Osho
- Đạo: Ba Kho Báu (Tập 1)
Chương
3. Tính cách của Đạo
Về tính
cách của đạo:
Đạo
là mạch hổng,
mà
dùng mãi không cạn,
Không
thể dò được.
Về
thần hang:
Thần
hang không chết.
Nên
gọi mẹ nhiệm mầu.
Cửa
của mẹ nhiệm mầu
Gốc
rễ của đất trời.
Dằng
dặc, dằng dặc,
Dường
như còn hoài.
Kéo
ra từ nó
Dùng
hoài không hết.
Về
tính cách của đạo
Thế giới
của Lão Tử là hoàn toàn khác với thế giới của triết học, tôn giáo, luân lí. Nó
thậm chí không phải là cách sống. Lão Tử không dạy điều gì đó - ông ấy là điều
gì đó. Ông ấy không phải là người thuyết giảng, ông ấy là sự hiện diện. Ông ấy
không có học thuyết cho bạn - ông ấy chỉ có bản thân mình đưa ra và chia sẻ.
Nếu như
ông ấy là triết gia, mọi sự đã dễ dàng - bạn có thể đã hiểu được ông ấy. Ông ấy
là bí ẩn bởi vì ông ấy không phải là triết lí. Ông ấy thậm chí không là phản
triết lí, bởi vì cả hai đều phụ thuộc vào logic. Ông ấy là ngớ ngẩn. Triết lí
phụ thuộc vào logic, phản triết lí cũng phụ thuộc vào logic - cho nên phản triết
lí cũng không là gì ngoài triết lí. Nagarjuna, một nhà phản triết lí vĩ đại,
cũng vẫn là triết gia. Ông ấy nói, ông ấy biện luận, ông ấy thảo luận theo cùng
cách như bất kì triết gia nào. Ông ấy thảo luận chống lại triết lí, biện luận
chống lại triết lí, nhưng luận cứ là một. Và logic là đĩ.
Có một
câu chuyện; một trong đệ tử vĩ đại nhất của Lão Tử. Liệt Tử, kể lại nó... Lão Tử,
Trang Tử và Liệt Tử - họ là ba cột trụ của thế giới Đạo. Lão Tử nói theo kiểu
trào phúng, cách ngôn; ông ấy thậm chí không trau chuốt. Nhưng Liệt Tử và Trang
Tử, các đệ tử của Lão Tử, không thể biện luận. Họ cứ kể chuyện ngụ ngôn, chuyện
tường thuật, tương tự. Từ này phải thường xuyên được ghi nhớ: Đạo không thể được
giải thích, chỉ sự tương tự mới có thể được nêu - những chỉ dẫn. Cho nên một
trái tim đồng cảm sâu sắc là cần thiết - vấn đề không phải là tâm trí chút nào.
Liệt Tử
thuật lại một câu chuyện, rằng trong thành của ông ấy có lần chuyện xảy ra: người
giầu nhất thành đi qua sông còn dòng sông thì ngập lụt. Và một cơn bão lớn nổi
lên ngay giữa dòng nước và con thuyền bị lật úp. Bằng cách nào đó người lái đò
thoát, nhưng ông ta không thể nào cứu được người nhà giầu này. Người nhà giầu
chết đuối. Một cuộc tìm kiếm qui mô được tiến hành.
Một ngư
dân tìm ra cái xác - cái xác chết - nhưng anh ta lại đòi một giá quá cao cho
cái xác đó và sẽ không trao trả với giá kém hơn. Gia đình nọ không sẵn lòng trả
nhiều tiền thế cho cái xác chết cho nên họ tới một nhà nho, một ông đồ, một người
am hiểu luật pháp để hỏi cần phải làm gì. Liệu có thể làm được cái gì đó về mặt
luật pháp hay không?
Ông đồ
nói, "Ông đừng lo nghĩ. Trước hết, trả tiền công cho tôi và thế rồi tôi sẽ
bày cách cho ông." Thế là ông đồ nhận tiền thù lao và rồi nói, "Ông cứ
giữ giá ấy. Ông ta không thể bán được cái xác chết đó cho bất kì ai khác cả;
ông ta sẽ phải nhường bước, bởi vì không ai sẽ mua cái xác đó - cho nên ông cứ
giữ giá ấy."
Hau, ba
ngày trôi qua. Gia đình này theo lời khuyên đó. Ngư dân này bắt đầu lo nghĩ bởi
vì bây giờ cái xác đã bốc mùi, và ông ta bắt đầu cảm thấy rằng bây giờ tốt hơn
cả là nhường bước và chấp nhận bất kì điều gì họ trả. Nó đã trở thành vấn đề,
không ai khác sẽ mua cái xác đó - ông ta cũng cảm thấy điều đó. Cho nên làm sao
ông ta mặc cả được? Nhưng trước khi quyết định điều gì, ông ta cũng tới người
am hiểu pháp luật - cũng người đó.
Ông này
nói, "Trước hết hãy trả tiền công cho ta đã và ta sẽ trao cho ông lời
khuyên." Ông ta nhận tiền công và nói, "Ông cứ giữ cái giá ấy. Gia
đình kia không thể mua được cái xác đó từ bất kì đâu khác - họ sẽ phải nhường
bước."
Logic
là đĩ, đồ mãi dâm. Nó có thể ủng hộ, nó có thể chống đối. Nó không thuộc vào ai
cả. Cho nên logic có thể ủng hộ cho triết lí, và logic có thể chống lại triết
lí.
Lão Tử
không chống lại phản triết lí bởi vì ông ấy không phải là nhà logic chút nào.
Phật là người phản triết lí: ông ấy biện minh chống lại nó. Lão Tử thì không.
Ông ấy không biện minh chút nào, ông ấy đơn giản phát biểu. Ông ấy không chạy
theo bạn để thuyết phục bạn - không, Lão Tử không thế. Mọi người khác dường như
theo cách nào đó đang cố gắng để thuyết phục bạn nhưng Lão Tử thì không. Ông ấy
đơn giản phát biểu và không bận tâm liệu bạn có được thuyết phục hay không.
Nhưng sức
cám dỗ của ông ấy thì lớn. Ông ấy cám dỗ. Ông ấy khuyên nhủ. Không cố gắng thuyết
phục, ông ấy thuyết phục bạn sâu bên dưới trong trái tim và bạn không thể bác bẻ
được ông ấy bởi vì ông ấy không nêu luận cứ nào. Đó là cái đẹp và đó là sức mạnh
của ông ấy. Ông ấy đơn giản phát biểu một sự kiện. Và ông ấy không tìm kiếm việc
chuyển đổi, và ông ấy không sẵn sàng làm bạn thành một tín đồ - không. Cho dù bạn
có sẵn sàng, ông ấy cũng sẽ không chấp nhận bạn. Nhưng ông ấy cám dỗ. Cám dỗ của
ông ấy là rất tinh tế và trực tiếp. Cám dỗ của ông ấy mang nữ tính.
Có hai
kiểu cám dỗ. Khi đàn ông cám dỗ đàn bà, anh ta năng nổ. Anh ta cố gắng theo đủ
mọi cách, nghĩ đủ mọi kế, dương bẫy; anh ta làm mọi nỗ lực mà mình có thể làm
được. Đàn bà cám dỗ theo cách hoàn toàn khác. Cô ấy không giở mưu mô, cô ấy
không dương bẫy nào, cô ấy không theo đuổi người đàn ông; trong thực tế, cô ấy
giả vờ rằng cô ấy không quan tâm gì mấy. Đàn ông có thể thất bại, nhưng đàn bà
chẳng bao giờ thất bại - đó là cám dỗ nữ tính. Cái bẫy của cô ấy rất tinh vi. Bạn
không thể thoát khỏi nó được; nó không có lỗ hổng. Và chẳng cần săn đuổi bạn,
cô ấy vẫn cứ săn đuổi bạn. Cô ấy ám ảnh bạn trong giấc mơ - chưa bao giờ gõ cửa
bạn, nhưng ám ảnh bạn trong giấc mơ; chưa bao giờ biểu lộ bất kì quan tâm nào
nhưng trở thành mơ tưởng sâu sắc nhất trong con người bạn. Đó là sự thành thạo
nữ tính. Và Lão Tử là người tin tưởng lớn lao vào tâm trí nữ tính. Chúng ta sẽ
bắt gặp điều đó.
Cho nên
nhớ... thế giới của Lão Tử không phải là logic mà là tương tự. Logic là rõ
ràng, trực tiếp - hoặc bạn phải được thuyết phục hoặc bạn phải thuyết phục đối
phương; hoặc bạn phải theo nó, trở thành tín đồ, hay bạn trở thành kẻ thù. Bạn
phải chọn. Với logic, tâm trí bạn phải tích cực. Điều đó là dễ dàng, chẳng cái
gì khó về điều đó cả. Mọi người đều biện luận. Nhiều hay ít, mọi người đều là
nhà logic; giỏi hay tồi, mọi người đều là triết gia.
Nếu bạn
muốn hiểu Lão Tử, cách thức cũ không có ích. Bạn sẽ phải gạt logic của mình
sang bên bởi vì ông ấy không săn đuổi bạn như nhà logic, ông ấy không biện minh
chống lại bạn - nếu bạn biện minh chống lại ông ấy, điều đó sẽ thành khôi hài bởi
vì ông ấy có biện minh gì đâu. Ông ấy đơn giản đưa ra sự tương tự.
Tương tự
là gì? Nếu tôi có kinh nghiệm nào đó mà bạn không có, thế thì làm sao tôi mô tả
nó cho bạn? Cách duy nhất là qua tương tự: một kinh nghiệm nào đó bạn có - nó
không đích xác là cái bạn có - nó không đích xác đúng là cái tôi có, nhưng sự
tương tự nào đó tồn tại. Cho nên tôi nói rằng nó giống như kinh nghiệm mà bạn
có - không đích xác giống hẳn, nhưng sự tương tự nhỏ tồn tại. Việc hiểu sự
tương tự nhỏ đó trở thành cây cầu.
Đó là
lí do tại sao người đã đi tới cực lạc tối thượng lại nói điều đó giống như hai
người yêu nhau trong vòng ôm sâu sắc, nó giống như hai người yêu trong niềm cực
thích sâu sắc, nó giống như khi hành động dục đi tới đỉnh. Điều này là tương tự.
Họ không nói rằng nó là điều này. Không. Họ không nói điều gì như thế cả. Họ
đơn giản nói rằng kinh nghiệm của bạn chẳng là gì khác hơn điều có thể trở
thành cây cầu.
Jesus
nói, "Thượng đế là tình yêu." Đây là tương tự. Trong cuộc sống của bạn
thì tình yêu là cao nhất. Cái thấp nhất của điều thiêng liêng và cái cao nhất của
con người gặp gỡ; đó là biên giới. Cái cao nhất mà nhân loại có thể đạt tới được
là tình yêu; nó là cái thấp nhất đối với điều thiêng liêng, chỉ là bàn chân của
điều thiêng liêng. Nhưng từ đó, nếu bàn chân được tìm thấy, thì bạn có thể tìm
thấy toàn bộ Thượng đế. Đó là lí do tại sao Jesus nói, "Tình yêu là Thượng
đế." Không phải là tình yêu là Thượng đế, nhưng trong kinh nghiệm của bạn
thì không còn cái gì khác hơn tồn tại để qua đó có thể làm điều tương tự.
Cho nên
đừng xét Lão Tử theo lời và theo nguyên văn; chúng tất cả đều là tương tự cả. Nếu
ông ấy nói "Thần hang," thì đây là tương tự. Ông ấy đang nói điều gì
đó - không đích xác là về hang động, bởi vì hang động thì bạn biết - qua hang động
ông ấy cho bạn cảm giác về cái gì đó mà bạn không biết. Từ cái bạn biết ông ấy
đang đem bạn tới cái mà bạn không biết. Tương tự nghĩa là một tham chiếu tới
cái biết để giải thích cho cái chưa biết. Khi ông ấy nói "Thần hang",
thì ông ấy ngụ ý nhiều điều.
Tương tự
bao giờ cũng rất hàm súc. Logic bao giờ cũng chật hẹp, còn tương tự thì rộng
rãi, nữ tính. Bạn càng tìm nhiều trong nó, bạn càng thấy nhiều qua nó. Logic
còn có thể cạn kiệt được chứ tương tự thì không bao giờ. Đó là lí do tại sao những
cuốn sách như Đạo Đức Kinh hay Bhagavadgita hay Bài thuyết giảng trên núi của
Jesus bạn có thể cứ đọc và đọc và đọc mãi - chúng là không cạn. Bạn có thể cứ
tìm ra ngày một nhiều bởi vì chúng là tương tự. Bạn càng trưởng thành, bạn càng
thấy ra trong chúng; bạn càng thấy ra trong chúng, bạn càng trưởng thành; bạn
càng trưởng thành, bạn lại càng thấy ra nữa. Cho nên những cuốn sách này không
phải là sách: chúng có cuộc sống riêng của mình, chúng là một hiện tượng sống.
Và bạn không thể đọc được chúng một lần rồi kết thúc với chúng; không, đấy
không phải là cách thức. Một cuốn sách logic có thể được đọc một lần, được hiểu,
bạn có thể vứt nó vào đống rác. Nhưng một cuốn sách kiểu tương tự thì mang tính
thơ ca: nó thay đổi với tâm trạng của bạn, nó thay đổi với hiểu thấu của bạn,
nó thay đổi với trưởng thành của bạn. Nó đem lại cho bạn những tầm nhìn khác
nhau theo trạng thái tâm trí của bạn.
Tương tự
vẫn còn nguyên - chẳng hạn, "Tình yêu là Thượng đế." Một người chưa
bao giờ biết điều gì khác ngoại trừ dục và người cứ nghĩ rằng dục là tình
yêu...
Tại
phương Tây điều này đang xảy ra quá nhiều. Bây giờ với hành động dục họ nói là
"làm tình." Việc "làm tình" này là hoàn toàn ngu ngốc - bạn
không thể làm tình yêu được, tình yêu không phải là hành động, nó là trạng thái
của sự hiện hữu - bạn có thể trong nó nhưng bạn không thể làm nó được. Bạn rơi
vào trong nó, nó không phải là nỗ lực. Dục có thể được làm, không phải là tình
yêu. Gái mãi dâm có thể cho bạn dục, không phải tình yêu - bởi vì làm sao bạn
làm tình yêu theo tiền được? Không thể được! Làm sao bạn có thể làm tình yêu vì
tiền được? Nó tới theo cách riêng của nó. Nó có những cách thức bí ẩn riêng. Bạn
không thể kiểm soát được nó, bạn chỉ có thể bị nó sở hữu. Dục có thể được làm
chứ không phải là tình yêu. Bạn có thể làm dục nhưng bạn không thể làm tình yêu
- bạn chỉ có thể trong tình yêu... Cho nên người đàn ông hay đàn bà mà nghĩ rằng
dục là tình yêu và hành động dục là hành động của tình yêu thì sẽ nghĩ, khi
Jesus nói, "Tình yêu là Thượng đế" - và tất nhiên không có cách nào
khác với họ để nghĩ bởi vì đây là sự tương tự của họ - rằng dục là Thượng đế.
Tại Thuỵ
Điển bây giờ họ đang làm phim về cuộc sống tình yêu của Jesus bởi vì họ nghĩ rằng
một người mà nói, "Tình yêu là Thượng đế" thì phải ngụ ý rằng dục là
Thượng đế. Và phim này sắp sửa là một trong những hành động báng bổ nhất, xấu
xa nhất có thể có, bởi vì trong phim này họ đang cố gắng mô tả một Jesus đang
làm tình theo nghĩa của họ - đi vào hành động dục. Bây giờ không quốc gia nào sẵn
sàng cho phép họ làm phim đó. Nhưng họ sẽ làm nó - bây giờ khó mà cản họ lại được.
Cuộc sống tình yêu của Jesus với họ có nghĩa chỉ là cuộc sống dục.
Bạn hiểu
việc tương tự theo quan điểm của mình. Sự tương tự có thể cho bạn chỉ nhiều tới
mức bạn có thể đặt vào trong nó. Một người đã yêu, không chỉ về mặt dục mà toàn
bộ... bởi vì dục là hiện tượng cục bộ, vật lí; không có gì sai trong nó, nhưng
nó không là toàn bộ. Khi nó trở thành toàn bộ và bạn yêu một người trong tính
toàn bộ, không chỉ về mặt dục - sự hấp dẫn không chỉ về vật lí mà cả về tâm
linh - không phải là thân thể bị chối bỏ trong nó mà sự hấp dẫn là lớn hơn, và
sự hấp dẫn thân thể chỉ là một vòng nhỏ trong nó - thế thì bạn sẽ hiểu
"tình yêu là Thượng đế" theo cách khác. Sự tương tự sẽ trở nên sâu sắc
hơn cho bạn.
Nhưng nếu
bạn đã biết tới tình yêu ở ngoài dục, mà trong đó dục đơn giản biến mất và toàn
bộ năng lượng dục được biến đổi thành cực lạc - nếu bạn đã biết tình yêu đó thế
thì "tình yêu là Thượng đế" sẽ có một nghĩa khác với bạn.
Cho nên
tương tự phụ thuộc vào bạn. Và một cuốn sách tương tự như của Lão Tử thì phải
được đọc đi đọc lại - nó là công trình cuộc sống. Bạn không thể nào đơn giản đọc
nó trong cuốn sách bìa mỏng rồi vứt sách đi. Nó là kho báu được mang đi; nó là
công trình cả đời; chính việc đi vào điều tương tự là kỉ luật cả đời.
Logic
là nông cạn. Bạn có thể hiểu Aristotle, chẳng có gì nhiều. Nhưng khi bạn tới
Lão Tử ... lần đầu tiên bạn thậm chí có thể bỏ lỡ cái là cái gì đó, nhưng dần dần
Lão Tử sẽ ám ảnh bạn. Sự hấp dẫn của ông ấy mang nữ tính. Dần dần ông ấy sẽ bắt
giữ bản thể của bạn - bạn chỉ phải theo ông ấy. Trong logic bạn phải tranh đấu;
trong tương tự bạn phải đồng cảm, bạn phải cho phép nó, chỉ thế thì sự tương tự
mới nở hoa. Cho nên chỉ trong đồng cảm và kính phục sâu sắc, trong niềm tin và
tin cậy sâu sắc, thì Lão Tử mới có thể được hiểu. Không có cách khác.
Nếu bạn
tới Lão Tử thông qua tâm trí, bạn sẽ không bao giờ tới được ông ấy. Bạn sẽ đi
lòng vòng và lòng võng mãi - bạn sẽ chẳng bao giờ chạm vào sự hiện hữu của ông ấy.
Tới ông ấy qua trái tim. Sự tương tự là dành cho trái tim; logic là cho tâm
trí.
Lão Tử
mang nhiều tính nhà thơ hơn. Nhớ lấy điều đó. Bạn không biện minh với nhà thơ -
bạn lắng nghe thơ ca, bạn hấp thu thơ ca, bạn nghiền ngẫm nó, bạn để nó đi vào
bên trong sự hiện hữu của mình, bạn để nó trở thành một phần của máu và xương bạn,
bạn tiêu hoá nó. Bạn quên lời, bạn quên tính thơ ca hoàn toàn, nhưng hương thơm
trở thành một phần của bạn. Bạn có thể không nhớ bài thơ đang hát về điều gì
nhưng bài ca đã được giữ lại: hương vị của nó, hương thơm, đã đi vào bạn. Bạn
đã trở nên mang thai.
Lão Tử
có thể được hiểu chỉ nếu bạn trở nên mang thai với ông ấy. Cho phép ông ấy. Mở
cửa ra. Ông ấy thậm chí sẽ không gõ cửa, bởi vì ông ấy không năng nổ. Ông ấy sẽ
không cố gắng biện minh bởi vì ông ấy không tin vào biện luận. Ông ấy không phải
là con người tâm trí chút nào, ông ấy tuyệt đối là con người trái tim. Ông ấy
đơn giản, sự tương tự của ông ấy là sự tương tự của dân làng - nhưng sống động,
toả sáng, sinh động. Nếu bạn cho phép ông ấy, bỗng nhiên bạn sẽ được biến đổi -
chỉ một hiểu biết, hiểu biết của trái tim, và bạn sẽ được ông ấy làm cho biến đổi.
Điều thứ
hai cần nhớ là ở chỗ Lão Tử không phải là con người tôn giáo theo nghĩa bình
thường. Ông ấy không phải là nhà thượng đế học. Ông ấy không là con người tôn
giáo chút nào theo cách bạn hiểu thế giới. Ông ấy chưa bao giờ đi tới đền chùa,
chưa bao giờ tôn thờ, bởi vì ông ấy thấy rằng toàn bộ sự tồn tại này là ngôi đền
và toàn bộ cuộc sống này là sự tôn thờ. Ông ấy không là con người phân mảnh.
Ông ấy không phân chia cuộc sống, ông ấy sống nó như dòng sông không phân chia.
Bạn
phân chia: một giờ trong đền, mọi tuần bạn đều tới nhà thờ. Chủ nhật là ngày
tôn giáo và dần dần tôn giáo trở thành chuyện ngày chủ nhật - sáu ngày làm việc
nó không được động tới. Bạn rất tinh ranh! - Chủ nhật là ngày nghỉ, chủ nhật là
ngày tôn giáo, khi bạn không đi làm. Bạn có thể lương thiện dễ dàng khi bạn
không làm việc; bạn có thể lương thiện dễ dàng khi bạn không trong cửa tiệm; bạn
có thể lương thiện dễ dàng khi bạn nghỉ ngơi dưới ánh mặt trời; bạn có thể
lương thiện dễ dàng khi bạn lắng nghe buổi thuyết giảng trong nhà thờ. Điều đó
không là gì cả, không có vấn đề gì. Sáu ngày làm việc, chúng mới tạo ra vấn đề
thật - thế thì bạn không thể tôn giáo được. Cho nên đây chỉ là thủ đoạn mà
thôi. Chủ nhật này là một thủ đoạn để tránh tôn giáo. Bạn đã tạo ra căn phòng
kín gió trong cuộc sống của mình. Tôn giáo có chỗ riêng của nó vào ngày chủ nhật,
và thế thì, thế thì bạn được tự do trong sáu ngày để phi tôn giáo nhất có thể
được.
Người
Hindus có cách riêng của họ, người Mô ha mét giáo có cách riêng của họ, người
Ki tô giáo có cách riêng của họ: cách tránh tôn giáo. Và những người này bạn gọi
là tôn giáo! Họ là những người tránh né. Họ tới đền chùa và họ cầu nguyện. Khi
họ cầu nguyện nhìn vào họ, vào khuôn mặt họ. Họ trông đẹp thế. Nhưng khi ra khỏi
nhà thờ hay đền chùa, họ không còn như thế nữa. Họ khác đi.
Tolstoy
đã viết một truyện ngắn, không thực là truyện nữa. Nó là một sự kiện, nó đã xảy
ra, một sự vụ.
Tolstoy
một hôm tới nhà thờ, vào sáng sớm. Trời còn tối và ông ấy ngạc nhiên khi thấy rằng
người giầu nhất thành phố đang cầu nguyện và thú tội trước Thượng đế và nói rằng
mình là kẻ tội lỗi. Tất nhiên Tolstoy trở nên quan tâm. Và ông này đang kể lại
tội lỗi của mình: cách ông ấy đã lừa vợ mình và đã không trung thành, và cách
ông ấy đã trong quan hệ và chuyện tình với các phụ nữ khác, vợ người khác.
Tolstoy
trở nên bị hấp dẫn. Ông ấy lại mỗi lúc một gần hơn. Và ông này đang kể lại với
nhiều thích thú, thú tội với Thượng đế: "Con là kẻ tội lỗi và chừng nào
ngài còn chưa tha thứ cho con thì không có cách nào cho con cả. Và con đã bóc lột
làm sao! Và con đã cướp bóc mọi người làm sao! Con là kẻ tội lỗi và con không
biết cách thay đổi bản thân mình. Chừng nào ân huệ của ngài còn chưa giáng xuống
thì không có khả năng nào cho con cả." Và nước mắt cứ chảy ròng ròng.
Thế rồi
ông ta bỗng nhiên nhận biết rằng có ai đó khác ở đó. Ông ta nhìn. Ông ta nhận
ra - vào lúc này trời đã hửng sáng - và ông ta trở nên rất giận dữ và ông ta
nói với Tolstoy: "Nhớ lấy! Những điều này tôi đã nói cho Thượng đế, không
phải cho ông.
Và nếu
ông nói những điều này cho bất kì ai thì tôi sẽ lôi ông ra toà về tội bôi nhọ
danh dự tôi. Cho nên nhớ rằng ông chưa bao giờ nghe nói gì về những điều này cả.
Đây là đối thoại cá nhân giữa tôi và Thượng đế và tôi không biết rằng ông có
đó."
Một
khuôn mặt khác trước Thượng đế và một khuôn mặt hoàn toàn khác trước thế giới....
Tôn giáo là một ngăn - khép kín. Đây là thủ đoạn để tránh nó; đây là cách để
mang tính tôn giáo mà không tôn giáo chút nào - sự lừa dối.
Lão Tử
là không tôn giáo chút nào theo cách đó. Ông ấy là người đơn giản. Ông ấy thậm
chí không nhận biết rằng mình mang tính tôn giáo - làm sao một người tôn giáo lại
có thể nhận biết rằng mình mang tính tôn giáo? Tôn giáo cũng giống như việc thở
với người đó. Bạn trở nên nhận biết về việc thở chỉ khi cái gì đó đi sai, khi
khó thở, khi bạn bị hen hay loại trục trặc gì đó về thở. Bằng không thì bạn sẽ
chẳng bao giờ biết, chẳng bao giờ trở nên nhận biết rằng bạn thở. Bạn đơn giản
thở, nó tự nhiên thế.
Lão Tử
mang tính tôn giáo một cách tự nhiên, ông ấy thậm chí không nhận biết về điều
đó. Ông ấy không giống như các thánh nhân của bạn, những người thực hành tôn
giáo. Không, ông ấy không thực hành: ông ấy cho phép tính toàn bộ chiếm quyền sở
hữu. Ông ấy sống nó, nhưng ông ấy không thực hành nó. Tôn giáo không phải là kỉ
luật với ông ấy, nó là sự hiểu biết sâu sắc. Nó không phải là cái gì đó bị áp đặt
từ bên ngoài, nó là cái gì đó tuôn chảy từ bên trong. Không có một chút khoảng cách
giữa ông ấy và tôn giáo.
Ông ấy
không mang tính tôn giáo theo nghĩa bạn vẫn hiểu. Ông ấy không phải là thánh
nhân bởi vì ông ấy chưa bao giờ thực hành tính thánh thiện cả. Ông ấy không bó
buộc nó; nó không phải là tính cách của ông ấy. Con người tôn giáo thực không
có tính cách tôn giáo - không thể có nó được bởi vì tính cách là một phương thức
của phi tôn giáo. Cố hiểu điều đó: bạn phát triển một tính cách bởi vì bạn sợ bản
thể của mình; bạn phát triển đạo đức bởi vì bạn sợ cái bất tử bên trong; bạn tự
buộc bản thân mình theo một cách sống nào đó bởi vì bạn biết rằng nếu bạn sống
một cách tự phát và tự nhiên, bạn sẽ trở thành tội nhân, không phải là thánh
nhân. Bạn sợ bản thể của mình; bạn áp đặt tính cách lên khắp xung quanh mình.
Tính cách là cái áo giáp; nó bảo vệ bạn tách khỏi người khác và và nó bảo vệ bạn
tách ra với chính bản thân mình. Nó là thành luỹ; bạn đi vào trong nó. Bạn nói
chân lí không phải bởi vì bạn đã đi tới biết phúc lạc của nó; bạn nói chân lí bởi
vì bạn đã được dạy rằng nếu bạn không nói, thì bạn sẽ bị ném vào địa ngục.
Các nhà
thần học của bạn đã cố gắng hình dung ra Thượng đế của bạn như kẻ tàn bạo nhất
có thể được - ném mọi người vào địa ngục, vào trong lửa cháy, và trong dầu sôi.
Thượng đế này dường như là kẻ tàn bạo. Ông ta cần trị liệu tâm lí lớn - ông ta
dường như là kẻ tra tấn lớn lao nhất.
Bạn sợ
địa ngục và bạn tham vọng cõi trời - củ cà rốt cõi trời liên tục được treo ngay
trước bạn. Và tính cách của bạn chỉ là phương tiện giữa cõi trời và địa ngục -
bảo vệ chống lại địa ngục và nỗ lực để đạt tới tham vọng cõi trời. Làm sao bạn
có thể mang tính tôn giáo được nếu bạn sợ thế và tham vọng thế?
Con người
tôn giáo không tham vọng chút nào. Tham vọng là điều đầu tiên bị vứt khỏi người
tôn giáo, bởi vì tham vọng có nghĩa là trong tương lai còn người tôn giáo bao
giờ cũng ở đây và bây giờ. Người đó tồn tại trong hiện tại, người đó không có
tương lai nào để bận tâm cả. Và người đó không sợ hãi theo bất kì cách nào. Người
đó sống một cách toàn bộ thế, làm sao người đó có thể sợ hãi được? Sợ tới bởi
vì bạn sống một cách phân mảnh. Bạn đã không sống chút nào, đó là lí do tại sao
có sợ.
Cố hiểu
vấn đề này. Người ta sợ chết - tại sao? Bạn có biết rằng chết là xấu không? Làm
sao bạn biết được điều đó khi bạn chưa chết? Bạn có biết rằng chết sắp sửa là
điều tồi tệ hơn cuộc sống không? Làm sao bạn có thể biết được? Nó có thể còn tốt
hơn cuộc sống. Tại sao bạn sợ chết mà không biết? Làm sao người ta có thể sợ
cái không biết? Điều đó dường như là không thể được. Bạn có thể sợ chỉ cái đã
biết. Làm sao bạn lại có thể sợ cái không biết, cái không quen thuộc mà bạn
không biết chút nào? Không, bạn không sợ chết. Bạn đã đặt sai nỗi sợ của mình
vào cái chết. Bạn thực sự sợ chết bởi vì bạn đã không có khả năng sống - nỗi sợ
có liên quan tới cuộc sống chưa được sống. Bạn sợ rằng bạn đã không có khả năng
sống, yêu và chết đang tới gần, cái sẽ chấm dứt mọi thứ. Bạn sẽ không còn nữa,
và bạn vẫn còn chưa có khả năng để yêu.
Bạn giống
như cây vẫn còn chưa ra hoa mà tiều phu đang tới. Cây cảm thấy hoảng sợ, không
biết điều gì sẽ xảy ra. Nỗi sợ không tới từ cái chết, nỗi sợ đang tới từ cái gì
đó đã không xảy ra. Cây biết rõ rằng quả còn chưa kết, hoa còn chưa ra, nó còn
chưa nở hoa. Cây chưa biết tới mùa xuân; nó còn chưa nhảy múa với gió, nó còn
chưa yêu, nó còn chưa sống. Cuộc sống chưa được sống này tạo ra nỗi sợ... và tiều
phu đang tới. Và tiều phu sẽ tới và sẽ không có tương lai. Chết nghĩa là không
có tương lai. Quá khứ đã qua, và không tương lai - còn hiện tại thì chật hẹp thế.
Sợ chiếm lĩnh, bạn run rẩy.
Sợ bao
giờ cũng là về cái chưa được sống. Nếu bạn sống một cách toàn bộ, bạn chẳng sợ
cái gì cả. Nếu cái chết tới với tôi ngay bây giờ, tôi đã sẵn sàng. Tôi đã sống.
Mọi thứ đều đầy đủ, không cái gì là không đầy đủ. Cái chết không thể phá huỷ được.
Nếu cái gì đó còn chưa đầy đủ thế thì tôi mới muốn cái chết đợi thêm chút xíu,
nhưng mọi thứ đều đầy đủ cả. Tôi đã tắm sáng nay, tôi đã nói với các bạn, bất
kì cái gì định xảy ra thì đã xảy ra rồi. Tôi hoàn toàn sẵn sàng. Nếu cái chết tới,
tôi đã sẵn sàng, tôi sẽ thậm chí không nhìn lại một lần bởi vì chẳng còn gì để
nhìn cả, mọi thứ đều đã đầy đủ. Bất kì khi nào bất kì cái gì cũng đều đầy đủ
thì bạn tự do với nó. Một cuộc sống đã được sống thực sự - người ta trở nên tự
do với nó. Một cuộc sống chưa được sống - bạn không bao giờ có thể được tự do với
nó. Bạn có thể vào hang cốc, lên Himalayas, lên Tây Tạng - bạn có thể đi bất kì
đâu, nhưng bạn sẽ không bao giờ được tự do, và nỗi sợ bao giờ cũng sẽ có đấy.
Sợ hãi
và tự do không thể cùng tồn tại được. Khi tự do tới - và tự do chỉ tới khi bạn
đã sống, đã nở hoa, mọi thứ đều đầy đủ và kết thúc - thế thì bạn còn khao khát
sống lâu hơn nữa làm gì? Thậm chí đến một khoảnh khắc cũng chẳng cần. Thế thì nỗi
sợ biến mất.
Tôn
giáo của bạn dựa trên sợ hãi. Trong thực tế nó không phải là tôn giáo. Nó là giả
tạo, nó là rởm, nó chỉ là lừa dối. Lão Tử không mang tính tôn giáo theo nghĩa bạn
mang tính tôn giáo hay bạn cảm thấy người khác mang tính tôn giáo. Lão Tử mang
tính tôn giáo theo một cách hoàn toàn khác. Phẩm chất của ông ấy là khác. Ông ấy
đơn giản, ông ấy sống một cách hồn nhiên khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia.
Ông ấy cũng không nói về Thượng đế - bởi vì để làm gì? Thượng đế không phải là
một từ. Làm sao bạn có thể nói về Thượng đế được? Lão Tử sống Thượng đế, Lão Tử
không nói về Thượng đế. Lão Tử tận hưởng Thượng đế, Lão Tử mở hội về Thượng đế,
đấy không phải là hiện tượng não bộ. Lão Tử nhảy múa. Lão Tử uống Thượng đế.
Lão Tử sống Thượng đế. Cho nên phỏng có ích gì mà nói về Thượng đế?
Đây là
quan sát của tôi: rằng mọi người bao giờ cũng nói về những điều họ không biết.
Có một
câu chuyện Sufi:
Một nhà
vua vĩ đại hay tới một nhà tu khổ hạnh fakir, một người ăn xin huyền môn. Nhưng
ông ấy ngạc nhiên bởi vì bất kì khi nào ông ấy tới thì nhà huyền môn này lại
nói về tiền bạc, vương quốc, chính trị, còn nhà vua lại nói về Thượng đế, thiền,
tôn giáo.
Thế là
một hôm nhà vua nói, "Ta xin lỗi, nhưng điều này ta không thể nào hiểu nổi.
Ta tới đây để nói về Thượng đế, tôn giáo, thiền, samadhi. Và điều này thật kì cục
- rằng ta, một con người của thế gian, tới nói về samadhi, chứng ngộ, còn ông,
một người tôn giáo - cứ giả sử là tôn giáo đi, bởi vì bây giờ ta có hoài nghi -
bất kì khi nào ta tới, ông bao giờ cũng nói về vương quốc và chính trị và tiền
bạc và cả nghìn thứ, nhưng bao giờ cũng về thế gian. Ông giải thích điều này thế
nào?"
Ông
fakir cười. Ông ấy nói, "Chẳng có gì để giải thích cả. Điều đó là đơn giản.
Ông nói về những điều ông không biết. Tôi nói về những điều tôi không biết. Điều
đó là đơn giản. Sao tôi lại phải nói về Thượng đế? Tôi biết mà. Sao ông lại phải
nói về vương quốc? Ông là vua. Ông biết mà. "
Lão Tử
không nói về Thượng đế, thậm chí không nhắc tới ngài, dù chỉ một lần. Ông ấy đã
quên mất Thượng đế rồi sao? Ông ấy chống lại Thượng đế sao? Không. Ông ấy sống
Thượng đế một cách toàn bộ đến mức ngay cả việc nhớ tới cũng sẽ là phạm thượng.
Việc nói về Thượng đế sẽ là nói về một hiện tượng sâu sắc thế, nó sẽ là phản bội.
Nói về
Thượng đế sẽ là phản bội, tôi nói với bạn vậy. Nó là một hiện tượng thân mật thế;
nó là giữa ngài và cái toàn thể. Cũng hệt như những người yêu không thích nói về
tình yêu của họ. Và những người nói về tình yêu của mình - bạn có thể chắc chắn
họ không có cuộc sống tình yêu. Tình yêu là hiện tượng thân mật tới mức không
ai muốn nói về nó cả. Các nhà thơ nói về nó bởi vì họ không biết. Họ viết ra
các bài thơ, đấy là tưởng tượng của họ - nhưng họ đã không biết. Những người
yêu giữ im lặng. Những người yêu không nói về tình yêu chút nào. Chẳng có gì để
nói về nó cả - họ biết nó. Và bởi việc biết nó mà họ cũng biết rằng không thể
nào nói về nó được; điều đó sẽ là phản bội. Lão Tử mang tính tôn giáo theo cách
hoàn toàn khác.
Bây giờ
các bạn thử đi vào lời kinh này với tôi:
Đạo
là mạch hổng,
mà
dùng mãi không cạn,
Không
thể dò được.
Cái hổng
là một trong những từ chủ chốt trong Lão Tử. Ông ấy nói đi nói lại về cái hổng.
Cái hổng có nghĩa là không gian; cái hổng có nghĩa là sự bao la; cái hổng có
nghĩa là không thể cạn kiệt được.
Bạn sống
trong nhà, nhưng khái niệm về nhà của bạn là các bức tường. Khái niệm của Lão Tử
về nhà là không gian bên trong, không phải là các bức tường. Ông ấy nói: Tường
không phải là nhà. Làm sao bạn có thể sống trong tường được? Bạn sống trong cái
trống rỗng, không trong tường. Cái hổng - đó mới là ngôi nhà thực. Nhưng khi bạn
nghĩ về ngôi nhà thì bạn nghĩ về cấu trúc bao quanh cái hổng đó. Đó là lí do tại
sao lâu đài và lều trông khác nhau đối với bạn. Điều đó không đúng cho Lão Tử -
bởi vì cái hổng là như nhau. Nếu bạn nhìn vào tường thì tất nhiên lều là lều và
lâu đài là lâu đài. Nhưng nếu bạn nhìn vào cái hổng bên trong nhất, là ngôi nhà
thật - bởi vì chỉ cái hổng mới có thể làm nhà cho bạn, không phải tường - thế
thì không có khác biệt giữa lều và lâu đài. Không có cái hổng giầu và không có
cái hổng nghèo: tất cả mọi cái hổng đều như nhau, chúng là bình đẳng. Nhưng có
bức tường giầu và bức tường nghèo.
Một khi
bạn hiểu điều này, thế thì nhiều điều sẽ trở thành có thể bởi vì đây là sự
tương tự với tiềm năng và ý nghĩa vô hạn. Khi bạn nhìn vào một người, bạn có
nhìn vào thân thể không? Thế thì bạn đang nhìn vào bức tường đấy. Đấy không phải
là con người thật - con người thật là cái hổng bên trong. Thân thể có thể đẹp,
xấu, ốm, khoẻ, trẻ, già, nhưng cái hổng bên trong bao giờ cũng là một. Thế thì
bạn không nhìn vào thân thể, thế thì bạn nhìn vào cái hổng bên trong.
Tại mọi
nơi Lão Tử đều thấy sự tương tự. Bạn đi ra chợ để mua chiếc bình đất hay bình
vàng. Bình vàng khác với bình đất - chỉ bức tường là khác nhau - nhưng chỗ hổng
bên trong là như nhau. Và khi người nghèo đi ra giếng và người giầu đi ra giếng
- người giầu mang bình vàng còn người nghèo mang bình đất - họ đi với cùng chỗ
hổng đó. Họ mang cùng nước và khi họ trút đầy bình, không phải các bức vách
ngăn là được dùng mà là chỗ hổng bên trong, cái trống rỗng bên trong.
Lão Tử
nói: Nhìn vào cái bên trong, đừng nhìn vào cái bên ngoài. Và cái hổng bên trong
là bản thể của bạn; cái hổng bên trong, cái trống rỗng bên trong là bản thể của
bạn. Điều đó nghĩa là bản thể của bạn là sự không hiện hữu, bởi vì từ "hiện
hữu" cho bạn cảm giác rằng cái gì đó có đó bên trong. Không, không có ai
bên trong cả - tất cả mọi cái ai đó đều là ở bên ngoài, bên trong là không ai cả,
cái hổng. Tất cả bản ngã đều chỉ trên bề mặt, bên trong là vô ngã. Ai có đó bên
trong? Một khi bạn biết, bạn sẽ cười, bạn sẽ nói rằng vấn đề là không liên
quan.
Không
có ai cả, đích xác là cái không - đó là lí do tại sao bạn bao la, đó là lí do tại
sao bạn mang phẩm chất của Brahma. Đó là lí do tại sao bạn không thể tìm thấy
Thượng đế ở đâu cả - bởi vì ông ấy là cái hổng của cái toàn thể còn bạn cứ đi
tìm thân thể. Ai đó đang tìm Krishna, ai đó đang tìm Christ, ai đó đang tìm
Mahavira - tất cả đều đi tìm thân thể. Không ai đi tìm cái hổng; bằng không thì
bạn cần phải đi đâu? Không gian bao quanh bạn từ mọi nơi. Đây là Thượng đế -
không gian này: cái không gian mà trong đó bạn được sinh ra, cái không gian mà
trong đó bạn sống, cái không gian mà trong đó bạn sẽ tan biến.
Cá được
sinh ra trong biển, cá sống trong biển, cá chết và tan biến trong biển. Cá
không là gì ngoài nước biển. Bạn đích xác hệt như vậy. Cái hổng bao quanh tất cả
và cùng cái hổng đó là ở bên trong. Làm sao có thể có hai kiểu cái hổng được?
Không thể được. Cái trống rỗng bao giờ cũng là một. Trong tội nhân tồn tại cùng
cái hổng như trong thánh nhân. Tội nhân có cái nhãn ở bên ngoài là tội nhân,
thánh nhân có cái nhãn bên ngoài là thánh nhân. Bạn cũng bị gắn với các bức tường;
bạn không thấy rằng tường là không có nghĩa.
Tại sao
bạn gọi một người là thánh nhân? - bởi vì người đó làm điều gì đó mà bạn gọi là
tốt. Tại sao bạn gọi một người là tội nhân? - bởi vì người đó làm điều gì đó mà
bạn gọi là xấu. Nhưng tất cả mọi việc làm đều là ở bên ngoài, mọi hành động đều
ở bên ngoài, chúng chỉ là bức vẽ trên tường. Nhưng cái hổng bên trong - cái hổng
bên trong liệu có thể trở nên không thuần khiết bởi hành động của bạn được
không? Bạn có thể làm cho cái trống rỗng thành không thuần khiết được không?
Cái trống rỗng đơn giản là trống rỗng. Làm sao bạn có thể làm cho nó thành thuần
khiết hay không thuần khiết được? Cái trống rỗng vẫn còn không bị động chạm tới.
Nếu bạn chém tôi bằng chiếc kiếm, thì bạn chém thân thể tôi nhưng không chém được
tôi, bởi vì "tôi" nghĩa là cái trống rỗng bên trong. Nếu tôi làm điều
gì đó thì tôi làm với bức tường, nhưng cái trống rỗng bên trong là người không
làm. Nhớ lấy sự tương tự này. Nó là từ khoá trong Lão Tử.
Đạo
là mạch hổng,
mà
dùng mãi không cạn,
Không
thể dò được.
Nếu Đạo
hay Thượng đế mà không trống rỗng thế thì cái dụng của chúng không thể nào là
không cạn được, thế thì một ngày nào đó chúng sẽ bị cạn kiệt. Và Thượng đế có
thể được gọi là Thượng đế không nếu có thể bị cạn kiệt? Một ngày nào đó Thượng
đế sẽ chết, nó sẽ bị cạn kiệt. Nhưng trong tâm trí bạn, khái niệm về Thượng đế
đã được tạo ra như một người ngồi đâu đó trên trời và kiểm soát. Ngài không kiểm
soát. Ngài không phải là người. Trong thực tế ngài không phải là ông nào cả, và
ngài cũng không phải là bà nào cả.
Tất cả
các từ của chúng ta đều không liên quan bởi vì Đạo là cái hổng bao la, không
gian bao la, cái trống rỗng. Logic của bạn sẽ lập tức nảy sinh trong tâm trí:
thế thì làm sao mọi thứ có đó? Hỏi các nhà vật lí; bây giờ họ đã đi tới cùng hiểu
biết như Lão Tử. Bây giờ họ nói rằng chúng ta đi ngày một sâu vào trong vật chất,
vật chất biến mất. Cuối cùng nó biến mất hoàn toàn. Bây giờ chúng ta biết. Bên
trong, nó là cái hổng. Họ đã tìm về bản chất của vật chất; họ đã tìm vất vả
nhưng bây giờ nó đã tuột đi hoàn toàn, khỏi tầm nhìn của chúng ta - họ không thể
thấy chỗ nó đã biến mất. Họ đã tìm nó lần đầu tiên trong phân tử, thế rồi họ đi
sâu hơn vào nguyên tử, thế rồi họ chia nguyên tử ra và đi sâu hơn vào điện tử.
Bây giờ vật chất đã biến mất hoàn toàn - cái không. Vật chất là cái hổng. Ngay
cả những bức tường đá này cũng là cái hổng. Đó là lí do tại sao người Hindus gọi
thế giới vật chất là ảo tưởng: nó có vẻ rất vững chắc và bản chất mà bên trong
mọi thứ đều là hổng.
Bất kì
khi nào bạn im lặng, ngồi với đôi mắt nhắm quan sát bên trong, bạn sẽ cảm thấy
tính hổng. Đừng hoảng hốt. Các nhà vật lí đã săn đuổi vật chất và họ đã đi tới cái
hổng, còn những người thực sự tìm kiếm chiều hướng tâm linh thì cũng đi tới cái
hổng. Thế thì bạn trở nên hoảng sợ. Nếu vật chất là hổng, chẳng thành vấn đề,
nhưng nếu bạn cũng là hổng, cây tre hổng, bên trong chẳng có gì ngoài cái trống
rỗng, bạn trở nên sợ hãi. Nếu bạn trở nên sợ hãi, bạn sẽ níu bám lấy bức tường,
và trong phân tích cuối cùng thì bức tường cũng là hổng. Sự tồn tại này là cái
trống rỗng bao la, và đó là cái đẹp của nó.
Trong
đêm bạn đi ngủ - giấc mơ phát sinh từ cái không: giấc mơ đẹp, giấc mơ xấu, ác mộng
làm bạn sợ đến chết. Giấc mơ nảy sinh từ cái không và chúng có vẻ thật thế.
Chúng có vẻ như đích thực, nhưng khi mắt bạn mở ra vào buổi sáng, bạn không thể
nào thấy chúng ở đâu cả. Chúng tới từ đâu? Chúng đã nảy sinh từ đâu? Và bây giờ
chúng đã biến đi đâu? Bạn chưa bao giờ nghĩ về hiện tượng này của giấc mơ. Nếu
nó có thể xảy ra trong đêm, sao không xảy ra trong ngày?
Một
trong các đệ tử của Lão Tử, Trang Tử, một đêm đã mơ rằng mình đã biến thành bướm,
dập dờn, bay giữa những đoá hoa. Và sáng hôm sau khi tỉnh dậy ông ấy đã rất buồn.
Các đệ
tử của ông ấy hỏi, "Thưa thầy, có chuyện gì vậy? Chúng tôi chưa bao giờ thầy
thầy buồn thế. Chuyện gì đã xảy ra?"
Ông ấy
nói, "Ta khó xử quá. Ta đang trong thế tiến thoái lưỡng nan mà dường như
bây giờ thì không thể nào giải được."
Các đệ
tử nói, "Chúng tôi chưa bao giờ có bất kì vấn đề nào mà thầy không thể giải
được. Thầy nói xem, vấn đề gì vậy?"
Trang Tử
nói, "Đêm qua ta mơ rằng ta đã biến thành bướm, bay trong vườn, từ hoa nọ
sang hoa kia. "
Các đệ
tử cười. Họ nói, "Đây là giấc mơ, thưa Thầy! "
Trang Tử
nói, "Hãy hượm, để ta kể cho các ông toàn bộ câu chuyện. Bây giờ ta đang
thức và ta bị phân vân. Hoài nghi đã nảy sinh. Nếu Trang Tử có thể mơ rằng ông
ta có thể biến thành bướm, thì sao không có điều ngược lại? Bướm có thể mơ rằng
nó đã biến thành trang Tử. Bây giờ ai là ai đây? Ta là bướm đang mơ rằng mình
đã biến thành Trang Tử sao?"
Bởi vì
nếu có thể xảy ra là bạn có thể biến thành bướm trong giấc mơ, thế thì vấn đề
là gì? Bướm ngủ đó trong sáng nay, nghỉ ngơi, có thể mơ rằng nó là bạn. Và làm
sao bạn biết mình là ai? Nếu Trang Tử có thể biến thành bướm, thì sao bướm
không thể biến thành Trang Tử? Dường như không thể không có khả năng về điều
đó.
Giấc mơ
đêm tới từ cái không và chúng có vẻ thực; vào ban ngày, giấc mơ tới từ cái
không và chúng có vẻ thực. Sự khác biệt duy nhất giữa đêm và ngày là: mơ đêm là
riêng tư còn mơ ngày là công cộng. Đó là khác biệt duy nhất. Trong giấc mơ đêm
bạn không thể mời bạn bè mình tới đó - nó là riêng tư. Trong giấc mơ ngày bạn
có thể mời bạn bè mình - nó là công cộng. Nếu có khả năng về mơ riêng tư thì
cũng có khả năng về mơ công cộng. Chúng ta ở đây. Nếu tất cả chúng ta đều đi ngủ,
sẽ có nhiều giấc mơ như có nhiều người ở đây: riêng tư. Không giấc mơ của người
nào sẽ đi vào giấc mơ của người khác. Chúng sẽ không va chạm với bất kì ai, và
mọi người sẽ quên mọi người khác; người đó sẽ sống trong giấc mơ của mình và
trong thực tại mơ của riêng mình. Thế rồi bạn thức. Bạn nhìn vào tôi và tôi
đang nói với bạn. Đây là giấc mơ công cộng, tất cả các bạn đều mơ cùng nhau. Đó
là khác biệt duy nhất.
Có khả
năng cho thức tỉnh lớn hơn - khi bạn thức tỉnh khỏi giấc mơ công cộng nữa. Đó
là chứng ngộ là gì. Thế thì bỗng nhiên toàn thể thế giới đều là maya. Đây là điều
Lão Tử đang nói.
Đạo
là mạch hổng,
mà
dùng mãi không cạn,
Không
thể dò được.
Nó là
cái trống rỗng bao la và mọi thứ đều nảy sinh từ nó và quay trở nó, rơi vào
trong nó. Và nó là không cạn bởi vì nó không có giới hạn.
Bạn có
thể không nhận biết rằng khái niệm về số không đã được phát minh, khám phá ra ở
Ấn Độ, bởi vì Ấn Độ đã trở nên nhận biết rằng mọi thứ bắt nguồn từ cái không, số
không, rồi mọi thứ rơi trở về trong cái không, số không. Toàn bộ cuộc hành
trình là từ số không tới số không. Cho nên Ấn Độ đã đặt ra khái niệm về số
không, cinema. Và đó là cơ sở cho mọi toán học - số không là cơ sở cho mọi toán
học. Nếu số không bị lấy đi thì toàn bộ cấu trúc của toán học sụp đổ. Với số
không toàn bộ trò chơi bắt đầu - bạn thêm một số không vào bên con số một, thế
thì giá trị của không là chín bởi vì ngay lập tức một trở thành mười. Chín được
sinh ra từ số không ngay lập tức. Bạn thêm hai số không vào một, giá trị là
chín mươi chín, lập tức một đã trở thành một trăm - từ số không toàn thể cấu
trúc được dựng lên. Không có số không, toán học biến mất, và không có toán học
thì toàn bộ khoa học biến mất.
Cho nên
nếu bạn hỏi tôi, thì số không là gốc rễ của mọi toán học và của mọi khoa học; bạn
không thể nào quan niệm nổi về một Einstein mà không có khái niệm về số không.
Không, điều đó là không thể được. Mọi máy tính sẽ dừng ngay lập tức nếu bạn vứt
bỏ khái niệm về số không, bởi vì không có số không thì chúng không thể làm việc
được. Số không dường như là điều bản chất nhất trong thế giới này. Và số không
là gì? Số không đơn giản là số không, cái không - nó là không thể vét cạn được.
Bạn có thể lấy nhiều thứ ra khỏi nó tuỳ ý. Nó có thể trở thành chín, nó có thể
trở thành chín mươi chín, nó có thể trở thành chín trăm chín mươi chín. Bạn cứ
tiếp tục đi và nó có thể trở thành bất kì cái gì bạn thích; nó là không đáy,
không thể dò được. Bạn không thể dò được nó. Số một bị giới hạn. Nó có giới hạn,
nó có giá trị cố định cho nó. Số hai là bị giới hạn - tất cả chín con số đều bị
giới hạn, chỉ số không là hiện tượng vô hạn. Trong thực tế chín chữ số không thể
vận hành được nếu thiếu nó. Chúng đều bắt nguồn từ nó, chúng trưởng thành từ
nó. Toàn bộ sự tồn tại này bắt nguồn từ số không, cái hổng.
Tại sao
có nhấn mạnh này vào tính hổng? Nó không phải là học thuyết triết học, nhớ lấy,
nó đơn giản là sự tương tự - Lão Tử đang cố gắng chỉ ra cho bạn điều gì đó. Ông
ấy đang cố gắng chỉ ra cho bạn rằng chừng nào bạn còn chưa trở thành cái hổng
thì bạn sẽ còn khổ, bởi vì tính hổng mới là thực tại của bạn. Với cái không thực,
bạn sẽ khổ.
Và đó
là ý nghĩa của thiền: trở thành cái hổng, trống rỗng bên trong. Thậm chí không
một ý nghĩ trôi nổi - không nội dung, chỉ là không gian. Bỗng nhiên mọi khổ đã
biến mất, bởi vì khổ tồn tại trong các ý nghĩ; cái chết đã biến mất bởi vì cái
chết tồn tại trong các ý nghĩ; quá khứ đã biến mất bởi vì toàn bộ gánh nặng được
mang qua ý nghĩ; tham vọng biến mất bởi vì làm sao bạn có thể tham vọng được mà
không có ý nghĩ? Làm sao bạn có thể điên mà không có ý nghĩ nào? Bạn đã bao giờ
thấy người điên nào mà không có ý nghĩ nào không? Trong thực tế, người điên là
người điên bởi vì người đó có quá nhiều ý nghĩ và người đó không thể nào giữ
chúng với nhau: một đám đông toàn thể... quá nhiều không thể chịu nổi. Người
điên là người suy nghĩ lớn lao. Đó là rắc rối của người đó: người đó nghĩ quá
nhiều, và người đó nghĩ theo nhiều chiều cùng nhau. Trong chiếc xe của mình,
theo đủ mọi hướng, ngựa đều bị đóng cương và người đó đi theo đủ mọi hướng, và
người đó không thể nào dừng được bởi vì người đó không hiện hữu. Người đó bị
phân chia, phân mảnh tới mức người đó không có.
Chỉ cái
hổng mới có thể không bị phân chia. Bạn có thể phân chia cái hổng được không? Mọi
thứ đều có thể bị phân chia - bất kì cái gì là chất liệu đều có thể bị phân
chia. Cái ngã có thể bị phân chia, chỉ vô ngã mới không thể bị phân chia. Đó là
lí do tại sao khi Phật đạt tới chứng ngộ tối thượng của mình thì ông ấy đã đặt
ra một từ là phát minh riêng của ông ấy: từ anatta. Nó chưa bao giờ tồn tại trước
ông ấy. Anatta nghĩa là vô ngã. Anatta nghĩa là anatma. Anatta nghĩa là bạn
không hiện hữu. Anatta nghĩa là không hiện hữu, bạn không có. Anatta nghĩa là
cái không, cái hổng.
Sự
tương tự là để chỉ ra cái gì đó: trở thành cái hổng, là cái hổng. Nhưng toàn bộ
giáo huấn, ước định của xã hội chống lại nó. Tại phương Tây họ nói rằng nếu bạn
trống rỗng, bạn sẽ trở thành xưởng của quỉ. Tâm trí trống rỗng là xưởng của quỉ.
Điều này là ngu xuẩn, cực kì ngu xuẩn, bởi vì tâm trí trống rỗng không bao giờ
có thể là xưởng của quỉ được. Nếu nó thực sự trống rỗng, bỗng nhiên chỉ Thượng
đế mới có đó và không cái gì khác cả, bởi vì Thượng đế là cái hổng. Quỉ đầy những
ý nghĩ, nó chưa bao giờ trống rỗng cả. Quỉ có tâm trí; Thượng đế không có tâm
trí. Bạn có thể trở thành xưởng của quỉ - bạn càng nghĩ nhiều, bạn càng trở
thành xưởng đó nhiều hơn! Nếu bạn không nghĩ chút nào, làm sao bạn có thể trở
thành xưởng của quỉ được? Quỉ không thể nào đi vào trong cái hổng được, nó sẽ sợ
chết - bởi vì đi vào trong cái trống rỗng là chết. Nó có thể đi vào trong bạn
chỉ nếu có nhiều ý nghĩ - thế thì nó có thể ẩn trốn trong đám đông, thế thì nó
cũng có thể trở thành một ý nghĩ trong bạn.
Tâm trí
trống rỗng là tâm trí của Thượng đế - nó là vô trí. trở thành cái hổng đi, ngồi
như cây tre hổng. Đi như cái hổng, sống như cái hổng, làm bất kì cái gì bạn phải
làm nhưng làm nó cứ dường như bạn là cái hổng bên trong. Thế thì nghiệp sẽ
không đụng tới bạn chút nào; thế thì hành động của bạn sẽ không trở thành gánh
nặng cho mình; thế thì bạn sẽ không bị dính líu bởi vì cái hổng không thể bị
dính líu được.
Thần
hang không chết.
Thần
hang là thần của cái hổng. Hang động thung lũng là gì? - nó là một thứ hổng. Đi
lên đồi núi, bạn sẽ thấy hai thứ: đỉnh núi - đầy những đá, chất đầy, và hang động
- trống rỗng. Thần của hang động là thần của cái trống rỗng. Đỉnh cao tới rồi
đi, hang động còn - bạn không thể phá huỷ cái không được. Cái gì đó bao giờ
cũng có thể bị phá huỷ. Nếu bạn là cái gì đó, bạn sẽ phải được sinh ra và chết
đi, lặp lại. Nếu bạn là cái không, thế thì làm sao bạn có thể bị phá huỷ được?
Làm sao bạn có thể được tạo ra? Bạn đơn giản biến mất khỏi thế giới của hình dạng
vào thế giới vô hình dạng; hang động có nghĩa là thế giới vô hình dạng.
Thần
hang không chết.
Nên
gọi mẹ nhiệm mầu.
Đây tất
cả đều là sự tương tự. Đàn bà là hang động, đàn ông là đỉnh núi. Đàn ông đi vào
đàn bà, đàn bà đơn giản cho phép. Đàn ông là năng nổ, đàn bà là tiếp nhận. Đàn
ông cố gắng làm, đàn bà đơn giản chờ đợi mọi sự xảy ra.
Nên
gọi mẹ nhiệm mầu.
Những lời
này phải được hiểu - mẹ nhiệm mầu - bởi vì với Lão Tử đó là điều tối thượng.
Lão Tử cảm thấy rằng bản chất của sự tồn tại giống đàn bà nhiều hơn là đàn ông,
bởi vì đàn ông ra đời từ đàn bà, đàn bà cũng ra đời từ đàn bà. Đàn ông thậm chí
có thể bị bỏ đi nhưng đàn bà thì không thể bị bỏ đi được. Đàn bà dường như là một
phần tử cơ sở. Đàn ông là sự phát triển ra từ đó. Đàn bà dường như cơ sở hơn, tự
nhiên hơn; đàn ông có cái gì đó phi tự nhiên về mình. Nếu bạn hỏi các nhà sinh
vật, họ nói rằng đàn ông có sự không quân bình sâu sắc trong sinh học của mình;
đàn bà là đối xứng, quân bình. Đó là lí do tại sao cô ấy trông đẹp hơn và tròn
trĩnh hơn. Đàn ông có góc cạnh, đàn bà không có góc cạnh. Đàn bà là hiện tượng
quân bình hơn, đó là lí do tại sao cô ấy chưa bao giờ cố gắng phát minh ra cái
gì đó, tạo ra cái gì đó, đi đâu đó - không, cô ấy chưa bao giờ đi. Đàn ông bao
giờ cũng đi. Anh ta phải là cái gì đó để chứng tỏ rằng mình hiện hữu; anh ta
không thể đơn giản chấp nhận bản thân mình. Anh ta không thể đơn giản hiện hữu
và vui sướng. Anh ta phải đi lên mặt trăng, và anh ta phải đi lên đỉnh Everest,
và anh ta phải làm cái gì đó. Một sự mất quân bình sâu sắc có đó, anh ta không
thể đơn giản ngồi và hiện hữu. Anh ta trở thành một người thám hiểm, nhà khoa học.
Đàn bà đơn giản tận hưởng việc hiện hữu, cô ấy hạnh phúc với những việc nhỏ, cô
ấy không khao khát mặt trăng. Và mọi đàn bà đều nghĩ việc đó ngu xuẩn làm sao:
Sao bạn đi lên mặt trăng? Bạn cứ hỏi vợ các nhà du hành vũ trụ, họ đơn giản
không thể nào tin vào điều đó được. Tại sao? Tại sao đi vào nguy hiểm và cái chết
một cách không cần thiết? Cái gì sai trong hiện hữu ở đây?
Đàn ông
là kẻ lang thang, du mục. Nếu thế giới bị bỏ cho đàn ông thì sẽ không có nhà cửa,
chỉ lều trại là nhiều nhất. Và anh ta sẽ cứ di chuyển hết chỗ nọ tới chỗ kia.
Anh ta không thể ở một chỗ được, một cái gì đó sâu bên trong anh ta cứ buộc anh
ta phải đi. Anh ta không quân bình; không quân bình này là điên khùng của anh
ta. Nhìn đàn bà mà xem. Cô ấy quân bình. Nhu cầu của cô ấy nhỏ bé thôi: ai đó để
yêu, ai đó để được yêu, thức ăn, chỗ ở, chút ít hơi ấm xung quanh, gia đình - kết
thúc. Thế thì cô ấy chẳng lo nghĩ về cái gì cả. Không phụ nữ nào tạo ra khoa học,
không phụ nữ nào sáng lập ra tôn giáo. Mọi người tới tôi và hỏi tại sao mọi tôn
giáo đều do đàn ông tạo ra. Bởi vì đàn ông căng thẳng, anh ta phải làm điều gì
đó này khác. Nếu anh ta trở nên thất vọng với thế giới này, anh ta bắt đầu làm
cái gì đó với thế giới khác, nhưng anh ta phải làm. Anh ta chưa bao giờ ở đây
và bây giờ, anh ta không thể nào ở đây và bây giờ được.
Lão Tử
thấy sự tương tự này rằng bản chất của sự tồn tại mang nhiều nữ tính hơn, nó
quân bình hơn. Nhìn cây, nhìn chim đang hót, nhìn sông đang chảy, nhìn vào khắp
xung quanh và quan sát - bạn sẽ thấy nhiều phần nữ tính ở mọi nơi. Mọi thứ đều
dường như hoàn hảo vào khoảnh khắc này. Cây không lo nghĩ về tương lai, chim
không lo nghĩ về tương lai, sông đơn giản chảy một cách lười biếng thế, im lặng
thế - cứ dường như chúng không di chuyển chút nào. Chẳng cái gì dường như vội
vã cả.
Đó là
lí do tại sao điều đó xảy ra hàng ngày: đàn ông cứ bóp còi xe trên phố còn đàn
bà cứ nói từ trên cửa sổ, "Em xuống ngay đây. Một phút thôi." Đàn bà
không bị căng thẳng về thời gian. Họ có đồng hồ đeo tay, nhưng chúng là đồ
trang sức - chúng không thực là đồng hồ. Họ không có bất kì căng thẳng thời
gian nào bởi vì họ không vội vã. Căng thẳng thời gian nảy sinh từ vội vã và tất
bật - mọi thứ đều run rẩy và mọi thứ đều lâm nguy, cứ dường như một phút chậm
trễ và mọi thứ sẽ mất. Và nếu bạn hỏi người đàn ông, "Anh đi đâu đấy?"
thì anh ta sẽ nhún vai - giống như trong phim, nhưng cứ bóp còi dường như cái
gì đó lớn lao. Lại một kinh nghiệm sống đang sắp bị bỏ lỡ. Và đàn bà thì cứ
nói...
Có lần
tôi thậm chí đã nghe nói về một phụ nữ. Tôi đang ngồi với người chồng trong xe
hơi, và thực sự chúng tôi sắp bị muộn rồi còn anh chồng rất lo lắng. Trong thực
tế anh ta chẳng cần phải lo nghĩ, anh ta không nên lo nghĩ, bởi vì đấy là cuộc
hẹn gặp của tôi chứ không phải của anh ấy. Tôi sắp bị muộn. Nhưng anh ấy bấm
còi, và anh ấy rất lo nghĩ, vã mồ hôi và rủa vợ. Còn cô vợ - hai hay ba lần cô
ta nói, "Em tới ngay đây" - nhưng việc trang điểm của cô ấy vẫn chưa
xong. Nó chẳng bao giờ xong cả. Bằng cách nào đó bao giờ cô ấy cũng tới, nhưng
việc trang điểm chẳng bao giờ hoàn chỉnh, nhiều thứ có thể đã được làm. Cô ấy
thấy thoải mái với gương thế, với chính bản thân cô ấy - cô ấy thoải mái thế.
Đó là thế giới của cô ấy. Thế rồi người vợ phát bực mình, và cô ấy từ cửa sổ
nhìn xuống và nói, "Em đã bảo anh cả nghìn lần rằng một phút nữa em sẽ xuống!"
Một nghìn lần! Bạn thậm chí không thể nói được "Tôi đang tới" một
nghìn lần trong một phút.
Không
căng thẳng thời gian... thế giới chuyển động không có căng thẳng thời gian nào.
Đồng hồ treo tường và đồng hồ để bàn không tồn tại cho cây cối và dòng sông và
núi non - đấy là thế giới vô thời gian.
Con người
tồn tại với thời gian, với lo nghĩ. Sâu bên dưới lo nghĩ dường như là mang tính
dục: lo nghĩ về việc đạt tới cực thích trong dục. Bất kì khi nào đàn ông làm
tình với đàn bà, anh ta đều lo nghĩ liệu anh ta có khả năng làm điều đó hay
không, lo nghĩ liệu mình có khả năng thoả mãn cho người đàn bà hay không, lo
nghĩ liệu mình có khả năng chứng minh rằng mình là đàn ông hay không. Lo nghĩ:
run rẩy bên trong, trong vội vã để chứng tỏ bằng cách nào đó, và đó là lí do tại
sao anh ta bỏ lỡ. Xuất tinh có đó như cực thích - không. Cực thích là một hiện
tượng khác: nó xảy ra chỉ khi bạn không lo nghĩ, nó xảy ra chỉ khi bạn không là
người đạt tới, nó xảy ra chỉ khi bạn không đạt tới cái gì đó, nó xảy ra trong
thảnh thơi sâu sắc, nó xảy ra chỉ khi bạn không trong kiểm soát - mà tự nhiên nắm
quyền kiểm soát. Thế thì toàn bộ thân thể bạn rung động với phúc lạc chưa biết.
Thế thì mọi tế bào của thân thể bạn mở hội trong cực lạc toàn bộ; thế thì nó là
điều thiêng liêng.
Nhưng
con người lo nghĩ, và lo nghĩ dục đó là nguyên nhân gốc rễ của mọi lo nghĩ. Thế
thì ở mọi nơi người đó cố gắng chứng tỏ bản thân mình.
Không cần
phải chứng tỏ bản thân mình. Bạn hiệu hữu. Bạn hoàn hảo. Không đàn bà nào lo
nghĩ về việc chứng tỏ; cô ấy cứ coi như là mình hoàn hảo. Cô ấy sống theo cách
rất thảnh thơi. Nhiều người chồng tới tôi và bao giờ phàn nàn của họ cũng là ở
chỗ vợ họ lười nhác. Họ không lười; họ đang tận hưởng đấy! Dù bất kì trường hợp
nào, họ cũng không vội vã. Nhưng theo cách so sánh thì họ có vẻ lười.
Lão Tử
nói bản chất của sự tồn tại như giống cái, nhiều nữ tính hơn. Và sự tương tự
này là đẹp. Ông ấy không nói rằng sự tồn tại là giống cái - nhớ điều này. Đây
không phải là logic, ông ấy không ủng hộ phong trào giải phóng - không. Ông ấy
đơn giản nêu ra sự tương tự.
Đàn ông
có thể cũng mang nữ tính. Vị phật mang nữ tính, một Lão Tử mang nữ tính, một
Jesus mang nữ tính. Thế thì ông ấy sống, ông ấy sống trong khoảnh khắc, không vội
vã; ông ấy tận hưởng sự không vội vã.
Jesus
nói với đệ tử của ông ấy: Nhìn vào hoa loa kèn trên cánh đồng. Chúng đẹp làm
sao! Ngay cả Solomon trong niềm vinh quang của mình cũng không đẹp thế. Nhưng
bí mật của hoa loa kèn là gì? - chúng chỉ nở hoa đây đó. Điều gì sẽ xảy ra khoảnh
khắc tiếp không phải là mối lo; khoảnh khắc tiếp chưa đi vào ý thức của chúng.
Con người
có thể sống trong sự tồn tại nữ tính - thế thì người đó trở thành nhà huyền
môn. Đó là cách duy nhất. Cho nên mọi nhà huyền môn đều trở nên nữ tính theo
cách nào đó. Và họ là những người tôn giáo thực sự, không phải là người sáng lập
ra tôn giáo.
Nhớ lấy,
đây là khác biệt.... Phật không là người sáng lập ra Phật giáo - không. Đệ tử của
ông ấy là người sáng lập. Jesus không phải là người sáng lập ra Ki tô giáo -
không. Các đệ tử của ông ấy, họ là người sáng lập. Mahavira không phải là người
sáng lập ra Jaina giáo. Gautam, đệ tử của ông ấy, người là một học giả và bác học
vĩ đại, là người sáng lập. Đây mới là những người sáng lập.
Bản
thân Jesus mang nữ tính. Để biểu lộ điều này, ở Ấn Độ chúng ta chưa bao giờ vẽ
các avatars, tirthankaras, chư phật có râu và ria - không - chỉ để chỉ ra điều
này rằng họ mang nữ tính. Bạn đã bao giờ thấy Ram có ria chưa? Krishna mang
râu? Không phải là họ bằng cách nào đó bị thiếu hoóc môn. Họ không phải là người
mang loại dục thứ ba. Họ là đàn ông; có râu. Nhưng đây chỉ là sự tương tự.
Chúng ta đã vứt bỏ râu để chỉ ra rằng họ đang trở thành nữ tính: nhà huyền môn
nữ tính đã đi vào trong sự hiện hữu. Họ tồn tại mà không vội vã gì, họ tồn tại
không như đàn ông căng thẳng mà như đàn bà không căng thẳng, và bạn có thể cảm
thấy xung quanh họ hơi ấm nữ tính, cái tròn trĩnh của vị phật.
Thần
hang không chết.
Nên
gọi mẹ nhiệm mầu.
Cửa
của mẹ nhiệm mầu
Gốc
rễ của đất trời.
Cửa
của mẹ nhiệm mầu
Gốc
rễ của đất trời...
Và nếu
bạn có thể tìm thấy chìa khoá để mở cánh cửa của mẹ nhiệm mầu thì bạn đã mở được
cánh cửa của sự tồn tại. Mọi người phải đi vào cánh cửa đó không căng thẳng,
quân bình, thoả mãn, hài lòng - đó là bí mật của việc hiện hữu nữ tính.
Khi tôi
nói điều này, có hai khả năng hiểu lầm: đàn bà có thể hiểu lầm và nghĩ rằng họ
chẳng có gì phải làm cả; đàn ông có thể hiểu lầm và nghĩ rằng Lão Tử này không
nói cho họ. Không, đấy là cho các bạn, cả hai. Nhưng nhớ... đàn bà không phải
là thuần đàn bà, bản thân họ đã làm mất mẹ nhiệm mầu. Họ phải tìm lại nó lần nữa.
Tất nhiên là họ tìm nó lần nữa dễ dàng hơn là đàn ông, bởi vì đàn ông đã đi xa
xôi. Và đừng nghĩ rằng nếu bạn là đàn ông thì Lão Tử không nói cho bạn - ông ấy
đặc biệt nói cho bạn đấy, bằng không thì bạn sẽ đi ngày một xa hơn khỏi sự tồn
tại và cực lạc của cuộc sống. Mọi người đều phải quay trở về với mẹ; đó là mẹ
nhiệm mầu.
Bạn được
sinh ra từ bụng mẹ, và bạn phải tìm ra bụng mẹ lần nữa trong sự tồn tại. Nếu bạn
có thể tìm thấy bụng mẹ lần nữa trong sự tồn tại, cùng hơi ấm đó, cùng cuộc sống
đó, cùng tình yêu đó trong sự tồn tại - thế thì sự tồn tại trở thành gia đình bạn,
mẹ bạn.
Người
Hindus khá hơn khi họ gọi thượng đế của mình là "mẹ" - mẹ Kali - so với
người Ki tô giáo và người Mô ha mét giáo và người Do Thái giáo, người cứ gọi
thượng đế của mình là "cha." Cả ba tôn giáo này đều hướng đàn ông, đó
là lí do tại sao họ bạo hành thế. Người Mô ha mét giáo và người Ki tô giáo đã
giết chết nhiều người, họ đã từng là thảm hoạ trên trái đất. Họ đã từng giết
người. Nhân danh tôn giáo họ đã chỉ giết chóc mà không làm gì khác. Đây là tôn
giáo hướng đàn ông.
Phật
giáo đã không giết người, Jaina giáo đã không giết người, bởi vì họ ngày càng
nghiêng về mẹ nhiệm mầu. Và bạn không thể nào phàn nàn chút gì về Lão Tử được,
với ông ấy không tồn tại tôn giáo có tổ chức. Một khi tôn giáo trở thành có tổ
chức, bạo hành đi vào trong nó. Tổ chức sẽ thành bạo lực, nó phải tranh đấu
theo cách của nó, nó nhất định trở thành nam tính. Tổ chức mang nam tính; tôn
giáo mang nữ tính.
Tôi đã
nghe một giai thoại rằng vài đệ tử của quỉ rất lo nghĩ và nói với quỉ,
"Sao thầy cứ ngồi ở đây thế? Toàn bộ công việc của chúng ta đang lâm nguy.
Một người đã trở thành phật, chứng ngộ. Chúng ta phải làm điều gì đó, bằng
không thì người đó sẽ làm biến đổi mọi người - và thế giới của chúng ta sẽ
thành sa mạc, và ai sẽ xuống địa ngục? Làm ngay điều gì đó đi! Không được để mất
thời gian. Một người đã trở thành phật rồi!"
Quỉ
nói, "Chớ có lo nghĩ. Ta làm việc qua các đệ tử. Ta đã gửi vài tên đi rồi,
các đệ tử đang trên đường. Chúng sẽ bao quanh người kia. Chúng sẽ tạo ra tổ chức.
Và không cần phải lo nghĩ: tổ chức sẽ làm mọi điều mà chúng ta không thể làm được,
và chúng bao giờ cũng làm điều đó tốt hơn. Ta đã biết điều đó qua lịch sử. Ta sẽ
tạo ra nhà thờ... và ta sẽ không dính líu chút nào vào nó. Trong thực tế, chúng
làm việc đó theo cách của chúng. Ta chỉ đơn giản động viên và giúp đỡ."
Một khi
giáo hoàng có đó, thì Christ bị lãng quên; một khi nhà thờ có đó, thì Phật bị
giết và sát hại. Bao giờ cũng vậy tôn giáo đứng trên xác của vị phật.
Đây là
những điều tương tự. Đàn bà có thể đạt tới mẹ nhiệm mầu một cách dễ dàng; đó là
lí do nhiều đàn bà trở nên bị hấp dẫn tới tôn giáo. Họ không tạo ra tôn giáo -
nhưng nhiều đàn bà, gần gấp bốn lần đàn ông, trở nên quan tâm tới tôn giáo.
Trong số các đệ tử của Mahavira, bốn mươi nghìn người là đàn bà và mười nghìn
người là đàn ông; và tỉ lệ cũng là như vậy với các đệ tử của Phật. Bạn vào bất
kì nhà thờ nào và bất kì đền chùa nào và đếm mà xem - bạn bao giờ cũng thấy bốn
đàn bà so với một đàn ông, và một người đó có thể tới chỉ bởi vì người vợ đã tới;
anh ta có thể không thực ở đó.
Đàn bà
có thể trở nên dễ hoà hợp hơn; họ là người mẹ, họ có bản tính gần hơn. Đàn ông
sẽ thấy có khó khăn chút ít để quay lại; anh ta có sự tham dự, cam kết, đầu tư
vào trong lo lắng và căng thẳng. Cho dù anh ta có tới, anh ta sẽ tạo ra lo lắng
quanh tôn giáo.
Đây là
quan sát của tôi: phụ nữ tới tôi - nếu họ buông xuôi, họ buông xuôi toàn bộ. Thế
thì họ đơn giản bắt đầu trưởng thành.
Đàn ông
tới tôi - nếu họ buông xuôi, họ không thể buông xuôi hoàn toàn được - một phần
họ bao giờ cũng giữ lại. Và khi bạn buông xuôi nửa vời, đấy không phải là buông
xuôi chút nào. Thế rồi họ thiền, nhưng thế thì việc thiền trở thành sự lo lắng.
Và họ tới và họ nói, "Bây giờ thiền này đang tạo ra lo lắng. Tôi không thể
ngủ được. Tôi thường xuyên nghĩ về nó - làm sao cho nó xảy ra, làm sao tôi quản
lí được nó."
Điều đó
không phải là việc quản lí. Bạn không thể quản lí nó được. Bạn phải trong buông
bỏ, buông bỏ lớn lao. Điều đó là khó đối với đàn ông; anh ta bị khép vào kỉ luật
cho sự lo lắng, bị huấn luyện để căng thẳng. Từ chính thời thơ ấu, xã hội đã buộc
đàn ông trở thành đàn ông - hung hăng, bạo hành, bao giờ cũng đạt tới cái gì
đó, tham vọng. Nếu chúng bắt đầu chơi búp bê thì bố mẹ nói, "Sao vậy? Con
làm gì vậy? Con có ẻo lả không đấy? Cái này là dành cho con gái, không cho con
trai. Chuyện gia đình là cho con gái; chơi búp bê là dành cho con gái, không
cho con trai." Chúng phải bước ra, và tranh đấu theo cách của mình để vào
cuộc sống. Chúng phải vật lộn - điều đó dành cho chúng.
Nếu gia
đình là dành cho con gái thế thì việc ở nhà cũng sẽ dành cho con gái. Thế thì bạn
không bao giờ ở nhà cả; và ở nhà là thiền.
Dằng
dặc, dằng dặc,
Dường
như còn hoài.
Kéo
ra từ nó
Dùng
hoài không hết.
Mẹ
nhiệm mầu, thần hang, cái hổng -
Dằng
dặc, dằng dặc,
Dường
như còn hoài.
-
nó bao giờ cũng có đó -
Kéo
ra từ nó
Dùng
hoài không hết.
Và nó
làm bạn thành toàn bộ, nó rót đầy bạn với sự thoải mái, như ở nhà. Thảnh thơi tới
với bạn.
Nhìn
vào sự tồn tại không phải như cuộc vật lộn; mà như sự tận hưởng; nhìn vào sự tồn
tại không như cuộc chiến, xung đột, mà như lễ hội - và cái vô hạn là lễ hội,
cái vô hạn là khả năng của phúc lạc - phúc lạc theo phúc lạc.
Dằng
dặc, dằng dặc,
Dường
như còn hoài.
Kéo
ra từ nó
Dùng
hoài không hết.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment