Osho – Bồ Đề Đạt Ma - Thiền sư
vĩ đại nhất
Chương 8: Mọi người đều có
quyền sai
Trong số mười đại đệ tử của Shakyamuni (Thích ca Mâu Ni), Ananda là người đứng đầu về học vấn. Nhưng ông ấy đã không biết Phật. Mọi điều ông ấy làm là học và nhớ. A la hán không biết Phật. Mọi điều họ là biết nhiều cách công phu để nhận ra, và họ trở nên bị mắc bẫy bởi nhân quả. Đấy là nghiệp của người hữu tử: không thoát khỏi sinh tử. Bằng việc làm đối lập lại điều người đó dự định, những người như thế báng bổ Phật. Việc giết chết họ cũng sẽ không sai. Lời kinh nói, “Vì icchantikas là không có khả năng tin tưởng, việc giết họ sẽ là không đáng trách, trong khi những người tin đạt tới trạng thái phật tính.”
... Những người thấy rằng tâm
trí của mình là phật không cần cạo đầu. Thường dân là chư phật nữa. Chừng nào
họ còn chưa thấy bản tính của họ, những người cạo đầu đơn giản là
cuồng tín.
Nhưng vì thường dân có gia đình
không từ bỏ dục, làm sao họ có thể trở thành phật được?
Ta chỉ nói về việc thấy bản
tính của ông. Ta không nói về dục đơn giản bởi vì ông không thấy bản tính của
mình. Một khi ông thấy bản tính của mình, dục về cơ bản là phi vật chất. Nó
chấm dứt cùng với vui thích của ông trong nó. Cho dù thói quen nào đó vẫn còn
lại, chúng không thể làm hại ông. Bởi vì bản tính của ông về bản chất là thuần
khiết. Mặc dầu ngụ trong thân thể vật chất của năm hợp phần, bản tính của ông
về cơ bản là thuần khiết. Nó không thể bị biến chất.
... Một khi ông chấm dứt việc
níu bám và để mọi sự hiện hữu, ông sẽ tự do, ngay cả với sinh tử. Ông sẽ biến
đổi mọi thứ. Ông sẽ sở hữu những quyền năng tâm linh mà không thể bị cản trở.
Và ông sẽ an bình ở bất kì nơi đâu ông hiện hữu. Nếu ông hoài nghi điều này,
ông sẽ không bao giờ thấy được qua bất kì cái gì. Tốt hơn cả là ông không làm
gì. Một khi ông hành động, ông không thể tránh được vòng sinh tử. Nhưng một khi
ông thấy bản tính của mình, ông là vị phật, cho dù ông làm việc như một đồ tể.
Nhưng đồ tể tạo ra nghiệp bởi
việc giết thịt con vật. Làm sao họ có thể là phật được?
Ta chỉ nói về việc thấy bản
tính của ông. Ta không nói về việc tạo ra nghiệp. Bất kể điều chúng ta làm,
nghiệp của chúng ta không bám giữ lên chúng ta.
... Tại Ấn Độ, hai mươi bẩy tổ
sư chỉ truyền ấn của tâm trí. Và lí do duy nhất ta tới Trung Quốc là để truyền
giáo huấn tức thời của Đại Thừa (Mahayana): tâm trí này là phật. Ta
không nói về giới luật, sùng kính hay thực hành khổ hạnh...
Ngôn ngữ và hành vi, giới luật
và quan niệm tất cả đều là chức năng của tâm trí chuyển động. Mọi chuyển động
đều là chuyển động của tâm trí... Tâm trí không chuyển động cũng không vận
hành. Bởi vì bản chất của vận hành của nó là trống rỗng. Và trống rỗng về bản
chất là bất động.
Do đó, lời kinh bảo chúng ta
chuyển động không chuyển động, du hành không du hành, thấy không thấy, cười
không cười, nghe không nghe, biết không biết, hạnh phúc không hạnh phúc, bước
không bước, đứng không đứng. Và lời kinh nói, “Đi ra ngoài ngôn ngữ. Đi ra
ngoài ý nghĩ.”
... Ta có thể nói tiếp, nhưng
buổi thuyết giáo tóm tắt này sẽ phải tiến hành.
Giáo huấn của Bồ đề đạt ma
trong những lời kinh này là đáng quan tâm sâu sắc và có tầm quan trọng lớn cho
mọi người hành hương về chân lí. Nhưng có vài phát biểu sai. Và lần đầu tiên,
có lẽ những sai sót này không phải do hiểu biết của đệ tử; những phát biểu sai
này là do bản thân Bồ đề đạt ma đưa ra.
Do đó, trước khi tôi đi vào lời
kinh, tôi muốn làm rõ ràng vài điều.
Trước hết, giáo huấn của Phật
Gautam đã tạo ra hai loại người tìm kiếm: một loại được gọi là a la hán, và
loại kia là bồ tát.
A la hán là người nào đó đã làm
đủ mọi nỗ lực để trở nên chứng ngộ và một khi người đó chứng ngộ, người đó hoàn
toàn quên những người vẫn còn đang loạng choạng trong bóng tối. Người đó không
bận tâm tới người khác. Trở nên chứng ngộ là đủ cho người đó. Thực ra, theo a
la hán thậm chí ý tưởng từ bi vĩ đại không là gì mà lại là một loại gắn bó - và điều đó có ý nghĩa nào đó cần được hiểu.
Từ bi cũng là quan hệ, dù đẹp
đẽ và lớn lao đến đâu, nó cũng là mối quan tâm tới người khác. Nó cũng là ham
muốn. Mặc dầu nó là ham muốn tốt điều đó không tạo nên khác biệt gì. Theo a la
hán, ham muốn là tù túng dù nó là tốt hay xấu. Dây xích có thể được làm bằng
vàng hay sắt, không thành vấn đề; dây xích vẫn cứ là dây xích. Từ bi là dây
xích vàng.
A la hán nhấn mạnh rằng không
ai có thể giúp được bất kì ai khác chút nào. Chính ý tưởng về giúp đỡ người
khác là dựa trên nền tảng sai. Bạn chỉ có thể giúp được bản thân mình.
Điều có thể xuất hiện cho tâm
trí thông thường là a la hán rất vị kỉ. Nhưng nếu bạn nhìn không định kiến gì,
có lẽ người đó có cái gì đó quan trọng vô cùng để tuyên bố với thế giới: Ngay
cả việc giúp đỡ người khác cũng là can thiệp vào cuộc sống của người đó, vào
kiểu sống của người đó, vào định mệnh của người đó, vào tương lai của người đó.
Do đó, a la hán không tin vào bất kì từ bi nào. Từ bi đối với họ là một ham
muốn đẹp đẽ khác để giữ bạn bị buộc vào với thế giới của gắn bó. Nó là cái tên
khác - đẹp đẽ, nhưng dầu vậy vẫn chỉ là cái tên cho tâm trí ham muốn.
Tại sao bạn phải quan tâm rằng
ai đó khác trở nên chứng ngộ? Đấy không phải là việc của bạn. Mọi người có tự
do tuyệt đối để là chính họ. A la hán nhấn mạnh vào tính cá nhân và tự do tuyệt
đối của nó. Cho dù với mục đích tốt, không ai có thể được phép can thiệp vào cuộc sống của bất kì ai
khác.
Do đó khoảnh khắc người đó trở
nên chứng ngộ, a la hán không chấp nhận đệ tử, ông ấy không bao giờ thuyết
giảng, ông ấy không bao giờ giúp đỡ theo bất kì cách nào. Ông ấy đơn giản sống
trong cực lạc của mình. Nếu ai đó theo cách riêng của mình có thể uống nước
giếng của ông ấy, ông ấy sẽ không ngăn cản người này, nhưng ông ấy sẽ không gửi
lời mời tới bạn. Nếu bạn tới ông ấy theo cách riêng của bạn và ngồi bên cạnh
ông ấy và uống sự hiện diện của ông ấy, và đi theo con đường đó, đấy là việc
của bạn. Nếu bạn đi lạc lối, ông ấy sẽ không ngăn bạn lại.
Theo một cách nào đó đây là
kính trọng lớn lao nhất được dành cho tự do cá nhân - tới cực điểm rất logic.
Cho dù bạn đang rơi vào trong bóng tối sâu sắc, a la hán sẽ im lặng chờ đợi.
Nếu sự hiện diện của ông ấy có thể có ích, tốt, nhưng ông ấy không định đưa tay
ra để giúp bạn, trao cho bạn bàn tay, kéo bạn ra khỏi hố. Bạn được tự do rơi
xuống hố và nếu bạn có thể ngã xuống hố, bạn hoàn toàn có khả năng thoát ra
khỏi nó. Chính ý tưởng về từ bi là xa lạ đối với triết lí của a la hán.
Phật Gautam đã chấp nhận rằng
có vài người sẽ trở thành a la hán. Và con đường của họ sẽ được gọi là Tiểu thừa
Hinayana, “cỗ xe nhỏ,” con thuyền nhỏ trong đó chỉ một người có thể đi sang bờ
bên kia. Ông ấy không bận tâm tới việc tạo ra con thuyền lớn và thu thập cả đám
đông trong một chiếc thuyền Noah’s Ark và đưa họ sang bờ bên kia. Ông ấy đơn
giản tự mình đi trong chiếc thuyền nhỏ của mình, thậm chí không thể chứa được
hai người. Ông ấy được sinh ra một mình trên thế giới, ông ấy đã sống và chết
đi hàng triệu lần một mình trên thế giới; một mình ông ấy đi tới cội
nguồn vũ trụ.
Phật chấp nhận và kính trọng
cách thức của a la hán - nhưng ông ấy cũng biết có những người có từ bi mênh
mông và khi họ trở nên chứng ngộ, khao khát đầu tiên của họ là chia sẻ niềm vui
của mình, chia sẻ chân lí của mình. Từ bi là con đường của họ. Họ cũng có chân
lí sâu sắc nào đó.
Những người này được gọi là bồ
tát. Họ khêu gợi và mời những người khác tới cùng kinh nghiệm. Và họ chờ đợi
trên bờ bên này lâu nhất có thể được để giúp mọi người tìm kiếm, người đã sẵn
sàng đi trên con đường, và người chỉ cần hướng dẫn; họ cần một bàn tay giúp đỡ.
Bồ tát có thể trì hoãn việc ra đi của mình sang bờ bên kia bởi vì lòng từ bi
đối với những người mù đang loạng choạng trong bóng tối.
Phật có cảm nhận thấu đáo và
bao la đến mức ông ấy đã chấp nhận cả hai - rằng a la hán đơn giản là bản tính
của vài người, và bồ tát cũng đơn giản là bản tính của vài người khác.
Và đây là quan điểm của Phật
Gautam, rằng trong trường hợp như vậy, không cái gì có thể được làm về điều đó
- a la hán sẽ là a la hán và bồ tát sẽ là bồ tát. Bản tính của họ có những định
mệnh khác nhau, mặc dầu họ đạt tới cùng mục đích cuối cùng. Nhưng sau khi đạt
tới mục đích, có việc rẽ ra các con đường.
A la hán không dừng lại trên bờ
bên này dù chỉ một khoảnh khắc. Họ mệt mỏi, họ đã ở đủ lâu trong bánh xe luân
hồi này, đi qua sinh và tử hàng triệu lần. Điều đó đã quá nhiều rồi. Họ đã chán
và họ không muốn ở lại dù một phút thêm nữa. Con thuyền của họ đã tới đích, và
ngay lập tức họ bắt đầu đi hướng tới bờ bên kia. Đây là cái như thế của họ.
Và có những bồ tát, người có
thể nói với lái đò, “Đợi đã, không vội gì. Tôi còn muốn nấn ná trên bờ bên này
đủ lâu - trong khổ, trong đau khổ, trong phiền não, trong thống khổ. Bây giờ
tất cả những điều đó đã biến mất. Tôi đang tuyệt đối trong phúc lạc, im lặng và
an bình, và tôi không thấy rằng có cái gì hơn nữa ở bờ bên kia. Cho nên chừng
nào tôi có thể xoay xở được, tôi sẽ ở đây để giúp mọi người.”
Phật Gautam chắc chắn là một
trong những người đó, người có thể thấy chân lí cho dù trong mâu thẫn. Ông ấy
chấp nhận cả hai mà không làm cho ai cảm thấy thấp hơn hay cao hơn. Nhưng bồ
tát gọi con đường của họ - ngược với con đường của a la hán - là Đại Thừa
Mahayana, “cỗ xe lớn,” con thuyền lớn. A la hán chỉ là con thuyền nhỏ. Những
anh chàng đáng thương, họ đơn giản đi một mình. Và đã có xung đột liên tục trong
suốt hai mươi nhăm thế kỉ sau Phật Gautam, giữa hai cách tiếp cận khác nhau
này.
Bồ đề đạt ma thuộc vào hàng bồ
tát. Do đó, ông ấy đang đưa ra nhiều phát biểu chống lại a la hán mà không
đúng.
Tôi không thuộc vào a la hán
cũng không thuộc vào bồ tát. Tôi không thuộc vào con đường của Phật Gautam chút
nào. Tôi có viễn kiến riêng của tôi, cảm nhận riêng của tôi. Do đó tôi không có
nghĩa vụ phải đồng ý với Bồ đề đạt ma trên mọi điểm - và đặc biệt trên điểm
này; ngay cả Phật Gautam cũng sẽ không đồng ý với ông ấy. Ông ấy theo con đường
của tông phái đặc biệt.
Thứ hai, ông ấy là một con
người mãnh liệt, rất dữ tợn. Nếu bạn đã thấy bức tranh về ông ấy... bạn có thể
dùng nó để làm cho con bạn sợ. Nhưng đấy không phải là bức tranh đúng về ông
ấy; ông ấy là hoàng tử, con trai của một ông vua lớn miền Nam Ấn Độ, Suha Verma
- đó đã là một đế quốc lớn của Palavas. Ông ấy phải là một con người đẹp đẽ.
Nhưng những bức tranh đó không
biểu thị ảnh chụp thực tại của ông ấy. Chúng mô tả cá tính kì lạ của ông ấy, sự
mãnh liệt của ông ấy.
Cho nên đôi điều ông ấy có thể
nói mà bạn không cần phải đồng ý. Tôi sẽ làm rõ ràng chỗ ông ấy nói điều sai
chỉ bởi vì ông ấy thuộc về Đại Thừa, một tông phái đặc biệt, một ý thức hệ đặc
biệt. Tôi có sự kính trọng mênh mông với cả a la hán và bồ tát, theo cùng cách
như Phật Gautam đã có.
Lời kinh thứ nhất:
Trong số mười đại đệ tử của
Shakyamuni... Shakyamuni là một trong những cái tên của của Phật Gautam, bởi vì
ông ấy thuộc vào thị tộc Shakyas; đế quốc của ông ấy là một đế quốc cổ đại
thuộc vào thị tộc Shakyas. Đấy là giòng dõi chiến binh, cư ngụ chỉ ở đường biên
giới của Nepal và Ấn Độ. Bởi vì thị tộc Shakyas, ông ấy được gọi là Shakyamuni.
Muni nghĩa là người đã đạt tới im lặng tối thượng.
Trong số mười đại đệ tử của
Shakyamuni, Ananda là người đứng đầu về học vấn.
Bây giờ, Ananda là một trường
hợp đặc biệt, và cái gì đó cần phải được hiểu về ông ấy. Ananda là anh em con
chú con bác của Phật Gautam, lớn hơn ông ấy vài tuổi. Và theo một phần của văn
hoá Đông phương người anh lớn hơn gần như là bố, cho dù người đó có thể là anh
họ lớn hơn.
Khi Ananda tới gặp Phật Gautam
để được điểm đạo làm đệ tử, ông ấy nói, “Nghe đây, Siddhartha” - Siddhatha là
tên của Phật Gautam do bố mẹ đặt cho. Ông ấy không gọi ông ấy là Phật Gautam,
ông ấy nói với ông này, “Nghe đây, Siddhartha” - ông này chỉ là em của ông ấy.
“Anh sắp được em điểm đạo theo tính chất sannyas, sắp lên đường. Một khi anh là
đệ tử của em, anh sẽ không còn là anh của em nữa.
Một khi anh là đệ tử của em, em
sẽ ở vị trí ra lệnh cho anh và anh sẽ phải vâng lời. Ngay bây giờ anh đang ở vị
trí ra lệnh cho em và em sẽ phải vâng lời. Trước khi tình huống này thay đổi,
anh muốn vài điều kiện cần được ghi nhớ.”
Phật Gautam nói, “Điều kiện gì
vậy?”
Ananda nói, “Chúng cũng không
lớn lắm đâu, nhưng với anh chúng lại có nghĩa nhiều. Một, hứa với anh trong khi
anh vẫn đang còn là anh của em rằng sau khi anh trở thành đệ tử của em, em sẽ
không bảo anh phải rời xa khỏi em để thuyết giảng thông điệp cho dân chúng.
Không, anh định ở cùng em cả ngày lẫn đêm, cả đời em. Anh muốn chăm sóc thân
thể em, sự thoải mái của em, sức khoẻ của em. Em không thể ngăn cản được anh.
Lời hứa này em phải nói ra ngay bây giờ, trước khi anh không còn ở vị trí nói
điều gì nữa.”
Phật nói, “Cứ công nhận như vậy
đi”... bởi vì như một người em nhỏ, không có cách nào khác ở phương Đông. Bạn
phải chấp nhận, một cách kính trọng, những người lớn tuổi hơn.
Ananda nói, “Và điều kiện thứ
hai là ở chỗ anh có thể hỏi bất kì câu hỏi nào - liên quan, không liên quan, có
nghĩa, vô nghĩa - và em không thể nói, ‘Đợi đấy, một ngày nào đó ông sẽ hiểu.’
Em sẽ phải trả lời anh ngay lập tức; em không thể cố trì hoãn. Em không thể tìm
cớ... ‘Ngày mai ta sẽ xem.’ Bất kì khi nào anh hỏi câu hỏi, ngay lập tức em
phải trao cho anh câu trả lời.”
Phật Gautam nói, “Cứ công nhận
như vậy đi.”
Và Ananda nói, “Điều thứ ba,
nếu anh đem ai đó tới gặp em - cho dù vào giữa đêm khi em đang ngủ - em cũng
không thể nói không. Em sẽ phải gặp người đó, dù người đó là ai.”
Phật Gautam cười to và nói, “Cứ
công nhận như vậy đi.”
Nhưng Ananda nói, “Sao em lại
cười?”
Ông ấy nói, “Đấy không phải là
một phần của điều kiện. Bây giờ anh cứ được điểm đạo đi, và thế rồi anh có thể
hỏi câu hỏi tại sao em cười. Bất kì khi nào anh hỏi câu hỏi, em sẽ trả lời nó -
nhưng ba điều kiện này là đầy đủ.”
Ananda trở thành một đệ tử và
sống với Phật Gautam trong bốn mươi hai năm liên tục, ngày tới ngày qua. Xuân
tới rồi đi, mùa thay đổi, năm tiếp năm; ông ấy giống như cái bóng của Phật
Gautam.
Nhưng nhiều người tới sau
Ananda và trở thành đệ tử và trở nên chứng ngộ - còn Ananda vẫn không chứng
ngộ. Sau hai mươi năm ông ấy hỏi Phật Gautam, “Chuyện gì xảy ra vậy? Mọi người
tới sau tôi đã trở nên chứng ngộ... còn tôi đã ở gần thầy thế. Không ai đã từng
nghe thầy nhiều như tôi đã nghe thầy, không ai có thân mật như tôi đã có với
thầy. Tại sao tôi không trở nên chứng ngộ?”
Phật Gautam nói, “Bây giờ ông
có thể hiểu tại sao ta lại cười - còn nhớ chứ? Hai mươi năm trước đây khi ông
yêu cầu, trước khi điểm đạo, về ba điều kiện, ta đã cười. Đây là lí do: bởi vì
các điều kiện của ông sẽ là rào chắn. Ông không thể quên được rằng ông là anh
họ của ta. Cho dù ông đã trở thành đệ tử, sâu bên dưới ông biết rằng ông là anh
họ ta. Đó là bản ngã tinh vi của ông - mặc dầu ông đã ở cùng ta hơn bất kì
người nào khác, và ông đã nghe ta hơn bất kì người nào khác. Ông đã trở thành
thông thái thế, có học thế, ông đã ghi nhớ mọi buổi thuyết giáo ta nói. Ông có
trí nhớ mênh mông nhưng ông không có kinh nghiệm của riêng ông. Ông có thể lặp
lại một cách máy móc mọi thứ ta đã nói trong hai mươi năm. Nhưng bản ngã tinh
vi của ông, rằng ông là anh họ ta và ông có đặc quyền về ba điều kiện, đang vận
hành như rào chắn. Ông sẽ không trở nên chứng ngộ chừng nào ta chưa
chết.”
Và thực tế, đó là cách thức sự
việc xảy ra. Sau điểm đạo bốn mươi hai năm, Phật Gautam chết. Và trong số mười
nghìn đệ tử, Ananda là người đầu tiên rơi lệ khi Phật nói, “Bây giờ ta muốn nói
lời tạm biệt với tất cả các ông. Thân thể ta già cỗi và mệt mỏi, và bất kì điều
gì ta muốn nói, ta đã nói rồi. Bây giờ ta muốn đi vào nghỉ ngơi tối thượng.”
Ananda đang ngồi bên phải ông
ấy và ông ấy bật khóc như đứa trẻ nhỏ, mặc dầu ông ấy còn già hơn cả Phật
Gautam. Và Phật Gautam nói, “Sao thế, Ananda, ông kêu và khóc sao? Ta không
phải là người dốt nát chết đi, ta đang chết một cách tuyệt đối mãn nguyện,
chứng ngộ - và không phải là chứng ngộ thường, chứng ngộ mà trước đây chưa bao
giờ tuyệt diệu thế. Và ta cũng đang chết đi được mãn nguyện vô biên bởi vì chưa
bao giờ trước đây có nhiều đệ tử của một thầy đã trở nên chứng ngộ. Ta sắp đi vào
trong chỗ nghỉ ngơi tối thượng, bởi vì không có cái chết cho ta.”
Ananda nói, “Tôi không khóc vì
thầy. Thầy hiểu lầm tôi. Tôi đang khóc cho bản thân tôi - rằng trong bốn mươi
hai năm tôi đã từng theo thầy như cái bóng, ngày tới ngày đi, và tôi vẫn chưa trở
nên chứng ngộ. Tôi vẫn còn vô ý thức như đã từng. Điều gì sẽ xảy ra cho tôi khi
thầy đã ra đi? Và tôi nghĩ rằng trong những năm sắp tới tôi sẽ không gặp được
người có tầm cỡ như thầy, mà cũng không có cơ hội được thân mật và gần gũi như
thế. Thầy đang bỏ lại tôi trong bóng tối mà dường như không có bình minh.”
Phật Gautam lại cười to và thậm
chí nhoà lệ trong mắt. Ananda không thể nào cưỡng lại việc hỏi ông ấy, “Sau
thầy cười? Thầy toàn cười vào những khoảnh khắc kì lạ.”
Phật Gautam nói, “Trong vòng
hai mươi bốn giờ nữa ông sẽ biết. Bởi vì một khi ta chết rồi, trong vòng hai
mươi bốn giờ ông sẽ trở nên chứng ngộ. Một khi ta chết rồi, ông không còn là
anh họ của ta nữa. Một khi ta chết rồi, bản ngã tinh vi của ông cũng sẽ tan
biến; nó không thể nào biến mất đi khi ta còn sống.”
Và thực tế điều đó đã xảy ra
theo cùng cách đó: trong vòng hai mươi bốn giờ, Ananda đã trở nên chứng ngộ.
Ông ấy đã không rời khỏi chỗ, ông ấy đã không ăn uống hay ngủ. Ông ấy vẫn còn
ngồi đó với mắt nhắm, dưới hai gốc cây nơi Phật Gautam đã nằm xuống và đi vào
trong giấc ngủ vĩnh hằng.
Anada vẫn còn ở nguyên chỗ cũ
với đôi mắt nhắm nghiền, với quyết tâm tuyệt đối rằng ông ấy sẽ mở mắt ra chỉ
nếu con mắt bên trong của ông ấy mở ra. Nếu ông ấy trở nên chứng ngộ, chỉ thế
thì ông ấy sẽ nhìn thế giới bên ngoài bằng con mắt của mình. Bằng không ông ấy
sẽ vẫn còn bên trong bản thân mình.
Trước hết ông ấy muốn thấy tự
tính riêng của mình; chỉ thế thì ông ấy mới chuyển động mắt mình hay thân thể
mình khỏi chỗ này. Bằng không ông ấy sẽ chết ở đây. Với quyết tâm như thế, với
cam kết tuyệt đối như thế... Đêm đó đã được ông ấy nhìn như không có bình minh,
nhanh chóng chấm dứt, trong vòng hai mươi bốn giờ. Ông ấy đã chứng ngộ. Nhưng
ông ấy vẫn còn là một a la hán. Đó là tính duy nhất của ông ấy, là một a la
hán.
Việc kết án của Bồ đề đạt ma về
Ananda trên điểm này là đúng, trên điểm khác là sai. Ông ấy nói: Ananda là
người đứng đầu về học vấn, nhưng ông ấy không biết Phật. Điều đó là đúng.
Tất cả những điều ông ấy làm là
học và nhớ. Điều đó đúng.
A la hán không biết Phật.
Điều đó sai. A la hán bản thân
họ trở thành phật; không có vấn đề về việc không biết tới Phật của họ. Vâng,
như một học giả, như một người có học lớn, như một người học hỏi vô biên và một
người có trí nhớ phi thường, ông ấy không biết bản chất của chứng ngộ là gì,
phật tính là gì. Nhưng điều đó không phải bởi vì ông ấy là a la hán. Khoảnh
khắc ông ấy trở nên chứng ngộ, thế thì ông ấy trở thành một a la hán. A la hán
tính hay bồ tát tính tới sau chứng ngộ, không trước.
Chỉ khi bạn trở nên chứng ngộ
bạn mới nhận ra bản tính của mình là gì. Liệu có bất kì ham muốn nào về từ bi
không, hay không có ham muốn về bất kì từ bi nào? Bạn có sẵn sàng rời bờ bên
này ngay lập tức, hay bạn định ở lại đây để giúp cho vài người trở nên chứng
ngộ?
Tôi biết phát biểu này rằng A
la hán không biết Phật không phải là lỗi của người đã ghi chép lại. Đấy là phát
biểu của Bồ đề đạt ma, bởi vì ông ấy là một bồ tát và xung đột giữa bồ tát và a
la hán đã cũ hai mươi nhăm thế kỉ. Họ cứ kết án lẫn nhau. Họ đơn giản không thể
hiểu người trở nên chứng ngộ và không có từ bi.
Bồ tát không thể nào hiểu nổi
rằng chứng ngộ là có thể mà không cần từ bi và a la hán không thể nào hiểu nổi
rằng con người của chứng ngộ vẫn có ham muốn giúp đỡ; người đó vẫn chưa trở
thành vô ham muốn. Người đó vẫn còn muốn can thiệp vào phong cách sống của
những người khác. Nếu họ không muốn thức tỉnh, bạn là ai mà đánh thức họ? Thế
chỉ đi một cách im lặng để cho giấc ngủ của họ không bị phá vỡ... với a la hán
đó là từ bi thực. Bạn không muốn can thiệp vào cuộc sống của bất kì ai; mọi
người đều phải sống cuộc sống riêng của mình
theo ánh sáng riêng của mình; theo tính cá nhân riêng của mình. Và bất kì khi
nào thời điểm của người đó tới để trở nên chứng ngộ, người đó sẽ trở nên chứng
ngộ. Bạn không thể buộc bất kì ai trở nên chứng ngộ. Đấy không phải là cái gì
đó mà ai đó có thể được thuyết phục, hay ai đó có thể bị cám dỗ vào.
A la hán không thể hiểu được bồ
tát, mà bồ tát cũng không thể hiểu được a la hán. Họ là các cực đối lập với
nhau qua đường kính. Đó là lí do tại sao tôi nói sai lầm này không phải là của
người ghi lại, sai lầm này tới từ bản thân Bồ đề đạt ma; ông ấy không phải là
một a la hán.
Bây giờ, các quốc gia phật giáo
bị phân chia thành các tông phái. Chẳng hạn, Nhật Bản thuộc vào Đại Thừa, mảnh
đất của bồ tát, còn Sri Lanka thuộc vào Tiểu thừa, mảnh đất của a la hán. Tại
Sri Lanka không có kính trọng với Thiền chút nào. Nếu bạn nói về Bồ đề đạt ma ở
Sri Lanka thì họ sẽ đơn giản cười vào bạn - “Kẻ đó điên!” Và nếu bạn nói về a
la hán như Ananda ở Nhật Bản, họ sẽ đơn giản nói, “Người đó hoàn toàn vị kỉ; cả
đời mình ông ta đơn giản ích kỉ mù quáng đến mức ông ta đặt điều kiện với Phật
Gautam và khi ông ta trở nên chứng ngộ, thế thì ông ta đơn giản biến mất, đi
sang bờ bên kia, đi vào vĩnh hằng - không bận tâm một khoảnh khắc rằng có những
người cần vài chỉ dẫn, vài hướng dẫn; người đang đứng ở vạch biên giới, chỉ một
chút ít thúc đẩy và họ sẽ lấy cú nhảy lượng tử.”
Nhưng nếu Bồ đề đạt ma mà không
có định kiến, nếu ông ấy cũng có khả năng hiểu lập trường của quan điểm đối lập
toàn bộ, ông ấy chắc sẽ nói, “Các kẻ sĩ, những người có học, các học giả không
biết tới Phật.” Và thế thì điều đó sẽ hoàn toàn đúng. Việc dùng từ a la hán đơn
giản không chỉ sai, mà còn chỉ ra một thái độ rất cuồng tín: “Chỉ ta mới đúng còn mọi người khác đều sai.” Tôi muốn đổi từ a la hán thành
kẻ sĩ, học giả, người có học - chỉ để giúp Bồ đề đạt ma đi tới nhận biết ông ấy.
Các kẻ sĩ không biết tới Phật.
Tất cả họ đều biết nhiều cách công phu để nhận ra, và họ trở nên bị mắc bẫy bởi
nhân quả. Đấy là nghiệp của người hữu tử: không thoát khỏi sinh tử. Bằng việc
làm cái đối lập lại điều người đó dự định, những người như thế báng bổ Phật.
Phát biểu này có thể đúng về
các kẻ sĩ, nhưng phát biểu này tuyệt đối sai về a la hán. Và điều này chỉ ra
thái độ cuồng tín của ông ấy khi ông ấy nói, Việc giết họ sẽ không sai.
Tôi không thể đồng ý với ông ấy
được. Ông ấy đang nói, “Giết a la hán sẽ không sai.” Và theo Phật Gautam ngay
cả giết một con kiến là sai và a la hán ít nhất cũng là cái gì đó còn tốt hơn
con kiến.
Nhưng đây là thái độ cuồng tín
của ông ấy - và chính bởi vì thái độ cuồng tín, mãnh liệt này mà bức tranh của
ông ấy đã được vẽ dữ tợn thế. Chắc chắn là ông ấy đã không bận tâm: nếu có bất
kì nhu cầu nào để giết a la hán, ông ấy chắc đã giết. Ông ấy là con người của
lời mình; điều ông ấy nói ông ấy ngụ ý. Bạn không thể cố nói rằng đấy chỉ là
biểu tượng được. Bồ đề đạt ma không nói theo biểu tượng, ông ấy nói đích xác
điều ông ấy ngụ ý:
Việc giết họ sẽ không sai. Lời
kinh nói, “Vì icchantikas không có khả năng tin tưởng, việc giết họ sẽ là không
đáng trách, trong khi những người tin tưởng đạt tới trạng thái phật tính.”
Bây giờ điều gì đó khác cần
phải được hiểu - từ này, icchantikas. Nó có nghĩa là người một chiều, người chỉ
biết một khía cạnh của chân lí.
Và đối lập với icchantikas là
những người như Mahavira và các tirthankaras của người Jaina; họ được gọi là
anicchantikas, người nhìn mọi khía cạnh của chân lí. Mahavira bắt rễ sâu sắc
vào trong thái độ của đa chiều đến mức ông ấy là người đầu tiên trong toàn bộ
lịch sử nhân loại đem tới lí thuyết tương đối.
Phải mất hai mươi nhăm thế kỉ
sau nó mới xảy ra cho phương Tây.
Chỉ Albert Einstein, qua một
con đường rất khác như một nhà khoa học, đã đem cùng thông điệp này tới, cùng
triết lí của lí thuyết tương đối. Mahavira nói rằng bất kì điều gì bạn nói chỉ
là tương đối. Ông ấy nói nhiều về lí thuyết tương đối đến mức ông ấy chưa bao giờ
đưa ra chỉ một phát biểu về bất kì cái gì - bởi vì bất kì một phát biểu nào
cũng sẽ chỉ nêu ra một khía cạnh. Còn các khía cạnh khác thì sao?
Ông ấy đã thấy rằng mọi chân lí
đều có bẩy khía cạnh. Cho nên bạn hỏi ông ấy một câu hỏi và ông ấy sẽ trả lời bằng
bẩy câu trả lời, và bẩy câu trả lời đó sẽ mâu thuẫn lẫn nhau. Bạn sẽ trở lại từ
cuộc gặp với Mahavira càng lẫn lộn hơn là bạn đã từng lẫn lộn trước đó - và ông
ấy là người sáng tỏ nhất đã từng bước đi trên trái đất này. Nhưng cách tiếp cận
của ông ấy là đa chiều.
Chẳng hạn, nếu bạn hỏi
Mahavira, “Thầy nghĩ Thượng đế là gì?”... ngay chỗ đầu tiên, ông ấy không bao
giờ nêu ra phát biểu của mình mà không có từ “có lẽ.” Mọi phát biểu đều bắt đầu
bởi “có lẽ”, bởi vì việc tỏ ra chắc chắn chính là cuồng tín. “Có lẽ” giữ cho
bạn cởi mở: người khác cũng có thể đúng, cái đối lập cũng có thể đúng. “Có lẽ”
không đóng lại cánh cửa, nó giữ cho bạn
tỉnh táo và nhận biết về các khả năng khác.
Bạn hỏi về Thượng đế: người Ki
tô giáo là icchantikas; họ sẽ nói, “Vâng, có một Thượng đế và chỉ một Thượng
đế.” Bạn hỏi người Mô ha mét giáo, họ nói có duy nhất một Thượng đế. Đây là
icchantikas. Họ tin theo một cách mà chỉ có thể gọi là một chiều. Họ không nhìn
vào các khả năng khác - họ sợ nhìn vào các khả năng khác. Đó là lí do tại sao
họ có một Thượng đế và một nhà tiên tri - thậm chí không có hai nhà tiên tri
cho người Mô ha mét giáo, bởi vì có nguy hiểm: nếu bạn lấy hai nhà tiên tri, họ
có thể mâu thuẫn nhau, họ có thể nói điều gì đó, họ có thể không đồng ý với
nhau. Sẽ có rắc rối.
Tốt hơn cả là vẫn còn với một
nhà tiên tri, một Thượng đế, một kinh sách linh thiêng. Đây là những người sợ
thực tại đa chiều.
Ngược lại với những người này
là những người như Mahavira người cứ đi sang các cực đoan khác: họ sẽ không nói
điều gì theo cách tuyệt đối, họ bao giờ cũng sẽ phát biểu mọi thứ theo cách
tương đối. Bạn hỏi về Thượng đế và Mahavira có bẩy phát biểu và bạn không thể
nào hình dung ra nổi liệu Thượng đế là có hay không.
Trong số bẩy phát biểu đó, phát
biểu thứ nhất là:
“Có lẽ có Thượng đế - nhưng có
lẽ. Tôi không thể nào chắc chắn tuyệt đối được; mà bạn cũng không thể nào chắc
chắn tuyệt đối được. Có một khả năng.” Một phát biểu tương đối - “Có lẽ có
Thượng đế.” Đây là phát biểu thứ nhất của ông ấy.
Phát biểu thứ hai của ông ấy:
“Có lẽ không có Thượng đế, bởi vì ai biết? - có mọi
khả năng là kẻ vô thần có thể đúng. Không ai đã bao giờ thấy
ngài. Cho nên tất cả những điều chúng ta có thể nói là, có
lẽ không có Thượng đế.”
Nhưng sau khi nghe hai phát
biểu này - “Có lẽ có Thượng đế, có lẽ không có Thượng đế...” người ta nhất định
hỏi, thế thì tôi sẽ tin vào cái gì? Do đó mới đến phát biểu thứ ba của ông ấy:
“Có lẽ cả hai đều đúng.” Nhưng một cách tự nhiên, bạn đang định hỏi, “Làm sao
mà cả hai đều có thể đúng được?”
Thế rồi tới phát biểu thứ tư
của ông ấy: “Có lẽ cả hai đều không đúng.” Và theo cách này ông ấy cứ tiếp tục
- bẩy phát biểu - và bạn sẽ bị lẫn lộn thế... “Có lẽ không phải mà đi hỏi câu
hỏi này! Mình đi quách từ trước thì còn tốt hơn.” Chính bởi vì cách tiếp cận đa
chiều, tương đối này mà Mahavira không thể nào có được nhiều tín đồ. Có thể có
rất ít người lập dị không bận tâm điều đó nghĩa là gì, người đơn giản rơi vào
trong tình yêu với cá tính của Mahavira. Ông ấy là con người đẹp của sự hiện
diện mênh mông và của sự cao thượng - cho nên vài người lập dị có thể yêu ông ấy. Họ không bận tâm tới
điều ông ấy nói. Họ chỉ quan tâm ông ấy là gì: “Đừng bận tâm về điều ông ấy
nói; chỉ nhìn vào cái đẹp của ông ấy, ánh sáng của ông ấy - con mắt của ông ấy
với sự cao thượng và chiều sâu, và toàn thể cuộc sống của ông ấy một bài ca như
thế, cực lạc như thế. Đừng bận tâm về điều ông ấy nói; đấy không phải là việc
của chúng ta. Con người này là đúng. Phát biểu của ông ấy có thể đúng, có thể
không đúng. Bản thân ông ấy cũng nói ‘có lẽ’.”
Nhưng phát biểu của Bồ đề đạt
ma là: Vì icchantikas là không có khả năng tin tưởng, việc giết họ sẽ là không
đáng trách, trong khi những người tin tưởng đạt tới trạng thái phật tính... Tôi
không thể nào ủng hộ cho phát biểu này được.
Icchantikas, những người tin
vào tính tuyệt đối của chân lí có quyền tồn tại và sống theo ánh sáng của họ -
hệt như những người tin vào cảm nhận tương đối về chân lí có quyền sống, và
sống theo cách nhìn riêng của họ. Mọi người đều có quyền sống theo kinh nghiệm
riêng của mình và tìm con đường của mình. Không ai có quyền giết bất kì ai.
Nhưng Bồ đề đạt ma đang rất
trung thực theo một cách nào đó. Ông ấy đơn giản nói điều ông ấy trung thực cảm
thấy. Trung thực của ông ấy không thể nào bị hoài nghi - phát biểu của ông ấy
có thể bị phủ nhận, nhưng ý định của ông ấy không thể bị phủ nhận. Người Ki tô
giáo đã giết người Mô ha mét giáo, người Do Thái; người Mô ha mét giáo đã giết
người Hindu; người Hindu đã giết Phật tử. Mặc dầu không ai nói “Cứ đi và giết
những người không tin vào triết lí của ông.” Đó là điều đã xảy ra trên khắp thế
giới. Ít nhất Bồ đề đạt ma là trung thực. Ông ấy chưa bao giờ giết bất kì ai
nhưng ông ấy đang nói ra thái độ của mình theo những lời dứt khoát, rằng hiểu
biết của ông ấy có giá trị với ông ấy, đúng đến mức cho dù một người không theo
hiểu biết của ông ấy phải bị giết đi, điều đó cũng không đáng trách. Mặc dầu
ông ấy chưa hề giết bất kì ai... ông ấy có một cách nói dữ tợn, cách sống,
nhưng ông ấy có trái tim rất mềm mại.
Nhưng các tôn giáo đã làm những
hành động đó mà không nói về điều đó. Không tôn giáo nào trên thế giới có thể
được nói là đã đối xử một cách đáng yêu, kính trọng với các tôn giáo khác. Mọi
tôn giáo đều nghĩ họ là những người đúng duy nhất; họ có độc quyền về chân lí
và mọi người khác đều sai.
Cách tiếp cận của tôi là ở chỗ
mọi người đều có quyền là phải hay là trái. Và nếu ai đó quyết định là trái,
thế nữa người đó phải được trao cho mọi kính trọng và mọi tình yêu. Đấy là
quyết định của người đó, và nếu người đó muốn sống với quyết định của mình, việc
can thiệp vào cuộc sống của người đó và vào triết lí của người đó không phải là
việc của bất kì ai.
... Những người thấy rằng vô
trí của mình là phật thì không cần cạo đầu mình.
Tại đấy tôi có thể đồng ý toàn
bộ với Bồ đề đạt ma. Nếu bạn thấy bản tính của mình, thế thì không có nhu cầu
phải làm bất kì điều gì ngu xuẩn: cạo trọc đầu hay ở trần hay đứng lộn ngược
hay làm mọi loại xoay vặn thân thể mình, tốt trong rạp xiếc nhưng không tốt
trong tìm kiếm chân lí, trong tìm kiếm bản tính riêng của bạn, trong tìm kiếm
Thượng đế.
Thường dân là chư phật nữa.
Tại đấy tôi có thể đồng ý tuyệt
đối với Bồ đề đạt ma. Không chỉ các sư tìm thấy chân lí. Ngay cả thường dân -
nếu người đó tìm ra chút ít thời gian để im lặng và có tính thiền và khám phá
tự tính của mình trong ngôi nhà của mình, trong bãi chợ, người đó sẽ trở thành
vị phật. Không có vấn đề rằng người đó phải ở tu viện, hay người đó phải từ bỏ
thế giới. Đấy là nhấn mạnh của tôi nữa, rằng không ai cần từ bỏ thế giới.
Thế giới không phải là vấn đề,
vấn đề là vô nhận biết của bạn. Từ bỏ vô nhận biết của bạn đi, đừng bận tâm tới
thế giới. Thế giới có thể làm gì cho bạn? Bạn có thể sống trong lâu đài, lâu
đài không thể ngăn cản chứng ngộ của bạn. Bạn có thể sống trong nghèo khó tuyệt
đối, nghèo khó không thể giúp cho việc chứng ngộ của bạn được. Trong nghèo khó
hay trong giầu có, trong túp lều của người nghèo hay trong lâu đài, điều cơ bản
là tính thiền của bạn, nhận biết của bạn. Bất kì chỗ nào nó xảy ra, bạn sẽ trở nên chứng ngộ. Bạn không phải từ
bỏ cái gì.
Điều đó là điều tuyệt đối đúng:
Thường dân là chư phật nữa.
Chừng nào họ còn chưa thấy bản tính của mình thì những người cạo đầu họ đơn
giản là cuồng tín.
Đây là điều gì đó cần được hiểu
rằng Bồ đề đạt ma bản thân ông ấy đang đưa ra những phát biểu là phát biểu của
người cuồng tín - nhưng bao giờ cũng dễ thấy cọng rơm nhỏ trong mắt của ai đó
khác, và rất khó thấy ngay cả con lạc đà trong mắt của riêng bạn. Mọi người
không bao giờ nghĩ về những phát biểu của riêng mình, về hành vi của riêng
mình, về cuộc sống của riêng mình. Họ bao giờ cũng nhìn vào người khác - họ rất
nghệ thuật, giỏi nói trong việc tìm ra cái gì sai với ai đó khác - và bản thân
họ có thể mang cả nghìn cái sai và họ vẫn còn hoàn toàn vô nhận biết. Nhưng đây
là bản tính con người, đây là nhược điểm con người.
Đệ tử này hỏi Bồ đề đạt ma:
Nhưng vì thường dân có gia đình không từ bỏ dục, làm sao họ có thể trở thành
phật được?
Và tại đây tôi có thể ủng hộ Bồ
đề đạt ma với toàn bộ bản thể mình. Điều ông ấy nói là cực kì quan trọng, bởi
vì ông ấy đã nói điều đó một nghìn bốn trăm năm trước. Sigmund Freud còn chưa
được sinh ra; Alfred Adler vẫn còn xa xôi lắm trong tương lai; Havelock Ellis
hay Carl Gustav Jung hay Assagioli hay Masters và Johnson - những người đã làm
việc sâu sắc trong nghiên cứu về tính dục của con người vẫn còn chưa đi vào
trong sự tồn tại. Nhưng điều Bồ đề đạt ma nói chói sáng, quan trọng và lớn lao
đến mức thậm chí phát biểu đơn giản này cũng có thể đã làm cho ông ấy trở thành
người tiên phong.
Ông ấy nói: Ta chỉ nói về việc
thấy bản tính của ông. Ta không nói về dục đơn giản bởi vì ông không thấy bản
tính của ông. Một khi ông thấy bản tính của ông, dục về cơ bản là phi vật chất.
Đây là sáng suốt vĩ đại, và bắt
nguồn từ một người đã được coi là một trong những thánh nhân vĩ đại nhất của
Phật giáo. Khoảnh khắc bạn trở nên chứng ngộ, dục là phi vật chất. Nó chỉ là
cùng chất liệu tạo ra giấc mơ; nó sẽ biến mất theo cách riêng của nó. Bạn không
phải kìm nén nó, bạn không phải chống lại nó.
Nó chấm dứt cùng với vui thích
của ông trong nó. Khi bạn trở nên ngày càng chín chắn trong thiền của mình, dục
trở thành ngày càng ít thú vị. Cái ngày bạn trở thành hài hoà hoàn toàn với sự
tồn tại, dục biến mất giống như giọt sương trong ánh sáng mặt trời sáng sớm.
Và chừng nào mà dục còn chưa
biến mất theo cách riêng của nó, việc loại bỏ nó, ép buộc nó là rất nguy hiểm,
bởi vì thế thì bạn sẽ tạo ra đủ mọi loại đồi bại. Và mọi tôn giáo trên thế giới
đều đã tạo ra những con người đồi bại: đồng dục, đồng dục nữ, đồng dục nam...
và mọi người cứ phát minh ra những cách diễn đạt đồi bại, kì lạ cho năng lượng
dục của họ bởi vì tôn giáo của họ lên án dục.
Dục là cái gì đó tự nhiên, sinh
học. Chừng nào bạn còn chưa siêu việt lên trên sinh học của mình, chừng nào bạn
còn chưa siêu việt lên trên thân thể mình, chừng nào bạn còn chưa trở thành hài
hoà với cái gì đó bên ngoài tâm trí, dục sẽ vẫn còn đó dưới dạng này hay dạng
khác. Và nếu nó vẫn còn lại ở đó, tốt hơn cả là nó vẫn còn tự nhiên, sinh học,
bởi vì dục đồi bại đi vào hoàn cảnh tồi tệ hơn. Dục tự nhiên có thể được thăng
hoa, dục đồi bại trở thành khó biến đổi hơn.
Tôi chưa bao giờ nghe nói về
bất kì người đồng dục nào trở nên chứng ngộ, tôi chưa bao giờ nghe nói về bất
kì người bất lực nào lại trở nên chứng ngộ. Điều này không thể nào chỉ là ngẫu
nhiên. Thực ra, người bất lực đáng phải trở nên chứng ngộ sớm hơn bất kì ai
khác, bởi vì người đó là vô dục bẩm sinh! Tất cả những người vô dục khác chỉ là
vô dục ăn theo, dò chỗ nọ, rỉ chỗ kia - người bất lực tuyệt đối chắc chắn là vô
dục. Nhưng người bất lực chưa bao giờ trở nên chứng ngộ.
Thực ra, chính bản thân năng
lượng dục biến đổi thành chứng ngộ của bạn. Bởi vì người bất lực không có năng
lượng dục, người đó trong hoàn cảnh tồi tệ nhất; người đó không thể đi lên cao
hơn, người đó không có năng lượng để bay như đại bàng ngang qua mặt trời. Người
đó không thể trở thành một Phật Gautam hay một Bồ đề đạt ma.
Bồ đề đạt ma đang nói rằng dục
là phi vật chất; điều quan trọng là biết tới tự tính của bạn, biết tới bản thể
mình. Và thế thì mọi thứ cần tới sẽ xảy ra theo cách của nó.
Cho dù thói quen nào đó vẫn còn
lại, chúng cũng không thể nào làm hại ông được.
Đây là một phát biểu rất có ý
nghĩa từ một người chứng ngộ. Cho dù thói quen nào đó vẫn còn lại, chúng cũng
không thể nào làm hại ông được.
Chẳng hạn, nếu bạn cứ hút
thuốc... Tôi không thấy rằng một người chứng ngộ có thể bị rối loạn theo bất kì
cách nào bởi việc hút thuốc. Chứng ngộ mà bị rối loạn bởi hút thuốc hay uống
trà hay cà phê sẽ không có giá trị mấy. Những thói quen nhỏ của bạn - chơi
bài... tôi không thấy có bất kì khả năng nào nó có thể gây hại cho chứng ngộ
của bạn.
Bởi vì bản tính của ông về bản
chất là thuần khiết.
Điều bạn làm không tạo ra khác
biệt gì. Một khi bạn biết tới bản tính thuần khiết tinh tuý của mình thế thì
mọi thứ đều được phép với bạn. Thế thì bạn có khả năng quyết định cho bản thân
mình cái gì là đúng và cái gì là sai. Bởi vì điều này đã có những vấn đề như
vậy nên có nhiều khó khăn trong việc hiểu lẫn nhau. Những khác biệt nhỏ về thói
quen đã trở thành rào chắn lớn thế cho hiểu biết.
Mohammed quen ăn vào ban đêm.
Thực ra, người Mô ha mét giáo nhịn ăn vào ban ngày và ăn vào ban đêm. Vào những
ngày tôn giáo của họ, cả ngày họ sẽ nhịn ăn từ lúc mặt trời mọc tới lúc mặt
trời lặn và trong đêm họ sẽ có bữa tiệc ngon lành. Bây giờ, người Jaina không
thể nào hiểu nổi điều đó chút nào. Ban ngày bạn có thể ăn, nhưng ăn đêm sao? Và
điều đó nữa, lại vào ngày tôn giáo sao?
Khi người Jaina nhịn ăn họ
không ăn nhiều ngày, và ngay cả nước họ cũng chỉ uống vào ban ngày, không vào
ban đêm. Một cách tự nhiên, họ nghĩ rằng người Mô ha mét giáo đang làm điều gì
đó sai. Nhưng họ không biết tình huống trong đó Mohammed đã sống, trong đó Mô
ha mét giáo đã được sinh ra. Đấy là tôn giáo sa mạc, nơi ngày nóng đến mức nhịn
ăn ban ngày là dễ dàng hơn. Dễ dàng ăn tiệc hơn vào ban đêm khi mọi sự trở nên
mát mẻ hơn và khi bầu trời trở nên đầy sao và sa mạc trở thành một nơi im lặng
và đẹp đẽ. Ban ngày, đấy chỉ toàn nóng bỏng.
Ramakrishna liên tục ăn cá. Bây
giờ, người Jaina không thể nào chấp nhận Ramakrishna là người chứng ngộ. Người
chứng ngộ có thể ăn cá sao? Nhưng nếu bạn hiểu phát biểu của Bồ đề đạt ma, bạn
có thể tha thứ cho Ramakrishna... chỉ là thói quen cũ, sống ở Bengal nơi gạo và
cá là thức ăn duy nhất. Từ ngay chính thời thơ ấu của mình, ông ấy đã ăn gạo và
cá, và mọi người khác cũng ăn thế. Ngay cả khi ông ấy đã trở nên chứng ngộ, thói quen cũ vẫn tiếp tục. Nó trở thành phi vật
chất.
Trên toàn bộ thế giới này, các
tình huống là khác nhau, khí hậu là khác nhau. Có khí hậu lạnh nơi rượu có thể
là một nhu cầu chủ chốt. Chẳng hạn, tại Liên bang Xô viết có thể là với người
chứng ngộ cũng không thể nào không uống vodka được. Trời lạnh thế, nó làm đông
cứng thậm chí cả máu bạn - một chút ít ấm áp là cần thiết.
Người tôn giáo thực sự là rất
hiểu biết - hiểu về những người khác nhau, các hoàn cảnh khác nhau, những tình
huống địa lí khác nhau, khí hậu khác nhau, tuổi tác khác nhau, hình mẫu khác
nhau, thói quen khác nhau. Và những điều nhỏ bé không thể nào quấy rối một kinh
nghiệm lớn như chứng ngộ.
Mặc dầu ngụ trong thân thể vật
chất của năm hợp phần, bản tính của con về cơ bản là thuần khiết. Nó không thể
bị biến chất.
Không gì có thể làm biến chất
tâm thức của bạn. Nó về bản chất là không thể bị biến chất được.
... Một khi ông chấm dứt việc
níu bám và để mọi sự hiện hữu, ông sẽ tự do, ngay cả với sinh tử. Ông sẽ biến
đổi mọi thứ. Ông sẽ sở hữu những quyền năng tâm linh mà không thể nào bị cản
trở. Và ông sẽ an bình ở bất kì nơi đâu ông hiện hữu. Nếu ông hoài nghi điều
này, ông sẽ không bao giờ thấy được qua bất kì cái gì. Tốt hơn cả là ông không
làm gì. Một khi ông hành động, ông không thể tránh được vòng sinh tử. Nhưng một
khi ông thấy bản tính của mình, ông là vị phật, cho dù ông làm việc như một đồ
tể.
Thực ra, điều đó đã xảy ra: tại
Nhật Bản một đồ tể đã trở nên chứng ngộ. Người đó là đồ tể của hoàng đế, và khi
người đó trở nên chứng ngộ, thậm chí hoàng đế cũng phải tới để tỏ lòng kính
trọng. Hoàng đế không thể nào tin nổi, bởi vì ông ấy đã thấy vị đồ tể này chặt
thịt súc vật ngay sau cung điện của mình... và ông ấy đã hỏi ông này, “Bếp của
ta thì sao đây? Ông đã trở nên chứng ngộ, hiển nhiên là ông sẽ không làm nghề
cũ nữa.”
Thầy cười to. Ông ấy nói,
“Không, tôi sẽ tiếp tục. Bây giờ tôi có thể mổ thịt súc vật với từ bi hơn, với
nhiều tình yêu hơn, với nhiều duyên dáng hơn. Và dẫu sao đi chăng nữa chúng
cũng sẽ bị mổ thịt bởi ai đó khác, người sẽ không có cùng từ bi như tôi có thể
có, người sẽ không duyên dáng với chúng như tôi có thể. Khi chúng sẽ bị đưa đi
mổ thịt, điều đó có tạo nên khác biệt gì?”
“Khi có liên quan tới chứng ngộ
của tôi, nó vẫn còn không bị biến chất trong bất kì và mọi tình huống. Bầu trời
bên trong của tôi không thể bị che phủ lần nữa. Tôi đã đi tới điểm mà tại đó
người ta không thể rơi ngược lại. Cho nên đừng lo; tôi sẽ quay lại vào ngày
mai, với nghề của tôi.” Và ông ấy vẫn còn sống trong gần hai mươi năm sau chứng
ngộ của mình. Vào buổi sáng ông ấy sẽ làm nghề của mình về mổ thịt súc vật và
vào buổi tối ông ấy sẽ dạy cho các đệ tử về chứng ngộ. Và không chỉ ông ấy đã
trở nên chứng ngộ, vài đệ tử của ông ấy cũng đã trở nên chứng ngộ.
Bồ đề đạt ma là đúng: nếu bạn
hiểu rằng bạn là vị phật, nếu bạn thấy bản tính của mình, thế thì cho dù bạn có
làm việc như đồ tể điều đó cũng là phi vật chất.
Đệ tử này hỏi: Nhưng đồ tể tạo
ra nghiệp bởi việc giết thịt con vật. Làm sao họ có thể là phật được?
Ta chỉ nói về việc thấy bản
tính của ông. Ta không nói về việc tạo ra nghiệp. Bất chấp điều chúng ta làm,
nghiệp của chúng ta không bám giữ lên chúng ta.
Một khi bạn biết tới bản tính
của mình, không cái gì bám lên bạn được. Tự do của bạn là tuyệt đối không thể
bị biến chất. Bạn không thể làm bất kì điều gì mà có thể đi ngược lại tự do của
bạn.
... Tại Ấn Độ, hai mươi bẩy tổ
sư chỉ truyền ấn của vô trí. Và lí do duy nhất ta đã tới Trung Quốc là để
truyền giáo huấn tức thời của Đại Thừa (Mahayana): vô trí này là phật. Ta không
nói về giới luật, sùng kính hay thực hành khổ hạnh...
Ngôn ngữ và hành vi, giới luật
và quan niệm tất cả đều là chức năng của tâm tri chuyển động. Mọi chuyển động
đều là chuyển động của tâm trí... Vô trí không chuyển động không vận hành. Bởi
vì bản chất của vận hành của nó là trống rỗng. Và trống rỗng về bản chất là bất
động.
Do đó, lời kinh nói cho chúng
ta chuyển động không chuyển động, du hành không du hành, thấy không thấy, cười
không cười, nghe không nghe, biết không biết, hạnh phúc không hạnh phúc, bước
không bước, đứng không đứng. Và lời kinh nói, “Đi ra ngoài ngôn ngữ. Đi ra
ngoài ý nghĩ.”
... Ta có thể nói tiếp tục,
nhưng buổi thuyết giáo tóm tắt này sẽ phải tiến hành.
Phát biểu này dường như là khó
- bước không bước, nghe không nghe, nói không nói - nhưng nó không khó chút
nào, chỉ một chút ít hiểu biết... Nếu bạn đang nói một cách tự phát - không
chuẩn bị, không biết từ nào sẽ được mình thốt ra - bạn đang nói không nói. Hành
động tự phát là không có hoạt động nào về phần bạn cả.
Bạn đơn giản cho phép sự tồn tại ca lên bài ca riêng của nó.
Chẳng hạn, ngay bây giờ tôi
đang nói không nói, tôi đơn giản cho phép toàn bộ bản thể mình đáp ứng với lời
kinh của Bồ đề đạt ma, không biết chút gì về cái gì sẽ là lời tiếp của tôi.
Cũng như bạn nghe nó, tôi cũng nghe nó. Như bạn ngồi đó, tôi cũng ngồi đó. Cái
ghế này trống rỗng. Có một cách nói khi bạn chuẩn bị, khi bạn không nói với đáp
ứng từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, mà chỉ lặp lại điều gì đó như vẹt, điều
bạn đã tập luyện, điều bạn đã thực hành.
Mọi hành động được kể ra ở đây
và nhiều nữa trong cuộc sống của bạn, bạn có thể làm nó theo hai cách. Một cách
là từ nhận biết, trong khoảnh khắc hiện tại - không được chuẩn bị, tự phát, cho
phép sự tồn tại sở hữu bạn, nói thông qua bạn hay hành động thông qua bạn. Thế
thì bạn tuyệt đối ở ngoài cái bẫy của hành động của mình hay lời mình. Bạn chỉ
là người quan sát. Bạn không hành động, bạn đơn giản quan sát bất kì cái gì
đang xảy ra.
Tính quan sát này, sự chứng
kiến này là bí mật tối thượng của việc tạo ra cuộc sống tôn giáo, của
việc tạo ra cuộc sống siêu việt, cuộc sống tâm linh, của chứng ngộ, của phật
tính.
Được chứ, Maneesha?
Vâng, thưa Osho.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment