bà gớm ghiếc đó. Tôi biết hoàn
toàn rõ cô ấy kinh tởm, nhưng một lúc tới, đâu đó ở giữa bẩy và mười ngày, khi
cô ấy bắt đầu trông đẹp thế, cứ dường như cô ấy là Sophia Loren."
Bạn
kinh nghiệm điều này lặp đi lặp lại mãi, nhưng bạn không hiểu. Khi lần đầu tiên
bạn rơi vào tình yêu với người đàn bà hay đàn ông, người kia có vẻ giống như
nam thần hay nữ thần; đó là phóng chiếu của bạn. Chẳng mấy chốc bạn sẽ bị vỡ mộng.
Lỗi nằm ở bạn, không ở người kia. Không phải là người kia đã lừa bạn đâu; người
kia đã không làm gì cả. Bạn đói, bạn khao khát, bạn sống với ham muốn bị kìm
nén và ham muốn đó tạo ra ảo tưởng cho bạn. Bạn rơi vào trong tình yêu, bạn thấy
cái gì đó không có đó. Những người yêu cứ thấy những điều không có đó, không ai
khác thấy chúng; đó là lí do tại sao những người yêu bị mọi người khác coi là
điên. Bản thân họ sẽ nghĩ họ điên sau hai hay ba tuần, nhưng khi họ đang trong
tình yêu lần đầu tiên họ nghĩ họ đã khám phá ra người đàn bà được làm ra cho họ
- rằng họ được làm ra cho nhau.
Ở
đây, tôi vẫn thường nhận được thư. Một nữ sannyasin tìm thấy ai đó gần như mọi
tháng và cô ấy viết cho tôi và cô ấy quên mất tất cả về sự kiện là cô ấy đã từng
viết nó trong ít nhất ba năm: "Thưa Thầy kính yêu, dường như là chúng tôi
đã được làm ra cho nhau." Cô ấy không có ý tưởng nào rằng cô ấy đã viết điều
này ít nhất năm mươi lần! Nhưng khi cô ấy bị mê tít với ai đó cô ấy quên hết mọi
thứ khác.
Tôi
nhắc cô ấy. Cô ấy nói, "Lần khác tôi có thể sai, nhưng lần này, tin tôi
đi, chúng tôi được làm ra cho nhau!" Và trong hai hay ba tuần những người
này, người đã được làm ra cho nhau bị kết thúc.
Thực
tế, không ai được làm cho bất kì ai khác; mọi người đều được làm ra cho chính bản
thân mình. Không ai được làm cho bất kì ai - Thượng đế chưa bao giờ làm ra bạn
theo đôi cả! Vứt toàn bộ cái vô nghĩa đó đi. Ngài đơn giản làm ra các cá nhân.
Ở
phương Đông chúng ta có các câu chuyện - chúng phải là chuyện thôi, chúng không
thể là lịch sử được. Trong kinh sách Jaina người ta nói rằng lúc ban đầu khi thế
giới hình thành, Thượng đế hay làm ra đàn ông và đàn bà cùng nhau. Từng người mẹ
thường cho sinh đôi, một gái, một trai; chúng sẽ là chồng và vợ. Chúng không phải
là chị em hay anh em - chúng được làm ra cho nhau! Điều đó phải là sự hoàn
thành ước mong. Đàn ông bao giờ cũng nghĩ, "Phải có ai đó mà mình sẽ khớp
tuyệt đối. Ở đâu đó ai đó phải tồn tại người đó chỉ dành cho mình và mình dành
cho cô ấy." Không có ai chỉ dành cho bạn hay bạn chỉ dành cho ai. Thượng đế
tạo ra chỉ các cá nhân, Thượng đế tin vào tính cá nhân - ngài là người theo chủ
nghĩa cá nhân.
Thực
tế, hôn nhân là bịa đặt của con người, Thượng đế không tin vào hôn nhân. Bản
thân ngài là một mình không có vợ; bạn có thể thấy - vấn đề rõ ràng thế. Bằng
không ngài ít nhất đã lấy Thánh thần linh thiêng! Thánh thần linh thiêng có thể
biến thành đàn bà hay đàn ông - ma là ma thôi! Ngài không có thân thể nào; ngài
có thể đã cho nó một thân thể. Nếu ngài có thể tạo ra cả thế giới, ngài không
thể tạo ra đàn bà cho bản thân mình sao? Ngài hào phóng thế với đàn ông - ngài
đã cho đàn ông người đàn bà đầu tiên, Lilith. Và Lilith thực sự là người đàn bà
đẹp, nhưng đêm đầu tiên đã có đấu tranh về cái gối - người đàn bà được giải
phóng đầu tiên! Phong trào giải phóng phụ nữ đã bắt đầu với Lilith. Và đấu
tranh là vì Thượng đế đã cho họ chỉ một giường và cả hai đều muốn ngủ trên nó
và giường lại không đủ lớn cho hai người. Lilith đơn giản bác bỏ ý tưởng rằng
cô ấy phải ngủ trên sàn. Cô ấy nói, "Nếu anh muốn ngủ trên sàn anh có thể
ngủ!"
Adam
cảm thấy bị xúc phạn lắm - một đàn ông, mà lại ngủ trên sàn, còn đàn bà ngủ
trên giường sao? Đến nửa đêm họ gõ cửa nhà Thượng đế và nói, "Ngài phải
phân xử điều đó đi."
Thượng
đế dường như rất kì lạ - một chuyện đơn giản thế. Ông ấy đáng đã gọi Asheesh:
"Làm giường đôi đi!" Đó là điều tôi đã làm. Sao lại làm om sòm nhiều
thế về điều đó? Hay nếu Asheesh làm tốn thời gian dài - vì anh ta thường làm thế
- ngài có thể đã vứt cái giường đi: "Cả hai đứa có thể ngủ trên sàn, bình
đẳng!" Ngài có thể đã phái Deeksha đem bỏ nó đi; cô ấy sẽ bỏ mọi thứ đi, kể
cả sàn! Nhưng cách thức của Thượng đế là kì lạ.
Ngài
đã làm Lilith biến mất tiêu. Ngài nói, "Con biến đi. Con sẽ không có khả
năng làm ra điều đó nữa." Thế là ngài làm ra Eve, lấy một chiếc xương sườn
của Adam để cho cô ấy là một phần của Adam. Điều đó là hành động xấu, điều đó rất
chống phụ nữ.
Và
từ đó Thượng đế đã là mật thám gia trưởng đàn ông!
Không
ai được làm ra cho bất kì ai khác, do đó không có hai người nào có thể khớp tuyệt
đối. Mọi ý tưởng của bạn về khớp với người khác đều là ảo tưởng, và chúng sẽ bị
tan tành chẳng chóng thì chầy. Hoặc bạn phải thoả hiệp hoặc bạn phải tách rời.
Nhưng không ai được làm cho người kia.
Những
người hiểu, họ bắt đầu chấp nhận tính duy nhất của người kia, họ bắt đầu kính
trọng tính duy nhất của người kia. Họ biết họ khác nhau, vậy mà họ đã quyết định
ở cùng nhau. Và điều đẹp là ở chỗ họ khác nhau bởi vì sự đa dạng đó đem lại sự
phong phú cho cuộc sống.
Nhưng
bạn cứ tạo ra thế giới quanh bản thân mình, thế giới ảo tưởng. Phật đang
nói về thế giới đó khi ông ấy nói: Khi thế gian tan biến - ông ấy ngụ ý khi tâm
trí tan biến với mọi phóng chiếu của nó - mọi thứ trở thành rõ ràng.
Khi
tất cả mọi phóng chiếu của bạn đều mất rồi bạn có sáng tỏ, sáng tỏ vô cùng,
không mây mù trong tâm thức bạn. Bạn có thể thấy xuyên thấu suốt. Việc thấy đó
là tự do, việc thấy đó là cứu rỗi, việc thấy đó là niết bàn, việc thấy đó là về
nhà.
Đi
ra ngoài…
Đi
tới việc thấy đó đi. Đi ra ngoài tâm trí, đi ra ngoài cái đã biết, bởi vì tâm
trí bao gồm cái đã biết.
Và
đi ra ngoài cái có thể biết bởi vì bất kì cái gì có thể biết chẳng chóng thì chầy
sẽ trở nên được biết và sẽ lại tạo ra tâm trí. Cho nên đi ra ngoài cái biết -
cái biết nghĩa là cái đã trở thành tâm trí của bạn - và cái có thể biết - cái về
tiềm năng sẽ trở thành tâm trí của bạn chẳng chóng thì chầy. Đi ra ngoài cái biết
và cái có thể biết để cho bạn có thể đi vào trong cái không thể biết, vào trong
điều huyền bí. Cõi bên kia đại diện cho điều huyền bí.
đường
này này hay đường kia…
Phật
không phải là người cuồng tín; ông ấy nói bạn theo con đường nào không thành vấn
đề. Nhớ lấy: bạn phải đi ra ngoài tâm trí. Đi theo bất kì đường nào! Đây là cái
đẹp của ông ấy - nó rất hiếm hoi. Bạn sẽ không tìm thấy phẩm chất này trong những
người cuồng tín tôn giáo đâu; ông ấy không phải là người cuồng tín chút nào.
Ông ấy nói bạn đi theo đường nào là không quan trọng, dù bạn bơi sang bờ bên
kia hay bạn đi thuyền hay bạn đi tàu hơi nước hay mọi cách bạn xoay xở... điều
đó là tuỳ ở bạn thôi. Đi sang bờ bên kia; đó mới là vấn đề. Mọi con đường đều hợp
thức nếu nó dẫn tới bờ bên kia, mọi con đường đều hợp thức nếu nó dẫn bạn đi ra
ngoài tâm trí.
Và
chỉ có hai con đường. Một là nhận biết, thiền - con đường của Phật. Và con đường
kia là tình yêu, sùng kính, con đường của người Sufis. Về căn bản chỉ có hai con
đường, nhưng Phật rất rõ ràng. Ông ấy nói: đường này này hay đường kia....
Với
"đường này" ông ấy ngụ ý con đường của ông ấy; với "đường
kia" ông ấy ngụ ý con đường của tình yêu, của sùng kính. Đó không phải là
con đường của ông ấy, nhưng ông ấy không cấm bạn. Ông ấy không nói rằng bạn
không thể đạt tới được bởi con đường kia. Ông ấy không nói, "Con đường của
ta là con đường duy nhất." Ông ấy không nói, ông ấy không tuyên bố,
"Chỉ những người tới với ta sẽ đạt tới còn mọi người khác sẽ rơi xuống địa
ngục." Không! Ông ấy nói, "Ông có thể theo con đường khác nữa. Chỉ nhớ
một điều trong tâm thức ông - rằng ông phải vượt ra ngoài."
tới
bờ xa hơn
nơi
thế gian tan biến
và
mọi thứ trở thành rõ ràng.
Bên
ngoài bờ này và bờ xa hơn,
Bên
kia cõi bên kia, nơi không có bắt đầu, không kết thúc.
"Bên
kia cõi bên kia" là cách diễn đạt của Phật về Thượng đế; ông ấy không bao
giờ dùng từ 'Thượng đế'. Nhưng "bên kia cõi bên kia" đích xác là điều
từ 'Thượng đế' đại diện. Sao ông ấy nói "bên kia cõi bên kia"? Gọi nó
là "cõi bên kia" không đủ sao? Không đủ đâu, bởi vì khi bạn nói
"cõi bên kia" dường như bạn đã hiểu nó rồi; điều đó nghĩa là tâm trí
bạn đã hiểu. Khi bạn nói "bờ bên kia" điều đó nghĩa là nó là bờ kia,
nhưng nó là cái gì đó giống như bờ này; ít nhất nó
cũng
là bờ cho nên nó phải là cái gì đó giống bờ này - có thể có chút ít khác biệt,
đẹp hơn, với nhiều cây hơn, nhiều xanh hơn, nhiều hoa đẹp và hương thơm hơn -
nhưng bờ vẫn là bờ.
"Bờ
này" và "bờ kia" tâm trí bạn có thể lĩnh hội được. Do đó ông ấy
nói: Bất kì cái gì hiểu được với tâm trí đều phải bị bỏ lại sau. Cõi bên kia là
hiểu được.
Bên
ngoài bờ này và bờ xa hơn - bạn phải đi ra ngoài cả hai bờ - Bên kia cõi bên
kia, nơi không có bắt đầu, không kết thúc.
Khi
một người tới Phật - người đó đã thực hành thiền trong nhiều năm - người đó
nói, "Thầy đã bảo tôi, 'Đạt tới cái không,' và tôi đã đạt tới nó rồi. Bây
gì tôi phải làm gì khác nữa?"
Phật
nói, "Bây giờ quẳng nó đi! Đi ra và quẳng nó đi!"
Người
đó phân vân. Người đó nói, "Tôi đã mất vài năm để đạt tới nó!"
Phật
nói, "Mục đích duy nhất trong việc đạt tới nó Một vua tới Phật mang theo
nhiều kim cương trong tay này, rất quí giá, rất hiếm hoi, và với bông sen trong
tay kia, sen trái vụ. Ông ấy muốn cúng dường kim cương. Phật nói, "Vứt nó
đi!" Thế là ông ấy vứt kim cương - do dự lắm, vì đó là cả kho báu lớn thế
- cứ nghĩ, "Người này không hiểu điều ông ấy đang nói." Nhưng mười
nghìn sư đang có đó và không vứt chúng sẽ có vẻ keo kiệt và mọi người sẽ cười
và họ sẽ nói, "Nếu ông đã tới cúng dường ông ấy cái gì đó và ông ấy ra lệnh,
'Vứt nó đi!' thế thì vứt nó đi chứ! Ông đã cúng dường chúng cho ông ấy rồi, bây
giờ làm gì chúng là việc của ông ấy." Cho nên ông ta vứt chúng đi, nhưng rất
ngần ngại.
Thế
rồi ông ấy cúng dường bông sen. Phật nói, "Vứt nó đi!" Ông ấ vứt bông
sen đó nữa. Bây giờ ông ấy đứng với bàn tay trống rỗng và Phật nói, "Vứt
nó đi!" Bây giờ nhà vua đâm ra lúng túng. Ông ta nói, "Thưa ngài, tôi
chẳng có gì để vứt; tay tôi hoàn toàn trống rỗng." Phật nói, "Thế thì
vứt nó đi!" Bây giờ nhà vua nghĩ, "Người này dở hơi! Ta đang nói tay
ta trống rỗng, thế rồi mà ông ta vẫn nói 'Vứt nó đi!'"
Một
trong các Bồ tát của Phật, Manjushree7, cười to và ông ấy nói, "Thưa ngài,
ngài không hiểu thầy
Đó
là nghĩa của việc đi ra bên kia cõi bên kia. Đó là trạng thái tối thượng của niết
bàn - khi bản ngã, tâm trí, cá tính, tất cả đều dừng tồn tại và bạn biến mất
trong điều huyền bí, trong phép màu, trong vũ trụ.
Không
sợ, cứ đi. Thiền.
Đây
là điều thiền tất cả là gì: quan sát ham muốn của bạn, hiểu bản chất của
chúng... và để chúng rơi rụng như lá khô khỏi cây trong mùa thu.
Sống
thuần khiết.
Và
khi thiền đã xảy ra và ham muốn đã biến mất, thế thì sống từ hồn nhiên đó. Ngay
bây giờ bạn đang sống từ ham muốn. Bạn ham muốn cái này, bạn ham muốn cái nọ,
và đôi khi bạn ham muốn ngay cả Thượng đế, đôi khi bạn ham muốn niết bàn, đôi
khi bạn ham muốn ngay cả thiền, nhưng bạn sống từ ham muốn.
Có
một loại cuộc sống khác - cuộc sống thực - điều được sống qua hồn nhiên, không
ham muốn. Cho nên bất kì cái gì tới trên đường bạn đều tận hưởng, hạn hân hoan,
nhưng bạn không ham muốn.
Sống
thuần khiết - đó là điều Phật gọi là cuộc sống thuần khiết: cuộc sống không được
sống từ ham muốn.
Yên
tĩnh.
Một
cách tự nhiên bạn sẽ yên tĩnh - khi không có ham muốn còn lại, không rối loạn
nào còn lại.
Làm
việc của ông, với quyền làm chủ.
Thế
thì bất kì cái gì bạn đang làm, bất kì cái gì bạn tận hưởng làm, làm nó với quyền
làm chủ và khéo léo. Ông ấy thích khéo léo lắm, ông ấy thích cái tuyệt hảo, ông
ấy thích hoàn hảo. Ông ấy không phải là người cầu toàn, nhớ lấy, bởi vì ông ấy
không phải là người thần kinh, nhưng ông ấy yêu hoàn hảo. Làm mọi thứ với tính
toàn bộ của bạn. Bất kì cái gì bạn đang làm, làm nó với tình yêu như thế, với
cam kết như thế và sự tham dự tới mức khoảnh khắc đó là toàn thể cuộc sống của
bạn.
Có
lần ai đó hỏi Vincent van Gogh, "Tranh đẹp nhất của ông là tranh
nào?"
Ông
ấy đang vẽ một bức tranh. Ông ấy nói, "Bức này - đây là bức đẹp nhất."
Vài
tháng sau người này lại hỏi - ông ấy lại đang vẽ cái gì đó - người này hỏi,
"Tranh đẹp nhất của ông là tranh nào?"
Ông
ấy nói, "Tranh này."
Người
này nói, "Nhưng điều này không đúng. Mới vài tháng trước
ông nói về bức tranh khác nào đó đã là tranh đẹp nhất của ông."
Vincent
van Gogh nói, "Bất kì cái gì tôi đang làm vào khoảnh khắc này đều là đẹp
nhất. Nó bao giờ cũng thế này, nó chưa bao giờ thế nọ. Nó bao giờ cũng bây giờ,
nó chưa bao giờ lúc khác."
Đây
là cách thức của hoàn hảo, cách thức của tuyệt hảo, cách thức của khéo léo, làm
chủ. Bất kì cái gì bạn đang làm, làm nó cứ dường như nó là vấn đề sinh và tử.
Đưa toàn thể năng lượng của bạn vào trong nó, và cho sẽ cho bạn phúc lạc vô
cùng. Đừng nửa vời. Chỉ thế thì tính sáng tạo mới nở hoa, chỉ thế thì bạn mới
trở thành người tham gia vào trong Thượng đế đấng sáng tạo.
Ban
ngày mặt trời chiếu sáng,
và
chiến binh trong giáp trụ rạng ngời. Ban đêm trăng chiếu sáng,
và
người chủ sáng lên trong thiền.
Đây
là những lời mã hoá. Mặt trời đại diện cho tấm gương. Nhưng chỉ bằng việc qua mặt
trăng thay đổi triệt để xảy ra: tia sáng vốn nóng, bạo hành, trở thành im lặng,
mát mẻ, an bình.
Mặt
trời đại diện cho chiến binh, chiến sĩ, người lính. Mặt trăng đại diện cho
sannyasin, thiền nhân, nhà huyền môn.
Phật
nói: Ban ngày mặt trời chiếu sáng, và chiến binh trong giáp trụ rạng ngời.
Ngày
thuộc về chiến binh, mặt trời thuộc về chiến binh. Chiến binh nghĩa là người cố
chinh phục người khác, người cố trở thành người khác. Đó là nỗ lực ngu xuẩn,
nhưng nó rẻ hơn. Dễ bắt ai đó khác làm nô lệ, bao giờ cũng dễ tìm ra ai đó yếu
hơn bạn, dễ áp đặt bản thân bạn lên ai đó.
Nhưng
nhà huyền môn, thiền nhân đi vào chiều hướng hoàn toàn khác - người đó đi vào
trong lãnh thổ của mình. Người đó cố là người chủ của bản thân mình, không phải
là người chủ của người khác mà là chủ của bản thân mình - và điều đó là làm chủ
đúng. Nỗ lực đầu tiên là ngu xuẩn.
Và
thế giới đã bị chi phối bởi người lính trong hàng thế kỉ, đó là lí do tại sao
thế giới vẫn còn trong đống lộn xộn thế. Thế giới cần ngày một nhiều sannyasin
hơn bởi vì từng sannyasin đều trở thành mặt trăng: người đó biến đổi năng lượng
bạo hành của thế giới thành vũng năng lượng mát mẻ. Thế giới cần đầy các
sannyasin, chỉ thế thì chúng ta mới có thể có một thế giới quên đi cách thức
chiến tranh và học ngôn ngữ của an bình và tình yêu. Thế giới cần nhiều
sannyasin như những người biến đổi năng lượng.
Đó
đích xác là điều được ngụ ý bởi phật trường: nơi nhiều sannyasins ở cùng nhau
và tạo ra lực biến đổi lớn tới mức tất cả mọi loại năng lượng đi qua phật trường
đều trở nên mát mẻ, trở thành nữ tính, trở thành giống như hoa và ít như đá.
Chúng mất đi tính cứng rắn, chúng trở nên tinh tế - tinh tế như cánh hoa hồng.
Ban
đêm trăng chiếu sáng.... Đêm là thời gian của nhà huyền môn, ngày là thời gian
của chiến binh. Đêm đại diện cho thay đổi trong toàn thể bầu không khí. Dễ thiền
trong đêm hơn là trong ngày. Thiền gần với giấc ngủ hơn nhiều so với bất kì hoạt
động nào khác, chỉ với một khác biệt: trong giấc ngủ bạn rơi vào vô ý thức,
trong thiền bạn vẫn còn ý thức, nhưng với cùng thảnh thơi. Ban ngày khó ngủ; nếu
bạn muốn ngủ ban ngày bạn phải đóng cửa ra vào và cửa sổ và kéo mọi rèm để cho
nó thành tối. Nếu tia sáng mặt trời tới chúng sẽ không cho phép bạn ngủ; tia
sáng mặt trời kích hoạt năng lượng của bạn. Ban đêm giúp cho bạn thảnh thơi và
nghỉ ngơi. Đó là thời gian của nhà huyền môn.
Sannyasin
nên dùng thời gian ban đêm ngày một nhiều hơn cho thiền. Bạn có thể đi sâu hơn,
và dễ dàng, bởi vì gió đang thổi theo cách đó; bạn có thể đi cùng gió với ít nỗ
lực hơn. Ban ngày bạn đi ngược chiều gió. Ban ngày thiền tích cực là tốt; thiền
động là tốt vào ban ngày, thiền nhảy múa là tốt vào ban ngày. Nhưng ban đêm
Vipassana, thiền im lặng, chỉ ngồi và không làm gì, chỉ thảnh thơi bởi vì toàn
bộ bầu không khí là thảnh thơi.... Mặt trời đã xuống, cây đã rơi vào giấc ngủ;
năng lượng đang bao quanh bạn trong đêm mang phẩm chất hoàn toàn khác. Dễ dàng
thiền.
Phật
nói: người chủ sáng lên trong thiền trong đêm.
Với
"người chủ" ông ấy ngụ ý người đang cố là người chủ của bản thân
mình; với "chiến binh" ông ấy ngụ ý người đang cố là chủ người khác.
Nhưng một khi bạn đã đạt tới, một khi bạn đã trở nên chứng ngộ, thế thì không
có vấn đề về ngày và đêm, không có vấn để mặt trời và mặt trăng.
Nhưng
ngày và đêm Người đã thức tỉnh
chiếu
sáng trong rạng ngời của tâm linh.
Vị
phật, người thức tỉnh, người chứng ngộ chiếu sáng cả trong đêm và trong ngày;
không có khác biệt cho người đó. Một khi bạn đã trở nên thức tỉnh, thế thì chẳng
cái gì tạo ra khác biệt nào. Nhưng cho tới khi điều đó xảy ra, vẫn cứ dùng bầu
không khí đêm ngày một nhiều hơn cho thiền.
Và
khi trăng có đó trong đêm còn dễ thiền hơn nhiều. Đêm trăng tròn là tốt nhất
cho thiền. Nhiều người đã trở thành phật đều đã đạt tới chứng ngộ của họ vào
đêm trăng tròn, kể cả bản thân Phật. Điều đó có thể là sự trùng hợp, nhưng điều
có ý nghĩa cần nhớ: ông ấy đã được sinh ra vào đêm trăng tròn, ông ấy đã trở
nên chứng ngộ vào đêm trăng tròn và ông ấy chết vào đêm trăng tròn. Cái gì đó
trong trăng tròn dường như là đồng bộ với năng lượng của ông ấy.
Dùng
nó đi. Tỉnh táo và dùng mọi khả năng để giúp bạn đi vào trong. Một khi bạn được
thức tỉnh, thế thì không có vấn đề gì. Thế thì bạn có thể thoải mái, nghỉ ngơi,
an bình, ở bất kì đâu.
Ai
đó hỏi Phật Buddha, "Khi thầy chết thầy có lên cõi trời không?"
Phật
nói, "Đừng hỏi câu hỏi vô nghĩa. Bất kì chỗ nào vị phật ở cũng đều có cõi
trời rồi. Chư phật không lên cõi trời; bất kì chỗ nào vị phật tới, cõi trời đi
tới đó."
Điều
này gần với chân lí nhiều, đẹp hơn nhiều; chính phát biểu này là có ý nghĩa.
Không có vấn đề về người chứng ngộ đi lên thiên đường - người chứng ngộ sống
trong thiên đường ở bất kì chỗ nào họ ở. Bạn có thể phái họ xuống địa ngục - nếu
có địa ngục - và địa ngục sẽ được biến đổi. Bằng chính hiện diện của họ địa ngục
sẽ trở thành phật trường. Bằng chính hiện diện của họ năng lượng của địa ngục sẽ
trải qua biến đổi.
Có
lần chuyện xảy ra:
Một
linh mục Ki tô giáo đang giảng đạo vào chủ nhật và ông ấy nói, "Những người
không tin vào Thượng đế và sống cuộc sống vô đạo đức sẽ xuống địa ngục; những
người tin vào Thượng đế và sống đạo đức sẽ lên cõi trời."
Một
người đứng lên và hỏi, "Một câu hỏi nảy sinh trong tôi. Câu hỏi là: Những
người không tin vào Thượng đế và sống cuộc sống đạo đức, họ sẽ đi đâu? Những
người tin vào Thượng đế và sống cuộc sống vô đạo đức, họ sẽ đi đâu?"
Linh
mục đâm lúng túng; ông ấy đã không nghĩ về điều đó. Câu hỏi này thật quỉ quyệt.
Ông ấy nói, "Cho tôi thời gian để cân nhắc về điều đó. Sau bẩy ngày tôi sẽ
trả lời, chủ nhật sau."
Bẩy
ngày đó thực sự là địa ngục cho ông ấy. Ông ấy cố gắng hình dung ra nó, nhưng
không thể hình dung ra nó được. Nếu ông ấy nói, "Những người không tin vào
Thượng đế nhưng đạo đức vẫn lên cõi trời," thế thì người này sẽ nói, "Sao phải tin vào Thượng đế? Sao phải bận
tâm về Thượng đế chút nào? Cứ sống đạo đức là đủ rồi." Ông ấy nghĩ,
"Và nếu mình nói những người không tin vào Thượng đế và sống đạo đức phải
xuống địa ngục, thì đạo đức mất mọi liên quan. Thế thì sao phải đạo đức? Cứ tin
vào Thượng đế là đủ. Tin vào Thượng đế và sống vô đạo đức là có thể được. Sao bỏ
lỡ cơ hội đó?" Ông lấy làm cho mình phát rồ, ông ấy không thể ngủ được.
Liên tục ông ấy nghĩ mãi và tra cứu sách vở, nhưng không câu trả lời nào tới.
Chủ
nhật tới; ông ấy dậy sớm chút ít để tới nhà thờ cầu nguyện Jesus. "Xin hãy
giúp tôi!" ông ấy cầu nguyện với Jesus. Cả đêm ông ấy đã không ngủ cho nên
trong khi ông ấy cầu nguyện ông ấy rơi vào giấc ngủ, và ông ấy mơ một giấc mơ đẹp,
một giấc mơ rất có ý nghĩa. Ông ấy thấy rằng mình đang trong chuyến tàu hoả.
Ông ấy hỏi tàu đi đâu và các hành khách khác nói, "Tàu này đi lên cõi trời."
Ông
ấy nói, "Điều này rất tốt! Đó là điều tôi muốn thấy - thấy bằng chính mắt
mình. Socrates chưa bao giờ tin vào Thượng đế, nhưng ông ấy đã sống cuộc sống đạo
đức. Phật chưa bao giờ tin vào Thượng đế, nhưng ông ấy đã sống một trong những
cuộc sống thuần khiết nhất. Mahavira chưa bao giờ tin vào Thượng đế, nhưng ai
có thể vượt qua được Mahavira trong cuộc sống đạo đức của ông ấy? Nếu mình có
thể tìm được ba người này, thế thì vấn đề được giải quyết; nếu mình không tìm
được họ ở đó, thế nữa vấn đề cũng được giải quyết."
Chuyến
tàu lên tới cõi trời; ông ấy rất đỗi ngạc nhiên. Nhìn cõi trời, ông ấy không thể
nào tin được vào nó - nó trông giống địa ngục hơn! Tất nhiên tấm biển nói nó là
cõi trời, nhưng nó đã không được sơn vẽ lại, dường như nhiều thế kỉ rồi. Bao
nhiêu bụi đã tụ lại, mọi thứ đều bẩn thỉu. Nó trông như sa mạc: không mầu xanh,
không cây cối, không hoa hồng, không hoa sen. Ông ấy bắt gặp vài thánh nhân
trông gần chết, bằng cách nào đó kéo lê bản thân họ. Bụi cũng đã tụ lên họ cứ
dường như họ đã quên cách tắm, cứ dường như chẳng ai tắm trên cõi trời.
Ông
ấy hỏi, "Socrates có đây không? Phật có đây không? Mahavira có đây
không?"
Những
thánh nhân đó nói, "Chưa bao giờ nghe nói tới những người đó."
Ông
ấy chạy xô tới văn phòng hướng dẫn. Ông ấy hỏi, "Có tàu nào đi xuống địa
ngục không?"
Họ
nói, "Có, tầu sắp đi ngay đây. Ông có thể đáp nó ngay bây giờ."
Và
ông ta xô lên tàu đi xuống địa ngục, và khi địa ngục tới gần hơn ông ấy lại
trong ngạc nhiên lớn: nhiều hương thơm thế, nhiều xanh tươi thế, nhiều hoa thế,
nhiều chim đẹp thế, và hót và nhảy nhót. Ông ấy nói, "Có chuyện gì thế nhỉ?"
Và mọi người trông vui vẻ thế, rạng ngời thế. Ông ấy hỏi mọi người về ga này,
"Đây có thực là địa ngục không? Đây mà là địa ngục à?"
Họ
nói, "Vâng, đây là địa ngục, và không ai có thể tin được đây là địa ngục.
Kể từ khi ba người - Socrates, Phật và Mahavira - tới, mọi thứ đã thay đổi. Họ
đã biến đổi toàn thể cảnh quan. Chỉ cái tên là địa ngục bây giờ - nó thực sự là
cõi trời. Và chỗ kia chỉ là cõi trời theo tên thôi; nó đã trở thành địa ngục."
Tôi
tuyệt đối đồng ý với giấc mơ này. Tôi có thể quán tưởng rằng cái gọi là thánh
nhân của bạn, dù họ ở đâu, đều sẽ tạo ra địa ngục. Nhưng nếu một người như Phật
hay Socrates hay Mahavira hay Jesus hay Lão Tử hay Zarathustra mà trong địa ngục,
thì địa ngục phải thay đổi. Vấn đề không phải là chỗ; vấn đề là ai ở đó.
Nhưng
ngày và đêm Người đã thức tỉnh
chiếu
sáng trong rạng ngời của tâm linh.
Bạn
có thể nói địa ngục hay cõi trời... Người đã thức tỉnh chiếu sáng trong rạng ngời
của tâm linh. Dù người đó ở bất kì đâu, người đó đều tạo ra thế giới mới, người
đó tạo ra năng lượng hoàn toàn mới. Người đó là người biến đổi giả kim thuật.
Đầu
tiên, đừng là người lính, hãy là sannyasin, bởi vì đó là cách một ngày nào đó bạn
có thể trở thành chư phật. Đi tới việc tự làm chủ. Dùng mọi phương cách, phương
pháp, để trở thành người chủ cái ta của riêng bạn. Và thế rồi một ngày nào đó,
khi tâm trí đã biến mất với mọi ảo tưởng của nó và bạn đã đạt tới sáng tỏ, khi
bạn có thể thấy cái đang đó như nó vậy, bạn là vị phật. Thế thì bất kì chỗ nào
bạn ở cũng đều có thiên đường.
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment