Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 3)
Chương
1. Tri thức không phải là tri thức
Người
trí huệ bảo ông Chỗ ông đã sa ngã
Và
chỗ ông có thể sa ngã - Những bí mật vô giá!
Theo
người đó, theo con đường.
Để
người đó uốn nắn và dạy ông Và giữ ông khỏi điều nguy hại.
Thế
giới có thể ghét người đó Nhưng người tốt yêu người đó.
Đừng
tìm bạn xấu
Hay
sống với người không quan tâm. Tìm bạn yêu chân lí.
Uống
sâu sắc.
Sống
trong thanh thản và vui vẻ. Người trí huệ vui thích trong chân lí Và theo luật
của người thức tỉnh.
Nhà
nông dẫn nước vào đất. Cung thủ chuốt mũi tên.
Và
thợ mộc tiện gỗ.
Cho
nên người trí huệ hướng tâm trí mình.
Gió
không thể lay được núi.
Khen
ngợi chê bai không động lòng người trí huệ.
Người
đó sáng tỏ. Nghe thấy chân lí, Người đó như cái hồ,
Thuần
khiết, tĩnh lặng và sâu thẳm.
Tri
thức không phải là tri thức. Nó có hình tướng là tri thức thôi, do đó nó lừa dối
nhiều người. Tri thức chỉ là thông tin. Nó không biến đổi bạn; bạn vẫn còn như
cũ. Việc tích luỹ thông tin của bạn cứ tăng lên. Thay vì giải thoát bạn, nó đè
nặng bạn, nó cứ tạo ra những tù túng mới cho bạn.
Cái
gọi là con người của tri thức còn ngu xuẩn hơn cái gọi là người ngu nhiều lắm,
vì người ngu ít nhất vẫn là hồn nhiên. Người đó dốt nát, nhưng người đó không
giả vờ biết - sự thực chừng đó là của người ấy. Nhưng con người của tri thức là
đống lộn xộn lớn hơn nhiều: người đó chẳng biết gì nhưng người đó tưởng mình biết.
Không biết mà cứ tin rằng mình biết là vẫn còn bị bắt rễ vào dốt nát vĩnh viễn.
Tri
thức là cách để dốt nát tự bảo vệ nó - và nó tự bảo vệ bản thân nó rất tinh
ranh, rất hiệu quả, rất láu lỉnh. Tri thức là kẻ thù mặc dầu nó có vẻ như là
người bạn.
Đây
là bước thứ nhất hướng tới trí huệ: biết rằng bạn không biết, biết rằng mọi tri
thức đều là vay mượn, biết rằng nó đã không xảy ra cho bạn, nó đã tới từ người
khác, rằng nó không phải là sáng suốt riêng của bạn, việc nhận ra riêng của bạn.
Khoảnh khắc tri thức là việc nhận ra riêng của bạn, nó là trí huệ.
Trí
huệ nghĩa là bạn không là con vẹt, nghĩa là bạn là con người, nghĩa là bạn
không lặp lại người khác mà diễn đạt bản thân mình, nghĩa là bạn không là bản
sao, nghĩa là bạn có khuôn mặt nguyên thuỷ của riêng mình.
Tri
thức làm bạn thành bản sao, và là bản sao là điều xấu nhất trên thế giới. Đó là
thảm hoạ lớn lao nhất có thể xảy ra cho một người - bởi vì không biết vậy mà cứ
tin rằng mình biết, bạn bao giờ cũng sẽ vẫn còn dốt nát và trong bóng tối. Và bất
kì điều gì bạn làm đều sẽ sai. Bạn có thể có khả năng thuyết phục ngay cả người
khác rằng bạn biết, bạn có thể có khả năng làm mạnh cho bản ngã của mình, bạn
có thể trở thành rất nổi tiếng, bạn có thể nổi tiếng như một học giả lớn, một
nhà bác học, nhưng sâu bên dưới chẳng có gì ngoài bóng tối. Sâu bên dưới bạn vẫn
chưa đương đầu với bản thân mình, bạn vẫn chưa đi vào trong ngôi đền của bản thể
mình.
Người
dốt nát ở tình thế tốt hơn nhiều. Ít nhất người đó không có việc giả vờ, ít nhất
người đó không lừa người khác và bản thân mình. Và người dốt nát có cái đẹp -
cái đẹp của sự đơn giản, cái đẹp của sự không phức tạp. Biết rằng "Tôi
không biết" lập tức đem lại sự giảm nhẹ lớn lao. Biết, kinh nghiệm việc
người ta dốt nát hoàn toàn, trút đầy người ta ngạc nhiên lớn lao - sự tồn tại
được biến đổi thành bí ẩn.
Và
đó là điều Thượng đế tất cả là gì. Biết vũ trụ như phép màu, như bí ẩn, như cái
gì đó không thể tin được, như cái gì đó không thể nào xuyên thấu được - như cái
gì đó mà trước nó bạn chỉ có thể cúi mình trong niềm biết ơn sâu sắc, bạn chỉ
có thể buông xuôi trong kính nể - là bắt đầu của trí huệ.
Socrates
là đúng khi ông ấy nói: tôi chỉ biết một điều thôi - là tôi không biết gì cả.
Trí
huệ không phải là thông thái. Trí huệ nghĩa là nhận ra cái gì đó của tâm thức của
bạn - trước hết là bên trong rồi đến bên ngoài; cảm thấy nhịp đập của cuộc sống
bên trong bạn và rồi bên ngoài bạn. Để kinh nghiệm tâm thức bí ẩn này mà bạn
đang là, trước hết người ta phải kinh nghiệm nó ở cốt lõi bên trong nhất của bản
thể mình, bởi vì đó là cánh cửa gần gũi nhất với Thượng đế.
Một
khi bạn đã biết nó ở bên trong, không khó để biết nó ở bên ngoài. Nhưng nhớ:
người trí huệ không bao giờ tích luỹ tri thức - trí huệ của người đó là tự
phát. Tri thức bao giờ cũng thuộc về quá khứ, trí huệ thuộc về hiện tại. Nhớ lấy
phân biệt này. Chừng nào bạn còn chưa hiểu khác biệt rất rõ ràng giữa tri thức
và trí huệ, bạn sẽ không có khả năng hiểu được những lời kinh này của Phật
Gautama. Và chúng là cực kì quan trọng.
Tri
thức tới từ quá khứ, từ người khác, từ kinh sách. Và Phật đã nói: Việc truyền
chân lí của ta là bên ngoài kinh sách. Điều ta nói, điều ta truyền đạt, điều ta
giao cảm, không được viết ra ở đâu cả, chưa từng được nói ra ở đâu cả - thực
ra, không thể được nói ra chút nào, không thể được viết ra chút nào. Nó được
truyền trong im lặng sâu sắc giữa thầy và đệ tử: nó là chuyện tình. Trí huệ
mang tính lây nhiễm. Nó không được dạy, nhớ lấy; bạn có thể đón nhận nó nhưng
nó không thể được trao cho bạn. Bạn có thể cởi mở và mong manh với nó, bạn có
thể ở trong trạng thái đón chào thường xuyên, và đó là cách đệ tử ngồi cạnh thầy
- sẵn sàng uống, sẵn sàng cho phép thầy thấm vào chính trái tim của mình. Ban đầu
điều đó là đau đớn, bởi vì tâm thức thầy thấm vào bạn như mũi tên sắc bén - chỉ
thế thì nó mới có thể đạt tới chính cốt lõi của bạn. Nó gây đau.
Tri
thức thoả mãn cho bản ngã; trí huệ phá huỷ bản ngã hoàn toàn; do đó mọi người đều
tìm kiếm tri thức. Rất hiếm khi tìm ra một người không quan tâm tới tri thức mà
quan tâm tới, cam kết với, trí huệ. Tri thức nghĩa là lí thuyết về chân lí; trí
huệ nghĩa là bản thân chân lí. Tri thức nghĩa là cái gián tiếp; trí huệ nghĩa
là cái trực tiếp. Tri thức nghĩa là niềm tin: người khác nói và bạn tin. Và mọi
niềm tin đều là giả! Không niềm tin nào là thật cả. Cho dù bạn tin vào lời của
vị phật, khoảnh khắc bạn tin thì nó biến thành lời dối trá.
Chân
lí không thể được tin; hoặc bạn biết hoặc bạn không biết. Nếu bạn biết, không
có vấn đề về niềm tin; nếu bạn không biết, lại không có vấn đề về niềm tin. Nếu
bạn biết, bạn biết; nếu bạn không biết, bạn không biết. Niềm tin là phóng chiếu
của tâm trí thủ đoạn - nó cho bạn cảm giác về biết, mà lại không biết. Người
Hindu, người Mô ha mét giáo, người Ki tô giáo, người Do Thái, người Jaina, Phật
tử - họ tất cả đều tin.
Tin
tưởng là rẻ, nó là rất dễ dàng - chẳng cái gì bị lâm nguy cả. Bạn có thể dễ
dàng tin vào Thượng đế, bạn có thể dễ dàng tin vào bất tử của linh hồn, bạn có
thể dễ dàng tin vào lí thuyết đầu thai. Thực ra, chúng vẫn chỉ trên bề mặt; sâu
bên dưới bạn không bị ảnh hưởng bởi chúng, không chút nào. Khi cái chết gõ cửa,
bạn sẽ biết những niềm tin của bạn tất cả đều đã biến mất. Niềm tin vào tính bất
tử của linh hồn sẽ không giúp gì cho bạn khi cái chết sẽ gõ vào cửa - bạn sẽ
kêu khóc và bạn sẽ níu bám vào cuộc sống. Khi cái chết tới bạn sẽ quên tất cả về
Thượng đế; khi cái chết tới bạn sẽ không có khả năng nhớ tới lí thuyết này - và
những ngụ ý phức tạp của nó - về đầu thai. Khi cái chết gõ cửa bạn, nó đánh sập
mọi cấu trúc tri thức bạn đã xây dựng quanh bản thân mình - nó bỏ lại bạn tuyệt
đối trống rỗng... và với nhận biết rằng toàn thể cuộc sống đã là phí
hoài.
Trí
huệ là hiện tượng hoàn toàn khác: nó là kinh nghiệm, không phải là niềm tin. Nó
là kinh nghiệm tồn tại, nó không phải là "về". Bạn không tin vào Thượng
đế - bạn biết. Bạn không tin vào tính bất tử của linh hồn - bạn đã nếm trải nó.
Bạn không tin vào đầu thai - bạn nhớ nó; bạn nhớ rằng bạn đã từng ở đây nhiều lần
rồi. Và nếu điều này đã là như vậy trong quá khứ, điều này sẽ là như vậy trong
tương lai. Bạn nhớ bạn đã từng ở trong nhiều thân thể: bạn đã là tảng đá, bạn
đã là cây, bạn đã là con vật, chim chóc, bạn đã là đàn ông, đàn bà... bạn đã sống
trong biết bao nhiêu hình dạng. Bạn thấy hình dạng thay đổi nhưng tâm thức bên
trong vẫn còn là một; cho nên bạn chỉ thấy những thay đổi bề ngoài còn điều bản
chất là vĩnh hằng.
Đây
là việc thấy, không phải là việc tin. Và mọi thầy thực đều quan tâm giúp bạn thấy,
không tin. Tin, bạn trở thành người Ki tô giáo, người Hindu, người Mô ha mét
giáo. Niềm tin là nghề nghiệp của tu sĩ.
Thầy
trước hết phải phá huỷ mọi niềm tin của bạn - hữu thần, vô thần, Cơ đốc giáo, cộng
sản. Thầy phải triệt phá mọi cấu trúc của niềm tin để cho bạn được bỏ lại như đứa
trẻ nhỏ - hồn nhiên, cởi mở, sẵn sàng truy tìm, sẵn sàng lao vào cuộc phiêu lưu
của chân lí.
Trí
huệ nảy sinh bên trong bạn, nó không phải là kinh sách. Bạn bắt đầu đọc tâm thức
riêng của mình - và tại đó có ẩn giấu tất cả Kinh Thánh và tất cả kinh Gita và
tất cả Dhammapada.
Một
học giả lớn có lần mua một con vẹt. Khi ông ta đem nó về nhà, ông ta bảo nó,
"Tao sẽ dạy mày nói."
"Đừng
bận tâm," con chim trả lời. "Tôi đã có thể nói được rồi."
Ông
ta sững sờ tới mức phải đem nó tới trường đại học. "Trông đây! Tôi mới có
được một con vẹt biết nói kì diệu ở đây..." Nhưng con vẹt không nói, cho
dù học giả này cứ khăng khăng rằng nó có thể nói được.
Mọi
người cá cược với ông ta mười ăn một rằng nó không thể nói được, và ông ta thua
vụ cá cược này. Chẳng cái gì dụ dỗ được con vẹt nói. Trên đường về nhà, theo
sau bởi lời chế nhạo của bạn bè, người này tát cho con vẹt một cái và nói,
"Mày ngu lắm - nhìn vào số tiền mày làm tao mất đây này!"
"Chính
ông mới ngu," con vẹt nói. "đem tôi trở lại đại học đó ngày mai và
ông cá một trăm ăn một và sẽ được!"
Vâng,
vẹt còn thông minh hơn nhiều so với các giáo sư của bạn. Vẹt có sáng suốt hơn
các học giả, bác học, viện sĩ của bạn. Nếu bạn muốn biết những kẻ ngu thực sự bạn
sẽ phải tới thăm đại học - đủ mọi loại kẻ giả vờ, nói năng lắp bắp. Không biết
mình đang thực sự làm cái gì, nhưng họ cứ làm mọi thứ. Không biết điều mình dạy,
nhưng họ đều là thầy giáo; họ cứ viết ra những chuyên luận lớn lao.
Mulla
Nasruddin có một tấm biển tên ở nhà mình. Mọi người đều ngạc nhiên về bằng cấp
mà anh ta đã ghi lên tấm biển tên đó. Trên tấm biển tên anh ta đã viết: Mulla
Nasruddin, B.S., M.S., Ph.D. Mọi người đều thấy tò mò! Cuối cùng hàng xóm tụ tập
lại và họ nói, "Nasruddin, như chúng tôi được biết anh chưa bao giờ tới bất
kì đại học nào. Nói gì về bất kì đại học nào?
-
anh chưa bao giờ tới trường học nào. Thực ra, anh không thể đọc và anh không thể
viết được! Anh lấy đâu ra những bằng cấp này?"
Anh
ta nói, "Các bác có biết những bằng cấp này nghĩa là gì không? B.S. là dạng
viết tắt đấy."
"Viết
tắt cho cái gì?" họ hỏi.
Anh
ta nói, "Cứ nghĩ về nó mà xem...!" Thế rồi họ hiểu ra. "B.S. là
dạng viết tắt của cái gì đó không thể nhắc tới được," anh ta nói.
"Còn M.S. nghĩa là 'còn hơn cái cũ.' Và Ph.D. nghĩa là..."
Nghĩ
về nó, suy tư về nó đi. Bạn có thể suy diễn ra Ph.D. nghĩa là gì? Bạn nhớ B.S.,
nghĩa của nó, bạn nhớ M.S., còn hơn cái cũ, và thế rồi Ph.D. là gì? Tôi để nó lại
cho bạn đấy! Nếu bạn suy nghĩ bạn sẽ tìm ra, và điều đó sẽ làm cho bạn khôn hơn
chút ít. Nếu bạn không thể tìm ra được nó, ngày mai bạn có thể hỏi trong các
câu hỏi!
Theo
vô thần trong hơn năm mươi năm, các nhà khoa học ở Nga bắt đầu tò mò về tôn
giáo có thể là gì. Một nhóm trong họ lấy cuốn sách những trích dẫn thiêng liêng
và quyết định giải mã nó bằng máy tính tương tự. Họ mở cuốn sách ra và lấy câu
đầu tiên họ thấy, gõ nó trên bàn phím. Câu đó là: "Linh hồn sẵn lòng,
nhưng xác thịt yếu." Họ chen chúc quanh bản in ra khi các từ bắt đầu xuất
hiện.
Khi
họ đọc thông điệp này kinh ngạc của họ tăng lên: "Rượu vodka sẵn sàng,
nhưng thịt bị ôi."
"Không
có gì ngạc nhiên cả, các tôn giáo vẫn thường làm hoang mang mọi người," họ
thì thầm lẫn nhau.
Thế
rồi một người trong họ có một ý tưởng. Anh ta gõ tiêu đề cuốn sách, Chuyện vặt
không được xem, vào bộ giải mã. Lời dịch lòi ra: "Món bánh tráng miệng bị
bỏ quên."
"Các
ông thấy đấy!" anh ta kêu lên. "Các ông đã lấy sách nhầm rồi - đây là
một cuốn về việc lạm dụng nấu nướng."
Họ
vẫn đang tìm văn bản tôn giáo đích thực. Tâm trí của người thông thái giống như
máy tính. Người đó cứ diễn giải mọi thứ mà chẳng biết đích xác mình đang làm
gì; người đó không đủ ý thức để làm điều đó... Nhưng tôi không thể tiếp tục
thêm được nữa bởi vì tôi thấy các bạn tất cả đều đang nghĩ về Ph.D.! Ph.D.
nghĩa là "chất đống cao và sâu" - bây giờ được chấm dứt với nó đi để
chúng ta có thể đi xa hơn...
Phật
nói:
Người
trí huệ bảo ông Chỗ ông đã sa ngã
Và
chỗ ông có thể sa ngã - Những bí mật vô giá!
Theo
người đó, theo con đường.
Người
trí huệ bảo ông chỗ ông đã ngã... Bài học đầu tiên trong trường phái huyền bí
là sa ngã nguyên thuỷ của con người. Nó chẳng liên quan gì tới Adam và Eve và
sa ngã nguyên thuỷ của họ. Câu chuyện đó đơn giản là chuyện ngụ ngôn được cô đọng
lại về toàn thể nhân loại. Từng đứa trẻ đều sa ngã theo cùng cách đó. Đó không
phải là cái gì đã xảy ra trong quá khứ, vào những ngày xưa của kinh thánh; nó
không phải là cái gì đã xảy ra trong vườn Địa đàng. Đó là cách diễn đạt thơ ca.
Nó xảy ra bất kì khi nào đứa trẻ được sinh ra. Nó xảy ra lặp đi lặp lại mãi. Nó
xảy ra mọi ngày.
Câu
chuyện ngụ ngôn này là ở chỗ Thượng đế đã cấm Adam và Eve không được ăn quả cây
tri thức. Đó là một trong những chuyện ngụ ngôn hay nhất đã từng được các bậc
thầy sáng tạo ra, bởi những người biết thực sự - không được ăn quả từ cây tri
thức. Và các đại học của bạn là gì? - cây tri thức đấy. Và giáo dục của bạn là
gì? - cây tri thức đấy.
Thượng
đế đã cấm họ không được ăn từ nó, để cho bạn có thể vẫn cứ còn hồn nhiên, bởi
vì chỉ trái tim hồn nhiên mới có thể biết. Khoảnh khắc bạn trở nên tràn đầy tri
thức, việc biết dừng lại. Thực ra, bạn đã tìm thấy cái thay thế cho việc biết -
tri thức của bạn trở thành cái thay thế. Thế thì không cần phải biết! Bạn cứ
níu bám lấy tri thức và nó cứ đem thoả mãn cho bản ngã của bạn.
Nhưng
khoảnh khắc Adam và Eve ăn từ cây tri thức, họ đã sa ngã - họ đã sa ngã khỏi hồn
nhiên nguyên thuỷ của họ, họ đã sa ngã khỏi cuộc sống trẻ thơ của họ. Trước đó
đã có thơ ca trong cuộc sống của họ, trước đó đã có cái đẹp trong cuộc sống của
họ, trước đó đã có cực lạc trong cuộc sống của họ - trước đó đã có ngạc nhiên
và kính nể. Trước đó từng và mọi thứ đều phi thường, bởi vì toàn thể sự tồn tại
tràn đầy bí ẩn; họ được bao quanh bởi vũ trụ bí ẩn. Cầu vồng và mặt trời và mặt
trăng và các vì sao... mọi cái đó không thể nào tin nổi. Họ đã trong ngạc nhiên
thường xuyên.
Khoảnh
khắc họ trở nên thông thái, mọi cái ngạc nhiên đó biến mất. Tri thức giết chết
ngạc nhiên, và trong khi giết chết ngạc nhiên nó phá huỷ luôn tinh thần của bạn
về việc biết, việc truy tìm. Tri thức hoá giải huyền bí của vũ trụ - và vũ trụ
bị hoá giải huyền bí là vũ trụ không có Thượng đế. Một vũ trụ bị hoá giải huyền
bí là vũ trụ không thơ ca, không tình yêu, không âm nhạc. Thế thì âm thanh của
giọt mưa không đi tới trái tim bạn như thông điệp từ bờ bên kia. Thế thì gió luồn
qua lá thông không làm cho bạn xúc động, và hương thơm của hoa không tạo ra thơ
ca trong bạn. Mầu sắc của bướm bị bỏ qua. Cầu vồng vẫn còn không được thấy. Bạn
trở nên bị quá gắn bó với những thứ rất trần tục: tiền bạc, quyền lực, danh vọng.
Bạn trở nên xấu bởi vì toàn thể sự tồn tại của bạn trở thành bình thường; nó mất
tính thiêng liêng, nó trở thành thế tục. Bạn biến ngôi đền của Thượng đế thành
bãi chợ.
Đó
là sa ngã nguyên thuỷ - nhưng điều đó xảy ra mọi ngày, nhớ lấy. Đừng tin vào những
người Ki tô giáo nói rằng điều đó đã xảy ra mỗi một lần thôi - nó xảy ra cho từng
đứa trẻ. Khoảnh khắc bạn bắt đầu cho đứa trẻ vào cuộc hành trình trở nên thông
thái, bạn đang giúp cho nó lại hướng tới sa ngã nguyên thuỷ.
Chức
năng của người trí huệ là bảo bạn nơi bạn đã sa ngã. Bạn đã sa ngã bởi vì tri
thức; đó là sa ngã nguyên thuỷ. Bạn có thể vươn dậy trở lại những khoảnh khắc
sáng tỏ, hồn nhiên đó; bạn có thể đi vào trong thiên đường lần nữa - nhưng bạn
sẽ phải từ bỏ tri thức.
Có
những người từ bỏ thế giới nhưng họ không từ bỏ tri thức của họ; có những người
đi lên núi, người từ bỏ bãi chợ, nhưng họ mang tâm trí theo cùng họ - và tâm
trí là bãi chợ. Bãi chợ tồn tại trong tâm trí! Nó không tồn tại ở đâu khác cả.
Họ có thể đi lên Himalayas, họ có thể ngồi trong những hang động im lặng đẹp đẽ,
nhưng tâm trí họ cứ đi đi lại lại trong cùng hình mẫu cũ.
Người
đã đi lên các hang động ở Himalayas vẫn còn là người Ki tô giáo, Phật tử, người
Hindu giáo. Bây giờ, là người Hindu là vẫn còn bị gắn bó với tri thức nào đó mà
đã từng được trao cho bạn - đó là một trong những cách sa ngã. Là người Mô ha
mét giáo là một cách sa ngã khác, là người Ki tô giáo lại vẫn là một cách sa
ngã khác.
Ki
tô giáo là một loại nào đó của tri thức, Hindu giáo cũng vậy, và ba trăm tôn
giáo khác trên trái đất này cũng vậy. Họ tất cả đều nói biết, họ tất cả đều nói
kinh sách của họ là thiêng liêng, do đích thân Thượng đế viết ra - và chỉ kinh
sách của họ mới thiêng liêng thôi còn mọi kinh sách khác là giả.
Phật
nói kinh sách như vậy là giả, tri thức như vậy là giả. Jesus đúng, nhưng Ki tô
giáo không đúng. Mahavira đúng, nhưng Jaina giáo
không đúng. Với Mahavira có việc biết; Jaina giáo là tri thức. Tri
thức là sa ngã của việc biết. Việc biết mang tính cá nhân: tri thức là hàng
hoá, hiện tượng xã hội - bạn có thể bán và mua nó, nó có sẵn trong thư viện,
trong các đại học. Chẳng bao lâu nữa bạn sẽ có khả năng mang máy tính bỏ túi nhỏ
xíu theo mình; bạn sẽ không cần phải trải qua đủ mọi loại hành hạ của các trường
phổ thông và cao đẳng và đại học. Bạn có thể có chiếc máy tính nhỏ đầy mọi tri
thức sẵn có trên thế giới. Chiếc máy tính nhỏ có thể chứa mọi thư viện trên thế
giới và bao giờ cũng sẵn phục vụ bạn: chỉ ấn nút một cái và bất kì cái gì bạn
muốn biết máy tính sẽ nói cho bạn ngay.
Đó
là điều tâm trí bạn đã từng làm trong quá khứ; bây giờ máy móc có thể làm điều
đó theo cách tốt hơn nhiều. Tâm trí bạn không là gì ngoài cái máy, nó là cái
máy tính sinh học. Nhớ lấy, nó không phải là linh hồn của bạn; nhớ lấy, nó
không phải là tâm thức của bạn; nhớ lấy, nó không phải là thực tại của bạn,
không là tính cá nhân đích thực của bạn. Nó là sản phẩm phụ của xã hội.
Nếu
bạn được sinh ra trong một gia đình Hindu bạn đạt tới tri thức Hindu, và nó chắc
chắn khác với tri thức Ki tô giáo. Nếu bạn được sinh ra ở Nga bạn sẽ có tri thức
cộng sản - Tư bản luận và Cương lĩnh cộng sản, Marx, Engels, Lenin: ba ngôi
không linh thiêng. Nếu bạn được sinh ra ở Trung Quốc bạn sẽ có sách đỏ của Mao
Trạch Đông - đó là Kinh Thánh. Bây giờ toàn thể Trung Quốc đang được nuôi dưỡng
bằng những phát biểu ngu xuẩn của Mao Trạch Đông. Ông ấy không phải là người
trí huệ, ông ấy không chứng ngộ. Ông ấy thậm chí không biết tới bản thân mình -
ông ấy biết cách mạng nào? ông ấy biết nổi dậy nào? - bởi vì ngay cuộc nổi dậy
đầu tiên, cuộc nổi dậy cơ bản, đã không xảy ra.
Nổi
dậy cơ bản, cách mạng cơ bản, bao gồm việc vứt bỏ tri thức để cho bạn có thể lại
đi vào trong vườn Địa đàng.
Người
trí huệ bảo ông chỗ ông sa ngã và chỗ ông có thể sa ngã... Người đó không chỉ
nói cho bạn về quá khứ, nơi bạn cứ ngã đi ngã lại mãi, người đó làm cho bạn nhận
biết về tương lai nữa. Có nhiều cạm bẫy, bạn có thể đi lạc bất kì lúc nào.
Chẳng
hạn, tôi nói với bạn rằng mọi tri thức đều ngu xuẩn, rằng bạn không cần níu bám
vào Kinh Thánh hay vào Veda hay vào Koran. Bạn yêu tôi, bạn tin cậy tôi - bạn
có thể vứt bỏ việc níu bám của bạn vào Koran, vào Kinh Thánh, vào Gita, nhưng bạn
có thể bắt đầu níu bám vào phát biểu của tôi, bạn có thể bắt đầu làm ra Kinh
Thánh từ ý tưởng của tôi. Bạn lại rơi vào cùng cái bẫy; bạn quay lại, từ cửa
sau. Bạn lại vẫn là con người cũ. Bây giờ bạn không có Kinh Thánh nhưng bây giờ
bạn có tôi.
Người
trí huệ bảo ông... chỗ ông có thể sa ngã.
Phát
biểu cuối cùng của Phật Gautama cho các đệ tử là: Là ánh sáng lên bản thân mình
đi. Họ đã kêu khóc, một cách tự nhiên - thầy đã ra đi và họ đã sống với thầy gần
bốn mươi năm; vài đệ tử già hơn đã sống với thầy toàn thể thời gian. Bốn mươi
năm này của vui vẻ vô biên, của kinh nghiệm lớn lao. Bốn mươi năm này đã là thời
gian đẹp nhất có thể có, có thể có về mặt con người. Bốn mươi năm này đã là những
ngày của thiên đường trên thế gian. Và bây giờ thầy ra đi! Điều đó là tự nhiên,
họ bắt đầu kêu và khóc.
Phật
mở mắt ra và nói, "Thôi đừng kêu khóc nữa!
Các
ông vẫn chưa nghe ta sao? Sao các ông khóc?"
Đại
đệ tử của ông ấy, Ananda, nói, "Bởi vì thầy sắp ra đi, bởi vì ánh sáng của
chúng tôi đang ra đi. Chúng tôi thấy, chúng tôi cảm thấy bóng tối đang trùm lên
mình. Tôi vẫn chưa trở nên chứng ngộ và thầy ra đi. Nếu tôi không thể chứng ngộ
được khi thầy còn sống, phỏng có hi vọng gì cho tôi bây giờ khi thầy sẽ mất đi?
Tôi thực là thất vọng lắm, nỗi khổ của tôi không thể tính được, tôi đã phí hoài
bốn mươi năm này. Tôi đã theo thầy như cái bóng, được ở cùng thầy là điều cực
kì đẹp đẽ, nhưng bây giờ thầy sắp ra đi rồi. Điều gì sẽ xảy ra cho chúng
tôi?"
Phật
nói, "Ông khóc bởi vì ông chưa nghe ta. Ta đã nói đi nói lại với ông mãi:
Đừng tin vào ta - nhưng ông đã không nghe. Bởi vì ông đã tin vào ta, và bây giờ
ta sắp chết, toàn thể cấu trúc của ông đang sụp đổ tan tành. Giá mà ông nghe
ta, giá mà ông đã tạo ra ánh sáng lên bản thể mình thay vì trở nên thông thái
qua ta, nếu ông đã kinh nghiệm cái ta riêng của ông, đã không cần phải khóc.
"Nhìn
Manjushree kìa!" ông ấy nói - Manjushree là đệ tử khác của Phật, một trong
những đệ tử vĩ đại nhất. Ông ấy đang ngồi dưới gốc cây gần đó, với mắt nhắm,
chân thành, yên tĩnh, hoàn toàn phúc lạc tới mức Phật nói, "Nhìn
Manjushree kìa! Tới và hỏi ông ấy sao ông ấy không khóc."
Họ
hỏi Manjushree. Ông ấy cười và nói, "Có lí do gì để mà khóc? Phật đã giúp
tôi biết ánh sáng riêng của tôi. Tôi cám ơn, tôi biết ơn, nhưng không có bóng tối
trùm xuống. Và làm sao Phật có thể chết được? Tôi biết tôi không thể chết được
- làm sao Phật chết được? Ông ấy sẽ vẫn ở đây. Cũng như sông biến mất trong đại
dương ông ấy sẽ biến mất vào vũ trụ. Nhưng ông ấy sẽ ở đây! Ông ấy sẽ lan toả
khắp trong vũ trụ. Điều đó sẽ là cái gì đó cực kì đẹp đẽ. Phật đã bị giới hạn
trong thân thể nhỏ; bây giờ hương thơm của ông ấy sẽ thoát ra, ông ấy sẽ thấm đẫm
toàn thể sự tồn tại. Tôi cực kì hạnh phúc rằng bây giờ Phật sẽ lan toả khắp
không gian. Tôi sẽ có khả năng thấy ông ấy lên trong mặt trời và tôi sẽ có khả
năng thấy ông ấy bay trong chim và tôi sẽ có khả năng thấy ông ấy trong sóng đại
dương... và tôi sẽ có khả năng thấy ông ấy ở mọi nơi.
"Ông
ấy đơn giản rời bỏ thân thể mình. Nó đã là sự giam hãm. Và làm sao tôi biết điều
đó? Tôi biết điều đó bởi vì tôi đã biết linh hồn riêng của tôi. Tôi đã nghe ông
ấy còn các ông đã không nghe ông ấy - đó là lí do tại sao các ông khóc."
Phật
nói, "Để ta nhắc lại lần nữa: Appa dipo bhava - là ánh sáng lên bản thân
mình." Thế rồi ông ấy nhắm mắt và biến mất vào vũ trụ. Nhưng phát biểu cuối
cùng của ông ấy cũng là phát biểu đầu tiên. Thực ra đó là toàn thể thông điệp của
ông ấy - trong toàn thể cuộc sống của mình ông ấy đã lặp đi lặp lại cùng thông
điệp này mãi.
Người
trí huệ bảo ông chỗ ông sa ngã và chỗ ông có thể sa ngã - những bí mật vô giá!
Theo người đó, theo con đường đó.
Khi
Phật nói, "Theo ta," ông ấy không ngụ ý bắt chước ông ấy. Khi ông ấy
nói, "Theo ta," ông ấy không nói để ông ấy là mô hình cho bạn; làm cuộc
sống của bạn tương ứng với cuộc sống của ông ấy - không, không thế chút nào.
"Theo" ông ấy có nghĩa hoàn toàn khác.
Có
một câu chuyện thiền:
Một
nhà huyền môn Thiền làm lễ kỉ niệm nhân dịp ngày sinh của thầy mình. Nhưng mọi
người đều phân vân. Họ hỏi ông ấy, "Như chúng tôi được biết thì thầy chưa
bao giờ có thầy nào cả. Chúng tôi cũng đã nghe tin đồn rằng thầy đã tới một bậc
thầy lớn, Bokuju, nhiều lần rồi, nhưng ông ấy bao giờ cũng từ chối nhận thầy
làm đệ tử. Không chỉ có thế, ông ấy thường hay đuổi thầy ra khỏi lều của ông ấy.
Chúng tôi cũng đã nghe nói rằng bởi vì nhẫn nại liên tục của thầy, vài lần ông ấy
đã đánh thầy, và có lần ông ấy còn ném thầy, cả người thầy, ra ngoài cửa sổ lều
ông ấy. Ông ấy chưa bao giờ chấp nhận thầy cả, ông ấy chưa bao giờ điểm đạo cho
thầy - sao thầy kỉ niệm ngày này? Điều này chỉ được làm kỉ niệm cho ngày sinh của
thầy mình thôi."
Và
nhà huyền môn nói, "Vâng, ông ấy là thầy ta đấy. Việc từ chối của ông ấy,
việc ông ấy ném ta ra, việc ông ấy thường xuyên bác bỏ, chính là việc điểm đạo
của ông ấy. Ông ấy đang nói, 'Là ánh sáng lên bản thân mình - không cần phải
theo ta.' Bởi vì việc từ chối liên tục của ông ấy ta đã trở nên chứng ngộ khi
ngồi dưới gốc cây. Không có ai để níu bám.
"Con
người tuyệt vời nhất mà ta đã biết là Bokuju. Nếu mà ông ấy cho phép, ta đã trở
thành cái bóng của ông ấy rồi. Nếu mà ông ấy cho phép, ta đã trở thành một
Bokuju khác. Ta đã yêu con người này, ta chắc sẽ bắt chước ông ấy tới từng chi
tiết: ta chắc đã ăn cùng thứ, ta chắc đã bước cùng cách, ta chắc đã nói cùng điều...
Ta chắc đã là bản sao của ông ấy.
"Nhưng
ông ấy vĩ đại, ông ấy là thầy ta - ông ấy đã từ chối. Ông ấy biết cạm bẫy ở
đâu. Khoảnh khắc ông ấy nhìn vào mắt ta ông ấy biết tương lai của ta, rằng nếu
ông ấy cho phép ta sẽ là một hiện tượng giả tạm, ta sẽ không bao giờ là một cá
nhân đích thực. Biết điều này cho nên ông ấy rất nghiêm khắc với ta. Nhưng bây
giờ ta biết cái nghiêm khắc của ông ấy là bởi vì từ bi của ông ấy. Chính vì ông
ấy mà ta đã trở nên chứng ngộ. Do đó ta kỉ niệm ngày này - đó là ngày sinh của
thầy ta."
Ai
đó hỏi ông ấy, "Nhưng phong cách sống của thầy không biểu lộ chỉ dẫn nào về
Bokuju cả. Phát biểu của các thầy hoàn toàn khác nhau - không chỉ khác nhau đôi
khi còn mâu thuẫn với phát biểu của ông ấy. Làm sao thầy có thể nói rằng ông ấy
là thầy của thầy và thầy là tín đồ của ông ấy?"
Và
nhà huyền môn nói, "Vâng, ta nói ông ấy là thầy ta cho dù ông ấy chưa bao
giờ điểm đạo cho ta một cách chính thức. Nhưng điểm đạo chính thức là không
quan trọng, không liên quan. Và dầu vậy ta vẫn nói rằng ta là tín đồ của ông ấy,
mặc dầu ta không thể chứng minh được điều đó bằng bất kì tài liệu nào - nhưng
không cần chứng minh cho bất kì ai cả. Ta biết, có vậy thôi. Ta là tín đồ của
ông ấy!"
Mọi
người cứ khăng khăng, "Làm sao thầy có thể nói điều đó được?"
Và
nhà huyền môn nói, "Ông ấy chưa bao giờ theo thầy ông ấy; ta chưa bao giờ
theo ông ấy. Đó là đặc trưng cơ bản của ông ấy: ông ấy chưa bao giờ theo thầy
ông ấy. Và ta chưa bao giờ theo ông ấy - đó là cách ta theo ông ấy. Ta là tín đồ
và ông ấy là thầy của ta."
Những
bí mật vô giá! Vâng, có những bí mật vô giá. cuộc sống của người tìm kiếm thực
sự không phải là cuộc sống bình thường. Nó không thể bị giới hạn vào hình mẫu
nào đó, nó không thể bị giới hạn vào phong cách sống nào đó - Ki tô giáo, Hindu
giáo, Mô ha mét giáo. Cuộc sống của người tìm kiếm thực sự là cuộc sống của tự
do.
Và
khi Phật nói: theo người đó, theo con đường... ông ấy không ngụ ý trở thành bản
sao, ông ấy đơn giản ngụ ý: cố gắng hiểu cuộc sống của người đó. Quan sát, phân
tích, thiền, và thế rồi để cho việc thiền của bạn, việc quan sát của bạn, việc
chứng kiến của bạn trở thành con đường.
Và
đi theo người trí huệ thực sự không phải là theo bản thân người trí huệ, mà
theo con đường - con đường đã làm cho người đó thành trí huệ.
Con
đường đó là gì mà làm cho người ta thành trí huệ?
Hai
điều... thứ nhất là phủ định: vứt bỏ tri thức. Và thứ hai là khẳng định: đi vào
thiền.
Một
toán thánh nhân được chấp nhận cho lên trời, và cánh cửa mở ra chỉ vừa đủ cho từng
người lọt qua.
Ngay
khi người ta vào rồi, chẳng nghi lễ gì cửa liền đóng lại và rồi lại mở ra cho
người tiếp đi vào chẳng chần chừ gì, cứ dường như người đó hoàn toàn mong đợi
được nhận vào.
Ngay
ở cuối một học giả bước tới với bộ râu đáng kính và dáng đi oai vệ, khăn xếp to
và cái nhìn tự tin. Khi ông ta bước lên, cánh cửa mở ra và kèm trompet vang lừng
với tiếng vỗ tay rân ran bùng phát ra từ đám đông tụ họp. Một nhân vật rực rỡ
bước tới để hộ tống ông ta đi vào trong.
"Điều
này thật hài lòng quá," vị học giả tự nói với mình, "khi biết rằng
người có học sẽ không phải tự cho mình cái vẻ ta đây và vẻ thanh nhã nữa. Ở
đây, ít nhất thì tầm quan trọng của chúng ta cũng được thừa nhận."
Với
việc xảy ra ông ta nói, "Sao mọi người mừng tôi thế?"
"Thế
này," thiên thần nói, "đây là điều đặc biệt - ông thấy đấy, đây là lần
đầu tiên chúng tôi có một viện sĩ trong nhóm mình."
Việc
người thông thái vào thiên đường gần như là điều không thể được. Điều đó phải
là sự kiện đặc biệt lắm! Do đó các thánh nhân đã không được tiếp đón bằng lễ mừng
lớn, nhưng viện sĩ này, học giả này, nhà bác học này, lại được tiếp đón bằng
nghi lễ linh đình. Điều đó hiếm hoi thế.
Điều
đó là rất hiếm hoi, thực ra điều đó là không thể được... Câu chuyện này phải là
chuyện bịa thôi. Không ai biết học giả nào đã vào cõi trời; là học giả tức là
trong sa ngã nguyên thuỷ rồi. Và tuân theo hình mẫu cuộc sống từ kinh sách nhất
định mang tính sai lầm, bởi vì ai sẽ diễn giải? Tâm trí ngu xuẩn của bạn sẽ cứ
diễn giải, và bạn sẽ theo theo diễn giải của riêng mình. Bạn sẽ đi theo vòng
tròn, bạn sẽ vẫn còn như cũ.
Một
người tập tễnh bước đi trên phố, nhăn nhó vì đau đớn.
Một
bác sĩ dừng người đó lại và nói, "Nếu như tôi là là ông thì tôi sẽ để cho
bản thân ông được thấy - ông cần cắt ruột thừa."
Thế
là anh ta cho cắt bỏ ruột thừa. Chẳng mấy chốc anh ta lại tới một bác sĩ khác
nói rằng anh ta vẫn bị cùng trục trặc như cũ, cho nên anh ta được điều trị bằng
thuốc an thần. Điều này cũng chẳng ích gì và anh ta đi tới bệnh viện nơi họ kê
đơn cho anh ta ăn kiêng và luyện tập điều trị.
Vài
tuần sau anh ta phải đi tới nhà giải phẫu khác bởi vì những thuốc kia chẳng
giúp ích chút nào. Nhà giải phẫu nói, "A mi đan của anh phải bỏ đi
thôi..." thế là a mi đan bị cắt đi. Và theo cách này anh ta đi hết bác sĩ
nọ tới bác sĩ kia, từ nhà giải phẫu nọ tới nhà giải phẫu kia, và các bộ phận của
thân thể cứ dần dần biến mất. Nhưng vấn đề vẫn còn nguyên đấy!
Thế
rồi một hôm anh ta đi dạo ở phố chợ và một trong các bác sĩ thấy anh ta. Ông ta
nói, "Rất mừng được gặp anh - anh trông khá nhiều rồi! Anh trông khoẻ đấy!"
ông bác sĩ điều trị nói. "Sự việc xảy ra thế nào vậy? Ai cuối cùng đã giúp
được cho anh? - bởi vì chúng tôi tất cả đều không giúp được. Hay phục vụ của
tôi đã có ích cho ông?"
"Phục
vụ hay nhỉ!" bệnh nhân nói. "Cả đau lẫn tật đi tập tễnh đều biến mất
vào lúc tôi lấy cái đinh ra khỏi giầy của tôi!"
Đôi
khi mọi việc rất nhỏ bé, nhưng nếu bạn đi tới những người thông thái họ nhìn
qua kính phóng đại; họ phóng đại mọi thứ lên. Họ thông minh và hiệu quả trong
việc tạo ra vấn đề, bởi vì họ biết giải pháp. Giải pháp của họ là có ích chỉ nếu
họ tạo ra vấn đề.
Đi
tới bất kì chuyên gia nào, và ngay lập tức ông ta sẽ nói cho bạn biết bao nhiêu
vấn đề bạn chưa bao giờ nhận biết tới. Ông ta phải làm thế, bởi vì toàn bộ tri
thức chuyên gia của ông ta tuỳ thuộc vào việc bạn có nhiều vấn đề, và chúng
càng phức tạp, ông ta càng sung sướng hơn bởi vì bây giờ ông ta có cơ hội để biểu
lộ tri thức của mình, kĩ năng của mình.
Vấn
đề thực có thể rất nhỏ. Vấn đề thực thực sự là nhỏ! Vấn đề là ở chỗ bạn sống
trong cái đầu. Đi xuống trái tim từ cái đầu đi. Cái đầu có thể trở nên thông
thái, trái tim không bao giờ có thể trở nên thông thái được. Trái tim có thể trở
nên trí huệ. Trái tim biết theo cách hoàn toàn khác. Việc biết của nó là trực
tiếp, tức khắc - nó không logic, nó là trực giác. Nó không suy diễn, nó không là
kết luận sau lập luận dài dòng. Nó là cái nhìn đơn giản! Người ta đơn giản biết...
Trái tim không phải là quá trình của việc biết: nó là việc mở mắt ra.
Trái tim không phải là quá trình của việc biết: nó là việc mở mắt ra.
Để
người đó uốn nắn và dạy ông Và giữ ông khỏi điều nguy hại.
Tâm
trí là tinh quái. Nó cứ lừa bạn; nó giở nhiều trò tinh quái với bạn tới mức bạn
lại không nhận biết. Trò tinh quái thứ nhất là: người trí huệ chia sẻ trí huệ của
mình và bạn lập tức nhảy lên điều đó và đưa nó thành tri thức. Trò tinh quái thứ
hai là: người trí huệ giúp bạn là bản thân bạn và bạn bắt đầu làm việc vất vả
trong việc bắt chước người trí huệ - bạn cố gắng giống người đó.
Người
trí huệ muốn bạn chỉ có cái nhìn thấu vào mọi thứ để cho bạn có ánh sáng riêng
của mình. Nhưng bạn không muốn nhìn thấu, bạn muốn có các hướng dẫn rõ ràng. Bạn
không muốn nhìn vào bản thân mình, bạn muốn được hướng dẫn. Bạn không muốn chấp
nhận trách nhiệm của mình đối với bản thân mình; bạn muốn đổ toàn thể trách nhiệm
lên vai thầy, lên vai người trí huệ. Thế thì bạn cảm thấy thoải mái. Bây giờ
người đó chịu trách nhiệm; nếu cái gì đó đi sai, người đó chịu trách nhiệm. Và
mọi thứ đều sẽ sai, bởi vì chừng nào bạn còn chưa nhận trách nhiệm của mình chẳng
cái gì sẽ đi đúng cả.
Không
ai có thể làm bạn đúng trừ bản thân bạn.
Thầy
đơn giản dạy bạn là thầy của chính mình - đó là chức năng thực của thầy. Thầy
không muốn bạn phụ thuộc vào thầy. Nhưng tâm trí cứ giở các trò tinh quái này.
Tâm trí muốn bạn phụ thuộc. Tâm trí bao giờ cũng đi tìm hình ảnh người bố hay
hình ảnh người mẹ; bạn muốn ai đó cầm tay bạn. Bạn muốn ai đó hướng dẫn, lãnh đạo.
Thầy
chỉ có thể chỉ dẫn thôi. Thầy là ngón tay chỉ trăng. Nhưng tâm trí chơi trò
tinh quái: nó bám lấy ngón tay - bạn thậm chí có thể bắt đầu bú ngón tay.
Một
Thiền sư, Nan Yin, hay nói với các đệ tử của mình, "Đừng cắn ngón tay ta -
nhìn lên trăng!"
Nhưng
mọi người đều trẻ con. Cũng giống như trẻ nhỏ bú ngón tay mình và tin rằng
chúng đang có được chất nuôi dưỡng, trẻ con đã lớn bú ngón tay của thầy và cho
rằng họ được nuôi dưỡng. Cẩn thận về trò tinh quái này của tâm trí đi!
Và
tâm trí bao giờ cũng bảo bạn, "Điều này là đơn giản, tin vào thầy. Mình
không cần làm việc vất vả - phỏng có ích gì mà làm việc vất vả? Trông đấy:
Albert Einstein đã phát hiện ra thuyết tương đối, bây giờ không ai khác cần
phát hiện ra nó lần nữa. Một khi ông ấy đã phát hiện ra rồi mình có thể đọc nó
trong sách. Ông ấy phải mất nhiều năm; với mình chỉ mất vài giờ để hiểu nó. Sao
phải bận tâm phát hiện lại nó?"
Điều
đó là đúng đối với tri thức bên ngoài, điều đó là đúng về thế giới bên ngoài,
thế giới khách quan; nhưng nó không đúng về chủ quan, thế giới bên trong. Tại
đó người ta phải khám phá đi phát hiện lại. Phật đã khám phá ra, nhưng khám phá
đó không hữu dụng cho bạn. Jesus đã biết, nhưng điều đó không thể trở thành việc
biết của bạn được. Mohammed hiểu, nhưng không có cách nào truyền nó cho bạn. Những
người này chỉ có thể chỉ dẫn cách họ đã đạt tới; họ có thể chia sẻ toàn thể cuộc
hành trình của họ với bạn. Nhưng thế rồi bạn phải đi theo cách riêng của bạn.
Tâm
trí bao giờ cũng tìm lối tắt; và tâm trí bao giờ cũng tìm cách dễ dàng hơn,
cách thức rẻ hơn. Và đó là những thứ lái bạn cứ vào đi vào lại những con đường
sai. Cẩn thận đấy! Tâm trí bao giờ cũng cho bạn chất độc bọc đường. Nhưng nó có
vị ngọt chỉ lúc đầu thôi; đến cuối nó trở thành chất độc với bạn. Trí huệ có thể
không mang vị ngọt thế lúc ban đầu - thực ra nó chẳng bao giờ mang vị ngọt như
vậy cả, nó đắng - nhưng nó làm thuần khiết bạn. Tri thức ngọt ngào lúc ban đầu,
trí huệ ngọt ngào lúc cuối cùng. Và bất kì cái gì tỏ ra ngọt lúc cuối đều là
cái đúng.
Câu
chuyện này được kể về một người chết đi và được gặp một thiên thần, thiên thần
nói với anh ta, "Trong cuộc đời mình ông bao giờ cũng có ý tin rằng mọi sự
ở đây đã không thực sự tồi như ông nghĩ. Ông có muốn xem cõi trời và địa ngục
và chọn số mệnh của riêng ông, như ông bao giờ cũng chọn trong cuộc đời trần thế
của ông không?"
Tất
nhiên anh ta đồng ý, và thiên thần mở cánh cửa có dấu "Địa ngục" ra.
Bên trong đầy những người tham dự đình đám và mọi người nhảy múa và đánh trống;
trác táng thường xuyên dường như cứ diễn ra, đàn ông và đàn bà nhảy cỡn lên, quỉ
và ma cũng nhảy cỡn lên. Tất cả dường như là rất náo nhiệt và thích thú.
Thế
rồi thiên thần bỏ sang mở cánh cửa mang dấu "Cõi trời." Bên trong có
một dãy các thánh nhân đang ngồi và nằm trong trạng thái phúc lạc vô cùng.
Nhưng tất cả đều dường như lạnh lẽo, đờ đẫn và chết.
"Tôi
sẽ chọn chỗ thứ nhất," người này nói, bởi vì anh ta không muốn dành vĩnh hằng
cho việc không làm gì .
Họ
quay trở lại cánh cửa thứ nhất và thiên thần mở nó ra. Anh ta thấy mình bị tống
vào một cái hang đầy những lửa và bụi than, muội và khói, với quỉ đang quất roi
vào tù nhân và tiếng ầm ào của sấm. Đau đớn và gần như không thở được anh ta vật
lộn đứng trên chân và chặn một con quỉ vừa đi qua: "Tôi được đưa đi thăm
và đã chọn địa ngục, nhưng nó chẳng có gì giống thế này cả!"
Con
quỉ nhe răng cười toe toét: "Ồ, nhưng ông chỉ viếng thăm lần này thôi. Chỗ
đó đơn giản là dành cho khách du lịch đấy!"
Tâm
trí có thể cám dỗ bạn, nó có thể cho bạn những giấc mơ dịu ngọt lúc ban đầu -
nhưng chỉ lúc ban đầu thôi. Một khi bạn đã mắc bẫy rồi, một khi bạn đã trong nó
rồi, một khi bạn đã chọn, bạn sẽ khổ. Đó là cách hàng triệu người đang khổ sở.
Phật
nói: để người đó uốn nắn và dạy ông. Và giữ cho ông khỏi mối nguy hại.
Thế
giới có thể ghét người đó Nhưng người tốt yêu người đó.
Và
nhớ lấy: người trí huệ bao giờ cũng bị thế giới ghét, nhất định bị thiên hạ
ghét. Sự hiện diện của người đó là việc quấy rối cho những người đang ngủ say
và ngáy, bởi vì người đó cứ hô lên "Dậy đi!" Người đó cứ nói cho bạn
rằng bất kì điều gì bạn làm cũng đều là ảo tưởng. Người đó cứ lay bạn, làm bạn
choáng trong nhận biết, và bạn có thể đang mơ những giấc mơ dịu ngọt, những giấc
mơ đẹp. Người đó cứ kéo bạn ra khỏi giấc mơ và giấc ngủ của bạn, mà giấc ngủ của
bạn có thể thoải mái, an toàn, an ninh thế. Và người đó không cho phép bạn nghỉ
ngơi; người đó cho bạn công việc lớn lao để làm với bản thân bạn.
Nhân
loại bình thường bao giờ cũng ghét người trí huệ - người đó có thể là một Phật
hay một Socrates hay một Zarathustra hay một Lão Tử, chẳng thành vấn đề là ai,
nhưng trong nhiều thời đại người trí huệ đã bị người thường, bị đám đông, bị quần
chúng ghét. Người trí huệ chỉ được yêu mến bởi vài người tìm kiếm chân lí, vài
người yêu chân lí, vài người tốt. Nhớ điều đó!
Đừng
tìm bạn xấu
Hay
sống với người không quan tâm. Tìm bạn yêu chân lí.
Đó
là nghĩa của công xã tâm linh: tìm bạn yêu chân lí - bởi vì một mình bạn có thể
không có khả năng thu được nhiều dũng cảm để đi vào vùng biển chưa được lập bản
đồ. Nhưng khi bạn thấy nhiều người cùng đi, dũng cảm lớn có thể nảy sinh trong
tim bạn. Nó có đó, đang nằm ngủ; nó có thể trở nên hoạt động. Do đó công xã là
cần thiết - Phật đã tạo ra sangha - tăng đoàn, công xã - nơi những người tìm kiếm
có thể tụ tập cùng nhau, nơi những người yêu chân lí có thể nắm tay nhau, nơi
các thiền nhân có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình với nhau, nơi mọi người có
thể cảm thấy rằng họ không một mình, nơi họ có thể tạo ra một xã hội thay thế.
Và
đó đích xác là điều tôi đang cố gắng làm ở đây: tạo ra một xã hội thay thế - xã
hội của những người bạn của chân lí, xã hội của những người tìm kiếm, xã hội của
những người có thể cảm thấy giao cảm sâu sắc với nhau, về tình yêu, về tin cậy,
bởi vì đây sẽ là cuộc hành trình gian nan và cuộc hành trình dài lâu, và bạn sẽ
phải đi qua nhiều sa mạc và nhiều núi non và nhiều đại dương.
Một
mình bạn có thể không có khả năng thu được nhiều cam đảm, một mình bạn có thể cảm
thấy vô vọng. Nhưng khi bạn thấy nhiều người nhảy múa, ca hát, hân hoan trong
cuộc hành trình của họ, dũng cảm lớn nảy sinh trong tim bạn, tin cậy lớn nảy
sinh trong bản thân bạn. Bạn trở nên tin tưởng rằng việc trở thành vị phật là
có thể trong cuộc sống này.
Đừng
tìm bạn xấu... "Bạn xấu" là gì? Những người không quan tâm tới chân
lí... Hay sống với người không quan tâm. Và tránh những người dửng dưng với
chân lí, bởi vì họ sẽ làm phí hoài cuộc sống của họ. Sống cùng với họ bạn sẽ phải
giống như họ. Sống cùng với họ bạn sẽ phải cư xử theo cách của họ. Tìm những
người đang trong chuyện tình với sự tồn tại đi. Điều đó sẽ giúp nhiều lắm cho
việc tìm kiếm của bạn; bạn sẽ được lợi vô cùng.
Uống
say sưa... Và khi bạn đã tìm thấy người trí huệ, thầy, vị phật, khi bạn đã tìm
thấy một cộng đồng những người tìm kiếm chân lí, một tăng đoàn, thế thì uống
say sưa thật sâu vào, thế thì đừng keo kiệt, thế thì đừng kìm lại. Bạn đã từng
khát khao nhiều kiếp rồi. Khi thời gian tới, đừng cho phép những hình mẫu thói
quen cũ ngăn cản bạn - uống thật sâu sắc, không lưỡng lự, dũng cảm. Tiến lên!
Uống
sâu sắc.
Sống
trong thanh thản và vui vẻ.
Sống
cùng thầy thực sự là người say. Thầy đang chia sẻ rượu của thầy. Thầy đang chia
sẻ tinh hoa bên trong đã bắt đầu tuôn chảy trong bản thể thầy. Nguồn này là
không hề cạn; bạn có thể uống bao nhiêu tùy ý - bạn không thể làm cạn kiệt được
nó. Sống cùng thầy là để học cách uống thầy, cách ăn thầy, cách tiêu hoá thầy.
Là đệ tử thực sự là kẻ ăn người đấy! Thầy phải bị ăn, bị uống, bị tiêu hoá, để
cho thầy bắt đầu tuôn chảy trong máu bạn, trong xương bạn, trong tuỷ bạn... để
cho thầy trở thành một phần của bản thể bạn. Uống say sưa. Sống trong thanh
bình và vui vẻ.
Và
khi bạn ở quanh thầy, đừng buồn và đừng nghiêm chỉnh. Đấy không phải là cách
giao cảm với thầy. Bạn chỉ được bắc cầu bằng việc hân hoan. Tất nhiên, vui vẻ của
bạn phải rất thanh bình, êm đềm, trầm tĩnh. Vui vẻ thực sự không phải là sốt,
nó êm đềm, nó rất im lặng. Nó hát bài ca, nhưng bài ca là của im lặng. Nó không
la to, nó thì thào.
Sống
trong thanh bình và vui vẻ - bởi vì bạn càng thanh bình, bạn càng sẵn có cho thầy.
Và bạn càng vui vẻ, bạn càng gần với thầy. Đây là cách để gần hơn.
Nhiều
sannyasin hỏi tôi, "Làm sao ở gần thầy được, thưa Thầy kính yêu?"
Thanh bình, vui vẻ... và bạn ở gần! Buồn bã, nghiêm chỉnh, và bạn ở xa, xa lắm.
Về mặt vật lí bạn có thể gần, nhưng nếu bạn buồn bạn không gần đâu. Về mặt vật
lí bạn có thể ở xa hàng nghìn dặm, nhưng nếu bạn đang trong vui vẻ, hân hoan rằng
bạn có thầy, hân hoan rằng bạn đã tìm ra vị phật, hân hoan rằng thế gian này
không bị Thượng đế bỏ rơi, rằng ngài cứ phái các sứ giả của mình tới, hân hoan
rằng Christ vẫn bước đi trên đất, rằng Mohammed không chết mmà được sinh ra dưới
dạng khác, hân hoan rằng tâm thức vẫn nở hoa và trở thành hoa sen như vị phật...
và bạn đã tìm ra hoa sen!
Bạn
may mắn đấy, bạn được ân huệ đấy. Hân hoan trong điều đó sẽ đem bạn tới ngày một
gần với thầy hơn. Nó là gần gũi tâm linh; nó chẳng liên quan gì tới gần gũi vật
lí.
Người
trí huệ vui thích trong chân lí Và theo luật của người thức tỉnh.
Và
nếu bạn sống một cách hân hoan, trong thanh bình sâu sắc, nếu bạn uống mà không
kìm giữ bản thân mình theo bất kì cách nào, nếu bạn đi một cách toàn tâm cùng
thầy, bạn bắt đầu trở nên trí huệ.
Người
trí huệ vui thích trong chân lí... Thế thì bất kì khi nào bạn nghe chân lí, bất
kì khi nào bạn thấy chân lí, bạn đều vui thích. Vui thích của bạn là mênh mông.
Vui thích của bạn không phải của thế gian này, nó là cái gì đó của cõi bên kia.
...
Và tuân theo luật của người thức tỉnh. Và dần dần, dần dần bạn trở nên nhận biết
về luật của người thức tỉnh. Aes dhammo sanantano! Thế giới này không phải là hỗn
độn, nó là hài hoà. Vũ trụ này không phải là ngẫu nhiên; chạy qua trong nó là
luật nào đó. Phật gọi luật đó là dhamma pháp - ông ấy gọi luật đó là Thượng đế.
Cách tiếp cận của ông ấy cực kì khoa học. Ông ấy không thuyết giảng về Thượng đế
nào ngồi trên ngai vàng trên trời và chi phối và kiểm soát thế giới này, và thấy
ghen tị và nổi giận - nếu bạn không theo ông ấy, ông ấy sẽ tống bạn vào địa ngục;
nếu bạn theo ông ấy, nếu bạn ca ngợi ông ấy, nếu bạn hối lộ ông ấy qua lời cầu
nguyện và các tu sĩ, thế thì ông ấy thưởng cho bạn lên trời với gái đẹp chẳng
bao giờ già, người bị mắc kẹt ở tuổi mười sáu. Phật không tin vào Thượng đế nào
đứng ra thưởng hay phạt. Cách tiếp cận của ông ấy mang tính khoa học.
Ông
ấy nói Thượng đế nghĩa là luật tối thượng giữ cho toàn thể vũ trụ cùng nhau. Vũ
trụ là một vòng hoa - bạn thấy hoa nhưng bạn không thấy sợi chỉ xuyên qua hoa;
nó ẩn kín. Sợi chỉ đó là Thượng đế, và Thượng đế đó chỉ được biết tới bởi người
đã thức tỉnh, bởi chư phật.
Uống
sâu sắc từ thầy, hấp thu bản thể thầy, hấp thu sự hiện diện của thầy... tan chảy
vào trong sự hiện diện của thầy. Để cho hơi ấm và từ bi của thầy làm tan chảy tảng
băng của bản ngã bạn. Trở thành một với thầy đi. Vứt bỏ nhị nguyên. Được bắc cầu.
Đây
là nghĩa của tính đệ tử, đây là điều tính chất sannyas tất cả là gì, và dần dần,
dần dần bạn sẽ bắt đầu thấy cái gì là thật và cái gì là giả. Biết cái giả là giả
là biết chân lí là chân lí; biết bóng tối là tối là bắt đầu của việc biết ánh
sáng là sáng. Và khi tình yêu chân lí nảy sinh trong bạn, không còn xa nữa khi
bạn sẽ trở nên chứng ngộ theo ánh sáng riêng của bạn, khi bạn sẽ được thức tỉnh.
Trước
khi điều đó xảy ra, tuân theo luật của người thức tỉnh, trong hoà điệu với người
thức tỉnh, trong hài hoà với người thức tỉnh đi - bởi vì đó là sự đồng bộ.
Nghe
nhạc hay bạn cảm thấy muốn nhảy múa. Điều đó không phải do nhạc gây ra đâu, bởi
vì mọi người đang nghe bản nhạc này có thể không cảm thấy thích điều đó; cho
nên nó không phải là luật nhân quả, nó là một luật hoàn toàn khác. Carl Gustav
Jung đã gọi nó là luật đồng bộ; ông ấy đã cho nó cái tên hay. Điều đó đã được
biết tới từ nhiều thời đại, nhưng ông ấy là người đầu tiên đã phát hiện lại nó ở
phương Tây.
Ở
phương Đông chúng ta đã gọi nó là satsang: trong hoà điệu với thầy, được hoà nhịp
tới mức bản thể thầy bắt đầu chìm vào trong bạn, tới mức bạn bắt đầu chờm lấp
nhau. Thế thì cái gì đó bắt đầu xảy ra bên trong bạn điều chưa từng xảy ra. Thầy
không làm điều đó, bạn không làm điều đó - không có ai làm điều đó cả - nó đơn
giản xảy ra. Cũng giống như nghe nhạc bạn cảm thấy thích nhảy múa; trong hoà điệu
với thầy bạn cảm thấy sự thức tỉnh xảy ra cho mình.
Nhà
nông dẫn nước vào đất. Cung thủ chuốt mũi tên.
Và
thợ mộc tiện gỗ.
Cho
nên người trí huệ hướng tâm trí mình.
Một
khi một mảnh trí huệ nào đó đã xảy ra cho bạn, hướng tâm trí bạn tới người đã
thức tỉnh. Đệ tử liên tục hướng tâm trí mình vào thầy - ngay cả sau khi đệ tử
đã trở nên chứng ngộ người đó vẫn tiếp tục hướng tâm trí mình.
Sariputta
đã trở nên chứng ngộ - ông ấy là một trong những đại đệ tử của Phật. Khi ông ấy
trở nên chứng ngộ ông ấy đã rất sợ đi tới trước Phật. Tại sao? - bởi vì ông ấy
biết bây giờ Phật sẽ bảo ông ấy đi và lan truyền lời; ông ấy sẽ phải từ giã thầy.
Tương
truyền là trong nhiều ngày ông ấy cứ trốn tránh thầy, nhưng cuối cùng Phật truy
hỏi, "Sariputta đâu rồi? - bởi vì ông ấy đã trở nên chứng ngộ, và các ông
không thể che giấu được ánh sáng. Đem ông ấy lại, kiếm xem ông ấy đang ở
đâu!"
Ông
ấy đang trốn trong hang. Ông ấy bị cưỡng bức đem đi. Ông ấy nói, "Tôi
không muốn đi. Tôi biết thầy sẽ làm gì với tôi. Thầy sẽ nói, 'Bây giờ ông đi
đi, đi lang thang, vẩn vơ, thuyết giảng. Bây giờ ông đã trở nên thức tỉnh, đi
đánh thức người khác đi!' Và tôi không muốn rời thầy. Tôi sẽ sống ra sao nếu
không có sự hiện diện thường xuyên của thầy?"
Nhưng
ông ấy phải đi. Khi ông ấy tới Phật, Phật nói, "Bây giờ đi về phương đông
và lan truyền lời này. Ông đã đạt tới rồi, bây giờ chia sẻ nó." Và khi thầy
ra lệnh rồi, điều đó phải được tuân theo thôi.
Với
nước mắt đầm đìa rơi ông ấy chạm chân thầy, đi về phương đông. Nhưng mọi sáng
điều đầu tiên ông ấy làm, ông ấy dậy, cúi mình về phương tây nơi thầy đang cư
ngụ.
Mọi
người hỏi ông ấy, "Sariputta, ông bây giờ tự bản thân mình đã là vị phật
theo quyền riêng của ông rồi - ông làm gì vậy? Sao ông cứ cúi lạy mọi sáng hướng
về phương tây thế?"
Ông
ấy nói, "Chẳng thành vấn đề tôi chứng ngộ hay không. Điều đó là không liên
quan, đấy không phải là vấn đề. Thầy tôi đang cư ngụ ở phương tây; mặc dù tôi ở
xa rồi, tôi vẫn được nuôi dưỡng bằng sự hiện diện của thầy. Tôi có thể vứt bỏ
chứng ngộ của toi nhưng tôi không thể vứt bỏ thầy tôi được. Chứng ngộ không là
gì nếu so với sự hoà điệu cùng thầy."
...
Người trí huệ hướng tâm trí mình - vào chân lí, vào luật tối thượng của sự tồn
tại, vào người đã thức tỉnh. Và khi bạn hướng tâm trí mình vào người đã thức tỉnh,
hay hướng vào luật của sự tồn tại, dần dần, dần dần tâm trí điên khùng cũ bắt đầu
lắng đọng, huyên thuyên cũ biến mất. Bạn trở nên ngày một im lặng và thanh bình
và tĩnh lặng hơn. Bạn trở thành cái hồ im lặng, mọi con sóng đều đã qua, thậm
chí không tìm ra một gợn sóng. Chỉ thế thì chân lí được phản xạ trong bạn.
Gió
không thể lay được núi.
Khen
ngợi chê bai không động lòng người trí huệ.
Và
thế thì bạn giống như núi: không cái gì có thể lay chuyển được bạn. Và thế thì
ca ngợi hay chê bai là không khác nhau theo bất kì cách nào đối với người trí
huệ - chúng tất cả đều giống nhau. Dù người dốt nát, người chưa thức tỉnh ca ngợi
hay chê bai bạn, điều đó có tạo ra khác biệt gì? Cả hai đều tới từ giấc ngủ của
người đó. Điều đó cũng giống như một người trong mơ hét tướng lên - chê bai hay
ca ngợi bạn. Bạn sẽ để ý tới điều đó chứ? Bạn sẽ phân biệt giữa hai điều đó chứ?
Người trong mơ có thể kết án bạn hay có thể ca ngợi bạn - bạn biết người đó
đang mơ, người đó đang ngủ. Chẳng thành vấn đề gì! Không có khác biệt. Điều
người đó nói tất cả đều vô nghĩa. Khi người đó thức dậy tự người đó sẽ cười vào
điều đó, điều đó có vẻ buồn cười thế.
Do
đó, bạn có thể ca ngợi vị phật, bạn có thể kết án ông ấy - hàng triệu người sẽ
kết án ông ấy, rất ít người sẽ ca ngợi ông ấy - nhưng điều đó chẳng tạo ra khác
biệt gì đối với ông ấy. Ông ấy vẫn còn như núi bất động, núi bất di bất dịch.
Người
đó sáng tỏ. Nghe thấy chân lí, Người đó như cái hồ,
Thuần
khiết, tĩnh lặng và sâu thẳm.
Người
đó không chỉ sáng tỏ - Phật nói người đó là sự sáng tỏ, bản thân sự sáng tỏ. Được
sáng tỏ là điều rất bình thường; thỉnh thoảng bạn cũng sáng tỏ đấy. Thỉnh thoảng
bạn có thể vươn tới sáng tỏ nào đó. Nhưng tâm trí bao giờ cũng có đó để lại giở
trò tinh quái; bạn lại sẽ bị ngã. Bạn có thể nhảy được một lúc và bạn ở ngoài
luật trọng trường - nhưng được bao lâu? Vài giây là nhiều nhất, và bạn trở lại
dưới cùng luật trọng trường.
Được
sáng tỏ là hiện tượng tạm thời.
Người
trí huệ, người thức tỉnh, không chỉ sáng tỏ - người đó là sự sáng tỏ. Bạn không
thể lấy được điều đó đi khỏi người đó. Người đó là sáng tỏ thấu suốt. Người đó
hoàn toàn sáng tỏ. Tất cả cỏ dại đã bị nhổ khỏi người đó - người đó chỉ là hoa
hồng và hoa hồng, luống hồng. Người đó đã trở thành ánh sáng thuần khiết, năng
lực thuần khiết để nhìn. Cái nhìn của người đó không còn bị vẩn đục, bầu trời của
người đó không mây.
Người
đó như cái hồ, thuần khiết, tĩnh lặng và sâu thẳm. Tâm thức của người đó trở
thành cái hồ, và trong cái hồ đó phản xạ mọi vì sao và tất cả mặt trời và tất cả mặt trăng và
toàn thể bầu trời... và toàn thể chân lí, toàn thể sự tồn tại. Trong cái hồ tâm
thức im lặng của người đó phản xạ cái đang đó, và cái đó là tên khác cho Thượng
đế - cái đang đó.
Suy
tư về những lời kinh này; không chỉ suy tư - thấm đẫm tinh thần của chúng. Phật
đang chia sẻ kho bái vô giá của mình cho bạn, những bí mật vô giá... theo ông ấy,
theo con đường.
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment