Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 2)
Chương
2. Uống tới tràn đầy và nhảy múa
Câu
hỏi thứ nhất:
Thưa
thầy kính yêu,
Xin
Thầy nói thêm về pha mới của công việc của thầy? Sri Ramakrishna, Sri Raman, và
ngay cả J. Krishnamurti, đều dường như một chiều. Gurdjieff có thử cách tiếp cận
đa chiều không? Đấy có phải là nguyên nhân của việc ông ấy bị hiểu lầm lớn thế
không?
Ajit
Saraswati, nó là vậy đấy nhưng tự nhiên bị hiểu lầm nếu bạn thực sự muốn giúp mọi
người. Nếu bạn không muốn giúp họ, bạn sẽ chẳng bao giờ bị hiểu lầm - họ sẽ tôn
thờ bạn, họ sẽ ca ngợi bạn. Nếu bạn chỉ nói thôi, nếu bạn chỉ triết lí thôi, thế
thì họ không sợ bạn. Thế thì bạn không chạm tới cuộc sống của họ.
Và
điều hay là biết tới các lí thuyết phức tạp, các hệ thống ý nghĩ. Nó giúp cho bản
ngã của họ, nó nuôi dưỡng bản ngã họ - họ trở thành thông thái nhiều hơn. Và mọi
người đều thích thành thông thái hơn. Đó là việc nuôi dưỡng tinh vi nhất cho bản
ngã.
Nhưng
nếu bạn thực sự muốn giúp họ, thế thì vấn đề phát sinh. Thế thì bạn bắt đầu
thay đổi các kiếp sống của họ, thế thì bạn bắt đầu xâm lấn vào bản ngã của họ;
thế thì bạn bắt đầu can thiệp vào những thói quen và cơ chế cũ hàng thế kỉ của
họ. Thế thì bạn tạo ra đối kháng: họ sợ bạn, họ thù địch với bạn. Và họ sẽ cố gắng
bằng mọi cách có thể để hiểu sai bạn, để mô tả sai bạn.
Người
một chiều là những đoá hoa đẹp, nhưng chẳng hữu dụng gì mấy. Krishnamurti đã nói
liên tục trong bốn mươi năm hay hơn, và mọi người lắng nghe. Cùng những người
đã nghe ông ấy trong bốn mươi năm... mà không một giọt thay đổi trong tâm thức
của họ. Chắc chắn họ đã trở nên rất thông thái, giỏi biện luận, logic. Nếu bạn
thảo luận với họ - họ là những người giỏi nhất để thảo luận về bất kì cái gì -
họ đi vào những điều tinh tế nhất, thế giới tinh vi của ý nghĩ. Họ có thể phân
tích mọi thứ: nhận biết, thiền, tâm thức... Họ đã trở nên rất hiệu quả, rất
khôn lỏi, nhưng họ vẫn còn tầm thường như mọi khi, ngu xuẩn như mọi khi, chỉ với
một khác biệt: bây giờ cái ngu của họ được mặc quần áo đằng sau cái gọi là tri
thức mà họ đã thu được từ J. Krishnamurti. Krishnamurti vẫn còn là một hiện tượng
trí tuệ, bởi vì ông ấy không bao giờ nhận rắc rối đi vào trong các kiếp sống của
mọi người. Đi vào kiếp sống của mọi người là nguy hiểm - bạn chơi với lửa.
Sri
Raman hoàn toàn tốt: ngồi im lặng trong ngôi đền của ông ấy, mọi người có thể tới,
cúng dường hoa, tôn thờ, còn ông ấy sẽ đơn giản quan sát. Và tất nhiên ông ấy
có vẻ đẹp và duyên dáng, nhưng nó là một chiều, nó không ảnh hưởng tới cuộc sống
trong tính toàn bộ của nó. Nhiều nhất, mọi người có thể bị xúc động bởi điều đó
về mặt tình cảm. Cũng như J. Krishnamurti làm xúc động mọi người về mặt trí tuệ,
Sri Raman làm xúc động mọi người về mặt tình cảm.
Và
cùng điều đó là trường hợp cho Ramakrishna. Xúc động của nhiều người bị động chạm,
và họ khóc vì vui mừng. Nhưng điều đó không làm biến đổi bạn. Những giọt nước mắt
của vui vẻ đó là nhất thời; trở về nhà bạn sẽ như cũ.
Gurdjieff
chắc chắn là người tiên phong. Với Gurdjieff bắt đầu một khái niệm hoàn toàn mới
về cuộc sống tâm linh. Ông ấy thực tế đã gọi con đường của ông ấy là "con
đường thứ tư" - cũng như tôi gọi con đường của tôi là "con đường thứ
tư" ông ấy cũng gọi con đường của ông ấy là "con đường thứ tư."
Ông ấy bị hiểu nhầm vô cùng, bởi vì ông ấy không quan tâm tới việc truyền đạt
tri thức cho bạn, ông ấy không quan tâm tới việc an ủi bạn. Ông ấy không quan
tâm tới việc cho bạn những lí thuyết hay, những linh ảnh, ảo giác. Ông ấy không
quan tâm tới nước mắt của bạn, tới xúc động và tình cảm của bạn. Ông ấy không
quan tâm tới việc được bạn tôn thờ, ông ấy quan tâm tới việc biến đổi bạn.
Và
biến đổi một người nghĩa là bạn phải cầm búa trong tay mình, bởi vì nhiều khúc
của con người đó phải bị chặt ra. Người đó lộn ngược tới mức mọi thứ đều sai
như nó đang đấy, và nó phải được đưa về đúng.
Và
người đó đã đầu tư quá nhiều vào con đường sai của người đó với cuộc sống tới mức
bất kì ai muốn thay đổi phong cách sống của của người đó - không chỉ ở chu vi
mà ở trung tâm nữa - người đó trở nên sợ, người đó hoảng sợ. Chỉ vài người dũng
cảm có thể đi vào trong thế giới của người như Gurdjieff. Vô cùng dũng cảm là cần
thiết, dũng cảm để chết, bởi vì chỉ thế thì người ta được tái sinh.
Gurdjieff
là bà đỡ. Ông ấy không phải là thầy giáo, ông ấy là thầy. Krishnamurti vẫn còn
là thầy giáo. Raman vẫn còn là một cá nhân đẹp - chứng ngộ, nhưng là ngôi
sao xa xăm, xa xôi. Bạn có thể quan sát và bạn có thể viết bài thơ hay về nó,
nhưng tất cả chỉ có vậy thôi. Nó vẫn còn là một hiện tượng xa xăm. Bạn chẳng
bao giờ có thể hi vọng đạt tới ông ấy, khoảng cách quá bao la. Và không có nỗ lực
từ phía ông ấy để bắc cầu qua nó. Và bạn có thể làm được gì? Làm sao bạn có thể
bắc cầu qua nó được? Nếu như bạn có khả năng bắc cầu cho bản thân mình tới một
người như Raman, đã chẳng cần phải làm cầu. Người có khả năng đó sẽ có khả năng
biến đổi bản thân mình theo cách riêng của mình; người đó sẽ không cần thầy. Chừng
nào Raman chưa cố gắng làm ra chiếc cầu, chiếc cầu này vẫn là không thể có được.
Và
ông ấy đứng xa ra, tách tời, lãnh đạm. Ông ấy không tham dự. Ông ấy biết mọi khổ
đều là giả. Và chắc chắn nó là vậy - nhưng không phải vậy đối với những người
đang trong khổ. Người thức tỉnh biết rằng người đang kêu khóc trong giấc ngủ của
mình là đang thấy mơ, đúng. Khi có liên quan tới người thức điều đó hoàn toàn
đúng. Nhưng cho dù đấy là mơ, ác mộng, với người đang ngủ say nó là sự thực. Và
người đang ngủ say không thể làm được nỗ lực nào để gắn mình với người đã thức
tỉnh. Hiển nhiên, điều đó là không thể được. Người đó thậm chí không nhận biết
rằng ai đó thức; người đó còn mê mải trong cơn ác mộng của mình thế. Chỉ người
thức tỉnh mới có thể làm nỗ lực. Nhưng quấy rầy giấc ngủ của ai đó, cho dù người
đó đang trong ác mộng, là điều nguy hiểm. Không ai muốn bị quấy rầy, không ai
muốn bị can thiệp vào.
Mọi
người đều có những ý tưởng kì lạ - người ngủ, người ngu, nhưng họ có ý tưởng kì
lạ về tự do. Họ không có tự do; họ không thể có được. Họ không thể đảm đương được
điều đó trong giấc ngủ của mình. Làm sao người ngủ có thể có tự do nào? Nhưng họ
có ý tưởng, những ý tưởng vĩ đại về tự do, và một người như Gurdjieff can thiệp
vào. Từ bi của ông ấy lớn hơn nhiều so với từ bi của J. Krishnamurti, Raman, và
Ramakrishna.
Ramakrishna
là đẹp - ca hát lời ca ngợi Thượng đế, cầu nguyện, tôn thờ, nhảy múa. Ông ấy là
cái gì đó của cõi bên kia. Ông ấy nhắc nhở bạn rằng nhiều điều nữa là có thể có
trong cuộc sống còn đang xảy ra cho bạn - nhưng có vậy thôi. Qua ông ấy chỉ một
chút ít hồi tưởng có thể đạt tới bạn. Nhưng cuộc sống của bạn tới mức ngay cả hồi
tưởng đó cũng sẽ không tạo ra bất kì chuyển hoá nào; nó sẽ bị quên mất. Bạn sẽ
tận hưởng nó. Bạn sẽ thích tới con người này và nhìn ông ấy nhảy múa và cầu
nguyện lặp đi lặp lại... và bạn sẽ cảm thấy thoải mái.
Đây
là điều Phật gọi là "đếm cừu của người khác." Ông ấy là đoá hoa đẹp,
nhưng bằng việc nhìn vào bông hồng bạn không thể trở thành bông hồng được; bạn
cũng không thể trở thành một Ramakrishna bằng việc nhìn vào Ramakrishna. Nỗ lực
lớn là cần. Bạn phải trèo lên núi bất chấp mọi hiểm nguy.
Chừng
nào thầy chưa cố tiếp cận bạn trong giấc ngủ sâu của bạn, chừng nào thầy chưa
khuấy động bản thể bạn, giữ bạn thật chặt và lôi bạn ra khỏi dốt nát của bạn,
điều đó là không thể được, điều đó gần như không thể được. Nhưng bạn sẽ giận
con người này - ai muốn bị quấy rối? Người ta đã trở nên quen với một cách sống
nào đó; tâm trí bao giờ cũng thích cái cũ, cái đã biết, cái quen thuộc. Cho dù
đó là khổ, dầu vậy tâm trí vẫn sợ cái mới, bởi vì với cái mới bạn phải học lại
cách đối xử, cách hiện hữu. Và ai muốn học? Bạn hiệu quả thế với cái cũ, bản
ngã của bạn được thoả mãn thế với cái cũ - sao bận tâm?
Và
khi bạn bắt gặp một người như Gurdjieff, ông ấy làm tan nát mọi điều vô nghĩa
mà bạn đã thu thập. Ông ấy làm tan nát một cách tàn nhẫn! Đôi khi ông ấy phải
nói những điều không thực sự đúng, nhưng chỉ để làm tan nát ý tưởng của bạn ông
ấy phải nói chúng ra.
Một
người bạn đã hỏi, "Làm sao có thể có chuyện một người như Gurdjieff, một
người của hiểu biết vĩ đại thế không hiểu ý tưởng về năng lượng
kundalini?"
Ông
ấy đã gọi nó là kundabuffer. Ông ấy rất chống ý tưởng về kundalini. Ông ấy thường
nói rằng điều tồi tệ nhất có thể xảy ra cho một người trong cuộc sống là việc
dâng lên của kundalini. Người hỏi, một cách tự nhiên, bị hoang mang.
Nhưng
bạn không hiểu ý thực của Gurdjieff. Ông ấy gọi nó là kundabuffer bởi vì điều
vô nghĩa mà các nhà thượng đế học đã tạo ra trên thế giới này. Họ đã nói quá
nhiều về kundalini, năng lượng rắn, và điều đó toàn là những lời nhảm nhí; họ
chẳng biết gì về nó cả. Họ chỉ bịa đặt, họ chỉ hư cấu ra những lí thuyết và ý
tưởng. Đấy toàn là phỏng đoán.
Thực
ra, trong hàng trăm cuốn sách được viết ra về kundalini, chín mươi chín cuốn
tuyệt đối vô nghĩa. Và những người đã tập hợp quanh Gurdjieff đều đã tới qua
các triết lí, các giả thuyết, học thuyết thượng đế học. Ông ấy đã làm tan nát
tri thức của họ; ông ấy không nói gì chống kundalini cả. Làm sao ông ấy có thể
nói điều đó được? Ông ấy đã biết rõ hơn nhiều so với Blavatsky, Annie Besant,
Alcott, Leadbeater - ông ấy biết rõ hơn những người này nhiều. Những người này
chỉ là những chuyên gia trong việc tạo ra học thuyết, và thực sự họ là những
chuyên gia lớn. Họ đã tạo ra gần như một phong trào thế giới - về hào quang và
màu sắc và kundalini... những từ mới từ cổ học và truyền thuyết tâm linh cổ đại.
Và họ đã tạo ra các thế giới, các thế giới tưởng tượng, quanh những từ này.
Gurdjieff
là phải khi gọi nó là kundabuffer. Và Gurdjieff là phải khi nói rằng điều tồi tệ
nhất có thể xảy ra cho con người là việc dâng lên của kundalini. Nhưng bao giờ
cũng nhớ rằng ông ấy đang nói cho đệ tử của ông ấy, trong hoàn cảnh đặc biệt.
Ông ấy đang đập tan nát tri thức của các đệ tử mình về quyền năng kundalini - bởi
vì bước đầu tiên của thầy là phá huỷ tri thức của bạn, bởi vì tri thức của bạn
về cơ bản là giả, vay mượn.
Trước
khi bạn có thể được làm quen với chân lí, cái giả dối phải bị tước bỏ đi. Đôi
khi thầy phải rất tàn nhẫn, và đôi khi thầy phải nói những điều không thực như
vậy. Kundalini không phải là ý tưởng sai, nhưng với chín mươi chín phần trăm mọi
người, Gurdjieff là phải.
Bây
giờ có những người như Gopi Krishna, người viết ra những cuốn sách về kundalini
và quyền năng rắn, và thiên tài lớn tới qua nó. Điều đó thậm chí không xảy ra
cho Gopi Krishna! Ông ta có loại thiên tài gì vậy? Nhiều nhất, bằng chứng duy
nhất mà ông ấy nêu ra về thiên tài của mình là bài thơ nào đó tuyệt đối vô giá
trị, cũng hệt như thơ trẻ con trường phổ thông viết vậy. Ông ấy cả đời đã là một
thư kí. Thơ của ông ấy sặc mùi việc thư kí của cả đời ông ấy - nó khắm lặm! Nó
chẳng có cái đẹp gì, nó không có vĩ đại nào - nó chẳng có gì siêu phàm.
Và
bây giờ ông ấy đang đề xuất trên khắp thế giới rằng khi kundalini phát sinh quyền
năng thiên tài tiềm tàng của bạn biểu lộ ra. Bao nhiêu nhà yoga đã được Giải
thưởng Nobel? Và bao nhiêu nhà yoga đã đóng góp cho tri thức khoa học, nghệ thuật,
thơ ca, hội hoạ, điêu khắc của thế giới? Bao nhiêu người trong bạn, những người
có cái gọi là kundalini đã dâng lên, đã đóng góp theo bất kì cách nào cho sự
giàu có của thế giới này?
Điều
Gopi Krishna đang nói tới không phải là kundalini mà là
kundabuffer. Gurdjieff chắc đã đặt ông ta đúng chỗ bằng một cú. Nhưng ông ấy hấp
dẫn mọi người. Mọi người đều rất bị hấp dẫn bởi những điều vô nghĩa thần bí, bởi
những điều ngu xuẩn huyền bí, bởi những lời nhảm nhí bí truyền. Cứ bắt đầu nói
với mọi người về luân xa, các trung tâm năng lượng, và kundalini đi qua họ, và
họ tất cả đều rất chăm chú. Bạn cứ thử điều đó mà xem! Chẳng cần biết gì về nó
cả - cứ bịa ra... bởi vì các nhà huyền môn Jaina đã không nói về kundalini, các
nhà huyền môn Phật giáo đã không nói về kundalini, các nhà huyền môn Ki tô giáo
chẳng bao giờ biết gì về nó cả, người Sufis tuyệt đối không nhận biết về năng
lượng này được gọi là kundalini. Chỉ mỗi nhà yoga Hindu nói về nó.
Có
cái gì đó trong nó, nhưng không đích xác là cách nó được nói cho mọi người. Tri
thức nổi quanh kundalini tất cả đều là vô nghĩa, và Gurdjieff là phải khi lên
án nó. Ông ấy lên án toàn thể phong trào thượng đế học. Các nhà thượng đế học rất
chống Gurdjieff. Họ chẳng biết gì, nhưng họ đã tạo ra một phong trào lớn. Họ ít
nhiều là những người làm chính trị, học giả, người bắt bẻ logic, nhưng không phải
là các linh hồn đã hiểu ra theo bất kì cách nào.
Gurdjieff
đã làm tan nát nhiều niềm tin. Ông ấy đã làm tan nát một trong những niềm tin nền
tảng nhất của toàn thể nhân loại. Ông ấy nói, "Không có linh hồn. Bạn
không được sinh ra với linh hồn - linh hồn phải được tạo ra bằng nỗ lực lớn
lao. Và chỉ rất hiếm người có khả năng tạo ra nó. Hàng triệu người bước đi trên
trái đất đều là vô linh hồn."
Bây
giờ, bạn có thể tạo ra được cú sốc nào lớn hơn không? - chỉ nói với mọi người,
"Bạn là người vô linh hồn. Chẳng có gì bên trong bạn cả - lỗ hổng, không ai
bên trong bạn cả. Bạn chưa được sinh ra; bạn chỉ là thân thể, cái máy. Vâng, bạn
có khả năng, tiềm năng để trở thành linh hồn, nhưng thế thì bạn phải làm nhiều
việc vì nó, công việc lớn lao vì nó, và chỉ thế thì mới có khả năng có linh hồn.
Có linh hồn là xa hoa tối thượng."
Bây
giờ, suốt nhiều thời đại các tu sĩ đã từng bảo bạn rằng bạn được sinh ra với một
linh hồn. Điều đó đã tạo ra một trạng thái vấn đề rất sai. Bởi vì mọi người đã
được bảo mình được sinh ra với linh hồn, người đó nghĩ, "Thế thì sao bận
tâm? Mình đã là linh hồn rồi. Mình bất tử. Thân thể sẽ chết đi nhưng mình sẽ sống."
Gurdjieff nói "Bạn không là gì ngoài thân thể, và khi thân thể chết đi bạn
sẽ chết. Chỉ thỉnh thoảng một người mới tồn tại - người đã tạo ra linh hồn
trong cuộc sống của mình mới sống sót qua cái chết - không phải tất cả. Một Phật
sống sót, một Jesus sống sót, nhưng bạn thì không! Bạn đơn giản sẽ chết đi, thậm
chí chẳng dấu vết nào còn lại."
Gurdjieff
định làm gì vậy? Ông ấy gây chấn động bạn tới tận gốc rễ; ông ấy đang cố lấy đi
mọi an ủi của bạn và những lí thuyết ngu xuẩn điều giúp cho bạn trì hoãn làm việc
với chính mình. Bây giờ, bảo mọi người, "Anh không có linh hồn nào đâu,
anh chỉ là thứ thực vật, chỉ như cái cải bắp hay có thể cải hoa" - cải hoa
cũng là cải bắp có giáo dục đại học - "nhưng chẳng gì nhiều hơn thế."
Ông ấy thực sự là thầy tuyệt vời. Ông ấy lấy ngay đất ở phía dưới chân bạn. Ông
ấy cho bạn cú sốc đến mức bạn phải nghĩ về toàn thể tình huống: bạn có định là
bắp cải không? Ông ấy đã tạo ra một tình huống quanh bạn trong đó bạn sẽ phải
tìm kiếm linh hồn, bởi vì ai muốn chết?
Và
ý tưởng rằng linh hồn bất tử đã giúp cho mọi người tự an ủi họ rằng họ sẽ không
chết, rằng cái chết chỉ là hình tướng, chỉ là giấc ngủ dài, giấc ngủ nghỉ ngơi,
còn bạn sẽ được sinh ra nữa. Gurdjieff nói, "Tất cả đều vô nghĩa. Đây tất
cả đều là vô nghĩa! Chết, bạn chết mãi mãi - trừ phi bạn đã tạo ra được linh hồn..."
Bây
giờ thấy khác biệt này: bạn đã được bảo bạn đã có linh hồn, còn Gurdjieff thay
đổi nó toàn bộ. Ông ấy nói, "Bạn chưa là linh hồn đâu, mà chỉ là một cơ hội.
Bạn có thể dùng nó, bạn có thể bỏ lỡ nó."
Và
tôi muốn bảo bạn rằng Gurdjieff đang dùng phương cách đó thôi. Điều đó là không
đúng. Mọi người đều được sinh ra với linh hồn. Nhưng phải làm gì với những người
đã dùng chân lí như thứ an ủi? Thầy lớn đôi khi phải nói dối - và chỉ thầy lớn
mới có quyền nói dối - chỉ để kéo bạn ra khỏi giấc ngủ của bạn.
Chẳng
hạn, bạn đang ngủ say và tôi lay bạn và lay bạn mà bạn chẳng hề nhúc nhích. Và
thế rồi tôi bắt đầu kêu lên, "Cháy! Cháy!" và bạn bắt đầu chạy ra khỏi
nhà. Bên ngoài chúng ta sẽ giải quyết vấn đề này. Tôi sẽ nói rằng không có
cháy... nhưng đây là cách duy nhất để đánh thức bạn dậy.
Một
khi chúng ta đã biết tới linh hồn, Gurdjieff sẽ thì thào vào tai bạn, "Bây
giờ đừng lo nhé. Quên mọi điều tôi vừa nói với bạn. Nhưng điều đó là cần thiết.
Nó phương cách. Tôi phải kêu lên 'Cháy!' bằng không thì bạn sẽ không thoát ra
khỏi giấc ngủ của bạn."
Nhưng
những người này nhất định bị hiểu lầm. Hiểu một người như Gurdjieff gần như là
một việc không thể được. Bạn có thể hiểu ông ấy chỉ nếu bạn đi cùng ông ấy, nếu
bạn đi cùng với ông ấy. Và công việc mà Gurdjieff đã làm là công việc rất bí mật
- nó không thể nào khác được. Công việc thực có thể được làm chỉ trong trường
phái bí truyền. Nó bị giấu kín, nó ở dưới đất. Nó không phải là công cộng và nó
không thể được làm thành công cộng.
Vào
thời Trung cổ các nhà huyền môn biến mất đằng sau bộ quần áo nhà giả kim thuật;
họ phải biến mất vì người Ki tô giáo. Người Ki tô giáo đã phá huỷ mọi loại nguồn
xung đột với ý thức hệ Ki tô giáo theo bất kì cách nào. Họ đã không cho phép bất
kì ai thực hành bất kì cái gì khác; thậm chí nói về bất kì cái gì khác mà không
được phép: "Ki tô giáo và duy nhất Ki tô giáo là con đường."
Các
nhà huyền môn phải biến mất. Họ đã tạo ra lừa dối ngoạn mục, họ đã tạo ra ý tưởng
về giả kim thuật. Họ bắt đầu nói, "Chúng tôi là các nhà giả kim thuật;
chúng tôi chẳng liên quan gì tới tâm linh cả. Tất cả những cái đó đều là chuyện
vớ vẩn. Chúng tôi đang tìm kiếm bí mật của cuộc sống bất tử, tuổi thanh xuân
vĩnh hằng. Chúng tôi đang cố gắng tìm ra cách thức và phương tiện để biến đổi
kim loại cơ sở thành vàng." Và chỉ để lừa công chúng họ đã làm ra các
phòng thí nghiệm hoá học. Nếu bạn đi vào trong thế giới của các nhà giả kim thuật,
bạn sẽ gặp những lọ và thuốc và cỏ và ống nghiệm... và bạn sẽ thấy một loại
phòng thí nghiệm nơi nhiều công việc hoá học đang được tiến hành. Nhưng đây chỉ
là vẻ ngoài thôi; đây không phải là công việc thực - công việc thực đã xảy ra ở
đâu đó sâu bên dưới trong trường.
Công
việc thực là tạo ra con người kết tinh, toàn vẹn, tạo ra sự thức tỉnh. Công việc
thực là thiền. Nhưng Ki tô giáo không cho phép thiền. Nó nói cầu nguyện là đủ.
Nó không cho phép việc tìm kiếm nội tâm. Nó nói tôn thờ Thượng đế là đủ, cứ chủ
nhật nào cũng đi tới nhà thờ là đủ, đọc Kinh Thánh là đủ. Nó đã cho bạn đồ chơi
- và đó là cách điều đó đã xảy ra ở các nước khác nữa.
Ở Ấn
Độ nữa các nhà huyền môn đã sống trá hình.
Mới
hôm nọ tôi đọc một câu chuyện Sufi - và Gurdjieff về cơ bản bắt rễ trong truyền
thống Sufi. Ông ấy là một người Sufi. Ông ấy đã học các bí mật của ông ấy từ
người Sufis.
Tôi
đã đọc một câu chuyện Sufi:
Một
đệ tử tới thầy và nói, "Tôi đang bị rắc rối. Rắc rối là ở chỗ người giàu
nhất thị trấn hay đi hành hương. Ông ấy có cô con gái đẹp; và tôi có danh
tiếng lớn do mọi kỉ luật tôi đã trải qua và cá tính tôi đã trau dồi. Tôi có được
danh tiếng trong thị trấn tới mức ông ấy muốn tôi chăm nom cho cô con gái đẹp của
ông ấy trong khi ông ấy đi hành hương. Và tôi sợ - tôi biết cám dỗ của tôi. Và
cô gái này thực sự đẹp; thực ra tôi bao giờ cũng mê tít cô ấy. Tôi đã lảng
tránh...! Điều này là quá thể: trong sáu hay chín tháng cô ấy sẽ sống cùng tôi.
Tôi không thể tin được vào bản thân mình. Tôi phải làm gì?"
Thầy
nói, "Ta biết một người biết được bí mật.
Anh
đi tới người đó."
Và
thầy bảo anh ta đi sang làng khác nơi một người điên sống. Anh ta nói,
"Nhưng người điên đó có thể làm được gì? Tôi biết người điên đó, tôi đã
nghe nói nhiều về người điên đó. Ông ta hoàn toàn điên! Làm sao ông ấy có thể
giúp được tôi?"
Thầy
nói, "Anh cứ đi đi, nhưng đi một cách rất quan sát. Quan sát mọi thứ đang
xảy ra ở đó."
Anh
ta đi tới người điên kia. Một thanh niên rất điển trai đang rót rượu và người
điên này uống.
Bây
giờ, các nước Mô ha mét giáo đã từng, trong nhiều thời đại, là đồng dục, nhiều
lắm - nhiều tới mức chỉ thiên đường Mô ha mét giáo mới toàn loại đồng dục nam.
Nó còn tiên tiến hơn bất kì thiên đường nào khác. Trong thiên đường Hindu không
có chỗ cho người đồng dục nam. Trong thiên đường Ki tô giáo nữa, không, không
có chút nào. Ngay cả Thượng đế của người Do Thái cũng rất chống đồng dục, giận
lắm. Nhưng Thượng đế của người Mô ha mét giáo rất hiền. Không chỉ đàn bà đẹp được
cung cấp cho người đức hạnh, mà cả con trai đẹp nữa.
Cậu
thanh niên đẹp trai này đang rót rượu và người điên uống - người này cảm thấy căm hận lắm, kết án. Nhưng
bởi vì thầy đã nói, "Quan sát và đi và hỏi ông ấy lời khuyên..." anh
ta quên mất mọi vấn đề của mình. Trước hết anh ta hỏi, "Xin ông nói cho
tôi biết điều gì đang xảy ra. Ông đang làm gì vậy?"
Người
điên cười và ông ta nói, "Cậu này là con ta. Và gần đây - cốc của ta chỉ
nước. Cái nó rót không phải là rượu."
Người
này hỏi, "Thế thì tại sao ông giả vờ rằng ông đang uống rượu? Chẳng ai nhấm
nháp nước như cách ông đang nhấm nháp cả. Hũ rượu anh ta đổ nước vào không được
dùng để giữ nước - thế thì tại sao?"
Người
điên cười và nói, "Để cho không ai tin cậy giao phó con gái đẹp của người
đó cho ta khi người đó đi hành hương. Đây là phương cách!"
Ông
ấy phải đã đọc được ý nghĩ này, ông phải đã có ngoại cảm. Ông ấy phải đã thấy
thấu suốt người này. "...Để cho không ai tin cậy giao phó con gái đẹp của
người đó cho ta, cho nên không ai bận tâm. Thế là ta được bỏ lại một mình.
Nhưng đừng nói bí mật của ta cho bất kì ai; bằng không thì ta sẽ phải đi từ thị
trấn này sang thị trấn khác. Điên khùng của ta chỉ là tin đồn do ta tạo ra. Vô
tính cách của ta là tin đồn do ta tạo ra. Và nếu anh thực sự muốn làm việc với
bản thân anh," người điên nói, "anh nên làm giống như vậy. Quay về
đi. Bắt đầu cư xử một cách ngốc nghếch, ngu xuẩn, điên khùng, vô đạo đức - ít
nhất thì cũng giả vờ! - và chẳng ai sẽ quấy rầy anh nữa."
Gurdjieff
đã sống một cuộc sống rất huyền bí; nó không phải là công khai. Trường phái của
ông ấy là trường phái ẩn kín. Điều gì đã xảy ra ở đó, mọi người đơn giản đoán
chừng.
Và
đó là điều đang sắp xảy ra trong pha mới của công việc của tôi. Công xã của tôi
sẽ trở thành ẩn kín, ngầm. Nó sẽ có mặt ngoài ở bên ngoài: thợ dệt và thợ mộc
và thợ gốm... đó sẽ là vẻ ngoài. Những người tới như khách thăm, chúng ta sẽ có
phòng trưng bày đẹp cho họ; họ có thể mua các thứ. Họ có thể thấy tính sáng tạo
của các sannyasins: tranh vẽ, sách vở, đồ gỗ... Họ có thể được chỉ cho xem xung
quanh - hồ đẹp, bể bơi, khách sạn năm sao dành cho họ - nhưng họ sẽ không biết
cái gì thực sự đang xảy ra. Cái sẽ xảy ra sẽ gần như tất cả đều ngầm. Nó phải
ngầm, bằng không nó không thể xảy ra được.
Tôi
có vài bí mật để truyền đạt cho bạn, và tôi sẽ không thích chết trước khi tôi
truyền đạt chúng cho bạn - bởi vì tôi không biết bất kì ai khác bây giờ vẫn sống
trong thế giới mà có thể làm được công việc đó. Tôi có những bí mật từ Đạo
giáo, những bí mật từ Mật tông, những bí mật từ yoga, những bí mật từ Sufis, những
bí mật từ Thiền nhân. Tôi đã sống trong hầu hết các tín ngưỡng của thế giới;
tôi đã từng vẩn vơ trong nhiều kiếp rồi. Tôi đã thu thập nhiều mật từ nhiều
hoa.
Và
thời gian, sớm hay muộn, sẽ tới khi tôi sẽ phải ra đi - và tôi sẽ không có khả
năng đi vào lại trong thân thể. Đây sẽ là kiếp sống cuối cùng của tôi. Tất cả mật
ngọt tôi đã thu thập được tôi muốn chia sẻ với bạn, để cho bạn có thể chia sẻ
nó với người khác, để cho nó không biến mất khỏi trái đất.
Đây
sẽ là công việc rất bí mật; do đó, Ajit Saraswati, tôi không thể nói về nó được.
Tôi nghĩ tôi đã nói quá nhiều rồi! Tôi không nên nói ngay cả điều này. Công việc
này sẽ chỉ dành cho những người hoàn toàn hết lòng tận tuỵ.
Ngay
bây giờ, chúng ta có một văn phòng báo chí lớn để làm cho thật nhiều người nhất
có thể nhận biết về hiện tượng đang xảy ra ở đây. Nhưng trong công xã mới công
việc thực sẽ đơn giản biến mất khỏi con mắt của thế giới. Văn phòng báo chí sẽ
vận hành - nó sẽ vận hành cho chủ định khác. Mọi người sẽ cứ tới, bởi vì từ những
khách thăm chúng ta phải chọn ra; chúng ta phải mời những người có thể là người
tham dự, người có thể tan biến trong công xã. Nhưng công việc thực sẽ là tuyệt
đối bí mật. Nó sẽ chỉ là giữa tôi và bạn.
Và
sẽ không có mấy nói chuyện giữa tôi và bạn đâu. Càng ngày tôi sẽ càng trở nên
im lặng hơn, bởi vì giao cảm thực là thông qua năng lượng, không qua lời. Khi bạn
đã sẵn sàng để nhận năng lượng này trong in lặng, tôi sẽ trở thành ngày một im
lặng hơn. Nhưng tôi đang giữ một kho báu lớn cho bạn. Nhạy cảm vào...
Và
khi công việc của tôi đi vào ngầm và trở thành ngày một bí mật và bí ẩn hơn,
tin đồn và chuyện tầm phào nhất định sẽ lan truyền trên khắp thế giới ngày một
nhiều hơn. Mọi người trở nên rất nghi ngờ về bất kì cái gì bí mật, và bởi vì họ
không thể tìm được ra manh mối nào, họ bắt đầu bịa đặt ra các ý tưởng của riêng
họ về điều đang xảy ra ở đó. Cho nên sẵn sàng cho cả điều đó nữa đi.
Nhưng
đừng lo nghĩ về điều đó. Nó sẽ là trường phái bí ẩn. Những trường phái như vậy
đã tồn tại khi Zarathustra còn sống; ông ấy đã tạo ra một trường phái như vậy.
Nhiều trường phái như vậy đã tồn tại ở Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng. Khi Pythagoras
tới và thăm nước này ông ấy đã ghi sự kiện về những trường phái bí ẩn. Ông ấy
đã được điểm đạo vào nhiều trường phái bí ẩn ở Ai Cập và ở Ấn Độ. Jesus đã được
huấn luyện bởi Essenes, một trường phái bí ẩn rất bí mật.
Tất
cả những điều đẹp đẽ đó và tất cả những điều vĩ đại trong lịch sử nhân loại đều
đã xảy ra chỉ thông qua vài người, người đặt toàn thể năng lượng của họ vào cuộc
thám hiểm bên trong. Công xã của tôi sắp sửa là trường phái bí ẩn cho việc thám
hiểm bên trong. Nó là cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất có đó, và là điệu vũ vĩ đại nhất
nữa.
Câu
hỏi thứ hai
Thưa
thầy kính yêu,
Chìa
khoá cho câu đố này là gì?
Phật
nói: nói ít đi, và im lặng cảm thấy đẹp, ta phải nói để làm gì?
Chuyện
về quá khứ, mơ về tương lai,
Chuyện
phiếm phù phiếm hay tranh luận lí lẽ, tất cả đều là mùi vị giả dối của lưỡi.
Im
lặng là đẹp, và vậy mà...
âm
thanh lách tách vui vẻ quanh chén trà
vọng
theo tiếng chiêm chiếp vô tư của chim chóc- năng lượng tuôn chảy trong vũ trụ
vui vẻ.
Thưa
thầy kính yêu, xin nói cho tôi, chìa khoá cho câu đố này là gì?
Nirgun,
đừng coi Phật Gautama quá nghiêm chỉnh. Im lặng là đẹp, chắc chắn nó là đẹp.
Nhưng ai bảo bạn rằng chuyện phiếm là không đẹp? Thực ra, bạn càng tận hưởng
chuyện phiếm, im lặng của bạn sẽ càng sâu sắc hơn.
Đây
là các cực đối lập và chúng cân bằng lẫn nhau. Nếu bạn làm việc vất vả ban
ngày, bạn sẽ ngủ giấc ngủ sâu ban đêm. Các cực đối lập: làm việc vất vả đem tới
giấc ngủ sâu. Phi logic! Điều logic đáng là bạn nghỉ cả ngày, thực hành nghỉ cả
ngày, và thế rồi bạn ngủ một giấc ngủ, giấc ngủ sâu trong đêm. Điều đó mới là
logic - nhưng Thượng đế phi logic.
Điều
đó dường như hoàn toàn phải: cả ngày bạn thực hành nghỉ - một cách tự nhiên bạn
phải nghỉ nhiều trong đêm hơn bất kì ai khác không thực hành nó! Và người này,
người đã làm chính điều đối lập - làm việc vất vả, cày bừa trên đất, đào hố
trong đất, làm việc trong vườn, chẻ củi, gánh nước từ giếng - cả ngày người đó
vã mồ hôi, làm việc vất vả, công việc mệt mỏi, đến tối người đó hoàn toàn mệt mỏi.
Một cách logic người đó đáng ra không có khả năng ngủ được chút nào bởi vì người
đó đã thực hành cái đối lập. Nhưng đây không phải là cách cuộc sống vận hành.
Cuộc
sống vận hành qua các cực đối lập. Cuộc sống là không logic, cuộc sống là biện
chứng. Nó là biện chứng: chính đề, phản đề và chúng cả hai cân bằng và trở
thành tổng hợp. Thế thì tổng hợp lại vận hành như chính đề và tạo ra phản đề của
nó... và cứ như thế mãi. Cuộc sống không phải có tính chất Aristotel mà tính chất
Hegel.
Chuyện
phiếm hoàn toàn tốt. Và khi bạn nói chuyện phiếm, nói chuyện phiếm cho toàn bộ
vào - để cho nó là việc thiền! Dù biết hoàn toàn rõ rằng nó là chuyện tầm phào,
ấy vậy mà nó vẫn có thể được tận hưởng. Thực ra, có thể tận hưởng nó nhiều hơn
bởi vì nó chỉ là chuyện tầm phào! Và thế rồi rơi vào im lặng.
Tiếng
líu lo của chim chóc là hay, nhưng bạn đã quan sát rằng khi đột nhiên nó dừng
thì có im lặng lớn không? Im lặng này được làm sâu sắc hơn bởi tiếng hót của
chim. Im lặng đi theo sau cơn bão là sâu sắc nhất, sâu lắng nhất.
Nirgun,
đừng coi Phật quá nghiêm chỉnh. Ông ấy cũng có thể được coi là quá nghiêm chỉnh
- ông ấy là người một chiều. Điều tôi đang nói đây... nếu bạn đã hỏi cùng câu hỏi
của Phật, ông ấy sẽ không nói cùng điều đâu. Ông ấy sẽ nói, "Nirgun, bạn
đang đi tới điểm đúng đấy. Dừng chuyện phiếm và dừng việc nói lại. Nói chỉ tối
thiểu thôi, cái tuyệt đối cần thiết." Ông ấy đã gợi ý rất vắn tắt. Nếu điều
đó có thể được thực hiện trong mười từ, thế thì đừng làm nó thành mười một từ.
Nếu bạn có thể cắt bỏ từ thêm nữa, cắt bỏ đi càng nhiều càng tốt.
Nhưng
kinh nghiệm riêng của tôi là ở chỗ nếu bạn cắt bỏ đi mọi chuyện phiếm của bạn,
mọi việc nói của bạn, im lặng của bạn sẽ hời hợt, im lặng của bạn sẽ chỉ là một
loại buồn rầu. Nó sẽ không có chiều sâu. Nó lấy được chiều sâu này từ đâu? Nó
có thể lấy được chiều sâu chỉ từ cực đối lập của nó.
Nếu
bạn thực sự muốn nghỉ, trước hết nhảy múa đi - nhảy muốn cho đến chối bỏ. Để mọi
thớ thịt của thân thể bạn và bản thể nhảy múa, và thế rồi theo sau sẽ là việc
thảnh thơi, việc nghỉ ngơi toàn bộ. Bạn không cần làm nó, nó xảy ra theo cách
riêng của nó.
Tôi
không nói rằng chuyện phiếm phải được tiến hành để làm hại ai đó. Thế thì nó
không còn là chuyện phiếm nữa, nó là bạo hành; thế thì nó không còn là chuyện
phiếm nữa, nó là cái gì đó khác được nguỵ trang như chuyện phiếm. Chuyện phiếm
nên là nghệ thuật thuần tuý, không có động cơ nào - đùa chỉ vì đùa thôi, chuyện
phiếm chỉ vì chuyện phiếm. Và thế thì nó sẽ giữ cho bạn vui vẻ. Và khi nó dừng
lại... và bạn có thể nói chuyện phiếm được bao lâu? Có giới hạn tự nhiên cho mọi
thứ. "Âm thanh lanh canh vui vẻ quanh chén trà" không thể tiếp tục
mãi mãi được. Chẳng mấy chốc chén trà sẽ trống rỗng và tiếng lanh canh sẽ biến
mất... và thế rồi có sự im lặng sâu lắng.
Điều
tốt là chim chóc đã không nghe Phật, điều tốt là cây cối đã không nghe Phật.
Nirgun,
tôi không muốn bạn trở thành Phật tử. Tôi biết các sư Phật giáo: họ trở thành rất
nghiêm chỉnh, quá nghiêm chỉnh, tới mức cái nghiêm chỉnh của họ là một loại bệnh
tật. Họ không thể cười được, họ không thể đùa được. Thực ra, nếu họ đọc bài nói
của tôi về Phật và họ bắt gặp những chuyện đùa rôm rả, họ sẽ cụp mắt lại. Họ thậm
chí sẽ không có năng lực đọc chúng. Toàn thể bản thể của họ sẽ rút lui, họ sẽ
co lại. Họ sẽ không có khả năng tha thứ cho tôi.
Đừng
quá nghiêm chỉnh. Thông điệp của tôi là thông điệp của hân hoan. Đó là chỗ tôi
khác Phật. Phật là người nghiêm chỉnh; không một tượng nào tồn tại mà mà ông ấy
biểu lộ việc cười hay thậm chí mỉm cười. Vâng, có các tượng Trung Quốc và Nhật
Bản về Phật mà trong đó ông ấy được biểu lộ mỉm cười hay đôi khi cười ha hả -
đôi khi thậm chí còn cười bụng, bụng ông ấy rung lên. Nhưng đấy là chư phật
Trung Quốc và Nhật Bản.
Thực
ra, nếu bạn thấy tượng Trung Quốc về Phật và tượng Ấn Độ về Phật, bạn sẽ không
thể quan niệm được mối quan hệ gì giữa hai tượng này; chúng khác nhau toàn bộ
thế. Phật Ấn Độ rất nghiêm chỉnh. Thân thể ông ấy kiểu lực sĩ: ông ấy có bộ ngực
lớn và cái bụng rất, rất thóp - chẳng có bụng chút nào. Và nếu bạn thấy Phật
Trung Quốc thì nó chính là cái đối lập. Bạn sẽ không thấy ngực lớn chút nào, nó
hoàn toàn mất đi bởi vì cái bụng to thế. Và bạn có thể thấy ngày cả trong những
tượng đá cẩm thạch rằng bụng đang rung lên với tiếng cười. Khuôn mặt ông ấy
khác toàn bộ, nó tròn và cho bạn cảm giác của đứa trẻ. Khuôn mặt Phật Ấn Độ rất
La Mã - nó được làm ra sau khi Alexander đã tới thăm Ấn Độ - nó là khuôn mặt Hi
Lạp và La Mã. Các đường nét không phải Ấn Độ. Nhìn lại vào tượng Phật Ấn Độ,
các đường nét không phải người Ấn Độ. Alexander và cái đẹp của ông ấy đã gây ấn
tượng cho mọi người nhiều tới mức họ đã áp đặt khuôn mặt của Alexander lên thân
thể Phật.
Và
ông ấy rất nghiêm nghị, hoàn toàn nghiêm nghị. Bạn không thể nào quan niệm
nổi ông ấy cười. Nhưng khi Phật giáo tới Trung Quốc nó gặp một triết lí rất sâu
sắc - cực đối lập. Biện chứng đã xảy ra ở đó. Phật giáo trở thành chính đề và Đạo
giáo trở thành phản đề: sự gặp gỡ của Phật và Lão Tử. Tượng Phật Trung Quốc là
sự pha tạp, nó một nửa là Phật Gautam và một nửa là Lão Tử - chúng xoắn xuýt với
nhau. Cái bụng đó thuộc về Lão Tử, tiếng cười đó thuộc về Lão Tử, và cái im lặng
thuộc về Phật. Nó đã là cuộc gặp gỡ vĩ đại nhất đã từng xảy ra trên thế giới. Từ
nó đã sinh ra một hiện tượng có ý nghĩa nhất, sâu sắc nhất trong tất cả lịch sử:
Thiền.
Thiền
không phải là Phật giáo không là Đạo giáo, hay nó là cả hai cùng lúc. Đó là cuộc
gặp gỡ kì lạ. Thực ra, Lão Tử và Phật, nếu họ đã gặp nhau về mặt vật lí, chắc sẽ
chẳng đồng ý với nhau ở điểm nào. Lão Tử là con người của tiếng cười. Ông ấy
hay đi từ làng này sang làng khác cưỡi trên lưng trâu - phải trông như anh hề.
Và ông ấy gần như bao giờ cũng cười, lăn lộn trên đất - cười vào toàn thể cái nực
cười của sự tồn tại, cười vào cái ngớ ngẩn của cuộc sống.
Phật
và Lão Tử là các cực đối lập. Có thể đó là lí do tại sao cả hai triết lí này đã
trở nên hấp dẫn nhau. Cả hai đều không đầy đủ - sự gặp gỡ đã làm cho chúng
thành đầy đủ hơn. Lão tử sẽ không đồng ý với Thiền mà Phật cũng không đồng ý với
Thiền.
Tôi
đã nghe một câu chuyện:
Trên
trời, trong quán cà phê, Phật, Khổng Tử và Lão Tử, cả ba đang ngồi đó, tán gẫu.
Và một người đàn bà, bà chủ quán cà phê, một người đàn bà đẹp, đi tới. Bà ấy
mang nước quả cuộc sống tới. Phật lập tức nhắm mắt lại. Ông ấy nói, "Ta
không thể nhìn vào điều đó được! Điều đó không xứng để nhìn vào - sống là khổ.
Sinh là khổ, sống là khổ, chết là khổ. Bỏ nó khỏi tầm nhìn của ta; bằng không
ta không thể mở mắt ra được!"
Khổng
Tử hấp háy nửa mắt - ông ấy tin vào phương tiện vàng, trung đạo, chỉ một nửa
thôi - nhìn bằng nửa con mắt và nói, "Tôi không thể phủ nhận nó mà không nếm
nó." Ông ấy là con người của nhiều hiểu biết khoa học hơn. "Làm sao
các ông có thể nói được điều gì chừng nào các ông chưa thực nghiệm? Các ông
không nên tuyên bố những điều như vậy ngay lập tức. Cho nên," ông ấy nói,
"cho tôi một ngụm xem sao." Ông ấy nếm nó và ông ấy nói, "Phật
phải đấy: nó đắng lắm, nó là khổ, và tôi hoàn toàn đồng ý và tôi là một nhân chứng
cho Phật. Nhưng tôi sẽ lại nói rằng Phật là sai - không nếm nó, không cái gì
nên được nói ra. Mặc dầu ông ấy là phải - tôi có thể tán thành ông ấy, theo chứng
kiến của tôi thì ông ấy là phải - nhưng theo chứng kiến của riêng ông ấy thì
ông ấy không phải."
Lão
Tử cầm lấy cả hũ và trước khi bà chủ có thể nói được gì, ông ấy đã tu cạn nó trong
một ngụm. Ông ấy tu hết cả hũ và ông ấy trở nên bị say đến mức ông ấy bắt đầu
nhảy múa. Ông ấy chẳng nói ra lời - đắng hay ngọt, khổ hay lạc. Khi ông ấy chút
ít trở với nhận biết của mình, Phật và Khổng Tử hỏi ông ấy, "Ông nói gì
đây?"
Ông
ấy nói, "Chẳng có gì để nói cả. Cuộc sống phải được uống say tới tính toàn
bộ của nó, chỉ thế thì người ta mới biết. Và khi người ta biết, chẳng có gì mà
nói. Nó không thể được đặt vào bất kì phân loại nào. Khổ hay lạc đều là những
phân loại - cuộc sống ở ngoài mọi phân loại. Nhưng người ta nên biết nó trong
tính toàn thể của nó, và tôi chỉ biết nó trong tính toàn thể của nó. Ông thậm
chí không nếm nó. Khổng Tử mới chỉ nếm nó, nhưng người ta không nên quyết định
từ một phần về cái toàn thể. Chỉ ta mới có thể nói nó là gì, nhưng ta không định
nói bởi vì điều đó không thể nói được. Nếu các ông thực sự muốn biết, ta có thể
gọi hũ khác. Uống nó toàn bộ và nhảy múa - đó là cách duy nhất!"
Đó
là cách duy nhất để biết bất kì điều gì.
Sự
gặp gỡ của Phật giáo và Đạo giáo là hiện tượng kì lạ nhất trên thế giới. Nhưng
nó nhất định xảy ra; có sự tất yếu chắc chắn trong nó bởi vì các cực đối lập thế
hấp dẫn lẫn nhau, cũng như cực âm và dương của nan châm hay điện âm và dương
hút nhau.
Phật
giáo đã đi từ Ấn Độ vào Trung Quốc. Đạo giáo chưa bao giờ đi sang Ấn Độ, bởi vì
Đạo giáo đã say xỉn hoàn toàn thế với cực lạc, với vui vẻ - ai bận tâm? Phật
giáo đã du hành, phải du hành. Cái nghiêm chỉnh trở thành rất, rất nặng nề. Một
khi Phật đã qua rồi, một khi ánh sáng đã tắt rồi, thế thì nó giống như tảng đá
đè lên ngực các tín đồ - nó trở thành quá nặng. Họ phải đi để tìm ra cái gì đó
không nghiêm chỉnh để cân bằng nó.
Nirgun,
đừng nghiêm chỉnh về điều đó. Tận hưởng chuyện phiếm của bạn đi, tận hưởng những
điều nhỏ bé của cuộc sống, những vui vẻ nhỏ bé của cuộc sống.
Chúng
tất cả đều đóng góp cho việc làm giầu có bản thể bạn. Và bao giờ cũng nhớ:
không nghiêm chỉnh là một trong những phẩm chất nền tảng nhất của người tôn
giáo thực.
Một
thanh niên chân thành đi tới một giáo sĩ già hiểu biết để xin lời khuyên.
"Vấn đề là sự thèm muốn dục của con. Khi con bắt tay đàn bà là nó khuấy
lên - ngay cả khi con đi ngang qua một người đàn bà xinh trên phố nó cũng bị
khuấy động. Nó quấy rầy con bởi vì con yêu vợ con lắm."
"Đừng
lo, con ta," giáo sĩ nói. "Chẳng thành vấn đề gì chỗ con tạo ra thèm
muốn chừng nào mà con vẫn ăn tối ở nhà."
Ông
giáo sĩ này là người khôn ngoan, không nghiêm chỉnh, coi cuộc sống là trò đùa.
Các sannyasins của tôi phải coi cuộc sống là rất vui đùa - thế thì bạn có thể
có cả hai thế giới cùng nhau. Bạn có thể có cái bánh và ăn nó nữa. Và đó là nghệ
thuật thực. Thế giới này và thế giới kia, âm thanh và im lặng, yêu và thiền, ở
cùng mọi người, có quan hệ, và ở một mình. Tất cả những điều này đều phải được
sống cùng nhau theo kiểu đồng thời; chỉ thế thì bạn mới biết chiều sâu nhất của
bản thể bạn và chiều cao nhất của bản thể bạn.
Câu
hỏi thứ ba
Thưa
Thầy kính yêu,
Thầy
nói gì về phát biểu nổi tiếng của Friedrich Nietzsche rằng Thượng đế chết rồi?
Neeraj,
Friedrich Nietzsche nói Thượng đế chết rồi - điều đó nghĩa là trước đây ngài đã
sống. Như tôi biết, ngài chưa bao giờ sống cả. Làm sao Thượng đế có thể chết được
nếu như ngài chưa bao giờ sống? Thượng đế không phải là người, cho nên ngài
không thể sống và ngài không thể chết được. Với tôi, Thượng đế là bản thân cuộc
sống! Thượng đế là đồng nghĩa với sự tồn tại; do đó bạn không thể nói Thượng đế
sống hay Thượng đế chết. Thượng đế là cuộc sống! Và cuộc sống là vĩnh viễn...
nó là sự liên tục, nó vĩnh hằng, không bắt đầu, không kết thúc.
Nietzsche
thực sự nói rằng Thượng đế mà mọi người tôn thờ đã trở thành không liên quan.
Nhưng ông ấy đã bị quen với việc đưa ra những phát biểu đầy kịch tính. Thay vì
nói: "Thượng đế mà mọi người đã tôn thờ mãi cho tới nay không còn có liên
quan nữa," ông ấy nói: "Thượng đế chết rồi." Và theo một cách
nào đó, phát biểu đầy kịch tính này xuyên thấu vào tâm thức mọi người hơn. Nếu
như ông ấy đã nói điều đó theo cách triết lí nó có thể đã bị trệch mục tiêu,
nhưng nó đã trở thành phát biểu quan trọng nhất được đưa ra trong cả trăm năm
này. Không phát biểu nào khác có ý nghĩa như vậy, hoặc có tác động như vậy lên
suy nghĩ, hành vi, cuộc sống của con người.
Thượng
đế của người Ki tô giáo chết rồi, Thượng đế của người Do Thái chết rồi - đó là
điều Nietzsche đã nói. Nhưng đã có biết bao nhiêu thượng đế và tất cả đều đã mất
đi trong mòn mỏi. Nếu bạn làm ra một danh sách bạn sẽ ngạc nhiên biết bao nhiêu
thượng đế đã được tôn thờ. Một người đã làm ra bản danh sách đó. Tôi đã đọc bản
danh sách này - thậm chí không một cái tên nào mà ông ấy nhắc tới đã được biết
đến. Gần năm mươi thượng đế ông ấy nhắc tới. Các thượng đế của người Ai Cập
không có đó - thậm chí ngay ở Ai Cập không ai biết tới họ. Đã có thời vì những
thượng đế đó mà cả con người cũng phải bị hiến tế, chiến tranh diễn ra, những
cuộc viễn chinh, giết người, hãm hiếp; làng mạc bị đốt nhân danh những thượng đế
đó. Bây giờ thậm chí cái tên cũng không được biết tới. Tôi đã đọc toàn bộ danh
sách; ngoài năm mươi người này không một cái tên nào được biết tới. Đã có nhiều
thượng đế được con người bịa ra, và khi những người này trở nên mệt mỏi vì những
thượng đế này, họ liền bịa ra trò chơi mới và họ ném trò chơi cũ đi.
Những
thượng đế này cứ được sinh ra rồi chết đi, nhưng đây không phải là Thượng đế thật.
'Thượng đế thật' đơn giản nghĩa là cuộc sống - aes dhammo sanantano - luật
không hề cạn của sự tồn tại. Làm sao nó có thể chết được? Không có cách nào.
Hình dạng thay đổi...
Hình
như Thượng đế đã tới thăm đường ngầm New York mới gần đây. Ai đó đã viết nguệch
ngoạc lên tường: "Thượng đế chết rồi - Nietzsche kí," và phía dưới nó
được viết : "Nietzsche đã chết rồi - Thượng đế kí."
Điều
đó dường như còn đúng hơn nhiều. Nhưng thậm chí một thông báo còn hay hơn cho bạn:
Một
đường ngầm London có thông báo tin mừng này: "Thượng đế chết rồi, nhưng đừng
lo nhé - Mary lại có thai rồi!"
Câu
hỏi cuối cùng
Thưa
Thầy kính yêu, Thầy có thể nói điều gì đó về mặc cảm và sợ
không?
Latifa,
sợ là tự nhiên, mặc cảm là bịa đặt của các tu sĩ. Mặc cảm là nhân tạo. Sợ là sẵn
có, và nó rất bản chất. Không có sợ bạn sẽ không có khả năng sống sót chút nào.
Sợ là thông thường. Chính bởi vì sợ mà bạn sẽ không đưa tay mình vào lửa. Chính
bởi vì sợ mà bạn sẽ đi bộ bên phải hay bên trái, bất kì cái gì là luật lệ nước
bạn. Chính bởi vì sợ mà bạn sẽ tránh chất độc. Chính bởi vì sợ mà khi xe tải
bóp còi, bạn chạy ngay ra khỏi đường.
Nếu
trẻ con không sợ, không có khả năng nào cho nó sống sót. Sợ của nó là biện pháp
bảo vệ cuộc sống. Nhưng bởi vì khuynh hướng tự nhiên này để bảo vệ bản thân người
ta... và chẳng có gì sai trong nó cả - bạn có quyền bảo vệ bản thân bạn. Bạn có
cuộc sống quí giá thế để bảo vệ, và sợ đơn giản giúp bạn. Sợ là thông minh. Chỉ
kẻ ngu mới không có sợ, người khờ không có sợ; do đó bạn phải bảo vệ người ngốc,
bằng không họ sẽ tự thiêu họ hay họ sẽ nhảy ra khỏi toà nhà, hay họ sẽ đi vào
biển mà không biết bơi hay họ có thể ăn rắn... hay bất kì cái gì họ có thể làm!
Sợ
là thông minh - cho nên khi bạn thấy rắn bò qua đường, bạn ù té chạy khỏi đường.
Điều đó không phải là hèn nhát, điều đó đơn giản là thông minh. Nhưng có hai khả
năng...
Sợ
có thể trở thành bất thường, nó có thể trở thành bệnh hoạn. Thế thì bạn sợ những
thứ mà không cần phải sợ - mặc dầu bạn có thể tìm ra biện luận ngay cả cho nỗi
sợ bất thường của mình. Chẳng hạn, ai đó sợ đi vào trong nhà. Một cách logic bạn
không thể chứng minh rằng người đó sai được. Người đó nói, "Cái gì đảm bảo
cho ngôi nhà này sẽ không đổ?" Bây giờ, các nhà đều được người ta biết là
sẽ đổ cho nên ngôi nhà này cũng sẽ đổ. Mọi người đã bị đè nghiến bởi nhà đổ.
Không ai có thể cho lời bảo đảm tuyệt đối rằng ngôi nhà này sẽ không đổ - động
đất có thể xảy ra... bất kì cái gì đều có thể! Người khác sợ - người đó không
thể đi du lịch được bởi vì có tai nạn tàu hoả. Ai đó khác sợ - người đó không thể
đi trong xe ô tô, có tai nạn ô tô. Và ai đó khác sợ máy bay...
Nếu
bạn trở nên sợ theo cách này, đây không phải là thông minh. Thế thì bạn nên sợ
cả cái giường của mình nữa, vì gần chín mươi bẩy phần trăm mọi người chết trong
giường của họ - cho nên đó là chỗ nguy hiểm nhất để mà ở. Một cách logic bạn
nên rời xa giường nhiều nhất có thể được, đừng bao giờ gần nó.
Nhưng
thế thì bạn sẽ làm cho cuộc sống của bạn thành không thể được.
Sợ
có thể trở thành bất thường, thế thì nó là bệnh hoạn. Và bởi vì khả năng này,
các tu sĩ đã dùng nó, các chính khách đã dùng nó. Đủ mọi loại kẻ áp bức đã dùng
nó. Họ làm cho nó thành bệnh hoạn, và thế thì việc bóc lột bạn trở thành rất
đơn giản. Tu sĩ làm cho bạn sợ địa ngục. Cứ nhìn vào kinh sách mà xem - với vui
nào mà họ tả toàn cảnh tra tấn, với thực sự hứng thú lớn lao. Kinh sách mô tả
thật chi tiết, rất chi tiết từng cảnh và mọi cảnh tra tấn.
Adolf
Hitler phải đã đọc những kinh sách này; ông ta phải đã tìm thấy những ý tưởng lớn
từ những kinh sách này mô tả về địa ngục. Bản thân ông ta không phải là thiên
tài sáng tạo đến mức phát minh ra các trại tập trung và đủ mọi loại tra tấn.
Ông ta phải đã tìm thấy chúng trong các kinh sách tôn giáo - chúng đã có đó rồi,
các tu sĩ đã làm công việc này. Ông ta chỉ thực hành điều các tu sĩ đã thuyết
giảng. Ông ta thực sự là người tôn giáo đấy!
Các
tu sĩ chỉ nói về địa ngục đang chờ đợi bạn sau cái chết. Ông ta nói, "Sao
chờ lâu thế? Ta sẽ tạo ra địa ngục ở đây bây giờ. Các ông có thể nếm mùi của
nó."
Tôi
đã nghe nói rằng có lần một người chết, xuống địa ngục, gõ cửa. Quỉ nhìn anh ta
- anh ta có vẻ là người Đức - quỉ hỏi anh ta, "Anh từ đâu tới vậy?"
Người
này nói, "Từ Đức."
Quỉ
nói, "Vậy thì không cần tới đây đâu - anh đã sống nó rồi! Bây giờ anh có
thể lên cõi trời. Và anh sẽ thấy chỗ của chúng ta rất chán bởi vì anh đã có một
ấn bản địa ngục được cải tiến hơn nhiều lắm. Chúng tôi vẫn còn sống trong thời
đại xe bò kéo - cách tra tấn cũ. Anh biết những dụng cụ, cách thức, phương tiện
tinh vi hơn nhiều."
Phòng
khí ga vẫn chưa được biết tới ở địa ngục. Trong một phòng khí ga, mười nghìn
người, trong vài giây, có thể trở thành khói. Và bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng
mặc dầu chúng ta đang sống trong thế kỉ hai mươi, con người vẫn là con vật.
Hàng nghìn người tới xem. Kính được lắp khít, cố định, một chiều. Bạn có thể thấy
điều đang xảy ra bên trong, nhưng người bên trong không thể thấy được ai đang
nhìn từ bên ngoài.
Hàng
nghìn người sẽ đứng ngoài quan sát qua lớp kính: mọi người đang biến mất trong
làn khói - đơn giản biến mất trong làn khói - hàng nghìn người chết trong vài
giây. Và những người đang tận hưởng ở bên ngoài, bạn có thể gọi họ là con người
được không? Nhưng nhớ lấy, điều đó không liên quan gì tới nước Đức cả, điều này
là như vậy trên khắp thế giới. Con người đích xác như nhau ở mọi nơi.
Các
tu sĩ trở nên nhận biết rất sớm rằng bản năng sợ trong con người có thể được
khai thác. Con người có thể bị làm cho sợ đến mức người đó sẽ quì dưới chân tu
sĩ và sẽ nói với họ, "Xin cứu chúng con! Chỉ cha mới có thể cứu được chúng
con." Và tu sĩ sẽ nhận cứu họ nếu họ đi theo tu sĩ; nếu họ tuân theo các
nghi lễ do tu sĩ qui định, tu sĩ sẽ cứu họ. Và từ nỗi sợ mọi người đã đi theo
tu sĩ, và đủ mọi loại ngu xuẩn, mê tín.
Chính
khách cũng trở nên nhận biết ngay rằng có thể làm cho mọi người rất sợ. Và nếu
bạn làm cho họ sợ, bạn có thể chi phối được họ. Chính từ sợ mà quốc gia tồn tại.
Nỗi sợ nước Mĩ giữ cho người Nga làm nô lệ cho chủ nghĩa cộng sản, và nỗi sợ của
nước Nga làm cho người Mĩ thành nô lệ cho chính phủ. Sợ lẫn nhau... người Ấn Độ
sợ người Pakistanis, và người Pakistanis sợ người Ấn Độ. Đấy là một thế giới
ngu xuẩn thế! Chúng ta sợ lẫn nhau, và bởi vì nỗi sợ của chúng ta mà chính
khách trở nên quan trọng. Ông ấy nói, "Chúng tôi sẽ cứu bạn ở đây, trên thế
giới này," và tu sĩ nói, "Chúng tôi sẽ cứu bạn ở thế giới bên
kia." Và họ âm mưu cùng nhau.
Chính
nỗi sợ tạo ra mặc cảm - nhưng không phải là bản thân nỗi sợ. Nỗi sợ tạo ra mặc
cảm qua các tu sĩ và chính khách. Các tu sĩ và chính khách tạo ra trong bạn bệnh
hoạn, run rẩy. Và một cách tự nhiên, con người tinh tế thế và mong manh thế,
con người trở nên sợ. Và thế thì bạn có thể bảo người đó làm bất kì cái gì và
người đó sẽ làm nó - biết hoàn toàn rõ rằng điều đó là ngu xuẩn, biết rất rõ
sâu bên dưới rằng tất cả đều vô nghĩa, nhưng ai biết...? Từ nỗi sợ, con người
có thể bị buộc phải làm bất kì cái gì.
Một
nữ thanh niên không thể kìm mình khỏi việc ho và hắt hơi trong nhà hát mới đến
hỏi bác sĩ cách chữa trước khi đi xem đêm đầu tiên. "Đây, uống cái
này," ông ấy nói, đưa cho cô ta chiếc cốc. Cô ta uống nó, mồm méo xệch, và
hỏi cái gì đấy, cứ tưởng tượng một kiểu thuốc ho vị khó nuốt nào đó.
"Đấy
là liều kép của nước Diêm vương," ông ta trả lời. "Bây giờ cô sẽ
không dám hắt hơi hay ho đâu."
...
Bạn không hiểu nó. Bạn chưa bao giờ nếm nước Diêm vương - thử đi, và bạn sẽ
không dám hắt hơi hay ho nữa. Làm một thực nghiệm: bạn có thể hỏi Ajit
Saraswati về nước Diêm vương, chỉ thế thì bạn mới hiểu được chuyện cười này. Nó
rất có tính tồn tại. Bởi vì bạn đã không hiểu được nó nên tôi sẽ phải kể câu
chuyện khác:
Một
sáng, một con gấu cái đột kích vào ca bin của Joe, cào rách mọi thứ, ăn mọi thứ,
xé mọi thứ, và nhẹ nhàng bỏ đi.
Joe
đuổi theo vết nó, bắn nó, và thế rồi để ý thấy nó giống đàn bà thế, anh ta bèn
thoả mãn dục tính của mình với cái xác thú của nó. Ngay lúc đó anh ta để ý một
thợ săn khác nấp trong các cành cây của cây gần đó. Nhận ra hành động của mình
đã bị quan sát, Joe chĩa súng vào người này, bắt anh ta trèo xuống và nói,
"Anh đã bao giờ làm tình với gấu chưa?"
Và
thợ săn kia nói, "Không, nhưng tôi định thử."
Con
người có thể bị buộc phải làm bất kì cái gì - chỉ để cứu bàn thân mình. Và bởi
vì bệnh hoạn, cái mà các tu sĩ đã tạo ra trong bạn, là phi tự nhiên, bản tính của
bạn nổi dậy chống nó, và thỉnh thoảng bạn làm điều gì đó chống nó - bạn làm điều
gì đó tự nhiên - thế thì mặc cảm phát sinh.
Latifa,
mặc cảm nghĩa là bạn có một ý tưởng phi tự nhiên trong tâm trí bạn về cuộc sống
phải như thế nào, cái gì phải được làm, và thế rồi một hôm bạn thấy bản thân
mình tuân theo tự nhiên và bạn làm điều tự nhiên. Bạn đi ngược lại ý thức hệ. Bởi
vì bạn đi ngược lại ý thức hệ, mặc cảm phát sinh, bạn xấu hổ. Bạn cảm thấy bản
thân mình rất kém cỏi, không có giá trị.
Nhưng
bằng cách cho mọi người những ý tưởng phi tự nhiên bạn không thể biến đổi họ được.
Do đó, các tu sĩ đã có khả năng khai thác mọi người, nhưng họ đã không có khả
năng biến đổi mọi người. Họ không quan tâm tới việc biến đổi bạn nữa; toàn thể
ý tưởng của họ là giữ cho bạn bao giờ cũng bị nô lệ. Họ tạo ra lương tâm trong
bạn. Lương tâm của bạn không thực là lương tâm của bạn - nó do các tu sĩ tạo
ra. Họ nói, "Cái này sai". Bạn có thể biết từ cốt lõi sâu nhất của bản
thể mình rằng dường như chẳng có gì sai trong nó cả, nhưng họ nói nó là sai. Và
họ cứ thôi miên bạn từ chính thời thơ ấu của bạn. Việc thôi miên đi sâu, thấm
sâu vào bạn, chìm sâu vào bạn, trở thành gần như mọi phần của bản thể bạn. Nó
giữ bạn lại.
Họ
đã bảo bạn dục là sai - nhưng dục là hiện tượng tự nhiên tới mức bạn bị hấp dẫn
về nó. Và chẳng có gì sai trong việc bị hấp dẫn vào đàn bà hay đàn ông. Đấy chỉ
là một phần của tự nhiên. Nhưng lương tâm bạn nói, "Điều này sai." Thế
là bạn kìm mình lại. Một nửa của bạn đi tới người đàn bà này, một nửa của bạn
kéo bạn trở lại. Bạn không thể ra được quyết định gì; bạn bao giờ cũng bị phân
chia, chia chẻ. Nếu bạn quyết định đi cùng với người đàn bà này, lương tân bạn
sẽ hành hạ bạn: "Mình đã phạm tội lỗi." Nếu bạn không đi cùng người
đàn bà này, bản tính bạn sẽ hành hạ bạn: "Em làm anh thèm muốn quá."
Bây
giờ bạn trong trói buộc kép. Bất kì điều gì bạn làm bạn sẽ khổ. Và đó là điều
các tu sĩ bao giờ cũng muốn - để cho bạn khổ, bởi vì bạn càng khổ bạn càng hay
tới ông ấy xin lời khuyên. Bạn càng khổ, bạn càng tìm kiếm cứu rỗi.
Bertrand
Russell là tuyệt đối đúng rằng nếu con người được cho tự do toàn bộ, tự nhiên -
là tuyệt đối phải rằng nếu con người được cho tự do toàn bộ, tự nhiên - tự do với
cái gọi là lương tâm và đạo đức - và nếu con người được giúp để trở thành sinh
linh tự nhiên, tích hợp - thông minh, hiểu biết, sống cuộc sống theo ánh sáng
riêng của mình, không theo lời khuyên của ai đó khác - thì cái gọi là các tôn
giáo sẽ biến mất khỏi thế giới.
Tôi
hoàn toàn đồng ý với ông ấy. Cái gọi là các tôn giáo chắc chắn sẽ biến mất khỏi
thế giới nếu mọi người không khổ; họ sẽ không tìm cứu vớt. Nhưng Bertrand
Russell tiếp tục và ông ấy nói bản thân tôn giáo sẽ biến mất khỏi trái đất. Tại
đó tôi không đồng ý với ông ấy. Cái gọi là tôn giáo sẽ biến mất, và bởi vì cái
gọi là tôn giáo sẽ biến mất nên sẽ có, lần đầu tiên trên thế giới, một cơ hội
cho tôn giáo tồn tại. Người Ki tô giáo sẽ không có đó, người Hin du sẽ không có
đó, người Mô ha mét giáo sẽ không có đó - chỉ thế thì một loại tính tôn giáo mới
lan rộng trên trái đất. Mọi người sẽ sống theo tâm thức riêng của họ. Sẽ không
có mặc cảm, không ăn năn, bởi vì những điều này không bao giờ làm thay đổi mọi
người. Mọi người vẫn còn như vậy; họ cứ thay đổi việc chộp bắt bên ngoài của họ,
hình dạng của họ. Về bản chất, chẳng cái gì thay đổi qua mặc cảm, qua nỗi sợ,
qua cõi trời, qua địa ngục. Tất cả những ý tưởng này đều thất bại hoàn toàn.
Bây
giờ là lúc nhận ra rằng mọi tôn giáo cũ đã thất bại. Vâng, họ đã tạo ra vài người
tuyệt vời - một Phật ở đây và một Jesus ở đây - nhưng từ hàng triệu và hàng triệu
con người, thỉnh thoảng ai đó đã nở hoa. Nó là ngoại lệ, nó không thể được
tính. Nó không nên được tính tới. Chư Phật có thể được đếm trên đầu ngón tay.
Nếu
người làm vườn trồng mười nghìn cây và chỉ một cây nở hoa vào mùa xuân, bạn có
gọi người đó là người làm vườn không? Thế còn chín nghìn chín trăm chín mươi
chín cây kia thì sao? Nếu cây này đã nở hoa, nó phải đã nở hoa mặc cho người
làm vườn có hay không. Công lao không thể thuộc về ông ấy được - ông ấy phải đã
bỏ lỡ nó bằng cách nào đó.
Chúng
ta đã sống trong một loại thế giới rất sai; chúng ta đã tạo ra một loại tình huống
sai. Mọi người chỉ cứ ca tụng hời hợt - người Hindu trở thành người Ki tô giáo,
người Ki tô giáo trở thành người Hindu, và chẳng cái gì đã bao giờ thay đổi. Tất
cả vẫn còn nguyên như cũ.
Gái
điếm được cải tạo đang đưa ra bằng chứng với Đội quân cứu tế ở góc phố và đêm
thứ bảy, nhấn mạnh bài nói của mình bằng việc đánh lên chiếc trống đồng lớn.
"Tôi
đã từng là một kẻ tội lỗi!" cô ta hô (bùm!) "Đã từng là người đàn bà
xấu (bùm!) Tôi đã uống rượu! (bùm!) Cờ bạc! (bùm!) Đĩ điếm! (bùm! bùm!) Đã từng
đi đêm thứ bảy và nổi cơn tam bành! (bùm!) Bây giờ tôi làm gì vào các đêm thứ bảy?
Tôi đứng ở góc phố này, đánh vào cái trống đéo mẹ này!"
Đủ
cho hôm nay.
Xem Chương 3 - Quay về Mục lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment