Osho - Thiền động (Đi tìm điều huyền bí - Tập
1)
Chương 11. Thuật giả kim của việc thở hỗn loạn
Người hỏi: một nhà huyền môn người Nga, George Gurdjieff đã viết bản kí sự về cuộc phiêu lưu tâm linh của ông ấy được biết như những cuộc gặp gỡ với những người xuất sắc. Trong cuốn sách này ông ấy nói rằng ông ấy rất bị ấn tượng bởi cuộc thảo luận với một tu sĩ Sufi về pranayam và asanas yoga. Tu sĩ này đã cảnh báo ông ấy đừng làm mọi loại luyện tập thở, bởi vì bất kì thay đổi nào trong hệ thống thở tự nhiên cũng sẽ đem tới những mất trật tự trong cuộc sống với kết quả thảm hoạ. Thầy nói gì về điều đó?
Có chân lí nào đó trong điều ông ấy nói về
pranayam và những bài tập thở khác. Trong thực tế, không có lời nói dối nào mà
không chứa một mẩu chân lí; điều đó không thể khác được. Mọi dối trá đều có
chút ít chân lí trong nó. Và chính yếu tố chân lí nhỏ bé này gây ấn tượng cho
người ta. Nhưng cùng với nó, lời dối trá đi tiếp và tìm ra sự tín nhiệm; bằng
không người ta sẽ không biết về điều đó.
Bây giờ đúng là chúng ta không thể can thiệp
và cản trở những con đường tự nhiên của cuộc sống mình; bằng không sẽ có rắc
rối. Sẽ là tốt nếu chúng ta không cản trở vận hành tự nhiên của thân thể mình;
chúng ta không nên can thiệp vào cách chúng ta thở, cách chúng ta bước, đứng
hay ngồi. Bởi vì ngay khi chúng ta đặt ra những cản trở trên con đường của chúng,
thì thay đổi bắt đầu xảy ra.
Nhớ rằng bất kì loại mất nào cũng đều có nghĩa
thay đổi, và việc được cũng có nghĩa thay đổi. Cả mất lẫn được đều là những
thay đổi. Cho nên nếu bạn muốn vẫn còn như bạn đang thế, thì đúng là bạn đừng
nên can thiệp vào việc thở của mình. Nhưng nếu bạn có chỗ nào đó để đi, nếu bạn
muốn đem tới thay đổi, biến đổi trong cuộc sống của mình, thế thì bạn sẽ phải
nhận lấy nguy cơ. Nguy cơ là nếu bạn đem tới thay đổi trong hình mẫu thở của
mình, nó sẽ làm thay đổi toàn thể phong cách sống của bạn. Nếu bạn được thoả
mãn với việc là bạn như hiện thời, nếu bạn cho rằng như bạn hiện tại thế là
được, bạn không cần làm gì cả. Nhưng nếu bạn cảm thấy rằng như bạn hiện tại là
không đủ, thế thì bạn sẽ phải tạo ra thay đổi.
Và thế thì thay đổi trong việc thở của chúng
ta trở thành quan trọng với chúng ta, quan trọng nhất. Và ngay khi các bạn tạo
ra khác biệt trong cách thở của mình, nhiều điều trong các bạn sẽ bắt đầu gắn
lại với nhau. Bây giờ, sau hàng nghìn kinh nghiệm, người ta phát hiện ra cái gì
là cái sẽ bị bỏ đi khỏi bạn và cái gì là cái sẽ được gắn lại và được thêm vào
cho bạn. Chính bây giờ là tốt khi vấn đề được giải quyết - một khoa học thực
sự.
Vài điều cần được biết đối với tất cả chúng ta
từ những kinh nghiệm hàng ngày của mình. Chẳng hạn, khi bạn giận dữ, việc thở
của bạn trải qua thay đổi; nó không còn như cũ nữa. Và việc thở thay đổi ngay
cả khi bạn cảm thấy yên tĩnh và im lặng; nó sẽ không là cái nó vẫn thường là
vậy. Và nếu bạn biết cách thở trong trạng thái im lặng, thế thì bạn có thể tạo
ra trạng thái đó bằng việc điều chỉnh việc thở của mình theo cách tương ứng với
im lặng.
Cả tâm trí và việc thở đều được liên nối với
nhau.
Khi tâm trí bị khuấy động về dục, hình mẫu của
việc thở lập tức trải qua thay đổi. Cho nên trong trạng thái khuấy động dục bạn
không cho phép hình mẫu thở của mình thay đổi, dâm dục sẽ biến mất ngay. Ham
muốn dục sẽ dừng lại; nó không thể kéo dài lâu được. Để bất kì cái gì xảy ra,
mọi thứ trong bộ máy thân thể đều cần ở vào một trạng thái đặc biệt liên kết
với mọi thứ khác. Cho nên nếu bạn bắt đầu thở chậm khi một con sóng giận dữ
mạnh tấn công bạn, giận dữ sẽ bay hơi; bởi vì nó sẽ thấy không có chỗ trong
việc thở chậm để ở lại như nó vẫn thế.
Do đó kỉ luật của việc thở có ý nghĩa lớn lao.
Thay đổi trong việc thở ảnh hưởng tới thay đổi tương ứng trong tâm trí bạn. Và
không có nguy hiểm gì được bao gồm khi nó đã được thiết lập - và được thiết lập
rất khoa học - cách tâm trí cư xử trong những trạng thái thở khác nhau. Có nguy
hiểm tất nhiên trong những giai đoạn khởi đầu của thực nghiệm này. Trong thực
tế, nguy hiểm có đó ngay cả bây giờ trong giai đoạn thực nghiệm của mọi cuộc
tìm kiếm phiêu lưu mới trong Cuộc sống. Nhưng khi thực nghiệm này thành công nó
biến thành qui luật khoa học. Chẳng hạn, không thể làm cho một người giận dữ
được nếu người đó giữ việc thở vững chắc và bình thản của mình. Cả hai việc thở
giận dữ và bình thản không thể đi đôi với nhau được. Điều ngược lại cũng là có
thể. Nếu bạn bắt đầu thở theo cách bạn thở trong giận dữ, bạn sẽ thấy ngay việc
phát sinh cơn giận trong tâm trí mình.
Pranayam, hay kỉ luật của việc thở, đã khám
phá ra nhiều phương pháp để làm biến đổi tâm trí bạn.
Cũng tốt để hiểu khác biệt giữa điều chúng ta
gọi là thở nhân tạo và điều chúng ta gọi là thở tự nhiên. Điều các bạn biết như
thở tự nhiên không phải là cái tự nhiên đó. Nếu các bạn hiểu nó đúng, các bạn
sẽ biết rằng nó tất cả đều là thở nhân tạo mà các bạn đã trở nên quen thuộc.
Bởi vì các bạn đã từng thở theo cách này trong thời gian rất dài, ngay từ thời
thơ ấu của mình, nên các bạn đã trở nên quen với nó. Nó đã trở thành thói quen
của bạn - bản tính thứ hai. Thực sự bạn không biết việc thở tự nhiên là gì.
Các bạn thở theo cách này ban ngày, và ban đêm
các bạn thở theo cách hoàn toàn khác. Việc thở ban ngày của các bạn là nhân
tạo. Ban đêm trong khi ngủ, thở tự nhiên chiếm lĩnh - quá trình này, cái vẫn
vận hành trong giấc ngủ của bạn, là tự nhiên hơn thở ban ngày của bạn.
Chúng ta đã lâm vào một thói quen thở nào đó
trong giờ làm việc, cái không tự nhiên, và có lí do cho nó. Nếu bạn có chút ít
tỉnh táo về cách thở của mình khi bạn trong đám đông và khi bạn một mình, bạn
sẽ thấy rằng chúng hoàn toàn khác lẫn nhau. Các bạn cũng thấy rằng cách thở của
các bạn thay đổi ngay khi bạn một mình sau khi đã rời bỏ đám đông.
Bạn thở theo một cách thức nào đó trong khi
bạn đang ở cùng đám đông, và bạn thở hoàn toàn khác khi một mình. Bị bao quanh
bởi đám đông, tâm trí bạn căng thẳng và hơi thở bạn ngắn và nông; nó không đi
sâu. Nhưng khi bạn ngồi một mình và thảnh thơi, việc thở của bạn trở lại sâu.
Và khi bạn lên giường ban đêm, nó trở thành hoàn toàn sâu trong giấc ngủ của
bạn. Bạn chưa bao giờ thở sâu thế lúc ban ngày; khi thức dậy, bạn chưa bao giờ
thở tự nhiên và sâu đến mức nó to và bạn nghe thấy nó.
Điều được biết là việc thở tự nhiên của chúng
ta không phải là tự nhiên; nó chỉ là việc thở được huấn luyện và nhân tạo. Nó
bị nắn theo hình mẫu đến mức nó đã biến thành thói quen.
Trẻ con thở theo cách hoàn toàn khác. Đưa một
đứa trẻ vào giấc ngủ và rồi quan sát nó; nó thở bằng bụng, và khi nó thở chính
bụng của nó dâng lên và hạ xuống. Nhưng người lớn thở bằng ngực của mình, và do
vậy chính ngực của họ chuyển động lên và xuống cùng việc thở. Trẻ con thở bằng
bụng một cách tự nhiên. Và nếu bạn bắt đầu thở theo cách trẻ con thở, tâm trí
bạn sẽ dần đi vào trong cùng trạng thái như của đứa trẻ đó; tâm trí bạn sẽ hồn
nhiên như tâm trí đứa trẻ. Hay ngược lại, nếu bạn trở nên hồn nhiên như đứa trẻ
hồn nhiên, bạn sẽ bắt đầu thở bằng bụng của mình.
Đó là lí do tại sao tượng Phật được làm ở Nhật
Bản và Trung Quốc hoàn toàn khác với tượng được làm ở Ấn Độ. Ở Ấn Độ, hình ảnh
của Phật có bụng nhỏ và ngực lớn. Điều đó hoàn toàn khác ở Nhật Bản và Trung
Quốc; tất cả hình ảnh của ông ấy ở những nước này đều có bụng lớn và ngực nhỏ.
Với chúng ta, tượng Phật của Nhật Bản và Trung Quốc trông có vẻ kì dị; chúng ta
có thể cho rằng chúng méo mó và xấu xí. Nhưng trong thực tế, đó là điều phải;
bởi vì khi một người của im lặng như Phật thở, thì người đó thở bằng bụng mình
- cách thở tự nhiên.
Một người hồn nhiên như Phật không thể thở
bằng ngực được, điều phi tự nhiên và nhân tạo. Và khi người ta thở bằng bụng,
bụng nhất định phải to và phình ra. Cho nên bụng lớn của tượng Phật là mang
tính biểu tượng. Thực tế nó có thể không to đến vậy, nhưng nó phải được miêu tả
theo cách nó đã được miêu tả. Và lí do là ở chỗ một người như Phật thở bằng
bụng, và ông ấy hồn nhiên như trẻ con.
Khi chúng ta hiểu điều này, chúng ta có thể
tiến thêm các bước nữa tới việc thở tự nhiên. Như nó đấy, việc thở của chúng ta
là phi tự nhiên, nhân tạo. Tu sĩ Sufi kia là sai khi bảo các bạn đừng thở kiểu
nhân tạo. Trong thực tế, việc thở của chúng ta đã đủ nhân tạo, đủ phi tự nhiên
rồi. Nhưng khi việc hiểu của chúng ta về nó được sâu sắc hơn, chúng ta sẽ thở
tăng dần tính tự nhiên. Và khi việc thở của chúng ta hoàn toàn tự nhiên, khả
năng lớn nhất của cuộc sống chúng ta sẽ bắt đầu hiện thực hoá và hiển lộ bản
thân nó từ bên trong.
Cũng tốt mà biết rằng việc thực hành thở nhân
tạo bất thần là có ích lợi.
Tại đây, một điều nên được hiểu cho rõ ràng:
rằng chỗ mà có được thì cũng có cả mất nữa. Người quản lí cửa hàng được lợi
nhuận và bị tổn thất nữa theo cùng một mức độ. Và người khác đánh bạc cũng là
người được và là người mất theo cùng mức độ. Tỉ lệ được và mất bao giờ cũng như
nhau. Cho nên tu sĩ Sufi này đang nói rằng điều nguy hiểm là can thiệp vào việc
thở của người ta. Nhưng điều đó chỉ là chân lí một nửa. Nó có đầy các khả năng
nữa. Nó là việc đánh bạc.
Cho nên nếu đôi khi chúng ta thở chút ít theo
cách thức hoàn toàn phi tự nhiên - phi tự nhiên theo nghĩa chúng ta chưa bao
giờ thở theo cách này - chúng ta sẽ bắt đầu nhận biết về những trạng thái rất
mới, những tình huống mới bên trong mình. Đây là những tình huống trong
đó chúng ta có thể phát điên, và chúng ta cũng có thể được giải thoát trong
những tình huống như vậy. Chúng ta có thể điên và chúng ta cũng có thể trở nên
tự do trong những tình huống như vậy. Cả hai khả năng đều có đó. Và vì nó có đó
nên chúng ta những người tạo ra những tình huống này trong mình, chúng ta có
thể kiểm soát rất tốt và hoàn tác lại chúng khi chúng ta nghĩ nó là cần thiết.
Cho nên không có nguy hiểm. Nguy hiểm là có thể chỉ nếu chúng ta không thể hoàn
tác lại được chúng. Nhưng bởi vì chúng ta đã đem chúng vào sự hiện hữu, chúng
ta có thể chấm dứt chúng ngay khi chúng ta muốn.
Những tình huống như vậy là trong tay bạn, bởi
vì mọi khoảnh khắc bạn đều biết bạn đang chuyển đi đâu, liệu bạn có đang di
chuyển tới phúc lạc hay bạn đang di chuyển tới khổ, liệu bạn đang di chuyển tới
an bình hay tới nguy hiểm. Tại mọi bước bạn đều biết rõ ràng điều gì đang xảy
ra. Cho nên không có nguy hiểm về bất cứ cái gì.
Và nếu hình mẫu của việc thở bị thay đổi rất
bất thần và mạnh mẽ, thế thì toàn thể trạng thái bên trong của bạn trải qua
thay đổi hoàn toàn. Chúng ta không bao giờ có thể biết, theo cách thở quen
thuộc của mình, rằng chúng ta tách rời khỏi thân thể. Thói quen đã trở thành ăn
sâu trong chúng ta đã bắc cầu qua hai điều này; nó có tác dụng như chiếc cầu
bắc giữa thân thể và tâm trí, và chúng ta đã trở nên quen thuộc với việc là một
của chúng.
Điều đó cũng giống như bạn về nhà mọi ngày, và
mọi ngày khi bạn về tới nhà bạn tự động quay xe và thấy mình đứng trên hành
lang. Bạn không phải nghĩ về nó - chẳng bao giờ. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu
một tối khi bạn quay xe sang trái như bạn vẫn thường làm mọi ngày, chiếc xe
quay sang phải, và con đường quen thuộc của bạn biến mất, và thay vào đó là một
con đường hoàn toàn khác xuất hiện trong tầm nhìn? Bạn bỗng nhiên đâm ra phân
vân và hoang mang và thấy mình ở trong trạng thái tâm trí rất kì lạ và không
thể tin nổi. Lần đầu tiên bạn sẽ trở nên hoàn toàn nhận biết.
Sự kì lạ của một việc lập tức làm rung chuyển
bạn ra khỏi lối mòn của vô thức; nó đặt dấu chấm hết cho giấc ngủ tâm lí của
bạn. Vô thức của bạn có thể chẳng bao giờ chấm dứt trong một thế giới được tổ
chức và ổn định tốt, và nơi mà mọi thứ cứ tự lặp lại nó một cách máy móc mọi
ngày. Vô thức của bạn cứ diễn ra khi điều gì đó bất ngờ, kì lạ và đáng ngạc
nhiên xảy ra, và xảy ra một cách bất thần.
Chẳng hạn, tôi đang nói với các bạn ở đây.
Điều này sẽ không đem bạn ra khỏi trạng thái vô ý thức. Nhưng nếu bỗng nhiên
cái bàn này bắt đầu nói, thì không người nào có thể vẫn còn vô ý thức ở đây
được. Bạn sẽ không thể vẫn còn vô ý thức được nếu cái bàn này bắt đầu nói. Ngay
cả một nghìn lời của tôi cũng không đủ; bạn sẽ nghe chúng một cách vô ý thức.
Nhưng một lời từ cái bàn này và tất cả các bạn sẽ đạt tới trạng thái nhận biết
mà các bạn chưa bao giờ biết trước đây. Tại sao? Bởi vì nó kì lạ, nó kì quái,
nó ra ngoài con đường. Chính cái kì lạ này làm đảo lộn trạng thái bên trong của
bạn và phá vỡ những hình mẫu hành vi đã được thiết lập.
Cho nên khi các kinh nghiệm về việc thở đẩy
bạn vào một tình huống rất kì lạ, thế thì những khả năng mới của sự phát triển
tâm linh mở ra trước bạn; bạn đạt tới nhận biết, và thế rồi bạn thực sự thấy
điều gì đó.
Và nếu ai đó có thể phát điên một cách có ý
thức, điều đó sẽ là kinh nghiệm lớn; không kinh nghiệm nào khác có thể lớn hơn
thế này. Nhưng người đó phải điên và vậy mà vẫn còn nhận biết. Trong thiền động
tôi phát minh ra, một không gian như vậy có thể được tạo ra, nơi bạn vẫn còn
tràn đầy nhận biết bên trong, và bạn cứ phát điên hoàn toàn bên ngoài. Bạn phát
điên đến mức nếu ai đó khác mà ở vào chỗ bạn thì bạn sẽ không ngần ngại gọi
người đó là điên. Cho nên bạn rất có thể gọi bản thân mình là điên. Nhưng đồng
thời bạn nhận biết và quan sát rằng mình đang múa may và quay tròn. Cho nên cả
hai điều xảy ra đồng thời: nhận biết của bạn và phát điên của bạn.
Nhưng vì bạn nhận biết, làm sao bạn có thể thực
sự phát điên được? Vậy mà điều đang xảy ra cho bạn hệt như với người điên.
Chính trong tình huống như vậy mà một cảm giác về sự kì lạ hoàn toàn tràn ngập
bạn, và bạn tách bản thân mình khỏi thân thể. Không phải là bạn làm điều đó, sự
tách bạch xảy ra theo cách riêng của nó. Bạn bỗng nhiên thấy rằng tất cả mọi
mối nối, tất cả mọi trao đổi giữa bạn và thân thể đã gãy ra, rằng tất cả mọi
cây cầu đã gãy, và mọi điều chỉnh đã sụp đổ. Bạn thấy rằng mọi thứ liên quan đã
trở thành không liên quan; sự thích hợp hàng ngày của mọi thứ tất cả đều bị mất
đi. Mọi thứ đang xảy ra theo cách riêng của chúng. Tay bạn đang di chuyển mà
không có ý muốn của bạn để di chuyển chúng. Mắt bạn trào nước mắt mà không có
việc muốn khóc của bạn. Bạn muốn dừng tiếng cười, nhưng nó cứ tiếp tục mặc bạn.
Việc tạo ra khoảnh khắc của sự kì lạ như vậy
là rất quan trọng cho nhận biết. Và chúng được tạo ra nhanh chóng thông qua
việc thở hơn là thông qua bất kì cái gì khác. Nơi các kĩ thuật khác cần tới
hàng năm, việc thở sẽ làm điều đó trong mười phút. Điều này là vì việc thở được
gắn sâu sắc với bản thể chúng ta đến mức ngay cả một cú chạm khẽ vào nó cũng
làm vang động toàn bộ bản thể chúng ta.
Chúng ta đã có những kĩ thuật rất có giá trị
về việc thở, nhưng tôi không đánh giá cao pranayam hay bất kì cách thở có
phương pháp nào. Bởi vì ngay khi bạn hệ thống hoá việc thở, nó mất đi khả năng
tạo ra tình huống của sự kì lạ cho bạn. Khi một người thực hành việc thở theo
phương pháp - hít vào bằng lỗ mũi này, giữ nó lại một chốc và thế rồi thở nó ra
bằng lỗ mũi kia - điều đó trở thành mang tính phương pháp, nó trở thành một
phần của thói quen người đó. Và nó là việc thở theo thói quen, nó là việc thở
có huấn luyện mà đến lượt nó, lại bắc cầu cho bạn với thân thể.
Việc thở mà tôi dạy đây tuyệt đối là không
phương pháp; nó không có qui tắc nào; nó là ngớ ngẩn. Nó không phải là vấn đề
thở ra, thở vào và giữ lại hơi thở theo cách thức có phương pháp. Nó là cách
tạo ra cảm giác kì lạ trong bạn - để đặt bạn ra ngoài cơ cấu, đặt bạn vào trong
sự lẫn lộn và hỗn loạn hoàn toàn đến mức bạn không thể đưa nó lại về trật tự.
Nếu bạn tạo ra một trật tự trong cái mất trật tự này, tâm trí bạn - cái tinh
ranh thế - sẽ chẳng mấy chốc chấp nhận nó và tự điều chỉnh mình theo nó. Việc
thở theo bất kì cách thức có phương pháp nào cũng sẽ biến thành hệ thống. Nhưng
nó sẽ mất đi tất cả mọi điều kì lạ về nó.
Điều tôi muốn là ở chỗ một khoảnh khắc phải
tới khi tất cả mọi gốc rễ của bạn, tất cả mọi liên kết của bạn bị bẻ gãy trong
một nhát quét. Một ngày phải tới khi bạn bỗng nhiên thấy rằng bạn không có gốc
rễ, không danh tính, không liên kết với bất kì cái gì; rằng bạn không có cha
mẹ, không anh chị em, rằng bạn thậm chí không có thân thể cho mình. Tôi muốn
các bạn hiện hữu trong trạng thái ngớ ngẩn đó nơi người ta dường như mất trí.
Nhớ rằng nếu các bạn đi vào trong trạng thái
vô nhận biết và không có nỗ lực của mình, các bạn sẽ thực sự phát điên. Nhưng
nếu các bạn đạt tới nó qua nỗ lực của mình với nhận biết, các bạn không thể
phát điên được. Bởi vì thế thì nó sẽ trong tay các bạn, và các bạn có thể theo
dõi nó từ bất kì khoảnh khắc nào.
Theo cách nhìn của tôi, nếu một người bị chứng
rối loạn tinh thần mà được khuyên tập thiền động, có mọi khả năng khôi phục
được sự lành mạnh và mạnh khoẻ cho người đó. Bởi vì một khi người đó thấy rằng
mất trí là điều bản thân người đó tạo ra, người đó cũng sẽ biết cách mình có
thể chữa nó. Trong quá khứ, mất trí đã tự nó nắm bắt người đó; người đó không
nắm nó trong tay. Việc thiền này sẽ chỉ ra cho người đó cách người đó có thể
nắm trong tay việc tạo ra nó và thế rồi gạt bỏ nó. Tất nhiên, kĩ thuật này có
rủi ro của nó - nhưng rủi ro này xứng đáng nhận lấy; nó tràn đầy các khả năng.
Cho nên một người có thể được chữa khỏi chứng mất trí thông qua thiền động. Nó
có thể được dùng để trị liệu các ốm yếu tinh thần một cách có kết quả.
Với người bình thường khi tập cách thiền này,
có thể nói có bảo đảm rằng người đó sẽ không bao giờ thành con mồi cho mất trí
- bởi vì bây giờ người đó tự mình biết mất trí được tạo ra như thế nào. Cho nên
người đó rất có thể tắt đi điều người đó đã bật lên. Bây giờ sẽ không thể nào
làm người đó thành điên được, bởi vì bây giờ người đó bao giờ cũng sẽ còn là
người chủ riêng của mình. Bây giờ người đó biết bí mật của mất trí và lành
mạnh.
Việc thở mà tôi đang nói tới đây là không theo
nhịp điệu và không phương pháp. Các bạn không thể lặp lại nó ngày hôm nay theo
cách các bạn đã làm nó ngày hôm qua, bởi vì nó không có bất kì phương pháp nào.
Không chỉ bạn không thể lặp lại việc trình diễn của mình ngày hôm qua - thậm
chí hôm nay bạn cũng không thể chấm dứt nó theo cách bạn sẽ bắt đầu. Nó sẽ là
điều nó sẽ là.
Và ý định duy nhất của nó là để thấy rằng
những ước định của tâm trí bạn, những thói quen của nó, những hình mẫu đã
thiết lập của nó đều bị chùng ra. Ông tu sĩ Sufi kia là phải khi nói rằng những
chi tiết cần thiết của cấu trúc thể chất và tinh thần của bạn sẽ bị chùng ra;
thực tế chúng phải bị làm chùng ra. Tại khoảnh khắc này, cấu trúc này - với
những ước định của nó, những hình mẫu và thói quen đã được thiết lập - vẫn còn
chặt tới mức bởi vì nó, việc tách linh hồn ra khỏi thân thể là không thể được.
Chỉ khi nó hoàn toàn bị làm chùng lại bạn mới biết rằng có cái gì đó còn hơn
nữa bên trong bạn, cái được nối với thân thể và đã không bị tách ra.
Nhưng kể từ khi việc làm chùng này xảy ra qua
việc thở, chính là qua một loại thở đặc biệt mà nó trở thành chặt lại; các bạn
không phải làm gì để thắt chặt nó. Không cần phải làm cái gì đó để điều chỉnh
nó; tự nó điều chỉnh rồi. Tất nhiên, nếu việc thở làm phát sinh ra một loại mất
trí nào đó bên trong bạn mà lọt ra ngoài sự kiểm soát của bạn - nếu nó trở
thành sự ám ảnh và liên tục cho phần còn lại của ngày - thế thì nó thực sự sẽ
là điều xấu.
Nhưng nếu ai đó làm nó chỉ trong một giờ và
thế rồi bỏ nó, thế thì mọi thứ rơi trở lại vị trí riêng của nó. Sau đó chỉ kí
ức về kinh nghiệm này là còn lại với bạn. Bạn sẽ nhớ cách bạn đã trở thành tách
rời khỏi thân thể, và cách bạn đã được nối liền với nó theo cách thức có trật
tự. Nhưng bây giờ bạn biết, thậm chí sau khi được nối với thân thể, rằng bạn là
tách biệt. Bạn biết rằng bạn là tách biệt mặc cho việc thống nhất trở lại với
thân thể sau khi việc thiền đã hết.
Do đó, cách thở này là không thể thiếu được;
chúng ta không thể thực hành mà thiếu nó.
Cho nên ông tu sĩ Sufi kia là phải khi nói
rằng việc can thiệp vào việc thở là nguy hiểm. Nó có nguy hiểm của nó, quả vậy.
Nhưng nếu chúng ta đang tìm kiếm một cuộc sống dư thừa, thì chúng ta phải được
chuẩn bị để đối diện với nguy hiểm lớn như mục đích của chúng ta. Nhưng có nguy
hiểm và có nguy hiểm. Có nguy hiểm bất chợt đương đầu với chúng ta theo cách
riêng của nó, và chúng ta không thể thoát khỏi nó được. Và có nguy hiểm chúng
ta mời tới và tạo ra, và điều đó chúng ta có thể thu được vào bất kì lúc nào
chúng ta muốn.
Chẳng hạn, trong quá trình thiền này các bạn
trải qua đủ mọi loại chuyển động và hành động. Ai đó la hét, ai đó khác đang
nhảy múa và ca hát. Nhưng nếu họ được yêu cầu dừng mọi thứ lại, họ có thể làm
như vậy ngay lập tức. Họ sẽ dừng lại, bởi vì mọi thứ đều là việc làm riêng của họ
- đây là một điều. Và điều đó hoàn toàn khác nếu những việc như khóc lóc và
nhảy múa xảy ra cho bạn một cách không cố ý, không có sự hợp tác của bạn. Một
người điên đang nhảy múa trên đường; việc nhảy múa của người đó là bị cưỡng
bách. Người đó không biết điều gì về việc đó cả, cho nên người đó không thể làm
gì để dừng lại việc đó.
Hiểu biết của tôi là ở chỗ chẳng chóng thì
chầy, việc thiền này mà tôi đang trao cho các bạn sẽ là cách trị liệu có ý
nghĩa lớn, và điều tất yếu là nó sẽ trở thành một cách điều trị bệnh tinh thần
và phục hồi sức khoẻ cho họ. Và nếu có thể, mọi đứa trẻ đến trường cũng trải
qua việc thiền này, thì nó sẽ được cứu khỏi bị mất trí trong cả đời mình. Nó sẽ
không bao giờ phát điên; nó sẽ được miễn nhiễm khỏi bệnh này, bởi vì thế thì nó
sẽ là người chủ riêng của mình, người chủ của tâm trí thân thể mình.
Ông tu sĩ Sufi này, mà với ông ấy Gurdjieff đã
có cuộc thảo luận về việc thở, là một lữ khách trên một con đường khác. Ông ấy
chưa bao giờ thực hành việc thở, và ông ấy đã kinh nghiệm tình huống của sự kì
lạ qua cách khác nào đó. Và đây là rắc rối - rắc rối là ở chỗ người biết này về
một con đường mất thời gian trong việc gọi các con đường khác là sai. Nhưng một
điều là đúng hay sai đều trong hoàn cảnh của một con đường đặc biệt. Điều là sai
với con đường này có thể hoàn toàn đúng cho con đường khác.
Chẳng hạn, có cái chốt trong bánh của chiếc xe
bò kéo. Bây giờ một người với chiếc xe máy có thể nói rằng chiếc chốt này hoàn
toàn vô dụng. Nó có thể vô dụng trong hoàn cảnh của chiếc xe máy, nhưng nó hữu
dụng cho chiếc xe bò như bất kì phần nào của chiếc xe có thể hữu dụng cho chiếc
xe bò này. Cho nên chẳng có gì sai hay đúng tuyệt đối cả; mọi thứ đều tương
đối.
Nhưng sai lầm này bao giờ cũng được lặp lại.
Ông tu sĩ Sufi này đã đạt tới thông qua con đường khác, con đường có những kĩ
thuật khác. Người Sufi nói chung làm trong giấc ngủ của mình, và không làm theo
việc thở. Với ông ấy, việc thức đêm có ý nghĩa lớn lao. Ông ấy sẽ giữ cho mình
thức hàng tháng; và một tình huống kì lạ có thể nảy sinh từ việc thức lâu dài
và thường xuyên, như nó nảy sinh từ việc thở nhanh và mạnh. Nếu bạn có thể đi
và không ngủ cả tháng tròn thì bạn sẽ đi vào cùng một trạng thái của điên
khùng, tới qua việc thở sâu và hỗn loạn.
Bởi vì ngủ là hiện tượng rất tự nhiên - nó
cũng tự nhiên như thở vậy - nên người Sufi làm việc công kích trực diện vào
giấc ngủ, và do vậy trải qua những kinh nghiệm rất kì lạ và kì quái.
Nhưng thức đêm có nguy hiểm riêng của nó, và
chúng còn lớn hơn những nguy hiểm cố hữu trong thở hỗn loạn. Đây là quá trình
dài và kéo dài: bạn phải giữ cho mình thức hàng tháng trời - thức đêm một hay
hai ngày là vô dụng. Và nếu điều gì đó đi sai sau khi bạn giữ thức đêm trong
hai tháng, cái sai đó không thể chữa lại trong một hay hai giây. Nhưng cái sai
nảy sinh sau mười phút thở có thể chữa lại trong một giây. Nếu bạn đi vào giấc
ngủ sau hai tháng thức thường xuyên, bạn không thể bù lại mất mát trong hai
mươi bốn giờ. Có thể, bạn sẽ thậm chí không có khả năng ngủ sau hai tháng thức
đêm.
Con đường của người Sufi còn nguy hiểm hơn,
mặc dầu thức đêm là rất hữu dụng. Người tìm kiếm cứ thức hết đêm nọ tới đêm kia
và chờ đợi một cách kiên nhẫn. Ông tu sĩ Sufi này, người đã gặp Gurdjieff, đã
đi theo con đường này.
Người Sufi cũng dùng nhảy múa làm phương cách.
Nhảy múa cũng có thể là phương tiện để đem tới việc tách thân thể và linh hồn,
nhưng nhảy múa phải là điều không được học và thực hành và chuẩn bị. Nếu bạn
nhảy múa theo cách đã được thực hành, nó sẽ không có tác dụng. Như tôi đã nói,
rằng việc thở theo cách của pranayam không thể đem tới tách rời thân thể và
linh hồn - bởi vì pranayam là phương pháp luận - một cách tương tự, nếu ai đó
lặp lại điệu vũ đã được chuẩn bị, người đó chẳng mấy chốc sẽ đồng nhất bản thân
mình với thân thể. Nhưng nếu tôi bảo một người trong các bạn ở đây, người không
biết nhảy múa rằng người đó nên nhảy múa, và người đó bỗng nhiên bắt đầu nhảy
múa và nhảy nhót, người đó có thể làm được điều đó. Đây là điều kì lạ đến mức
bạn không thể đồng nhất bản thân mình với nó được, bạn không thể biết rằng bạn
đang nhảy múa.
Cho nên có hai phương pháp mà người Sufis
dùng: thức đêm và nhảy múa. Một số phương pháp khác cũng đã được sử dụng. Chẳng
hạn, người Sufis dùng len làm áo quần của họ. Họ mặc quần áo len trong khí hậu
nóng bức điển hình của sa mạc - đó là cách họ chống lại thân thể. Ai đó nhịn ăn
cũng là chống lại thân thể. Ai đó ngồi với một chân đặt lên đinh nhọn, và người
khác ngủ trên giường gai. Tất cả những điều này đềy là những phương cách để tạo
ra tình huống tâm lí kì lạ nơi sự tách biệt có thể xảy ra.
Tuy nhiên điều tự nhiên là người hành hương
của một con đường đặc biệt không thể nghĩ được rằng cùng tình huống này có thể
được tạo ra bởi các phương cách khác nữa. Ông tu sĩ của Gurdjieff chẳng biết gì
về pranayam. Và ông ấy sẽ tự làm hại mình nếu ông ấy thực hành điều gì đó giống
nó; nó sẽ thực sự gây hại cho ông ấy. Trong trường hợp của ông ấy, cái hại có
thể là đau khổ. Điều đó cũng giống như dùng bánh xe bò kéo thế vào cho xe máy -
điều đó sẽ là nguy hiểm. Bây giờ nếu một người thức đêm mà thực hành pranayam,
người đó nhất định phát điên ngay lập tức, tẩu hoả nhập ma. Người đó sẽ đi ra
ngoài tâm trí mình ngay trong đêm. Và có những lí do chính đáng cho điều đó.
Con người của bạn không thể chịu đựng được tác
động tổ hợp của hai bài tập - thức đêm và pranayam. Đó là lí do tại sao người
Jaina đã không dùng pranayam, bởi vì họ đã tạo ra cái kì lạ đó qua việc nhịn
ăn. Nếu họ tổ hợp việc nhịn ăn với pranayam, họ sẽ trong rắc rối sâu sắc - nguy
hiểm này thực sự là lớn. Pranayam không hữu dụng theo bất kì cái gì đối với
người Jaina; sư Jaina sẽ nói rằng nó tất cả đều vô dụng. Nhưng ông ấy không
biết rằng bằng việc phủ nhận pranayam ông ấy chỉ muốn nói rằng nó không có chỗ
trong loại kỉ luật tâm linh của ông ấy. Nhịn ăn làm cho ông ấy điều pranayam làm
cho người khác.
Chính bởi lí do này mà người Jaina đã không
quan tâm tới asanas của yoga và phần còn lại của nó, bởi vì chúng có thể gây
hại trầm trọng cho người đang trải qua việc nhịn ăn dài ngày. Những người tới
với asanas yoga đều cần thức ăn rất nhẹ và béo như sữa, bơ và ghee, đem lại
thoả mãn sâu sắc. Việc nhịn ăn đi ngược lại điều đó.
Nhịn ăn làm cho bạn khô đi và cằn cỗi từ bên
trong. Nhịn ăn kích thích cơn đói của bạn, và nó sẽ làm hỏng việc thực hiện
asanas trong trạng thái đói cồn cào. Ngọn lửa của cơn đói có thể dâng lên não
bạn và bạn có thể phát điên. Cho nên sư Jaina sẽ bảo bạn rằng yogasanas chẳng
có gì bản chất về chúng cả, chúng vô giá trị.
Nhưng với con đường dùng chúng, các asanas
yoga này có giá trị mênh mông. Được thực hiện với đúng loại đồ ăn kiêng, chúng
có thể có tác dụng đáng ngạc nhiên. Điều cần thiết là thân thể ở trong trạng
thái mềm mại và uyển chuyển, dường như nó được tra dầu mỡ tốt - do đó mới có
tầm quan trọng của thức ăn nhẹ và béo - bởi vì từng xương và gân và thần kinh đều
sẽ phải trải qua thao tác và biến đổi lớn lao. Thân thể sẽ vỡ ra nếu nó không
đủ mềm mại và uyển chuyển. Nó phải linh hoạt và uyển chuyển vượt trội.
Bây giờ những asanas yoga này không là gì
ngoài những tư thế hay cử chỉ thân thể kì lạ mà chúng ta thường không chấp
nhận. Và chúng ta chẳng có ý tưởng gì về cách tất cả các tư thế thân thể chúng
được nối mật thiết với tâm trí chúng ta.
Khi một người lo âu và lo nghĩ, người đó bắt
đầu gãi đầu. Người ta có thể hỏi tại sao người đó gãi đầu - cái gì có đó có
liên quan tới lo âu của người đó? Nhưng nếu bạn ngăn cản người đó không cho làm
như vậy, bạn sẽ thấy rằng người đó không thể lo nghĩ được. Để ở trong trạng
thái lo nghĩ, người đó sẽ bắt buộc phải đưa tay lên đầu. Và nếu bạn kìm người
đó không cho làm như vậy, người đó sẽ thấy khó mà lo nghĩ được. Mọi lo âu đều
có những liên kết thể chất cần thiết nào đó với nó; điều cần thiết là các cơ
của tay bạn phải ở vào một tư thế đặc biệt trong mối quan hệ với thần kinh của
bạn. Lo âu của người đó có thể được kích hoạt chỉ khi thân thể người đó lấy tư
thế được yêu cầu.
Tất cả các asanas yoga và ấn mudras đều tuân
theo những hình mẫu của các trạng thái khác nhau của tâm trí chúng ta. Và chúng
là kết quả của vô số thực nghiệm và kinh nghiệm.
Như tôi đã nói với các bạn sáng nay, asanas và
mudras, tư thế và điệu bộ thân thể, tự chúng được tạo nên trong quá trình thiền
mà các bạn đang làm ở đây. Sau hàng nghìn thực nghiệm người ta đã tìm ra loại
mudra (ấn) nào được hình thành trong trạng thái đặc biệt của tâm trí. Thế rồi
quá trình ngược lại cũng có thể được soạn thảo ra, theo đó bạn có thể đạt tới
một trạng thái đặc biệt của tâm trí bằng việc thực hiện ấn tương ứng với nó.
Chẳng hạn, Phật ngồi theo một cách đặc biệt;
và nếu bạn có thể ngồi theo cách đó, sẽ dễ dàng hơn cho bạn đạt tới trạng thái
tâm trí mà Phật có, bởi vì mọi trạng thái của tâm trí đều có gắn với một tư thế
tương ứng của thân thể. Nếu bạn có thể bước đi như Phật bước, nếu bạn có thể
ngồi như Phật ngồi, nếu bạn có thể thở như Phật thở, sẽ dễ dàng hơn cho bạn để
đạt tới trạng thái tâm trí của ông ấy. Hay đảo lại, nếu bạn có thể đạt tới
trạng thái tâm trí của Phật, bạn sẽ thấy sự tương tự rất lớn giữa cách thức của
bạn và cách thức của Phật trong bước đi và ngồi.
Cả hai điều này đi song song với nhau.
Bây giờ những người như Gurdjieff - người theo
một nghĩa nào đó là người đã bật gốc rễ - không thể biết điều đó được, bởi vì
họ đã không có truyền thống nào đằng sau mình, quay lại hàng nghìn năm. Hơn
nữa, Gurdjieff trong quá trình đi lang thang của mình đã gặp gần hai chục tá
các nhà huyền môn thuộc vào các trường phái khác nhau. Và chính từ những nguồn
đa dạng như vậy mà ông ấy đã thu thập được nhận biết của mình. Nhận biết của
ông ấy bao gồm một số phần thuộc vào một số công cụ tâm linh - mỗi một trong
chúng đều hoàn toàn khác nhau.
Những phần này là đúng ở chỗ riêng của chúng,
nhưng khi tất cả chúng đều được trộn lộn xộn với nhau thì chúng tạo ra một sự
sắp xếp rất kì lạ. Đó là lí do tại sao đôi khi một kĩ thuật của Gurdjieff có
tác dụng trên ai đó, nhưng nó chẳng bao giờ có tác dụng đầy đủ cho bất kì ai.
Do đó, không một người nào trong những người đã làm việc với Gurdjieff có thể
đạt tới sự hoàn thành đầy đủ. Điều đó đơn giản là không thể được, bởi vì khi ai
đó bắt đầu làm việc với Gurdjieff và cái gì đó bật ra, người đó trở nên quan
tâm tới công việc này và đi vào con đường, cái là một mớ pha trộn các con đường
đa dạng. Cho nên, chẳng mấy chốc các kĩ thuật khác bắt đầu vận hành lên người
đó theo cách thức đảo ngược lại. Điều này là vậy bởi vì Gurdjieff không có hệ
thống kỉ luật tâm linh đầy đủ. Người ta phải nói rằng đó là đa hệ, và đồng thời
không đầy đủ. Nhiều mối nối cần thiết đang bị thiếu, ngay cả trong dây chuyền
này của một đa hệ thống.
Phần lớn thông tin của Gurdjieff đã được thu
thập từ người Sufi. Ông ấy không có tri thức về yoga Tây Tạng, và khi có liên
quan tới hatha yoga, thì điều đó là không thích hợp. Bên cạnh đó, tất cả mọi
thông tin của ông ấy về hatha yoga đều tới từ những địch thủ của kỉ luật này,
nó tới từ các tu sĩ Sufi. Gurdjieff không phải là người tinh thông về hatha
yoga. Tất cả mọi tri thức của ông ấy về yoga hay kundalini đều được suy ra từ
các nguồn thù địch, hay từ những người đã là lữ khách của những con đường đối
lập.
Cho nên điều Gurdjieff nói về cơ sở của thông
tin này là không nhất quán theo nhiều cách. Chẳng hạn, cái nhìn của ông ấy về
kundalini hoàn toàn ngớ ngẩn. Ông ấy không biết gì về nó cả. Ông ấy cứ gọi nó
là "bộ đệm kunda." Bộ đệm này không phải là thuật ngữ khéo chọn. Ông
ấy ngụ ý nói rằng chính bởi vì kundalini mà bạn không đạt tới tri thức; nó có
tác dụng như bộ đệm, như rào chắn giữa bạn và điều tối thượng. Cho nên cần phải
siêu việt lên trên nó bằng việc phá huỷ nó. Theo Gurdjieff không cần phải đánh
thức kundalini chút nào. Bây giờ ông ấy không biết mình đang nói gì.
Tất nhiên có bộ đệm giống như những thứ trong
cá tính chúng ta, và chính bởi vì chúng mà chúng ta có thể chịu nhiều loại sốc
trong cuộc sống. Nhưng kundalini không phải là bộ đệm. Kundalini là bản thân cú
sốc, nhưng Gurdjieff không có tri thức gì về nó cả. Nó là cú sốc lớn nhất có
thể có. Khi kundalini dâng lên, nó đi tới bạn như cú sốc mạnh mẽ nhất. Tất
nhiên, có những bộ đệm trong hệ thống của bạn, nhưng chúng là điều khác; chúng
có tác dụng như bộ hấp thu sốc. Và điều cần thiết là những bộ đệm này bị phá
huỷ đi. Nhưng Gurdjieff coi bản thân kundalini là bộ đệm, bởi vì ông ấy chẳng
biết gì về nó cả. Trong thực tế, ông ấy không có kinh nghiệm về kundalini, bởi
vì ông ấy đã không có cơ hội biết nó từ những người tinh thông kundalini yoga.
Đó là lí do tại sao nhiều lần những điều không thích hợp xảy ra.
Những người như Gurdjieff và Krishnamurti đã
là nạn nhân của những sự không thích hợp như vậy. Sự không thích hợp là ở chỗ
họ đã không thể có tri thức có hệ thống về những bí mật nằm đằng sau các thuật
ngữ và năng lượng như kundalini. Trong thực tế, tri thức như vậy là rất khó thu
được. Nó đơn giản không có thể có trong một kiếp sống. Nó xảy ra chỉ trong
trường hợp một số hiếm hoi các cá nhân, những người học và trưởng thành giữa
hàng tá trường phái trong quá trình hàng tá kiếp sống; bằng không thì điều đó
là không thể được. Nếu ai đó trưởng thành giữa hàng tá trường phái - điều hiển
nhiên phải mất hàng tá kiếp sống - chỉ thế thì mới có khả năng là trong kiếp
sống cuối cùng của mình người đó sẽ tìm thấy sự tổng hợp giữa những kỉ luật tâm
linh đa dạng. Bằng không thì không thể tìm ra được sự tổng hợp.
Điều thông thường là ở chỗ một người đạt tới
chỗ cao nhất thông qua một trường phái, và thế rồi người đó không cần lấy việc
sinh thành khác nữa. Mục đích của người đó được đạt tới, cuộc sống của người đó
được hoàn thành. Do đó sự tổng hợp không xảy ra. Về sau, tôi đã nghĩ rằng sự
tổng hợp giữa các kỉ luật tâm linh đa dạng của toàn thế giới là điều có thể, và
đó là cái gì đó đáng làm. Tất cả các kỉ luật đều phải được tiếp cận tới từ các
đầu khác nhau và thế rồi được gắn lại. Mọi nơi điều tối thượng xảy ra đều như
nhau; chỉ phương pháp là khác.
Bây giờ một Thiền sư ném người tìm kiếm qua
cửa sổ. Điều này chỉ tạo ra một không gian của điều kì lạ trong người tìm kiếm
chứ không gì khác. Nhưng Thiền sư sẽ nói rằng không có nhu cầu về pranayam và
rằng bhastrika này là pranayam - thấp dưới như việc thở - là vô dụng. Có lí do
cho ông ấy nói như vậy. Người ta có thể hỏi rằng liệu bhastrika không thể làm
được điều đó sao. Làm sao việc ném một người qua cửa sổ có thể có tác dụng
được? Nếu bạn đi và bảo Phật hay Mahavira rằng ai đó đạt tới hiểu biết sau khi
bị ném qua cửa sổ, các ông ấy sẽ nói bạn điên. Mọi ngày mọi người vẫn ngã xuống
từ mái nhà hay từ ngọn cây và chẳng người nào trong số họ đạt tới hiểu biết cả.
Nhưng ngã là một điều và bị ném ra là điều
hoàn toàn khác. Ngã từ mái nhà cũng giống như ai đó phát điên; nhưng khi vài
người nâng thân thể một người lên và ném người đó ra khỏi cửa sổ, và người đó
biết rằng mình bị ném ra, thế thì người đó sẽ nhanh chóng trải qua kinh nghiệm
về sự kì lạ về toàn bộ vấn đề. Người đó mọi lúc đều nhận biết và tự hỏi về toàn
bộ tình huống khi người đó bị ném ra, và khi người đó ngã ra trên đất. Và đó là
khoảnh khắc mà người đó trở nên tách rời khỏi thân thể.
Một Thiền sư khác lấy cây thiền trượng của
mình và đánh vào đầu người tìm kiếm. Điều này cũng kì lạ. Người tìm kiếm này đã
đi tới ông ấy để làm an bình tâm trí, còn thầy đánh người đó bằng chiếc thiền
trượng của mình. Điều này bỗng nhiên tạo ra một khoảnh khắc của sự kì lạ cho
người tìm kiếm. Nhưng nó sẽ không như vậy ở Ấn Độ. Nếu bạn đánh ai đó ở đây,
người đó sẽ đánh lại bạn; người đó sẽ sẵn sàng cho việc đánh lại. Điều đó sẽ
chỉ xảy ra ở Nhật Bản, bởi vì thực tế này đã tìm thấy chỗ cho mình ở nước đó.
Mọi người đều nhận biết rằng các Thiền sư có thể làm điều gì đó vĩ đại qua việc
đánh người tìm kiếm.
Nếu bạn đi tới một thánh nhân và lập tức khi
thấy bạn ông ấy bắt đầu xúc phạm mẹ và chị bạn bằng lời thô tục, ông ấy sẽ
thành công tạo ra một tình huống hoàn toàn kì lạ cho bạn. Bạn tới ông ấy trong
tin rằng ông ấy là người biết chân lí, và ông ấy ném lời thô tục vào bạn! Tương
phản làm sao! Nhưng điều này là được chỉ nếu bạn có nhận biết nào đó về nó;
bằng không bạn sẽ gặp khó khăn. Bạn có thể cho rằng mình đã tới lầm người và
bạn sẽ không tới gặp ông ấy nữa.
Nhưng trong một số trường phái, ngay cả quở
trách và lời chửi rủa đã được dùng để tạo ra sự kì lạ. Có một fakir ở một làng
nhỏ tên là Saikheda ở gần Gadarwara. Các bạn có thể chẳng bao giờ biết ông ấy
sẽ đón nhận bạn thế nào khi bạn tới ông ấy. Ông ấy có thể dùng lời thô tục với
bạn, và ông ấy có thể làm bất cứ cái gì kì quái và điên khùng. Có thể ông ấy sẽ
đứng dậy trong sự hiện diện của khách thăm của mình và bắt đầu đái. Bạn sẽ hoàn
toàn bị sốc. Điều đó tạo ra cái được gọi là không gian của điều kì lạ trong
bạn.
Ngoài điều đó, ông ấy thậm chí còn định đánh
bạn về mặt thể chất. Và trong cố gắng đánh bạn, ông ấy có thể rượt đuổi bạn
hàng dặm đường. Nhưng những người hiểu ông ấy được lợi nhiều chỉ bằng việc tới
thăm ông ấy. Những người không hiểu, họ xua đuổi ông ấy như người điên. Mà ông
ấy chẳng liên quan gì tới những người không hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy chắc chắn
có ích cho những người muốn hiểu ông ấy. Bây giờ người mà ông ấy đuổi theo hàng
dặm đường chắc chắn thấy mình ở trong một không gian rất kì lạ. Cứ thử nghĩ tới
tình huống này: một người bị ông ấy rượt và cả nghìn người đang quan sát cảnh
tượng đó. Chắc chắn một bầu không khí kì lạ được tạo ra.
Điều này có thể được làm bằng nhiều trường phái,
kĩ thuật và hệ thống khác. Nhưng khó khăn là ở chỗ mọi trường phái như vậy
không nhận biết rằng các trường phái khác đang làm cùng điều đó theo cách riêng
của họ.
Vậy mà có khó khăn khác trong vấn đề này. Cho
dù ai đó biết, như tôi biết, rằng cùng kết quả có thể được đạt tới bằng các kĩ
thuật khác nào đó, thì người đó sẽ không nói ra điều đó. Khi tôi đang giải
thích một hệ thống đặc biệt, tôi phải trình bày nó là cao nhất; bằng không thì
sẽ không có hiệu quả. Cho dù tôi biết rằng điều này có thể được đạt tới bằng
các phương pháp khác nào đó, tôi sẽ không nói như vậy khi tôi đang nói về một
hệ thống đặc biệt. Thế thì tôi sẽ nói rằng điều này có thể được đạt tới chỉ qua
hệ thống này thôi và không qua cái gì khác. Và có lí do cho việc làm như vậy.
Bạn không thông minh tới mức bạn có thể hiểu nó trong đúng cảnh quan của nó.
Nếu tôi nói rằng tất cả các trường phái đều có thể làm được điều đó, các bạn sẽ
bị lẫn lộn. Các bạn sẽ kết luận rằng chẳng trường phái nào có thể làm được điều
đó thực. Bên cạnh đó, tất cả các trường phái này mâu thuẫn nhau đến mức bạn sẽ
bắt đầu tự hỏi làm sao nó có thể thế được. Lẫn lộn của bạn thậm chí sẽ còn bị
lẫn lộn hơn.
Đó là lí do tại sao nhiều lần người trí huệ,
những người biết, phải nói theo ngôn ngữ của người dốt nát. Họ phải quả quyết
rằng "Đây là con đường duy nhất, không có đường nào ngoài con đường
này." Bởi lí do này tôi tự thấy mình gặp khó khăn lớn, vì tôi biết rõ rằng
điều đó có thể được đạt tới.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment