Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 5)
Chương
1. Thế giới đang cháy
Thế
giới đang cháy:
Và
ông cười sao?
Ông
đang ở sâu trong bóng tối.
Ông
không hỏi về ánh sáng sao?
Để
thấy thân thể ông -
Con
rối được tô vẽ, một đồ chơi,
được
chắp nối và ốm yếu và đầy tưởng tượng giả, cái bóng thay đổi và nhạt nhoà đi.
Nó
ẻo lả làm sao!
Ẻo
lả và độc hại,
Nó
ốm yếu, thối rữa và chết như mọi vật sống
đến
cuối cùng nó ốm và chết.
Nhìn
những bộ xương trắng này,
bộ
khung và cái vỏ hổng của mùa hè chết và ông cười sao?
Ông
là ngôi nhà bằng xương, thịt và máu bó lại.
Kiêu
căng sống trong ông,
và
đạo đức giả, suy tàn và chết.
Chiếc
xe lộng lẫy của vua tan tành, cũng vậy thân thể biến thành cát bụi.
Nhưng
linh hồn của thuần khiết là không đổi
và
do vậy cái thuần khiết truyền lại cái thuần khiết.
Người
dốt nát là con bò đực.
Người
đó lớn về kích thước, không lớn về trí huệ.
Câu
hỏi nền tảng nhất trước Phật Gautama là, "Trí huệ là gì?" Và cùng câu
hỏi đó cũng đúng cho mọi người. Qua nhiều thời đại các hiền nhân đều đã từng hỏi,
"Trí huệ là gì?" Nếu nó có thể được bạn trả lời, được bắt rễ đích thực
vào kinh nghiệm riêng của bạn, nó đem tới biến đổi cuộc sống.
Bạn
có thể lặp lại các định nghĩa về trí huệ do người khác trao cho, nhưng chúng sẽ
không giúp ích cho bạn đâu. Bạn sẽ lặp lại chúng mà không hiểu chúng, và đó là
một trong những ngõ cụt cần được tránh trên đường. Đừng bao giờ lặp lại điều bạn
đã không đích thân kinh nghiệm. Tránh tri thức, chỉ thế thì bạn mới có thể trưởng
thành trong trí huệ.
Tri
thức là cái gì đó được vay mượn từ người khác, trí huệ phát triển trong bạn.
Trí huệ là cái bên trong, tri thức là cái bên ngoài. Tri thức tới từ bên ngoài,
bám vào bề ngoài của bạn, cho bạn kiêu căng lớn và giữ cho bạn bị đóng lại, xa,
xa xôi với hiểu biết. Hiểu biết không thể được nghiên cứu; không ai có thể dạy
nó cho bạn được. Bạn phải là ánh sáng lên bản thân mình. Bạn phải tìm và kiếm
bên trong bản thể riêng của mình, bởi vì nó đã ở đó tại chính cốt lõi. Nếu bạn
chìm sâu bạn sẽ thấy nó. Bạn sẽ phải học cách chìm vào bên trong bản thân mình
- không trong kinh sách, mà bên trong sự tồn tại riêng của bạn.
Hưong
vị của sự tồn tại riêng của bạn là trí huệ.
Trí
huệ là kinh nghiệm, không phải là thông tin.
Phật
đã từ bỏ thế giới; điều đó được tường thuật lại trong mọi kinh sách, nhưng bản
tường thuật này không được nêu ra trong hoàn cảnh đúng. Tương truyền là Phật đã
từ bỏ thế giới bởi vì ông ấy chống lại thế giới - bởi vì chừng nào bạn còn chưa
từ bỏ thế giới này bạn không thể thu được cái vĩnh hằng, thế giới kia, bờ bên
kia. Điều này cho việc diễn giải sai toàn bộ về từ bỏ lớn lao của Phật.
Ông
ấy chắc chắn đã từ bỏ thế giới này, nhưng không thu lấy cái gì ở thế giới kia.
Nếu có bất kì động cơ nào trong việc từ bỏ của bạn, nó không đủ triệt để, nó
không phải là cách mạng. Nó lại là cùng trò cũ, cùng tâm trí mặc cả cũ; nó dựa
trên ham muốn và ham muốn là thế giới. Thế giới không chứa sự vật, thế giới chứa
động cơ, ham muốn, tham vọng.
Nếu
bạn từ bỏ thế giới để được cái gì đó, dù nó là bất kì cái gì - niết bàn, chứng
ngộ, moksha, tự do, chân lí hay Thượng đế, dù nó là bất kì cái gì - nếu bạn từ
bỏ thế giới để được cái gì đó, đấy không phải là từ bỏ.
Do
đó tôi sẽ không nói rằng Phật từ bỏ thế giới để đạt tới cái gì đó. Chính ý niệm
về đạt tới cái gì đó là thế giới. Chính ý niệm đạt tới cái gì đó là sống trong
tưởng tượng, là sống trong tương lai. Và con người của hiểu biết sống trong hiện
tại, không trong tương lai. Con người của hiểu biết không thực sự từ bỏ thế giới
- thế giới đơn giản rơi khỏi người đó, thế giới đơn giản trở thành không liên
quan; nó mất nghĩa. Sáng suốt của ông ấy lên tới mức ông ấy có thể thấy thấu suốt
qua giả dối của mọi ham muốn - không để đạt tới cái gì đó, mà thấy cái vô tích
sự của ham muốn, ham muốn dừng lại. Đó là từ bỏ đúng.
Đó
là điều Phật đã làm. Thực ra nói ông ấy đã làm là không đúng. Ngôn ngữ tạo ra
nhiều vấn đề thế. Khi bạn bắt đầu nói về chư phật, ngôn ngữ là phương tiện
không thích hợp; nó trở thành rất không thích hợp. Nói Phật từ bỏ thế giới là
không đích xác sự thật. Sẽ tốt hơn nếu chúng ta nói thế giới biến mất khỏi cách
nhìn của ông ấy. Đó không phải là hành động mà là việc xảy ra.
Khi
ông ấy trở nên nhận biết, tỉnh táo, quan sát, một nhân chứng, khi ông ấy thấy
cái ngớ ngẩn của ham muốn, ham muốn dừng lại theo cách riêng của nó. Đó không
phải là hành động. Làm sao bạn có thể cứ ham muốn nếu bạn thấy ra cái ngớ ngẩn
của nó? Bạn sẽ không cố gắng đi qua tường. Thấy rằng đó là tường, bạn sẽ không
cố gắng đi qua nó. Nếu bạn vẫn cố gắng đi qua tường, đập mạnh nó bằng đầu bạn,
điều đó đơn giản chỉ ra mắt bạn nhắm. Và bạn không thấy nó là bức tường - ở đâu
đó bạn đang tưởng tượng rằng nó là cửa. Bạn hi vọng đi qua nó. Khoảnh khắc bạn
thấy nó là tường, biến đổi đã xảy ra.
Hiểu
là đủ - không cần thực hành nó. Mọi người thực hành chỉ bởi vì họ không hiểu.
Nhiều
người tới tôi và hỏi, "Xin cho chúng tôi kỉ luật nào đó để thực
hành." Trong hàng thế kỉ họ đã cho các kỉ luật để thực hành. Tôi không cho
bạn kỉ luật nào - bởi vì bạn có thể thực hành kỉ luật, bạn có thể trở nên rất
khéo léo, bạn có thể trở nên rất điêu luyện, lắm mánh khoé; dầu vậy sâu bên dưới
bạn sẽ vẫn còn là cùng người đó, bởi vì vấn đề không phải là thực hành kỉ luật.
Vấn
đề là thấy, vấn đề là hiểu cuộc sống của bạn, những động cơ vô ý thức của nó. Vấn
đề là hiểu bóng tối mà trong đó bạn đang sống. Và phép màu là ở chỗ nếu bạn có
thể hiểu bóng tối trong đó bạn đang sống, bỗng nhiên có ánh sáng, bởi vì hiểu
biết là ánh sáng.
Phật
đã bị hiểu lầm rất nhiều, không chỉ bởi kẻ thù của ông ấy mà bởi cả bạn bè của
ông ấy nữa - thực ra bị hiểu lầm bởi bạn bè nhiều hơn là bởi kẻ thù. Kẻ thù có
thể được tha thứ, nhưng bạn bè không thể được tha thứ.
Hàng
triệu người đã theo ông ấy trong hai mươi nhăm thế kỉ với hiểu biết sai. Chính
bước đầu tiên của họ là sai. Sư Phật giáo đã không có khả năng hiểu được điều
Phật đang thực sự trỏ tới. Ông ta đã hoàn toàn quên mất mặt trăng mà ngón tay của
Phật đang chỉ tới. Ông ta níu bám lấy ngón tay, ông ta tôn thờ ngón tay, ông ta
bị ám ảnh bởi ngón tay. Ông ta đã hoàn toàn quên mất rằng ngón tay chỉ là
phương tiện trỏ tới trăng. Quên ngón tay đi và nhìn lên trăng. Bạn không thể
nhìn được vào trăng nếu bạn không thể quên ngón tay.
Hàng
nghìn và hàng nghìn lời bình luận đã được viết ra về những lời kinh tuyệt vời
này. Nhưng nếu bước đầu tiên mà sai thế thì mọi thứ sẽ đi sai. Bước sai đầu
tiên mà tất cả các lời bình luận đã lấy là nói rằng Phật từ bỏ thế giới. Điều
đó không đúng. Thế giới đơn giản suy sụp đi; nó thôi có bất kì nghĩa nào cho
ông ấy.
Cái
đêm ông ấy bỏ đi khỏi cung điện để lên núi, khi ông ấy đi qua biên giới vương
quốc mình, người đánh xe của ông ấy cố gắng thuyết phục ông ấy, cố gắng khuyên
bảo ông ấy quay về cung điện.
Người
đánh xe này là một ông già, ông ấy đã biết Phật từ chính thời thơ ấu; ông ấy gần
như cùng tuổi với bố của Phật. Ông ấy nói, "Hoàng tử làm gì vậy? Điều này
là cực kì điên khùng. Hoàng tử điên hay thế nào không đấy? Nhìn lại mà
xem!"
Lúc
đó là đêm trăng tròn và cung điện đá cẩm thạch của ông ấy trông đẹp thế. Trong
ánh trăng tròn nhìn đá cẩm thạch trắng của cung điện thật là vui. Mọi người hay
tới từ chỗ xa xa để có thoáng nhìn về cung điện của Phật trong đêm trăng tròn,
cũng như mọi người tới xem Taj Mahal. Đá cẩm thạch trắng có cái đẹp vô biên vào
lúc trăng tròn. Có cái gì đó đồng bộ giữa trăng tròn và đá cẩm thạch trắng, hài
hoà nào đó, nhịp điệu, giao cảm.
Người
đánh xe nói, "Ít nhất hoàng tử nên nhìn lại sau về cung điện đẹp đẽ của
mình. Không ai có cung điện đẹp thế đâu."
Phật
nhìn lại và nói với ông già này, "Ta không thấy cung điện nào ở đó cả mà chỉ
thấy đám cháy lớn. Cung điện đang bốc chát, chỉ toàn lửa. Đơn giản để ta đi và
ông quay về đi; nếu ông thấy cung điện, quay về với cung điện đi. Ta không thấy
cung điện nào ở đó cả - bởi vì cái chết đang tới mọi khoảnh khắc, và ta không
thấy cung điện nào ở đó bởi vì mọi cung điện đều sẽ biến mất sớm hay muộn.
Trong thế giới này mọi thứ đều nhất thời và ta đang đi tìm cái vĩnh hằng. Khi
thấy ra cái nhất thời của thế giới này ta không còn tự lừa mình được nữa."
Đây
đích xác là lời của ông ấy, "Ta không thể tự lừa mình được thêm nữa."
Không
phải là ông ấy từ bỏ thế giới đâu! Ông ấy có thể làm gì được? Nếu bạn thấy cái
gì đó như rác rưởi, nếu bạn thấy rằng đá cuội bạn đã mang theo mình không phải
là kim cương thực, bạn sẽ làm gì với chúng? Sẽ chẳng cần dũng cảm lớn lao nào để
vứt chúng đi, để ném chúng đi, sẽ chẳng cần thông minh lớn lao gì để gạt bỏ
chúng. Chúng sẽ lập tức rơi ra khỏi tay bạn. Bạn không níu bám lấy những hòn đá
cuội đó mà níu bám lấy ý niệm rằng chúng là kim cương. Bạn đã níu bám lấy lừa dối
của mình, ảo tưởng của mình.
Phật
đã không từ bỏ thế giới, ông ấy đã từ bỏ ảo tưởng của mình về nó. Và điều đó nữa
cũng là việc xảy ra, không phải là hành động. Khi từ bỏ tới như việc xảy ra nó
có cái đẹp vô cùng, bởi vì không có động cơ trong nó. Nó không phải là phương
triện để thu được cái gì đó khác. Nó là toàn bộ. Bạn được kết thúc với ham muốn,
bạn được kết thúc với tương lai, bạn được kết thúc với quyền lực, tiền bạc,
danh vọng, bởi vì bạn đã thấy cái vô tích sự của tất cả nó.
Thấy
là biến đổi. Nhớ điều này như điều rất nền tảng; thế thì những lời kinh này sẽ
có nghĩa khác toàn bộ cho bạn. Nghĩa phụ thuộc vào hoàn cảnh. Nếu bạn đặt những
lời kinh này vào hoàn cảnh sai chúng sẽ có nghĩa khác, và đó là điều đã xảy ra
cho Phật.
Tôi
nhắc lại: ông ấy đã bị hiểu lầm nhiều hơn bất kì ai khác trên thế giới. Và lí
do là ở chỗ ông ấy là một trong những thầy sâu sắc nhất trên thế giới. Sáng suốt
của ông ấy là sâu sắc tới mức nó nhất định bị hiểu lầm.
Jesus
nói với quần chúng thông thường bằng chyện ngụ ngôn, trong ngôn ngữ đơn giản.
Ông ấy không là triết gia; ông ấy không được giáo dục hay có văn hoá gì mấy.
Ông ấy là con của đất. Ông ấy đã làm việc trong nhiều năm với bố ông ấy là thợ
mộc - lấy gỗ từ rừng, chặt đẽo gỗ, giúp ông già này.
Phật
là loại người khác toàn bộ. Ông ấy không phải là con của cõi thế tục, ông ấy là
hoàng tử. Ông ấy chưa bao giờ trộn lẫn với đám đông, ông ấy không biết tới ngôn
ngữ của họ. Ông ấy nói ngôn ngữ chỉ có thể được hiểu bởi những người rất tinh tế.
Ông ấy đã cố gắng vất vả để đem nó xuống mức của đám đông, nhưng điều đó là gần
như không thể được. Và đó không phải chỉ là vấn đề của ngôn ngữ.
Jesus
nói về lời cầu nguyện, điều đơn giản dễ hiểu, bởi vì lời cầu nguyện mang tính
nhị nguyên và toàn thế giới này đều bao gồm các nhị nguyên. Lời cầu nguyện là
nhị nguyên bởi vì nó là đối thoại giữa bạn và Thượng đế tưởng tượng, nhưng dầu
vậy vẫn là đối thoại. Trong lời cầu nguyện bạn lại ham muốn, hỏi xin để được
tha thứ về những tội lỗi của bạn, để được thưởng. Lời cầu nguyện của bạn là đòi
hỏi; bạn là kẻ ăn xin khi bạn cầu nguyện. Và lời cầu nguyện dựa trên ý niệm về
Thượng đế, và Thượng đế không là gì ngoài việc phóng chiếu của tâm trí con người.
Thượng đế lấy người làm trung tâm. Kinh Thánh nói Thượng đế đã tạo ra con người
theo hình ảnh riêng của ngài. Chân lí chính là điều ngược lại: con người đã tạo
Thượng đế theo hình ảnh riêng của mình. Thượng đế của bạn đơn giản đại diện cho
bạn, tham vọng của bạn, lí tưởng của bạn. Thượng đế của bạn là phóng chiếu của
tâm trí bạn. Dễ nói về Thượng đế, và dễ được hiểu khi bạn nói về Thượng đế; dễ
nói về lời cầu nguyện, và dễ được hiểu khi bạn nói về lời cầu nguyện, bởi vì mọi
người đều sống ở bình diện đó.
Phật
nói về thiền, không về lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện không có chỗ trong cách
nhìn của ông ấy. Phật chưa bao giờ nói về Thượng đế bởi vì ông ấy biết hoàn
toàn rõ rằng Thượng đế đã được con người chế tạo ra từ sợ hay tham; rằng Thượng
đế là ham muốn lớn lao nhất của con người và chính vì Thượng đế mà con người vẫn
còn trong tù túng, chưa bao giờ trở thành ánh sáng lên chính mình, bao giờ cũng
vẫn còn là kẻ ăn xin, kẻ phụ thuộc, nô lệ.
Phật
muốn bạn trở thành hoàng đế, không phải là kẻ ăn xin. Ông ấy muốn bạn được tự
do khỏi mọi phóng chiếu - Thượng đế, thiên đường, thế giới bên kia, tất cả đều
được đưa vào trong phóng chiếu của bạn. Phật muốn bạn gạt bỏ bản thân tâm trí,
bởi vì đó là điều thiền tất cả là gì: việc đi vào trong thế giới của vô trí.
Đây là cái gì đó rất tinh tế, có chiều sâu mênh mông; nó không dễ để được hiểu.
Một
khi Phật qua rồi, hiểu lầm lớn nảy sinh quanh ông ấy. Ngày ông ấy chết các tín
đồ của ông ấy đã trở nên bị chia rẽ thành ba mươi sáu giáo phái. Và cái gì là
lí do cho chia rẽ của họ, và sao sớm thế? Lí do là ở chỗ mọi người đều cố gắng
áp đặt cách diễn giải của mình lên Phật, và tất nhiên tất cả họ đều có cách diễn
giải riêng của họ.
Tôi
không diễn giải Phật chút nào bởi vì tôi không phải là Phật tử, tôi không phải
là tín đồ. Tôi đã kinh nghiệm cùng chân lí như Phật Gautama, cho nên khi tôi
nói về Phật cứ dường như tôi đang nói về bản thân tôi vậy. Đó không phải là
bình luận, đó không phải là diễn giải. Phật chỉ là cái cớ để nói với các bạn,
cái cớ hay để trao đổi việc nhận ra của riêng tôi cho bạn. Để điều đó được nhớ
rằng đấy là kinh nghiệm của riêng tôi mà tôi đang nói tới. Tôi đang dùng Phật
như cái móc để treo hiểu biết và kinh nghiệm của riêng tôi lên. Và tôi yêu con
người này, tôi yêu vô cùng con người này, bởi vì không ai khác đã bao giờ chạm
tới những chiều sâu thế và chiều cao thế như Phật Gautama. Ông ấy vẫn còn là đỉnh
Everest, đỉnh cao nhất mà tâm thức con người đã từng đạt tới.
Phải
rất có tính thiền trong khi bạn nghe những lời kinh này; đó là cách duy nhất để
hiểu chúng. Không phân tích, không suy nghĩ, không tiếp cận logic, mà là lắng
nghe im lặng mang tính thiền, chỉ lắng nghe. Và chân lí có bí ẩn về nó: nếu bạn
có thể nghe một cách im lặng bạn sẽ thấy liệu nó là đúng hay không, nó sẽ là một
cách nhìn. Ngay lập tức. Nó sẽ đánh thẳng vào trái tim bạn nếu nó là chân lí,
cái gì đó sẽ bắt đầu rung động trong tim bạn, tim bạn sẽ lập tức đáp ứng. Đó
không phải là vấn đề của tâm trí.
Khi
bạn đang nghe mà có tính thiền bạn không nghe từ tâm trí chút nào. Tất nhiên lời
là rất cổ - hai mươi nhăm thế kỉ đã qua rồi - Phật nói trong ngôn ngữ của thời
ông ấy. Đừng bị ngôn ngữ lừa dối, đừng bị phân tán bởi ngôn ngữ của ông ấy. Điều
đó là tự nhiên bởi vì có lỗ hổng của hai mươi nhăm thế kỉ giữa bạn và ông ấy.
Ông ấy không thể nói ngôn ngữ mà bạn hiểu. Đó là lí do tại sao tôi lại nói về
ông ấy, với ông ấy - để cho bạn một phiên bản mới, phiên bản của thế kỉ hai
mươi về cùng một kinh nghiệm, về cùng một hiểu biết, cùng một biến đổi.
Lời
kinh thứ nhất:
Thế
giới đang cháy...
Phật
ngụ ý gì bởi cháy? Ông ấy ngụ ý đau khổ. Điều Soren Kierkegaard ngụ ý bởi đau
khổ, lo âu, thất vọng, khổ, đó là điều Phật ngụ ý bởi cháy. Nó là biểu tượng. Mọi
người đều đang bốc lửa bởi vì mọi người đều bị phân chia, chia chẻ, tinh thần
phân liệt. Mọi người đều đang cháy bởi vì có lo âu lớn lao trong thế giới này;
lo về "liệu mình sẽ làm nó lần này hay không." Có đau khổ lớn lao
trong mọi trái tim - đau khổ về không biết bản thân mình, đau khổ về không biết
chúng ta tới từ đâu và chúng ta sẽ đi đâu, và chúng ta là ai và cuộc sống này tất
cả là gì. Ý nghĩa của cuộc sống này là gì? - đây là đau khổ của chúng ra, khổ của
chúng ta.
Cuộc
sống dường như vô tích sự thế, hoàn toàn vô nghĩa thế, lặp lại máy móc. Bạn cứ
làm mãi cùng những thứ ấy lặp đi lặp lại - để làm gì? Đau khổ là ở chỗ con người
cảm thấy rất ngẫu nhiên, dường như chẳng có ý nghĩa gì cả. Và con người không
thể sống được nếu không kinh nghiệm ý nghĩa nào đó, nếu không kinh nghiệm rằng
mình đóng góp cái gì đó có nghĩa cho thế giới này, rằng mình được sự tồn tại cần
tới, rằng mình không phải là hiện tượng vô dụng, rằng mình không ngẫu nhiên, rằng
mình được cần tới, rằng mình đang hoàn thành điều gì đó cực kì có ý nghĩa. Chừng
nào người ta còn chưa đi tới cảm thấy điều đó, người ta vẫn còn đang trong cơn
cháy.
Các
nhà tư tưởng theo phái hiện sinh đã đưa ra nhiều từ nổi tiếng. Một trong các từ
đó là 'khổ não'; khổ não là nỗi khổ tâm linh. Không phải mọi người đều cảm thấy
nó; mọi người đờ đẫn thế, ngu xuẩn thế, tầm thường thế. Thế thì họ sẽ không cảm
thấy khổ não, họ sẽ cứ làm cùng những điều nhỏ bé trong cả đời họ và họ sẽ chết.
Họ sẽ sống và họ sẽ chết mà không biết cuộc sống thực sự là gì.
Thực
ra khi mọi người sắp chết họ trở nên nhận biết lần đầu tiên rằng họ đã từng sống;
trong tương phải với cái chết họ trở nên tỉnh táo: "Mình đã bỏ lỡ mất cơ hội
rồi." Đó là nỗi đau của cái chết. Nó chẳng liên quan trực tiếp gì tới cái
chết mà chỉ gián tiếp. Khi một người sắp chết người đó cảm thấy nỗi đau lớn
lao; nỗi đau chẳng liên quan gì tới cái chết. Nỗi đau là: "Mình đã sống và
bây giờ tất cả đều kết thúc và mình đã không thể làm được gì có nghĩa, mình đã
không sáng tạo, mình đã không ý thức, mình đã sống một cách máy móc, mình đã sống
như người mộng du, người vừa đi vừa ngủ."
Tâm
trí tầm thường cứ sống mà chẳng lo nghĩ. Người đó dường như hạnh phúc hơn người
thông minh; người đó cười, người đó đi tới câu lạc bộ và tới rạp chiếu phim,
người đó có cả nghìn lẻ một mối bận bịu, và người đó rất bận rộn mà chẳng có
công việc gì.
Bạn
càng thông minh, bạn càng nhạy cảm, bạn sẽ càng cảm thấy rằng cuộc sống này -
cách bạn đang sống nó - không phải là cách đúng, không phải là cuộc sống đúng;
cái gì đó sai trong nó.
Người
không thông minh sống như mẩu gỗ trôi dạt; người đó trở nên bận tâm nhiều tới
việc tham quan tới mức người đó quên mất tất cả về điều tối thượng, người đó
quên tất cả về mục đích, người đó quên tất cả về cuộc hành trình. Người đó trở
nên quá bị cuốn hút vào tham quan. Người đó tò mò nhưng tò mò của người đó là
thừa. Người đó chưa bao giờ truy vấn, bởi vì truy vấn cần dũng cảm, truy vấn là
mạo hiểm. Truy vấn nghĩa là bạn sẽ đối diện với những vấn đề lớn, bạn sẽ bắt gặp
những vấn đề tối thượng, và ai biết liệu bạn sẽ có khả năng giải được chúng hay
không? Người đó vẫn chỉ tò mò. Người tò mò là người ngu; tò mò của người đó giữ
người đó bận rộn, tính tò mò của người đó giữ người đó bị dính líu, cho nên người
đó chưa bao giờ trở nên nhận biết về các vấn đề thực.
Marty
và vợ anh ta ngồi ở quầy rượu của một khách sạn Chicago. Marty trỏ cô gái tóc
hung nổi bật đang ngồi ở đầu bên kia và nói, "Đó là gái mãi dâm."
"Em
không tin điều đó," Louise nói.
"Anh
sẽ chỉ cho em," Marty nói. Anh ta bước tới và tán chuyện với cô tóc hung -
năm phút sau họ đã trong phòng anh ta.
"Bao
nhiêu nào?" Marty hỏi. "Năm mươi đô."
"Tôi
trả cô hai mươi."
"Quên
chuyện đó đi," cô mãi dâm nói khi bước ra khỏi cửa.
Vài
phút sau Marty quay trở lại với vợ mình tại quầy. Cô gái gọi bước qua và vỗ vai
anh ta. "Anh thấy đấy," cô ta nói, "đó là cái anh kiếm được với
hai mươi đô la."
Người
ngu vẫn còn tò mò về những điều như vậy, về những người khác - ai là ai, và họ
chưa bao giờ hỏi, "Mình là ai?" Họ chưa bao giờ hỏi câu hỏi thực bởi
lẽ đơn giản là câu hỏi thực sẽ đưa họ vào cuộc hành trình gian nan. Họ có thể
phải vứt bỏ nhiều, nhiều thứ trên đường: định kiến của họ, ý thức hệ của họ,
triết lí của họ, tôn giáo của họ, nhà thờ của họ - bởi vì nếu bạn thực sự muốn
biết mình là ai, bạn phải vứt bỏ việc là người Ki tô giáo hay người Hindu hay
người Mô ha mét giáo, bạn phải vứt bỏ việc là người cộng sản hay phát xít. Nếu
bạn thực sự muốn biết mình là ai bạn phải quên đi tất cả về việc bạn là người
da trắng hay da đen, người Ấn Độ hay người Mĩ, người Trung Quốc hay Nhật Bản, bởi
vì đây chỉ là những thứ ngẫu nhiên. Chúng không cấu thành nên tinh tuý của bạn.
Linh
hồn của bạn không là người Ki tô giáo không là người Hindu không là người Mô ha
mét giáo; linh hồn của bạn thậm chí không nam hay nữ. Trung tâm bên trong nhất
của bạn ở bên ngoài tất cả các khái niệm. Tất cả những điều đã từng được nói
cho bạn, tất cả những điều đã trở thành căn cước của bạn, đều phải bị vứt bỏ.
Nêu ra câu hỏi thực nghĩa là trải qua cuộc khủng hoảng căn cước; bạn sẽ phải
quên đi tất cả về điều bạn nghĩ mình đang là.
Và
sẽ có đi tới một khoảng hở, một lỗ hổng khi bạn sẽ không biết mình là ai - và
đó là kinh nghiệm đau đớn.
Thiền
nhân nói: Trước khi người ta thiền, núi là núi và sông là sông. Khi người ta đi
sâu vào trong thiền, núi không còn là núi và sông không còn là sông. Đó là cuộc
khủng hoảng lớn khi núi không còn là núi và sông không còn là sông. Bạn đang trải
qua cuộc khủng hoảng căn cước. Cái cũ mất rồi và cái mới còn chưa được tìm thấy.
Bạn đã rời khỏi bờ cũ mà bờ mới thậm chí còn chưa thấy được. Và Thiền nhân nói:
Khi thiền là đầy đủ, khi ông đã đi vào trong vô trí, núi lại là núi và sông lại
là sông; tất nhiên trên một bình diện khác toàn bộ, nhưng mọi thứ lại là mọi thứ.
Mọi thứ lắng đọng lại, kết tinh lại, nhưng bây giờ với sự khác biệt.
Đầu
tiên người khác đã bảo bạn rằng núi là núi và sông là sông, bây giờ bạn biết -
và điều đó tạo ra khác biệt thực sự. Thông tin chưa bao giờ là biến đổi.
Phật
nói: Thế giới đang cháy! Người may mắn là người có thể hiểu được điều đó, không
chỉ về mặt trí tuệ mà về sự tồn tại. Bạn không thể thấy được cuộc sống của mình
chẳng là gì ngoài đau khổ sao? Bây giờ có hai cách để gạt bỏ đau khổ này, đám
cháy này; một là trở nên dấn sâu vào những điều vô nghĩa tới mức bạn có thể
quên đi đau khổ của mình, để cho đau khổ không thể ngóc đầu lên được bởi vì bạn
bận rộn thế: cả ngày bận rộn với tiền bạc, quyền lực, danh vọng, đuổi theo các
cái bóng, và khi bạn quay về nhà bạn hoàn toàn mệt mỏi tới mức bạn rơi vào giấc
ngủ. Và thế nữa bạn vẫn còn dính vào giấc mơ của mình. Mơ không là gì ngoài sự
phản chiếu ngày của bạn; cùng trò chơi tiếp tục trong giấc ngủ của bạn.
Mọi
người đi qua toàn thể các kiếp sống của mình theo cách này. Mọi người không thể
ngồi im lặng được cho dù là vài phút. Và toàn thể cách tiếp cận Phật giáo là ở
chỗ chừng nào bạn còn chưa có khả năng ngồi im lặng trong nhiều giờ cùng nhau,
không làm gì cả, chỉ hiện hữu, bạn sẽ không bao giờ biết tới mình là ai và bạn
sẽ không bao giờ vượt ra ngoài đau khổ của mình. Cho nên cách thứ nhất là trở
nên bận bịu, dính líu vào mọi thứ, dù nó là bất kì cái gì, mục đích duy nhất là
để bạn có thể giữ câu hỏi tối thượng về cuộc sống của mình bị kìm lại. Không có
thời gian.
Mọi
người tới tôi, tôi bảo họ thiền. Họ nói, "Nhưng chúng tôi không có thời
gian." Và những người này cũng là cùng những người đang ngồi hàng giờ
trong rạp chiếu phim và họ có thời gian. Và đây là cùng những người đi tới câu
lạc bộ Rotary và cứ làm những điều ngu xuẩn. Đây là cùng những người bạn sẽ thấy
trong khách sạn, trong trận đá bóng; đây là cùng những người sẽ chời bài và
chơi cờ, và nếu bạn hỏi họ thì họ sẽ nói, "Chúng tôi đang chơi chỉ để giết
thời gian." Thời gian đang giết bạn và bạn nghĩ bạn đang giết thời gian.
Không ai đã bao giờ có khả năng giết thời gian: thời gian giết mọi người.
Và
khi bạn bảo họ thiền thì câu trả lời ngay lập tức là, "Nhưng thời gian đâu
mà thiền?" Và không phải là họ đang nói điều đó một cách có ý thức đâu; đó
là phản ứng rất vô ý thức. Không phải là họ đang lừa, họ đang bị lừa. Không phải
là họ đang lừa bạn bằng việc nói, "Tôi không có thời gian," họ thực sự
cảm thấy, họ nghĩ, rằng họ không có thời gian nào cả.
Thế
giới đang cháy: Và ông cười sao?
Thế
giới đang cháy và bạn đang chơi bài sao?... và bạn đang chơi cờ sao? Thế giới
đang cháy và bạn đang đọc tiểu thuyết trinh thám sao? Thế giới đang cháy và bạn
đang buôn chuyện sao? Thế giới đang cháy và bạn đi xem phim sao? Và nhớ bạn là
thế giới mà Phật đang nói tới.
Nhưng
đôi khi điều đó xảy ra... Soren Kierkegaard có một chuyện ngụ ngôn hay. Ông ấy
nói: có lần trong rạp xiếc chuyện xảy ra là chiếc lều của rạp xiếc bắt đầu bốc
cháy. Ai đó có thể đã vứt mẩu thuốc là hay ... chẳng ai biết cái gì đã xảy ra
nhưng chiếc lều đã cháy. Anh hề của rạp xiếc bước ra thông báo điều đó; anh ta
công bố rằng "Lều cháy rồi!" và mọi người cười. Họ nghĩ, "Anh ta
giở trò lừa chúng ta." Và họ vỗ tay và tán thường anh hề còn anh hề thì
choáng.
Anh
ta nói, "Tôi không nói đùa đâu. Lều đang cháy đấy." Và mọi người vỗ
tay nhiều hơn và cười nhiều hơn. Anh hề lúng túng chẳng biết phải làm gì! Anh
ta bắt đầu đấm ngực và nói, "Tin tôi đi! Lều đang cháy đấy, các ông bà bị
nguy hiểm!"
Nhưng
chẳng ai tin anh ta; mọi người tiếp tục cười. Và nhiều người bị thiêu cháy.
Đây
không phải là chuyện ngụ ngôn đâu: đây là thực tại. Chư Phật đã báo cho bạn rằng
thế giới đang cháy, nhưng bạn nghĩ họ có thể coi điều đó quá nghiêm trọng.
"Cô
em tinh tướng xinh đẹp của tôi ơi," anh chàng công tử ngọt ngào thì thào,
"em là bé duy nhất của anh đi. Anh chú ý tới em, anh phát rồ về em, anh
phát điên lên về em. Anh không thể sống qua đêm nếu không có tình yêu của
em."
"Này,
đợi một phút nhé," cô gái rụt rè phản đối. "Em không muốn nghiêm chỉnh
đâu."
"Này,
bé," anh ta hỏi, "ai nghiêm chỉnh?"
Chẳng
ai dường như nghiêm chỉnh cả. Mọi người đều đóng vai hề, mọi người đều cười -
hay ít nhất cũng giả vờ hạnh phúc, ít nhất cũng ba hoa về hoan lạc của mình, niềm
vui của cuộc sống, và có thể không chỉ lừa người khác mà bị lừa bởi chính việc
ba hoa riêng của mình. Người ta có thể bắt đầu tin vào dối trá riêng của mình:
thế thì họ bắt đầu có vẻ gần như thật.
Phật
đang nói:
Ông cười sao? Và thế giới đang cháy!
Chắc
chắn điều đó chỉ ra một điều thôi:
Ông
đang ở sâu trong bóng tối.
Ông
không hỏi về ánh sáng sao?
Đây
là ngôn ngữ cổ đại. Bây giờ, từ thời Sigmund Freud, chúng ta có thể dịch bóng tối
là vô ý thức và ánh sáng là ý thức. Điều đó sẽ dễ hiểu hơn, bởi vì khi bạn nói
về bóng tối và ánh sáng nó có vẻ thơ ca, và Phật rất khoa học mặc dù ông ấy đầy
tính thơ ca. Nhưng thơ ca của ông ấy không đơn thuần là thơ ca, nó có khoa học
lớn lao trong nó, giả kim thuật lớn lao trong nó. Tính thơ ca của ông ấy là bởi
vì kinh nghiệm của ông ấy, nhưng tính thơ ca của ông ấy không chỉ là để giải
trí cho bạn. Tính thơ ca của ông ấy là từ duyên dáng của ông ấy, chính bản thể
ông ấy mang tính thơ ca rồi, cũng như nó có thể mang tính khoa học. Ông ấy đang
nói về vô ý thức và ý thức.
Ông
ấy nói bạn đang ở sâu trong bóng tối nếu bạn không nhận biết rằng thế giới đang
cháy, rằng mọi người đang sống trong phiền não - và họ thậm chí có thể không nhận
biết về điều đó. Theo cách đó phiền não bị nhân đôi hay nhân gấp nhiều lần, bởi
vì nếu bạn nhận biết về phiền não của mình bạn có thể thoát ra khỏi nó được.
Khi ngôi nhà bị cháy và bạn đang ngủ, nguy hiểm là nhiều hơn nhiều. Nếu ngôi
nhà bị cháy và bạn thức, nguy hiểm ít hơn nhiều - bạn có thể chạy trốn, bạn có
thể thoát ra khỏi nhà. Hàng xóm có thể giúp bạn thoát ra. Bạn có thể gọi điện
thoại tới đội chữa cháy. Bạn có thể làm cái gì đó! Ít nhất bạn cũng có thể nhảy
ra khỏi cửa sổ. Nhưng nếu bạn ngủ thế thì mọi sự khó khăn hơn.
Ông
đang ở sâu trong bóng tối. Phật nói: Nhìn vào ông, dường như ông không ý thức
chút nào, ông đang sống cuộc sống vô ý thức. Bây giờ đó là chân lí tâm lí. Toàn
thể tâm lí đương đại, dù đó là phái Freud hay phi Freud, Adler hay Jung, tất cả
các trường phái của tâm lí học hiện đại đều đồng ý về một điều: rằng chỉ một phần
rất nhỏ của con người là có ý thức, phần rất tí hon. Phần lớn của bản thể người
đó là vô ý thức, là trong bóng tối; bạn chỉ thấy đầu chỏm của tảng băng, phần
còn lại là trong bóng tối. Và từ lục địa bóng tối đó, cái chính là vô thức của
bạn, kéo tới đủ loại động cơ, ham muốn, bản năng, thôi thúc - và ý thức phải đi
theo chúng. Ý thức chỉ là kẻ hầu, nó không là người chủ; nó đang phục vụ cho vô
ý thức. Vô thức trở nên giận dữ và ý thức hành động ngay; vô thức trở nên đầy
thôi thúc dục và ý thức tuân theo nó. Và ý thức đã trở nên rất láu lỉnh trong
việc hợp lí hoá. Nó hợp lí hoá mọi thứ. Ý thức tin rằng nó là người chủ còn vô
thức cười vào nó.
Quan
sát bản thân bạn mà xem. Nếu bạn giận bạn không bao giờ nói, "Tôi giận bởi
vì vô ý thức của mình." Bạn nói, "Tôi giận bởi vì giận dữ được cần tới.
Tôi đã giận một cách có chủ ý. Tôi phải nổi giận; bằng không mọi người sẽ bắt đầu
lấn lướt tôi. Và người đó phải bị trừng phạt, người đó phải được dạy cho một
bài học. Tôi đã giận dữ bởi vì tôi muốn thế."
Đây
là hợp lí hoá thôi. Bạn đã giận bởi vì bạn không thể khác được; bạn đã không là
người chủ của tình huống. Nó đã không ở trong tay bạn: việc chọn lựa giận dữ -
hay không giận dữ. Bạn đã bị cơn giận lái đi và nó tới từ tầng ngầm nào đó của
bản thể bạn. Nó tới như đám mây, nó tới như làn khói lớn và bạn bị nó làm cho
mù. Bạn bị bao quanh bởi đám mây này và bạn bị cuốn đi cùng nó, nhưng về sau chỉ
để giữ thể diện của mình, bản ngã của mình, lòng tự hào của mình, bạn bắt đầu hợp
lí hoá. Bạn nói, "Tôi làm nó đấy." Bạn đã không làm nó: bạn bị buộc
phải làm nó thì có. Quan sát ham muốn dục của bạn, quan sát tham của bạn, quan
sát giận của bạn, và bạn sẽ được thuyết phục bởi điều Phật đang nói.
Một
người lái xe tải lực lưỡng đi thơ thẩn vào quán rượu trong tâm trạng tiều tuỵ,
hiển nhiên đang tìm cớ gây sự đánh nhau.
"Mọi
người ở phía bên này quán đều là kẻ vô công rồi nghề dơ dáy, không tốt!"
anh ta kêu toáng lên. "Người nào muốn làm cái gì đó về điều đó thì đứng dậy
đi!" Chẳng ai đứng dậy cả.
"Mọi
người ở phía bên này quán đều là bọn đồng dục nam! Đồ đồng dục!" Chẳng ai
cử động, thế rồi bỗng nhiên một người đứng dậy.
"Muốn
đánh nhau hả?" người lái xe tải gầm gừ. "Không," người này ngọng
nghịu nói, "chỉ là tôi
ngồi
nhầm phía bên trong quán."
Đó
là cách tâm trí cứ giở trò - hợp lí hoá mọi thứ.
Nhà
tâm thần nói với bệnh nhân, "Phải mất ba năm đấy, nhưng bây giờ cô được chữa
rồi. Đây là điều trị lần cuối của cô."
"Cám
ơn bác sĩ," bệnh nhân nói. "Nhưng trước khi tôi đi, hôn tôi đi."
"Tôi
bảo cô rằng cô được chữa khỏi rồi. Cô lại là người mạnh khoẻ rồi."
"Tôi
biết, bác sĩ, nhưng hôn tôi đi."
"Cô
không hiểu. Tôi đã vứt bỏ tất cả những ý niệm điên rồ đó rồi. Cô đã được chữa
lành."
"Chắc
chắn rồi," bệnh nhân khăng khăng, "nhưng hôn tôi đi."
"Hôn
cô sao? Tôi thậm chí không nên ở trên giường cùng cô!"
Bây
giờ, nhà tâm thần và bệnh nhân, người giúp và người được giúp, người hướng dẫn
và người được hướng dẫn tất cả đều trong cùng một con thuyền.
Chừng
nào bạn còn chưa thể tìm thấy vị phật bạn sẽ còn theo người mù nào đó khác. Chừng
nào bạn còn chưa ở cùng với người như Phật, Jesus, Zarathustra, Lão Tử, bạn sẽ ở
cùng với những người cũng giống như bạn. Đó là một trong những tai hoạ lớn nhất
đang xảy ra cho tâm trí hiện đại, cho con người hiện đại. Những người hướng dẫn
tâm linh đã biến mất rồi - họ đã biến mất từ lâu trước đây rồi. Họ đầu tiên đã
bị các tu sĩ thay thế. Bây giờ các tu sĩ đang bị các nhà tâm thần, các nhà phân
tâm, các nhà tâm lí thay thế. Các tu sĩ đều mù, bây giờ các nhà tâm thần, các
nhà phân tâm cũng mù. Họ không biết họ đang làm gì, họ không biết họ đang ở
đâu. Họ cứ giúp mọi người và họ vô ý thức, đôi khi thậm chí còn vô ý thức hơn bệnh
nhân. Họ không lành mạnh, đôi khi còn không lành mạnh hơn bệnh nhân, nhưng họ
là các chuyên gia chuyên nghiệp, họ đã nghiên cứu, họ đầy thông tin. Họ biết mọi
thứ về ánh sáng mà lại không kinh nghiệm về sánh sáng nào. Họ biết mọi thứ về
tích hợp là gì, nhưng đấy chỉ là về thôi - họ không có tích hợp bên trong nào.
Bản thể riêng của họ là những mảnh mẩu, rời ra từng phần.
Người
ta có thể được giúp đỡ chỉ bởi vị phật, bởi người đã thức tỉnh, bởi vì chỉ người
đã thức tỉnh mới có thể đánh thức nhưng người đang ngủ say. Nếu bạn đang ngủ và
nhà phân tâm của bạn cũng ngủ, ai sẽ đánh thức bạn dậy?
Vào
những ngày cổ đại mọi người đã đi tìm vị phật từ xa và rộng; họ đã du hành qua
hàng nghìn dặm đường chỉ để tìm một thầy. Không phải là họ không biết tới nhiều
người thông thái đã biết tất cả về Vedas và Upanishads và Gita và Koran và Kinh
Thánh; họ biết các học giả đó, nhưng họ có phân biệt sắc nét giữa người biết
theo thẩm quyền riêng của họ và người biết thẩm quyền của kinh sách. Họ không
bao giờ theo người không có kinh nghiệm đích thực của riêng người đó, người còn
chưa đương đầu với cái ngã của mình, người còn chưa là ngọn lửa. Và phải mất thời
gian để tìm kiếm.
Bạn
sẽ bắt gặp hàng trăm thầy; chín mươi chín phẩy chín phần trăm sẽ là rởm, đồng
tiền giả. Nhưng cách duy nhất để tìm và kiếm là cứ đi tìm và kiếm và bất kì khi
nào bạn bắt gặp một thầy rởm, quan sát đi! Điều người đó nói là trí huệ hay tri
thức? Điều người đó nói là của riêng người đó hay nó là trong trích dẫn? Và điều
đó không khó gì mấy; chỉ cần một chút ít kiên nhẫn và bạn sẽ biết cái rởm là rởm.
Harold
bắt đầu vẫy xe đi nhờ và trong một chốc anh ta đã được Eleanor cho đi nhờ, một
cô thủ thư có vẻ rất khêu gợi.
"Em
có hút thuốc không?" anh ta hỏi.
"Dạ
không ạ, cám ơn anh," cô ấy đáp. "Em không hút thuốc!"
Họ
đi trong im lặng một chốc và Harold nói, "Anh biết có một quán rượu ngon ở
ngay phía đầu đường đây; em có muốn dừng lại uống một chút không?"
"Cám
ơn anh, không ạ," Eleanor nói. "Em không uống rượu đâu!"
Mười
phút sau, Harold thử đại và nói, "Sao chúng mình không dừng lại ở nhà nghỉ
tiếp và làm tình?"
Cô
ấy nói, "Được đấy!"
Họ
dừng lại, làm tình điên dại trong liền hai giờ, và thế rồi trở lại lái xe trong
xe cô ấy.
"Này,
anh tò mò," Harold nói. "Khi anh hỏi em có hút thuốc không, em nói
không. Khi anh đề nghị mua thức uống cho em, em bác bỏ anh. Vậy mà em lại vào
nhà nghỉ cùng anh. Sao sự việc lại thế?"
"Thế
này," cô thủ thư nói, "Em bao giờ cũng thực hành điều em thuyết giảng.
Em nói với trường Chủ nhật của em rằng các bạn không phải hút thuốc hay uống rượu
để mà có thời gian dễ chịu!"
Bạn
sẽ bắt gặp những nhà thuyết giảng như vậy ở mọi nơi, người thực hành điều họ
thuyết giảng, nhưng điều họ thuyết giảng không phải là kinh nghiệm riêng của họ;
điều họ thuyết giảng tất cả đều là vay mượn. Điều đó có vẻ như trí huệ nhưng nó
không phải vậy. Và bạn không thể né tránh được điều đó. Bạn sẽ phải gõ vào nhiều
cánh cửa trước khi bạn tìm thấy cánh cửa đúng. Đó là cách duy nhất, đó là cách
mọi sự là vậy. Và cũng tốt để gõ vào nhiều cánh cửa bởi vì biết nhiều thầy giả,
dần dần bạn sẽ trở nên nhận biết về việc là thầy thực là cái gì. Bằng việc biết
cái giả giả bạn sẽ trở nên có khả năng biết cái thật. Biết cái giả là giả là một
bước tiến lớn tới cái thật.
Thế
giới đang cháy: Và ông cười sao? Ông đang ở sâu trong bóng tối. Ông không hỏi về
ánh sáng sao? Và hỏi về ánh sáng là hỏi về thiền.
Tâm
lí học hiện đại vẫn chưa đi tới điểm đó; nó vẫn vướng mắc với phân tích. Phân
tích không thể đem ánh sáng vào được. Bạn có thể cứ phân tích bóng tối trong
nhiều năm, trong nhiều kiếp, nhiều thế kỉ; bằng phân tích bóng tối bạn sẽ không
đi tới ánh sáng. Làm sao bạn có thể đạt tới ánh sáng bằng việc phân tích bóng tối?
Bạn sẽ phải tìm ra ai đó người biết cách tạo ra ánh sáng - điều đó chẳng liên
quan gì tới bóng tối cả! Khi ánh sáng được tạo ra, bóng tối biến mất, bóng tối
không còn được tìm thấy nữa. Nhưng điều ngược lại là không đúng: đừng bắt đầu đẩy
bóng tối đi để đạt tới ánh sáng - bạn sẽ phí hoài cuộc đời mình, năng lượng của
mình, cơ hội của mình. Đừng tranh đấu với bóng tối! Phân tâm học vẫn đang tranh
đấu với bóng tối, với bệnh tật.
Và
đó là khác biệt giữa tôn giáo và phân tâm học. Tôn giáo là nỗ lực tích cực để tạo
ra ánh sáng; phân tâm học là nỗ lực tiêu cực để xua tan bóng tối - và nhiều nhất
nó có thể giúp bạn thành bất thường một cách bình thường, có vậy thôi. Nhiều nhất
nó có thể giúp bạn điều chỉnh theo xã hội, cái bản thân nó là ốm yếu. Nó có thể
giúp bạn vào lại ước định đang có tác dụng. Đó là mọi điều xã hội cần và yêu cầu
ở bạn, rằng bạn phải là bác sĩ tốt hay kĩ sư tốt hay trưởng ga tốt hay thư kí tốt
hay người thu thuế tốt. Đó là tất cả những gì xã hội đòi hỏi; xã hội không quan
tâm tới mạnh khoẻ bên trong của bạn, với tính toàn thể của bạn. Xã hội muốn bạn
là cái máy hoàn hảo.
Và
nếu bạn làm tốt, có hiệu quả công việc được trao cho bạn, thế là đủ. Xã hội
không quan tâm chút nào tới việc biến đổi của bạn; ngược lại, nó rất sợ biến đổi
của bạn, bởi vì nếu bạn trở nên được biến đổi thì xã hội sẽ không dễ có khả
năng áp bức, bóc lột bạn.
Nó
sẽ không dễ làm bạn thành nô lệ. Nếu bạn trở nên được biến đổi, nếu bạn trở
thành đầy ánh sáng, bạn sẽ mang tính nổi dậy. Ánh sáng mang tới nổi dậy.
Bóng
tối rất có ích cho những người có quyền lợi được đầu tư bởi vì bóng tối không
bao giờ cho phép bạn trốn thoát khỏi nhà tù của mình. Khi bạn ở trong bóng tối
bạn có thể được thuyết phục rằng nó không phải là nhà tù, rằng nó là nhà của bạn
hay thậm chí nó là ngôi đền của Thượng đế.
Nhưng
khi có ánh sáng không ai có thể lừa dối được bạn. Bạn sẽ có khả năng thấy rằng
mình đã bị buộc phải sống trong phòng giam. Và một khi bạn đã thấy rằng mình bị
buộc phải sống trong phòng giam, bạn đang làm mọi điều có thể để thoát ra khỏi
nó. Xã hội rất sợ chư phật - do đó mới có đóng đinh Jesus, đầu độc Socrates,
sát hại Mansoor. Nhiều mưu hại đã được thực hiện trong đời Phật Gautam.
Điều
kì lạ là con người bao giờ cũng chống lại những người có thể đã giúp đỡ cho
nhân loại; bạn phải đã chống lại những người sẽ đưa bạn lên những đỉnh cao của
cuộc sống và tâm thức, những người sẽ giúp cho bạn được hoàn thành. Tại sao bạn
chống lại những người này? Bạn là một phần của hệ thống nô lệ lớn - quốc gia,
xã hội, nhà thờ. Bạn vận hành như người Ki tô giáo, như người Hindu, như người
Mô ha mét giáo; đây là những cái tên cho sự nô lệ, những cái nhãn đẹp trên những
thứ xấu xí.
Người
tôn giáo thực không là người Hindu không là người Mô ha mét giáo không là người
Ki tô giáo - người đó không thể thế được! Người đó đơn giản là một người. Tôn
giáo của người đó không có tính từ cho nó, người đó đơn giản mang tính tôn
giáo. Tìm ánh sáng đi! Và cách duy nhất để tìm ánh sáng là học cách thiền, cách
nhận biết, cách mang tính quan sát nhiều hơn.
Cách
thức của phật là vipassana - Vipassana nghĩa là chứng kiến. Và ông ấy đã tìm ra
một trong những phương cách vĩ đại nhất đã từng có: phương cách quan sát hơi thở
của bạn, chỉ quan sát hơi thở của bạn thôi. Việc thở là hiện tượng đơn giản và
tự nhiên thế, nó có đó hai mươi bốn giờ một ngày. Bạn không cần làm nỗ lực nào
cả. Nếu bạn lẩm nhẩm mật chú thế thì bạn sẽ phải làm nỗ lực, bạn sẽ phải ép buộc
bản thân mình. Nếu bạn nói, "Ram, Ram, Ram," bạn sẽ phải liên tục làm
căng thẳng bản thân bạn. Và bạn nhất định quên nhiều lần. Hơn nữa, từ 'Ram' lại
là cái gì đó của tâm trí, và bất kì cái gì của tâm trí cũng không bao giờ có thể
đưa bạn vượt ra ngoài tâm trí được.
Phật
đã phát hiện ra một góc độ khác toàn bộ: chỉ quan sát hơi thở của bạn - hơi thở
đi vào, hơi thở đi ra. Có bốn điểm được quan sát. Ngồi im lặng chỉ bắt đầu nhìn
hơi thở, cảm thấy hơi thở. Hơi thở đi vào là điểm thứ nhất. Thế rồi trong một
khoảnh khắc hơi thở ở bên trong nó dừng lại - đó là một khoảnh khắc rất nhỏ -
trong một phần giây nó dừng lại; đó là điểm thứ hai để quan sát. Thế rồi hơi thở
quay lại và đi ra; đây là điểm thứ ba để quan sát. Thế rồi lại khi hơi thở hoàn
toàn đi ra, trong một phần giây nó dừng lại; đó là điểm thứ tư để quan sát. Thế
rồi hơi thở bắt đầu đi vào lại... đây là vòng tròn của hơi thở.
Nếu
bạn có thể quan sát tất cả bốn điểm này bạn sẽ ngạc nhiên, sửng sốt về phép màu
của quá trình đơn giản thế - bởi vì tâm trí không được tham dự vào. Quan sát
không phải là phẩm chất của tâm trí; quan sát là phẩm chất của linh hồn, của
tâm thức; quan sát không phải là quá trình tâm trí chút nào. Khi bạn quan sát,
tâm trí dừng lại, dừng hiện hữu. Vâng, lúc ban đầu nhiều lần bạn sẽ quên và tâm
trí sẽ bước vào và bắt đầu chơi trò chơi cũ của nó. Nhưng bất kì khi nào bạn nhớ
rằng bạn đã quên mất, không cần cảm thấy hối hận, mặc cảm - đi trở lại để quan
sát, quay đi quay lại quan sát hơi thở của bạn. Dần dần, từ từ tâm trí sẽ ngày
càng bớt can thiệp vào.
Và
khi bạn có thể quan sát hơi thở của bạn trong bốn mươi tám phút, liên tục, bạn
sẽ trở nên chứng ngộ. Bạn sẽ ngạc nhiên - chỉ bốn mươi tám phút thôi sao? Bởi
vì bạn sẽ nghĩ rằng điều đó chẳng khó gì mấy... chỉ bốn mươi tám phút thôi! Nó
là rất khó đấy. Bốn mươi tám giây và bạn sẽ rơi vào nạn nhân của tâm trí nhiều
lần! Thử nó với chiếc đồng hồ ở trước bạn mà xem; lúc ban đầu bạn không thể có
tính quan sát trong sáu mươi giây. Trong chỉ sáu mươi giây thôi, đó là một
phút, bạn sẽ rơi vào giấc ngủ nhiều lần. Bạn sẽ quên hết về quan sát - đồng hồ
và việc quan sát cả hai sẽ bị quên đi. Ý niệm nào đó sẽ đem bạn đi xa, xa xăm;
thế rồi bỗng nhiên bạn sẽ nhận ra... bạn sẽ nhìn vào đồng hồ và mười giây đã
trôi qua rồi. Trong mười giây bạn đã không quan sát.
Nhưng
dần dần, dần dần - đó là cái mẹo; nó không phải là việc thực hành, nó là mẹo -
dần dần, dần dần bạn thấm đẫm nó. Bởi vì vài khoảnh khắc đó khi bạn mang tính
quan sát có cái đẹp đẽ trang nhã, có vui vẻ vô cùng, cực lạc không thể tin được
tới mức một khi bạn đã nếm trải vài khoảnh khắc đó, bạn sẽ muốn quay lại nữa lặp
đi lặp lại - không vì động cơ nào khác, chỉ vì vui vẻ cực kì, của việc hiện hữu
ở đó, hiện diện với hơi thở.
Nhớ
lấy, đó không phải là cùng quá trình như được thực hiện trong yoga. Trong yoga
quá trình này được gọi là pranayam; nó là quá trình khác toàn bộ, thực ra chính
là cái đối lập với điều Phật gọi là vipassana. Trong pranayam bạn lấy hơi thở
sâu, bạn rót đầy ngực mình với ngày một nhiều không khí, ngày một nhiều ô xi;
thế rồi bạn làm trống rỗng ngực mình với các bô níc, toàn bộ nhất có thể được.
Đó là bài tập thể chất - tốt cho thân thể, nhưng nó chẳng liên quan gì tới
vipassana cả. Trong vipassana bạn không thay đổi nhịp độ hơi thở tự nhiên của
mình. Bạn không lấy hơi thở sâu, dài, bạn không thở ra theo bất kì cách nào
khác hơn bạn vẫn thường thở. Để nó là tuyệt đối thông thường và tự nhiên. Toàn
thể tâm thức của bạn phải ở vào một điểm, quan sát.
Và
nếu bạn có thể quan sát hơi thở của mình, thế thì bạn có thể bắt đầu quan sát những
điều khác nữa. Bước đi bạn có thể quan sát rằng bạn đang bước, ăn bạn có thể
quan sát rằng bạn đang ăn. Và chung cuộc, cuối cùng, bạn có thể quan sát rằng bạn
đang ngủ. Cái ngày bạn có thể quan sát rằng bạn đang ngủ, bạn được chuyển vào một
thế giới khác. Thân thể cứ ngủ, và bên trong ngọn đèn cứ cháy sáng. Việc quan
sát của bạn vẫn còn không bị xáo động. Thế thì hai mươi bốn giờ một ngày có
dòng chảy ngầm của việc quan sát. Bạn cứ làm mọi thứ... với thế giới bên ngoài
chẳng cái gì đã thay đổi, nhưng với bạn mọi thứ đã thay đổi rồi.
Một
Thiền sư đang lấy nước từ giếng, và một người sùng kính, đã nghe nói về ông ấy
và đã du hành từ xa tới thăm ông ấy, hỏi, "Tôi có thể gặp ông này ông nọ ở
đâu, thầy của tu viện này?" Ông ta nghĩ người này phải là người phục vụ, lấy
nước từ giếng - bạn không thể tìm được vị phật lấy nước từ giếng, bạn không thể
tìm vị phật đang lau sàn.
Thầy
cười và nói, "Ta là người ông tìm đây."
Người
sùng kính không thể nào tin được vào điều đó. "Tôi đã nghe nhiều về thầy,
nhưng tôi không thể quan niệm nổi thầy đang lấy nước từ giếng."
Thầy
nói, "Nhưng đó là điều ta thường làm trước khi ta trở nên chứng ngộ. Lấy
nước từ giếng, chẻ củi - đó là điều ta thường làm trước đây, và đó là điều ta
tiếp tục làm. Ta rất thiện nghệ trong hai việc này: lấy nước từ giếng và chẻ củi.
Lại đây với ta - việc tiếp của ta sẽ là chẻ củi, quan sát ta!"
Người
này nói, "Nhưng thế thì khác biệt là gì? Trước khi chứng ngộ thầy đã làm
hai việc này, sau chứng ngộ thầy đang làm cùng hai việc này - thế thì cái gì là
khác biệt?"
Thầy
cười ngất, thầy nói, "Khác biệt là ở bên trong. Trước đây, ta đã làm
mọi thứ trong ngủ; bây giờ ta làm mọi thứ một cách có ý thức, đó là khác biệt.
Hoạt động vẫn như cũ, nhưng ta không còn như cũ nữa. Thế giới vẫn như cũ, nhưng
ta không còn như cũ. Và bởi vì ta không còn như cũ, với ta thế giới cũng không
còn như cũ."
Biến
đổi phải là cái bên trong. Đây là từ bỏ thực: thế giới cũ mất rồi bởi vì con
người cũ mất rồi.
Để
thấy thân thể mình -
Con
rối được tô vẽ, một thứ đồ chơi,
được
chắp nối và ốm yếu và đầy những tưởng tượng giả,
cái
bóng thay đổi và nhạt nhoà đi.
Phật
nói, đừng quá gắn bó nhiều với thân thể, đừng bị đồng nhất với thân thể, thận
trọng vao! Đó là tù túng. sống trong thân thể, dùng thân thể, nhưng tỉnh táo -
nó không phải là bạn.
Để
thấy thân thể mình... Nếu bạn muốn tạo ra ánh sáng trong bản thân mình, đây là
chỗ bắt đầu: Thấy thân thể mình - Con rối được tô vẽ, một thứ đồ chơi, được chắp
nối và ốm yếu và đầy những tưởng tượng giả, cái bóng thay đổi và nhạt nhoà đi.
Bao
nhiêu người đã sống trên trái đất này? Và họ đã nhạt nhoà đi, cát bụi trở về với
cát bụi, họ tất cả đã biến mất - cứ dường như họ chưa bao giờ tồn tại chút nào.
Và cùng điều đó đang xảy ra cho bạn, cho mọi người. Hôm nay bạn ở đây, ngày mai
bạn đi rồi. Và thế rồi chỉ trong kí ức của vài người mà bạn sẽ sống thêm vài
ngày nữa; họ sẽ nhớ tới bạn - chỉ là kí ức, hình ảnh trong tâm trí họ. Và thế rồi
những người đó sẽ chết đi và ngay cả kí ức cũng sẽ nhạt nhoà đi. Sau hai nghìn
năm, bạn có cho rằng sẽ có người nào biết rằng bạn đã từng tồn tại không? Đó chỉ
là cái bóng, nhất thời; cho dù khoảnh khắc đó kéo dài bẩy mươi năm, tám mươi
năm, chẳng thành vấn đề gì cả.
Phật
nói chân lí là vĩnh hằng, và bất kì cái gì không vĩnh hằng đều là mơ - thận trọng
về giấc mơ! Và tâm trí bạn cũng là một phần của thân thể bạn; đó là lí do tại
sao ông ấy nói thận trọng về những tưởng tượng giả. Tâm trí bạn cứ cho bạn những
ý niệm giả; nó nói, "Trông đấy mình mạnh khoẻ làm sao, mình khoẻ làm sao,
mình trông đẹp làm sao." Nó cứ lừa dối bạn, nó cứ nói với bạn rằng cái chết
bao giờ cũng xảy ra cho người khác, không cho bạn. Không ai là ngoại lệ cả. Và
tâm trí là kẻ lừa dối, tinh ranh, khéo léo tới mức nó có thể làm cho bạn tin
vào bất kì cái gì. Nó có thể làm cho bạn tin vào tiền bạc, và bạn sẽ phải bỏ lại
tất cả tiền bạc của mình khi bạn ra đi. Nhưng bạn níu bám lấy tiền bạc, mọi người
sẵn sàng chết vì tiền.
Thực
ra, đó là cách nhiều người chết đi: toàn thể cuộc đời họ dành cho việc tích luỹ
tiền bạc; họ bán cuộc đời mình chỉ để tích luỹ vài miếng vàng. Miếng vàng đó sẽ
vẫn còn ở đây và bạn sẽ qua đời, và vàng chẳng có gắn bó gì với bạn cả. Chính bạn
là người đã tạo ra đủ mọi loại gắn bó.
Và
tâm trí bao giờ cũng cứ tạo ra tương lai; nó cứ nói với bạn, "Điều gì chưa
xảy ra sẽ xảy ra vào ngày mai - đợi đấy!" Nó giữ cho bạn hi vọng, nó giữ bạn
cố gắng theo cách mới, trong bãi cỏ mới. Nếu người đàn bà này không thoả mãn bạn
thế thì tâm trí nói, "Đấy là vì người đàn bà này như thế - đi tìm người
khác!" Và điều này sẽ cứ diễn ra mãi. Nếu người đàn ông này không làm thoả
mãn, tâm trí nói, "Chính bởi vì người đàn ông này là sai." Nhưng tâm
trí không bao giờ cho phép bạn thấy sự kiện là không người đàn ông nào, không
người đàn bà nào đã bao giờ có thể thoả mãn được cho bất kì ai. Việc thoả mãn
là không thể được trong thế giới này. Mãn nguyện là có thể chỉ khi bạn đi vào
trong trạng thái của bản thể bạn, khi bạn trở thành vô trí. Mãn nguyện là hương
vị của vô trí.
Và
khi bạn có thể lấy nhau, tâm trí cho bạn những ý niệm kì quặc, ngu xuẩn, ngốc
nghếch, ngớ ngẩn. Nhưng tâm trí là kẻ cám dỗ lớn lao...
Muriel
và Tina thảo luận về kinh nghiệm mới đây của họ trong khi uống rượu cocktails.
"Này,"
Muriel hỏi, "đằng ấy xử lí thế nào với cái tay triệu phú lập dị đó mà đằng
ấy đã gặp hôm qua?"
"Ông
ta cho tớ năm trăm đô la," Tina nói. "Thằng điên đó muốn làm điều đó
trong quan tài."
"Đừng
chơi khăm!" Muriel kêu lên. "Tớ cá là điều đó làm đằng ấy chán?"
"A
vâng, nhưng cũng không chán nhiều như sáu gã hộ tang."
Tâm
trí có thể cám dỗ bạn vào bất kì cái gì, vào bất kì điều ngu xuẩn nào. Và một
khi bất kì cái gì đi vào trong tâm trí bạn, nó hành hạn bạn, nó ám ảnh bạn. Bạn
phải làm nó - dường như đó là cách duy nhất để gạt bỏ nó. Nhưng trước khi bạn gạt
bỏ nó, tâm trí cho bạn ý niệm khác. Tâm trí là kẻ rất hay phát minh khi có liên
quan tới tưởng tượng. Tâm trí có thể cứ tạo ra các ý niệm mới không cạn cho bạn;
đó là điều đã từng xảy ra trong hàng thế kỉ, trong nhiều kiếp. Bạn đã sống
trong thế giới này nhiều kiếp thế cứ lặp đi lặp lại cùng một loại việc mãi, có
thể có chút ít khác biệt nhưng mọi sự là như nhau... và dầu vậy bạn vẫn cứ hi vọng.
Phật
nói thận trọng với những tưởng tượng giả; thân thể là cái bóng, bạn phải bỏ lại
nó một ngày nào đó. Bạn không là nó.
Nó
ẻo lả làm sao!
Ẻo
lả và độc hại,
Nó
ốm yếu, thối rữa và chết.
như
mọi vật sống
đến
cuối cùng nó ốm yếu và chết.
Nhớ
tới cái chết, đừng bao giờ quên nó trong một khoảnh khắc! Bởi vì sự nhấn mạnh
này, nhiều người đã coi Phật là bị cái chết ám ảnh; ông ấy không phải vậy. Bạn
có thể bị ám ảnh bởi cuộc sống nhưng ông ấy không bị ám ảnh bởi cái chết đâu.
Ông ấy đơn giản đem mọi thứ về cân bằng.
Ông
ấy nói, nhiều như bạn tham dự vào cuộc sống bạn phải nhớ tới cái chết nữa, thế
thì sẽ có cân bằng, thăng bằng. Ông ấy thường phái các đệ tử của mình, các
sannyasins, tới quan sát bất kì khi nào một xác chết được đem đi thiêu: "Tới
đó, ngồi đó, suy tư và quan sát và nhớ điều này sẽ xảy ra cho thân thể ông nữa."
Cái
chết phải được suy tư tới; bằng không cuộc sống có thể cứ cho bạn những hi vọng
giả tạo. Nếu bạn nhớ tới cái chết, cuộc sống không thể lừa bạn được thêm nữa.
Cái chết sẽ giữ bạn tỉnh táo.
Phật
không bị cái chết ám ảnh, nhưng ông ấy đã đi tới biết một điều: rằng chính bởi
việc trở nên nhận biết về cái chết mà người ta gạt bỏ đi ám ảnh với thân thể,
ám ảnh với thức ăn, ám ảnh với dục, ám ảnh với tiền, ám ảnh với thế giới. Bạn
phải sống trong cuộc sống, nhưng để có ý thức, thường xuyên, rằng cuộc sống này
đang tuột khỏi tay bạn và cái chết đang tới mỗi lúc một gần hơn. Điều đó sẽ
không cho phép bạn là nạn nhân của những ham muốn giả và những hi vọng giả.
nhìn
những bộ xương trắng này,
bộ
khung và cái vỏ hổng hoác của của tuổi xuân
đang
chết.
và
ông cười sao?
Ông
là ngôi nhà bằng xương, thịt và máu bó lại.
Kiêu
căng sống trong ông,
và
đạo đức giả, suy tàn và chết.
Đó
là lí do tại sao mọi người không muốn quan sát cuộc đời họ. Họ không muốn đi
sâu hơn vào trong bản thể họ bởi vì điều họ thấy không phải là linh hồn, Thượng
đế, tự do, ánh sáng. Điều họ thấy lúc ban đầu là bản ngã, đạo đức giả, mục nát
và chết. Vâng, nếu bạn đi vào bên trong, đầu tiên bạn sẽ thấy những điều này.
Chúng là tầng đầu tiên. Nhưng nếu bạn cứ đi vào mặc cho cái chết, bản ngã, mục
nát, đạo đức giả - bạn cứ đi một cách dũng cảm, thế thì chẳng mấy chốc mọi sự bắt
đầu thay đổi. Thay vì cái chết bạn bắt đầu đi vào trong cuộc sống vĩnh hằng,
vào trong cuộc sống vô thời gian; và thay vì bản ngã bạn bắt gặp cái ta thực của
mình, cái ta tối thượng của mình; và thay vì cái chết bạn bắt gặp cái bất tử.
Nhưng người ta phải đi sâu hơn.
Việc
xuyên thấu đầu tiên sẽ làm cho bạn sợ, bạn sẽ trở nên hoảng - bóng tối tất cả
bao quanh và cái chết. Và mọi người trốn mất từ tầng đầu tiên đó. Họ trở nên sợ
tới mức họ chưa bao giờ thử lần nữa.
Triết
gia vĩ đại người Anh, David Hume, đã viết, "Đọc đi đọc lại trong kinh
sách, 'biết bản thân ông,' một hôm tôi đã thử. Tôi nhắm mắt lại và cố gắng đi
vào trong. Điều tôi thấy là bóng tối, nhiều, nhiều ý nghĩ điên khủng, tưởng tượng,
kí ức, ham muốn, nhiều thứ bao quanh thế, nhiều ồn ào và rối loạn, nhưng tôi
không thể tìm ra được bất kì cái ta bất tử nào cả." Chỉ mỗi một hôm ông ấy
thử, và nó như thế - cứ dường như người ta trở thành vị phật trong một ngày. Mà
thậm chí không đến một ngày, điều đó chắc phải một giờ hay nửa giờ thôi - không
được hai mươi tư giờ đâu. Ngay cả một người thông minh chừng nấy như David Hume
mà cũng chẳng thể thấy được một điểm nhỏ: ai là người quan sát?
Ông
ấy nói, "Tôi đã thấy kí ức, ý niệm, vân vân và vân vân, nhiều thứ, nhưng
tôi đã không thấy cái ta nào cả." Bạn có thấy cái ngớ ngẩn của phát biểu
này không? Ai đã thấy các ý niệm và tưởng tượng và kí ức này? Ai là nhân chứng
này? Đó là cái ta đấy! Nó đơn giản thế. Bạn không thể là ý niệm đó được; bạn
đang thấy ý niệm đó - làm sao bạn có thể là nó được? Người thấy không bao giờ
có thể là cái được thấy, người quan sát không bao giờ có thể là cái được quan
sát, chủ thể không thể là đối thể. Nhưng ngay cả một người như David Hume vẫn
nghĩ rằng không có linh hồn, không có cái ta, và tất cả chư phật đều đã nói những
điều vô nghĩa. Và ông ấy chưa bao giờ thử lại. Kinh nghiệm này phải là xấu, nó
là xấu lúc ban đầu; do đó bạn cần thầy để cho bạn không trốn chạy từ tầng đầu
tiên của bản thể mình.
Chiếc
xe lộng lẫy của nhà vua tan tành. cũng vậy thân thể biến thành cát bụi.
Nhưng
linh hồn của sự thuần khiết là không đổi
và
do vậy cái thuần khiết truyền lại cái thuần khiết
Nếu
bạn cứ chìm ngày một sâu hơn vào trong bản thể mình bạn sẽ đi tới tâm thức thuần
khiết, cái không đổi, vô thời gian, bất tử. Đây là điều đã từng được chư phật dạy
cho chư phật tiềm năng: và do vậy cái thuần khiết truyền lại cái thuần khiết.
Điều đó có thể được hiểu chỉ trong sự thuần khiết sâu sắc của trái tim; nó
không thể được hiểu bởi tâm trí tinh ranh, nó có thể được hiểu chỉ bởi trái tim
hồn nhiên. Chư phật có thể được hiểu chỉ thông qua trái tim, thông qua tình yêu
chứ không qua logic.
Người
dốt nát là con bò đực.
Người
đó lớn về kích thước, nhưng không lớn về trí huệ.
Con
người được sinh ra chỉ như một tiềm năng. Nếu bạn không phát triển tiềm năng của
mình, nếu bạn không trưởng thành về tâm linh, bạn chỉ như con bò đực. Thân thể
sẽ cứ trở nên ngày một to hơn, nhưng điều đó không phải là trưởng thành. Già đi
không phải là trưởng thành, già đi về mặt thể chất không phải là trưởng thành về
tâm linh. Và chừng nào bạn còn chưa trưởng thành về tâm linh bạn vẫn đang làm
phí hoài cơ hội quí báu.
Con
người là sinh linh duy nhất trên trái đất có thể đạt tới phật tính. Voi và sư tử
và hổ không thể trở thành phật được. Chỉ con người mới có thể trở thành phật,
chỉ con người mới có thể là hoa sen một nghìn cánh, chỉ con người mới có thể toả
ra hương thơm có tên là Thượng đế.
Đừng
để phí một khoảnh khắc nào vào bất kì cái gì khác. Làm những điều cần thiết, điều
bản chất, nhưng đổ
ngày một nhiều năng lượng vào tính quan sát, nhận biết. Thức dậy đi!
Chừng
nào bạn còn chưa trở thành vị phật bạn chưa sống chút nào đâu, bởi vì bạn sẽ
không biết thơ ca vĩ đại của cuộc sống, âm nhạc vĩ đại của sự tồn tại. Bạn sẽ
không biết lễ hội tinh tú vẫn đang diễn ra mãi, bạn sẽ không biết điệu vũ của
các vì sao. Việc trở thành một phần của lễ hội này là dành cho bạn. Phúc lạc
này là dành cho bạn! Tất cả những hoa này và tất cả những bài ca này và tất cả
những vì sao này đều dành cho bạn. Bạn được quyền làm phép màu - nhưng trưởng
thành, thức dậy đi!
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment