Osho - Thiền động (Đi tìm điều huyền bí - Tập
2)
Chương 6. Shaktipat: Bí ẩn của điện thân thể
Trong hoàn cảnh của thể thứ bẩy, Thầy đã nói về aum hôm qua. Vẫn còn có một câu hỏi nhỏ về cùng chủ đề này. Luân xa nào tạo ra ảnh hưởng a, u, và m và làm sao điều này lại có ích cho thiền nhân?
Hôm qua tôi đã nói với các bạn đôi điều về
aum. Còn vài điều nữa cũng đáng biết trong cùng hoàn cảnh này. Trước hết, aum
là biểu tượng cho thể thứ bẩy, chỉ dẫn về bình diện thứ bẩy. Đó là một biểu
tượng của trạng thái thứ bẩy mà không thể nào diễn đạt được bằng bất kì lời
nào. Không từ nào có thể được gắn hay được sử dụng trong mối liên hệ với nó.
Vậy, một lời vô nghĩa đã được tìm ra - một lời mà không có nghĩa gì cả. Điều
này tôi đã nói với các bạn hôm qua. Việc tìm kiếm cho lời này đã được tiến hành
qua việc kinh nghiệm về thể thứ tư.
Điều này không phải là tìm kiếm bình thường.
Thực tại, khi tâm trí đã hoàn toàn trống rỗng, không còn bất kì tiếng hò hét
của từ ngữ, thậm chí không còn đến một gợn sóng ý nghĩ nữa, chỉ thế thì âm
thanh của hư không mới còn lại. Hư không cũng nói đấy; hư không có âm thanh
riêng của nó. Đi và đứng ở một chỗ rất hẻo lánh, nơi mà không có đến một âm
thanh và bạn sẽ thấy rằng cái trống rỗng có âm nhạc của riêng nó. Hẻo lánh có
loại âm thanh riêng của nó, và trong cái im lặng này chỉ các âm là còn lại -
a-u-m. Tất cả các giai điệu và hoà âm đều được phát triển bằng việc hoán đổi và
tổ hợp của ba âm cơ bản này. Khi tất cả các lời, tất cả các âm thanh đều vắng
lặng, ba âm cơ bản này còn lại.
Cho nên aum là biểu tượng cho trạng thái thứ
bẩy, thể thứ bẩy, nhưng âm thanh này đã được hiểu thấu ở bình diện thứ tư.
Trong trống rỗng của thể trí, tiếng vang vọng của aum sẽ được bắt lại. Nếu
thiền nhân dùng aum này, có thể có hai kết quả. Như tôi đã nói với bạn trước
đây, tất cả các bình diện đều có hai khả năng. Việc lặp lại aum có thể đưa tới
trạng thái ngủ, trạng thái ngủ mê, và trạng thái này có thể được đưa tới bằng
việc lặp lại bất kì lời nào. Việc lặp lại ngân nga về bất kì lời nào đều tác
động vào tâm trí như việc vuốt nhẹ lên đầu, điều tạo ra lơ mơ và buồn ngủ.
Cách dùng aum này thường hay xảy ra lắm, bởi
vì điều này là dễ dàng. Việc tạo ra âm thanh to của aum và bị mất đi trong nó
là rất dễ dàng và thích thú giống như giấc mơ dễ chịu. Phẩm chất của bình diện
trí, như được tự nhiên trao cho, là phẩm chất của tưởng tượng và mơ mộng. Nếu
tâm trí muốn mơ, nó có thể mơ; việc hưởng thú này là có thể cho nó. Khả năng
khác là khả năng của sức mạnh ý chí và tầm nhìn về điều thiêng liêng.
Nếu aum được dùng chỉ như việc lặp lại với tâm
trí, tác động của nó sẽ đem lại giấc ngủ thôi miên. Cái được gọi là yoga tandra
vốn được đưa lại bởi việc lẩm nhẩm aum. Nhưng nếu aum được phát âm ra với sự
chứng kiến đã được thiết lập chắc chắn bên trong; nếu bạn hoàn toàn tỉnh thức
và đang lắng nghe âm thanh mà không bị chìm nghỉm vào trong nó, không bị mất đi
trong nó; nếu âm thanh này là trên một bình diện và bạn đang đứng trên một bình
diện khác như một thính giả, một người quan sát, một nhân chứng; nếu bạn tràn
đầy tỉnh thức với âm thanh này - chỉ thế thì khả năng thứ hai mới của bình diện
thứ tư có thể bắt đầu làm việc. Thế thì bạn sẽ không đi vào yoga tandra, mà đi
vào yoga jagriti, tỉnh thức.
Tôi thường xuyên cố gắng giữ cho bạn tránh xa
việc dùng mật chú. Tôi bao giờ cũng khuyên bạn đừng dùng bất kì mật chú nào hay
bất kì lời nào, bởi vì có đến chín mươi chín trong số một trăm cơ hội là bạn sẽ
đi vào cơn mê tưởng tượng. Có những lí do cho điều này. Bình diện thứ tư là
mong manh với giấc ngủ; nó chỉ biết có giấc ngủ. Các rãnh mơ của nó đã có đấy.
Nó mơ mọi ngày. Cứ dường như là chúng ta đã đổ nước vào trong phòng này. Sau
một chốc nước sẽ chảy khô đi, nhưng nó sẽ để lại dấu vết trên sàn. Thế rồi nếu
chúng ta lại đổ nước lên sàn, nước này sẽ lại chảy theo cùng rãnh như trước
đây.
Khả năng lớn nhất với việc tụng niệm và mật
chú là ở chỗ tâm trí bạn với khuynh hướng mơ mộng sẽ ngay lập tức, bởi chính
cái quá trình rất máy móc đó, rơi vào trong việc mơ. Nhưng nếu bạn tràn đầy
tỉnh thức và chứng kiến bên trong, quan sát âm thanh aum này mà không hội nhập
vào trong nó, không làm mất bản thân mình vào trong nó, thế thì bạn có thể làm
cùng công việc đó khi lẩm nhẩm "Tôi là ai?" - điều tôi chủ trương.
Bây giờ nếu bạn hỏi "Tôi là ai?" trong trạng thái buồn ngủ và không
phải là nhân chứng, cùng lỗi lầm đó vẫn có thể xảy ra tại đây và bạn sẽ đơn
thuần mơ mộng. Nhưng khả năng cho điều này xảy ra với "Tôi là ai?" ít
hơn với việc lặp lại aum, và có lí cho cho điều đó.
Với aum, không có câu hỏi nào được hỏi cả; nó
chỉ là sự đụng chạm nhẹ nhàng. Với "Tôi là ai", có một câu hỏi, không
phải đơn thuần là cái vỗ nhẹ. Có một dấu hỏi đi sau "Tôi là ai?" và
điều này sẽ giữ cho bạn tỉnh thức. Sự kiện thú vị là khi có câu hỏi trong tâm
trí, người ta không thể nào ngủ được. Nếu câu hỏi khó cứ xoáy mãi trong tâm trí
bạn suốt cả ngày, nó sẽ làm hỏng cả giấc ngủ đêm của bạn nữa. Câu hỏi sẽ không
để cho bạn ngủ. Dấu chấm hỏi là bạn đồng hành của việc không ngủ. Nếu có bất kì
câu hỏi nào, bất kì lo âu nào, bất kì tò mò nào trong tâm trí, cũng đều khó ngủ
cả.
Tôi gợi ý dùng "Tôi là ai?" thay cho
aum bởi vì về cơ bản nó là một câu hỏi, và vì nó là một câu hỏi nên nó là việc
tìm kiếm thực sự cho câu trả lời. Trong aum không có câu hỏi; nó không có cạnh
góc sắc bén và do đó nó không đập vào bạn. Nó hoàn toàn tròn trịa và không có
câu hỏi. Những cái vuốt ve nhẹ nhàng liên tục của nó nói chung chỉ đưa tới giấc
mơ tưởng tượng.
Bên cạnh đó, không có giai điệu trong
"Tôi là ai?" trong khi aum lại đầy giai điệu. Giai điệu càng lớn, nó
sẽ lại càng thúc bách bạn ngủ. "Tôi là ai?", thiếu cân đối như dạng
nam tính; aum rất cân xứng như dạng nữ tính: những cái vuốt ve nhẹ nhàng
của nó nhanh chóng làm bạn ngủ. Các lời đều có hình dạng và tác động của chúng
là khác nhau, sự vang vọng của chúng là khác nhau. "Tôi là ai?" không
có giai điệu; khó mà ngủ được với nó. Nếu chúng ta lặp lại "Tôi là ai? Tôi
là ai?" gần một người đang ngủ, người đó sẽ tỉnh dậy. Tuy nhiên nếu chúng
ta lặp lại "Aum, aum" bên cạnh một người đang buồn ngủ, giấc ngủ của
người đó sẽ trở nên sâu hơn bởi vì tác động là khác. Điều này không có nghĩa là
aum không có tác dụng. Khả năng vẫn có đấy cho người nào đang đứng sau việc lặp
lại như người quan sát, nhân chứng. Nhưng tôi không chủ trương dùng aum cho
việc thiền. Có nhiều lí do cho điều này.
Nếu bạn dùng aum cho thiền, thế thì điều không
tránh khỏi là nó sẽ trở thành được gắn với thể thứ tư. Aum là biểu tượng cho
bình diện thứ bẩy nhưng tiếng vang vọng của nó được kinh nghiệm thấy ở bình
diện thứ tư. Một khi bạn bắt đầu thiền về aum, mối quan hệ không tránh khỏi của
aum với bình diện thứ tư sẽ tới mà điều đó, sẽ tỏ ra là rào chắn cho tiến bộ
hơn nữa. Cho nên có khó khăn này với lời đó. Nó được kinh nghiệm ở bình diện
thứ tư nhưng nó được dùng ở bình diện thứ bẩy. Chúng ta không có lời khác cho
thể thứ bẩy. Kinh nghiệm của chúng ta về các lời chấm dứt sau bình diện thứ tư.
Chúng ta dùng lời cuối cùng của bình diện thứ
tư như biểu tượng cho bình diện thứ bẩy. Không có phương thuốc nào khác, bởi vì
từ bình diện thứ năm, bắt đầu trạng thái vô lời; thế rồi bình diện thứ sáu lại
hoàn toàn vô lời và bình diện thứ bẩy, là cái hư không tối thượng. Trên đường
biên cuối cùng của từ ngữ tại trạng thái thứ tư, nơi chúng ta bỏ lại tất cả từ
ngữ, lời cuối cùng nghe thấy được sẽ là aum. Cho nên aum là lời cuối cùng trong
cõi lời nói và là lời chủ yếu trong cõi vô lời. Nó ở đường biên nằm giữa cõi
lời và trạng thái vô lời. Lời này là chủ chốt cho bình diện thứ tư, nhưng chúng
ta không có lời khác gần hơn với bình diện thứ bẩy; tất cả các lời khác đều ở
xa đằng sau. Do đó, lời này được dùng cho bình diện thứ bẩy.
Cho nên tôi ưa việc bạn không gắn nó với thể
thứ tư. Nó sẽ được kinh nghiệm ở thể thứ tư, nhưng nó nên được giữ như biểu
tượng cho bình diện thứ bẩy. Do đó, không cần dùng nó cho việc thiền. Với việc
thiền chúng ta nên dùng những phương thức khác sẽ đi xa bình diện thứ tư. Chẳng
hạn, "Tôi là ai?" - điều này có thể được dùng trong bình diện thứ tư
và cũng có thể bị loại bỏ đi.
Ý nghĩa của aum nên vẫn còn là biểu tượng. Còn
có lí do khác cho việc không dùng nó như một phương thức. Cái mà là biểu tượng
cho điều tối thượng, không nên bị làm thành phương tiện: nó nên vẫn liên tục là
mục đích. Biểu tượng cho điều tuyệt đối nên vẫn là mục đích cho việc đạt tới.
Aum là cái mà chúng ta phải đạt tới, cho nên tôi chống lại việc dùng nó theo
bất kì cách nào như một phương tiện cho thiền. Nó đã được dùng trong quá khứ
với những kết quả bất lợi.
Thiền nhân người thực hành với âm aum coi bình
diện thứ tư là bình diện thứ bẩy, bởi vì biểu tượng của bình diện thứ bẩy được
kinh nghiệm thấy ở bình diện thứ tư. Khi nó được kinh nghiệm ở bình diện thứ
tư, thiền nhân trở nên tin rằng mình đã đạt tới bình diện thứ bẩy. Người đó coi
điều này như đích của cuộc hành trình; do vậy, gây ra tai hại lớn cho bình diện
tâm lí. Thế thì thiền nhân dừng lại ở đây.
Có nhiều thiền nhân coi linh ảnh, mầu sắc và
âm thanh bên trong là việc đã đạt tới đích. Điều này là tự nhiên, bởi vì biểu
tượng của điều tối thượng được cảm thấy trên biên giới của bình diện này. Thế
thì họ cảm thấy rằng họ đã đạt tới đích. Cho nên tôi không thiên về việc bắt
phải thực hành aum cho những người ở thể thứ tư, vì kĩ thuật này sẽ không có
tác dụng lên các thể thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Tác động của nó sẽ được cảm
thấy chỉ ở thể thứ tư. Đây là lí do tại sao các lời khác được dùng lại gây ra
tác động cần thiết lên các thể thứ nhất, thứ hai và thứ ba.
Cần phải xem xét thêm một điểm nữa liên quan
tới các âm cơ bản a-u-m. Lấy một thí dụ, Kinh Thánh không nói rằng Thượng đế
tạo ra thế giới; ngài không tiến hành hành động sáng tạo. Nó nói, "Thượng
đế đã nói, ‘ánh sáng có đấy,’ và đã có ánh sáng." Thượng đế đã phát âm ra
lời. Kinh thánh cũng nói, "Lúc ban đầu đã có lời" - và nhiều kinh
sách cổ đã xác nhận cùng điều này. Chính ngay lúc ban đầu đã có lời và tất cả
những cái khác đều theo sau đó. Bây giờ thậm chí ngay ở Ấn Độ chúng ta cũng
nói, "Lời là Brahman," mặc dầu điều này gây ra rất nhiều hiểu lầm.
Nhiều người có khuynh hướng tin rằng lời là đủ cho việc đạt tới Brahman.
Brahman chỉ được đạt tới trong trạng thái vô lời. "Lời là Brahman" có
nghĩa là chỉ lời này, cái lời mà từ đó phát sinh ra tất cả các âm thanh chúng
ta biết, dạng tinh tế nhất của các âm thanh, là lời về.
Nếu chúng ta đi ngược lại, ngược nữa, ngược
mãi trở về ngọn nguồn của vũ trụ cho tới khi chúng ta về tới cái hư không mà từ
đó thế giới phải đã bắt đầu, ở đấy nữa chúng ta cũng sẽ nghe thấy tiếng vang
vọng của aum. Khi chúng ta tiến tới gần hơn cái hư không bằng việc đi vào bình
diện thứ tư, chúng ta sẽ nghe thấy âm thanh của aum. Từ đây chúng ta bắt đầu
rơi vào trong thế giới mà phải vẫn đã có đó từ lúc bắt đầu. Từ bình diện thứ tư
chúng ta đi tới thể tâm linh; từ đó tới thể vũ trụ, và cuối cùng tới thể niết
bàn. Tiếng vang vọng cuối cùng, được nghe thấy giữa hai thể cuối, cũng là tiếng
vang vọng của aum.
Một mặt là tính cá nhân của chúng ta về bốn
thể mà ta vẫn gọi là thế giới vật chất, và mặt khác là tính không cá nhân của
chúng ta mà ta có thể gọi là Brahman. Tiếng vang vọng làm rung động trên đường
biên của hai thế giới này là aum. Từ kinh nghiệm này chúng ta đi tới hiểu ra
rằng khi thế giới vật chất đã thành hình dạng từ Brahman, tiếng vang vọng của
aum phải đã rung lên liên tục. Do vậy, mới có lời. Cho nên mới có niềm tin là
mọi điều đều đi vào sự hiện hữu qua lời. Nếu lời bị chia thành các thành phần
cơ bản, chúng ta thấy ba âm cơ bản a-u-m trong nó. Tổ hợp này là aum.
Cho nên bởi lí do này mà người ta nói rằng đã
có aum ngay từ đầu và sẽ có aum vào lúc kết thúc. Cái kết thúc có nghĩa là
chuyển trở về cái bắt đầu, và do vậy vòng tròn được hoàn chỉnh. Vậy mà tôi bao
giờ cũng cảm thấy rằng aum chỉ nên được dùng như biểu tượng chứ không như kĩ
thuật thiền. Những điều khác, có thể được dùng như các phương thức. Âm thanh
thuần khiết như aum, không nên bị làm thành mất thuần khiết bởi việc dùng nó
như một kĩ thuật.
Nhiều người không hiểu tôi. Họ tới tôi và nói,
"Sao thầy cấm việc nhẩm aum?" Có lẽ họ nghĩ rằng tôi là kẻ thù của
aum, nhưng sự kiện là ở chỗ bản thân họ là kẻ thù của aum. Một lời thuần khiết
như thế không nên bị dùng như một phương tiện cho việc phát triển tâm linh.
Thực tế, lưỡi chúng ta không đáng để phát âm ra nó; nó quá thuần khiết không
nên để thốt ra từ thể vật lí. Nó là một lời mà bắt đầu tại nơi lưỡi trở thành
vô nghĩa, nơi thân thể trở thành vô dụng. Tại đấy trở đi có tiếng vang vọng của
nó và tiếng vang vọng này rung động theo ý riêng của nó.
Nó có thể được kinh nghiệm; nó không thể được
tạo ra. Do đó, aum phải được kinh nghiệm chứ không phát âm ra.
Có một nguy hiểm khác. Nếu bạn dùng aum như
một kĩ thuật, bạn sẽ chẳng bao giờ biết tới âm thanh cơ bản của lời này khi nó
phát sinh từ sự tồn tại, bởi vì việc phát âm của riêng bạn sẽ bị áp đặt lên nó.
Cho nên bạn sẽ chẳng bao giờ chứng kiến biểu lộ thuần khiết nhất của nó. Bất kì
ai dùng âm thanh của aum như một kĩ thuật, cũng chẳng bao giờ kinh nghiệm được
aum trong thực tại. Bằng việc thực hành liên tục họ sẽ đặt chồng chất sắc thái
của riêng mình lên tiếng vang vọng thực tại khi nó tới. Thế thì họ sẽ không thể
nào nghe thấy tiếng vang dội thuần khiết của aum. Họ không nghe thấy tiếng vang
vọng trực tiếp của hư không bởi vì họ tràn đầy với âm thanh riêng của mình.
Điều này là tự nhiên, bởi vì cái mà chúng ta quen thuộc, trở thành được khắc
ghi vào chúng ta. Do đó, tôi nói rằng tốt hơn cả là đừng quen thuộc với aum;
tốt hơn cả là đừng dùng aum. Một ngày nào đó nó sẽ xuất hiện ở thể thứ tư và
thế thì nó sẽ có ý nghĩa nào đó.
Sự xuất hiện của nó ở thể thứ tư sẽ có nghĩa
là bạn đã đạt tới những giới hạn của thể thứ tư. Bây giờ bạn sắp bước ra ngoài
thể tâm lí, ra ngoài cõi lời nói. Lời cuối cùng đã tới và bây giờ bạn đứng ở
nơi lời bắt đầu; bạn đứng ở nơi toàn bộ thế giới đã đứng ở lúc bắt đầu; bạn
đứng ở ngưỡng cửa của sáng tạo. Và thế thì, khi giai điệu của riêng nó bắt đầu
tuôn chảy, cái duyên dáng của nó không thể nào diễn tả nổi. Không có cách nào
để mô tả nó. Âm nhạc hay nhất của chúng ta cũng không thể nào so sánh được với
tiếng vọng nhỏ bé nhất của nó. Dù chúng ta cố gắng vất vả đến đâu đi chăng nữa,
chúng ta cũng chẳng thể nào nghe thấy âm nhạc này của im lặng với tai hướng ra
ngoài. Do đó, tốt hơn cả là chúng ta không có bất kì ý tưởng định sẵn gì về nó.
Chúng ta đừng gắn cho nó bất kì hình dạng hay mầu sắc nào bằng không, chúng ta
sẽ bị trí tưởng tượng của mình bắt lại và điều này sẽ là chướng ngại.
Khác biệt về điện sinh học giữa đàn ông và đàn
bà vẫn còn cho tới thể thứ tư. Liệu điều này có nghĩa là tác động của người
trung gian nam hay người trung gian nữ là khác nhau đối với thiền nhân nam hay
nữ không? Nếu vậy, xin Thầy giải thích tại sao.
Nhiều điều sẽ phải làm sáng tỏ trong hoàn cảnh
này. Như tôi đã nói trước đây, khác biệt giữa nam và nữ tồn tại cho tới thể thứ
tư. Sau thể thứ tư, không có khác biệt. Thể thứ năm vượt ra ngoài bất kì khác
biệt nào về giới tính. Nhưng khác biệt là rất cơ bản cho tới thể thứ tư, và
khác biệt cơ bản này sẽ đem tới nhiều loại kết quả. Trước hết chúng ta hiểu về
thể nam rồi chúng ta sẽ chuyển sang thể nữ.
Thể đầu tiên của đàn ông là nam tính, thể thứ
hai là nữ tính, thể thứ ba lại là nam tính, và thể thứ tư là nữ tính. Với đàn
bà, vấn đề ngược lại: thể đầu tiên của cô ấy là nữ tính, thể thứ hai là nam tính,
thể thứ ba lại là nữ tính và thể thứ tư là nam tính. Có khác biệt căn bản bởi
vì điều này. Chính những khác biệt này đã ảnh hưởng sâu sắc lên toàn bộ lịch sử
và tôn giáo của loài người và đã đem lại cho văn hoá của con người một kiểu
trật tự đặc biệt.
Có một số đặc trưng duy nhất cho thể nam và
một số đặc trưng và đặc thù cho thể nữ. Những đặc trưng này bù trừ lẫn cho
nhau. Thực tế, thể nữ là không đầy đủ và thể nam cũng không đầy đủ; do đó,
trong hành động sáng tạo họ phải hợp nhất. Việc hợp nhất này có hai loại. Nếu
nam A hợp nhất với nữ B ở bên ngoài, việc sáng tạo con cái sẽ xảy ra. Nếu nam A
hợp nhất với nữ B bên trong bản thân mình, việc sáng tạo xảy ra hướng về
Brahman. Đây là cuộc hành trình hướng tới Thượng đế, trong khi việc hợp nhất
bên ngoài là cuộc hành trình hướng tới tự nhiên. Tuy nhiên, dục đều được bao
hàm trong cả hai: nếu thể nam hợp nhất bên ngoài với thể nữ, bào thai xuất
hiện; nếu thể nam hợp nhất với thể nữ bên trong của riêng nó, thế thì cũng có
dục xảy ra. Trong trường hợp thứ nhất năng lượng được phát ra ngoài; trong khi
ở trường hợp thứ hai, năng lượng bắt đầu chuyển vào bên trong. Đây là điều vẫn
được biết tới như việc dâng lên của năng lượng dục: nó là sự hợp nhất với người
đàn bà bên trong.
Năng lượng bao giờ cũng chảy từ nam sang nữ
bất kể liệu nó xảy ra bên ngoài thân thể hay bên trong thân thể. Nếu năng lượng
dục của thể vật lí của nam chảy sang thể ê te nữ bên trong người đó, nó không
bị phát tán đi. Thế thì xảy ra điều vẫn được biết tới là brahmacharya - vô dục.
Thế thì năng lượng chảy lên liên tục; nó đạt tới thể thứ tư. Sau thể thứ tư
brahmacharya không có ý nghĩa, bởi vì chẳng có gì giống như nam và nữ ở đó cả.
Đó là lí do tại sao đi qua bình diện thứ tư,
thiền nhân không là nam cũng chẳng là nữ. Khái niệm về ardhanarishwar - thần
Shiva nửa đàn ông nửa đàn bà - đi vào hiện hữu với thể thứ nhất và thứ hai
trong tâm trí. Nhưng điều này đơn thuần vẫn còn là biểu tượng và chúng ta chẳng
bao giờ hiểu nó. Shiva là không đầy đủ và Parvati cũng vậy. Cùng nhau họ trở
thành một. Cho nên chúng ta đã vẽ ra bức tranh về Shiva nửa đàn ông, nửa đàn
bà, nhưng trong cuộc sống đời thường, nửa kia là không thấy được ở bên ngoài.
Nó bị che khuất đằng sau mỗi chúng ta. Bên ngoài của bạn là nam và nửa kia là
nữ, và đây là lí do tại sao những sự kiện rất khôi hài đôi khi lại xảy ra.
Đàn ông trong thế giới bên ngoài dù bạo dạn và
mạnh mẽ như thế nào, dù có ảnh hưởng tới đâu - dù người đó có là Alexandre Đại
đế hay Napoleon hay Hitler, dù là trong văn phòng, trong cửa hiệu hay trong
chợ, người đó sống như con sư tử cả ngày, nhưng buổi tối, tất cả vẻ vênh vang
của người đó đều mất đi trước người đàn bà đơn giản trong nhà mình. Điều này là
rất kì lạ. Đâu là lí do nằm sau điều này? Sự kiện là ở chỗ người đó sử dụng thể
nam của mình mười hai hay mười bốn giờ và sau thời gian đó, thể thứ nhất của
anh ta trở nên mệt mỏi. Khi anh ta về tới nhà, thể thứ nhất yêu cầu nghỉ ngơi.
Thế thì thể thứ hai là nữ lại tiến lên trước và thể nam, lùi lại thứ yếu.
Bây giờ người vợ đã dùng thể thứ nhất của mình
cả ngày dài, cho nên vào buổi tối thể nam đằng sau cô ấy lại nổi lên. Thế thì
người đàn bà bắt đầu hành xử như đàn ông còn người đàn ông, hành xử như đàn bà.
Cần phải ghi nhớ rằng giao hợp với thể nữ bên
trong của riêng mình là phương pháp cho phép luồng năng lượng sống đi lên. Quá
trình này có nhiều chi tiết bên trong hơn, nhưng chúng ta sẽ không nói về điều
đó bây giờ.
Một điều nữa: năng lượng bao giờ chảy từ nam
sang nữ. Phẩm chất quan trọng nhất của thể nam là ở chỗ nó không tiếp nhận; nó
bao giờ cũng năng nổ. Nam có thể cho nhưng anh ta không thể nhận. Không có
luồng chảy từ nữ sang nam; nó bao giờ cũng chảy từ nam sang nữ. Nữ là tiếp
nhận. Cô ấy có thể nhận nhưng cô ấy không thể cho.
Có hai kết quả của điều này và và cả hai đều
đáng biết. Kết quả thứ nhất là ở chỗ vì đàn bà có tính tiếp nhận cho nên cô ấy
chẳng bao giờ có thể trở thành người cho shaktipat; shaktipat không thể xảy ra
qua cô ấy. Đây là lí do tại sao có ít bậc thầy nữ trên thế giới đến thế, cũng
không có bậc thầy nữ nào ngang tầm Phật và Mahavira. Lí do là ở chỗ không năng
lượng nào có thể được truyền cho bất kì ai qua cô ấy. Chính sự kiện là đàn bà
tụ tập với số lượng rất lớn quanh Phật, Mahavira và Krishna, nhưng không người
đàn bà nào với tầm vóc như Krishna lại đã được sinh ra mà quanh người này hàng
triệu đàn ông tụ tập lại. Lí do cho điều này nằm ở chỗ đàn bà chỉ có thể là
người nhận.
Một sự kiện thú vị là quanh một người như
Krishna có rất ít đàn ông nhưng rất nhiều đàn bà. Cũng điều ấy xảy ra với
Mahavira: có mười nghìn sư nam và bốn mươi nghìn sư nữ. Tỉ lệ bao giờ cũng là
bốn trên một. Nếu có một đàn ông, bao giờ cũng có bốn đàn bà quanh ông ấy. Đàn
ông không thể nào ưa thích Mahavira như đàn bà, bởi vì cả họ và Mahavira đều là
đàn ông. Điều mà Mahavira phát ra, đàn bà có thể hấp thu được. Nhưng đàn ông là
người không hấp thu; tính tiếp nhận của họ rất giới hạn. Do đó, mặc dầu chính
đàn ông là người cầm đầu tôn giáo nhưng chính đàn bà là người bao giờ cũng bảo
vệ và gìn giữ nó; chính đàn bà mới là người gìn giữ tôn giáo trên trái đất. Đàn
ông chỉ là người tiên phong trong tôn giáo.
Đàn bà có tính tiếp nhận; phẩm chất của thân
thể cô ấy là tiếp nhận. Cô ấy có phẩm chất này về mặt sinh học nữa. Cô ấy mang
thai đứa trẻ trong chín tháng, rồi sau đó cô ấy cũng phải nuôi dưỡng nó lớn
lên; vậy, cô ấy phải có tính tiếp nhận. Tự nhiên không trao công việc như vậy
cho đàn ông. Anh ta trở thành bố chỉ trong khoảnh khắc và thế rồi anh ta bước
ra khỏi bức tranh. Đàn bà nhận lấy tinh trùng và rồi giữ nó lại. Sự kiện này
cũng xảy ra trong shaktipat nữa. Do đó, trong shaktipat đàn ông không thể nào
nhận được từ đàn bà. Đây là nói chung như vậy; có thể có những ngoại lệ. Về
những trường hợp hiếm hoi này tôi sẽ nói về sau. Đôi khi điều này có thể xảy
ra, nhưng với các lí do khác nhau.
Thông thường, shaktipat không xảy ra qua thể
nữ. Bạn có thể gọi đây là nhược điểm của thể nữ. Nhưng cô ấy có phẩm chất khác
bù lại - sức mạnh và năng lực để nhận shaktipat nhanh chóng. Đàn ông có thể
truyền dẫn shaktipat nhưng anh ta không thể nào nhận được nó. Do đó, shaktipat
cũng khó khăn để truyền từ đàn ông sang đàn ông bởi vì thiền nhân nam không
mang tính tiếp nhận; đấy là cá tính của anh ta. Tại chính bước đầu tiên, nơi đó
anh ta phải bắt đầu, nam tính đứng trong anh ta không mang tính tiếp nhận. Có
những giáo phái trong đó người đàn ông thực hiện công phu tâm linh bằng việc tự
coi mình là đàn bà. Đây là một phương pháp làm cho anh ta thành có tính tiếp
nhận. Thậm chí như vậy, đàn ông vẫn không trở nên mang tính tiếp nhận. Đàn bà
trở nên mang tính tiếp nhận không khó khăn gì vì cô ấy về bản chất là tiếp nhận
rồi. Do đó, trong shaktipat đàn bà bao giờ cũng cần người trung gian. Tại sao
cô ấy không thể nào nhận được ân huệ trực tiếp, xin hiểu cho rõ.
Shaktipat xảy ra từ thể thứ nhất. Nếu tôi
truyền dẫn shaktipat, nó xảy ra cho thể thứ nhất của bạn. Năng lượng sẽ nổi lên
từ thể thứ nhất của tôi và đập vào thể thứ nhất của bạn. Nếu bạn là đàn bà,
điều này sẽ xảy ra nhanh chóng. Nếu bạn là đàn ông, thế thì điều đó sẽ cần thêm
nỗ lực; điều đó sẽ khó khăn. Sâu đâu đó bên trong, bạn sẽ phải thu được trạng
thái buông xuôi hoàn toàn. Chỉ thế thì mới có thể; bằng không, không thể được.
Đàn ông không buông xuôi; dù anh ta có cố gắng vất vả đến đâu, anh ta cũng vẫn
không thể nào buông xuôi được. Cho dù anh ta nói "Tôi buông xuôi,",
điều ấy vẫn cứ là theo cách hùng hổ. Nói cách khác, chính bản ngã đang tuyên bố
về hành động buông xuôi. Nó nói, "Nhìn đây! Tôi buông xuôi đấy." Cái
‘tôi’ đứng đằng sau vẫn không rời bỏ anh ta.
Đàn bà không phải buông xuôi: cô ấy đã buông
xuôi rồi; đấy là bản tính của cô ấy. Buông xuôi là phẩm chất của thể thứ nhất
của cô ấy. Cô ấy rất tiếp nhận. Do đó, shaktipat xuất phát từ đàn ông xảy ra dễ
dàng bên trong cô ấy. Từ đàn ông sang đàn ông điều ấy là rất khó khăn và từ đàn
bà sang đàn ông, gần như là không thể được. Từ đàn ông sang đàn ông, dù là khó
khăn những vẫn còn có thể được. Nếu có một người đàn ông với uy quyền lớn,
người đó có thể đưa người khác về điều kiện gần như đàn bà. Shaktipat qua đàn
bà về mặt thực tế là không thể có được, bởi vì trong khoảnh khắc xảy ra đó, cô
ấy có khuynh hướng hấp thu luôn năng lượng sống vào mình. Thể thứ nhất của cô
ấy giống như bọt biển và hút mọi thứ vào đó.
Cho tới giờ chúng ta đã nói về shaktipat.
Trong trường hợp của ân huệ, điều kiện cũng giống hệt. Ân huệ tới từ thể thứ
tư. Thể thứ tư của nam là nữ tính cho nên anh ta nhận ân huệ rất dễ dàng. Vì
thể thứ tư của đàn bà là nam tính cho nên cô ấy kinh nghiệm cùng khó khăn đối
với ân huệ: cô ấy không thể nào nhận được ân huệ một cách trực tiếp. Thể thứ tư
của đàn ông là nữ tính; do đó Mohammed, Moise, Jesus đều ngay lập tức thiết lập
được quan hệ với Thượng đế. Vì thể thứ tư là nữ tính trong họ, cho nên họ có
khả năng hấp thu ân huệ ngay khi nó giáng xuống họ.
Nữ có thể thứ tư là nam tính. Thể nam của cô
ấy là ở cực điểm này, và điều này làm cho cô ấy không thể nào nhận được ân huệ.
Do đó, nữ không có thông điệp trực tiếp; tức là không người đàn bà nào có thể
tuyên bố rằng mình đã biết tới Brahman. Thể thứ tư của cô ấy là nam tính nên
gây ra cản trở. Cô ấy không thể nào nhận được từ đầu đó.
Đàn ông nhận ân huệ trực tiếp. Thật khó cho
anh ta nhận nó từ ai đó, như trong shaktipat, bởi vì bản thân anh ta là rào
chắn ở đó. Nhưng điều ấy không đúng cho đàn bà. Cô ấy có thể nhận shaktipat từ
bất kì người trung gian nào. Ngay cả một người rất yếu cũng có khả năng thực
hiện shaktipat cho đàn bà. Đây là lí do tại sao ngay cả những người trung gian
rất tầm thường cũng thành công trong việc này. Shaktipat ít phụ thuộc vào bản
thân người trung gian và phụ thuộc nhiều vào tính tiếp nhận của người nhận.
Nhưng đàn bà bao giờ cũng đòi hỏi có trung gian. Rất khó cho họ đạt tới mà
không có trung gian, bởi vì thế thì không biến có nào có thể xảy ra.
Chúng ta đã nói về trạng thái thông thường của
những điều này. Những điều kiện phi thường cũng có thể được tạo ra. Chính vì
quá trình thông thường của những điều này mà có ít thiền nhân nữ hơn. Điều này
không có nghĩa là đàn bà không kinh nghiệm Thượng đế; họ đã kinh nghiệm Thượng
đế nhưng bao giờ cũng có người trung gian ở giữa. Mặc dầu không đáng kể, người
trung gian bao giờ cũng phải hiện diện; họ có kinh nghiệm của mình qua người
trung gian. Một điều khác: có thể có những khác biệt được gây ra bởi những điều
kiện bất thường. Chẳng hạn, ân huệ xảy ra trong đàn bà trẻ thì khó khăn hơn; nó
dễ dàng hơn chút ít trong đàn bà già.
Một sự kiện thú vị là ở chỗ trong toàn bộ cuộc
đời, giới tính của chúng ta luôn linh động; chúng ta không có cùng tỉ lệ nam-nữ
trong suốt cuộc đời. Có thay đổi liên tục; tỉ lệ này luôn thay đổi. Cho nên có
việc là đàn bà mọc râu mép và cằm vào những năm sau. Thậm chí giọng nói của
người đó cũng thay đổi vào quãng năm mươi tuổi và việc ấy trở thành sâu sắc
hơn, giống với đàn ông nhiều hơn. Giọng nữ sẽ mất đi. Tỉ lệ của cô ấy thay đổi;
nhân tố nam nổi lên và nhân tố nữ giảm đi. Thực tại, công việc mang tính đàn bà
của cô ấy đã kết thúc. Sự gắn bó sinh học cho tới độ tuổi bốn mươi nhăm nay
không còn nữa. Cô ấy không còn gắn với nữ tính trong mình, cho nên khả năng của
ân huệ nhiều hơn ở người đàn bà lớn tuổi. Điều này là như vậy bởi vì yếu tố nam
tính tăng lên trong thể thứ nhất của cô ấy còn yếu tố nữ tính giảm đi trong thể
thứ hai của ấy. Cũng vậy, yếu tố nam tính trong thể thứ tư của cô ấy giảm đi và
yếu tố nam tính trong thể thứ ba của cô ấy tăng lên. Cho nên ân huệ là có thể
trong đàn bà già.
Đàn bà rất già, trong những điều kiện nào đó
có thể hành động như người trung gian cho đàn bà trẻ. Người đàn bà rất già, gần
một trăm tuổi, không còn dấu vết gì trong tâm trí rằng mình là đàn bà, có thể
hành động như trung gian cho cả đàn ông nữa. Nhưng điều này sẽ là việc khác.
Điều tương tự cũng hệt cho đàn ông: khi đàn ông già đi, những nét nữ tính của
người đó tăng lên. Ông già nói chung hành xử như đàn bà. Nhiều nét nam tính mất
đi trong cá tính của họ và những nét nữ tính phát triển.
Trong mối liên quan này cần biết rằng nhân
cách của bất kì ai nhận ân huệ trong thể thứ tư, đều phát triển những nét nữ
tính. Chẳng hạn, nếu như chúng ta xem xét thân thể hay nhân cách của Mahavira
hay của Phật, họ có vẻ mang nhiều nét nữ tính hơn là nam tính. Những nét mềm
mại và đẹp đẽ của đàn bà được tổ hợp với tính tiếp nhận nữ tính được tăng lên
trong họ. Tính cách hùng hổ đã rời bỏ họ, và do vậy họ trở thành tràn đầy không
bạo hành, từ bi và tình yêu; bạo hành và giận dữ bị xua đuổi đi vĩnh viễn.
Nietzsche đã buộc tội Phật và Jesus là lại gái
và ông ta nói rằng bởi lí do đó họ phải không được tính là đàn ông. Họ không có
phẩm chất đàn ông và họ đã thành công trong việc làm cho toàn bộ thế giới thành
nữ tính. Có đôi điều chân lí trong lời phàn nàn của ông ta. Bạn sẽ ngạc nhiên
mà biết rằng chúng ta đã vẽ Phật, Mahavira, Krishna và Rama không ria mép hay
râu. Không phải là họ đã không có râu ria, nhưng vào lúc chúng ta vẽ tranh họ,
nhân cách của họ đã trở thành tràn đầy phẩm chất nữ tính; vậy, râu và ria sẽ bị
gạt đi. Chúng ta vứt bỏ râu ria bởi vì chúng không còn thích hợp cho cách thức
nữ tính của họ.
Một sự vụ như thế đã xảy ra trong trường hợp
của Ramakrishna. Hoàn cảnh của ông có thể trở thành trường hợp duy nhất cho các
nhà khoa học. Một điều rất kì lạ đã xảy ra. Về sau đệ tử ông đã cố gắng che
giấu những sự kiện này - bởi vì làm sao họ có thể nói được về nó? Vú của
Ramakrishna nở to và ông ấy thấy kinh. Điều này là biến cố rất kì lạ - chúng ta
có thể nói đấy là phép màu. Tính cá nhân ông trở thành nữ tính đến mức ông ấy
bước đi như đàn bà và nói như đàn bà, và trong một trường hợp ngoại lệ như thế
thì nhiều điều khác cũng có thể xảy ra. Chẳng hạn, trong hoàn cảnh như thế
người ta không thể nào thực hiện shaktipat lên bất kì ai. Nhân cách của ông ấy
đã trở thành hoàn toàn nữ tính.
Với sự giúp đỡ của các kĩ thuật thiền của Phật
và Mahavira, hàng trăm nghìn người đã đạt tới thể thứ tư. Ngay khi họ đạt tới
bình diện thứ tư, nhân cách của họ trở thành nữ tính. Với điều này tôi muốn nói
rằng khía cạnh thụ động của bản tính họ đã phát triển. Bạo hành và giận dữ tan
biến khi hùng hổ rời bỏ họ; trìu mến, tình yêu, từ bi và không bạo hành tăng
lên. Nữ tính đã thành bản tính cố hữu của toàn bộ đất nước này, và cảm giác của
tôi là ở chỗ đó chính là nguyên nhân cho rất nhiều cuộc xâm lăng đã xuất hiện ở
đây. Tất cả các quốc gia nam tính láng giềng đều thành công trong việc chinh
phục nhân cách nữ tính của Ấn Độ.
Theo một cách, một điều rất giá trị đã xảy ra
- đó là chúng ta đã kinh nghiệm những điều tuyệt diệu trên bình diện thứ tư.
Nhưng trên bình diện của thể thứ nhất, chúng ta thấy mình gặp khó khăn. Mọi thứ
đều phải có cái bù trừ. Những người đã được chuẩn bị để bỏ lại các kho báu của
bình diện thứ tư, đạt tới của cải và vương quốc của bình diện thứ nhất. Những
người không được chuẩn bị để từ bỏ niềm vui của bình diện thứ tư, phải từ bỏ
nhiều thứ trên bình diện thứ nhất.
Theo Phật và Mahavira, Ấn Độ mất đi bản chất
hùng hổ và trở thành tiếp nhận. Cho nên với bất kì ai tới, chúng ta cũng ở điểm
trở thành tiếp nhận; bất kì ai tới, chúng ta đều hấp thu họ vào trong chúng ta.
Vấn đề phân biệt chủng tộc với họ không bao giờ xuất hiện trong chúng ta, cứ để
cho một mình họ tấn công. Vấn đề đó đã mất đi mãi mãi bởi vì nhân cách chúng ta
đã trở thành nữ tính. Ấn Độ đã trở thành một tấm lòng mênh mông chứa chấp tất
cả những ai tới với nó. Chúng ta không chối từ ai cả; chúng ta chưa bao giờ cố
gắng loại bỏ bất kì kẻ xâm lược nào khỏi chúng ta, bởi vì phẩm cách hiếu chiến
cần cho đánh nhau, không còn trong chúng ta nữa. Với những người vĩ đại điều đó
đã trở nên bị mất đi, và quảng đại quần chúng, đi theo những người vĩ đại. Và
quần chúng phải vẫn bị chi phối bởi họ. Thường dân nghe người vĩ đại nói về
không bạo hành, từ bi, và thấy họ sống theo điều đó, cho nên người đó chấp nhận
thế giới của họ và vẫn còn im lặng. Người đó có thể chiến đấu nhưng người đó
không có người lãnh đạo.
Nếu như lịch sử thế giới được viết lại theo
quan điểm tâm linh - khi chúng ta không còn coi các biến cố vật lí là lịch sử
mà thay vào đó sẽ bắt đầu coi biến cố trên bình diện tâm thức là lịch sử, đó là
lịch sử thật - thế thì chúng ta sẽ hiểu rằng bất kì khi nào một quốc gia chuyển
sang tâm linh, nó đều trở thành nữ tính. Và bất kì khi nào nó trở thành nữ
tính, các nền văn hoá kém hơn, các nền văn hoá tầm thường hơn, sẽ đánh bại nó.
Một sự kiện đáng ngạc nhiên là những người đã xâm chiếm Ấn Độ đều thuộc về
những nền văn hoá rất lạc hậu. Theo nhiều cách thức, họ vẫn còn là những kẻ man
rợ hoang sơ, dù họ có là người Thổ nhĩ kì hay người Mông cổ hay Mogul. Họ không
có văn hoá, nhưng theo một nghĩa nào đó, họ là đàn ông - mặc dầu man rợ - và
chúng ta là đàn bà, thụ động. Chúng ta không có cách nào khác hơn việc hấp thu
họ vào trong chúng ta.
Cho nên thể nữ tính có thể hấp thu. Do đó, đàn
bà cần người trung gian trong khi thể nam tính có thể truyền năng lượng cũng
như nhận ân huệ. Đó là lí do tại sao những người như Mahavira đã phải nói rằng
đàn bà sẽ phải được tái sinh làm đàn ông để đạt tới chứng ngộ. Đây là một lí do
trong số nhiều lí do. Cô ấy không thể nhận được ân huệ trực tiếp. Không nhất
thiết là cô ây cứ phải chết đi để trở thành đàn ông. Có những phương pháp mà
theo đó việc biến đổi nhân cách có thể được thực hiện. Thể thứ hai có thể trở
thành thể thứ nhất của bạn và thể thứ nhất có thể được làm cho lấy vị trí của
thể thứ hai. Với điều này có những kĩ thuật về sức mạnh ý chí sâu sắc mà qua đó
việc biến đổi vật lí được thực hiện ngay trong chính cuộc đời này.
Có một câu chuyện hay về một trong những
tirthankara của người Jaina. Một trong những tirthankara Jaina là một đàn bà có
tên là Mallibai. Giáo phái Swetamber gọi bà là Mallibai, trong khi giáo phái
Digamber gọi là bà là Mallinath; họ coi bà là đàn ông bởi vì người Jaina thuộc
Digamber cảm thấy rằng đàn bà không được mang danh hiệu moksha, giải thoát. Do
đó một tirthankara, không thể nào là đàn bà được, và do vậy họ gọi Mallibai là
Mallinath. Bây giờ, không nơi đâu khác trong lịch sử loài người lại có tranh
luận sôi nổi đến thế về một người. Đã có đủ mọi loại tranh luận khác: về một
người cao một mét bẩy hay mét tám, về khi nào người đó được sinh ra, về khi nào
người đó chết, nhưng chưa bao giờ có tranh luận sôi nổi về giới tính của người
đã trở thành bậc thầy của tranh luận. Giáo phái này tin Mallibai là đàn ông còn
giáo phái kia, tin là đàn bà.
Điều tôi cảm thấy là ở chỗ khi Mallibai bắt
đầu việc tìm kiếm tâm linh, bà ấy phải là một đàn bà. Nhưng có những phương
pháp mà nhờ đó thể thứ nhất có thể được thay đổi thành thể nam, và chỉ sau khi
điều này xảy ra, bà ấy mới trở thành tirthankara. Cho nên giáo phái thứ nhất,
người coi bà là đàn bà, tôn kính trạng thái thứ nhất của bà ấy; còn giáo phái
thứ hai, người coi bà là đàn ông, tôn thờ trạng thái thứ hai của bà ấy. Cả hai
đều đúng. Bà ấy là một đàn bà nhưng bà ấy phải đã biến thành đàn ông. Con đường
của Mahavira là con đường mà bất kì người đàn bà nào đi qua, cô ấy nhất định
phải trở thành đàn ông. Con đường của ông ấy không phải là của sùng kính mà là
của tri thức, và do vậy nó hoàn toàn năng nổ. Con đường của ông ấy không phải
là con đường của tiếp nhận.
Nếu bất kì người đàn ông nào nhảy múa và ca
hát trong suốt cả năm trời như Meera, đi ngủ cũng vẫn mang hình ảnh của Krishna
trên ngực và coi bản thân mình là người yêu của mình, người đó chỉ còn là đàn
ông trên danh nghĩa. Tâm thức người đó sẽ trải qua biến đổi hoàn toàn. Thể thứ
nhất sẽ thay đổi và trở thành nữ tính, còn thể thứ hai sẽ thay đổi và trở thành
nam tính. Nếu việc biến đổi này là rất sâu sắc, sẽ có những thay đổi về thể
chất trong thân thể anh ta nữa; bằng không, thân thể sẽ vẫn còn như cũ. Nhưng
tâm trí sẽ không còn như cũ nữa: anh ta sẽ phát triển tâm thức nữ tính. Cho nên
trong những trường hợp đặc biệt nhiều điều có thể xảy ra: biến cố của shaktipat
có thể xảy ra; không có khó khăn gì. Nhưng điều này không thể là một qui tắc
tổng quát.
Shaktipat có thể xảy ra qua người đàn ông và
người này có thể nhận ân huệ trực tiếp nữa, nhưng sẽ khó cho đàn bà để đạt tới
ân huệ trực tiếp. Cánh cửa ân huệ chỉ mở cho cô ấy thông qua shaktipat. Đây là
sự kiện chứ không phải là đánh giá. Không có vấn đề về cao thấp, trên dưới: như
thế là sự kiện. Nó cũng giống như là sự kiện đàn ông phóng tinh còn đàn bà nhận
tinh. Nếu ai đó hỏi liệu đàn bà có phóng tinh vào đàn ông hay không, chúng ta
sẽ phải nói không, bởi vì không có luật tự nhiên cho điều này. Không có vấn đề
về liệu một người là ở trên hay ở dưới. Nhưng tất cả các cách thức đánh giá đều
nảy sinh từ sự kiện này. Đàn bà bị coi như thấp kém bởi vì cô ấy là người nhận.
Thế thì giá trị của người cho mới được tôn lên.
Khác biệt về địa vị giữa đàn ông và đàn bà
trên khắp thế giới đều nảy sinh từ sự kiện là đàn ông coi mình là người cho,
người cung cấp, trong khi đàn bà coi mình là người nhận. Nhưng ai nói rằng
người nhận cứ phải là thấp kém? Và nếu không có ai là người nhận, người cho sẽ
còn có ích gì nữa? Và ngược lại: nếu không có người cho, người nhận phỏng còn
có ích gì? Chẳng có gì cao thượng hay thấp kém trong đó cả. Thực tế, cả hai đều
là phần bổ sung cho nhau và cả hai đều không thể độc lập với nhau. Họ là phụ
thuộc lẫn nhau; họ bị gắn vào nhau. Những người này không phải là các thực thể tách
biệt, nhưng thay vì thế là hai mặt của cùng một đồng tiền mà trong đó một người
cho và người kia nhận.
Tuy nhiên thông thường, chính khái niệm về
người cho làm nảy sinh bức tranh về cao thấp trong tâm trí chúng ta. Không có
lí do gì tại sao người nhận lại phải thấp kém. Nhiều điều được gắn với điều
này, tuy nhiên, địa vị của người đàn bà đã được chấp nhận là thứ hai so với đàn
ông. Không chỉ đàn ông mà ngay cả đàn bà cũng đã chấp nhận địa vị này. Thực tế,
cả hai đều đứng đầu trong vị trí tương ứng của mình - anh ấy là đàn ông và cô
ấy là đàn bà. Không có vị trí thứ hai; cả hai là phần bù của nhau.
Bây giờ khái niệm này đã có những hậu quả rộng
rãi trong nhiều lĩnh vực và nó đã xâm nhập vào toàn bộ nền văn minh và văn hoá
của chúng ta. Đó là lí do tại sao mà đàn ông đi săn - bởi vì anh ta hùng hổ.
Còn đàn bà, ngồi ở nhà chờ đợi anh ta; cô ấy chấp nhận anh ta một cách tự
nhiên. Anh ta đi ra cánh đồng, anh ta gặt hái mùa màng, anh ta làm việc trong
cửa hiệu, anh ta bay trên máy bay, anh ta lên mặt trăng, anh ta đi ra làm đủ
mọi thứ đó bởi vì anh ta năng nổ. Đàn ngồi ở nhà chờ đợi anh ta. Cô ấy cũng làm
rất nhiều điều nhưng không hùng hổ; nó là tiếp nhận. Cô ấy tạo dựng ngôi nhà
cho anh ấy, cô ấy thu nhặt mọi thứ lại, cô ất giữ mọi thứ ngăn nắp đúng chỗ. Trong
tất cả các nền văn hoá, nguyên tắc ổn định là thuộc về đàn bà.
Nếu đàn bà không có đó, đàn ông sẽ là kẻ lang
thang, gã lêu lổng; anh ta có thể chẳng bao giờ dựng nên được ngôi nhà. Đàn bà
hành động như cái cọc. Đàn ông lang thang đây đó nhưng đều phải trở về với cái
cọc. Nếu tình huống này mà khác đi, đàn ông sẽ chẳng bao giờ định cư nổi. Thế
thì sẽ không có thành phố và thị trấn. Văn hoá thành phố đi vào hiện hữu bởi vì
đàn bà muốn ổn định cuộc sống của mình ở một chỗ. Cô ấy bao giờ cũng nài xin
đàn ông, "Thôi đủ rồi! Chúng ta dừng lại đi; chúng ta đỗ lại đi. Một chút
ít khó khăn có thể tới, nhưng chúng ta đừng đi thêm nữa." Cô ấy chiếm lấy
mảnh đất và bắt rễ vào đó. Thế rồi đàn ông phải tạo ra thế giới quanh cô ấy.
Đấy là cách thức mà thành phố và thị trấn đi vào hiện hữu. Đây là cách thức tất
cả nền văn hoá, văn minh và gia đình, mà người đàn bà tô điểm và làm cho thiêng
liêng lên, đã được tạo ra. Cái gì người đàn ông kiếm được hay thu thập được từ
bên ngoài cũng chẳng quan trọng, cô ấy lưu giữ lại tất.
Đàn ông chẳng bao giờ quan tâm tới việc để
dành. Anh ta kiếm sống, và tại đó vấn đề kết thúc; anh ta không còn quan tâm
nữa. Anh ta háo hức và lo âu chừng nào anh ta còn đang tranh đấu với thế giới,
thách thức thế giới; chú ý của anh ta bao giờ cũng hướng về chỗ khác để chinh
phục. Bất kì cái gì anh ta đem về, có ai đó khác chăm nom nó tất cả, cất giữ nó
tất cả, và từng thứ này đều có chỗ riêng của nó, giá trị riêng của nó. Cô ấy là
phần bổ sung cho toàn bộ tình huống, nhưng khi cô ấy không đi kiếm sống, khi cô
ấy không tích luỹ, khi cô ấy không sáng tạo, với cô ấy dường như là bị tụt lại
sau. Cảm giác này đi vào thậm chí từng điều rất nhỏ bé, và ở mọi nơi cô ấy bắt
đầu cảm thấy cảm giác thấp kém mà hoàn toàn vô căn cứ.
Sự thấp kém này đưa lại kết quả tai hại. Chừng
nào mà người đàn bà còn chưa được giáo dục, cô ấy còn chịu đựng sự thấp kém
này, nhưng bây giờ, cô ấy không. Để phá vỡ cảm giác thấp kém này cô ấy đã đi
làm đích xác những điều đàn ông làm. Điều này sẽ chứng tỏ điều rất bất lợi cho
cô ấy. Cô ấy có thể vi phạm vào nhân cách cơ bản của mình, và điều này có thể
có kết quả phá huỷ sâu bên trong tâm lí cô ấy. Bây giờ cô ấy muốn ở cùng cấp
bậc với đàn ông, nhưng cô ấy không thể nào giống như đàn ông hoàn toàn được. Cô
ấy sẽ chỉ thành công trong việc làm cho bản thân mình thành đàn ông hạng hai;
cô ấy không thể nào là đàn ông hạng một được. Cô ấy có thể, nếu cô ấy chọn, làm
cho bản thân mình thành hạng nhất trong giới đàn bà của mình.
Không có đánh giá nào trong việc này cả, nhưng
đây là những sự kiện về bốn thể này; đó là điều tôi muốn nói.
Trong trường hợp đó, phải có khác biệt trong
thực hành tâm linh cho đàn ông và đàn bà.
Sẽ có khác biệt, và điều đó sẽ không phải là
trong thực hành tâm linh nhiều như trong trạng thái của tâm trí. Chẳng hạn, khi
phương pháp là một và duy nhất, ngay cả thế thì người đàn ông cũng vẫn hăng hái
đi vào nó, trong khi đàn bà sẽ đi vào nó theo cách thụ động. Đàn ông sẽ tấn
công, đàn bà sẽ buông xuôi. Phương pháp sẽ là một nhưng thái độ sẽ khác. Khi
người đàn ông đi vào thực hành tâm linh, anh ta nắm lấy cổ nó, nói đại thể như
vậy, nhưng khi đàn bà bắt đầu thực hành tâm linh, cô ấy sẽ gục đầu vào chân nó.
Khác biệt này về thái độ là tự nhiên và không
có khác biệt nào nữa giữa hai người hơn điều này. Thái độ của đàn bà sẽ là thái
độ của buông xuôi: khi cô ấy đạt tới, cô ấy sẽ không nói rằng cô ấy đã đạt tới
Thượng đế; thay vì thế thì cô ấy sẽ nói rằng cô ấy có may là Thượng đế đã đưa
cô ấy vào trong ngài. Khi đàn ông đạt tới điều tối thượng, anh ta sẽ không nói
rằng Thượng đế đã đưa anh ta vào; anh ta cảm thấy rằng anh ta đã đạt tới Thượng
đế. Khác biệt là ở trong cách hiểu của họ. Khác biệt này nhất định là như vậy,
nhưng chỉ cho tới thể thứ tư. Sau đó, không có vấn đề về nam và nữ nữa.
Thầy đã nói rằng việc thực hành tụng aum cũng
đem lại nada, âm thanh bên trong. Liệu điều đó có tới một cách tự phát hay
không? Đâu là nada đúng đắn?
Nếu nó tới một cách tự phát thì có giá trị hơn
nhiều. Nếu nó tới với việc lẩm nhẩm aum, nó có thể là tưởng tượng. Cái tới theo
ý riêng của nó mới là chân thực, có giá trị. Nếu nada bắt đầu, bạn nên trở
thành nhân chứng. Đừng bị hội nhập vào trong nó, bởi vì đó là trạng thái của
bình diện thứ bẩy. Nếu bạn định mất đi trong nada trước khi đạt tới bình diện
thứ bẩy, bạn sẽ dừng lại ở đó; nó sẽ hành động như cái phanh.
Khi những âm thanh bên trong này trở thành
ngày càng tinh tế hơn, việc chứng kiến của chúng ta nữa cũng sẽ phải trở thành
ngày càng tinh tế hơn. Chúng ta sẽ phải tiếp tục quan sát tới cùng, khi âm
thanh hoàn toàn mất đi.
Tại bình diện nào shaktipat xảy ra cho thiền
nhân và tại bình diện nào ân huệ xảy ra? Nếu các thể thứ nhất, thứ hai và thứ
ba của thiền nhân còn chưa phát triển đầy đủ, shaktipat và sự thức tỉnh của
kundalini sẽ có tác động gì?
Tôi đã nói với bạn rằng shaktipat xảy ra trong
thể thứ nhất và ân huệ, ở thể thứ tư. Nếu shaktipat xảy ra trong thể thứ nhất
và kundalini chưa thức tỉnh, nó sẽ thức tỉnh - và với tốc độ rất lớn. Thế thì
chúng ta sẽ phải rất cẩn thận, bởi vì với shaktipat điều thường xảy ra trong
quá trình nhiều tháng sẽ xảy ra trong vài giây. Do đó, trước shaktipat nên có
chuẩn bị sâu sắc cho ba thể đầu. Shaktipat bất thần trên một người không được
chuẩn bị gì cả, trên bất kì Tom, Dick hay Harry, đều có thể có hại. Do đó, chút
ít chuẩn bị là cần thiết trước shaktipat. Không cần phải chuẩn bị phức tạp; chỉ
đem ba thể vào hội tụ là đủ. Đó là điều thứ nhất.
Điều tiếp là ở chỗ phải có đường nối giữa ba
thể này để cho năng lượng không bị cản trở tại bất kì đâu cả. Nếu shaktipat bị
mắc ở bình diện thứ nhất, có thể sẽ nguy hiểm. Nếu nó dàn trải khắp ba bình
diện, sẽ không có hại. Nếu nó dừng lại tại bình diện thứ nhất, sẽ rất hại.
Cũng giống như bạn bị giật điện khi đang đứng
trên đất: thế thì điều này là có hại. Nhưng nếu bạn đang đứng trên một khung
gỗ, sẽ hoàn toàn an toàn: thế thì dòng điện đi qua thân thể bạn và tạo thành
một mạch. Nếu mạch này được tạo thành, không có nguy hiểm. Nó chỉ nguy hiểm nếu
mạch này bị ngắt. Tất cả năng lượng đều chảy theo cùng một qui tắc: chúng đi
theo vòng tròn. Nếu mạch bị ngắt ở giữa, bạn sẽ bị giật. Cho nên nếu bạn đứng
trên gỗ, bạn không thể bị giật được.
Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng việc dùng nền
gỗ cho thiền không có mục đích nào khác hơn sự kiện là chúng là vật cách điện.
Da hươu và da báo đã được sử dụng với cùng lí do: để cho năng lượng được thoát
ra bởi việc thiền sẽ không gây ra sốc. Cho nên những chất không dẫn điện này đã
được dùng làm chỗ ngồi. Người ta có thể bị chết bởi sốc điện này. Do đó, thiền
nhân đi guốc gỗ và ngủ trên tấm phản gỗ. Người đó có thể không biết tại sao
mình đã làm tất cả những điều này; người đó đơn thuần tuân theo các qui tắc đã
được kinh sách đặt ra. Có lẽ thiền nhân thực hành điều này nghĩ rằng mình đang
hành hạ thân thể để cho thân thể không được có bất kì thoải mái nào. Đây không
phải là lí do. Mối nguy hiểm là hoàn toàn khác. Vào bất kì lúc nào biến cố cũng
có thể xảy ra bên trong thiền nhân từ bất kì nguồn nào không được biết tới.
Người này phải được chuẩn bị chu đáo.
Nếu việc chuẩn bị của người đó cho ba thể đầu
được hoàn tất, năng lượng người đó nhận được sẽ tạo thành một mạch bên trong
người đó. Nếu người đó không sẵn sàng và năng lượng bị cản trở tại ngay chính
thể thứ nhất, điều đó là có hại. Do đó, việc chuẩn bị tối thiểu này là cần
thiết để cho thiền nhân có khả năng tạo nên một mạch. Việc chuẩn bị này là dễ
dàng và không lâu. Nó không khó khăn chút nào.
Cho nên shaktipat có thể được dùng với mức độ
nào đó để có thoáng nhìn về điều thiêng liêng; nhưng việc chuẩn bị sơ bộ là cần
thiết, bằng không, sẽ có hại cho người thường không được chuẩn bị.
Kundalini dâng lên với cường độ lớn qua
shaktipat, nhưng nó chỉ có thể đi lên tới thể thứ tư. Tuy nhiên, thoáng nhìn
như vậy cũng đã quá đủ. Cuộc hành trình sau đó, hoàn toàn là cá nhân. Nếu một
tia chớp sáng trong đêm tối hé lộ ra một chút ít về con đường cho bạn, nó cũng
là quá đủ. Một khi con đường đã được thấy, mọi thứ đều thay đổi. Thế thì bạn sẽ
không còn là con người cũ như bạn trước đây nữa. Vậy, shaktipat có thể được
dùng để thấy một chút ít về khoảng cách nằm phía trước mặt. Tuy nhiên việc
chuẩn bị ban đầu là cần thiết. Nếu trao trực tiếp nó cho quần chúng, nó có thể
có hại.
Và điều đáng ngạc nhiên nhất là ở chỗ chính
quần chúng là người bao giờ cũng tìm kiếm shaktipat và những điều như vậy.
Người bình thường muốn được cái gì đó không mất công sức - nhưng chẳng cái gì
thu được mà không mất công sức cả. Nhiều lần chúng ta đi tới nhận ra về sau là
món quà cho không đắt làm sao. Bạn chớ bao giờ cố gắng để có được cái gì cho
không. Chúng ta bao giờ cũng nên sẵn sàng trả đúng giá. Thực tế, chúng ta càng
biểu lộ sự sẵn sàng của mình để trả giá, chúng ta càng trở nên đáng giá hơn.
Chúng ta trả giá lớn nhất là bởi nỗ lực của mình cho sự trưởng thành tâm linh.
Hai hôm trước đây một bà tới gặp tôi và nói,
"Tôi đã tiến bộ nhiều trong những năm qua và tôi sắp chết. Khi nào tôi đạt
tới chứng ngộ? Xin thầy khẩn trương và làm điều gì đó bằng không, tôi chết
mất." Tôi bảo bà ấy tới thiền trong vài ngày; thế rồi chúng tôi sẽ xem cần
phải làm gì.
Bà ấy nói, "Tôi không muốn bị phiền hà
với thiền. Xin thầy làm điều gì đó để cho tôi có thể đạt tới chứng ngộ."
Bây giờ bà này đang tìm kiếm để được cái gì đó
mà không phải trả giá cho nó. Tìm kiếm như thế là nguy hiểm. Bạn chẳng thu được
cái gì về nó cả; ngược lại bạn lại còn bị mất. Thiền nhân không nên nuôi dưỡng
những mong đợi như thế. Người ta nhận cái mà người ta sẵn sàng vì nó. Bạn nên
tin rằng điều này là như vậy.
Thực tế, người ta chưa bao giờ nhận được ít
hơn cái mà mình xứng đáng. Đây là luật của sự tồn tại, nó là luật vũ trụ. Bạn
nhận được những cái mà bạn đã chuẩn bị cho nó, và nếu bạn không nhận được thế
thì biết rằng đấy không phải là bất công đâu; thay vì thế thì bạn còn thiếu sự
chuẩn bị đấy. Nhưng tâm trí chúng ta bao giờ cũng ru ngủ chúng ta trong niềm
tin rằng bất công đang dồn vào ta. Chúng ta bao giờ cũng rất chắc chắn về giá
trị của riêng mình và phàn nàn chê bai sự tồn tại.
Chúng ta bao giờ cũng nhận được cái tương xứng
với sự xứng đáng của riêng ta. Sự xứng đáng và việc đạt tới là hai tên cho cùng
một điều. Nhưng tâm trí trông đợi rất nhiều và cố gắng rất ít. Có lỗ hổng lớn
giữa trông đợi của chúng ta và nỗ lực của chúng ta. Lỗ hổng này là rất thất
sách. Nó có thể rất tai hại. Bởi vì điều này mà chúng ta cứ lang thang đây đó
trong hi vọng có được cái gì đó ở đâu đó. Thế thì khi số người như vậy tăng
lên, điều chắc chắn là một người láu cá nào đó sẽ tiến tới khai thác họ. Người
đó sẽ đưa ra cho họ cái mà họ đang tìm kiếm mà chẳng phải mất công. Một người
như vậy khó mà biết được cái gì. Người đó đem đến công thức nào đó từ đâu đó mà
với công thức đó người đó có thể làm việc trên họ, và mặc dù hiệu quả của nó
không sâu sắc cho lắm, nó vẫn cứ có thể có hại.
Chẳng hạn, ta hãy lấy một người chẳng có tri
thức gì về shaktipat: người này nữa cũng có thể thực hành một chút ít shaktipat
với sự trợ giúp của từ trường thân thể. Nhưng người này không có tri thức gì về
sáu thể khác bên trong. Thân thể có lực từ trường riêng của nó. Nếu việc thu
xếp được tiến hành qua tình huống nào đó, người đó có thể làm cho bạn nhận
những cú sốc qua từ trường đó. Đây là lí do tại sao thiền nhân trong thời cổ
đại lại cẩn thận về hướng của đầu khi ngủ. Người đó sẽ không để đầu theo một
hướng nào đó hay để chân theo một hướng nào đó.
Trái đất có lực từ trường của riêng nó và
thiền nhân, bao giờ cũng được nhắc nhở nên sắp thẳng đúng với từ trường này để
cho người đó thường xuyên được thấm từ trường. Nếu bạn ngủ làm thành góc với
lực này, từ trường thân thể bạn sẽ trở nên ít đi. Nếu bạn nằm theo hướng luồng
từ trường, lực mà trái đất tạo ra từ trường của nó và lực tạo nên trục của trái
đất cũng sẽ làm nhiễm từ thân thể bạn thành thỏi nam châm. Nó rót đầy thân thể
bạn với lực từ trường theo cùng cách như một mẩu sắt bị nhiễm từ bởi việc đặt
nó phía trước thanh nan châm. Sau khi trở nên được nhiễm từ, nó sẽ bắt đầu hút
những vật nhỏ như đinh ghim và kim.
Cho nên thân thể có lực từ trường riêng của
nó. Nếu nó có thể được sắp thẳng đúng với lực từ trường của trái đất, sẽ rất có
ích lợi. Các ngôi sao nữa cũng có lực từ trường. Vào những cơ hội đặc biệt nào
đó mà một số ngôi sao có từ trường đặc biệt. Điều này có thể được kiểm chứng;
chúng ta có tất cả những thông tin cần thiết. Cho nên nếu bạn đang ở một trạng
thái đặc biệt, ngồi trong một tư thế đặc biệt vào một khoảnh khắc đặc biệt, một
ngôi sao đặc biệt sẽ làm cho thân thể bạn trở thành được đặc biệt nhiễm từ. Thế
thì bạn có thể gây sốc từ cho bất kì ai và họ có thể coi đó là shaktipat. Nhưng
đấy không phải là shaktipat. Thân thể có điện của riêng nó. Nếu điện này được
tạo ra theo cách đúng đắn, bạn có thể thắp sáng bóng đèn năm tới mười oát chỉ
đơn thuần bằng cách nắm nó trong tay bạn. Những thực nghiệm này đã thành công.
Có những người chỉ nắm bóng điện trong lòng bàn tay và nó sáng lên. Nhưng năng
lượng bên trong thân thể còn nhiều vô hạn.
Hai mươi năm trước đây một đàn bà ở Bỉ trở nên
được nạp điện một cách bất ngờ. Không ai dám chạm vào bà ấy; bất kì ai chạm vào
đều bị giật. Chồng bà ấy xin li dị, và lí do được nêu ra là ở chỗ ông ấy bị
giật điện bất kì khi nào ông ấy chạm vào bà ấy. Việc li dị đã tạo ra xúc động
trên khắp thế giới. Sau nhiều lần thử nghiệm người ta mới phát hiện ra là thân
thể bà ấy đã bắt đầu tạo ra điện dư thừa. Thân thể có nhiều pin. Nếu chúng làm
việc theo trật tự, chúng ta không cảm thấy gì. Nếu trật tự này bị rối loạn, rất
nhiều năng lượng được tạo ra - thoát ra.
Bạn lấy năng lượng từ thức ăn bạn ăn và năng
lượng này nạp điện cho pin trong thân thể bạn. Do đó, nhiều lần bạn cảm thấy
cần nạp điện lại cho pin. Con người mệt mỏi và kiệt sức vào buổi tối. Việc nghỉ
ngơi ban đêm ngon lành nạp điện lại cho người đó. Tuy nhiên người đó không biết
cái gì nạp điện lại cho mình trong giấc ngủ. Trong giấc ngủ một số lực nào đó
làm việc trên người đó. Nhiều nghiên cứu tâm lí đã được tiến hành và chúng ta
biết loại lực nào làm việc trên người đó vào lúc ngủ. Nếu một người muốn, người
đó có thể tận dụng ưu thế của những thế lực này trong trạng thái tỉnh thức. Thế
thì người đó có khả năng gây cho bạn cú sốc năng lượng mà thậm chí không phải
là từ trường mà chỉ là điện thân thể. Bạn có thể lầm lẫn điều này là shaktipat.
Có nhiều cách thức khác của shaktipat giả mà
cũng là sai lầm tương đương. Chúng chẳng có cách nào để nối với việc truyền
thực tại năng lượng thiêng liêng. Nếu một người không có tri thức gì về từ
trường thân thể, về điện thân thể, nhưng người đó biết bí mật của việc phá vỡ
mạch điện trong thân thể bạn, thế thì người đó cũng có thể gây sốc năng lượng
cho bạn nữa. Có nhiều cách để phá vỡ mạch điện của thân thể bạn, và khi điều
này bị rối loạn, bạn nhận thấy cơn sốc. Chẳng có gì từ người khác tới bạn nhưng
bạn vẫn cảm thấy cái sốc. Đấy là cái sốc của điện thân thể riêng bạn bị rối
loạn đấy thôi.
Tôi không thể nói cho bạn mọi điều thật chi
tiết vì làm như vậy là không đúng. Tất cả những gì tôi nói đều không đầy đủ.
Thậm chí những phương pháp sai mà tôi nói tới, cũng không được mô tả đầy đủ,
bởi vì việc nói đầy đủ và mở rộng về chúng là rất nguy hiểm vì thế thì sẽ có ý
định thử chúng xem sao. Tính tò mò của chúng ta rất nông cạn. Một nhà huyền môn
đã nói tới tính tò mò như tội lỗi: chỉ có một tội lỗi trong con người - tội lỗi
về tò mò. Con người không có tội lỗi nào khác. Con người phạm biết bao nhiêu
tội lỗi toàn là vì tính tò mò. Chúng ta không nhận biết về điều này, nhưng
chính tính tò mò làm cho con người phạm vào nhiều tội ác.
Có một câu chuyện trong Kinh thánh nói rằng
Thượng đế bảo Adam được ăn tất cả quả trên mọi cây chỉ trừ mỗi một quả. Sự tò
mò vể quả này đẩy Adam vào khó khăn. Tội lỗi nguyên thuỷ là tội lỗi tò mò - và
Adam thấy mình lâm vào cảnh rắc rối. Bí mật là gì thế nhỉ? Trong khu rừng rộng
lớn thế với bao nhiêu quả cây ngon lành, có gì đặc biệt với quả của cái cây
trông bình thường thế kia. Nhưng cây này bắt đầu có ý nghĩa với Adam, tất cả
các cây còn lại trở thành vô nghĩa. Tâm trí Adam vơ vẩn quanh cây này chừng nào
còn chưa được nếm quả cấm. Tò mò gợi ý cái tốt hơn cho Adam, và Ki tô giáo nói
rằng đây là tội lỗi nguyên thuỷ mà loài người phạm phải. Bây giờ, tội lỗi gì có
thể có đấy trong việc nếm thử một quả nào đó? Tội lỗi nguyên thuỷ là tính tò mò
của Adam.
Tâm trí chúng ta bị chất đầy với tò mò - nhưng
hiếm khi nó điều tra về điều đó. Việc điều tra xảy ra trong người đã trưởng
thành vượt ra ngoài tính tò mò. Nhớ lấy, có khác biệt cơ bản giữa tò mò và điều
tra. Người tò mò không bao giờ điều tra; người đó chỉ tràn đầy với tò mò về mọi
thứ và không thấy một thứ trong cái toàn bộ của nó. Người đó khó mà nhìn qua
một thứ khi mười thứ khác thu hút sự chú ý của người đó. Thế thì người đó chẳng
bao giờ có thể điều tra được.
Những phương pháp sai lầm mà tôi đã nói tới
đều không đầy đủ. Một số phần quan trọng của những phương pháp này đã bị lược
bỏ có chủ ý. Cần phải làm như vậy bởi vì tâm trí chúng ta dỗ ngon ngọt chúng ta
với tính tò mò để thử chúng xem sao. Chẳng khó khăn gì trong việc thực hiện
những thực nghiệm này. Khi người tìm kiếm sai đi vào việc tìm kiếm quyền năng,
vào việc tìm kiếm Thượng đế, họ gặp những người ban phát quyền năng giả nữa.
Thế thì cũng giống như kẻ đui dẫn người mù. Người lãnh đạo mù, nhất định ngã và
thế là cả đoàn dài những người mù đi sau người đó cũng ngã theo. Thế thì cái
hại được thực hiện không chỉ cho kiếp này mà nhiều kiếp khác. Phá một vật thì
dễ nhưng rất khó để đặt nó đúng lại.
Cho nên bạn đừng thử theo khía cạnh này để
nghiên cứu từ tính tò mò. Tự chuẩn bị bản thân mình theo hướng đúng. Thế thì
cái cần cho bạn sẽ tới trên con đường của bạn; nó chắc chắn sẽ tới.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment