Osho - Thiền động (Đi tìm điều huyền bí - Tập
1)
Chương 12. Kundalini sẽ biến đổi bạn
Người hỏi: Thầy đã nói hôm qua rằng kunda của chúng ta hay bể năng lượng là không tách rời và khác biệt lẫn nhau; chúng thực sự là một kunda vũ trụ. Nhưng khi có liên quan tới người tìm kiếm thì năng lượng của người đó sẽ dâng lên từ kunda của riêng người đó chứ không từ kunda của người khác. Vậy nên kunda có thực là một không? Xin Thầy giải thích.
Nó giống thế này: Bạn có một cái giếng trong
nhà mình và tôi có cái giếng khác trong nhà tôi. Hiển nhiên, hai cái giếng này
dường như tách rời lẫn nhau. Nhưng dòng nước ngầm mà hai cái giếng này lấy nước
ra là một. Và dòng nước ngầm này, đến lượt nó, được nối với đại dương ở xa.
Nếu bạn đi theo luồng nước là nguồn cho nước
giếng của bạn, bạn sẽ không chỉ bắt gặp chiếc giếng của tôi và tất cả giếng
khác, bạn chung cuộc sẽ bắt gặp bản thân đại dương vĩ đại. Theo cùng cách này,
trong hoàn cảnh của kundalini cá nhân có đó chỉ ở lúc đầu của cuộc hành trình -
vì cuộc hành trình này đi tới việc chấm dứt cá nhân nữa, đi tới sự chấm dứt của
người đó. Thế thì chỉ có cái tất cả, cái toàn thể, cái tuyệt đối, cái một, hay
bất kì cái gì bạn gọi nó.
Cho nên tại điểm bắt đầu của cuộc hành trình
này bạn là tách biệt và tôi là tách biệt, nhưng đến đích, điểm tối thượng, thì
không có bạn không có tôi. Chúng ta chỉ là những mảnh mẩu hay bộ phận vẫn có đó
ở đích của cuộc hành trình.
Cho nên khi kundalini tự biểu lộ bản thân nó
trong bạn, ban đầu nó sẽ dường như thuộc về bạn - cá nhân. Nó sẽ là của bạn.
Một cách tự nhiên, bạn sẽ thấy bản thân mình đứng bên bờ giếng của mình. Nhưng
khi kundalini đi lên và bành trướng, dần dần bạn sẽ thấy rằng giếng của mình
được nối với tất cả các giếng khác nữa. Và kinh nghiệm này càng được làm sâu
sắc hơn thì cái giếng cá nhân của bạn sẽ càng biến mất đi, và tại chỗ của nó
đại dương sẽ đi vào hiện hữu. Và chính trong kinh nghiệm tối thượng này mà bạn
sẽ có khả năng nói rằng kunda này thuộc về tất cả.
Chính theo nghĩa này mà tôi nói rằng kunda là
một và phổ dụng; nó là bể năng lượng vũ trụ.
Đó là cách tất cả chúng ta, như chúng ta hiện
thế, dường như là các cá nhân tách biệt. Hiểu điều đó theo cách khác. Nếu một
chiếc lá trên cây bỗng nhiên trở nên có ý thức và nhận biết, thế thì chiếc lá
bên cạnh sẽ dường như là lá khác. Làm sao nó có thể biết cái lá treo ở cành
khác của cây đó là chính nó? Cứ gạt sang bên chiếc lá trên cành khác đi; nó
không thể nghĩ về lá khác trên cành của nó là chính nó. Có thể chiếc lá này ở
xa nó hơn chút ít; thậm chí lá bên phải nó cũng dường như là lá khác. Nó sẽ là
như vậy bởi vì tâm thức của chiếc lá này là cá nhân.
Nhưng nếu chiếc lá này đi vào trong lãnh thổ
riêng của nó, nó sẽ sớm thấy rằng chiếc lá bên cạnh đang treo trên cùng một
thân cây, cũng thân cây của nó, và rằng chúng cả hai đều nhận được nhựa sống từ
cùng cội nguồn. Nếu chiếc lá này đi sâu hơn nó sẽ biết rằng không chỉ thân cây
riêng của nó, ngay cả thây cây bên cạnh cũng là một phần của cùng một cây và
chính sinh lực của chúng là một và như nhau. Và nếu nó đạt tới chính gốc rễ của
cây thì nó sẽ biết rằng tất cả các cành của nó và tất cả lá của nó đều, giống
như bản thân nó, là một phần của một và cùng một cây đó.
Và nếu chiếc lá này tiếp tục cuộc hành trình
của nó và đi vào trung tâm của bản thân đất - đất mà từ đó cây bên cạnh đã mọc
lên - thế thì nó sẽ nhận biết rằng cùng với cây riêng của nó, tất cả các cây
khác đều là con của cùng một mẹ - mẹ đất. Và trong trường hợp này cuộc phiêu
lưu của chiếc lá còn đi xa hơn, đến cùng nó sẽ khám phá ra rằng chung cuộc toàn
thể vũ trụ không là gì ngoài sự mở rộng riêng của nó, sự phân nhánh riêng của
nó. Cho nên chiếc lá tí hon này chỉ là một đầu của sự tồn tại mênh mông này.
Một chiếc lá là một cá nhân tách biệt khi nó
trở thành ý thức như một phần, và nó sẽ dừng là cá nhân khi nó trở thành ý thức
như cái toàn thể.
Việc kinh nghiệm đầu tiên của bạn về đánh thức
kundalini sẽ là kinh nghiệm về atman, hay linh hồn; và việc kinh nghiệm tối
thượng của nó sẽ là kinh nghiệm về paramatman, hay bản thân Thượng đế. Và nếu
bạn dừng lại với chính việc đánh thức đầu tiên và không thăm dò thêm nữa, và
nếu bạn dựng hàng rào quanh chiếc giếng nhận biết của bạn, bạn sẽ trì trệ như
atman, như linh hồn. Đó là cách một số tôn giáo bị mắc kẹt với linh hồn - họ
không vượt ra ngoài nó. Nhưng atman hay linh hồn không phải là kinh nghiệm tối
thượng; các tôn giáo này chỉ bao quát một nửa cuộc hành trình. Nếu bạn đi xa
thêm, linh hồn cũng sẽ biến mất và thế thì chỉ Thượng đế hay cái toàn thể sẽ
còn lại.
Và như tôi đã nói trước đây, nếu các bạn phiêu
lưu xa thêm chút ít, ngay cả Thượng đế cũng sẽ biến mất và cái sẽ còn lại cuối
cùng sẽ là niết bàn hay cái trống rỗng. Hay, chúng ta có thể nói rằng cái không
sẽ còn lại. Cho nên những người phiêu lưu lấy một bước ra ngoài Thượng đế đạt
tới niết bàn. Chính họ nói về cái hư không tối thượng hay cái trống rỗng tuyệt
đối. Họ nói rằng chẳng cái gì còn lại ở đó; chung cuộc không có gì cả, hay có
bản thân cái không.
Chân lí là ở chỗ khi các bạn nhận ra tất cả,
thì các bạn cũng nhận ra cái không hay tính không đồng thời. Cái tuyệt đối là
cái không nữa.
Chúng ta tiếp cận nó theo cách khác. Cái không
và cái toàn thể, cái không và cái tất cả, cái trống rỗng và cái tuyệt đối là
hai cái tên của cùng một điều. Chúng là đổi lẫn cho nhau được; chúng ngụ ý cùng
một điều. Cái không cũng là cái toàn thể. Cái trống rỗng cũng là cái toàn thể.
Cái không cũng là mọi thứ.
Bạn đã bao giờ thấy một nửa trống rỗng hay một
nửa cái không chưa? Bạn không thể chia cái không ra làm hai nửa được. Bạn không
thể chẻ cái không ra được; nó sẽ không còn là cái không nữa nếu bạn thành công.
Bạn có thể chia hai cho hai; bạn cũng có thể chia một ra làm hai. Nhưng bạn
không thể chia cái không ra được; đó là điều không thể được. Bạn thậm chí không
thể vẽ cái không hay hư không lên một mẩu giấy. Dấu hiệu số không được vẽ trên
giấy là biểu tượng. Ngay khi bạn vẽ nó ra, nó không còn là hư không, bởi vì bạn
vẽ vòng tròn nó, giới hạn nó bằng đường nào đó. Nếu bạn hỏi Euclid, ông ấy sẽ
nói rằng cái không là cái không có chiều dài không có chiều rộng. Không thành
vấn đề chuyện bạn vẽ nó nhỏ đến đâu, ngay cả điểm nhỏ nhất có thể được cũng vẫn
sẽ có chút ít chiều dài và chiều rộng. Cho nên dấu hiệu số không được vẽ trên
giấy chỉ là biểu tượng, nó không thực. Nếu nó có chiều dài và chiều rộng, nó
không thể là số không.
Do đó Upanishads có thể nói rằng nếu bạn khấu
trừ hư không từ hư không, thì hư không vẫn còn lại - điều này có nghĩa là bạn
không thể trừ được cái gì từ nó. Đến cuối bạn sẽ thấy rằng bạn không thể lấy
được cái gì từ cái trống rỗng cả. Tất cả mọi nỗ lực của bạn để đánh cắp từ nó
sẽ đều vô hiệu. Bạn không thể loại bỏ được nó mà cũng không thể lẩn trốn cùng
nó. Nó là không thể thu lại được; nó là không thể di chuyển được; nó bao giờ
cũng theo cách tuyệt đối.
Điều đúng trong hoàn cảnh cái không hay hư
không cũng đúng trong hoàn cảnh của cái toàn thể hay cái tuyệt đối. Trong thực
tế, bạn không thể quan niệm nổi về cái toàn thể ngoại trừ bằng cách thức của cái
trống rỗng. Cái toàn thể ngụ ý rằng không cái gì có thể được thêm vào nó, và
cái không hay cái trống rỗng ngụ ý rằng không cái gì có thể được khấu trừ từ
nó. Không có cách nào đi xa hơn từ cái tuyệt đối, và không có khả năng nhúng
chìm sâu hơn vào cái hư không sâu nhất.
Bạn không thể phân chia hoặc cái toàn thể hoặc
cái hư không thành bộ phận; chúng là không phân chia được.
Và cái toàn thể không thể bị giới hạn, bởi vì
bất kì cái gì bị giới hạn thì không thể là cái toàn thể được. Bị giới hạn có
nghĩa là cái gì đó vẫn còn ở ngoài biên giới, và do đó nó không thể có tính
toàn thể. Thế thì nó còn kém hơn cái toàn thể. Nếu biên giới của nhà bạn bắt
đầu tại chỗ biên giới của nhà tôi chấm dứt, điều đó có nghĩa là nhà tôi không
phải là cái toàn thể; nếu nó là cái toàn thể thì nó phải bao gồm cả nhà bạn
nữa. Cho nên không thể có giới hạn cho cái toàn thể; nó là vô giới hạn. Ai có
thể giới hạn nó được? Cần có một hàng xóm, một cơ quan bên ngoài để làm như
vậy. Nhưng cái không là ở bên ngoài cái toàn thể. Cái toàn thể là một mình; nó
không có hàng xóm bất kì loại gì.
Nhớ lấy, bao giờ cũng cần hai để tạo ra biên
giới giữa chúng; hai tạo ra biên giới. Có biên giới nơi tôi chấm dứt và ai đó
khác bắt đầu. Nếu không ai khác bắt đầu, nếu chỉ tôi có đó, thế thì tôi sẽ không
chấm dứt; tôi không thể bị giới hạn. Cho nên cả cái toàn thể cũng không có giới
hạn. Ai có đó để giới hạn nó? Theo cùng cách này thì cái hư không, cái trống
rỗng, cũng có thể không có giới hạn, không biên giới; bởi vì nếu nó có thể bị
giới hạn, nó là cái gì đó - thế thì nó không thể là cái không được. Chỉ cái gì
đó mới có thể bị giới hạn.
Cho nên nếu bạn hiểu điều đó đúng thì bạn sẽ
biết rằng cái hư không và cái toàn thể là hai cách để nói về cùng một điều. Và
người hành hương tôn giáo có thể theo cả hai con đường: hoặc bạn trở thành cái
toàn thể hoặc bạn trở thành cái không. Cả hai cách đều đưa bạn tới định mệnh
của mình, là định mệnh của tất cả.
Người đi theo con đường của cái toàn thể,
người đang trong tình yêu với cái toàn thể, cái tích cực, người đó sẽ nói:
"Tôi là brahman, tôi là cái tuyệt đối." Người đó sẽ nói rằng mình là
Thượng đế, người đó là tất cả mọi điều đang có đấy. Người đó sẽ nói rằng không
có gì ở ngoài mình, và rằng không có "ngài". Người đó bao gồm tất cả
các "ngài" bên trong người đó. Nếu điều đó là có thể cho bạn để là vô
hạn như vậy, thì bạn đã đạt tới điều cao nhất.
Nhưng trong tính toán cuối cùng, ngay cả cái
"tôi" này cũng phải ra đi, bởi vì nếu không có "ngài", thì
làm sao bạn có thể nói "Tôi đây; tôi là brahman sao"? "Tôi"
có thể có nghĩa chỉ nếu trong hoàn cảnh của "ngài"; không có
"ngài", "tôi" đơn giản không liên quan.
Và khi bạn là cái tuyệt đối, thì chẳng có
nghĩa mấy mà nói, "tôi là cái tuyệt đối", bởi vì phát biểu này thừa
nhận sự tồn tại của cả hai - brahman và bạn. Và chung cuộc với việc ra đi của
"tôi", ngay cả brahman hay điều tuyệt đối sẽ trở thành vô nghĩa.
Người ta sẽ phải trở thành không nói được nên lời; người đó sẽ hoàn toàn im
lặng.
Theo cách này bạn triệt tiêu bản thân mình
hoàn toàn đến mức bạn nói, "tôi không hiện hữu." Trong trường hợp này
bạn nói, "tôi là brahman," hay "tôi là tất cả," và trong
trường hợp khác bạn nói "tôi là cái không; mọi thứ đều là trống rỗng tuyệt
đối." Con đường này cũng sẽ đưa bạn tới cùng định mệnh tối thượng. Và khi
bạn đã tới đó bạn sẽ không thể nói ngay cả điều này - rằng bạn không hiện hữu.
Nói "Tôi không hiện hữu" cần sự hiện diện của cái "tôi".
Cho nên ngay cả điều này cũng sẽ biến mất.
Bạn thậm chí không thể nói được rằng mọi thứ
là trống rỗng, tất cả đều hư không. Nói rằng tất cả đều hư không, thì cần cả
hai "tất cả" và "trống rỗng" đều có trong sự tồn tại. Thế
thì quá trình duy nhất mở ra cho bạn là ở chỗ bạn trở thành không nói được, bạn
trở thành im lặng. Bạn bắt đầu từ đâu - dù là từ cái toàn thể hay từ cái hư
không, cái không - điều đó sẽ đem bạn tới im lặng tối cao nơi bạn sẽ chẳng có
gì để nói cả.
Do đó, chỗ người ta bắt đầu cuộc hành trình
của mình không phải là vấn đề chính. Cái cần được xem xét là đích tới, nơi
người ta cuối cùng đạt tới. Nơi người ta chung cuộc đạt tới là vấn đề cơ bản.
Định mệnh chung cuộc này có thể được biết tới
và nhận ra. Và nếu người ta đã đạt tới nó, thế thì bất kì con đường nào người
đó đã theo cũng đều là đường phải. Không con đường nào là phải và không con
đường nào là trái theo nghĩa tuyệt đối. Bất kì cái gì đưa bạn tới đích của mình
đều là đường phải. Và đích là một và cùng một.
Nhưng bất kì khi nào bạn bắt đầu bạn bao giờ
cũng bắt đầu bằng "tôi". Kinh nghiệm trước đây bao giờ cũng sẽ là
manh tính định hướng "tôi", bởi vì đó là tình huống cho sẵn của chúng
ta; đó là chỗ chúng ta hiện hữu và nguồn gốc chúng ta bắt đầu. Dù chúng ta đánh
thức kundalini hay chúng ta đi vào trong thiền hay chúng ta đi vào im lặng,
kinh nghiệm khởi đầu phải là mang tính cá nhân, nó phải là hướng vào
"tôi". Bất kì cái gì sẽ xảy ra ở giai đoạn khởi đầu sẽ xảy ra cho
chúng ta như các cá nhân, bởi vì chúng ta là những cá nhân ở lúc bắt đầu cuộc
hành trình. Nhưng khi chúng ta đi sâu thêm, cá nhân sẽ biến mất dần. Kinh
nghiệm càng sâu sắc, sự ăn mòn tính cá nhân, bản ngã sẽ càng lớn.
Nhưng nếu chúng ta đi lạc khỏi cuộc hành trình
bên trong và vẩn vơ lung tung, thế thì cá nhân sẽ tồn tại và cứ phát triển lên
mãi.
Chẳng hạn, một người đang đứng trên bờ giếng.
Nếu người đó đi vào trong giếng và cứ đi ngày một sâu hơn và sâu hơn, người đó
một ngày nào đó đạt tới đại dương. Chung cuộc người đó sẽ biết rằng không có
những điều như vậy, như cái giếng. Cái giếng thực sự là gì? Nó chỉ là một lỗ
hổng; nó là lỗ hổng trong đất để qua nó người ta lọt vào đại dương; nó là lối
mở nhỏ vào đại dương lớn.
Ý nghĩa của giếng là gì? Nó là lối mở nhỏ, lối
đi qua đó bạn đi tới tiếp xúc với biển. Bạn sai nếu bạn nghĩ về giếng dưới dạng
nước; nước trong giếng là bản thân đại dương; nó tới từ đại dương. Giếng chỉ là
trung gian qua đó bạn thấy biển. Và khi lối mở này được làm rộng ra, tầm nhìn
về biển sẽ được mở rộng theo cùng chừng mực.
Nhưng nếu bạn đi ra khỏi giếng và lạc lối từ
nó dần dần, bạn sẽ mất đi cái nhìn về nước nữa. Thế thì bạn sẽ thấy trơ trụi bờ
giếng và miệng giếng; bạn sẽ chẳng bao giờ có khả năng tìm ra bất kì liên kết
nào giữa giếng và đại dương. Và thế thì bạn sẽ từ chối tin rằng chúng là một và
như nhau.
Trong khi cuộc hành trình nội tâm sẽ đưa bạn
tới sự thống nhất và cái một, cuộc hành trình ngoại diên sẽ làm điều ngược lại;
nó sẽ đem bạn tới phân chia và đa dạng. Nó sẽ đem bạn tới cái nhiều.
Nhưng sự kiện còn lại là vào lúc bắt đầu của
tất cả mọi kinh nghiệm có chiếc giếng, cá nhân, và đến cuối cùng có đại dương,
cái vô cá nhân hay Thượng đế.
Chính theo nghĩa này mà tôi nói rằng kunda của
năng lượng là một, vũ trụ, phổ quát. Nếu bạn chìm sâu, kunda sẽ dừng là của
bạn; thế thì sẽ có duy nhất kunda vũ trụ. Thế thì trong thực tế, chẳng cái gì
sẽ là của bạn cả. Nó là vậy trong chính bản chất của mọi điều.
Người hỏi: Thầy nói rằng tất cả cái gọi là
giếng cá nhân đều là một và chúng đã được nối với đại dương vốn là trống rỗng.
Nếu vậy, nhu cầu gì có đó để phải qua sadhana hay kỉ luật tâm linh để là một
với cái trống rỗng hay cái hư không?
Bạn hỏi câu hỏi này bởi vì bạn nghĩ cái trống
rỗng là không có gì cả. Và tại sao ai đó phải làm cái gì chỉ để đạt được cái
không? Người ta phải làm cái gì đó nếu có cái gì đó cần đạt tới. Bạn đánh đồng
trống rỗng với không có gì. Thế thì sadhana hay nỗ lực trở thành không cần
thiết cho bạn. Với bạn, nỗ lực là xứng đáng tiến hành nếu bạn phải trở thành
cái gì đó. Sao cố gắng vì cái không có gì?
Nhưng bạn không biết rằng cái trống rỗng có
nghĩa là cái toàn thể. Bạn không biết rằng cái hư không là tất cả mọi thứ có
đó. Nó không ngụ ý không có gì; nó ngụ ý cái tuyệt đối. Nhưng ngay bây giờ bạn
không thể hiểu nổi làm sao cái trống rỗng có thể là cái toàn thể, cái tuyệt
đối. Giếng có thể cũng nói, "Nếu tôi phải đi ra đại dương chỉ để biết rằng
tôi không là gì cả, thế thì sao tôi phải đi?" Giếng là phải khi nói vậy. Và
nó là phải khi từ chối đi ra biển nếu điều đó ngụ ý rằng chung cuộc cái giếng
không tồn tại.
Nhưng với thực tại hay chân lí điều đó không
tạo ra khác biệt gì nếu bạn không đi. Sự kiện là ở chỗ bạn không có. Dù bạn có
đi ra đại dương hay bạn không đi, điều đó không làm thay đổi được thực tại.
Thực tại là bạn không phải là cái giếng; bạn là bản thân đại dương. Bạn có thể
chọn vẫn còn là cái giếng nhưng sự kiện là ở chỗ bạn không hiện hữu; điều dối
trá là bạn hiện hữu. Và điều dối trá này sẽ tiếp tục làm đau bạn, ám ảnh bạn.
Nó sẽ tiếp tục làm cho cuộc sống của bạn bất hạnh và khổ. Và nó sẽ giữ bạn
trong xiềng xích, trong tù túng. Trong dối trá này không có khả năng nào cho
bất kì niềm vui và phúc lạc nào.
Đúng là cái giếng khi đạt tới biển thì sẽ biến
mất, nhưng cùng với nó mọi khổ sở của nó, mọi lo âu của nó cũng sẽ biến mất.
Bởi vì tất cả mọi khổ sở và lo âu đều gắn chặt không rời với việc nó là cái
giếng, là cá nhân, là bản ngã. Với người khác dường như là cái giếng đã mất bản
thân nó bởi việc đi vào đại dương; nó không trở thành cái gì đó. Nhưng cái
giếng sẽ không nghĩ vậy đâu. Cái giếng sẽ nói, "Ai nói rằng tôi bị mất đi?
Tôi đã trở thành bản thân đại dương đấy chứ." Chính là cái giếng hàng xóm,
cái còn chưa tới thăm biển cả, chính nó mới nói, "Anh định đi đâu vậy đồ
ngốc? Sao anh đi tới nơi anh sẽ thôi hiện hữu?" Nhưng biển đang đó sẽ nói,
"Ai nói điều đó nghĩa là không có gì? Đúng là tôi sẽ chết đi như cái
giếng, nhưng tôi sẽ được sinh ra như bản thân đại dương."
Chọn lựa bao giờ cũng là liệu bạn muốn còn là
cái giếng hay bạn muốn trở thành đại dương. Chọn lựa này là giữa cái nhỏ mọn và
cái mênh mông, giữa bộ phận và toàn thể, giữa tù túng và tự do. Nhưng đó là vấn
đề kinh nghiệm; đó không phải là triết lí chút nào. Và nếu cái giếng sợ chết
đi, nó sẽ phải phục vụ cho mọi mối quan hệ với đại dương. Bởi vì chừng nào nó
còn có quan hệ với đại dương, nó bao giờ cũng phải đối diện với nguy hiểm của
việc biết rằng nó là chính đại dương.
Thế thì cái giếng sẽ phải phá vỡ mối ràng buộc
ngay cả với tất cả dòng nước ngầm và dòng suối, bởi vì chung cuộc chúng đi ra
cùng đại dương. Cái giếng sẽ phải nhắm mắt lại với mọi phía và từ chối nhìn vào
bên trong, để cho nó không phải biết về sự vô hiện hữu riêng của mình và sự
hiện hữu của đại dương. Thế thì nó bao giờ cũng nhìn ra ngoài và không bao giờ
nhìn vào bên trong. Thế thì nó sẽ muốn dòng suối là nhỏ nhất có thể được; nó
thậm chí còn muốn chúng khô đi và chết đi. Nhưng thế thì trong cuộc hành trình
dài bản thân cái giếng sẽ chết, mặc dầu nó sẽ làm mọi điều để tự cứu mình.
Trong chính nỗ lực để tự cứu mình nó sẽ bỏ mạng.
Jesus đã nói, "Người tự cứu mình sẽ chết,
còn riêng người sẽ được cứu là người chết đi một cách tự nguyện."
Cho nên câu hỏi luôn luôn nảy sinh trong tâm
trí chúng ta, "Sao tôi phải đi tới chỗ tôi sẽ chết và biến mất? Sao phải
đi tới đó, nếu cái chết là chắc chắn?" Nhưng nếu cái chết này là điều chắc
chắn, thì nó chính là điều đang đó. Và làm sao trên trái đất này bạn sẽ cứu
được bản thân mình qua nỗ lực gìn giữ cái ta như vậy? Nếu đúng là bạn sẽ chết
khi đi vào đại dương, thì làm sao bạn sẽ cứu được bản thân mình như cái giếng,
và được bao lâu? Nếu, theo quan điểm của bạn, việc trở thành đại dương khổng lồ
có nghĩa là chết đi, làm sao bạn sẽ sống sót như cái giếng nhỏ tí xíu và được
bao lâu? Chẳng mấy chốc thành giếng sẽ vỡ vụn; chẳng mấy chốc nước của nó sẽ
bay hơi, và chẳng mấy chốc nó sẽ bị che phủ bởi bụi và bẩn. Khi bạn không tồn
tại như đại dương bao la, làm sao bạn sẽ tồn tại như cái giếng tí xíu được? Và
được bao lâu?
Đây là cách nỗi sợ chết nảy sinh. Đây là nỗi
sợ đeo đuổi cái giếng. Cái giếng không muốn đi ra biển vì sợ bị tiêu diệt. Do
đó nó giữ một khoảng cách với biển và tiếp tục là giếng. Nhưng cho dù thế thì
nỗi sợ chết vẫn cứ nắm bắt nó, bởi vì ngay khi nó làm mình xa lánh với biển,
thì cái chết kéo tới gần hơn và gần hơn nữa. Được nối với đại dương thì còn có
hi vọng và cuộc sống cho cái giếng; cuộc sống của cái giếng không thoát được
việc nối với đại dương. Xa lánh khỏi đại dương cái chết của nó là chắc chắn.
Đó là lí do tại sao chúng ta tất cả đều sợ
chết; chúng ta sợ rằng chúng ta phải chết và biến mất. Nhưng không có việc
thoát khỏi cái chết; điều đó là chắc chắn. Và chỉ có hai cách chết. Một là cách
bạn lấy bước nhảy vào đại dương và chết. Loại chết này rất phúc lạc, bởi vì bạn
sẽ không thực chết, bạn sẽ trở thành bản thân đại dương. Và loại chết khác xảy
ra khi bạn cứ ương ngạnh bám lấy cái giếng, và đằng nào cũng chết. Thế thì bạn
trì trệ và mục nát và chết với nước mắt lưng tròng.
Tâm trí chúng ta tham lam; nó bao giờ cũng
theo đuổi cái lợi nào đó, lợi nhuận nào đó, thành đạt nào đó. Nó cứ hỏi,
"Tôi sẽ được gì nếu tôi đi ra đại dương? Tôi sẽ đạt được gì nếu tôi tìm
kiếm samadhi hay niết bàn hay cái trống rỗng?" Chúng ta bao giờ cũng hỏi
chúng ta sẽ thành đạt được gì, và chúng ta không bao giờ hỏi - mà là điều người
ta nên hỏi - "Làm sao chúng ta đánh mất bản thân mình trong loài chuột này
để được lợi và thành đạt?" Trên bề mặt của nó, chúng ta đã đạt được mọi
thứ: chúng ta đã đạt được của cải, quyền lực, danh vọng, mọi thứ. Và trong
chính việc theo đuổi này chúng ta đã đánh mất bản thân mình; chúng ta đã hoàn
toàn đánh mất mình. Chúng ta bây giờ có mọi thứ - ngoại trừ mỗi bản thân mình.
Nếu các bạn hỏi tôi dưới dạng thành đạt, tôi
sẽ nói: nếu các bạn được chuẩn bị để mất thì các bạn sẽ đạt tới bản thân mình.
Và các bạn sẽ làm mất bản thân mình và mất hoàn toàn nếu các bạn không được
chuẩn bị để mất, nếu các bạn cố gắng cứu. Đây là nghịch lí; rằng trong nỗ lực
của các bạn để cứu, các bạn sẽ cứu được mọi thứ trừ bản thân mình. Các bạn sẽ
cứu được mọi thứ và các bạn sẽ làm mất linh hồn mình, điều mới thực là các bạn.
Người hỏi: Thầy nói rằng tỉ lệ của ô xi và các bô nic thay đổi qua thở sâu. Xin thầy giải thích làm sao điều này có liên hệ với việc đánh thức kundalini?
Có nhiều liên hệ giữa chúng. Một, chúng ta
mang bên trong mình tiềm năng của cả sống và chết. Trong khi ô xi của hơi thở
biểu thị cho tiềm năng sống của chúng ta, thì các bô nic biểu thị cho tiềm năng
chết. Khi ô xi của bạn dần giảm đi và biến mất và bạn bị bỏ lại với một mình các
bô nic, bạn sẽ biến thành cái xác. Điều đó cũng giống như chúng ta đốt một mẩu
gỗ - nó cháy chừng nào ô xi còn sẵn đấy. Có ngọn lửa, có cuộc sống trong miếng
gỗ chừng nào ô xi còn có sẵn cho nó. Nhưng ngay khi ô xi của nó bị tiêu dùng,
nó chết. Nó bị thu lại thành tro, thành than, cũng là các bon. Các bon bị bỏ
lại sau không là gì ngoài lửa chết.
Cả hai yếu tố này đều vận hành bên trong chúng
ta. Nếu chúng ta có nhiều các bô nic, chúng ta sẽ trượt vào trạng thái hôn mê.
Đó là lí do tại sao dễ ngủ trong đêm hơn ban ngày, bởi vì trong đêm khối lượng
các bô nic tăng lên trong khi lượng ô xi giảm xuống. Đó là cách chúng ta đi ngủ
dễ dàng thế trong đêm và không dễ dàng đến thế lúc ban ngày. Ban ngày khối
lượng ô xi trong không khí tăng lên bởi vì mặt trời, và mọi thứ thức dậy và
hoạt động. Và với mặt trời lặn, tỉ lệ ô xi trong không khí giảm xuống đáng kể.
Đó là cách bóng tối và đêm đã trở thành biểu
tượng cho hôn mê và quán tính. Và mặt trời - là biểu tượng cho ánh sáng và cuộc
sống và năng lượng, bởi vì nó đem tới cuộc sống cùng nó. Ban đêm mọi thứ trở
thành lờ phờ: hoa khép cánh của chúng lại, lá co lại, và tất cả cuộc sống đi
ngủ. Theo một nghĩa nào đó toàn thể trái đất trong đêm trượt vào một loại cái
chết tạm thời. Và với việc đến của buổi sáng khác, hoa nở ra, cây bắt đầu lay
động, lá trở nên sống động, cuộc sống được thức dậy, chim tung cánh bay và cả
trái đất trở thành ngày hội. Cái chết tạm thời của thời gian đêm biến mất và
cuộc sống trở lại với trái đất.
Cùng điều đó xảy ra bên trong bạn. Khi lượng ô
xi trong bạn tăng lên, năng lượng tiềm tàng của bạn bắt đầu thức dậy. Với mọi
loại năng lượng tiềm tàng để đánh thức dậy, ô xi là cái cần phải có. Chúng ta
có thể giữ cho người hấp hối còn sống thêm chút ít bằng sự hỗ trợ của ô xi.
Người đó sẽ chết ngay nếu ống ô xi bị dứt ra khỏi ngực. Nhưng với ô xi người đó
có thể được giữ cho sống thêm vài ngày, vài tháng, thậm chí vài năm, bởi vì
sinh lực đã bị yếu hoàn toàn của người đó được làm sống lại bởi ô xi. Chúng ta
giữ bản thân cái chết không tới bằng sự giúp đỡ của ô xi.
Ngày nay hàng nghìn người trên khắp châu Âu và
Mĩ đang được giữ cho sống bằng ô xi được bơm vào họ từ bên ngoài. Họ đáng ra
thì đã chết từ lâu rồi nhưng nhờ có các bình khí nén ô xi mà vẫn sống. Bây giờ
việc cho phép người mắc bệnh nan y chết đã là một trong những vấn đề quan trọng
ở các nước phương Tây. Việc cho phép người bệnh chết có nghĩa là con người phải
có quyền được chết khi người đó phải chết. Với sự giúp đỡ của ô xi, những thiết
bị hiện đại, các bác sĩ có thể giữ cho ai đó sống thật lâu- mặc dầu người đó
chết là điều tốt. Cho nên cho phép người bệnh được chết đã trở thành vấn đề
lớn. Vấn đề của các bác sĩ là ở chỗ nếu bác sĩ cho phép người đó chết thì bác
sĩ sẽ bị mọi người nói là phạm tội giết người. Đó sẽ là một loại giết người.
Cho nên bác sĩ sẽ giữ cho một người già tám mươi tuổi tàn tật vẫn sống nhờ ô
xi. Nếu bác sĩ không làm như vậy thì bác sĩ sẽ bị buộc tội giết người, cho nên
bác sĩ sẽ giữ cho năng lượng tàn tạ này sống bằng việc thêm ống ô xi vào ngực.
Các bài tập thở như pranayam, bhastrika và
điều tôi gọi là việc thở nhanh và mãnh liệt để làm gì? Bạn thở trong hơi thở
cuộc sống nhiều tới mức tiềm năng của năng lượng tiềm tàng của bạn được tăng
cường và nó bắt đầu thức tỉnh. Đồng thời, với việc thở sâu và nhanh hình mẫu
quán tính ăn sâu hay giấc ngủ bị phá vỡ.
Các bạn sẽ ngạc nhiên khi nghe câu chuyện tôi
sắp kể cho các bạn.
Quãng bốn năm trước một sư Phật giáo tới tôi
từ Ceylon. Ông ấy đã đi mà không ngủ trong ba năm. Ông ấy được cho đủ mọi loại
thuốc chữa trị, nhưng chẳng có tác dụng. Thuốc không thể có tác dụng bởi vì
khất sĩ này đã thực hành anapanasati yoga - một loại kỉ luật thở đặc biệt đã
thành mốt trong các Phật tử. Nó bao gồm việc quan sát việc thở sâu của người ta
hết ngày nọ tới ngày kia. Bây giờ người này, người đã dạy cho ông ta
anapanasati yoga không biết rằng nếu người ta quan sát hơi thở sâu của mình
trong hai mươi bốn giờ một ngày, thì người đó sẽ mất giấc ngủ của mình hoàn
toàn. Thế thì sẽ không thể nào làm cho người đó ngủ được.
Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, khất sĩ này đã
được cho thuốc ngủ trong khi ông ta thực hành anapanasati. Điều đó tạo ra xung
đột lớn trong thân thể ông ấy và ông ấy thực sự thành đống lộn xộn. Trong khi
thuốc đang cố gắng đưa giấc ngủ vào ông ta, việc quan sát thường xuyên hơi thở
lại giữ cho ông ta thức. Kết quả là một loại bế tắc, khủng hoảng đã được tạo ra
trong thân thể ông ta, như sẽ xảy ra trong ô tô nếu ga và phanh được nhấn đồng
thời. Hiển nhiên là khất sĩ này trong khổ sở khủng khiếp.
Ai đó kể cho ông ta về tôi và do vậy ông ta
tới. Ngay khi tôi thấy ông ấy tôi biết rằng ông ta bị mắc giữ trong một loại
điên khùng, ông ta đã tự đẩy mình vào một tình thế không thể được. Tôi yêu cầu
ông ta dừng anapanasati yoga ngay lập tức. Nhưng ông ta muốn biết anapanasati
có liên quan gì tới việc mất ngủ của ông ta. Ông ta chẳng ý tưởng gì rằng nhận
biết thường xuyên về thở sâu đã làm tăng khối lượng ô xi của ông ta nhiều tới
mức giấc ngủ của ông ta đã tan biến. Tôi cũng bảo ông ta rằng nếu ông ta không
thể từ bỏ được anapanasati, thì ông ta phải dừng uống thuốc an thần và đi mà
không ngủ. Nếu ông ta còn tiếp tục anapanasati, thì ông ấy có thể dễ dàng thực
hiện mà không ngủ; điều đó sẽ không làm hại gì chút nào cho ông ấy.
Khi khất sĩ này dừng anapanasati chỉ trong tám
ngày, giấc ngủ của ông ta trở lại với ông ta, và ông ta không dùng thuốc an
thần nào.
Bất kì việc tăng các bô nic nào cũng không
tránh khỏi việc tăng giấc ngủ của chúng ta. Và mọi thứ tạo ra các bon trong
thân thể chúng ta đều gửi năng lượng đã ngủ của chúng ta vào giấc ngủ sâu hơn,
nó làm sâu sắc hơn vô thức của chúng ta. Đó là lí do tại sao, khi dân số của
thế giới tăng lên, việc chia sẻ ô xi của mọi người giảm xuống theo cùng mức đó.
Và điều đó bổ sung cho vô thức của chúng ta - vốn đã quá nhiều. Một thời điểm
có thể tới sớm khi khả năng đánh thức của chúng ta sẽ ở vào mức tối thiểu.
Bạn cảm thấy tươi mát vào buổi sáng. Bạn cảm
thấy tươi mát khi bạn đi vào rừng hay tới thăm bãi biển. Và bạn trở nên lờ phờ
và đờ đẫn khi bạn ở bãi chợ, khi bạn trong đám đông. Tại sao? Đó là vì có nhiều
các bô nic và thiếu ô xi. Đúng là ô xi đang được tạo ra vào mọi lúc, nhưng khi
đám đông tiêu thụ nhiều ô xi hơn, điều đó đưa tới việc khan hiếm ô xi ở bãi
chợ. Đi vào chỗ đông người - rạp chiếu phim hay đền chùa - và chẳng mấy chốc
bạn sẽ lọt vào vòng bắt giữ của lờ phờ và vô nhạy cảm. Còn đi lên núi hay ra
vườn, hay ra sông, và bạn sẽ cảm thấy tỉnh táo và sống động và hạnh phúc.
Có ý định lớn trong việc tăng lượng ô xi của
bạn. Nó làm thay đổi sự cân bằng bên trong của bạn; nó làm cho bạn thức tỉnh và
nhận biết hơn, ít buồn ngủ và vô ý thức hơn. Và nếu khối lượng ô xi tăng lên
nhanh chóng và đột ngột và bất ngờ, nó sẽ tạo ra thay đổi căn bản trong cân
bằng bên trong của bạn. Nó sẽ giống như một phía của chiếc cân lên cao và phía
bên kia chúi xuống chạm đất. Và nếu thay đổi này được đưa tới trong một cú, bạn
sẽ kinh nghiệm nó rất nhanh và đột ngột. Thay đổi dần dần và chậm chạp bạn khó
cảm thấy được.
Đó là lí do tại sao tôi liên tục nhấn mạnh vào
việc thở nhanh và mạnh để cho bạn đem tới thay đổi mau lẹ đến mức bạn chuyển từ
giai đoạn này sang giai đoạn khác chỉ trong mười phút, và cũng quan sát bản
thân quá trình thay đổi. Chỉ khi sự việc thay đổi mau lẹ và đột ngột nó mới có
thể được quan sát một cách rõ ràng như vậy.
Chẳng hạn, mỗi người trong chúng ta đều chuyển
từ thời thơ ấu sang thời thanh niên và từ tuổi thanh niên sang tuổi già, nhưng
quá trình này chậm chạp và dần dần tới mức chúng ta chẳng bao giờ biết đích xác
khi nào chúng ta trở thành thanh niên, khi nào chúng ta trở thành người già.
Nếu ai đó hỏi đích xác ngày tháng khi nào tôi trở thành già, tôi không thể nói
được. Người già bị lẫn lộn, người đó không hiểu rằng mình bây giờ già rồi, bởi
vì giữa tuổi thanh xuân và tuổi già của người đó không có lỗ hổng nào cả. Tương
tự, đứa trẻ không biết rằng nó đã đến tuổi; nó tiếp tục cư xử như đứa trẻ.
Trong khi nó trông như người lớn đối với người khác, thì bản thân nó vẫn còn
không nhận biết về sự kiện này. Trong khi bố mẹ nó trông đợi nó nhận lấy trách
nhiệm của nó trong gia đình, thì nó vẫn coi mình là đứa bé.
Vấn đề là vậy bởi vì việc chuyển đổi từ giai
đoạn này sang giai đoạn khác không xảy ra một cách thình lình; nó rất im lặng
và chậm chạp. Theo cùng cách này người già tiếp tục cư xử cứ dường như người đó
là thanh niên; người đó không nhận biết rằng thay đổi đã xảy ra trong đời mình.
Và làm sao người đó có thể biết được?
Chuyển đổi bất thần và đột ngột là cần có để
người ta biết nó. Nếu có một ngày và giờ cố định cho việc chuyển đổi này xảy
ra, sẽ không có chỗ cho lẫn lộn. Và thế thì sẽ không cần phải nhắc nhở người đã
lớn hay người già về trạng thái đúng của người đó.
Trong thiền tôi nhắm vào thay đổi đột ngột và
mạnh mẽ tới mức bạn biết rõ ràng sự khác biệt giữa tâm thức ngủ của bạn và
thành phần thức tỉnh tương ứng của nó. Nó phải đi tới như một bước nhảy, bất
thình lình, để cho bạn biết rõ rằng biến đổi đã xảy ra. Việc biết này là có giá
trị; nó sẽ giúp bạn rất nhiều. Bởi lí do này tôi ủng hộ những kĩ thuật đem lại
biến đổi đột ngột và bất thần. Nếu nó cần thời gian dài, bạn sẽ chẳng bao giờ
biết nó. Và dốt nát này có nguy hiểm của nó. Nguy hiểm là ở chỗ nếu bạn không
biết điều gì đã xảy ra, nó sẽ không làm sâu sắc cho hiểu biết của bạn như nó
đáng làm.
Điều thường xảy ra là ai đó đi tới kinh nghiệm
tâm linh nào đó một cách vô nhận biết và vô nỗ lực, và thay đổi lại chậm và im
lặng tới mức người đó không biết nó tất cả là cái gì. Thế thì người đó cố gắng
diễn giải nó theo cách thức cũ của mình - mà hầu hết là sai - bởi vì toàn cảnh
cần thiết để hiểu nó bị thiếu. Nhiều lần điều xảy ra là bạn ở rất gần một kinh
nghiệm tâm linh mà bạn bỏ qua nó, bởi vì bạn diễn giải nó theo cách thả neo cũ
của mình. Tất cả mọi điều này xảy ra chỉ bởi vì thay đổi xảy ra từ từ và chậm
chạp thế.
Tôi biết về một người dễ dàng nâng một con hà
mã lên bằng hai tay. Hà mã là con vật to lớn và nặng đáng kể. Nông trại súc vật
của anh ta có nhiều trâu trong đó. Người này bắt đầu nâng con hà mã con và tiếp
tục nâng nó hàng ngày trong một thời gian dài. Do đó khi con hà mã này lớn lên,
dần dần khả năng của người đó để nâng nó lên cũng tăng lên theo cùng nhịp. Và
bây giờ người đó có thể nâng bất kì con hà mã lớn nào - điều đơn giản có vẻ như
phép màu! Bản thân người này không nghĩ điều đó là phép màu, bởi vì người đó đã
thu được khả năng này dần dần qua một thời gian dài. Nhưng tất cả mọi người
khác đều coi đó là phép màu thực, bởi vì họ có toàn cảnh để nhìn nó. Họ biết
bản thân họ không thể làm được điều người này làm rất dễ dàng.
Chính bởi lí do này mà tôi dạy các bạn cách
thiền động và mạnh mẽ này.
Và ô xi có ý nghĩa lớn. Nó là thứ cực kì quí
giá. Bạn càng rót đầy thân thể mình bằng ô xi, việc chuyển đổi của bạn từ thân
thể sang linh hồn càng nhanh. Nếu bạn hiểu điều đó đúng, bạn sẽ biết rằng thân
thể mình là đầu chết của bạn; thân thể là phần của bạn biểu lộ ra nó bởi vì nó
là chết. Phần này của bạn, đang chết, đã bị làm cứng lại và do đó nó là thấy
được. Còn linh hồn là phần khác của bạn vẫn tiếp tục mang tính hay thay đổi và
tinh tế, loãng và nhẹ lâng lâng; nó không thể được giữ chắc. Một lượng ô xi đủ,
điều đem lại việc thức tỉnh và cuộc sống cho bạn, sẽ tạo ra một khoảng cách rõ
rệt giữa thân thể bạn và linh hồn. Thế thì bạn sẽ biết rõ ràng chúng là hoàn
toàn khác lẫn nhau, mặc dầu chúng là hai phần của cùng một bản thể - bạn.
Do đó, việc thở đóng vai trò lớn trong việc
đánh thức kundalini.
Kundalini là năng lượng ngủ của bạn. Bạn không
thể đánh thức được nó với sự giúp đỡ của các bô níc. Thay vì thế, các bon sẽ
làm giấc ngủ của nó sâu hơn. Ô xi là sự trợ giúp lớn lao trong việc đánh thức
kundalini. Đây là lí do mà chúng ta bao giờ cũng coi thiền sáng có tầm quan
trọng lớn lao thế. Lí do là thế này: rằng vào buổi sáng thậm chí hơi thở nhỏ
cũng mang một khối lượng lớn ô xi cùng nó. Trái đất thường ở vào trạng thái phi
thường và rất duy nhất trong vòng trọn một giờ sau khi mặt trời mọc, và lấy ưu
thế của tình huống này, buổi sáng đã được chọn là thời gian tốt nhất cho thiền
trên khắp thế giới.
Bạn càng gõ búa mạnh vào kundalini bằng việc
thở nhanh và mãnh liệt, nó sẽ càng nhanh chóng thức dậy. Nhưng khó khăn là ở
chỗ chúng ta không thấy rõ ràng nó vận hành thế nào, và do đó ý nghĩa của thở
sâu bị mất đi với chúng ta. Chẳng hạn, chiếc đèn đang cháy. Chúng ta thấy dầu
trong bình bằng đất, chúng ta thấy bấc và diêm thắp sáng nó. Chúng ta cũng thấy
ngọn lửa và ánh sáng nảy sinh từ nó. Nhưng chúng ta không thấy điều thực: ô xi
vốn là phần sống còn của toàn bộ hoạt động. Thực sự chính ô xi mới đốt cháy và
trở thành ánh sáng. Dầu, bấc, diêm đều không quan trọng đến thế. Dầu, bấc và
diêm là phần thấy được của chiếc đèn, chúng tạo thành thân của đèn. Nhưng phần
không thấy được, ô xi, cái tạo ra linh hồn của chiếc đèn và cái thực sự đốt
cháy, là không thấy được.
Tôi đã nghe nói rằng một buổi tối một gia đình
đi tới thăm nhà bạn, để lại nhà một đứa bé trông coi nhà. Có một ngôi đền nhỏ
trong ngôi nhà đó và một chiếc đèn đang cháy trước bức tượng thượng đế nào đó.
Đứa trẻ đã được yêu cầu đặc biệt trông nom cho ngọn đèn đó không tắt. Trong lúc
đó, một cơn gió mạnh bắt đầu quét qua, và đứa trẻ đâm ra lo lắng về chiếc đèn.
Thế là nó đem cái bát thủy tinh tới và che cho đèn bằng chiếc bát này. Mặc dầu
đèn được bảo vệ kĩ, vậy là ngọn lửa tắt ngay lập tức. Có lẽ chiếc đèn có thể đã
tồn tại được với cơn gió, nhưng nó không thể tồn tại được khi thiếu ô xi; nó
chết trong một giây.
Ô xi, cái thực sự là lực sống còn, là không
thấy được. Điều chúng ta gọi là cuộc sống là quá trình ô xi hoá; nó cũng giống
như việc đốt cháy ngọn đèn. Nói theo thuật ngữ khoa học, cuộc sống là ô xi đang
cháy. Dù nó là trong con người hay trong cây cối hay trong ngọn đèn hay trong
bản thân mặt trời, bất kì chỗ nào có việc ô xi hoá thì đều có cuộc sống. Cho
nên càng ô xi hoá nhiều, thì ngọn lửa cuộc sống của bạn càng sáng hơn. Và
kundalini là ngọn lửa của cuộc sống này. Ô xi hoá làm cao thêm việc bốc lửa và
luồng kundalini. Cho nên ô xi là rất có hiệu quả với kundalini.
Người hỏi: nhiều nhà yoga dùng hang núi rất
thiếu ô xi. Làm sao hang động có ích trong việc đạt tới samadhi hay thống nhất
với cái tuyệt đối?
Thực tế nhiều điều cần có trước khi ai đó có
thể đi vào trong hang để thực hành yoga. Nếu những yêu cầu này không được đáp
ứng, nhà yoga trong hang sẽ không bao giờ đạt tới được samadhi; người đó thay
vì thế sẽ trải qua việc tăng thêm vô ý thức. Điều người đó sẽ lấy thay cho
samadhi sẽ không là gì ngoài giấc ngủ và vô ý thức sâu hơn. Một mình người đó
có thể dùng cái hang có nhiều ô xi cho bản thân mình trong việc thực hành dư
thừa pranayam tới mức cái hang đó không thành vấn đề gì với người đó.
Nếu một người đã trải qua pranayam về chiều
sâu, nếu mọi giọt máu của người đó, mọi thớ thịt của thân thể người đó đã được
cấp đủ ô xi, người đó có thể chôn vùi mình dưới đất trong tám ngày và bước ra
khỏi đó vẫn còn sống. Lí do là đơn giản thế này: người đó có đủ ô xi dự trữ để
kéo dài cuộc sống người đó trong tám ngày. Thông thường, chúng ta không có ô xi
dư thừa nào theo mình; chúng ta ít khi quản lí điều đó. Nếu bạn đi và nằm dưới
đất bên cạnh nhà yoga mà không có thực hành thích hợp về pranayam, bạn sẽ chết
vào ngày thứ tám khi nhà yoga bước ra còn sống. Nhà yoga có dự trữ lượng ô xi
cần để giữ cho người ta sống trong tám ngày chôn vùi dưới đất. Người như vậy sẽ
dùng khéo cái hang cho việc thiền và sẽ được lợi nhiều. Vì người đó không có
vấn đề gì với ô xi, nên người đó sẽ thu hoạch được ích lợi khác mà chỉ hang
động mới đem lại cho nhà yoga.
Cái hang hữu dụng bởi vì nó cung cấp nhiều
loại bảo vệ cho người tìm kiếm. Nó không chỉ bảo vệ người đó khỏi sự ồn ào và
hối hả của thế giới bên ngoài; nó cũng bảo vệ người đó khỏi những rung động đa
dạng gây thương tổn nhà yoga. Cái hang thuộc một loại đá đặc biệt có nhiều ý
nghĩa. Đá đặc biệt, như đá cẩm thạch, ngăn cản nhiều rung động không cho đưa
vào trong hang. Đó là lí do tại sao đá cẩm thạch được dùng rộng rãi trong việc
xây dựng đền chùa. Bởi vì đá cẩm thạch mà những rung động nào đó bị giữ lại không
vào trong đền chùa.
Cho nên đá cẩm thạch không chỉ được dùng với
mục đích trang trí đâu - như người ta vẫn hiểu chung chung như vậy - nó thực sự
có ý nghĩa tâm linh lớn đã được khám phá ra qua thực nghiệm lâu dài. Có những
đá hấp thu những loại rung động đặc biệt nào đó, do vậy ngăn cản chúng khỏi đi
vào đền chùa. Một số đá khác làm lệch hay đẩy lùi những rung động này. Và có
những đá hấp dẫn các rung động có ích cho kỉ luật tâm linh. Trong quá khứ, hang
động với những hình dạng và kích cỡ đặc biệt đã được khắc chạm, bởi vì thiết kế
của hang cũng quan trọng cho sadhana.
Nhưng chúng ta chẳng có ý tưởng gì, bởi vì
toàn bộ khoa học của nó đã bị thất lạc. Khi chúng ta làm ra chiếc xe ô tô,
chúng ta làm ra nó với thiết kế riêng. Điều này được thực hiện với một mắt dành
cho tốc độ của xe. Chiếc xe phải được thiết kế sao cho nó xé không khí và không
tranh đấu với không khí. Nếu chiếc xe phẳng ở phía trước, tốc độ của nó sẽ bị
gò ép. Phía trước phải làm sao để nó cắt qua không khí, không bị cản lại như
mũi tên. Và bởi vì chiếc xe cắt qua không khí với tốc độ cao, nên không khí xô
vào chỗ chân không được tạo ra đằng sau xe, bổ sung thêm cho tốc độ.
Bạn phải đã thấy chiếc cầu bắc qua sông Hằng
tại Allahabad; nó được xây dựng có khó khăn lớn. Dòng chảy của sông mạnh tới
mức nó quét đi mọi cột trụ của chiếc cầu mà các kĩ sư đã thăm dò với nỗ lực lớn
để xây dựng. Hết cột nọ tới cột kia phải được xây dựng và xây lại. Nhưng người
xây dựng gặp phải một khó khăn đặc biệt với một cột trụ đặc biệt; gần như không
thể xây được nó. Khi tất cả các cột khác đã sẵn sàng, cái cột này vẫn tiếp tục
thách đố công nghệ hiện đại. Thế rồi các kĩ sư động tới một kế hoạch khéo léo:
Họ thiết kế cây cột trụ này theo hình dáng chiếc giầy và nó trụ lại dòng nước
mạnh mẽ. Nếu bạn quan sát chiếc giầy của mình bạn sẽ thấy hình dáng của nó giúp
cho bạn trong việc bước đi; nó cắt qua thông khí. Cho nên cột trụ kiểu chiếc
giầy có thể hấp thu được chấn động của dòng chảy xô tới của sông Hằng.
Đó là lí do tại sao hang động có hình dáng và
kích cỡ đặc biệt và loại đá đặc biệt trong chúng.
Người tìm kiếm có thể phóng rung động của mình
tới một giới hạn nào đó của không gian của mình, và qua thực nghiệm người đó sẽ
tự biết mình cần bao nhiêu không gian để an toàn cho việc thực hiện sadhana của
mình. Chẳng hạn, nếu người đó đi tới biết rằng mình có thể rót đầy một diện
tích sáu mươi tư phít vuông (gần 6 mét vuông) bằng rung động riêng của mình,
thì không gian đó sẽ được xem như an toàn cho người đó. Thế thì người đó sẽ coi
cái hang của mình phải có số lỗ ít nhất - có lẽ là một sẽ đủ. Và một cửa này
phải có hình dạng và kích cỡ riêng của nó; nó phải bảo toàn rung động của người
tìm kiếm và đồng thời giữ các rung động không mong muốn khác không cho vào
hang.
Nếu một số người tìm kiếm đã dùng một hang đặc
biệt cho sadhana này, cái hang đó thu được ý nghĩa phi thường, và người tìm
kiếm mới có thể rất được lợi bởi nó. Do đó một số hang đã được dùng trong nhiều
năm không gián đoạn.
Khi lần đầu tiên hang ở Ajanta được khai quật,
chúng tất cả đều đầy bùn. Và điều đó đã được thực hiện với một ý định, mặc dầu
mọi người chịu trách nhiệm cho công việc khai quật đã chẳng có ý tưởng gì về
nó. Họ ngạc nhiên thấy rằng mọi hang đều đã được chất đầy và bít kín cẩn thận
bằng bùn nhão. Chúng trông hệt như các tảng đá núi, nơi cây cỏ mọc tự do. Điều
trở thành cần thiết là lấp đầy các hang đó bằng bùn nhão, bởi vì thời điểm đã
tới khi người tìm kiếm trở nên hiếm hoi, và tính hữu dụng của chúng phải được
bảo tồn cho thời tương lai khi những người tìm kiếm mới có sẵn, những người sẽ cần
tới chúng.
Các hang ở Ajanta chưa bao giờ được ngụ ý dành
cho khách du lịch và người tham quan những người hiện tại đang dùng chúng.
Chúng không dành cho khách thăm quan; khách thăm thực tế đã phá huỷ mọi thứ quí
giá về chúng. Bây giờ chúng không có giá trị tâm linh.
Mặc dầu hang thiếu ô xi, nó có ưu thế khác cho
người tìm kiếm. Và sadhana hay kỉ luật tâm linh là việc phức hợp; có nhiều khía
cạnh của nó. Cái hang là tốt cho người tìm kiếm cao cấp. Và người tìm kiếm
không phải bị hạn chế ở trong hang hết ngày nọ tới ngày kia; người đó thỉnh
thoảng còn đi ra ngoài. Một phần của sadhana của người đó được thực hiện bên
ngoài hang, nếu điều đó là cần thiết phải làm như vậy. Người đó dùng cả hai -
không gian bên trong và bên ngoài hang.
Các đền chùa và đền thời Hồi giáo đã được
thiết kế và xây dựng theo chính ý định này; chúng được ngụ ý bảo tồn những loại
rung động và năng lượng đặc biệt, điều có ích cho sự phát triển của người tìm
kiếm.
Thỉnh thoảng các bạn thấy, khi tới thăm một
chỗ, rằng ý nghĩ của các bạn bỗng nhiên thay đổi, mặc dầu các bạn không biết
rằng chỗ đặc biệt này có dúng tay vào đó. Các bạn cho rằng sự thay đổi đã xuất
hiện bởi chính nó. Nhiều lần các bạn thấy rằng khi tới thăm một người đặc biệt,
các bạn thành người khác - khác với điều các bạn đã là. Các bạn thấy rằng một
khía cạnh khác của cá tính bạn đã bước ra phía trước. Thế rồi các bạn cho rằng
đấy chỉ là việc thay đổi tâm trạng. Nhưng vấn đề không đơn giản thế.
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành theo hướng
này. Chẳng hạn, có các kim tự tháp ở Ai Cập. Các điều tra chuyên sâu đã được
thực hiện để tìm ra kim tự tháp là gì, tại sao chúng được làm ra và để làm gì.
Ý định của việc xây dựng những kim tự tháp khổng lồ như vậy là gì trong vùng
đất hoang khô cằn, trong sa mạc? Bao nhiêu tiền đã được chi ra cho việc xây
dựng của họ? Bao nhiêu năng lượng con người đã đổ vào để làm ra chúng? Nếu các
cấu trúc khổng lồ như vậy mà chỉ được ngụ ý để chôn vùi người chết, như chúng
dường như vậy, thế thì đấy là lãng phí khinh suất về tiền bạc và năng lượng con
người.
Chân lí là ở chỗ các kim tự tháp này đã được
xây dựng đặc biệt cho những ý định tâm linh; chúng là chỗ mà sadhana tâm linh
có thể được tiến hành với sự thoải mái và ưu thế lớn lao. Và nó được dành cho
các ý định tâm linh mà các thi thể chết của những người đặc biệt được gìn giữ
trong chúng.
Ở Tây Tạng, thi thể chết của các bồ tát vĩ
đại, những linh hồn cao cấp, một số trong chúng có hàng nghìn tuổi - đã được
gìn giữ trong những hang rất sâu và bí mật. Thân thể mà Phật đã có không phải
là thân thể thường. Ngay cả thân thể vật lí, với nó linh hồn vĩ đại của Phật đã
được liên kết với trong tám mươi năm, cũng không phải là vật bình thường. Nó
quí giá và vĩ đại vô cùng. Thân thể này đã hấp thu và đồng hoá những rung động
hiếm hoi của Phật trong tám mươi năm. Khó mà nói liệu một hiện tượng như thế có
xảy ra trên trái đất này lần nữa không.
Sau khi bị đóng đinh thân thể chết của Jesus
đã được giữ trong hang. Nó được dự định đem đi chôn vào ngày hôm sau, nhưng
người ta không tìm thấy nó nữa. Điều đó tiếp tục là bí ẩn cho người Ki tô giáo
làm sao thân thể chết của ông ấy biến mất, và điều gì đã xảy ra cho nó. Có câu
chuyện về sự phục sinh của ông ấy nói rằng các đệ tử của ông ấy đã thấy Jesus
vài ngày sau việc đóng đinh. Nhưng câu hỏi vẫn còn lại: điều gì đã xảy ra cho
Jesus sau khi ông ấy được phục sinh và khi nào ông ấy chết lần nữa?
Nhưng chính điều bí ẩn là chẳng có gì được
biết về Jesus sau việc phục sinh cả. Người Ki tô giáo không có giải thích bất
kì điều gì về Jesus được phục sinh. Sự kiện là ở chỗ thân thể chết của Jesus
quí giá tới mức nó lập tức phải bị bỏ khỏi hang để đặt vào chỗ nó có thể được
gìn giữ an toàn trong thời gian dài. Và thông tin này phải được canh giữ bí mật
để giữ an toàn cho thân thể chết. Một người như Jesus thực sự hiếm hoi trong cả
lịch sử.
Cho nên các kim tự tháp này của Ai Cập - kể cả
cấu trúc của chúng, sân của chúng, các tính năng đặc biệt của chúng - đều có
nghĩa và ý nghĩa cao.
(Tại đây trong câu trả lời cho câu hỏi không
nghe được Osho nói rằng đó là vấn đề khác và Thầy sẽ thảo luận nó riêng ra.)
Người hỏi: khi chúng tôi vào thiền sâu, thân thể trở thành trơ ì và việc thở yếu, điều có thể gây ra thiếu ô xi trong thân thể. Xin thầy giải thích hiện tượng này trong hoàn cảnh của thiền và samadhi - như cực lạc.
Thực tế, khi việc thở đã đạt tới mạnh mẽ đầy
đủ của nó và một lỗ hổng được tạo ra giữa bạn và thân thể bạn, khi việc ngủ của
bạn và phần thức dường như tách biệt lẫn nhau, thế thì các bạn sẽ bắt đầu đi
tới phần thức tỉnh của mình. Tại giai đoạn này thân thể thôi không cần ô xi
thêm nữa. Bây giờ điều tốt là thân thể đi vào giấc ngủ, là nó trở thành trơ ì,
cũng như chết. Bây giờ sinh lực của bạn không hướng tới thân thể nữa, thay vì
thế nó bắt đầu chuyển tới linh hồn.
Chính thân thể mới cần ô xi, linh hồn không có
nhu cầu thực về ô xi. Bạn có theo được tôi nói không? Thân thể cần ô xi; và khi
sinh lực của bạn chuyển tới linh hồn, thân thể cần lượng ô xi tối thiểu - chỉ
đủ để giữ cho nó sống. Nó không cần quá mức tối thiểu, và điều đó sẽ cản trở
tiến bộ của bạn nếu thân thể nhận được nhiều ô xi tại giai đoạn này.
Do đó điều đáng phải làm là thở chậm lại và
trở nên nhẹ và yếu. Việc thở là hữu dụng để đánh thức năng lượng, và một khi
năng lượng này thức dậy, việc thở dừng tính hữu ích đó. Bây giờ thân thể bạn có
thể tồn tại với việc thở tối thiểu. Và do vậy sẽ có một khoảnh khắc nó sẽ đi
tới dừng hoàn toàn. Nó phải dừng lại.
Trong thực tế, khi bạn đạt tới điểm cân bằng
đúng, điều chúng ta gọi là samadhi, việc thở sẽ dừng lại. Nhưng chúng ta không
có ý tưởng gì về việc dừng thở này nghĩa là gì. Nếu bạn muốn biết điều đó ngay
bây giờ bạn có thể dừng việc thở lại, nhưng điều đó sẽ là vô nghĩa. Các bạn
không thể biết được nó bằng kinh nghiệm qua việc cố ý dừng nó. Điều này sẽ
không là cùng kinh nghiệm mà bạn có trong thiền sâu.
Chúng ta đều quen thuộc với hai cách thở: thở
vào và thở ra. Nhưng một khoảnh khắc tới, và nó tới tại đỉnh cao của thiền, khi
việc thở dừng lại nửa chừng giữa hít vào và thở ra. Khi khoảnh khắc như vậy tới
các bạn sẽ cảm thấy rằng việc thở của mình đã dừng và rằng bạn sắp chết. Chắc
chắn những khoảnh khắc này sẽ tới.
Khi các bạn đi sâu hơn vào thiền, việc thở của
các bạn trở thành ngày một chậm hơn; dường như việc thở đã loãng ra. Đấy là vì
các bạn không cần ô xi nữa tại chiều sâu của thiền. Ô xi là cần tại giai đoạn
khởi đầu của nó. Điều đó cũng giống như tôi vặn chiếc chìa khoá trong ổ khoá để
mở cửa. Tôi có cần tiếp tục vặn chìa ngay cả sau khi nó đã làm xong việc của nó
không? Bây giờ chiếc chìa là vô dụng. Nó treo trong ổ khoá và tôi ở bên trong
phòng. Bạn có thể hỏi tại sao tôi không dùng chìa khoá khi tôi ở trong phòng.
Không, chìa khoá đã phục vụ cho ý định của nó; nó chỉ có nghĩa cho việc đi vào
phòng.
Chừng nào mà kundalini còn chưa thức dậy, các
bạn sẽ phải dùng chìa khoá của việc thở với tất cả sức mạnh của bạn. Nhưng ngay
khi nó được đánh thức, việc thở trở thành không cần thiết. Bây giờ, khi bạn
đang trong cuộc hành trình nội tâm, thân thể bạn sẽ yêu cầu rất ít ô xi. Và thế
thì bạn không phải dùng ý chí của mình để dừng việc thở; nó sẽ chậm dần lại tới
chỗ dừng, và một khoảnh khắc sẽ tới khi mọi thứ sẽ dường như đã đi tới sự dừng
lại. Trong thực tế, đây là khoảnh khắc đó - khi việc thở dừng lại nửa chừng
giữa hít vào và thở ra - khi bạn ở vào trạng thái của cân bằng hoàn toàn, khi
bạn ở trong cực lạc hay samadhi. Trong chính khoảnh khắc này bạn biết sự tồn
tại - không phải cuộc sống.
Hiểu khác biệt này giữa việc biết cuộc sống và
việc biết sự tồn tại đi. Trong samadhi bạn biết sự tồn tại - không phải cuộc
sống. Tri thức của bạn về cuộc sống được nối với việc thở của bạn, bởi vì cuộc
sống là ô xi, nó là một phần của hơi thở. Trong samadhi bạn biết sự tồn tại nơi
việc thở hoàn toàn không cần thiết. Sự tồn tại là mênh mông. Sự tồn tại này bao
gồm mọi thứ - nó bao gồm hiện hữu của bạn, và núi non và các vì sao và toàn thể
không gian. Không có chuyển động bất kì cái gì; mọi thứ đều tĩnh tại và nghỉ
ngơi trong sự tồn tại. Thậm chí không một gợn sóng nảy sinh trong biển cả bình
yên, thanh thản và tĩnh lặng. Trong khoảnh khắc đó tất cả mọi rung động của
việc thở của bạn sẽ đi tới chỗ dừng; bản thân hơi thở sẽ dừng lại, bởi vì hơi
thở không thể đi vào trong tĩnh lặng này, cái trống rỗng này. Để một mình hơi
thở, ngay cả cuộc sống cũng không thể đi vào không gian này. Không bao giờ.
Cõi bên kia là ở bên ngoài cuộc sống nữa.
Nhớ lấy, rằng cái ở bên ngoài cái chết cũng ở
bên ngoài cuộc sống nữa. Do đó chúng ta không thể nói rằng Thượng đế đang sống;
sẽ là ngớ ngẩn mà nói như vậy. Vì ngài không phải là chủ thể cho cái chết, sẽ
là vô nghĩa mà gọi ngài sống. Sống là tương đối với chết; cái này không thể tồn
tại mà không có cái kia. Thượng đế không có cuộc sống; ngài có sự tồn tại -
thay vì cuộc sống, ngài là bản thân sự tồn tại. Tất nhiên, chúng ta những sinh
linh sống đều đang sống, chúng ta có cuộc sống. Khi chúng ta đi ra từ sự tồn
tại, chúng ta có cuộc sống. Và nó là cái chết của chúng ta khi chúng ta trở lại
sự tồn tại một lần nữa.
Chẳng hạn, nó là cuộc sống khi con sóng phát
sinh trong đại dương. Trước khi con sóng phát sinh chỉ có đại dương, không có
sóng. Cuộc sống bắt đầu khi con sóng phát sinh; chính việc tới của con sóng đi
vào hiện hữu, vào cuộc sống. Và khi con sóng biến mất, chính đó là cái chết của
con sóng này. Việc dâng lên của nó là cuộc sống của nó; việc rơi xuống của nó
là cái chết của nó. Nhưng sự tồn tại của biển là không có sóng. Đại dương có đó
cho dù sóng không phát sinh, và nó sẽ có đó khi sóng đã chết. Và kinh nghiệm về
sự tồn tại đó, sự như nhau đó, sự tĩnh lặng đó, là samadhi hay cực lạc.
Cho nên samadhi không phải là việc kinh nghiệm
về cuộc sống; samadhi là việc kinh nghiệm sự tồn tại. Samadhi là mang tính tồn
tại; hơi thở không cần cho nó. Với samadhi hơi thở không có nghĩa. Cả hơi thở
lẫn vô hơi thở đều chẳng có nghĩa gì với samadhi. Nơi mọi thứ đi tới chỗ dừng
đều có samadhi.
Do đó điều cần thiết là khi người tìm kiếm đi
vào các trạng thái sâu của thiền thì phải rất thận trọng và cẩn thận để giữ cho
người đó sống. Nhiều người được yêu cầu giúp cho người đó qua giờ phút gay cấn,
bằng không người đó có thể biến mất, người đó có thể bị mất hút trong cái bao
la được biết là samadhi. Nếu chăm sóc đúng không được thực hiện, người đó có
thể không trở lại từ chỗ tạm trú của mình vào sự tồn tại. Ramakrishna thường
đạt tới trạng thái này. Trong nhiều ngày ông ấy hay ở trong samadhi, được hấp
thu vào sự tồn tại, và việc trở về cuộc sống trở thành khó khăn cho ông ấy.
Ramakrishna là một hiền nhân rất đáng kính
trọng, ông ấy biết rộng và có được sự kính trọng lớn lao. Nhưng chúng ta không
biết điều gì về người đã cứu Ramakrishna cho thế giới. Một trong những người
cháu của ông ấy sống cùng ông ấy; chính anh ta là người luôn luôn cứu ông ấy
khi ông ấy trượt vào trạng thái như vậy. Anh ta thức đêm cùng ông ấy. Bất kì
khi nào Ramakrishna đi vào samadhi, người cháu này của ông ấy làm việc cần mẫn
để giữ cho ông ấy sống; anh ta nuôi ăn bắt buộc cho ông ấy bằng sữa và nước và
các đồ ăn khác. Bất kì khi nào việc thở của ông ấy bị dừng, anh ta xoa bóp cho
ông ấy để phục hồi việc thở. Anh ta đã làm mọi thứ để cứu ông ấy cho thế giới.
Toàn thế giới đi tới biết về Ramakrishna qua
Vivekananda, nhưng không ai biết người đã cứu ông ấy cho thế giới. Anh ta đã
làm việc tận tuỵ, anh ta đã dùng mọi thứ để phục vụ cho Ramakrishna, người có
thể chết bất kì lúc nào. Kinh nghiệm về samadhi phúc lạc vô cùng đến mức việc trở
về từ nó trở thành gần như không thể được. Trong khoảnh khắc đó có mọi khả năng
mất hút không thể thay đổi được.
Có điểm không quay lại, và nó gần với samadhi
thế. Các trường phái và tu viện và đạo tràng đi vào hiện hữu để dành cho chính
ý định này: chỉ để cứu những người tìm kiếm khỏi trượt vào điểm không quay lại.
Các sannyasins đã không xây dựng các trường phái và đạo tràng thì đã không kinh
nghiệm samadhi sâu. Các sannyasins lang thang - được biết như parivrajakas -
người cứ di chuyển từ chỗ này sang chỗ kia, đã bị thất vọng về kinh nghiệm tâm
linh cao nhất này. Để làm như vậy thì một nhóm, một trường phái là cần phải có.
Để đi sâu vào samadhi và, hơn nữa, để cứu
những người tìm kiếm khỏi cái chết, cần nhiều người biết về việc này. Các
parivrajakas, để thoát khỏi sự gắn bó, đã làm ra qui tắc rằng họ sẽ không ở một
chỗ trong một thời gian lâu. Nhưng người trở thành nạn nhân của sự gắn bó qua
một thời gian dài có thể trở thành như vậy ngay cả trong thời gian ngắn. Sự
khác biệt sẽ là ở mức độ - sự gắn bó của người đó sẽ là sự gắn bó nhỏ. Nó có
thể là sự khác biệt giữa sự gắn bó lâu ba tháng và sự gắn bó lâu ba ngày. Sự
khác biệt sẽ là ở mức độ. Trường phái parivrajakas nhất định đánh mất yoga và
Samadhi trong thời gian dài, bởi vì nhóm và công xã là cần để cứu họ.
Đó là một điều để đi vào samadhi - một cá nhân
có thể làm điều đó - nhưng vấn đề đem người đó trở lại là rất khác biệt. Không
có khó khăn cho tới giai đoạn thiền, nhưng khoảnh khắc của samadhi đòi hỏi sự
thận trọng và chăm nom lớn lao. Nó là khoảnh khắc mà sự việc trở thành khẩn
thiết là bảo vệ người tìm kiếm khỏi trượt vào trong vùng không trở lại. Người
đó phải được cứu để cho người đó đem lại cho chúng ta tin tức về cõi bên kia.
Và người đó một mình có thể đem tin tức đó, người đã hé nhìn vào trong nó qua
samadhi, người có thoáng nhìn về nó.
Bất kì điều gì chúng ta biết về nó đều tới
chúng ta từ một nhúm người đã trở về từ cõi bên kia đó. Nhưng với họ chúng ta
hoàn toàn trong bóng tối về nó. Các bạn không thể biết được nó qua suy nghĩ hay
đồn đoán; không có cách nào cho nó cả. Nó chỉ có thể được tiếp xúc trực tiếp và
được kinh nghiệm. Và rất thường là người đã tiếp xúc với cõi bên kia thấy khó
quay trở về từ đó. Người đó có thể bị mất mãi mãi; đó là điểm không quay lại.
Đó là điểm từ đó người ta nhảy vào trong hư không vô tận của không gian, nơi
mọi con đường đều chấm dứt, nơi tất cả mọi cây cầu đều gẫy.
Đó là lúc mà sự chăm sóc lớn lao được cần tới,
khi công việc lớn lao phải được làm. Về sau tôi thường có quan điểm rằng khi
tôi đã chuẩn bị cho các bạn về samadhi, các trường phái hay công xã sẽ rất là
cần thiết. Nhóm, và không phải cá nhân, sẽ là quan trọng cho bạn - nhóm sẽ chăm
nom cho những người sẽ đi vào samadhi; bằng không thì họ sẽ bị mất mãi mãi.
Nhóm, trường phái và công xã sẽ để mắt tới điều đó rằng người tìm kiếm được
giúp đỡ để quay về từ trạng thái đó, và rằng tri thức đó về kinh nghiệm tối cao
này được gìn giữ cho chúng ta. Bằng không thì có mọi nguy hiểm về việc bị mất
của nó.
Người hỏi: trạng thái của việc thở là gì trong
điều chúng ta gọi là sahaj samadhi hay cực lạc tự nhiên?
Nó trở thành rất nhịp điệu, rất hài hoà, nó
trở thành âm nhạc; và có nhiều điều khác cho nó. Người mà hai mươi bốn giờ
trong sahaj samadhi, có tâm trí không vẩn vơ, người tĩnh lặng và yên tĩnh,
người được đặt vào trong sự tồn tại, người là một với nó, việc thở của người đó
lấy nhịp điệu riêng của nó. Và khi người đó không làm việc - không ăn, không
nói không bước đi - thế thì việc thở trở thành phúc lạc quá mức cho người đó.
Thế thì chỉ việc hiện hữu, chỉ việc thở cũng đem lại cho người đó vui sướng và
phúc lạc đến mức không cái gì khác có thể đem lại. Việc thở của người đó là rất
nhịp điệu và hài hoà; nó biến thành âm thanh vô âm, âm thanh của tiếng vỗ tay
của một bàn tay.
Việc nếm trải kinh nghiệm siêu phàm đó có thể
có được qua việc thở theo cách đặc biệt. Đó là lí do tại sao kỉ luật của việc
thở - của các nhà yoga và những người khác - đã được phát triển trong quá khứ.
Chẳng hạn, nếu một người làm việc thở của mình thành nhịp điệu và hài hoà như
việc thở của người trong sahaj samadhi, người đó sẽ biết yên tĩnh và an bình là
gì. Pranayam và các kĩ thuật thở khác đã được phát triển qua việc quan sát cách
thở và tác động của nó trong sự gần gũi với một số người đã vào trong samadhi.
Và chúng là rất có ích.
Việc thở trong trạng thái samadhi được thu về
mức tối thiểu của nó, bởi vì trong samadhi cuộc sống không có ý nghĩa như sự
tồn tại, hay như sự hiện hữu đang đấy. Với người trong samadhi một chiều hướng
hoàn toàn mới đã mở ra, điều thuộc về sự tồn tại và nơi việc thở và những thứ
như nó là không cần thiết. Bây giờ người đó đã vào liên miên trong chiều hướng
đó, người đó tồn tại trong chiều hướng đó. Người đó bây giờ dùng thân thể mình
chỉ khi người đó phải có quan hệ với chúng ta; bằng không người đó không dùng thân
thể mình. Chính chỉ để liên hệ với chúng ta mà người đó ăn, ngủ, tắm, mặc quần
áo và làm các việc khác mà thân thể cần. Đây chỉ là cách thức của người đó để
liên hệ với chúng ta.
Ngoại trừ để liên hệ với chúng ta người đó
không cần thân thể mình và việc thở và phần còn lại của nó. Trong bản thân họ
thân thể và các chức năng của nó không có nghĩa đối với người đó. Và việc thở
của người đó trở thành tối thiểu; người đó thở chỉ đủ để tạo ra sinh lực giữ
cho người đó trong thân thể. Do đó người đó có thể dễ dàng sống ở chỗ với rất
ít ô xi.
Có những đền chùa và hang động cổ gần như
chẳng có cửa và cửa sổ nào; chúng không có cửa thông gió chút nào. Chúng trông
lỗi thời thế đối với thời hiện đại này, chúng hoàn toàn phản vệ sinh, khoa học
về sức khoẻ. Tất cả những đền chùa và hang động cổ đại này vẫn còn tồn tại, đều
không có lối vào xứng với cái tên.
Có những hang động không bố trí thông gió;
người ta tự hỏi làm sao luồng khí có thể đi vào chúng được. Điều này là vậy bởi
vì những người sống trong chúng đã không cần nhiều không khí. Trong thực tế, họ
đã không muốn nhiều không khí đi vào nơi tôn nghiêm của họ, bởi vì rung động
của thế giới bên ngoài do khí đem tới có thể phá huỷ các rung động tinh tú của
hang, điều cần được bảo vệ và gìn giữ. Chính với quan điểm để bảo vệ và gìn giữ
kho năng lượng tinh tú mà các đền chùa và hang động của thời xưa đã không có gì
như hệ thống thông gió cả.
Điều này là không thể được cho ngày nay. Để
làm cho nó thành có thể, sẽ cần xây dựng một loạt dài kỉ luật về thở. Để làm
cho điều đó thành có thể chúng ta sẽ cần đàn ông và đàn bà đã đạt tới samadhi.
Người hỏi: làm sao kĩ thuật phật giáo về
anapanasati - quan sát thường xuyên hơi thở của người ta - ảnh hưởng tới trạng
thái của ô xi trong thân thể chúng ta?
Anapanasati có tác động lớn tới ô xi thân thể
chúng ta. Đây là câu hỏi hay cần được hiểu đúng. Mọi hoạt động của cuộc sống,
mọi chức năng của thân thể chúng ta đều được làm nhanh lên khi chúng ta chú ý
tới nó. Phần lớn các chức năng thân thể là tự trị; bạn không phải chú ý tới chúng,
nhưng khi bạn chú ý thì chúng bị ảnh hưởng.
Chẳng hạn, khi bác sĩ đặt ngón tay lên mạch
của bạn, xung mạch của bạn đập không còn như cũ, nó lập tức nhanh hơn một chút;
nó nhiều hơn là nó đã vậy trước đây. Nó là vậy bởi vì nó đã nhận được sự chú ý,
sự chú ý của hai người - của bác sĩ và của bạn. Và nó sẽ nhanh chóng thêm nhiều
nếu bác sĩ ngẫu nhiên là người khác giới, vì bây giờ nó sẽ nhận được nhiều chú
ý hơn. Bạn có thể thử điều đó như thế này: tự kiểm tra mạch đập của bạn trước,
và rồi quan sát trong mười phút nó đập thế nào và rồi kiểm tra nó lần nữa. Bạn
sẽ thấy rằng mạch của bạn đã thay đổi, nó đã nhanh lên. Chú ý có tác dụng như
tác nhân xúc tác để làm nhanh mạch đập của bạn, hay cũng vấn đề đó với bất kì
chức năng nào của thân thể.
Kĩ thuật anapanasati cực kì có giá trị. Nó là
cách quan sát việc thở riêng của bạn. Bạn không phải làm gì về nó cả; bạn không
phải can thiệp vào việc thở của mình hay thở theo bất kì cách đặc biệt nào. Bạn
chỉ phải quan sát nó như nó đang đấy. Nhưng điều cũng đúng là ngay khi bạn bắt
đầu quan sát nó, thì việc thở của bạn trở thành nhanh hơn chút ít. Điều đó là
không tránh khỏi. Với quan sát của bạn, cách bạn thở sẽ thay đổi, và nó sẽ
nhanh hơn trước đây. Việc thay đổi này và bản thân việc quan sát chỉ ra kết
quả.
Nhưng mục tiêu chính của anapanasati không
phải là đem bất kì thay đổi nào vào hình mẫu thở của bạn; mục tiêu chính là chỉ
quan sát hơi thở của bạn như nó vậy. Bởi vì khi bạn quan sát việc thở của mình,
và quan sát nó thường xuyên, dần dần bạn bắt đầu tách bản thân mình ra khỏi nó;
xuất hiện một lỗ hổng giữa bạn và việc thở của bạn. Bởi vì khi ai đó quan sát
cái gì đó, lập tức người quan sát trở thành tách rời với cái được quan sát.
Trong thực tế, người quan sát không thể là một
với cái được quan sát. Khoảnh khắc bạn biến cái gì đó thành cái được quan sát,
bạn tự tách mình khỏi đối tượng quan sát của mình - bạn trở thành khác với nó.
Vì bạn đã làm hơi thở của mình thành cái được quan sát, và bạn đã quan sát cách
nó làm việc, nên bạn trở thành xa khỏi nó trong chính quá trình quan sát này.
Và thế rồi một ngày nào đó bạn sẽ thấy rằng trong khi việc thở diễn ra bạn ở
khoảng cách xa đáng kể với nó.
Anapanasati yoga đem tới sự tách biệt của bạn
với thân thể; bạn thực sự kinh nghiệm nó.
Bạn có thể thử anapanasati theo nhiều cách.
Nếu bạn quan sát cách bạn bước - nếu bạn chỉ quan sát cách chân phải giơ lên và
chuyển động, và thế rồi chân trái giơ lên và chuyển động - nếu bạn chỉ quan sát
chuyển động của chân mình, bạn sẽ thấy trong thời gian hai tuần rằng bạn hoàn
toàn tách khỏi chân mình. Bạn sẽ thấy rõ ràng chân mình là cái được quan sát và
bạn vẫn còn là người quan sát. Chân riêng của bạn sẽ dường như vận hành một
cách máy móc. Một người như vậy có thể nói rằng khi bước người đó không bước,
khi nói người đó không nói, khi ăn người đó không ăn, khi ngủ người đó không
ngủ. Và người đó là phải.
Nhưng rất khó để hiểu một người như vậy, người
đã trở thành người quan sát trên núi. Nếu người đó là nhân chứng cho việc bước
của mình, nếu người đó thực sự không bước trong khi bước, thì duy nhất người đó
thực sự thấy điều đó như vậy; sẽ khó cho người khác ngay cả để hiểu điều đó.
Nếu người đó là nhân chứng cho việc nói của mình, người đó sẽ không nói trong
khi nói, người đó sẽ vẫn còn là nhân chứng một mình.
Anapanasati là kĩ thuật có ý nghĩa; nó làm cho
bạn thành nhân chứng, linh hồn chứng kiến, nhưng nó khác với kundalini.
Người hỏi: có thể rằng qua việc thở sâu và
mạnh mẽ một lượng ô xi quá mức đi vào phổi của người tìm kiếm gây hại lớn cho
người đó. Thầy nói gì?
Thực tế, không người nào dùng phổi mình đầy đủ
trong khi thở. Đại thể có sáu nghìn bao khí trong phổi người ta, trong số đó
khó có được nghìn rưởi hay hai nghìn bao đầy ô xi nếu người đó ngẫu nhiên rất
mạnh khoẻ và người đó thở bình thường. Phần các túi khí còn đầy các bô nic, vốn
là cái tên khác cho rác bẩn. Do đó khó mà tìm ra một người lấy nhiều ô xi hơn
mức cần thiết. Người lấy được khối lượng ô xi cần thiết cũng là hiếm. Phần lớn
phổi chúng ta vẫn còn không được sử dụng tới.
Thực sự là điều lớn lao nếu bạn có thể rót đầy
toàn thể phổi của mình bằng ô xi; điều đó sẽ dẫn tới sự mở rộng lớn lao tâm
thức bạn. Cuộc sống bạn mở rộng thế nào có thể biết được từ khối lượng ô xi bạn
mang trong phổi mình. Càng nhiều ô xi, càng nhiều cuộc sống. Và nếu bạn có thể
rót đầy toàn bộ phổi mình bằng ô xi, bạn sẽ ở cực đỉnh của cuộc sống.
Chính ô xi tạo ra sự khác biệt giữa người mạnh
khoẻ và người ốm yếu. Người ốm yếu là người lấy vào rất ít ô xi qua việc thở.
Đó là lí do tại sao một số người ốm phải được cấp cho ô xi qua phương tiện nhân
tạo. Họ sẽ chết nếu họ bị bỏ lại với chính họ. Mạnh khoẻ và ốm yếu có thể được
đo bằng việc lấy vào ô xi. Đó là cách việc chạy làm cho bạn mạnh khoẻ, bởi vì
việc chạy đem tới cho bạn nhiều ô xi. Mọi bài tập thể chất đều có ích bởi chính
lí do này. Bất kì hoạt động nào thêm cho kho ô xi của bạn đều có ích cho mạnh
khoẻ của bạn. Và điều làm cạn kiệt nguồn dự trữ ô xi của bạn là làm hại tới sự
mạnh khoẻ của bạn; nó sẽ gây ra ốm bệnh.
Nhưng sự kiện còn lại là bạn chưa bao giờ thở
tới đầy khả năng phổi của bạn; bạn chưa bao giờ lấy vào nhiều ô xi như bạn có
thể lấy vào. Cho nên vấn đề lấy nhiều hơn điều cần thiết đơn giản không nảy
sinh. Bạn không thể lấy nhiều hơn cái mà phổi có thể chứa; bạn không thể lấy
nhiều hơn việc làm đầy của nó. Đó là việc khó làm thế.
Người hỏi: cùng với ô xi chúng ta lấy vào các
khí khác như ni tơ và hidro với việc thở của mình. Tất cả những khí này có ích
cho thiền không?
Những khí này tuyệt đối có ích cho thiền. Bất
kì cái gì có đó trong không khí - không chỉ là ô xi mà nhiều thứ khác - đều có
ích cho cuộc sống. Chính bởi vì chúng mà các bạn sống. Không có cuộc sống trên
một hành tinh hay hành tinh vệ tinh nơi những khí này không sẵn có theo đúng tỉ
lệ. Chính chúng làm cho cuộc sống thành có thể. Do đó bạn không cần lo nghĩ về
điểm này.
Và bạn thở càng mãnh liệt và mạnh mẽ, thì bạn
sẽ càng được lợi. Trong trạng thái thở sâu và nhanh chỉ ô xi mới có thể đi vào
hệ thống của bạn với số lượng tối đa; mọi thứ khác sẽ bị bỏ ra. Và ngay cả
những khí khác này cũng là chất có ích của cuộc sống; chúng không có hại.
Người hỏi: làm sao thân thể bắt đầu cảm thấy
nhẹ sau khi thở sâu và nhanh?
Đúng là thân thể sẽ cảm thấy nhẹ sau việc
thiền này. Nó sẽ là như vậy bởi vì ý thức của chúng ta về thân thể là ý thức về
sự nặng. Điều chúng ta gọi là sự nặng thì không là gì nhiều hơn nhận biết của
chúng ta về thân thể. Thân thể vẫn nặng với người ốm cho dù người đó chỉ có da
và mạch. Nhưng người mạnh khoẻ, cho dù người ấy cân nặng, vẫn mang thân thể
mình rất nhẹ nhàng. Cho nên thực sự là thân-tâm của chúng ta là cái cảm thấy
như đè nặng lên chúng ta.
Và chúng ta trở nên ý thức tới thân thể mình
chỉ khi nó đau, khi nó ốm. Chúng ta trở nên có ý thức về chân mình khi chúng
đau. Chúng ta trở nên nhận biết về đầu mình khi nó đau. Nếu không có cái đau
thân thể, chúng ta sẽ chẳng bao giờ nhận biết về thân thể mình. Ý thức này là
cách đo đau khổ của chúng ta.
Chúng ta định nghĩa người mạnh khoẻ là người
cảm thấy dường như mình vô thân thể. Người không cảm thấy rằng mình là thân
thể, người có cảm giác vô thân thể, thực sự là người mạnh khoẻ. Và nếu người đó
bị đồng nhất với một phần đặc biệt của thân thể mình thì có thể nói rằng phần
này của thân thể người đó bị ốm.
Khi khối lượng ô xi tăng lên và khi kundalini
thức dậy, bạn sẽ bắt đầu có những kinh nghiệm không phải là thân thể; chúng
thuộc về linh hồn hay atman. Và theo số lượng các kinh nghiệm tinh tế này bạn
sẽ đồng thời cảm thấy nhẹ nhõm, một loại phi trọng lượng phi thường. Nhiều
người sẽ cảm thấy dường như họ đang bay. Không phải là họ thực sự bay - biến cố
bay thực xảy ra chỉ một lần trong khoảng thời gian dài. Nhưng bởi vì cảm giác
vô trọng lượng, nên bạn cảm thấy rằng mình đang bay. Nếu bạn mở mắt và nhìn,
bạn sẽ thấy rằng bạn đang ngồi trên đất. Nhưng sao có cảm giác bay bổng này?
Sự kiện là ở chỗ tâm trí chúng ta, ở chiều sâu
bên trong nhất của nó, không biết tới ngôn ngữ nào như chúng ta biết. Nó chỉ
biết ngôn ngữ hình ảnh, tượng trưng. Cho nên khi bạn kinh nghiệm vô trọng
lượng, vô trọng lượng hoàn toàn, thì tâm trí bạn diễn đạt nó theo ngôn ngữ của
hình ảnh. Nó không nói ra lời rằng đó là vô trọng lượng, nó vẽ hình ảnh điều đó
như hành động bay, nó cảm thấy việc bay.
Tâm trí sâu của chúng ta, tâm trí vô thức của
chúng ta không nghĩ theo lời, nó nghĩ theo hình ảnh, theo biểu tượng. Đó là lí
do tại sao các giấc mơ của chúng ta trong đêm chỉ có hình ảnh và hầu như không
có lời nào. Tâm trí mơ phải biến đổi mọi thứ - kể cả kinh nghiệm và ý nghĩ -
thành hình ảnh. Bởi lí do này khi chúng ta thức dậy vào buổi sáng chúng ta thấy
khó hiểu giấc mơ riêng của mình. Ngôn ngữ chúng ta biết và dùng trong giờ thức
là hoàn toàn khác với ngôn ngữ hình ảnh của giấc mơ. Hai ngôn ngữ này hoàn toàn
xa lạ với nhau, và do đó những nhà diễn giải lớn kiểu như bác học, nhà tâm lí
và nhà phân tâm được cần tới để diễn giải chúng cho chúng ta. Chúng ta
chẳng thể làm được gì với chúng.
Bây giờ ai đó đang tham vọng. Làm sao người đó
diễn đạt tham vọng của mình khi người đó mơ? Người đó sẽ biến thành con chim
tung cánh trên trời cao. Thế rồi người đó sẽ ở trên đỉnh của mọi thứ, bỏ toàn
thế giới lại sau mình. Tham vọng trong mơ lấy hình dạng của chuyến bay - người
ta mơ rằng người ta đang bay và bay. Tất cả những người tham vọng đều có giấc
mơ về việc bay. Nhưng từ tham vọng sẽ không bao giờ tìm được chỗ trong giấc mơ.
Cho nên sau khi tỉnh dậy vào buổi sáng người này tự hỏi tại sao mình đã bay
trong giấc mơ của mình.
Chính tham vọng của người đó đã biến thành con
chim bay trong mơ.
Cùng cách này khi chúng ta đi vào chiều sâu
của thiền, việc vô trọng lượng được cảm thấy như bay. Vô trọng lượng thực sự có
thể được làm thành hình ảnh chỉ như việc bay, không có cách khác.
Và thỉnh thoảng thân thể thực tế bay trong
trạng thái cực kì vô trọng lượng.
Người hỏi: nó tạo ra nhiều nhiệt nữa.
Điều đó nữa cũng là có thể. Nó là có thể bởi
vì toàn thể bộ máy bên trong của bạn trải qua thay đổi. Tất cả mọi mối nối của
bạn với thân thể bắt đầu bị chùng ra, và những mối nối mới bắt đầu hình thành
vào chỗ của chúng. Những cây cầu cũ bị gẫy và cây cầu mới được lập ra. Những
cánh cửa cũ đóng lại và những cánh cửa mới mở ra. Cho nên toàn thể ngôi nhà đều
bị thay đổi. Đó là lí do tại sao bạn cho rằng nhiều điều bên trong bạn đang vỡ
ra, và thế rồi bạn cảm thấy hoảng sợ. Điều đó là tự nhiên, bởi vì toàn thể hệ
thống trải qua trạng thái xáo trộn và mất trật tự. Nó xảy ra vào lúc chuyển
đổi.
Người hỏi: nhiều lúc trong thiền dường như là
cái gì đó bên trong đã nổ ra, và kinh nghiệm này thật đáng sợ.
Điều đó là có thể, điều đó tuyệt đối là có
thể.
Người hỏi: người ta phải không được hoảng sợ
chứ?
Sợ hãi là không cần thiết, mặc dầu điều tự
nhiên là bạn cảm thấy sợ.
Khi một trật tự mới nảy sinh ra từ sự hỗn loạn
này, nó sẽ hoàn toàn khác với trật tự cũ, nó sẽ là duy nhất vô song. Thế thì
bạn sẽ quên rằng cái gì đó như trật tự cũ đã từng tồn tại. Và ngay cả khi bạn
nhớ tới nó bạn sẽ tự hỏi làm sao trên trái đất này bạn có thể chịu đựng được
nó.
Và điều này là có thể.
Người hỏi: Có cần làm nỗ lực để thở sâu và hỏi
"Tôi là ai?" không ngay cả sau khi shaktipat hay việc truyền năng
lượng đã xảy ra, hay chúng sẽ xảy ra một cách tự nhiên và theo cách riêng của
chúng?
Khi việc thở và hỏi trở thành tự nhiên, câu
hỏi này không nảy sinh. Thế thì bản thân câu hỏi này sẽ dường như là phi tự
nhiên. Vấn đề chấm dứt với mọi thứ mang tính tự nhiên. Nhưng nhiều lần, nhiều
thứ trước khi nó xảy ra, tâm trí sẽ thuyết phục bạn tin rằng nó đã xảy ra và
rằng bây giờ chẳng ích gì mà tiếp tục nỗ lực này. Chừng nào mà tâm trí còn tiếp
tục thuyết phục bạn, bạn không nên thảnh thơi, bạn không nên từ bỏ nỗ lực này.
Cho tới lúc đó bạn vẫn phải tiếp tục với việc hỏi, "Tôi là ai?" bởi
vì tâm trí vẫn có đó, nó vẫn sống sót. Chính tâm trí đang biện luận với bạn và
cố gắng thuyết phục bạn.
Tuy nhiên một ngày sẽ tới khi bạn sẽ thấy rằng
không cần phải làm gì nữa. Thế thì bạn sẽ không có khả năng làm việc gì cho dù
bạn muốn làm, bởi vì bạn có thể hỏi "Tôi là ai?" lâu chừng nào bạn
còn chưa biết mình là ai. Cái ngày bạn đi tới biết mình là ai, câu hỏi này sẽ
không nảy sinh nữa. Thế thì sẽ rất ngớ ngẩn mà đi hỏi nó, bởi vì bạn biết.
Chừng nào tôi còn chưa biết cửa ở đâu, tôi sẽ
đưa ra vài câu hỏi nồng nhiệt về nó, nhưng một khi tôi đi tới biết, câu hỏi này
sẽ tự nó loại bỏ đi. Thế thì tôi sẽ không hỏi liệu tôi có nên hỏi câu hỏi này
hay không. Nó là không cần thiết, nó là vô nghĩa. Chúng ta hỏi chừng nào chúng
ta không biết một điều; ngay khi chúng ta biết nó, vấn đề chấm dứt. Ngay khi
bạn nhận ra mình là ai, thế giới các câu hỏi đi đến chấm dứt. Và khi bạn đã lấy
bước nhảy vào cõi bên kia, thế thì chẳng cái gì còn lại để được làm nữa. Thế
thì bất kì cái gì bạn làm, nó đều là thiền. Bạn bước đi và đó là thiền. Bạn
ngồi và đó là thiền. Thế thì im lặng của bạn là thiền, và việc nói của bạn cũng
là thiền. Cho dù bạn đánh nhau, đó cũng là thiền. Điều bạn làm không khác biệt.
Người hỏi: dưới tác động của shaktipat hay
việc truyền năng lượng, thở sâu xảy ra theo cách riêng của nó. Nhưng nhiều lúc
thân thể thảnh thơi và việc thở chậm lại. Người ta có nên tiếp tục nỗ lực trong
những khoảnh như vậy không?
Cũng là tốt nếu bạn làm như vậy. Vấn đề không
phải là liệu việc thở có tiếp tục hay làm chậm lại. Không thành vấn
đề gì mấy nếu việc thở đi tới điểm dừng lại. Câu hỏi là liệu bạn đã đưa đủ nỗ
lực vào hay không. Điều có ý nghĩa là nỗ lực của bạn, không phải là kết quả của
nỗ lực của bạn. Vấn đề là ở chỗ bạn phải làm hết sức mình, ở chỗ bạn phải đánh
cược tất cả mọi thứ của mình.
Tâm trí rất tinh ranh trong việc tìm ra lối
thoát. Nó làm mọi thứ để tự bảo vệ mình. Nó nói, "Bởi vì chẳng cái gì xảy
ra cả, nên đây là lúc mình từ bỏ nỗ lực." Tâm trí rất điêu luyện đến mức
trong cả ngày nó có thể gợi ý hàng trăm cách trốn chạy và hàng trăm cớ và cách
hợp lí hoá. Nó có thể đi tới cả tràng dài kể cho bạn rằng bạn sẽ chết ngạt, bạn
sẽ chết nếu bạn theo đuổi nỗ lực của mình thêm nữa.
Chớ nghe lời tâm trí. Bảo tâm trí của bạn,
"Chết ngạt và chết đi chính là phúc lạc đấy." Đó là vấn đề khác nếu
việc thở dừng lại theo cách riêng của nó, nhưng về phần mình bạn phải tiếp tục
phấn đấu. Bạn không nên giữ lại cái gì từ phía mình. Đừng giữ lại cho dù một
chút ít, bởi vì đôi khi ngay cả cái chút ít đó cũng có thể mang tính quyết định
và định mệnh.
Chẳng ai biết cái gì sẽ là cọng rơm cuối cùng
thêm vào trên lưng con lạc đà. Chính cọng rơm cuối cùng đó làm cho con lạc đà
quị xuống. Cứ giả dụ rằng bạn đã đặt một tải trọng lớn lên lưng lạc đà, nhưng
thế vẫn chưa đủ để làm cho nó quị xuống. Có thể cọng rơm cuối cùng vẫn còn
thiếu, cái sẽ quyết định vấn đề, bởi vì đó bao giờ cũng là cọng rơm cuối cùng
sẽ quyết định. Không phải là cọng rơm đầu tiên, mà cọng rơm cuối cùng mới chứng
tỏ là định mệnh. Có thể bạn đã chất nặng lên con lạc đà bằng 99.99 pao cỏ khô,
và điều đó vẫn không làm cho con lạc đà quị xuống. Nó vẫn đợi cọng cỏ cuối cùng
- .001 pao.
Cố gắng hiểu điều đó theo cách này. Bạn đang
cố gắng phá cái khoá móc bằng chiếc búa. Bạn đã nện chín mươi chín nhát búa và
chiếc khoá vẫn chưa chịu vỡ ra. Và bây giờ, bị mệt rồi, bạn đánh cú thứ một
trăm rất nhẹ. Nhưng khoá vỡ ra với cú đánh nhẹ này. Cho nên đôi khi những điều
rất nhỏ chứng tỏ là nhân tố quyết định; đôi khi chỉ một cọng rơm cũng trở thành
quyết định. Để cho mọi người đừng nói là bạn đã làm mọi thứ, ấy vậy mà chệch
mục tiêu mỗi một li. Dù bạn có bị chệch một li hay một dặm, nó vẫn là như nhau.
Nếu bạn bỏ lỡ nó, bạn bỏ lỡ nó toàn bộ.
Điều như vậy đã xảy ra chỉ mới gần đây. Một
người bạn đã thiền như tất cả các bạn đây, trong ba ngày ở trại tại Amritsar.
Anh ta là người có giáo dục, một bác sĩ. Anh ta đã thiền và thiền, mà chẳng cái
gì xảy ra cả. Và thế rồi ngày cuối cùng tới. Tôi không biết gì về điều anh ta
đã làm hay không làm. Trong thực tế, tôi chẳng biết gì về anh ta cả. Vào ngày
cuối cùng, trong khi giải thích về kĩ thuật, tôi nói rằng nước biến thành hơi
chỉ khi nó đạt tới nhiệt độ một trăm độ. Nếu người ta dừng đun sôi tại chín
mươi chín độ thì người đó đừng phàn nàn rằng chỉ vì muốn thêm một độ mà nước từ
chối biến thành hơi. Cho dù bạn có cho nó lên 99.9 độ, nó vẫn cứ tiếp tục là
nước. Cho dù một mẩu tí xíu nhiệt bị thiếu nó vẫn từ chối thay đổi. Chỉ khi nó
vượt qua vạch một trăm độ nó mới biến thành hơi. Và không có cách khác. Qui tắc
là qui tắc.
Anh ta tới tôi vào buổi tối hôm đó. Và anh ta
nói rằng điều tôi đã nói trong hoàn cảnh của nước biến thành hơi có tác dụng
lắm với anh ta. Trước đây anh ta đã coi rằng nếu nỗ lực của anh ta còn yếu, cái
lợi anh ta thu được từ thiền cũng yếu thế, nhưng dẫu sao thì vẫn có lợi. Khi
anh ta nghe tôi, anh ta nghĩ rằng anh ta đã lầm. Để nước biến thành hơi, việc
đạt đúng một trăm độ là điều phải có. Không phải là một lượng nhiệt độ nhỏ sẽ
làm nước biến thành hơi theo cách nhỏ. Nước sẽ không thay đổi chút nào trước
khi nhiệt của nó đạt tới một trăm độ; nó phải đi qua toàn bộ con đường. Và do
vậy sáng hôm nay anh ta đã đem tất cả nỗ lực của mình vào thiền, và anh ta ngạc
nhiên thấy rằng cái gì đó đã xảy ra. Điều anh ta đã làm trong ba ngày trước là
vô ích. Anh ta đã chẳng thu được gì ngoài mệt mỏi vào lúc cuối. Hôm nay anh ta
không mệt chút nào, và điều đáng chú ý nhất là ở chỗ anh thực sự đã làm được
nó.
Do đó bao giờ cũng là cọng rơm cuối cùng tạo
ra sự khác biệt giữa những người làm nó và những người không làm nó.
Có một điều nữa cần phải ghi nhớ trong đầu.
Trong khi thiền, quan sát người ở phía bạn đang làm hết sức, bạn cho rằng ngay
cả người đó cũng chẳng làm ra tiến bộ nào, nói gì tới một mình bạn. Bạn sai khi
nghĩ như vậy. Có khác biệt giữa một trăm độ và một trăm độ. Một trăm độ của bạn
không hệt như một trăm độ của người khác. Có thể người khác có nhiều năng lượng
dự trữ hơn bạn có, và người đó không dùng hết tất cả nó, mặc dầu người đó làm
tốt hơn bạn. Điều đó giống thế này: Một người có năm trăm ru pi trong túi, và
từ số đó người đó đặt cược ba trăm ru pi vào đám đánh cá. Còn bạn chỉ có năm ru
pi trong túi và từ đó bạn lấy ra bốn đồng đánh cá. Tại đây bạn đánh cược nhiều
hơn người đó; bạn vượt trội hơn người đó.
Vấn đề không phải là bạn hay người khác đã chi
ra bao nhiêu tiền, vấn đề là tỉ số giữa cái bạn có và cái bạn đưa vào đánh bạc.
Tỉ số đó mới là vấn đề. Bạn sẽ thắng nếu bạn đánh cá tất cả năm đồng ru pi của
mình. Còn người kia sẽ thua cho dù người đó đánh cá bốn trăm chín mươi chín
đồng ru pi. Để thắng người đó sẽ phải đặt cược tất cả năm trăm đồng của mình.
Điều mang tính quan trọng tối thượng là ở chỗ
bạn sẽ đánh cược toàn bộ bản thân mình, ở chỗ bạn sẽ không để lại cho dù một li
năng lượng và nỗ lực. Đừng bao giờ cho rằng bạn đã làm đủ cho hiện tại, và rằng
bạn sẽ cố gắng lần sau. Khoảnh khắc bạn nghĩ vậy, bạn sẽ bắt đầu thoái lui, lùi
lại sau.
Và điều thường xảy ra là những ý nghĩ như vậy
bắt đầu tấn công bạn ngay khi giờ quyết định tới, nơi bạn sắp làm được nó.
Chính tại điểm giao thời này mà tâm trí bạn bắt đầu hoảng sợ rằng bạn sẽ biến
mất vào cái không. Đó là khoảnh khắc của nguy hiểm nhất cho bạn như bản ngã, và
đó cũng là khoảnh khắc mang hậu quả lớn nhất, mang tính hoàn thành lớn nhất cho
bạn như linh hồn. Và chính trong khoảnh khắc này tâm trí bạn sẽ yêu cầu bạn từ
bỏ, với lời bào chữa rằng bạn đã làm đủ rồi, nước đã được đun nóng quá nhiều
rồi, bất kì khoảnh khắc nào nó cũng có thể biến thành hơi.
Khi tâm trí bạn cảm thấy nguy hiểm sắp xảy đến
và hoảng sợ, biết rằng đó là khoảnh khắc quyết định và quí giá nhất của thiền -
khoảnh khắc của hoàn thành. Chừng nào mà không có nguy hiểm, tâm trí sẽ yêu cầu
bạn tiến hành, nhưng ngay khi bạn tới gần nguy hiểm - chính là điểm sôi - tâm
trí bạn sẽ yêu cầu bạn dừng lại ngay lập tức. Tâm trí sẽ nói bạn đã làm hết mức
mình rồi, bây giờ không còn năng lượng để tiến hành thêm nữa.
Nhận biết về tâm trí mình khi khoảnh khắc
quyết định này tới. Nó đích xác là khoảnh khắc khi bạn đã mang tất cả năng
lượng của mình vào hành động. Nếu bạn bỏ lỡ khoảnh khắc đó bạn có thể bỏ lỡ
trong nhiều năm. Đôi khi phải mất nhiều năm để đạt tới nhiệt độ chín mươi chín
độ. Và đôi khi bạn bỏ lỡ nó gần lúc bạn đã chạm tới vạch một trăm độ. Và bạn bỏ
lỡ nó vì những điều rất vụn vặt.
Cho nên đừng giữ lại mình; bằng không bạn sẽ
lỡ.
Người hỏi: điều gì xảy ra nếu mạch máu bị hỏng
bởi bị quá căng mạch?
Thì cứ để cho chúng bị hỏng đi. Bạn sẽ làm gì
bằng việc cứu chúng? Hôm nay hay ngày mai chúng sẽ bị phá huỷ. Và bạn định làm
gì sau khi cứu chúng?
Người hỏi: sau rốt, chúng tôi không muốn chết trong trạng thái dốt nát.
Người hỏi: sau rốt, chúng tôi không muốn chết trong trạng thái dốt nát.
Nếu bạn lo nghĩ về mạch máu của mình, biết
chắc rằng bạn sắp chết trong trạng thái dốt nát. Bạn sẽ làm gì sau khi bạn đã
cứu mạch máu của mình? Khó khăn của chúng ta là ở chỗ chúng ta bao giờ cũng lo
nghĩ về những điều không quan trọng cho chúng ta.
Người hỏi: trong thực tế, chúng ta chỉ có chút
ít; làm sao chúng ta có thể đảm đương được việc mất nó?
Tôi tự hỏi liệu bạn có ngay cả cái chút ít
đáng cứu ấy không. Nếu bạn thực sự có, bạn sẽ không sợ bị mất nó. Bạn thậm chí
không có ngần ấy. Bạn giống như người trần trụi mà sợ mất quần áo của mình. Nỗi
sợ này cho người trần trụi sự thoả mãn giả tạo rằng mình sở hữu cái gì đó.
Người đó nhận được sự hài lòng từ ảo tưởng rằng mình có quần áo, người đó không
bị trần trụi. Nếu người đó có quần áo thực, người đó đã không sợ mất chúng. Sau
rốt chúng chỉ là quần áo thôi; cái gì xảy ra nếu chúng bị mất? Gạt bỏ nỗi sợ
như vậy đi.
Tôi không ngụ ý nói rằng mạch máu các bạn sẽ
thực tế không bị hỏng. Và nếu chúng sẽ bị hỏng thì nó sẽ là vậy bởi vì nỗi sợ
của chúng ta chứ không phải bởi vì thiền. Nỗi sợ chắc chắn sẽ phá huỷ chúng;
chính thực nỗi sợ làm hỏng mạch máu bạn và nhiều thứ khác. Nhưng chúng ta không
sợ theo lí do đó; chúng ta không sợ nỗi sợ của mình.
Nếu bạn sợ, nếu bạn lo âu, nếu bạn căng thẳng,
mạch máu của bạn cùng với nhiều thứ khác sẽ bị hỏng bởi chính lí do này. Nhưng
chúng ta không sợ bởi điều đó. Chúng ta sợ thiền, điều không làm hỏng cái gì
cả. Ngược lại, nó sẽ sửa lại mọi hư hỏng đã xảy ra cho bạn.
Nhưng chúng ta níu bám lấy nỗi sợ của mình, và
chúng ta trú ẩn vào trong chúng. Và chúng ta cứ nói: Điều gì xảy ra nếu cái này
hay cái nọ xảy ra? Cho nên chúng ta làm mọi thứ để chạy trốn khỏi thiền. Nếu nó
là vậy, tôi sẽ nói: Sao ra đi tất cả thế? Nỗi sợ này, sự ngần ngại này, sự xung
khắc này là nguy hiểm. Thế thì đừng lại gần nó, kết thúc nó đi cho rồi.
Nhưng chúng ta vừa yêu vừa ghét; chúng ta muốn
làm cả hai. Chúng ta muốn thiền và đồng thời chúng ta muốn chạy trốn khỏi nó.
Và thế thì xung khắc này thực sự phá huỷ chúng ta. Thế thì chúng ta là trong
đống lộn xộn không cần thiết. Hàng nghìn người trong đống lộn xộn không cần
thiết; họ muốn tìm thấy Thượng đế và đồng thời họ sợ để cho ngài đương đầu với
họ bất kì ngày nào. Tâm trí kép này, tâm trí chia chẻ này mới là vấn đề. Tất cả
mọi khó khăn của chúng ta đều ở chỗ một phần tâm trí chúng ta muốn làm một việc
và phần khác không muốn làm nó. Hoài nghi và xung đột đã trở thành chính hơi
thở của chúng ta. Chẳng bao giờ xảy ra rằng điều chúng ta muốn làm, chúng ta
muốn một cách tuyệt đối. Cái ngày nó sẽ là như vậy, không cái gì sẽ tới trên
con đường của bạn. Ngày đó cuộc sống của bạn sẽ thu được tính năng động mà bạn
chưa bao giờ biết.
Nhưng chúng ta đều trong tình trạng kì cục;
chúng ta tiến lên một bước rồi lập tức lùi lại bước khác. Chúng ta đặt một viên
gạch vào đúng chỗ của nó để xây ngôi nhà và khoảnh khắc tiếp chúng ta bỏ nó đi.
Do vậy chúng ta có cả hai - niềm vui của việc xây nhà và nỗi buồn của việc
không làm xong nó. Suốt cả ngày chúng ta xây nên bức tường và khi đêm tới chúng
ta kéo đổ nó xuống bằng chính đôi tay mình. Và thế rồi chúng ta than vãn làm
sao xây nhà khó thế.
Chúng ta nên cố gắng hiểu cấu trúc mù quáng
kép này của tâm trí mình. Và cách duy nhất các bạn có thể hiểu được nó là thế
này: được chuẩn bị cho điều các bạn nghĩ là xấu nhất. Điều xấu nhất tưởng tượng
này là ở chỗ các mạch máu của bạn sẽ bị hỏng. Thì cứ để cho chúng hỏng đi. Các
bạn sẽ làm gì nếu bạn cứu vãn chúng, chẳng hạn, trong ba mươi hay bốn mươi năm?
Các bạn sẽ là thư kí trong văn phòng nào đó trong ba mươi năm này. Các bạn sẽ
ăn, ngủ và sinh sản ra con cái. Những đứa con này, đến lượt chúng, sẽ trưởng
thành và trở thành chồng và vợ, thế này thế nọ, như bạn thôi. Và khi bạn chết,
bạn sẽ bỏ lại chúng đằng sau để lo lắng về mạch máu của chúng bị hỏng. Bạn còn
làm gì khác được nào?
Nếu chúng ta biết rằng cuộc sống mà chúng ta
đang cố gắng cứu vãn chẳng có gì trong nó đáng để cứu vãn, chỉ thế thì chúng ta
mới dám đặt cược tất cả mọi thứ của mình; bằng không thì đó là điều không thể
được. Chúng ta phải rất rõ ràng trong đầu mình rằng điều chúng ta cố gắng hăng
hái thế để cứu vớt chẳng đáng giá công sức. Chúng ta cũng biết rằng chẳng cái
gì được cứu vớt mặc cho tất cả mọi điều chúng ta làm để cứu vớt nó. Và nếu
chúng ta hiểu điều đó một cách rõ ràng, thế thì không có vấn đề về bất kì điều
gì, ngay cả việc mạch máu bị hỏng.
Mạch máu sẽ không thực sự bị hỏng. Điều đó
chưa bao giờ xảy ra trong quá khứ cả. Đó sẽ là sự kiện phi thường nếu bạn làm
cho nó xảy ra. Các bạn sẽ lập kỉ lục mới đó.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment