Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 9)
Chương
8. Bản chất của mọi sự
Câu hỏi thứ nhất:
Thưa
thầy kính yêu,
Tôi
hiểu thầy nói rằng trí tuệ là rào chắn cho việc tự hiểu mình. Xin thầy giải
thích thêm thầy ngụ ý gì bởi điều này. Tôi đã rất quan tâm nghe bài giảng của
thầy trong vài ngày qua. Xa khỏi người không trí thức, họ có thể được mô tả như
người thành đạt về tri thức. Hơn nữa, nhà khoa học không thể vứt bỏ được việc
chia sẻ tri thức của mình, điều làm cơ sở cho đánh giá của ông ấy: chắc chắn
đánh giá của ông ấy phải khách quan. Tôi cảm thấy rằng tôi phải đã hiểu lầm thầy
rồi.
Richard,
tôi đã không nói gì chống lại thông minh, trí tuệ đâu, nhưng có chống lại đầu
óc máy móc đấy - và đó là hiện tượng hoàn toàn khác. Khi ai đó trở nên bị đồng
nhất với trí tuệ của mình, tính đầu óc được sinh ra; khi ai đó vẫn còn là người
chủ, không bị đồng nhất với trí tuệ của mình, thông minh được sinh ra. Trí năng
vẫn là một thôi. Toàn thể vấn đề phụ thuộc liệu bạn bị đồng nhất với nó hay bạn
vẫn còn siêu việt trên nó. Nếu bạn trở nên bị đồng nhất, đó là tính đầu óc; nếu
bạn vẫn còn không bị đồng nhất, đó là thông minh.
Thông
minh có tầm quan trọng vô cùng; tính đầu óc là rào chắn. Tính đầu óc là rào chắn
ngay cả trong thế giới của khoa học. Nhiều nhất tính đầu óc có thể cho bạn
thành học giả, con người của lời nói, cứ chăng tơ, thêu dệt các hệ thống tư tưởng
mà chẳng bản chất chút gì.
Trong
nỗ lực khoa học, thông minh phải được hội tụ vào thế giới khách quan; trong
thám hiểm tôn giáo, thông minh phải đi vào nội tâm. Nó vẫn là cùng một thông
minh thôi, chỉ chiều hướng thay đổi. Trong khoa học, đối tượng, đối tượng bên
ngoài, là mục đích của việc truy tìm; trong tôn giáo, tính chủ quan của bạn,
lãnh thổ của bạn, là cuộc phiêu lưu của bạn. Thông minh vẫn là một thôi.
Nếu
bạn trở thành người đầu óc thì bạn sẽ không là người khoa học; bạn sẽ chỉ viết
ra lịch sử của khoa học hay triết lí về khoa học, nhưng bạn sẽ không là người
khoa học, người thám hiểm, người phát minh, người khám phá, về phần riêng của bạn.
Bạn sẽ đơn giản tích luỹ thông tin. Vâng, điều đó nữa cũng có cái dụng nào đó;
khi có liên quan tới thế giới bên ngoài, ngay cả thông tin cũng có tiện dụng giới
hạn nào đó, nhưng trong thế giới bên trong nó không có tiện dụng nào cả. Nó là
rào chắn; nó có tác động tiêu cực lên kinh nghiệm bên trong.
Bạn
nói, "Tôi hiểu thầy nói rằng trí tuệ là rào chắn cho việc tự hiểu
mình."
Trí
tuệ không là rào chắn không là cây cầu; trí tuệ là trung lập. Bị đồng nhất với
nó, nó trở thành rào chắn; vẫn còn không bị đồng nhất với nó, nó là cây cầu. Và
không có thiền bạn không thể biết bản tính siêu việt của mình.
Trong
khoa học, tập trung là đủ; nhiều nhất, suy tư là được cần tới. Trong tôn giáo,
thiền là cách duy nhất. Tập trung không được cần tới, không phải là sự giúp đỡ;
nó là cản trở tích cực. Suy tư cũng không phải là giúp đỡ; chính suy tư không
phải là có tính thiền, nó là cái thay thế nghèo nàn cho thiền. Thiền - duy nhất
thiền - mới có thể đem tới cách mạng bên trong.
Thiền
nghĩa là thoát ra khỏi tâm trí, nhìn vào tâm trí từ bên ngoài. Đó đích xác là
nghĩa của từ 'cực lạc- ecstasy': đứng ra ngoài. Đứng ra ngoài tâm trí làm cho bạn
cực lạc, đem phúc lạc tới cho bạn. Và thông minh lớn lao được thoát ra. Khi bạn
bị đồng nhất với tâm trí bạn không thể rất thông minh được bởi vì bạn trở nên bị
đồng nhất với công cụ, bạn trở nên bị giới hạn bởi công cụ này và các giới hạn
của nó. Mà bạn là vô giới hạn - bạn là tâm thức.
Dùng
tâm trí, nhưng đừng trở thành nó. Dùng nó như bạn dùng các máy khác. Tâm trí là
cái máy hay. Nếu bạn có thể dùng nó, nó sẽ phục vụ bạn; nếu bạn không thể dùng
nó và nó bắt đầu dùng bạn, nó có tính phá huỷ, nó là nguy hiểm. Nó nhất định
đem bạn vào rắc rối nào đó, vào thảm hoạ nào đó, vào đau đớn và khổ sở nào đó,
bởi vì máy là thứ mù quáng. Nó không có mắt, nó không có sáng suốt. Tâm trí
không thể thấy được; nó chỉ có thể cứ lặp lại cái đã được nạp vào trong nó. Nó
giống như máy tính; đầu tiên bạn phải nạp vào nó đã.
Đó
là điều cái gọi là giáo dục của bạn đang vậy, bạn cứ nạp vào tâm trí. Thế thì
nó trở thành kí ức lớn trong bạn, cho nên bất kì khi nào bạn cần nhớ cái gì nó
có thể cung cấp. Nhưng bạn phải vẫn còn là người chủ để bạn có thể dùng được
nó; bằng không nó bắt đầu chỉ đạo bạn.
Đừng
bị chiếc xe của bạn hướng dẫn; vẫn là người lái xe đi. Bạn phải quyết định hướng
đi, bạn phải quyết định mục đích. Bạn phải quyết định về tốc độ, khi nào bắt đầu
đi và khi nào dừng lại. Khi bạn mất kiểm soát và khi chiếc xe nắm quyền và nó bắt
đầu đi theo cách của nó thì bạn mang định mệnh tiêu rồi.
Nhưng
tôi không tuyệt đối chống lại thông tin đâu. Thông tin là tốt nếu nó được cất
giữ trong kí ức và bất kì khi nào bạn cần nó bạn đều có thể tìm thấy nó một
cách dễ dàng. Nó nguy hiểm chỉ khi bạn không cần nó và nó cứ tự gõ búa lên bạn;
khi nó buộc bạn làm cái gì đó, khi bạn chỉ là nạn nhân, thế thì nó là nguy hiểm.
Bằng không nó là hay. Nó là phương tiện hay, nhưng nó không phải là mục đích.
Tại
trường thầy giáo đang hỏi cả lớp các câu hỏi. Thầy quay sang Jenkins, "Ai
làm đổ bức tường Jericho?"
"Dạ
thưa thầy," Jenkins đáp. "Thưa thầy không phải em ạ."
Thầy
giáo giận lắm. Ông ấy lên thẳng thầy hiệu trưởng và nói, "Tôi vừa mới hỏi
Jenkins ai làm đổ bức tường Jericho và nó nói điều đó không phải tại nó. Thầy
nghĩ về điều đó thế nào?"
Thầy
hiệu trưởng nói, "Tôi có biết gia đình Jenkins nhiều năm rồi, và nếu nó
nói đấy không phải là nó làm, thì đấy không phải là nó làm đâu."
Thầy
giáo càng bực mình hơn. Ông ấy gọi điện cho ông bộ trưởng Bộ giáo dục và nói,
"Tôi hỏi một cậu học sinh trong lớp ai đã làm đổ bức tường Jericho và nó
nói không phải nó. Rồi tôi lên ông hiệu trưởng để phàn nàn. Ông ấy nói ông ấy
có biết gia đình này nhiều năm rồi và nếu đứa bé nói không phải nó, thì đó là
không phải nó. Ông nghĩ thế nào về điều đó?"
Bộ
trưởng im lặng một giây rồi nói, "Nghe đây, tôi phát ngán với phàn nàn từ
trường ông rồi. Sửa lại bức tường đó đi và nếu còn phàn nàn nữa, tôi sẽ đóng cửa
thẳng cái trường đó đấy!"
Thông
tin trong bản thân nó không xấu - bạn phải biết ai đã làm đổ bức tường Jericho
chứ! Nhưng nếu thông tin trở thành mạnh tới mức trong tâm trí bạn nó cứ diễn ra
mãi và bạn không thể tắt được nó đi, bạn không thể để tâm trí vào trạng thái thảnh
thơi, thế thì tâm trí trở nên mòn mỏi, mệt mỏi, chán ngán, kiệt quệ. Trong trạng
thái đó, làm sao bạn có thể thông minh được? Năng lượng của bạn bị tiêu tán.
Thông minh cần năng lượng tuôn chảy. Thông minh cần mạnh khoẻ, toàn thể.
Thiền
nhân sẽ thông minh hơn bất kì ai khác và thiền nhân sẽ có khả năng dùng tâm trí
của mình một cách vừa cả khách quan và chủ quan. Người đó sẽ có khả năng đi ra
bên ngoài dễ dàng cũng như người đó sẽ có khả năng đi vào bên trong. Người đó sẽ
linh hoạt hơn. Người đó là người chủ. Người đó có thể đưa xe đi tới, người đó
có thể đưa xe đi lui.
Khi
Ford làm chiếc xe hơi đầu tiên đã không có số lùi trong nó. Thành ra đâm khó
quay về nhà. Bạn phải đi vòng, bạn phải đi chặng đường dài, chỉ để về nhà. Cho
dù bạn mới đi được vài mét qua ga ra của mình bạn cũng không thể quay lại ga ra
được - không có số lùi trong xe. Về sau số lùi mới được thêm vào.
Thiền
cho bạn số lùi. Bình thường bạn không có nó và bạn phải đi vòng quanh thế giới
lặp đi lặp lại, và dầu vậy bạn vẫn không thể tìm được nhà mình ở đâu; bạn không
thể quay về được. Bạn không thể đi vào trong được; bạn chỉ biết cách đi ra
ngoài. Bạn không thể đi lui vào trong được. Thiền nhân trở nên linh động hơn,
linh hoạt hơn. Người đó trở nên giầu có hơn.
Tôi
không thiên về những người ở trong quá khứ, nhân danh tôn giáo, bởi vì bị cố định
vào trong sự hướng nội của họ; điều đó là cực đoan khác. Vài người bị cố định
là người hướng ngoại; như một phản ứng, vài người trở nên bị cố định là người
hướng nội. Cả hai đều trở thành chết. Cuộc sống thuộc vào người linh hoạt, người
có thể đi từ hướng ngoại sang hướng nội và từ hướng nội sang hướng ngoại cũng dễ
dàng như bạn đi ra ngoài nhà mình và đi vào trong nhà mình. Khi trời quá lạnh
bên trong bạn đi ra ngoài mặt trời; khi trời trở nên quá nóng bạn đi vào bên
trong dưới chỗ trú ẩn, vào cái mát mẻ của ngôi nhà - và ở đó không có vấn đề
gì. Nó đơn giản như thế thôi.
Thiền
không có nghĩa là đi ngược lại thế giới bên ngoài. Nó đã là vậy trong quá khứ.
Đó là lí do tại sao tôn giáo đã thất bại, nó không thể thành công được; nó đã
không thể thành công theo bất kì cách nào. Cuộc sống thuộc vào cái linh động,
cái tuôn chảy. Bất kì khi nào bạn trở nên bị cố định bạn đều trở thành một vật.
Sư của bạn đã là người hướng nội; họ nhắm mắt với thế giới bên ngoài.
Đó
là lí do tại sao ở phương Đông chúng ta không thể phát triển được khoa học, mặc
dầu những bước đầu tiên đã được tiến hành ở phương Đông. Toán học đã được phát
triển ở Ấn Độ. Bước đầu tiên hướng tới công nghệ đã được thực hiện ở Trung Quốc.
Nhưng ở đó nó dừng lại bởi lẽ đơn giản là những người vĩ đại ở phương Đông trở
nên bị cố định với hướng nội; họ đánh mất mối quan tâm với thế giới khách quan,
họ đóng bản thân họ toàn bộ với điều khách quan. Điều này là mới chỉ là một nửa
của tiềm năng toàn bộ của bạn.
Bây
giờ phương Tây đang làm chính điều ngược lại: nó đã trở thành hoàn toàn hướng
ngoại, nó không biết cách đi vào trong. Nó không tin rằng có cái gì "bên
trong," nó không tin vào linh hồn nào. Nó tin vào hành vi của con người,
không tin vào sự tồn tại bên trong của con người. Nó nghiên cứu hành vi và nó
nói chẳng có ai ở bên trong cả - đó toàn là máy móc.
Con
người đã trở thành robot. Nếu bạn không biết linh hồn, con người trở thành
robot. Con người được hiểu chỉ là cái máy đẹp được phát triển qua hàng triệu
năm - cuộc hành trình dài, dài của tiến hoá - nhưng con người chỉ là cái máy phức
tạp.
Không
khó khăn gì cho Adolf Hitler giết nhiều người thế một cách dễ dàng thế bởi lẽ
đơn giản là nếu con người là máy, có hại gì trong việc giết mọi người?
Nếu
bạn phá chiếc đồng hồ đeo tay của bạn, bạn không cảm thấy phạm tội; dù nó phức
tạp thế nào, nó chỉ là chiếc đồng hồ đeo tay. Nếu bạn quyết định phá nó, đấy là
bạn quyết định; không ai có thể phản đối điều đó. Bạn không thể bị lôi ra toà
án như kẻ giết người.
Stalin
có thể giết hàng triệu người một cách dễ dàng mà không áy náy gì trong lương
tâm ông ta bởi lẽ đơn giản là chủ nghĩa Mác tin rằng không có linh hồn. Con người
không là gì ngoài vật chất; tâm thức chỉ là sản phẩm phụ của vật chất. Đây là một
cực đoan.
Khoa
học đã phát triển ở phương Tây, nhưng tôn giáo đã biến mất. Ở phương Đông, tôn
giáo đã phát triển nhưng khoa học đã biến mất. Theo cả hai cách con người vẫn
còn nghèo nàn và một nửa.
Nỗ
lực của tôi ở đây là để tạo ra con người toàn thể, người sẽ có khả năng có tính
khoa học và có tính tôn giáo cùng nhau.
Con
chó lớn, đầy ghẻ lở đang doạ mèo mẹ và lũ mèo con. Nó dồn lũ mèo vào góc chuồng,
thì bỗng nhiên con mèo mẹ chồm dậy trên chân sau và bắt đầu sủa dữ dội và gầm gừ
lớn. Giật mình và lúng túng, con chó quay đầu và tháo chạy khỏi chuồng, đuôi cụp
lại giữa hai chân.
Quay
lại phía lũ con, mèo mẹ giơ vuốt lên và bảo chúng, "Bây giờ các con thấy ưu
thế của việc có hai ngôn ngữ rồi đấy?"
Tôi
muốn con người có song ngữ. Con người nên biết khoa học nhiều, sâu như người đó
nên biết thiền.
Người
đó nên biết tâm trí nhiều như người đó nên biết thiền. Người đó nên biết ngôn
ngữ của thế giới khách quan - đó là khoa học - và người đó cũng nên biết về
ngôn ngữ của thế giới chủ quan - đó là tôn giáo.
Chỉ
người có khả năng bắc cầu qua tính khách quan và tính chủ quan, người có khả
năng bắc cầu qua Đông và Tây, người có khả năng bắc cầu qua người duy vật và người
duy linh, mới có thể là con người toàn thể. Thế giới đang chờ đợi con người
toàn thể. Nếu con người toàn thể không tới sớm, thế thì không có tương lai cho
nhân loại. Và con người toàn thể có thể tới chỉ qua thông minh sâu sắc, sâu lắng.
Tôi
không chống lại trí tuệ, tôi không chống lại thông minh; tôi chống lại tính đầu
óc. Đừng bị đồng nhất với tâm trí của bạn. Bao giờ cũng vẫn còn là người quan
sát trên núi; nhân chứng cho thân thể, cho tâm trí, nhân chứng cho cái bên
ngoài và cho cái bên trong, để cho bạn có thể siêu việt lên trên cả hai, cái
bên ngoài và cái bên trong, và bạn có thể biết rằng bạn không là cả hai - bạn ở
ngoài cả hai. Cái bên ngoài đó là Thượng đế.
Thượng
đế không phải là đối thể không phải là chủ thể. Thượng đế không là cái bên ngoài
không là cái bên trong. Ngài là cả hai và ngài là không cả hai.
Richard,
bạn nói, "Tôi đã rất quan tâm nghe bài giảng của thầy trong vài ngày qua.
Xa khỏi người không trí thức, họ có thể được mô tả như người thành đạt về tri
thức."
Khi
tôi nói với bạn, cho dù tôi đang nói về cái gì đó siêu trí thức, tôi vẫn nói
theo cách trí thức bởi vì bằng không bạn sẽ không có khả năng hiểu được điều
tôi đang nói. Trí tuệ là phương tiện trao đổi có thể có duy nhất ngay bây giờ.
Chừng nào bạn còn chưa học ngôn ngữ của im lặng hoàn toàn tôi vẫn phải cứ nói
theo ngôn ngữ của bạn. Bạn hiểu logic, tôi dùng logic - vì những chủ định rất
kì lạ: để giúp bạn đi ra ngoài logic. Tôi dùng mọi cách có thể để giúp bạn siêu
việt lên trên nhị nguyên.
Tôi
không phải là người không trí thức hay phi trí thức, nhưng nỗ lực của tôi ở đây
là để giúp bạn vượt ra ngoài cả hai trí tuệ và phi trí tuệ, vượt ra ngoài cả
logic và phi logic. Điều đó là có thể. Khi bạn trong im lặng tuyệt đối bạn
không logic không phi logic, nhưng im lặng đó không thể được diễn đạt một cách
trực tiếp; im lặng đó phải được dịch sang ngôn ngữ của bạn. Đó là điều tôi đang
làm ở đây. Đó là nỗ lực gian nan bởi vì nhiều điều huy hoàng và vĩ đại bị mất
đi trong việc dịch nó. Kinh nghiêm đó về im lặng là bao la thế nó không thể được
đưa vào lời, nhưng nó phải được đưa vào lời. Chỉ thế thì bạn mới có khả năng
nghe thấy nó. Ngay cả thế cũng rất ít người nghe thấy nó, bởi vì mọi người
không hiện diện; họ vắng mặt, họ ngủ.
Tôi
phải bắt đầu từ ngôn ngữ của bạn, và dần dần, dần dần bạn sẽ bắt đầu học ngôn
ngữ của tôi. Tôi là người song ngữ và tôi sẽ làm bạn cũng là người song ngữ. Có
hai ngôn ngữ: ngôn ngữ của lời và ngôn ngữ của im lặng. Ngay bây giờ tôi phải
dùng ngôn ngữ của lời để dịch thơ ca của im lặng, âm nhạc của im lặng. Về sau,
khi bạn đã phát triển chút ít tính thiền, bạn sẽ có khả năng hiểu thơ ca của im
lặng, âm nhạc của im lặng một cách trực tiếp - chỉ bằng việc ngồi gần tôi. Sẽ
không cần tôi nói điều gì cả.
Tôi
chờ đợi cái ngày đó và tôi thực sự vội vã vì ngày đó, bởi vì việc nói đang trở
nên ngày càng khó hơn với tôi. Với bạn có lẽ dường như là tôi có thể cứ nói
mãi; khi có liên quan tới tôi thì nói trở thành ngày một khó hơn bởi vì tôi có
thể thấy tính không thể được của việc đưa cái không thể biết được vào lời. Điều
đó dường như là việc sát hại - toàn thể cái đẹp bị mất đi. Chỉ cái gì đó mới đạt
tới bạn và cái đó nữa cũng phụ thuộc vào bạn: nếu bạn sẵn có cho tôi, nó đạt tới
bạn; bằng không nó sẽ không đạt tới bạn đâu. Bạn sẽ cứ nghe điều bạn muốn nghe
và bạn sẽ cứ thấy điều bạn có khả năng thấy.
Với
kì nghỉ, Donnelly quyết định đi Thuỵ Sĩ để hoàn thành ước mơ cả đời
bằng việc leo lên Matterhorn. Anh ta thuê một người hướng dẫn và leo lên. Khi họ
gần tới đỉnh, họ bị cuốn đi trong tuyết trượt.
Ba
giờ sau, thánh Bernard lặn lội tới họ, một thùng rượu mạnh buộc dưới cằm ông ấy.
"Hoan
hô!" người hướng dẫn kêu lên. "Người bạn tốt nhất của con người tới rồi!"
"Vâng,"
Donnelly nói. "Và nhìn vào kích cỡ của con chó đang mang nó!"
Bạn
nghe điều bạn có thể nghe được, bạn thấy cái bạn có thể thấy được. Đó là co kéo
của chiến tranh giữa tôi và bạn để đem bạn tới điểm mà bạn có thể thấy cái gì
đó mà tôi đang thấy.
Một
khi tôi đã hoàn thành việc có số người đúng để tạo ra phật trường, tôi sẽ đi
vào im lặng. Cách bạn đi vào thiền làm cho tôi hi vọng điều đó sẽ sớm xảy ra;
điều đó sẽ không lâu đâu. Chẳng mấy chốc số lượng đúng của năng lượng sẽ sẵn
có. Thế thì tôi có thể chỉ ngồi im lặng cùng bạn; bạn có thể nhảy múa và ca hát
quanh tôi hay ngồi trong im lặng. Và sẽ có trao đổi - nhiều phần giao cảm hơn
là trao đổi. Cái gì đó nhất định xảy ra. Nhưng trước khi điều đó có thể xảy ra
tôi phải cứ thuyết phục bạn qua lời, qua logic. Đó là một loại dụ dỗ. Tôi phải
cám dỗ bạn hướng tới cái gì đó mà bạn đã hoàn toàn quên mất.
Câu
hỏi thứ hai:
Thưa
thầy kính yêu,
Thầy
có thể cho triết lí của thầy vào bản tóm tắt được không?
Vandan,
bất kì triết lí nào mà có thể đưa vào bản tóm tắt, đều có ở đó cả.
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
thầy kính yêu, Bi quan là gì?
Gyanesh,
con người có thể nhìn cuộc sống theo hai cách: hoặc qua cái không hoặc qua cái
có. Hoặc con người có thể tiêu cực trong cách tiếp cận của mình hoặc tích cực.
Đây là hai cách sẵn có dễ dàng cho tâm trí.
Cũng
có cách thứ ba, nhưng để đạt tới cách thứ ba bạn phải trải qua nỗ lực gian nan
của việc trở nên ngày một nhận biết hơn. Với người ngủ hai cách này được làm sẵn
rồi, sẵn có từ chính lúc sinh.
Người
tích cực sống qua một loại lạc quan. Lạc quan của người đó nông cạn, nhưng người
đó tràn đầy hi vọng. Người đó chỉ đếm hoa hồng trong bụi hồng; người đó không
nhìn vào gai, người đó bỏ qua chúng. Sớm hay muộn người đó nhất định bị thất vọng.
Mọi
đứa trẻ đều bắt đầu bằng thái độ tích cực hướng tới cuộc sống. Điều đó là tự
nhiên bởi vì nếu đứa trẻ bắt đầu với thái độ tiêu cực nó sẽ không bắt đầu chút
nào; nó sẽ chết trong bụng mẹ. Nó đã chờ đợi trong chín tháng, nó đi qua kênh
sinh đẻ, một quá trình đau đớn, ngột ngạt. Phải có hi vọng vô ý thức sâu bên dưới;
do đó nó kiên nhẫn chờ đợi cái ngày nó có thể thấy mặt trời, thấy ánh sáng, ở
trong thế giới. Nó giống hạt mầm, rất vô ý thức; nó không nhận biết về điều đó.
Nhưng mọi đứa trẻ đều được sinh ra với hi vọng lớn lao, mọi đứa trẻ đều là người
lạc quan; nó nhìn qua cái tích cực.
Nhưng
cuộc sống làm mọi người thất vọng. Cuộc sống rất kì lạ, theo một cách nào đó: nếu
bạn không có được cái bạn muốn, bạn thất vọng, lẽ tự nhiên; nhưng nếu bạn có được
cái bạn muốn, thế nữa bạn cũng thất vọng. Thất vọng dường như là định mệnh. Nếu
bạn không có cái bạn muốn, bạn khổ - bạn đã thất bại. Bạn đã không có khả năng
chứng minh bản thân mình, bạn đã không có khả năng chứng minh khí khái của
mình. Người khác đã thành công, bạn là thất bại. Bạn không thể kính trọng bản
thân mình được, bạn không thể kính trọng cuộc sống được. Nó dường như là tai
ương. Bạn muốn trả vé lại cho Thượng đế. Nếu bạn gặp ngài, câu hỏi đầu tiên của
bạn sẽ là, "Sao ngài đã tạo ra tôi? Để làm gì? - vì tất cả những điều thất
vọng này sao? Ngài có là kẻ bạo ác hay cái gì đó không, cứ tạo ra nhiều người
và cho họ nhiều khổ sở thế?"
Và
người tôn giáo nói, "Đó là vở kịch của Thượng đế, đó là leela của
ngài." Đây là loại vở kịch gì vậy? Thượng đế dường như không còn tri giác
đúng nữa rồi. Dường như ngài đang tận hưởng trò hành hạ. Ngài dường như giống
Adolf Hitler, Joseph Stalin, Mao Trạch Đông hơn là giống Phật Gautam, Mahavira,
Jesus.
Những
người này dường như không giống Thượng đế, bởi vì khi tất cả hi vọng của bạn đều
biến thành vô vọng, khi tất cả ham muốn của bạn đều là thất vọng, khi chẳng cái
gì tới từ lạc quan của bạn, một cách tự nhiên bạn trở nên chua cay, bạn trở nên
cay đắng, và bi quan được sinh ra.
Bi
quan chẳng là gì ngoài thất bại của thái độ lạc quan. Thế thì bạn bắt đầu đếm
gai và bỏ qua hoa hồng. Thế thì bạn bao giờ cũng tìm phía tối. Đó là triết lí của
bi quan.
Suy
tư về những luật này của Murphy:
Thứ
nhất: Nếu bất kì cái gì có thể đi sai, nó sẽ đi sai.
Thứ
hai: Chẳng cái gì đã bao giờ đơn giản như nó có vẻ vậy.
Thứ
ba: Mọi thứ đều lâu hơn bạn mong đợi.
Thứ
tư: Bị bỏ cho bản thân chúng mọi thứ đều đi từ tồi tới tệ hơn.
Thứ
năm: Tự nhiên bao giờ cũng về phe với thiếu sót ngầm.
Thứ
sáu: Bà mẹ Tự nhiên là đồ lẳng lơ.
Thứ
bẩy: Không thể nào làm được cái gì hết sức rõ ràng bởi vì kẻ ngu khéo thế.
Thứ
tám: Nếu mọi thứ dường như diễn ra tốt đẹp, bạn hiển nhiên đã bỏ sót cái gì đó.
Thứ
chín: Nếu bạn có thể giữ được trí của bạn khi, mọi người xung quanh người khác
mất trí nhớ, bạn chỉ không hiểu tình huống.
Và
thứ mười: Với mọi vấn đề con người, có một giải pháp đơn giản, rõ ràng - và nó
bao giờ cũng sai.
Bi
quan đơn giản nghĩa là nhìn cuộc sống một cách tiêu cực, bao giờ cũng tìm lỗi,
tìm lỗ hổng, tìm cái gì đó tiêu cực, và tích luỹ tất cả những tiêu cực đó. Và
khi bạn nhìn vào phía tối, tất nhiên bao giờ cũng vậy, có hai đêm và chỉ một
ngày nhỏ bị kẹp giữa hai đêm - những đêm tối, tối mù.
Lạc
quan chấm dứt trong bi quan. Mọi người bi quan đều đã từng có thời là người lạc
quan - người đó là người cựu lạc quan. Người đó đã hi vọng quá nhiều và bởi vì
những hi vọng đó đã không được hoàn thành nên người đó đã trở nên chua cay, giận
dữ, phát rồ. Bây giờ người đó không thể thấy hoa và sao được. Người đó không thể
thấy được cái gì đẹp; người đó cứ tìm cái xấu. Và khi bạn tìm cái xấu bạn sẽ thấy
nó ở mọi bước. Bất kì cái gì bạn tìm bạn nhất định thấy nó, nhớ lấy, bởi vì cuộc
sống bao gồm cả hai - tích cực và tiêu cực - theo cùng số lượng. Cuộc sống
không thể tồn tại nếu thiếu cái kia; cực kia là điều phải có.
Điều
đó cũng giống như điện. Điện không thể tồn tại chỉ với một cực, dương hay âm;
nó phải có cả hai cực cùng nhau. Nó là có thể có chỉ thông qua căng thẳng được
tạo ra giữa âm và dương.
Nhưng
có loại người thứ ba - tôi gọi người đó là người thức tỉnh, người chứng ngộ -
người nhìn cuộc sống trong tính toàn bộ của nó, người không là người bi quan
không là người lạc quan, người đơn giản chấp nhận cuộc sống như nó vậy; người
chấp nhận đêm, người chấp nhận ngày, người chấp nhận hoa hồng và gai, bởi vì
người đó hiểu rằng cuộc sống bắt nguồn từ nhị nguyên cần thiết, biện chứng. Và
trong nhận biết của người đó phát triển sự tổng hợp giữa các cực đối lập. Sự tổng
hợp này chưa bao giờ phát triển ở bên ngoài, như Karl Marx nói.
Karl
Marx nói cuộc sống là quá trình biện chứng giữa chính đề và phản đề và nó bao
giờ cũng đi tới sự tổng hợp. Thế rồi sự tổng hợp lại biến thành chính đề và tạo
ra phản đề của nó. Điều đó hoàn toàn sai. Bên ngoài, cuộc sống bao giờ cũng là
chính đề và phản đề; nó chưa bao giờ đi tới sự tổng hợp nào.
Sự
tổng hợp được đạt tới chỉ trong viễn kiến bên trong của người chứng ngộ. Sự tổng
hợp được đạt tới khi bạn đã đạt tới im lặng tuyệt đối. Trong im lặng đó bạn rõ
ràng, trong suốt tới mức bạn có thể thấy thấu tỏ. Thế thì bạn biết rằng cuộc sống
cần cả hai: ngày và đêm, sống và chết. Thế thì không có gì sai trong cái chết;
nó hữu dụng hoàn hảo, được cần tới, không thể tránh được. Thế thì chấp nhận sâu
sắc nảy sinh trong bạn. Phật gọi chấp nhận đó là tathata - như thế. Cuộc sống
là như thế. Bạn hiểu nó và qua việc hiểu đó bạn siêu việt lên trên nó.
Đừng
là người bi quan và đừng là người lạc quan. Quan sát, là người quan sát và đạt
tới tổng hợp tối thượng nơi bạn trở thành lực thứ ba vươn lên ngày càng cao hơn
và thấy từ bên trên, cái nhìn của mắt chim. Sâu bên dưới mọi thứ đều trong xung
đột, nhưng điều đó là được bởi vì bạn hiểu cuộc sống không thể tồn tại được nếu
không có điều đó. Đó không phải là lỗi của Thượng đế. Không có Thượng đế như một
người có thể bị oán trách vì điều đó. Đó chỉ là bản tính của mọi sự - Đạo, pháp
- rằng cuộc sống vận hành qua nhị nguyên. Nhưng tâm thức có thể soải cánh bay
cao tới mức nó có thể siêu việt lên trên mọi nhị nguyên và có thể đạt tới cái một.
Thiền
nhân thực không là người bi quan không là người lạc quan. Người đó sống trong một
loại tính như thế, trong "khả năng chấp nhận" toàn bộ.
Câu
hỏi thứ tư:
Thưa
thầy kính yêu,
Tôi
phát chán với chồng tôi. Tôi đã cố gắng mọi cách, nhưng chẳng cái gì dường như
có tác dụng. Thầy có gợi ý gì không?
Geetama,
không nhiều đâu, chỉ mỗi một. Viết một lá thư cho năm người bạn của bạn như thế
này:
Chào
đằng ấy!
Bức
thư này được bắt đầu bởi người đàn bà như bản thân bạn, trong hi họng đem lại sự
nhẹ nhõm cho bà vợ không hài lòng và mệt mỏi.
Không
giống như phần lớn các bức thư loằng ngoằng, bức thư này chả tốn kém gì cả. Cứ
gửi bản sao thư này cho năm người bạn của bạn, những người cũng mệt mỏi tương
đương. Thế rồi gói chồng bạn lại và gửi anh ta tới người đàn bà ở đầu danh sách
và thêm tên bạn vào cuối danh sách.
Khi
tên bạn lên đầu danh sách này bạn sẽ nhận được 16,478 đàn ông và một số trong họ
nhất định còn kinh khủng hơn nhiều so với người mà bạn đã có.
Đừng
phá vỡ dây chuyền này... hãy có niềm tin!
Một
người đàn bà phá vỡ dây chuyền và kiếm lại được đồ chó đẻ riêng của mình.
Vào
ngày tháng viết bức thứ này, người bạn khác của tôi đã có được 183 đàn ông. Họ
chôn cô ấy hôm qua.... Nhưng ba người làm tang lễ phải mất ba mươi sáu giờ để gỡ
nụ cười trên khuôn mặt cô ấy ra.
Câu
hỏi thứ năm:
Thưa
thầy kính yêu,
Thông
điệp của thầy có tính vũ trụ, nhưng nó chỉ dành cho những người không có tôn
giáo sao? Sao những anh chàng Ấn Độ của thầy không bu ngoài cổng để xin vào?
Charles
Gardiner, thông điệp của tôi có tính vũ trụ. Điều đó không có nghĩa là mọi người
sẽ có khả năng hiểu được nó. Thông điệp càng mang tính vũ trụ, càng ít người sẽ
có khả năng hiểu được nó, bởi vì nó càng mang tính vũ trụ, nó càng huyền bí. Nó
ở bên ngoài tầm với của tâm trí ngu xuẩn, bình thường - chỉ bởi vì nó có tính
vũ trụ.
Mọi
người có thể hiểu những điều không mang tính vũ trụ thế một cách dễ dàng hơn. Họ
có thể hiểu những điều về giống nòi, họ có thể hiểu những điều về quốc gia, họ
có thể hiểu những điều về ý thức hệ. Nhưng bất kì thông điệp nào thực sự có
tính vũ trụ đều nhất định chỉ được hiểu bởi rất ít người được chọn.
Chỉ
những người thông minh nhất mới quan tâm tới điều tôi đang làm ở đây. Do đó bạn
sẽ thấy tụ tập quanh tôi là những người thông minh từ khắp trên thế giới, trẻ
trung, tươi tắn, thông minh.
Ấn
Độ không trẻ, nó không tươi. Rất hiếm khi tìm thấy một người Ấn Độ mà trẻ. Ở Ấn
Độ mọi người được sinh ra đều già. Nó là nước cổ đại thế với truyền thống lâu,
lâu dài mà mọi người đều bị nặng gánh. Nước trẻ tất nhiên cảm nhận nhiều hơn.
Chẳng
hạn, Mĩ cảm nhận nhiều với bất kì thông điệp mới nào hơn bất kì nước nào khác bởi
một lẽ đơn giản là nó là nước mới nhất trên thế giới - chỉ với truyền thống ba
trăm năm, nó không là gì cả. Ấn Độ đã sống ít nhất mười nghìn năm - mười nghìn
năm theo các nhà lịch sử, một trăm nghìn năm theo bản thân người Ấn Độ. Chân lí
có thể ở đâu đó chỗ giữa. Tôi có thể xác định quãng năm mươi nghìn năm - nhưng
điều đó nữa cũng là rất dài rồi. Và khi đất nước này trở thành già, nó cứ thu
thập rác rưởi, đồ đồng nát. Và mọi thế hệ cứ đem những đồ đồng nát và rác rưởi
của mình cho thế hệ mới, cứ tưởng rằng đây là gia sản kế thừa, cứ tưởng rằng họ
đang đem cho cái gì đó rất có giá trị.
Mĩ
là nhạy cảm nhất. Và tiếp bên Mĩ, Đức dường như là rất nhạy cảm bởi lẽ đơn giản
rằng Adolf Hitler đã giết hoàn toàn nước Đức cũ, ông ta đã phá huỷ hoàn toàn
cái cũ. Ông ta đã tạo ra sự gián đoạn. Thế hệ người Đức mới không còn nhìn lại
sau. Adolf Hitler đứng đó và không ai muốn nhìn vào ông ta, cho nên tốt hơn cả
là quên hết về nó! Adolf Hitler đã làm việc phục vụ lớn lao cho nước Đức. Ông
ta đã phá huỷ gia sản kế thừa cũ - chẳng biết rằng mình đang làm công việc tốt
vậy, bằng không thì ông ta đã không làm điều đó rồi - chẳng biết rằng ông ta
đang làm cái gì đó cực kì có giá trị. Ông ta đã làm điều đó một cách vô ý thức.
Ấn
Độ cũng cần gián đoạn với quá khứ. Quá khứ gây cản trở.
Do
đó mọi người từ các nước khác đang tới tôi nhiều hơn. Và chắc chắn người ta trở
nên tò mò, cũng như Gardiner đã trở nên tò mò: "Sao những anh chàng Ấn Độ
của thầy không bu ngoài cổng để xin vào?"
Ấn
Độ quá già, thông điệp của tôi quá mới. Ấn Độ cổ đại, truyền thống; tôi mang
tính nổi dậy. Không có nền tảng gặp gỡ giữa tôi và Ấn Độ. Tôi không phải là người
Ấn Độ, thực ra. Cho nên xin đừng gọi họ là "anh chàng Ấn Độ" - họ
không phải vậy. Tôi không là người Ấn Độ, tôi không thuộc vào quốc gia nào; chỉ
thế thì tôi mới có thể có tính vũ trụ được. Nếu tôi là người Ấn Độ, thế thì tôi
đã mang định kiến thiên về Ấn Độ. Thế thì thông điệp của tôi không thể có tính
vũ trụ được; sâu bên dưới nó sẽ có tính Ấn Độ, về căn bản tính Ấn Độ - được nguỵ
trang, ẩn đằng sau những lời đẹp đẽ, trừu tượng, nhưng về bản chất nó sẽ vẫn
còn là tính Ấn Độ; nó không thể có tính vũ trụ được.
Mahatma
Gandhi hay nói rằng toàn thể vũ trụ là một, mọi tôn giáo là một. Trong đạo
tràng của mình, ông ấy thường dạy rằng người Hindu giáo và người Mô ha mét giáo
và người Ki tô giáo đều là một. Trong cuộc gặp gỡ cầu nguyện của ông ấy các lời
cầu nguyện của mọi tôn giáo đều được trích đọc. Ông ấy thích nhất lời cầu nguyện
nói: Allah ishwar tere nam - Ishwar và Allah, cả hai đều là tên ngài, Thượng đế.
Nhưng
khi ông ấy bị giết, ông ấy quên tất cả về Allah. Ông ấy nói, "Này
Ram!" Thế là tiếng Hindu ngầm trồi lên bề mặt. Cả đời mình ông ấy đã nói,
"Cả hai đều là một, cả hai đều là tên của cùng một điều." Nhưng khi
viên đạn cắm vào tim ông ấy, ông ấy quên mất tất cả triết lí của mình. Sẽ là thực
hay nếu ông ấy đã nói, "Allah!" Nhưng ông ấy lại nói,
"Ram!"
Ông
ấy hay nói rằng Gita và Koran, Kinh Thánh có cùng thông điệp, nhưng ông ấy đã
tôn thờ Gita và ông ấy gọi Gita là mẹ ông ấy. Thế thì Koran là gì? Ông ấy thậm
chí không gọi Koran là cô mình! Gita là mẹ ông ấy - và tất nhiên ông ấy đã chọn
vài mẩu từ Koran và từ Kinh Thánh, điều đồng tình với Gita. Bất kì cái gì bất đồng
với Gita đều không được ông ấy chọn, cho nên Gita vẫn còn là tiêu chí. Bây giờ
điều này rõ ràng tới mức bất kì cái gì không khớp với Gita đều sai; nó có thể
có trong Koran, nó có thể có trong Kinh Thánh, nhưng nó là sai. Ông ấy sẽ không
nói nó rõ ràng thế bởi vì ông ấy là chính khách.
Tôi
không phải là chính khách - tôi nói mọi điều như chúng đang vậy. Tôi gọi con
pich là con pich … và đôi khi là con pich đéo! Tôi không phải là chính khách;
tôi đơn giản nói bất kì cái gì đang là hoàn cảnh.
Người
Ấn Độ không thật hài lòng với tôi đâu, họ không thể thế được. Tôi cũng không thật
hài lòng với họ, cho nên tại sao họ phải hài lòng? Tôi hoàn toàn chống lại chủ
nghĩa truyền thống của họ, ý tưởng bản ngã của họ rằng họ linh thiêng hơn mọi
người khác trên thế giới. Không ai linh thiêng hơn bất kì ai khác. Tôi chống lại
ý tưởng của họ rằng đất nước họ là đất nước tôn giáo duy nhất trên thế giới, rằng
họ là cội nguồn của tất cả những điều vĩ đại. Đây là những ý tưởng ngu xuẩn. Mọi
nước đều mang những ý tưởng đó và mọi nước đều tin vào chúng.
Bạn
hỏi người Trung Quốc, bạn hỏi người Nhật Bản, bạn hỏi người Italia, bạn hỏi bất
kì ai. Mọi nước đều tin vào nó. Và bạn bao giờ cũng có thể tìm thấy những luận
cứ lớn lao để hỗ trợ cho nó.
Người
Ấn Độ chắc đã bu đầy ngoài cổng nếu bằng cách nào đó tôi giúp nuôi và dưỡng cho
bản ngã của họ. Tôi không làm điều đó, tôi không thể làm được điều đó. Chỉ thế
thì tôi mới có thể có tính vũ trụ. Tôi liên tục nện búa vào bản ngã của họ. Tôi
liên tục cố gắng phá huỷ cái nhìn "linh thiêng hơn ngươi" của họ. Họ
giận tôi. Làm sao họ có thể bu ngoài cổng để đòi vào được?
Nếu
thỉnh thoảng vài người trong số họ do tò mò mà bước vào, trong vòng năm tới bẩy
phút họ bắt đầu đứng dậy. Chỉ vài người Ấn Độ ngu xuẩn mới đứng dậy từ đây. Điều
tôi nói không phù hợp với họ. Họ muốn tôi ca ngợi Veda của họ là kinh sách duy
nhất, kinh sách thực, do đích thân Thượng đế viết ra. Họ muốn tôi ca ngợi mọi
thứ đều có tính Ấn Độ. Tôi không thể làm điều đó được. Tôi có thể ca ngợi chỉ
cái đáng được ca ngợi, không phải bởi vì nó có tính Ấn Độ. Tôi có thể ca ngợi mọi
thứ, không phải vì chúng có tính Hindu giáo, Jaina giáo, Phật giáo, mà đơn giản
bởi vì chúng đẹp.
Tôi
ca ngợi Taj Mahal không phải bởi vì nó có tính Mô ha mét giáo, mà chỉ vì nó là
tác phẩm nghệ thuật khách quan đẹp. Tôi ca ngợi Upanishads không phải bởi vì
người Hindu đã viết ra chúng mà bởi vì chúng có giá trị mênh mông thế, giá trị
thực chất. Tôi ca ngợi Lão Tử theo cùng cách, tôi ca ngợi Jesus theo cùng cách,
tôi ca ngợi Mohammed theo cùng cách. Bất kì chỗ nào chân lí xảy ra, bất kì ai
nó đã xảy ra cho - cho Bahauddin hay cho Phật - điều đó không tạo ra khác biệt
gì với tôi.
Điều
đó làm cho người Ấn Độ rất giận. Họ muốn tôi phê phán Mohammed và ca ngợi
Mahavira, hay nếu tôi không thể làm được điều đó thì ít nhất cũng ca ngợi
Mahavira nhiều hơn Mohammed, nhưng phải tạo ra cấp bậc trong đó Phật, Krishna
và Mahavira ở trên đỉnh. Vâng, Jesus cũng tốt và Mohammed cũng tốt, nhưng không
trên đỉnh - ở xa phía dưới trong cấp bậc này. Điều đó tôi không thể làm được bởi
vì tôi thấy cùng hiện tượng này xảy ra trong thời Phật và cùng kinh nghiệm này
xảy ra trong Jesus. Tôi không giúp cho bản ngã Ấn Độ theo bất kì cách có thể
nào - tôi đang làm chính cái đối lập. Họ không thể bu tại cổng để xin vào được.
Điều
tôi đang cố gắng ở đây không phải là cái gì đó của quá khứ; nó thuộc vào tương
lai. Cho nên chỉ vài người Ấn Độ sẽ có khả năng tới với tôi - vài người Ấn Độ
có khả năng vươn lên trên tâm trí Ấn Độ của họ, rất hiếm cá nhân sẵn sàng vươn
lên cùng tôi trên quốc tịch, trên nòi giống, trên đủ mọi loại thái độ bản ngã.
Họ ở đây, nhưng họ ở đây bởi vì họ cũng không còn là người Ấn Độ nữa.
Người
Ấn Độ tin rằng họ biết, họ rất thông thái. Một cách tự nhiên - nó là quốc gia cổ
đại; bạn không cần đọc kinh sách, kinh sách ở trong bầu không khí. Và ý tưởng của
tôi là ở chỗ người thông thái không bao giờ có thể có tính tôn giáo được. Và
mãi cho tới nay Ấn Độ đã tin vào người thông thái - bác học, học giả, giáo sư.
Và nỗ lực của tôi là giúp bạn trở nên ngày một như trẻ con, hồn nhiên hơn, đầy
những ngạc nhiên chứ không đầy tri thức, đầy kính nể chứ không đầy thông tin.
Không cần đọc Veda - bởi vì bằng cách nào đi chăng nữa thì chín mươi chín phần
trăm của Veda tuyệt đối là rác rưởi! Bây giờ điều này làm tổn thương người Ấn Độ.
Chỉ một phần trăm là hay; bạn phải rất chọn lựa.
Cùng
điều đó là hoàn cảnh với các kinh sách khác của thế giới. Bạn nhìn vào Kinh
Thánh, nhìn vào kinh Cựu Ước; chín mươi chín phần trăm chỉ là rác rưởi. Chắc sẽ
tốt hơn nếu chúng ta gạt bỏ đi rác rưởi đó để cho chỉ kim cương có thế chói
sáng lên. Bằng không đá cuội nhiều thế, kim cương bị mất hút. Nhưng không -
không người Do Thái nào sẽ sẵng lòng vứt bỏ bất kì cái gì ra khỏi kinh Cựu Ước.
Và cùng điều đó là trường hợp cho Tân Ước, và cùng điều đó là trường hợp … còn
hơn thế - cho kinh Koran.
Tôi
có nhiều sannyasins Mô ha mét giáo. Họ cứ hỏi tôi khi nào tôi sẽ nói về Koran,
và tôi cứ trì hoãn mãi điều đó bởi một lẽ đơn giản là chẳng có gì mấy trong nó
để mà nói. Rất hiếm khi bạn bắt gặp một dòng mà người ta có thể xoay xở để nói
tới theo cách hay. Ngoài ra, chỉ toàn những phát biểu rất bình thường....
Nhưng
lí do là, vào thời đó mọi thứ đã được viết trong kinh sách tôn giáo: lịch sử, địa
lí, huyền thoại. Đó là cách duy nhất. Các kinh sách tôn giáo cổ đều giống như
bách khoa toàn thư Encyclopedia Britannica; chúng là các bộ bách khoa thư của
thời xưa. Mọi thứ đều được viết ra, bất kì cái gì xảy ra vào những ngày đó và bất
kì cái gì đã được coi là quan trọng. Nó có thể là quan trọng vào những ngày đó;
bây giờ thì chẳng liên quan.
Và
ngay cả khi tôi nói về Phật, Mahavira, Krishna, tôi nói theo cách phi truyền thống
tuyệt đối. Tôi nói từ kinh nghiệm riêng của mình, tôi không phải là người bình
luận. Tôi yêu Phật bởi vì tôi đã biết cùng ánh sáng, tôi đã kinh nghiệm cùng
chân lí. Cho nên khi tôi bình luận về Phật đấy không phải là lời bình luận đâu.
Phát biểu của Phật chỉ là cái cớ, chỉ là cái mắc áo; tôi cứ treo bản thân tôi
lên những cái mắc áo đó.
Tâm
trí Ấn Độ rất chống lại điều đó. Họ nghĩ tôi đang bóp méo. Họ nghĩ tôi nên bình
luận theo kinh sách. Tôi đang bình luận theo tâm thức của tôi, không theo kinh
sách nào cả. Và khi tôi thấy cái gì đó không thể được vị phật nói ra tôi đơn giản
vứt bỏ nó đi, tôi không bình luận về nó.
Tôi
biết phật tính là gì! Tôi cứ tạo ra Phật mãi. Điều đó bị chống đối nhiều lắm. Họ
muốn tôi chỉ là sử gia, nhà bình luận, học giả. Họ muốn tôi trích dẫn kinh sách
của họ, tham khảo kinh sách của họ. Tôi chưa bao giờ tham khảo, tôi chưa bao giờ
trích dẫn. Trong sách của tôi bạn sẽ không thấy cước chú nào cả. Tôi không tin
vào tất cả những cái vô nghĩa đó. Tôi nói từ trái tim tôi. Tôi yêu Phật, tôi
yêu Jesus. Tôi nói, tôi dùng những phát biểu của họ làm nền để cất cánh, có vậy
thôi - chỉ là bàn nhảy. Điều đó đi ngược lại cách tiếp cận Ấn Độ, học thức Ấn Độ.
Gardiner,
bởi vì thông điệp của tôi có tính vũ trụ, nó sẽ hấp dẫn chỉ những người có tính
vũ trụ, người không thuộc vào quốc gia nào, tôn giáo nào, nhà thờ nào. Vâng, bạn
đúng. Bạn nói, "Nó chỉ dành cho những người không có tôn giáo sao?"
Vâng,
nó dành cho những người không có tôn giáo, không có quốc gia, không có giống
nòi; nó chỉ dành cho những người được giải thoát đó. Nó dành cho thế hệ mới. Thế
hệ mới là dũng cảm; thế hệ mới phải vứt bỏ nhiều tải trọng mà mọi người đã mang
hàng thế kỉ. Chỉ thế thì mới có thể có giao cảm giữa tôi và bạn.
Và
bạn có thể thấy đây là tụ tập vũ trụ. Mọi người từ ít nhất bốn mươi nước đang ở
đây. Trừ người Trung Quốc và người Nga - trừ khối cộng sản - bạn sẽ thấy mọi
người từ mọi nước ở đây. Và ngay cả ở Nga người da cam cũng đang bắt đầu làm việc
ngầm rồi. Những nhóm nhỏ đã bắt đầu vận hành. Mọi người đang gặp gỡ thực sự dưới
các tầng hầm, thiền. Vài người thậm chí đã trở thành sannyasin. Rất khó gửi cho
họ các vòng mala và tên, nhưng chúng ta đã tìm ra cách và họ đã tìm ra cách. Họ
không thể mặc áo da cam chỗ công khai được.
Một
người đàn bà đã trở thành sannyasin viết thư cho tôi, "Phải làm gì
đây?" Tôi nói, "Dùng mầu đỏ thay vì da cam. Mặc mầu đỏ và nói với mọi
người rằng bạn yêu chủ nghĩa cộng sản nhiều tới mức bạn không thể cưỡng được
cám dỗ mặc mầu đỏ!" Cô ấy thích ý tưởng này. Cô ấy nói, "Hay đấy!"
Nhưng
khi họ thiền và họ gặp nhau ở tầng ngầm họ lại mặc bộ da cam, họ đeo vòng mala,
họ đọc sách, họ nghe băng. Họ thậm chí đã dịch vài cuốn sách sang tiếng Nga;
toàn là viết tay, những cuốn sách đó được truyền tay từ người nọ sang người
kia. Nhưng họ không ở đây; vẫn còn khó cho họ ở đây.
Một
người đàn bà đã viết rằng cô ấy thực sự thoát khỏi nước Nga nếu ai đó có thể
giúp cô ấy để cho cô ấy có thể ở lại đây mãi mãi. Cô ấy thực sự bỏ chồng, bỏ
nhà, bỏ an ninh, an toàn, mọi thứ.
Chẳng
mấy chốc từ Trung Quốc và Nga nữa mọi người sẽ tới đây. Nơi đây đang trở thành
ngôi đền vũ trụ - và nó đặc biệt dành cho những người không còn quan tâm gì tới
tôn giáo. Họ có thể hiểu tôi, bởi vì tu sĩ đã phá huỷ mối quan tâm của họ vào
tôn giáo. Nhà thờ đã phá huỷ mọi khả năng cho bất kì người thông minh nào được
mang tính tôn giáo.
Câu
hỏi cuối cùng:
Thưa
thầy kính yêu,
Sao
tôi bao giờ cũng bị kích động dục khi tôi thấy đàn bà đẹp?
Nanda
Kishor, điều đầu tiên là ở chỗ bạn là người Ấn Độ. Rất khó cho người Ấn Độ
không bị kích động khi anh ta thấy người đàn bà đẹp. Kìm nén lâu, lâu rồi... vô
thức của bạn đầy những kìm nén cho nên bạn không bỏ lỡ cơ hội nào cả.
Tất
nhiên bạn không biểu lộ nó ra. Chính dũng cảm của bạn là bạn đã hỏi câu hỏi
này.
Chẳng
có gì sai trong việc bị kích động dục bởi việc nhìn đàn bà đẹp. Bạn đơn giản
đang ngưỡng mộ cô ấy, có vậy thôi. Bạn đang nói cô ấy đẹp và hấp dẫn. Trong một
thế giới hiểu biết hơn bạn sẽ đơn giản đi tới người đàn bà này và cám ơn cô ấy
và cô ấy sẽ chấp nhận ngưỡng mộ của bạn với lòng biết ơn. Nếu người đàn bà đi
qua và không ai bị kích động về cô ấy, không ai cả, điều đó thực sự là nỗi khổ
phải trải qua.
Tôi
đã là giáo sư đại học ở một đại học trong vài năm. Một hôm chuyện xảy ra: tôi
đang ngồi trong phòng thầy hiệu phó. Một cô gái tới, cô ấy kêu và khóc và cô ấy
nói rằng một cậu con trai đã liên tục trêu chọc cô ấy. Cậu ta ném những viên đá
nhỏ vào cô ấy, viết thư tình cho cô ấy.
Tất
nhiên thầy hiệu phó giận lắm. Tôi ngồi đó cho nên ông ấy bảo tôi, "Thầy có
thể giúp được cô gái này không? Thầy có thể an ủi em ấy được không?"
Tôi
hỏi cô gái, "Nếu không ai trêu chọc em và không ai viết thư tình và không
ai ném đá vào em, điều đó có đúng không? Em có hạnh phúc không?"
Nước
mắt cô ấy biến mất. Trong một khoảnh khắc cô ấy bị choáng. Thế rồi cô ấy nói,
"Em chưa bao giờ nghĩ về nó theo cách đó."
Tôi
nói, "Điều đó sẽ là khổ thực sự đấy! Điều này đơn giản chỉ ra rằng ai đó
đang quan tâm tới em. Tới anh ta và cám ơn anh ta đi! Chẳng có gì sai trong điều
đó cả. Anh ta đơn giản có chút ít si tình; anh ta không biết cách bày tỏ lòng
ngưỡng mộ với cô gái đẹp. Cho cậu đó tới tôi và tôi sẽ dạy cho cậu đó đôi điều!
Cậu đó cần chút ít chỉ bảo - cậu đó không có trực giác. Và em không cần lo lắng
và em không cần khóc: điều này là tự nhiên!"
Nanda
Kishor, bạn là một trong những loài vật. Con người là con vật chừng nào con người
còn chưa trở thành vị phật. Nếu bạn trở thành vị phật và thế rồi bạn bị kích động
bởi việc nhìn người đàn bà đẹp, tới và hỏi câu hỏi này. Thế thì đó sẽ là cái gì
đó đáng hỏi bởi vì thế thì nó sẽ là vấn đề. Nhưng bạn không là vị phật … cho
nên trong lúc đó cứ tận hưởng đi! Một khi bạn trở thành vị phật, thế thì tôi
không thể giúp được - chẳng ai có thể giúp được. Thế thì cho dù bạn muốn đi xuống,
cũng không có cách nào.
Đó
là bản năng con vật, có nhiều trong con vật cũng như trong con người. Vâng, điều
đó phải được siêu việt lên, nhưng bằng kìm nén bạn không thể siêu việt lên được.
Chấp nhận nó đi. Chấp nhận là bước đầu tiên tới siêu việt. Và đừng cảm thấy mặc
cảm về nó - nó không phải là tội lỗi.
Khi
bạn nhìn mặt trời lặn đẹp bạn không cảm thấy mặc cảm. Khi bạn nhìn hoa đẹp và bạn
bị hấp dẫn bạn không cảm thấy mặc cảm nào. Khi bạn nhìn khuôn mặt đẹp của người
đàn ông hay đàn bà, sao bạn phải cảm thấy mặc cảm là bạn bị hấp dẫn, nếu bạn muốn
ngoái nhìn lại, nếu bạn muốn tới gần và có cái nhìn gần hơn? Sao bạn phải cảm
thấy mặc cảm về điều đó? Nhưng đó là cách bạn đã được dạy trong nhiều thế kỉ. Nếu
bạn tới gần người đàn bà hơn, người đàn bà sẽ bắt đầu la lên gọi cảnh sát và bạn
sẽ bắt đầu tìm cớ.
Không
ai nhìn vào mắt người khác. Điều đó bị coi là xúc phạm. Ngay cả nếu bạn muốn
nhìn vào đôi mắt đẹp nào đó bạn cũng không thể nhìn được. Chỉ ba giây là được
phép. Làm sao trên khắp thế giới mọi người đã đi tới đồng ý về ba giây là cái
gì đó huyền bí. Chỉ trong ba giây bạn có thể nhìn vào ai đó và người kia sẽ
không cảm thấy bị khó chịu. Nếu bạn nhìn nhiều hơn thế, người kia cảm thấy khó
chịu.
Có
thể có lí do. Bạn không biết cách nhìn vào người khác; bạn không biết cách nhìn
một cách duyên dáng. Có thể cái nhìn của bạn xấu - và nó nhất định xấu nếu bạn
đang mang nhiều dâm dục bị kìm nén. Cái nhìn của bạn sẽ có tính khiêu dâm. Sâu
bên dưới trong tưởng tượng của mình bạn sẽ cởi quần áo người đàn bà này ra, và
cô ấy cảm thấy khó chịu. Bạn là ai mà cởi quần áo cô ấy trong tưởng tượng của bạn?
Cái nhìn của bạn xấu; dường như bạn đang xuyên thấu con người cô ấy, dường như
bạn đã tìm ra cái thay thế cho việc xuyên thấu dục qua đôi mắt. Bạn đang thu cô
ấy thành đồ vật, và không ai muốn bị thu lại thành đồ vật. Cái nhìn của bạn
không có kính trọng trong nó. Nếu bạn có kính trọng, nếu kích động của bạn có
cái đẹp, duyên dáng, thì không có vấn đề gì.
Vâng,
một ngày nào đó điều đó phải được siêu việt lên bởi vì đây cũng là nhị nguyên -
đàn ông/đàn bà - cùng nhị nguyên như giữa dương và âm, sinh và tử, mùa hè và
mùa đông. Nó phải được siêu việt lên. Người ta phải đi tới điểm từ đó không cái
gì quấy rối bình thản của bạn, không cái gì làm sao lãng bạn khỏi trung tâm của
bạn.
Nhưng
cách thức đi tới điều đó không phải là kìm nén, Nanda Kishor. Bước đầu tiên là
chấp nhận: nó là tự nhiên. Chấp nhận nó như một phần của bản tính của bạn, như
một phần của sinh học của bạn. Và thế rồi cố gắng hiểu nó, quan sát nó, ngắm
nó, chứng kiến nó. Dần dần, dần dần khi việc chứng kiến của bạn phát triển, bạn
sẽ đi ra ngoài nó. Một ngày nào đó bạn sẽ không thấy khác biệt gì giữa đàn ông
và đàn bà: bạn đã vượt ra ngoài dâm dục. Đó mới là brahmacharya đúng, vô dục
đúng, nhưng nó không phải là điều đã được bảo cho bạn.
Nhân
danh vô dục, dục đã bị kìm nén trong hàng thế kỉ và bạn đã trở thành đầy những
dâm dục. Thay vì siêu việt lên trên nó bạn đang sôi lên bên trong.
Để
tìm xem vợ có lừa mình không, một người đàn ông đã mua một con vẹt. Con vẹt này
là con chim kì lạ, nhưng trong đánh nhau đã bị mất cả hai chân và phải giữ
thăng bằng cho mình trên xương chậu.
Một
hôm người này hỏi con vẹt và thấy rằng vợ mình thực ra đã lừa mình. Anh ta
nhanh chóng hỏi vẹt, "Chuyện gì xảy ra?"
Con
vẹt nói, "Đầu tiên vợ ông hôn người đàn ông lạ, và rồi cô ấy bắt đầu cởi
quần áo ra...."
"Rồi
sao?" người đàn ông ngắt lời. "Và thế rồi cả hai người lên giường...."
"Rồi sao?" người đàn ông la lên.
"Thế
rồi cô ấy kéo chăn lên...." "Thế rồi, thế rồi sao?"
"Tôi
không biết," con vẹt nói. "Tôi bị ngã!"
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment