Osho
- Kỉ luật của siêu việt – Tập 4
Chương
7. Mười nền đất của Đạo
Phật
hỏi một sư: ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào?
Sư
đáp, "theo ngày."
Phật
nói: Ông không hiểu đạo.
Phật
hỏi một sư khác: ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào?
Sư
đáp, "bằng thời gian trôi qua trong một bữa ăn."
Phật
nói: Ông không hiểu đạo.
Phật
hỏi sư thứ ba: ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào?
Sư
đáp, "bằng hơi thở."
Phật
nói: Rất tốt, ông biết đạo.
Phật
hỏi một sư: ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào?
Sư
đáp, "theo ngày."
Câu
hỏi rất đơn giản, và câu trả lời rất đơn giản. Nhưng nhiều điều được ngụ ý
trong câu hỏi này. Và câu trả lời cũng chỉ ra nhiều điều về sư này - hiểu biết
của ông ta, trạng thái tâm trí của ông ta.
Khi
Phật hỏi, "Ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào?" ông ấy
đang nêu ra một câu hỏi chỉ có thể được trả lời bởi chiều sâu. Cuộc sống của
con người chỉ có thể được đo bằng chiều sâu. Điều đó có vẻ ngược đời: chiều dài
có thể được đo chỉ bằng chiều sâu.
Thực
tế, bạn càng sống sâu hơn, bạn càng sống lâu hơn. Chiều dài cuộc sống của bạn
phụ thuộc vào chiều sâu của bạn. Phẩm chất cuộc sống của bạn phụ thuộc vào phẩm
chất của bạn. Sư này có thể đã không hiểu được điều đó. Ông ta đơn giản nói,
"Theo ngày." Câu trả lời đơn giản của ông ta cũng chỉ ra nhiều điều về
bản thân ông ta. 'Theo ngày' nghĩa là theo thời gian; 'theo ngày' nghĩa là theo
cái phù du; 'theo ngày' nghĩa là theo luồng, theo việc thay đổi. Ông ấy đo cuộc
sống bằng cái tạm thời, không bằng cái vĩnh hằng, không bằng cái vô thời gian.
Cuộc
sống tồn tại theo thời gian, nhưng cuộc sống không thuộc vào thời gian. Nó
xuyên thấu thời gian, và một ngày nào đó nó biến mất khỏi thời gian. Nó cũng giống
như khi tia sáng mặt trời xuyên vào nước, và khi nó xuyên vào nước, góc của nó
thay đổi. Đó là lí do tại sao bạn cắm chiếc gậy thẳng vào nước nó sẽ có vẻ bị gẫy.
Nó sẽ trông không thẳng bởi vì góc của ánh sáng thay đổi. Và khi tia sáng đi
vào qua trung gian nước, nó không thuộc vào đó, nó đã đi từ cõi bên kia. Nó sẽ
quay lại, nó sẽ quay lại được phản xạ - bởi vì mọi thứ đều trở về nguồn của nó,
phải trở về nguồn của nó. Chỉ thế thì vòng tròn mới đầy đủ, và có mãn nguyện.
Khi
Phật hỏi: Ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào? và sư này đáp,
"Theo ngày," ông ta biểu lộ hiểu biết của mình. Ông ta không biết gì
bên ngoài thời gian; ông ta coi cuộc sống chỉ là cái chứa thời gian: được sinh
ra, xây dựng gia đình, sống, rồi tuổi già, rồi cái chết. Ngày cứ bật qua, giống
như con số nhảy trong máy bơm xăng.
Nhưng
điều này không phải là cuộc sống; điều này chính là cái rất ngoại vi. Bạn có
quan sát rằng nếu bạn nhìn vào bên trong, thời gian là không tồn tại không? Nếu
bạn nhìn ra bên ngoài thì có thời gian đấy, nhưng nếu bạn nhìn vào bên trong lại
không có thời gian. Đôi khi bạn không cảm thấy điều đó sao, khi ngồi im lặng với
mắt nhắm - rằng bên trong bạn chẳng có tuổi nào hết cả? Bên trong bạn vẫn còn hệt
như khi bạn là đứa trẻ, hay như khi bạn còn trẻ. Bên trong chẳng cái gì thay đổi
cả: khuôn mặt nhăn nheo theo thời gian, tóc điểm bạc, cái chết đang tới gần -
đây tất cả đều là hình dạng bên ngoài. Nếu bạn nhìn vào gương thế thì tất nhiên
có những dấu hiệu rằng nhiều thời gian đã trôi qua, rằng rất ít thời còn lại, rằng
chẳng chóng thì chầy bạn sẽ qua đi. Nhưng nhìn vào bên trong: chưa bao giờ có
thời gian ở đó. Bạn đích xác là hệt như bạn khi còn chạy trong vườn hay trên
bãi biển và nhặt đá mầu và vỏ sò. Nhớ lại mà xem...
Bên
trong bạn đích xác là cùng khoảnh khắc này nữa. Thời gian là ảo tưởng khi có
liên quan tới thế giới bên trong, bởi vì trong thế giới bên trong chẳng cái gì
đã thay đổi. Nó vẫn còn nguyên vậy, trạng thái của nó vẫn y nguyên.
Trong
thế giới bên trong thời gian đơn giản không có liên quan. Và cuộc sống là trong
thâm tâm. Nó tự bày tỏ nó ra bên ngoài, nhưng nó không thuộc vào bên ngoài. Nó
trào lên từ bên trong của bạn. Nó đi ra ngoài giống như gợn sóng, nó dao động
ra bên ngoài, nhưng nó nảy sinh từ cốt lõi bên trong nhất của bạn.
Khi
Phật hỏi: Ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào? trong một câu hỏi rất
đơn giản ông ấy đã hỏi một câu hỏi triết lí rất phức tạp nữa. Và sư này đã bị lừa.
Sư này nói, "Theo ngày." Nhưng không có ngày, không có đêm. Thời gian
là khái niệm tiện dụng, nó là cần cho thế giới bên ngoài. Khi bạn có một mình,
thời gian không được cần tới. Nó là mối quan hệ giữa bạn và người khác; nó là
khái niệm tương đối. Thử tìm, và bạn sẽ ngạc nhiên rằng khi tin vào thời gian bạn
đã tin vào ảo tưởng - bởi vì điều không tương ứng với thực tại bên trong của bạn
thì không thể là thực được.
Nó
cũng giống như tiền: nếu bạn đi ra chợ, tiền có giá trị. Nếu bạn đơn giản ngồi
một mình với tiền của mình, nó không có giá trị. Giá trị tới chỉ khi bạn trong
quan hệ với người khác, bởi vì giá trị chỉ là thu xếp giữa bạn và người khác.
Đó là lí do tại sao tiền lại có cái tên hay: nó được gọi là tiền lưu hành. ‘Lưu
hành' ngụ ý: khi tiền chuyển động thì nó có giá trị; khi nó không chuyển động
thì nó không có giá trị. Nếu bạn cứ giữ nó trong túi mình luôn luôn, nó là vô
nghĩa. Bạn có thể giữ bất kì cái gì khác thay cho nó; nó vẫn như cũ.
Tiền
có giá trị khi nó đổi qua tay. Từ tay này sang tay khác - thế thì có giá trị.
Giá trị là ở trong việc lưu hành của nó, một lực chuyển động. Khi nó đi từ bạn
sang ai đó khác nó có giá trị. Lần nữa, nếu nó mắc kẹt thì nó mất giá trị. Đó
là lí do tại sao người keo kiệt là người nghèo nhất trên thế giới: họ có tiền
nhưng họ không biết rằng tiền có giá trị chỉ khi nó là tiền lưu hành. Bạn có thể
giấu nó trong két kho báu của mình; bạn sẽ vẫn còn nghèo.
Thời
gian cũng là một loại tiền lưu hành giữa hai người, giữa các quan hệ, giữa các
xã hội. Nhưng trong thế giới bên trong, khi bạn một mình, nó đơn giản vô nghĩa.
Tất
cả các khái niệm về thời gian, nếu được nhìn sâu sắc, đều có vẻ rất ngu xuẩn.
Nhưng mọi người không nhìn sâu vào mọi sự bởi vì nhìn sâu tạo ra lo âu. Thế thì
bạn trở nên rất lo âu. Thế thì mọi sự không được ổn định, và bất kì khi nào cái
gì đó không được ổn định người ta lại cảm thấy lo âu. Người ta muốn được ổn định
lại.
Mọi
người nói thời gian trôi qua. Nhưng nó trôi đi đâu? Nó tới từ đâu? Bạn nói nó tới
từ tương lai và nó đi vào quá khứ sao? Điều đó nghĩa là tương lai tồn tại trước
khi nó đã trở thành hiện tại sao? Bằng không, thì nó tới từ đâu - từ không đâu
cả à? từ cái không à? Và thế rồi bạn nói nó đi vào quá khứ sao? Điều đó nghĩa
là nó cứ tụ tập trong quá khứ, nó vẫn có đó sao? Nó vẫn tồn tại sao? Thế thì
cái gì là khác biệt giữa hiện tại, quá khứ và tương lai, nếu chúng tất cả đều tồn
tại? Thế thì chúng tất cả đều là hiện tại. Thế thì không có quá khứ và không có
tương lai.
Bạn
nói khoảnh khắc đã trôi qua là quá khứ, và khoảnh khắc còn chưa tới là tương
lai. Bạn đứng trên đường, bạn đã bước đi được hai dặm; cái đó đã trôi qua.
Nhưng hai dặm đó vẫn tồn tại; bạn có thể nhìn lại, hai dặm đó vẫn đó. Và nếu bạn
muốn đi ngược lại bạn có thể đi ngược lại được. Nhưng bạn có thể đi ngược thời
gian được không?
Nhìn
lại - chẳng cái gì tồn tại cả. Ngoại trừ khoảnh khắc hiện tại này, về cả hai
phía đều đơn giản chí có khói, và không cái gì khác. Quá khứ đơn giản biến mất,
và tương lai xuất hiện từ cái không. Và thế rồi vấn đề nảy sinh: nếu ngay từ đầu
không có gì, và đến cuối cùng lại không có gì, thì làm sao có thể có cái gì đó ở
giữa hai cái không này? Điều đó là không thể được.
Thời
gian không phải là khái niệm hợp thức chút nào. Nó chỉ là tiện dụng. Nó được chấp
nhận, nó có tiện ích. Mọi sáng bạn tới lúc tám giờ sáng; nếu như không có thời
gian thì sẽ khó khăn. Khi nào bạn sẽ tới? Làm sao bạn xoay xở được? Và làm sao
có khả năng cho tôi gặp bạn? Điều đó sẽ thành khó khăn. Nhưng nhớ nó chỉ là sự
thu xếp, nó không phải là chân lí.
Chân
lí là vô thời gian. Thời gian là phát minh của con người, chân lí là vĩnh hằng.
Thực tế, thời gian không trôi qua, chúng ta trôi qua. Chúng ta tới và đi; thời
gian còn lại. Thế thì thời gian không phải là thời gian; thế thì nó là vĩnh hằng.
Phật
đang hỏi tất cả những điều này trong một câu hỏi đơn giản. Sư này nói,
"Theo ngày." Phật nói: "Ông không hiểu Đạo."
Hiểu
biết của con người là rất hời hợt. Chúng ta có thể gọi nó là hiểu biết ở mức độ
thân thể. Tất nhiên, thân thể có đồng hồ trong nó. Bây giờ các nhà khoa học gọi
nó là đồng hồ sinh học. Đó là lí do tại sao nếu bạn ăn mọi ngày vào một giờ, thời
gian ăn trưa của bạn, thế thì mọi ngày vào một giờ thân thể sẽ nói bạn đói.
Thân thể có đồng hồ. Bạn thực tế không cần nhìn vào đồng hồ. Nếu bạn nghe theo
thân thể mình, thân thể sẽ bảo bạn, "Bây giờ là lúc đi ngủ bởi vì mọi ngày
mình đi ngủ vào lúc này."
Và
bạn thậm chí có thể đặt báo thức vào đồng hồ thân thể mình. Khi bạn sắp đi ngủ
bạn có thể lặp lại tên mình nói to, ba lần. Nếu tên bạn là Rama, bạn có thể
nói, "Rama, nghe. Mình phải dậy lúc năm giờ sáng. Giúp nhé." Nói với
thân thể bạn và đi ngủ, và đích xác vào năm giờ sáng thân thể bạn sẽ đánh thức
bạn. Thân thể có đồng hồ. Đó là lí do tại sao mọi tháng, sau đích xác bốn tuần,
hai mươi tám ngày, kinh nguyệt lại xảy ra cho đàn bà. Thân thể quản lí rất
chính xác trừ phi cái gì đó đã đi sai với thân thể - thân thể đàn bà có thể có
rối loạn. Bằng không, nó đích xác hai mươi tám ngày. Nếu đồng hồ vận hành tốt
thì sẽ không bao giờ có vấn đề gì: hai mươi tám ngày nghĩa là hai mươi tám
ngày. Sau chín tháng thân thể sẵn sàng cho sinh ra đứa trẻ, đích xác sau chín
tháng. Nếu người đàn bà mạnh khoẻ và không có phức tạp trong thân thể cô ấy, nó
sẽ xảy ra đích xác vào thời điểm chín tháng hoàn thành. Thân thể mang đồng hồ
và vận hành cực kì hoàn hảo.
Thân
thể, tất nhiên, được đo theo ngày. Và thân thể biểu lộ mọi dấu hiệu của thời
gian trôi qua. Trẻ, già: bạn có thể thấy điều đó trong thân thể mình. Thân thể
mang toàn thể bản tiểu sử.
Hiểu
biết này của con người là rất vật lí, rất nông cạn.
Phật
hỏi một sư khác: ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào?
Sư
đáp, "bằng thời gian trôi qua trong một bữa ăn."
Hiểu
biết của ông ấy đi sâu thêm chút ít. Ông ấy ít vật lí hơn và nhiều tâm lí hơn.
Để tận hưởng bữa ăn bạn cần tâm trí, để mê mải bạn cần tâm trí, để có nhục dục
bạn cần tâm trí. Hiểu biết của người này có sâu hơn chút ít. Người đó đang nói
gì? Người đó đang nói rằng cuộc sống của con người được đo bằng vui thích, mê đắm,
nhục dục, những kinh nghiệm mà người đó đã thu thập trong cuộc sống của mình.
Người này đang nói, "Mình sống bao lâu không phải là vấn đề, mà vấn đề là
mình tận hưởng vui thích của cuộc sống được bao nhiêu."
Có
một câu chuyện về Nero, hoàng đế La Mã. Ông ta phải đã là đích xác cùng kiểu
nhà sư thứ hai này. Ông ta bao giờ cũng có hai ngự y đi cùng. Ông ta sẽ ăn, và
các ngự y sẽ giúp cho ông ta nôn ra. Thế rồi ông ta lại ăn nữa. Bạn không thể cứ
ăn mãi được; có giới hạn. Cho nên khi ông ta cảm thấy rằng bây giờ dạ dầy đầy rồi,
ông ta sẽ ra lệnh cho ngự y giúp ông ta nôn ra; thế rồi ông ta có thể ăn nữa.
Ông ta sẽ ăn mười, mười hai lần một ngày.
Và
đừng nghĩ rằng điều này là rất cường điệu: tôi đã bắt gặp vài người làm điều đó
đấy.
Có
một sannyasin: cô ấy bảo tôi cô ấy đã ở đây ít nhất hai năm rồi. Cô ấy nói,
"Tôi xấu hổ lắm, nhưng tôi phải nói với thầy rằng mọi ngày, khi tôi ăn,
tôi nôn ra ngay lập tức." Tôi nói, "Sao thế?" Cô ấy nói, "Để
cho tôi có thể ăn thêm. Nhưng thế rồi tôi lại nôn ra."
Bây
giờ việc nôn đã trở thành thói quen. Bây giờ cô ấy không thể chống lại được;
khi cô ấy ăn cô ấy phải nôn ra. Nó đã thành thói quen máy móc. Phải mất gần sáu
tháng để phá bỏ thói quen của cô ấy.
Nero
phải đã làm điều đó. Bình thường, bạn không thể nôn được nhưng bạn có thể cứ ăn
quá nhiều. Có những người sống để ăn. Ăn là tốt, ăn để sống là tốt, nhưng một
khi bạn bắt đầu sống để ăn thế thì bạn đang trong trạng thái rất lẫn lộn. Ăn là
phương tiện, không phải là mục đích.
Sư
này nói, "Bằng thời gian trôi qua trong một bữa ăn."
Ông
ấy phải đã là một kẻ háu ăn. Ông ấy phải đã hiểu chỉ một ngôn ngữ, và đó là
ngôn ngữ của nếm. Ông ấy phải đã là người nghiện thức ăn. Ông ấy nói rằng nếu
chúng ta có thể đếm cuộc sống thực, thế thì cuộc sống thực nghĩa là những khoảnh
khắc mà chúng ta tận hưởng, mê đắm. Nó có thể là thức ăn, nó có thể là dục, hay
sự vừa lòng khác. Nhiều người thuộc vào kiểu này. Triết lí của họ thuộc vào kiểu
đó. Triết lí của họ dường như là: Ăn, uống, vui vẻ - và không có gì khác trong
cuộc sống.
Đã
từng có một triết gia lớn ở Ấn Độ, Charvak. Đây là thông điệp của ông ấy cho đệ
tử của mình: "Ăn, uống, và vui vẻ. Và đừng bận tâm về cuộc sống khác, về
linh hồn, và Thượng đế. Điều này tất cả đều vô nghĩa. Đây chỉ là những lí thuyết
do các tu sĩ bịa ra để bóc lột các ông." Ông ấy là người Mác xít đầu tiên
đấy. Marx tới sau ba nghìn năm; ông ấy là người Mác xít đầu tiên, người cộng sản.
Nhưng
nếu cuộc sống mà chỉ có ăn, uống, mê đắm, thế thì nó không thể có nghĩa gì cả.
Đó là lí do tại sao ở phương Tây một vấn đề mới đã trở thành rất, rất quan trọng,
và vấn đề là: ý nghĩa cuộc sống là gì? Tất cả những người thông minh đều đang hỏi
điều đó ở phương tây. Tại sao? Không ai hỏi điều đó ở phương đông; nhưng ở
phương Tây vấn đề này đã trở thành gần như là bệnh dịch. Nó không còn mang tính
hàn lâm nữa; mọi người đều đang hỏi ý nghĩa của cuộc sống là gì. Và họ hỏi vào
sai thời điểm - khi họ có đủ ăn, đủ uống, và đủ vui vẻ. Sao họ hỏi câu hỏi này?
Thực
tế, khi bạn có tất cả mọi thứ mà thế giới này có thể cho bạn, thế thì nảy sinh
câu hỏi, "Ý nghĩa của nó là gì?" Hôm qua bạn đã ăn, hôm nay bạn đang
ăn, ngày mai bạn cũng sẽ ăn - vậy vấn đề là gì? Ăn và thải ra: một đầu bạn cứ tọng
vào mình, và đầu kia bạn cứ làm trống rỗng bản thân mình. Đây là toàn thể cuộc
sống của bạn sao? Và ở giữa có chút ít vị trên lưỡi...
Điều
đó dường như ngớ ngẩn. Nỗ lực này dường như là quá nhiều, và kết quả dường như
chẳng là gì, gần như không có gì.
Con
người cần có ý nghĩa, nhưng ý nghĩa chỉ có thể tới từ chỗ cao hơn. Ý nghĩa bao
giờ cũng tới từ cõi bên kia. Chừng nào bạn còn chưa cảm thấy có quan hệ với cái
gì đó cao hơn, bạn cảm thấy vô nghĩa. Bởi vì Nietzsche đã nói, "Thượng đế
chết rồi," ông ấy đã mở cánh cửa cho nhiều hiện tượng xấu. Chẳng hạn, chủ
nghĩa quốc xã, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, trở thành có thể. Bởi vì
một khi không có Thượng đế, cánh cửa đó bị đóng lại tại chỗ con người bao giờ
cũng cảm thấy ý nghĩa trong cuộc sống của mình.
Ý
nghĩa nảy sinh khi bạn cảm thấy rằng bạn là một phần của bình diện thiêng liêng
và bạn cảm thấy rằng bạn là một phần của luồng chảy thiêng liêng. Khi bạn cảm
thấy rằng bạn là một phần của cái toàn thể vĩ đại, thế thì bạn có ý nghĩa. Viên
gạch trong bản thân nó không có nghĩa, nhưng khi nó trở thành một phần của cung
điện lớn, một phần của Taj Mahal, thì nó có nghĩa. Nó đã đóng góp cái gì đó cho
cái đẹp của Taj Mahal; nó không vô tích sự, nó có ý nghĩa.
Khi
Thượng đế không có đó thì con người bắt đầu tìm ý nghĩa cho cuộc sống của mình:
trở thành một phần của đảng - Đảng Cộng sản vĩ đại, hay Đảng Phát xít vĩ đại.
Trở thành một phần... thế thì Stalin và Adolf Hitler trở thành thượng đế. Thế
thì bạn nắm tay họ để cho bạn có thể cảm thấy chút ít ý nghĩa - rằng bạn không
một mình, rằng bạn không chỉ là ngẫu nhiên, rằng bạn có sứ mệnh nào đó để hoàn
thành. Có thể bạn ở đây để đem chủ nghĩa cộng sản tới thế giới này, đem xã hội
phi giai cấp tới thế giới này; hay bạn ở đây để đem tới vương quốc của người
Aryans. Thế thì người ta trở thành một phần của tôn giáo Hindu, thành Ki tô
giáo, Mô ha mét giáo. Người ta tìm cách nào đó, ở đâu đó, để trở thành một phần
của cái gì đó. Và mọi người làm bất kì cái gì ngu xuẩn: mọi người trở thành
thành viên câu lạc bộ Rotarian và Lions chỉ để có cảm giác rằng họ là một phần
của một tổ chức quốc tế. Bạn là người được chọn theo cách nào đó, bạn là người
phục vụ cộng đồng và bảo vệ hoà bình Rotarian; mọi người không thể là người
Rotarian được. Chỉ rất ít người mới có thể là người Rotarian, nhưng bạn là người
Rotarian. Cho nên bạn có ý nghĩa, nhưng ý nghĩa ngu xuẩn làm sao! Có thành vấn
đề gì liệu bạn là người Rotarian hay không? Điều đó thực sự không đem tới ý
nghĩa cho cuộc sống của bạn, nó đơn giản lừa dối bạn.
Bạn
có thể ăn tốt, bạn có thể sống tốt, bạn có thể có tất cả mọi vui thích của cuộc
sống - dầu vậy bạn sẽ vẫn còn trống rỗng. Người này, sư thứ hai này, nói rằng
cuộc sống được đo bằng thú vui, bằng mê mải, bằng nhục dục. Nhưng Phật nói: Ông
không hiểu Đạo - bởi vì Đạo không thể được hiểu bằng tâm trí hướng thân thể, và
Đạo không thể được hiểu bởi tâm trí hướng tâm trí. Cả hai loại tâm trí này đều
không thể hiểu được Đạo qua thời gian, cả hai cũng không thể hiểu được Đạo qua
kinh nghiệm.
Đạo
là ở bên ngoài thời gian và bên ngoài kinh nghiệm.
Phật
hỏi sư thứ ba: ông đo chiều dài cuộc sống con người như thế nào?
Sư
đáp, "bằng hơi thở."
Phật
nói: Rất tốt, ông biết đạo.
Bây
giờ, trong bản dịch tiếng Anh, nói 'bằng hơi thở' dường như không có ý nghĩa
nhiều như nó đã xuất hiện với Phật khi sư này nói, "Bằng prana (sinh lực,
khí)." 'Hơi thở' là việc dịch cho 'prana', nhưng prana còn có ý nghĩa hơn
nhiều so với hơi thở. Việc dịch thực tế, gần với chân lí hơn, sẽ là 'tâm linh',
không phải là 'hơi thở'. Và từ 'tâm linh' tồn tại trong những từ như việc 'thở
vào', 'thở ra'. 'Tâm linh' dường như gần nhà hơn, nhưng dầu vậy vẫn không đích
xác đúng. Cho nên để tôi giải thích cho bạn prana là gì; thế thì bạn sẽ có khả
năng hiểu được. Bằng không nó có vẻ chút ít ngớ ngẩn: người này nói, "Bằng
hơi thở," và Phật nói: Rất tốt, ông biết Đạo. Người này chỉ nói, "Bằng
hơi thở."
Điều
thứ nhất: nếu bạn nhìn vào bản thân mình, bạn sẽ thấy không có ai cả; vòng tròn
thứ nhất quanh bạn, vòng tròn bên ngoài nhất. Thế rồi có tâm trí bạn: vòng tròn
thứ hai bên trong vòng tròn thứ nhất. Và thế rồi bạn sẽ đi tới chiếc cầu: chiếc
cầu đó là hơi thở của bạn, prana. Bằng chiếc cầu đó bạn được nối với linh hồn.
Đó là lí do tại sao khi một người dừng thở chúng ta nói người đó chết, chiếc cầu
bị gẫy. Bây giờ linh hồn là tách rời và thân thể là tách rời. Khi đứa trẻ được
sinh ra điều đầu tiên người ta trông đợi ở nó là việc thở. Qua việc thở linh hồn
và thân thể trở nên được nối với nhau. Và lần nữa, điều cuối cùng nó sẽ làm khi
nó chết sẽ là dừng việc thở. Lại sẽ có sự chia li; thân thể và linh hồn sẽ tách
rời.
Prana
là cây cầu, chất keo qua đó bạn được gắn lại. Con người có thể sống không có thức
ăn trong nhiều ngày; bạn có thể sống không có nước trong nhiều giờ; nhưng không
thở bạn không thể sống thậm chí trong vài phút. Ngay cả vài giây cũng dường như
là khó.
Việc
thở là cây cầu giữa vật chất và phi vật chất, giữa hình dạng và vô hình dạng,
giữa thế giới và Thượng đế - hay bất kì thuật ngữ nào bạn chọn. Hơi thở là cây
cầu, và nhiều thứ phụ thuộc vào hơi thở. Cách bạn thở, phẩm chất nào của prana
của bạn: nhiều điều phụ thuộc vào nó.
Quan
sát xem... khi bạn giận dữ bạn thở theo một cách, khi bạn im lặng bạn thở theo
cách khác. Xung động khác, nhịp điệu khác, phẩm chất khác. Khi bạn giận dữ hơi
thở của bạn không có nhịp điệu, không có âm nhạc, không có hài hoà. Nó gập ghềnh.
Khi bạn đang trong đam mê, trong đam mê dục, lần nữa hơi thở lại lên cơn sốt.
Nó không trong hoà điệu; cái gì đó đi sai với việc thở. Khi bạn đang ngồi im lặng,
chỉ an bình, không làm gì cả - không ham muốn, không đam mê, không giận dữ - chỉ
đầy từ bi, đầy tình yêu, việc thở của bạn rất ôn hoà. Việc thở của bạn có nhịp
điệu của nó, có điệu vũ của nó. Nó không có bạo hành, không hung hăng; nó rất
tinh tế.
Bạn
có quan sát điều đó không? - khi bạn đang trong đam mê hơi thở của bạn sẽ có
mùi rất khó chịu của nó; khi bạn an bình hơi thở của bạn sẽ có mùi rất thơm của
nó. Bởi vì bạn đang thoải mái, toàn thể bản thể đang thoải mái, bạn ở nhà; việc
thở sẽ mang thông điệp rằng bạn ở nhà.
Có
những khoảnh khắc của thiền sâu sắc khi việc thở gần như dừng lại. Tôi nói gần
như; nó không dừng thật. Nhưng nó trở thành im lặng tới mức bạn không thể cảm
thấy nó. Bạn có thể cảm thấy nó chỉ nếu bạn để chiếc gương sát mũi mình. Thế
thì trên chiếc gương bạn có thể cảm thấy nó; bằng không bạn không thể cảm thấy
nó được. Đó là những khoảnh khắc hiếm hoi của ân huệ và phúc lành.
Tất
cả hệ thống Yoga của thế giới đều làm việc trên việc thở, bởi vì chính là qua
việc thở mà bạn sẽ chuyển từ thân thể sang phi thân thể. Chính là qua việc thở
mà bạn sẽ đi vào trong cốt lõi bên trong nhất của sự tồn tại của mình.
Sư
này là phải khi ông ấy nói, "Cuộc sống con người được đo bằng cách người
đó thở, bằng cách thức người đó thở." Nếu bạn sợ, việc thở của bạn khác; bạn
bực dọc, việc thở của bạn khác; bạn buồn, việc thở của bạn khác. Với mọi tâm trạng
việc thở của bạn đều thay đổi. Việc thở cứ biểu lộ ra bạn đang ở đâu. Nếu bạn
có thể quan sát việc thở của mình, bạn sẽ học toàn thể bảng chữ của những bầu
khí hậu thay đổi bên trong bạn. Bạn có thể thấy tất cả các tâm trạng được phản
chiếu trong việc thở. Việc thở là cách lớn lao để đo bạn đang ở đâu, bạn là gì,
bạn đang làm gì. Phật nhấn mạnh vào việc thở rất nhiều. Và nhấn mạnh của ông ấy
là duy nhất: nó rất khác với Patanjali, nó rất khác với Hatha Yoga, nó rất khác
với các hệ thống khác, tất cả các hệ thống khác. Ông ấy nói: Đừng dùng bất kì hệ
thống nào cho việc thở, bởi vì nếu bạn làm cái gì đó với việc thở, bạn sẽ tạo
ra cái gì đó nhân tạo. Cứ để việc thở được tự nhiên - bạn đơn giản quan sát nó.
Bạn không làm gì cho nó, bạn đơn giản là nhân chứng, bạn đơn giản nhìn vào nó.
Bây
giờ, nếu bạn quan sát việc thở, dần dần bạn sẽ thấy rằng bạn khác với việc thở.
Chắc chắn - bởi vì người quan sát không thể là cái được quan sát, chủ thể không
thể là đối thể, người theo dõi không thể là cái được theo dõi.
Khi
bạn bắt đầu quan sát việc thở của mình - và Phật nói liên tục làm điều đó: bước
đi, ngồi, bất kì khi nào bạn không làm gì khác, chỉ quan sát việc thở của mình,
cứ nhìn nó - bằng việc thấy nó, chân thành lớn lao sẽ nảy sinh trong bạn. Bởi
vì bạn sẽ đứng đằng sau việc thở, và đằng sau việc thở là linh hồn bạn; bạn sẽ
được định tâm trong linh hồn mình.
Và
nếu bạn quan sát việc thở, bạn sẽ học: những thay đổi tinh tế trong việc thở chỉ
ra nơi bạn đang ở, và việc thở liên tục vận hành như chiếc cần đo. Hơi chút
thay đổi trong việc thở sẽ được chú ý khi nhận biết đầy đủ. Và bạn có thể vứt bỏ
ngay lúc ấy: bạn có thể trở nên tỉnh táo hơn. Nếu bạn cảm thấy việc thở của
mình đang vẩn vơ một chút, và bạn cảm thấy rằng việc vẩn vơ này là vẩn vơ tới
khi dục chiếm quyền sở hữu, thế thì đó là lúc trở nên nhận biết hơn. Và nếu việc
thở vẩn vơ này lắng đọng lại, bạn đã vượt qua. Ham muốn đó, cái đã sở hữu bạn,
nay sẽ không thể sở hữu được bạn. Dần dần, bạn trở nên nhận biết về kiểu thay đổi
nào xảy ra trong việc thở khi bạn trở nên giận dữ. Chúng tinh tế tới mức nếu bạn
có thể trở nên nhận biết khi việc thở hơi thay đổi thì chúng có thể bị vứt bỏ từ
đó - bởi vì chúng đúng là trong hạt mầm và hạt mầm có thể bị vứt bỏ một cách dễ
dàng. Khi chúng trở thành cây lớn thì rất khó vứt bỏ chúng. Bạn trở nên nhận biết
về giận dữ chỉ khi nó đã sở hữu bạn. Chẩn đoán của bạn quá chậm.
Ở
nước Nga Xô viết họ đã phát triển một cách chụp ảnh mới; họ gọi nó là Kirlian.
Và bây giờ các nhà chụp ảnh Kirlian nói rằng chúng ta có thể bắt được bệnh tật
từ sáu tháng trước khi nó thực sự xảy ra cho một người. Và nếu điều đó có thể
được thực hiện, thế thì sẽ không có nhu cầu bất kì ai phải bị ốm. Bản thân người
đó không nhận biết rằng mình sẽ thành nạn nhân của bệnh lao trong sáu tháng.
Làm sao bạn có thể nhận biết về điều đó được? Nhưng trước khi nó đi vào thân thể,
trước hết nó đi vào prana. Trước khi nó đi vào thân thể, trước hết nó đi vào
năng lượng của bạn. Họ có thể gọi nó là 'bioplasma' trong tiếng Nga; nó đích
xác điều chúng ta ngụ ý bởi prana - bioplasma: lực sống của bạn, điện thân thể
của bạn.
Trước
hết nó đi vào trong điện thân thể, và thế rồi phải mất sáu tháng để đi vào hiện
tượng vật lí. Thế rồi nó trở thành cứng rắn trong thân thể. Thế thì đã quá trễ
rồi. Khi bạn bắt đầu chữa trị nó, thì đã quá trễ rồi. Nếu bạn có thể bắt được
nó khi nó còn trong bioplasma, bạn có thể tiêu diệt nó rất, rất dễ dàng. Sẽ
không có vấn đề trong nó. Và thân thể sẽ không bao giờ phải chịu đựng, thân thể
thậm chí không biết về nó.
Phật
nói rằng bất kì cái gì đi vào trong bioplasma trước hết nó xảy ra trong việc thở
của bạn. Bất kì cái gì xảy ra cho thân thể bạn, cho tâm trí bạn, trước hết xảy
ra cho việc thở của bạn. Có thể một ngày nào đó các nhà nhiếp ảnh Kirlian sẽ có
khả năng phát hiện lại sự kiện rằng có mối liên kết nào đó giữa xung của
bioplasma và việc thở. Nó phải là như vậy - bởi vì khi bạn thở sâu bạn có hào
quang lớn hơn. Điều đó đã được chụp ảnh. Khi bạn thở sâu bạn có nhiều ô xi hơn
và nhiều năng lượng tuôn chảy hơn, và thân thể bạn có hào quang lớn hơn, chói
sáng hơn cho nó. Khi bạn thở theo cách đờ đẫn, toàn thể phổi bạn không đầy ô xi
và bạn cứ mang nhiều các bô nic tù đọng; thế thì hào quang của bạn co lại và trở
thành rất nhỏ.
Người
thực sự sống có hào quang rất lớn, lớn tới mức khi người đó tới gần bạn thì hào
quang của người đó chạm vào hào quang của bạn. Và bạn sẽ cảm thấy nó: có những
người mà ở cùng với họ bạn đột nhiên cảm thấy rằng bạn bị hấp dẫn, bị kéo lại.
Họ là không thể nào chống lại được, bạn cứ muốn tới gần họ, ngày một gần hơn.
Hào quang của họ đã chạm vào hào quang của bạn.
Thế
rồi có những người có hào quang gần chết, hào quang không tồn tại chút nào. Họ
đẩy ra, họ không hấp dẫn. Họ giống như người chết; không ai cảm thấy bị hấp dẫn
tới họ.
Phật
nói: Quan sát, trở nên nhận biết về việc thở của ông.
Yoga
của ông ấy được gọi là anapanasati yoga (an ban thủ ý yoga) - Yoga của việc
quan sát hơi thở đi vào và quan sát hơi thở đi ra. Ông ấy nói: Điều này là đủ.
Cho nên khi sư này nói, "Bằng hơi thở," Phật nói: Rất tốt, ông biết Đạo.
Đạo
của Phật có mười nền đất được gọi là bhumi - địa. Bhumi nghĩa là nền đất. Phật
đã nói rằng nếu bạn hiểu mười nền đất này, và nếu bạn thực hành mười nền đất
này, bạn sẽ đạt tới điều tối thượng. Và tôi muốn đi vào thập địa (bhumi) này,
mười nền đất này. Chúng rất thực tiễn.
Nền
đất thứ nhất là pamudita - hoan hỉ: nó nghĩa là vui vẻ. Bây giờ, bạn sẽ ngạc
nhiên. Mọi người có hiểu lầm về Phật và giáo huấn của ông ấy - họ nghĩ rằng ông
ấy là nhà tư tưởng rất buồn, bi quan. Ông ấy không phải vậy. Nền đất đầu tiên của
ông ấy là vui vẻ. Ông ấy nói: Chừng nào bạn còn chưa vui vẻ thì bạn sẽ không
bao giờ đạt tới được chân lí. Vui vẻ, hân hoan, lễ hội; đó là ý nghĩa của
pamudita.
Giống
như đoá hoa - cởi mở, nhảy múa trong gió thoảng, và vui vẻ. Chỉ vui vẻ mới có
thể đưa bạn tới bờ bên kia. Nếu bạn không vui vẻ, chính buồn của bạn sẽ vận
hành như tảng đá buộc quanh cổ bạn và sẽ nhấn chìm bạn. Mọi người không bị nhấn
chìm bởi bất kì cái gì khác ngoài buồn của họ và cái nhìn bi quan. Cuộc sống phải
là vui vẻ; thế thì cuộc sống trở thành tâm linh.
Nếu
nhà thờ của bạn mà buồn bã, thế thì nhà thờ đó tồn tại cho cái chết, không cho
cuộc sống. Nhà thờ, đền chùa, phải vui vẻ. Nếu bạn tới thánh nhân và ông ta
không có khả năng khôi hài, thì thoát khỏi ông ta đi, cẩn thận đấy. Ông ta có
thể giết bạn, ông ta sẽ chứng tỏ tính độc hại. Nếu ông ta không thể cười được,
thế thì bạn có thể chắc chắn rằng ông ta không biết chân lí là gì. Chân lí đem
tới khả năng khôi hài; chân lí đem tới tiếng cười; chân lí đem tới hạnh phúc
tinh tế, chẳng bởi lí do nào.
Pamudita
- hoan hỉ nghĩa là: vui vẻ không bởi lí do nào cả. Bạn đôi khi vui vẻ, nhưng điều
đó không phải là pamudita - bởi vì nó có lí do. Một ngày nào đó bạn thắng cuộc
thi và bạn rất sung sướng. Bạn sẽ làm gì? Nó sẽ không xảy ra mọi ngày đâu. Bạn
sẽ làm gì ngày mai? Hay bạn mới trúng xổ số và bạn rất sung sướng, nhưng điều
này sẽ không xảy ra mọi ngày đâu.
Một
hôm tôi thấy Mulla Nasruddin rất buồn, ngồi trên hành lang nhà mình. Tôi hỏi,
"Có chuyện gì thế Nasruddin? Sao anh lại trông buồn thế?"
Anh
ta nói, "Hai tuần trước một trong các bác của tôi chết và để lại cho tôi
năm mươi nghìn ru pi."
Thế
là tôi nói, "Điều này có gì mà buồn. Anh phải hạnh phúc chứ."
Anh
ta nói, "Vâng, tôi có hạnh phúc. Và thế rồi tuần tiếp lại ông bác khác mất
và để lại cho tôi một đống ru pi."
Thế
là tôi nói, "Sao anh lại buồn? Anh đáng phải nhảy múa chứ!"
Anh
ta nói, "Tôi biết. Nhưng bây giờ... chẳng còn ông bác nào nữa."
Điều
đó không thể xảy ra mọi ngày; các bác không thể chết...
Vui
vẻ của bạn, nếu nó có nguyên nhân, nó nhất định biến thành bất hạnh chẳng chóng
thì chầy. Nó đã trên đường rồi; quan sát xem. Nếu bạn có nguyên nhân để hạnh
phúc thì bạn đã lâm vào bất hạnh rồi - bởi vì nguyên nhân sẽ biến mất. Chỉ vui
vẻ không nguyên nhân mới có thể là của bạn; và thế thì không ai có thể lấy nó
đi được.
Chỉ
thánh nhân và người điên mới vui vẻ chẳng bởi nguyên nhân nào hết cả. Đó là lí
do tại sao lại có tương tự giữa người điên và thánh nhân, chút ít tương tự, chờm
lấp. Biên giới của họ chờm nhau. Cả hai là rất khác: thánh nhân có nhận biết,
người điên tuyệt đối vô nhận biết. Nhưng một điều là chắc chắn: cả hai đều hạnh
phúc chẳng bởi nguyên nhân nào.
Người
điên hạnh phúc bởi vì người đó vô nhận biết tới mức người đó không biết cách bất
hạnh; người đó vô ý thức tới mức người đó không thể tạo ra khổ được. Để tạo ra
khổ bạn cần chút ít ý thức. Và thánh nhân hạnh phúc bởi vì ông ta tràn đầy nhận
biết thế; làm sao ông ta có thể tạo ra bất hạnh được? Khi bạn đầy nhận biết bạn
tạo ra hạnh phúc cho bản thân mình, bạn trở thành nguồn hạnh phúc của mình.
Đó
là điều Phật ngụ ý bởi pamudita - hoan hỉ, và ông ấy nói đây là nền đất thứ nhất.
Nền
đất thứ hai là hồn nhiên (vimal - li cấu). Nó ngụ ý hồn nhiên, thuần khiết, đơn
giản.
Hồn
nhiên... nhớ từ này. Nếu bạn trở nên quá thông thái, bạn làm mất hồn nhiên. Nếu
bạn trở thành bác học, bạn làm mất hồn nhiên. Cho nên đừng cứ thu thập các đức
tin và hiểu biết, bằng không thì hồn nhiên của bạn sẽ bị biến chất. Nếu bạn
không biết, thì bạn không biết. Đơn giản nói, "Tôi không biết." Chấp
nhận dốt nát của mình và bạn sẽ hồn nhiên hơn. Và từ hồn nhiên, nhiều điều xảy
ra. Đừng bao giờ đánh mất tính trẻ con của bạn. Tôi không ngụ ý rằng bạn nên
ngây thơ. Ngây thơ và mang tính trẻ con là khác nhau hoàn toàn. Ngây thơ nghĩa
là vô trách nhiệm; mang tính trẻ con nghĩa là đơn giản, hồn nhiên, tin cậy.
Nền
đất thứ ba là pabhakari - phát sáng. Nó nghĩa là chói sáng, ánh sáng.
Cảm
thấy bản thân bạn là ngọn lửa, sống động cứ dường như bạn là ánh sáng bùng cháy
bên trong, đi với ngọn lửa bên trong. Làm bất kì cái gì bạn làm, nhưng bao giờ
cũng cảm thấy bản thân mình cứ dường như bạn được làm ra từ ánh sáng. Và dần dần
bạn sẽ thấy chói sáng nảy sinh quanh bạn.
Nó
đã có đó rồi! Nếu bạn giúp đỡ, nó sẽ nảy sinh - và bạn sẽ có hào quang.
Bây
giờ các nhiếp ảnh gia Kirlian thậm chí có thể chụp ảnh nó. Bây giờ nó rất dễ thấy.
Con
người được tạo nên từ điện sinh học; mọi thứ đều được làm ra từ điện. Điện dường
như là cấu phần cơ sở của tất cả. Hỏi nhà vật lí: họ nói vật chất không bao gồm
cái gì ngoài điện. Cho nên mọi thứ đều không là gì ngoài các công thức khác
nhau và tổ hợp của năng lượng. Và Phật nói: Con người là ánh sáng. Ánh sáng
nghĩa là điện.
Bạn
phản thừa nhận sự kiện này, bạn phải hợp tác với nó, và bạn sẽ trở thành ánh
sáng lớn - không chỉ lên bản thân bạn; bạn sẽ trở thành ánh sáng lên người khác
nữa. Và bất kì khi nào bạn đi đều sẽ có ánh sáng.
Đây
là pabhakari - phát sáng, nền đất thứ ba.
Nền
đất thứ tư là arsimati sống động (diệm huệ): rạng ngời, sống động, sinh khí.
Người
tìm kiếm tôn giáo không nên đờ đẫn và chết. Nhưng thông thường bạn sẽ thấy những
người này. Đó là lí do tại sao tôi lại quan tâm tới việc nói cho bạn về các nền
đất này - ngay cả Phật tử cũng đã quên.
Nếu
bạn nhìn sư Phật giáo, bạn sẽ thấy người nhợt nhạt, chết, đờ đẫn, ngủ, trong trạng
thái ngẩn ngơ, kéo lê bằng cách nào đó, mang gánh nặng cuộc sống bằng cách nào
đó, không quan tâm. Phật nói: rạng ngời, sống động, sinh khí; đây là nền tảng
thứ tư. Sống động bởi vì đấy là đôi cánh duy nhất mà bạn sẽ đạt tới chân lí. Nếu
bạn lờ phờ bạn bị mất hút.
Và
rạng ngời lên - bởi vì khi không có lo âu về tương lai và không có ham muốn về
tương lai, thế thì toàn thể năng lượng đều sẵn có cho bạn. Thế thì bạn có thể đốt
bó đuốc của mình từ cả hai đầu một lúc.
Nền
đất thứ năm là phiêu lưu sudurjaya (cực nan thắng). Nó ngụ ý tính phiêu lưu,
tính dũng cảm, thách thức, hoan nghênh. Bất kì khi nào có thách thức, đón chào
nó, đừng né tránh nó. Và bất kì khi nào có phiêu lưu, đừng chạy trốn. Vào cuộc
hành trình, vào chuyến đi.
Không
ai đã bao giờ đánh mất cái gì bởi việc mang tính phiêu lưu. Tôi không nói rằng
con đường của phiêu lưu đầy những hoa hồng - nó không phải vậy. Hoa hồng thưa
thớt và rải rác ở giữa, và có nhiều gai. Nhưng người ta trưởng thành, người ta
trở nên được kết tinh khi người ta chấp nhận cuộc sống của việc phiêu lưu.
Người
thường chấp nhận cuộc sống của an ninh, của không phiêu lưu: việc tốt, nhà tốt,
chồng tốt và con tốt - và mọi người đều được thoả mãn. Mọi người được thoả mãn
trong việc sống và chết một cách thoải mái, dường như thoải mái là mục đích.
Thế
thì họ không bao giờ trưởng thành, thế thì họ không bao giờ đạt tới bất kì đỉnh
cao nào, thế thì họ không bao giờ đạt tới điều Maslow gọi là 'hiện thực hoá'. Họ
vẫn còn chỉ là những khả năng. Cứ dường như hạt mầm đã chọn ẩn nấp trong nhà và
không sẵn sàng đi vào cuộc phiêu lưu rơi vào đất. Điều đó là nguy hiểm, bởi vì
hạt mầm sẽ phải chết. Điều đó là nguy hiểm, bởi vì hạt mầm không biết cái gì sẽ
xảy ra khi nó đã biến mất. Không hạt mầm nào đã bao giờ biết cái gì xảy ra sau
khi hạt mầm chết. Làm sao hạt mầm có thể biết được? Cây có thể xảy ra hoặc có
thể không xảy ra.
Phật
nói: sudurjaya - nhìn xa, sudur - cái ở rất xa, để cái đó là thách thức của bạn.
Đừng bị giới hạn vào cái thoải mái, vào cái quen thuộc, vào cái an ninh; không
đặt triết lí của bạn lên những hứa hẹn của công ti bảo hiểm cuộc sống. Có một
chút ít dũng cảm hơn, đi vào trong cái không biết.
Khi
bạn đi vào cái không biết, cái không biết đi vào bạn. Khi bạn sẵn sàng vứt bỏ
an ninh của mình, Thượng đế cũng sẵn sàng vứt bỏ các bí ẩn của ngài. Khi bạn sẵn
sàng trần trụi và sẵn có, Thượng đế cũng sẵn sàng trần trụi và sẵn có. Ngài đáp
ứng, ngài đáp ứng đích xác cho bạn. Ngài chưa bao giờ đi xa hơn bạn đi. Nếu bạn
đi tới ngài, ngài đi tới bạn; nếu bạn trốn đi, ngài cũng trốn đi, sudurjaya -
phiêu lưu.
Và
thế rồi nền đất thứ sáu: trực diện abhimukhi - hiện tiền - tính trực tiếp, tính
mặt đối mặt, tính đương đầu với cái đang đó. Abhimukhi - hiện tiền: trực tiếp mặt
đối mặt. Đừng bận tâm về quá khứ và đừng bận tâm về tương lai. Đối mặt với chân
lí khi nó tới, đương đầu với sự kiện khi nó tới, và không có chuẩn bị, với tính
trực tiếp.
Người
sống bằng chuẩn bị là người giả. Trong cuộc sống không có khả năng để diễn tập...
nhưng chúng ta tất cả đều sống qua diễn tập. Trước khi bạn về nhà bạn đã bắt đầu
chuẩn bị điều bạn định nói với vợ bạn. Bạn không thể trực tiếp ngay được sao? Bạn
không thể đợi đến khoảnh khắc khi vợ có đó, và để cái gì xảy ra thì xảy ra được
sao? Nhưng về nhà từ văn phòng bạn đang chuẩn bị: cô ấy sẽ nói gì, và bạn sẽ
nói gì để trả lời? Diễn tập... và thế rồi bạn bao giờ cũng bị che mờ bởi việc
diễn tập của mình. Bạn không thể thấy được cái đang đó. Bạn bao giờ cũng thấy
qua đám mây của mình. Những đám mây đó rất bóp méo.
Phật
nói: abhimukhi, trực tiếp - tỉnh táo và để có đáp ứng. Dù kết quả là bất kì cái
gì, đừng sợ nó. Mọi người bắt đầu diễn tập bởi vì họ sợ kết quả, cho nên họ muốn
lập kế hoạch mọi thứ. Có những người lập kế hoạch cho mọi thứ, mọi động tác đều
được lập kế hoạch. Thế thì cuộc sống tất nhiên là cuộc sống của diễn viên - nó
không thực, nó không đích thực, nó không đúng. Và nếu cuộc sống của bạn mà
không đúng, thế thì bạn không thể nào đi tới chân lí được.
Nền
đất thứ bẩy là durangama - viễn hành - đi xa, chấp nhận lời gọi của cõi bên
kia. Có cõi bên kia ở mọi nơi. Chúng ta được bao bọc bởi cõi bên kia. Cõi bên
kia đó chính là Thượng đế đấy; cõi bên kia đó phải được thấm vào. Nó là bên
trong, nó là bên ngoài; nó bao giờ cũng có đó. Và nếu bạn quên nó... nhưng
chúng ta vẫn thường quên, bởi vì rất không thoải mái, không thuận tiện, khi
nhìn vào cõi bên kia. Cứ dường như người ta nhìn vào vực thẳm, và người ta bắt
đầu run rẩy, người ta bắt đầu cảm thấy sốt. Chính nhận biết về vực thẳm và bạn
bắt đầu run rẩy. Không ai nhìn vào vực thẳm cả; chúng ta cứ nhìn theo hướng
khác, chúng ta cứ né tránh cái thực. Cái thực giống như vực thẳm, bởi vì cái thực
là cái trống rỗng lớn lao. Nó là bầu trời bao la không biên giới. Phật nói:
durangama - sẵn có cho cõi bên kia. Đừng bao giờ vẫn còn bị giới hạn trong các
biên giới, bao giờ cũng vượt qua biên giới. Làm ra biên giới nếu bạn cần chúng,
nhưng bao giờ cũng nhớ bạn phải bước ra. Đừng bao giờ làm ra sự tù túng.
Chúng
ta làm ra nhiều loại tù túng: quan hệ, đức tin, tôn giáo - chúng tất cả đều là
các tù túng. Người ta cảm thấy ấm cúng bởi vì không có gió hoang thổi. Người ta
cảm thấy được bảo vệ mặc dầu việc bảo vệ là giả, bởi vì cái chết sẽ tới và sẽ
lôi bạn vào cõi bên kia. Phật nói: Trước khi cái chết tới và lôi ông vào cõi
bên kia, đi theo cách riêng của ông.
Một
Thiền sư sắp chết. Ông ấy rất già, chín mươi tuổi. Bỗng nhiên ông ấy mở mắt ra
và ông ấy nói, "Giầy của ta đâu rồi?"
Và
đệ tử nói, "Thầy định đi đâu? Thầy có điên không đấy? Thầy sắp chết, và thầy
lang đã nói rằng không còn khả năng nào; còn vài phút nữa."
Ông
ấy nói, "Đó là lí do tại sao ta lại hỏi về giầy của ta: Ta muốn đi ra
nghĩa địa, bởi vì ta không muốn bị kéo lê. Ta sẽ bước đi theo cách của ta và ta
sẽ gặp cái chết ở đó. Ta không muốn bị kéo lê. Và ông biết ta - ta chưa bao giờ
dựa vào bất kì ai khác. Điều này sẽ là rất xấu, rằng bốn người sẽ khênh ta đi.
Không."
Ông
ấy bước ra nghĩa địa. Không chỉ thế, ông ấy đào huyệt riêng của mình, nằm vào
trong đó, và chết. Đây là điều Phật ngụ ý bởi durangama: dũng cảm chấp nhận cái
không biết, dũng cảm đi theo cách riêng của bạn và đón chào cõi bên kia. Thế
thì cái chết được biến đổi, thế thì cái chết không còn là cái chết nữa.
Con
người dũng cảm như vậy không bao giờ chết; cái chết bị thất bại. Con người dũng
cảm như vậy đi ra ngoài cái chết. Với người đi theo cách riêng của mình tới cõi
bên kia, cõi bên kia không bao giờ giống như cái chết. Thế thì cõi bên kia trở
thành việc đón chào. Nếu bạn đón chào cõi bên kia, cõi bên kia đón chào bạn;
cõi bên kia bao giờ cũng vọng lại bạn.
Nền
đất thứ tám là achala - bất động: định tâm, tiếp đất, bất động. Và Phật nói người
ta nên học được định tâm, bất động, tiếp đất. Bất kì cái gì xảy ra, người ta
nên học cách vẫn còn kiên định. Cứ để cho toàn thể thế giới đi vào biến mất, cứ
để cho toàn thể thế giới tan biến, nhưng vị phật sẽ cứ ngồi dưới gốc cây Bồ đề
của mình, bất động. Trung tâm của ông ấy sẽ không vẩn vơ, ông ấy sẽ không đi xa
khỏi trung tâm.
Thử
điều đó đi. Dần dần, bạn bắt đầu đi tới gần trung tâm của mình hơn. Và bạn càng
tới gần hơn, bạn sẽ càng cảm thấy hạnh phúc hơn, và vững chãi lớn lao sẽ nảy
sinh trong bản thể bạn. Mọi sự cứ xảy ra, nhưng chúng đang xảy ra bên ngoài;
không cái gì thấm vào trung tâm của bạn. Nếu bạn có đó, thì không cái gì tạo ra
khác biệt nào. Cuộc sống tới, cái chết tới, thành công, thất bại, ca ngợi và
xúc phạm, và đau đớn và vui thích - chúng tới và đi. Chúng tất cả đều trôi qua,
nhưng trung tâm chứng kiến bao giờ cũng còn lại.
Nền
đất thứ chín là thông minh sadhumati - thiên huệ: thông minh, nhận biết, lưu
tâm. Phật rất ủng hộ cho thông minh, nhưng nhớ rằng ông ấy không ngụ ý nó là
trí năng. Trí năng là thứ nặng nề, thông minh mang tính toàn bộ hơn. Trí năng
được vay mượn, thông minh là của riêng bạn. Trí năng mang tính logic, hợp lí;
thông minh còn hơn logic. Nó là siêu logic, nó là trực giác. Người trí năng chỉ
sống qua lí trí. Chắc chắn, lí trí có thể dẫn bạn tới điểm nào đó, nhưng bên
ngoài cái đó, linh cảm phải được cần tới.
Ngay
cả các nhà khoa học vĩ đại những người làm việc bằng lí trí cũng đi tới điểm mà
lí trí không có tác dụng, nơi họ chờ đợi linh cảm, tia chớp trực giác nào đó,
ánh sáng nào đó từ cái không biết. Và điều đó bao giờ cũng xảy ra: nếu bạn đã
làm việc cần mẫn với trí tuệ, và bạn không nghĩ rằng trí tuệ là tất cả, và bạn
sẵn có cho cõi bên kia, một ngày nào đó một tia sáng xuyên thấu vào bạn. Nó
không phải là của bạn; và vậy mà nó lại là của bạn bởi vì nó không là của ai
khác cả. Nó tới từ Thượng đế. Nó tới từ trung tâm bên trong nhất của bạn. Nó có
vẻ như là đang tới từ cõi bên kia bởi vì bạn không biết trung tâm của mình mang
trực giác.
Phật
dùng thông minh theo nghĩa của nhận biết, theo nghĩa của lưu tâm. Từ tiếng Phạn,
sadhumati, là rất hay. mati nghĩa là thông minh, còn sadhu nghĩa là trí huệ:
thông minh một cách trí huệ; không chỉ thông minh, mà thông minh một cách trí
huệ. Có những người có thể có lí nhưng lại không hợp lí. Hợp lí còn nhiều hơn
là có lí. Đôi khi người hợp lí sẽ sẵn sàng chấp nhận điều bất hợp lí nữa - bởi
vì người đó hợp lí. Người đó có thể hiểu rằng điều bất hợp lí cũng tồn tại. Người
có lí chẳng bao giờ có thể hiểu được rằng bất hợp lí cũng tồn tại. Người đó chỉ
có thể tin vào tam đoạn luận logic giới hạn.
Nhưng
có những điều mà không thể được chứng minh một cách logic, và vậy mà chúng vẫn
đấy. Mọi người đều biết chúng đấy, và chẳng ai đã bao giờ có khả năng chứng
minh chúng. Tình yêu có đó; không ai đã bao giờ có khả năng chứng minh nó là
gì, hay liệu nó có hay không. Nhưng mọi người đều biết - tình yêu có đó. Ngay cả
những người phủ nhận - họ không sẵn sàng chấp nhận bất kì cái gì bên ngoài
logic - ngay cả họ cũng rơi vào tình yêu. Khi họ rơi vào tình yêu thế thì họ
đang khó khăn, họ cảm thấy mặc cảm.
Nhưng
tình yêu có đó.
Và
không ai đã bao giờ được thoả mãn bởi một mình trí tuệ chừng nào trái tim còn
chưa được thoả mãn. Đây là hai cực bên trong bạn: cái đầu và trái tim.
Sadhumati nghĩa là: tổng hợp lớn lao của cả hai, cái đầu và trái tim. Sadhu
nghĩa là trái tim, còn mati nghĩa là cái đầu.
Khi
trái tim trí huệ được nối với thông minh sắc bén, thế thì có thay đổi lớn, biến
đổi. Đó chính là nhận biết tất cả là gì.
Và
nền đất thứ mười là Dharma-megha pháp vân: việc mưa rào ân huệ, trở thành đám
mây chân lí, tình yêu và ân huệ. Dharma-megha (pháp vân)...
Bạn
có quan sát rằng mới vài ngày trước đây đã có biết bao nhiêu đám mây mưa xuống,
mưa rào lên trái đất khát này không? Phật nói: Chừng nào ông còn chưa trở thành
việc mưa rào ân huệ thì ông sẽ không đạt tới điều tối thượng. Chín nền đất là để
chuẩn bị cho bạn. Nền đất thứ mười là việc bắt đầu chia sẻ; bạn bắt đầu mưa
rào.
Bất
kì cái gì bạn có được bạn phải chia sẻ; thế thì bạn sẽ được nhiều hơn. Bất kì
cái gì bạn có, bạn phải mưa rào, bạn phải trao nó cho người khác, bạn phải phân
phát nó. Tất cả mọi điều bạn đạt tới trong bản thể mình đều phải trở thành từ
bi của bạn. Thế thì bạn sẽ có được nhiều hơn. Bạn càng trở thành người tiêu
hoang phí năng lượng bên trong của mình, càng nhiều không gian sẽ được tạo ra để
Thượng đế giáng xuống bạn, để chân lí xuyên thấu vào bạn.
Đó
là lí do tại sao rất khó biết được chân lí và không chia sẻ nó. Điều đó là
không thể được! Mahavira vẫn còn im lặng trong mười hai năm, thế rồi bỗng nhiên
một ngày nào đó ông ấy bừng nở. Điều gì đã xảy ra? Trong mười hai năm ông ấy đã
im lặng; ông ấy phải đã đi vào trong chín nền đất. Thế rồi tới nền đất thứ mười;
ông ấy trở thành một pháp vân Dharma-megha: ông ấy trở thành đám mây của chân
lí và bắt đầu mưa rào.
Bạn
không thể làm gì được về nó. Nó cũng giống như đoá hoa nở ra và toả hương thơm
của nó theo gió. Nó cũng giống như ngọn đèn cháy và chiếu ánh sáng của nó khắp
xung quanh. Không cách nào để ngăn cản nó, bạn không thể keo kiệt về chân lí được.
Phật
đạt tới chân lí, thế rồi trong bốn mươi hai năm liên tục ông ấy đi từ chỗ này
sang chỗ khác - liên tục nói, liên tục nói điều đã xảy ra cho ông ấy. Một hôm
ông ấy được hỏi, "Thầy dạy chúng tôi im lặng nhưng thấy thì cứ nói
hoài."
Phật
nói: Ta phải nói để dạy các ông in lặng. Im lặng, để cho một ngày nào đó các
ông cũng có thể nói. Im lặng, bởi vì trong im lặng các ông sẽ thu được cam lồ.
Hoa
vẫn còn khép cho tới đúng thời điểm khi hương thơm đã sẵn sàng. Thế rồi nó nở
cánh hoa ra, không trước điều đó.
Im
lặng, nhận biết, mang tính phiêu lưu - một ngày nào đó tất cả chín địa này,
chín nền đất này, sẽ chuẩn bị bạn để trở thành đám mây. Thế thì bạn sẽ mưa rào
lên mọi người và bạn sẽ chia sẻ.
Chân
lí bao giờ cũng được chia sẻ theo những cách khác nhau. Meera nhảy múa; cô ấy
biết cách nhảy múa chân lí. Phật chưa bao giờ nhảy múa. Chaitanya hát; ông ấy
biết cách hát. Phật chưa bao giờ hát. Điều đó tuỳ vào từng cá nhân. Bất kì khả
năng nào bạn có, bất kì khả năng sáng tạo nào bạn có, khi chân lí tới trong bạn
nó sẽ tìm thấy khả năng của bạn, sáng tạo của bạn.
Mới
đêm hôm trước một sannyasin đã nói với tôi, "Khó lắm; tôi càng trở nên thiền,
tôi càng thích soạn nhạc." Anh ấy là nhà soạn nhạc và anh ấy đã dừng việc
đó. Bây giờ anh ấy nghĩ rằng điều này tựa như quấy rối: "Điều gì đang xảy
ra nhỉ? Bất kì khi nào mình cảm thấy thiền, ngay lập tức những ý tưởng lớn lại
nảy sinh trong mình và mình lại muốn soạn nhạc. Bây giờ, phải làm gì đây? Mình
có nên dừng nó lại không?"
Không
có nhu cầu dừng lại. Thiền đem sáng tạo của bạn tới bùng nổ. Bất kì cái gì ẩn
giấu bên trong bạn sẽ trở thành không che giấu; bất kì cái gì bạn mang bên
trong mình sẽ được hát ra, sẽ được nhảy múa - bất kì cái gì có đó. Bạn sẽ trở
thành một dharma-megha - pháp vân.
Ba
câu trả lời này từ ba sư chỉ ra ba kiểu hiểu biết: kiểu thân thể, kiểu tâm lí
và kiểu tâm linh. Hơi thở nghĩa là tâm linh - đó là lí do tại sao tôi gọi hiểu
biết thứ ba là tâm linh. Nếu bạn có hiểu biết thứ nhất thế thì mười nền đất này
là không dành cho bạn. Nếu bạn có kiểu hiểu biết thứ hai, thế nữa mười nền đất
này cũng không dành cho bạn. Nếu bạn có kiểu hiểu biết thứ ba, thế thì mười nền
đất này là dành cho bạn.
Và
chừng nào bạn còn chưa thể trở thành một Dharma-megha pháp vân, nhớ lấy, cuộc sống
của bạn là vô dụng. Bạn đã sống mà không có mục đích nào, bạn đã sống một cách
vô ích, không kết quả. Thực tế, bạn đã không sống; bạn chỉ dường như sống thôi.
Cho
nên suy tư về câu chuyện nhỏ này của Phật, việc hỏi của ông ấy, và các câu trả
lời... suy tư về nó đi. Tôi sẽ kể cho bạn vài giai thoại để chỉ cho bạn cách
chúng ta hiểu.
Một
mục sư hỏi một bé gái, nó nghĩ gì về buổi đi lễ nhà thờ đầu tiên của mình.
"Tốt,"
bé nói, sau khi suy nghĩ về chủ đề này một chốc, "âm nhạc hay, nhưng phần
thương mại dài quá."
Bây
giờ, một bé gái - bé chỉ biết cách xem ti vi; đó là hiểu biết của bé. Và bé biết
âm nhạc và thương mại. Trong nhà thờ bé nghĩ rằng buổi thuyết giảng là thương mại.
Bé nói, "Âm nhạc hay, nhưng phần thương mại dài quá."
Một
đôi cưới nhau được bốn mươi năm. Bà ấy quyết định đi kiểm tra toàn diện sức khoẻ
ở bệnh viện. Khi bà ấy về nhà, bà ấy cực sướng.
"Bác
sĩ nói em có sức khoẻ hoàn hảo," bà ấy ba hoa với chồng. "Thực tế,
ông ấy nói em có thể ấy mười hai lần một tháng."
"Tuyệt
vời!" chồng nói. "Bớt hai đi cho anh."
Bây
giờ nhà kinh doanh là nhà kinh doanh - "Bớt hai đi cho anh."
Hai
cái xác được đặt trong cùng một phòng ở nhà tang lễ. Một đêm khi mọi người đã
đi hết, một cái xác ngồi dậy và hỏi cái xác kia, "Cậu chết ở vì cái
gì?"
"Thuốc
lá," anh kia trả lời. "Tớ hút quá nhiều thuốc lá."
"Cậu
hút loại nào?"
"Raleighs,"
anh kia trả lời.
"Ít
nhất, cậu cũng tiết kiệm được cuống vé chứ?"
"Ồ
có! Cậu nghĩ thế nào về tớ có được cái quan tài này?"
Ngay
cả khi người ta chết họ vẫn tiếp tục. Một cách tự nhiên, điều tự nhiên là họ sẽ
tiếp tục quá khứ cũ của họ, cách hiểu cũ của họ, tính toán.
Buổi
trình diễn của các cô gái nhỏ phục vụ cho trại lính ở Việt Nam. Tại một tiền đồn,
mọi sự thu xếp đã được thực hiện để cho họ ăn trước khi ra đi.
"Tôi
nói," viên sĩ quan có trách nhiện nói. "Các cô có muốn ăn cùng các sĩ
quan không?"
"Đừng
bận tâm nếu chúng tôi làm điều đó, anh bạn thân," bà lãnh đạo nói,
"nhưng chúng tôi không thể có cái gì đó để ăn trước sao?"
Bây
giờ buổi trình diễn của các cô gái nhỏ là buổi trình diễn của các cô gái nhỏ...
Ngay cả từ cũng không mang nghĩa mà chúng có. Bạn gắn nghĩa vào trong chúng. Mỗi
lần bạn thốt ra một lời, quan sát; mỗi lần bạn nghe một lời, quan sát; mỗi lần
bạn làm một điệu bộ, quan sát - và bạn sẽ thấy rằng dù mức độ hiểu biết của bạn
là bất kì cái gì, nó đều được diễn đạt theo đủ mọi cách.
Ngồi
trong một tiệm ăn, một tu sĩ đang nhìn chăm chú vào sắc đẹp của một thiếu phụ
có anh bạn đi hộ tống. Một thường dân chơi khăm ông ta về mối quan tâm nữ giới
của ông ta.
"Chỉ
bởi vì tôi đang ăn kiêng thường xuyên không có nghĩa là thỉnh thoảng tôi không
thể nghiên cứu thực đơn!" tu sĩ nói.
Bên
trong của bạn - bị kìm nén, bị bác bỏ, bị ném vào tầng ngầm, cứ phản chiếu
trong các cách thức của bạn. Thậm chí thỉnh thoảng khi bạn né tránh cái gì đó,
thế nữa, trong chính né tránh của bạn mà hiểu biết của bạn được biểu lộ ra.
Câu
chuyện nổi tiếng về hai Thiền sư...
Lúc
sắp lội qua khúc sông cạn họ bắt gặp một người đàn bà, một người đàn bà rất trẻ
và đẹp. Cô ấy muốn qua sông nhưng cô ấy lại sợ. Thế là một sư cõng cô ấy trên
vai và đem cô ấy qua bờ bên kia. Sư kia nổi giận, sư kia hậm hực nói: "Điều
đó là cấm! Sư Phật giáo không được chạm vào đàn bà. Bây giờ điều này là quá thể.
Không chỉ chạm: hắn ta còn cõng người đàn bà này trên vai!" Sư kia vẫn cứ
im lặng, nhưng ông này sôi lên trong lòng.
Hàng
dặm đường trôi qua. Khi họ tới tu viện, khi họ đi vào cổng, sư kia quay lại sư
thứ nhất và nói, "Này, ta sẽ mách thầy đấy. Ta sẽ kể lại điều đó. Việc đó
là cấm!"
Sư
thứ nhất nói, "Ông nói cái gì thế? Cái gì cấm?"
Ông
kia nói, "Ông quên rồi sao? Ông đã cõng người đàn bà trẻ đẹp kia trên vai.
Phải không được chạm chứ!"
Sư
thứ nhất cười và ông ấy nói, "Vâng, tôi đã cõng cô ấy đấy, nhưng tôi đã bỏ
cô ấy trên bờ sông rồi, hàng dặm đằng sau. Ông vẫn còn mang cô ấy sao?"
Vâng,
sư kia vẫn còn mang cô ấy đấy.
Nhớ
rằng hiểu biết của bạn được biểu lộ theo mọi cách, và nếu bạn quan sát đúng,
chính việc quan sát của bạn sẽ đem bạn tới bước xa thêm.
Một
thuỷ thủ không may bị chìm tàu tại một hòn đảo hoang vắng Nam Thái Bình Dương.
May mắn là thức ăn và nước uống vẫn còn đầy, và thời tiết lại rất tốt. Thế là
anh ta sống sót tương đối thoải mái trong sáu tháng, sau thời gian đó, cực kì bị
kích động, anh ta phát hiện ra một con tàu nhỏ trên đường chân trời. Khi nó
trôi giạt tới mỗi lúc một gần hơn, anh ta có thể thấy rằng đó là chiếc bè cứu
sinh của một con thuyền có chứa một hành khách. Và khi bè tới gần hơn anh thấy
hành khách này là một phụ nữ trẻ. Cuối cùng chiếc bè cũng ghé lên bãi biển và
anh ta đi tới cô ấy. Cô ấy đẹp - cao và sinh động với tóc hung, người da trắng.
"Chào
cô! chào cô!" anh thuỷ thủ đơn độc đáng thương nói. "Cô cũng bị chìm
tàu sao?"
"Vâng,
tôi cũng bị chìm tàu," cô ấy đáp.
"Tôi
đã ở đây sáu tháng rồi," anh ta nói.
"Sáu
tháng à!" cô ấy kêu lên. "Ồ, thế thì tôi chắc chắn tôi đã lấy được
cái gì đó mà anh đã bỏ lỡ."
"Đừng
nói với tôi là cô đã kiếm được kẻ đồng dục nam với cô!" anh ta kêu lên vui
vẻ.
Ham
muốn riêng của bạn, hiểu biết riêng của bạn, tham lam riêng của bạn, bao giờ
cũng có đó trong từng đáp ứng, trong từng phản ứng. Nếu bạn quan sát kĩ bạn sẽ
trở nên nhận biết rằng bạn cứ đi bầy tỏ việc hiểu hay hiểu lầm của mình trong từng
khoảnh khắc cuộc đời bạn.
Câu
hỏi của Phật là rất đơn giản, và các sư đã trả lời có thể đã không nghĩ chút
nào rằng chúng có ý nghĩa siêu hình nào. Họ thậm chí đã cười vào những câu hỏi
buồn cười mà Phật đang hỏi họ. Nhưng với những câu hỏi rất đơn giản ông ấy đã gợi
ra tầng hiểu biết lớn lao của họ. Ý nghĩa của câu chuyện này là lớn. Tôi chưa
bao giờ hỏi bạn câu hỏi nào, nhưng câu hỏi mà bạn hỏi tôi là đủ. Chúng chỉ ra mọi
thứ về bạn. Khi tôi đọc câu hỏi của bạn, tôi ít quan tâm tới câu hỏi của bạn
hơn là tôi quan tâm tới người hỏi. Tôi quan tâm nhiều hơn tới người hỏi.
Đó
là lí do tại sao tôi lại cứ khăng khăng rằng bạn nên viết tên bạn dưới câu hỏi,
bạn nên kí lên nó - bởi vì câu hỏi trong bản thân nó không ngụ ý điều gì. Nó trở
thành có nghĩa chỉ khi tôi biết người hỏi là ai. Câu trả lời của tôi không dành
cho câu hỏi, mà dành cho người hỏi. Người này có thể hỏi một câu hỏi và tôi có
thể trả lời nó theo cách này, người khác hỏi đích xác cùng câu hỏi đó, với cùng
lời như thế, nhưng tôi sẽ không trả lời theo cùng cách - bởi vì câu hỏi không
phải là quan trọng, người hỏi mới quan trọng.
Câu
hỏi của bạn chỉ ra hiểu biết của bạn. Câu hỏi của bạn chỉ ra lẫn lộn của bạn.
Câu hỏi của bạn chỉ ra chỗ bạn đang ở. Và tôi phải trả lời cho bạn, bạn đang ở
đâu. Nhớ điều đó.
Trong
buổi tâm tình darshan điều đó xảy ra nhiều lần, và tốt hơn cả là bạn nên nhớ điều
đó. Nhiều người tới; ai đó hỏi một câu hỏi, những người khác nghe. Bạn được
phép nghe, nhưng những câu trả lời đó mà tôi đang trao cho người đặc biệt đó lại
không được trao cho bạn. Bằng không thì sẽ có hiểu lầm lớn.
Đôi
khi chuyện xảy ra là một người hỏi nói điều gì đó, tôi giải thích điều đó cho
anh ấy, tôi giúp anh ấy hiểu vấn đề của mình; người khác tới và anh ta nói,
"Đó đích xác là câu hỏi của tôi và thầy đã trả lời rồi." Tôi nói,
"Không, đừng bị lừa dễ dàng thế. Hai bạn là khác nhau thế. Thực tế, không
có hai người tương tự trên thế giới này, cho nên làm sao câu hỏi của các bạn có
thể tương tự được? Bạn hỏi câu hỏi của bạn, và quên điều tôi đã nói với người
kia đi."
Và
thế rồi nhiều lần mọi người trở nên phân vân, bởi vì họ thấy rằng tôi có thể tự
mâu thuẫn với mình.
Mới
đêm hôm nọ một người đã hỏi về nỗi sợ: "Tôi sợ." Tôi nói với anh ấy về
cái chết bởi vì tôi có thể thấy tại sao anh ta lại sợ. Cái chết ở trong mắt anh
ấy, cái chết bao quanh anh ấy, anh ấy bị cái chết theo như cái bóng. Tôi nói
nhiều về cái chết hơn về cái sợ, và anh ấy hiểu điều đó. Tôi nói với anh ấy,
"Chấp nhận cái chết và nỗi sợ sẽ biến mất."
Người
tiếp nói, "Bây giờ không có nhu cầu để hỏi. Tôi cũng có sợ hãi trong tôi
và thầy đã trả lời rồi." Tôi nhìn vào người này; nỗi sợ của anh ấy chẳng
có liên quan gì tới cái chết cả. Nỗi sợ của anh ấy là sợ đơn độc; nó là một chiều
hoàn toàn khác của sợ hãi. Và tôi nói, "Quên hết tất cả những gì tôi đã
nói với người kia đi. Đó không phải là câu hỏi của bạn và nó không được trả lời
cho bạn. Nói cho tôi biết về nỗi sợ của bạn." Và dần dần sự việc trở nên
rõ ràng rằng nỗi sợ của anh ấy chẳng liên quan gì tới cái chết cả. Nỗi sợ của
anh ấy là nỗi sợ về việc bị bỏ lại một mình; nỗi sợ rằng có thể sự một mình của
anh ấy bao giờ cũng còn lại ở đó.
Nỗi
sợ thứ nhất là sợ chết, nỗi sợ thứ hai là sợ về liệu tình yêu có xảy ra hay
không. Nỗi sợ của anh ấy có liên quan tới tình yêu - liệu anh ấy có bao giờ
cũng còn lại một mình hay không, hay sẽ có ai đó yêu anh ấy? Và anh ấy có khả
năng để yêu được không? Liệu có khả năng rằng anh ấy sẽ ở cùng với ai đó và vết
thương đơn độc thường xuyên này có biến mất không? Anh ấy không lo nghĩ về cái
chết, anh ấy lo nghĩ về cuộc sống. Nỗi sợ của anh ấy không liên quan tới cái chết,
nỗi sợ của anh ấy liên quan tới cuộc sống và mối quan hệ và trao đổi và giao cảm,
tình yêu. Họ khác nhau hoàn toàn, nhưng họ cả hai đều dùng từ 'sợ'.
Và
khi tôi cho câu trả lời khác cho người khác, một cách tự nhiên bạn có thể thu thập
tất cả các câu trả lời và bạn sẽ thấy: "Người này điên rồi!" Chúng sẽ
mâu thuẫn nhau. Chúng nhất định sẽ mâu thuẫn. Cách tiếp cận của tôi mang tính
cá nhân; cách tiếp cận của tôi là cá nhân-tới-cá nhân. Tôi cố gắng đặt quan hệ
với bạn như những cá nhân.
Trong
bài nói buổi sáng bạn có thể thiền về bất kì điều gì tôi nói, nhưng bất kì khi
nào bạn quyết định làm cái gì đó, hỏi đích thân tôi. Đừng quyết định điều đó
qua bài nói buổi sáng bởi vì các bạn quá đông, và tôi đang nói theo cách chung
chung. Bài nói buổi sáng chỉ để làm rõ các nguyên tắc cho bạn. Buổi tâm tình
darshan là để làm rõ thực hành cho bạn. Bài nói buổi sáng là để làm cho bạn nhận
biết rằng biết bao nhiêu khả năng đang có đó cho việc trưởng thành, và cách để
trưởng thành. Nhưng tôi lại không nói với các bạn một cách cá nhân, tôi không
thể nói thế được. Tâm tình (darshan) tới mức bạn có thể hỏi câu hỏi cá nhân, bạn
có thể tiếp cận tới tôi và bạn có thể thấy khuôn mặt bạn trong tấm gương của
tôi và tôi có thể nhìn thẳng vào mắt bạn. Bài nói buổi sáng mang tính triết lí
nhiều hơn, tâm tình buổi tối mang tính tôn giáo nhiều hơn.
Và
nếu bạn có thể nhớ khác biệt này, sẽ có ích lợi lớn lao từ nó, có hiểu biết lớn
lao từ nó.
Xem Chương 8 – Quay về Mục lục Tập 4


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment