Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 5)
Chương
4. Buổi sáng tan vỡ
Câu
hỏi thứ nhất:
Thưa
thầy kính yêu,
Khi
tôi chết, tôi có thực sự chết không? Tôi muốn thực sự được thuyết phục rằng cái
chết là giấc ngủ vĩnh hằng.
Ram
Jethmalani này, chết là ảo tưởng lớn nhất. Nó chưa bao giờ xảy ra cả, nó không
thể xảy ra được theo chính bản chất của mọi sự. Vâng, có cái gì đó tạo ra ảo tưởng:
chết là cắt rời giữa thân thể và linh hồn nhưng chỉ là cắt rời; thân thể không
chết mà linh hồn cũng không chết. Thân thể không thể chết được bởi vì nó đã chết
rồi; nó thuộc vào thế giới vật chất. Làm sao một vật chết có thể chết được? Và
linh hồn không thể chết được bởi vì nó thuộc
vào thế giới của vĩnh hằng, Thượng đế - nó là bản thân cuộc sống.
Làm sao cuộc sống có thể chết được?
Cả
hai cùng có trong chúng ta. Việc nối ghép này trở nên bị cắt rời; linh hồn trở
nên bị ngắt ra khỏi thân thể - đó là mọi điều chết là gì, điều chúng ta gọi là
chết. Thân thể quay trở về với vật chất, với đất; và linh hồn, nếu nó vẫn có
ham muốn, khao khát, bắt đầu tìm kiếm bụng mẹ khác, cơ hội khác để hoàn thành
chúng. Hay nếu linh hồn được kết thúc với mọi ham muốn, với mọi khao khát, thế
thì không còn khả năng nào cho nó quay lại trong dạng thân thể nữa - thế thì nó
đi vào trong tâm thức vĩnh hằng.
Đi
vào trong tâm thức vĩnh hằng là hiện tượng rất ngược đời: người ta không có vậy
mà người ta có. Giọt sương tuột vào trong đại dương là không còn nữa, theo một
nghĩa nào đó - như một giọt sương nó không còn nữa; biên giới làm cho nó thành
giọt sương đã biến mất. Nhưng theo nghĩa khác nó là nhiều hơn là nó đã từng là:
nó đã trở thành chính đại dương, biên giới của nó đã mở rộng thành vô hạn, biên
giới của nó đã bùng nổ thành vô biên.
Một
người như Phật trở thành tâm thức phổ quát, vậy mà - và đây là ngược đời - tính
cá nhân của ông ấy không bị mất đi, tâm thức của ông ấy không bị mất đi.
Cho
nên, Ram này, tôi không thể nói rằng chết là giấc ngủ vĩnh hằng được - ngược lại,
nó là việc thức tỉnh vĩnh hằng. Các nhà thơ đã từng nói với bạn hàng thế kỉ: Chết
là giấc ngủ vĩnh hằng - đừng sợ. Bản thân họ không biết, họ đơn giản cho bạn an
ủi thôi. Nhưng cái gì có thể là khác biệt giữa chết thực và ngủ vĩnh hằng? Bạn
đã bao giờ nghĩ về điều đó chưa? Nếu giấc ngủ là vĩnh hằng nó là chết. Nếu nó
không bao giờ bị phá vỡ thì khác biệt ở đâu? Cái xác và người ngủ vĩnh hằng
đích xác là một. Nếu giấc ngủ sẽ là mãi mãi và mãi mai, nó là chết.
Người
nguyên thuỷ ở gần với chân lí này hơn nhiều: họ nói rằng giấc ngủ là cái chết
nhỏ. Họ đúng đấy, bởi vì trong vài giờ bạn trở nên hoàn toàn quên lãng thế giới,
người khác, bản thân bạn, thân thể bạn. Bạn trở nên hoàn toàn bị ngắt ra trong
vài giờ, thế rồi bạn được nối lại. Nó là cái chết nhỏ. Giấc ngủ là cái chết nhỏ
nhưng điều ngược lại không đúng: chết không phải là giấc ngủ vĩnh hằng; nếu nó
là vậy thì khác biệt sẽ là gì, Ram?
Nếu
bạn đơn giản muốn an ủi bản thân mình rằng, "Mình sẽ là việc ngủ vĩnh hằng
trong cái chết," điều đó là chuyện khác. Nhưng chân lí không an ủi bạn;
chân lí là như nó vậy. Chân lí là ở chỗ cái chết có hai khả năng. Nếu bạn chết
đi với khao khát, ham muốn, thế thì nó đem bạn quay lại trong thân thể khác, bởi
vì không có thân thể bạn không thể làm nỗ lực nào để hoàn thành ham muốn của
mình. Không có thân thể bạn không thể ăn thức ăn, bạn không thể làm tình; không
có thân thể bạn không thể trở thành thủ tướng đất nước được - không có thân thể
không thể làm gì được. Thân thể là phương tiện để làm mọi thứ; thu nhận, đi lại,
đạt tới, đi tới. Không có thân thể bạn đơn giản hiện hữu; nó là trạng thái hiện
hữu. Có thân thể bạn bao giờ cũng trở thành: trở thành cái này, trở thành cái nọ,
giầu hơn, nổi tiếng hơn, thành công hơn. Không có thân thể mọi việc trở thành đều
dừng lại. Trở thành là cái tên khác cho ham muốn, cho nên nếu một người chết đi
với ham muốn sâu, sâu sắc để trở thành cái gì đó, người đó sẽ được sinh ra lần
nữa trong thân thể khác. Đó là một phương án.
Phương
án thứ hai là: nếu bạn đã hiểu ra cái vô tích sự của ham muốn, cái ngu xuẩn
hoàn toàn của ham muốn, nếu bạn đã thấy điều đó thấu suốt - rằng không ham muốn
nào đã bao giờ có thể được hoàn thành, rằng nó hứa hẹn và nó hứa hẹn nhiều đấy
nhưng nó không bao giờ chuyển giao hàng hoá, rằng mọi ham muốn đều lừa dối, rằng
chính vì không thông minh của chúng ta mà chúng ta cứ thành nạn nhân của ham muốn;
nếu bạn đã thấy điều đó thấu suốt và bạn chết đi mà không phóng chiếu nào trong
tâm trí, không hạt mầm nào của ham muốn, thế thì mọi hạt mầm đều bị thiêu cháy.
Chính bởi vì điều này mà Patanjali đã gọi trạng thái tối thượng của samadhi là
nirbeej samadhi, samadhi vô chủng tử - nếu bạn có thể chết đi cùng với mọi hạt
mầm đã bị thiêu cháy, sẽ không có việc nảy mầm thêm nữa, sẽ không có việc sinh
khác.
Thế
thì bạn đi đâu? Bạn không rơi vào giấc ngủ. Thực ra để đạt tới trạng thái
samadhi vô chủng tử người ta phải tuyệt đối thức tỉnh, người ta phải là vị phật,
bởi vì hạt mầm của ham muốn bị thiêu cháy chỉ trong ngọn lửa của thức tỉnh. Cho
nên nếu bạn chết đi mà không có ham muốn nào, bạn chết đi trong nhận biết toàn
bộ, bạn thấy cái chết xảy ra. Và lại nhớ, với "chết" tôi ngụ ý bạn thấy
sự cắt đứt xảy ra - dần dần, từ từ linh hồn trở nên tách rời khỏi thân thể. Dần
dần, dần dần nó trở nên bị bật rễ khỏi thân thể, nó trở nên tự do hơn khỏi nhà
tù. Và một khoảnh khắc tới khi bạn tự do toàn bộ khỏi nhà tù, ở bên ngoài nhà
giam có tên là cơ chế thân tâm.
Thế
thì bạn vẫn còn thức tỉnh vĩnh hằng. Thế thì bạn vẫn còn trong vũ trụ, khuếch
tán trong đại dương cuộc sống, nhưng thức tỉnh vĩnh hằng. Nó không phải là trạng
thái ngủ.
Bạn
hỏi tôi, "Khi tôi chết, tôi có thực chết không?" Ram Jethmalani, bạn
thực sẽ không thể chết, nhưng Ram Jethmalani sẽ chết, bởi vì Ram Jethmalani
không là gì ngoài cái tên của tổ hợp linh hồn và thân thể; nó là cái tên của sự
đồng nhất. Chúng ta cảm thấy bị đồng nhất với thân thể mình; chúng ta nghĩ
chúng ta là thân thể mình, tâm trí mình. Nhớ lấy, tâm trí chỉ là một phần của
thân thể, phần tinh tế, phần vô hình. Nếu chúng ta bị đồng nhất với cơ cấu thân
tâm, thế thì chắc chắn sự đồng nhất này sẽ chết.
Ram
Jethmalani nhất định chết, nhưng có cái gì đó trong Ram Jethmalani sẽ không chết
đâu. Bạn phải trở nên nhận biết về nó. Và cách duy nhất để trở nên nhận biết về
nó là có tính thiền nhiều hơn, là nhân chứng nhiều hơn. Bắt đầu quan sát thân
thể bạn, bắt đầu quan sát tâm trí bạn; đừng bị dính líu vào, vẫn còn tách rời,
xa cách, bình thản. Cứ như một người ngồi trên bờ sông và quan sát dòng sông chảy
qua. Bạn không nói, "Tôi là dòng sông." Nó là vậy với thân thể, quan
sát nó. Trở nên càng ngày càng là nhân chứng hơn. Và khi việc chứng kiến phát
triển và trở nên được tích hợp, bạn sẽ có khả năng thấy Ram Jethmalani biến mất
thậm chí ngay trước khi chết.
Trong
thiền bản ngã chết, bản ngã biến mất. Một khi bản ngã đã biến mất, một khi bạn
đã thấy bản thân mình như một thực thể vô ngã, thế thì không có chết cho bạn.
Chúng
ta có thể nói điều đó theo cách khác: chính bản ngã tạo ra ảo tưởng về chết. Và
bản thân bản ngã là giả, do đó chết nữa cũng là giả. Chúng ta níu bám lấy cái
giả, đó là lí do tại sao chúng ta phải khổ từ chết.
Tính
chất sannyas nghĩa là trở nên không bị đồng nhất với cơ chế thân tâm - trở
thành nhân chứng, người thấy, người quan sát trên núi. Và khi bạn trở thành người
thấy, người quan sát, núi càng ngày càng vươn lên cao hơn, và thung lũng tăm tối,
tối đen bị bỏ lại đằng sau. Bạn cứ nhìn thung lũng trong lúc này; thế rồi, dần
dần, nó trở thành xa tới mức bạn không thể thấy nó được, bạn không thể nghe thấy
tiếng động nào từ thung lũng, và một khoảnh khắc tới tại đỉnh tối thượng của
núi khi thung lũng không còn tồn tại cho bạn. Thế thì dù vẫn sống, theo một
nghĩa nào đó bạn đã chết. Ashtavakra, một trong những nhà tiên tri vĩ đại nhất
của đất nước này, nói: sannyasin là người đã chết thậm chí cả khi người đó còn
sống. Nhưng người chết trong khi vẫn còn sống sẽ sống khi người đó chết.
Bạn
cũng hỏi tôi, "Tôi muốn thực sự được thuyết phục rằng chết là giấc ngủ
vĩnh hằng."
Ram
này, thuyết phục chẳng giúp gì được mấy đâu, bởi vì thuyết phục nghĩa là ai đó
khác làm im lặng hoài nghi của bạn, đè nén hoài nghi của bạn, ai đó khác trở
thành người có thẩm quyền với bạn. Có thể về mặt logic người đó giỏi biện luận
hơn, có thể người đó có tâm trí hợp lí hoá lớn lao và người đó có thể thuyết phục
bạn rằng không có cái chết, và bạn có thể bị làm cho im lặng và hoài nghi của bạn
có thể bị làm cho im lặng. Nhưng ngay cả hoài nghi đã bị làm im lặng sẽ quay lại,
sớm hay muộn, bởi vì chúng đã không biến mất - chúng mới chỉ bị kìm nén bởi các
luận cứ logic.
Thuyết
phục không ích gì nhiều; hoài nghi dai dẳng như dòng nước ngầm. Người này là
người Ki tô giáo được thuyết phục, người khác là người Hindu được thuyết phục.
Và tôi đã thấy tất cả các loại người - họ tất cả đều đầy hoài nghi, tất cả họ -
người Ki tô giáo, người Hindu, người Mô ha mét giáo. Thực ra một người càng đầy
hoài nghi hơn, người đó càng ương ngạnh hơn, người đó càng cố gắng tin hơn, bởi
vì những hoài nghi đó là đau đớn. Người đó nói, "Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào
Gita, vào Koran, vào Kinh Thánh. Tôi là người Cơ đốc giáo đáng tin cậy."
Sao
bạn cần là người Cơ đốc giáo đáng tin cậy? Để làm gì? Bạn phải đang chịu đựng
hoài nghi lớn lao rồi. Nếu bạn không có hoài nghi nào bạn cũng không có tin tưởng
nào. Hoài nghi là bệnh tật và tin tưởng là thuốc, nhưng mọi tin tưởng đều là
thuốc đối chứng - chúng kìm nén, chúng tất cả đều là chất độc. Mọi tin tưởng đều
độc hại. Vâng, trong lúc này họ có thể cho bạn cảm giác rằng bây giờ không có vấn
đề gì, nhưng chẳng mấy chốc hoài nghi sẽ khẳng định chúng; chúng sẽ đợi cho tới
đúng thời điểm. Chúng sẽ bùng nổ với sự khẩn thiết lớn lao vào một ngày nào đó.
Chúng sẽ bùng phát như núi lửa; chúng sẽ báo thù. Bởi vì bạn đã kìm nén chúng
nên chúng đã thu thập quá nhiều năng lượng. Một ngày nào đó, vào khoảnh khắc yếu
đuối nào đó, khi bạn mất cảnh giác, chúng sẽ báo thù. Cái gọi là thánh nhân của
bạn tất cả đều đang chịu đựng hoài nghi lớn.
Không,
tôi không thể cho bạn bất kì thuyết phục nào; tôi không tin vào thuyết phục,
tin tưởng. Nhưng, Ram này, tôi có thể mời bạn tới cùng tôi, tôi có thể giúp bạn
thấy. Sao lại được thuyết phục? Không cần đâu.
Tôi
đã thấy và tôi có thể giúp bạn thấy, và chỉ việc thấy riêng của bạn mới có giá
trị nào đó. Tôi đã nhận ra: tôi có thể giúp bạn nhận ra. Tôi đã đi qua con đường
này: tôi có thể cầm tay bạn trong tay tôi, tôi có thể đưa bạn, dần dần, tới đỉnh
cao nhất của kinh nghiệm thiền. Kinh nghiệm riêng của bạn sẽ là biến đổi thực;
thế thì hoài nghi không bao giờ có thể quay lại được nữa. Và khi bạn đã biết rồi,
bạn sẽ ngạc nhiên rằng tất cả các nhà thơ đã từng bảo bạn rằng cái chết là giấc
ngủ, giấc ngủ say, giấc ngủ vĩnh hằng, đều đã nói dối bạn - lời dối trá an ủi,
lời dối trá đẹp đẽ, lời dối trá giúp đỡ, nhưng dối trá vẫn cứ là dối trá thôi,
và giúp đỡ chỉ có thể là tạm thời.
Cũng
giống như khi bạn quá lo nghĩ, quá căng thẳng và bạn uống rượu. Vâng, trong vài
giờ bạn sẽ quên tất cả lo nghĩ của mình và tất cả căng thẳng của mình, nhưng rượu
không thể lấy đi lo nghĩ của bạn mãi mãi được; nó không thể giải quyết được
chúng. Và trong khi bạn chìm trong rượu những lo nghĩ đó lớn lên, trở nên mạnh
hơn; bạn đang cho chúng thời gian phát triển. Và khi bạn trở lại vào sáng hôm
sau với váng vất và đau đầu được cộng vào với lo nghĩ, bạn sẽ ngạc nhiên; chúng
còn lớn hơn khi bạn đã rời bỏ chúng.
Thế
rồi điều đó trở thành hình mẫu của cuộc sống: cứ trở nên say mèn để cho bạn có
thể quên đi quên lại - nhưng bạn cứ phải đối diện với cuộc sống của mình lặp đi
lặp lại. Đây không phải là cách sống thông minh.
Tôi
chống lại mọi thứ gây say, chống lại mọi ma tuý. Chúng không ích gì; chúng chỉ
giúp cho bạn trì hoãn vấn đề. Tôi muốn thực sự giải quyết các vấn đề của bạn.
Tôi đã giải quyết được vấn đề của tôi rồi, và các vấn đề là như nhau, ít hay
nhiều. Tôi có thể đem bạn tới gần tôi hơn để cho bạn có thể cảm thấy trái tim
tôi và bạn có thể thấy qua mắt tôi và bạn có thể cảm thấy điều đã xảy ra. Và việc
cảm đó, việc nếm trải đó, sẽ trở thành lực từ kéo lên bạn.
Điều
đó không phải là thuyết phục, điều đó không phải là tin tưởng - điều đó tạo ra
tin cậy. Và một khi tin cậy được tạo ra cuộc hành trình đã bắt đầu. Tôi biết,
Ram này, bạn cần giúp đỡ lớn lao. Tôi đã nhìn vào trong mắt bạn - chỉ một lần bạn
ở đây và chỉ một lần tôi đã nhìn vào mắt bạn - chúng trông rất buồn. Bạn phải
đang mang nỗi phiền não lớn bên trong bản thân bạn.
Bên
ngoài bạn là con người thành công, luật sư bào chữa tội phạm hàng đầu ở nước
này. Bên ngoài bạn thành công theo mọi cách - là nghị sĩ, chủ tịch hội luật sư Ấn
Độ - nhưng sâu bên dưới tôi đã thấy, chỉ một thoáng nhìn qua thôi, rằng bạn
đang ngồi trên núi lửa. Tôi đã thấy phiền não lớn lao trong mắt bạn, những giọt
nước mắt lớn đang đợi chảy ra từ mắt bạn. Bạn không phúc lạc theo bất kì cách
nào.
Tôi
có thể làm cho bạn phúc lạc được - sao phải hỏi về thuyết phục? - tôi có thể
cho bạn kinh nghiệm thực. Toàn thể nỗ lực của tôi ở đây không phải là để cho mọi
người tin tưởng mà là kinh nghiệm, không giúp họ một cách hời hợt mà thực sự biến
đổi họ. Tôi tuyệt đối sẵn có cho bạn. Và bạn không thể thoát được tôi lâu đâu.
Ram
cũng là luật sư của tôi và anh ấy thích thú nói với mọi người rằng "Tôi là
luật sư của Thượng đế." Nhưng là luật sư của tôi là ở trong nguy hiểm; sớm
hay muộn bạn sẽ bị sập bẫy. Có thể đó là lí do tại sao tôi đã chọn bạn làm luật
sư của tôi, để cho bạn có thể tới gần tôi hơn. Cách thức của tôi là quanh co
khúc khuỷu.
Tình
yêu lớn với tôi đã nảy sinh trong bạn. Bây giờ, tình yêu đó là đoá hoa đầu tiên
của mùa xuân; nhiều thứ nữa đang trên đường tới.
Nhưng
nhớ lấy, toàn thể cách tiếp cận của tôi là cách tiếp cận của kinh nghiệm mang
tính tồn tại. Tôi không muốn bạn là người tin tưởng, tôi muốn bạn kinh nghiệm
theo cách riêng của bạn; tôi không muốn thuyết phục bạn. Điều tôi đang nói là
kinh nghiệm của tôi: không có chết. Tôi không nói với bạn, "Hãy tin rằng
không có chết." Tôi đơn giản diễn đạt, chia sẻ kinh nghiệm của tôi rằng
không có chết. Đó là thách thức! Nó không phải là nỗ lực để thuyết phục bạn, nó
là thách thức để đi và thám hiểm. Bạn được đón chào. Nghĩ về tôi như nhà bạn vậy!
Câu
hỏi thứ hai:
Thưa
thầy kính yêu,
Tôi
cảm thấy nỗi buồn sâu sắc cả ngày dài bắt nguồn từ nhận xét của thầy hôm nay về
phân tâm và về nhớ lại chuyện cười của thầy trong những năm qua đối với các nhà
tâm thần. Trong cuộc sống riêng của mình tôi đã được ân huệ với việc gặp gỡ vài
nhà tâm thần, nhà tâm hồn trí huệ và hiếm hoi - một trong số họ đã đưa tôi tới
thầy. Những người đó đã cung cấp - và vẫn tiếp tục cung cấp - một ốc đảo cho
tôi trong một sa mạc trần trụi khác ở phương tây. Nghề nghiệp của họ không mấy
bằng mức độ bản thể họ, điều hấp dẫn tôi. Sao thầy đánh nghề nghiệp của họ mạnh
thế? Và làm sao tôi có thể tin cậy vào bản thân mình khi điều đó mâu thuẫn với
điều thầy nói? Tôi cảm thấy bị mắc vào điều ngược đời.
Prem
Sarjana này, tôi đánh mọi người chỉ khi tôi yêu họ, tôi không phí cú đánh của
tôi vào những người không cần thiết, vào những người không xứng đáng đâu. Các
nhà phân tâm, các nhà tâm thần, các nhà tâm lí là mục tiêu của tôi. Tôi đang bủa
lưới của mình để bắt giữ thật nhiều nhất có thể được.
Người
ta kể về Jesus:
Một
hôm, vào sáng sớm, ông ấy đi ra hồ; hai anh em, cả hai đều là ngư phủ, đang bủa
lưới trong hồ để đánh cá.
Jesus
đặt tay lên một trong những người anh em này; anh ta quay lại nhìn, nhìn vào mắt
của Jesus còn sâu thẳm hơn hồ, còn im lặng hơn hồ và đẹp hơn nhiều... Anh ta chỉ
hiểu hồ này; cả đời anh ta đã làm việc trên hồ, đánh cá. Nhìn vào trong mắt
Jesus, lần đầu tiên anh ta trở nên nhận biết rằng điều này là có thể được, rằng
mắt cũng có thể đẹp và có thể có chiều sâu thế và sáng tỏ thế và xanh như thế
và bao la thế. Anh ta lập tức bị hấp dẫn - anh ta là ngư phủ đơn thuần - và
Jesus nói với anh ta, "Thế là đủ rồi, anh đã đánh cá cả đời mình, bây giờ
tới và theo ta: ta sẽ dạy cho anh nghệ thuật bắt người."
Và
người đánh cá này đã theo Jesus, trở thành một trong các tông đồ của ông ấy.
Tôi
quan tâm, ngay lập tức quan tâm, tới việc đánh bắt tất cả các loại nhà tâm lí,
nhà phân tâm, nhà tâm thần, bởi một lẽ đơn giản là họ có tiềm năng lớn nhất. Họ
có thể trở thành mảnh đất đúng cho con người mới tới; họ tự do với tất cả những
thứ vô nghĩa tôn giáo, họ tự do với tất cả những cái ngu xuẩn chính trị. Họ là
những người tự do nhất theo một cách nào đó. Bây giờ chỉ có một điều còn lại với
họ, một rào chắn mỏng: họ đã làm phân tâm thành tôn giáo của mình, họ đã tạo ra
ba ngôi riêng của họ - Freud, Adler, Jung. Họ đã tạo ra Kinh Thánh riêng của họ,
thượng đế học riêng của họ, bây giờ họ bị mắc vào trong nó... điều đó xảy ra.
Khi
bạn đã sống hàng thế kỉ trong tù, cho dù bạn được phép tự do bạn sẽ nhanh chóng
đi vào trong nhà tù khác bởi vì điều đó đã thành thói quen của bạn. Bạn không
thể sống mà không có xiềng xích. Họ đã phá vỡ mọi xiềng xích nhưng họ bây giờ
đã tạo ra xiềng xích mới do chính mình làm ra, và khi bạn làm ra xiềng xích
riêng của mình, tự làm bằng tay mình, tự làm ở nhà mình, bạn bị gắn bó với
chúng hơn nhiều.
Ai
bận tâm về điều Phật nói? Hai mươi nhăm thế kỉ đã qua rồi. Ai để ý điều Jesus
đã nói hay đã không nói? Thực ra họ đã lùi xa tới mức không ai thực sự bị ám ảnh
bởi họ nữa, ngoại trừ vài người - những người không đương đại, những người vẫn
sống từ hai mươi thế kỉ trước.
Nhưng
khi bạn tạo ra xiềng xích riêng của mình và nhà tù riêng của mình... và phân
tâm là tôn giáo mới nhất - rất dễ sa ngã thành nạn nhân của phân tâm hơn, thành
nạn nhân của Sigmund Freud hơn là của Jesus Christ; dễ tin vào Marx hơn là vào
Mohammed, hơn là vào Mahavira, hơn là vào Manu, hơn là vào Moses, bởi vì ông ấy
gần chúng ta thế, ông ấy nói ngôn ngữ đương đại thế. Và đó là điều đã xảy ra
cho những người cộng sản. Điện Kremlin đã trở thành Kaaba của họ, Kashi của họ,
Kailash của họ; họ cũng có ba ngôi riêng của họ - Marx, Engels, Lenin; họ đã viết
ra Kinh Thánh riêng của họ - Das Kapital. Họ có các tông đồ riêng của họ -
Stalin, Mao, Castro, Tito. Và cùng điều đó đang xảy ra cho các nhà phân tâm, nó
đã trở thành tôn giáo mới.
Tôi
đánh các nhà phân tâm, Sarjana này, bởi vì tôi yêu họ. Tôi thực sự quan tâm tới
họ. Tôi muốn họ tới và kinh nghiệm tôi, và tới và biết điều đang xảy ra ở đây.
Và nhiều người đã nghe thấy tiếng gọi rồi; trong tất cả các ngành nghề, các nhà
phân tâm, các nhà tâm thần, các nhà tâm lí, đã tiếp nhận tôi một cách sâu sắc
nhất, sâu lắng nhất. Hàng trăm người trong số họ đã tới và trở thành
sannyasins.
Và
chắc chắn tôi sẽ cứ đùa cợt về họ; những chuyện cười đó cũng là chuyện tình của
tôi. Đó là cách tôi biểu lộ tình yêu của tôi, mối quan tâm của tôi.
Bạn
nói, "Tôi cảm thấy nỗi buồn sâu sắc cả ngày dài bắt nguồn từ nhận xét của
thầy hôm nay về phân tâm và việc nhớ lại chuyện cười của thầy trong những năm
qua đối với các nhà tâm thần."
Bạn
dường như tự mình đã làm ra tôn giáo từ phân tâm học, đó là lí do tại sao bạn cảm
thấy buồn; bằng không bạn đã tận hưởng những chuyện cười rồi, bạn đã yêu chúng
rồi. Chúng thật thế.
Các
nhà tâm thần đều là những người lập dị, tôi ngụ ý những người hay. Bất kì khi
nào tôi nói rằng ai đó là lập dị, tôi đều ca ngợi họ. Bạn phải học ngôn ngữ của
tôi. Bất kì khi nào tôi nói rằng ai đó là người lập dị tôi đều ngụ ý rằng ai đó
là có giá trị. Là bình thường thì không phải là điều gì lớn lao lắm; là bình
thường là trung bình thôi. Đó là kết án, rằng ai đó chỉ là bình thường; điều đó
nghĩa là người đó chẳng có gì trong người đó cả, người đó chỉ là lỗ hổng.
Đừng
cảm thấy buồn, tôi không chống lại phân tâm đâu - mặc dầu tôi muốn các nhà phân
tâm đi ra ngoài nó. Nó phải là bậc đá bước lên. Và bất kì khi nào tôi thấy ai
đó níu bám lấy bậc đá tôi đều đánh người đó thật đau để chỉ cho người đó rằng
có cái gì đó ở bên ngoài.
Và
bạn nói, "Trong cuộc sống riêng của mình tôi đã được ân huệ với việc gặp gỡ
vài nhà tâm thần, nhà tâm hồn trí huệ và hiếm hoi - một trong số họ đã đưa tôi
tới thầy."
Bạn
có thể có ân huệ đó - có vài người thực sự thông minh, thông thái. Nhưng bạn
không hiểu nghĩa của từ 'trí huệ'. Không thể nào tìm thấy nhà phân tâm trí huệ
đâu; nếu người đó mà trí huệ thì người đó đã trở thành sannyasin rồi, người đó
sẽ không còn là nhà phân tâm nữa. Và họ có thể là sự giúp đỡ lớn lao; và đặc biệt
là ở phương Tây nơi các thầy không tồn tại, nhà phân tâm là khả năng duy nhất để
thu được sự giúp đỡ nào đó, việc thay thế thuần tuý cho thầy - bởi vì thầy
nghĩa là người đã chứng ngộ, người đã đạt tới, người không còn có vấn đề gì để
giải quyết, không còn ham muốn nào để được hoàn thành - người đã được hoàn
thành rồi.
Rất
khó tìm thấy thầy ở phương Tây. Điều tốt nhất kế đó là nhà tâm thần, nhà phân
tâm. Nhưng nhớ lấy, người đó chỉ là tốt nhất kế sau thôi. Và khi tôi nó khó tìm
ra thầy ở phương Tây tôi ngụ ý rằng truyền thống phương Tây đã rơi vào trong
tay của các linh mục. Trong hai nghìn năm các linh mục đã không cho phép các thầy
sống sót, tồn tại; hay thậm chí, mặc kệ họ, một người trở nên chứng ngộ, người
đó phải lẩn trốn. Người đó không thể tuyên bố được về chứng ngộ của mình, người
đó không thể chia sẻ được chứng ngộ của mình, hay người đó phải chia sẻ nó theo
cách mà các tu sĩ đã không trở nên nhận biết về điều người đó làm.
Cho
nên hai điều những người chứng ngộ phương Tây đã từng làm: một là giả vờ là một
phần của nhà thờ, dùng ngôn ngữ của nhà thờ và đổ chứng ngộ của mình vào trong
nó, bởi vì đó là một trong những cách không lâm vào xung đột với nhà thờ và quốc
gia; đó là cách đã được Meister Eckhart, thánh Francis, Jacob Bohm và những người
khác thực hiện. Họ vẫn còn là một phần của nhà thờ. Đó chỉ là một phương cách để
tồn tại và để chia sẻ cái gì đó. Và họ dùng ngôn ngữ của nhà thờ, cái rất không
khớp. Họ không thể tự do được như các Thiền sư hay các thầy Sufi; họ không thể
diễn đạt được bản thân mình một cách toàn bộ; họ phải bó buộc kinh nghiệm của họ
vào cách nói Ki tô giáo, cách nói mờ xỉn, chết. Nếu không thì những người không
sẵn sàng thoả hiệp phải đi trốn, họ phải đi vào bí mật; đó là cách giả kin thuật
được sinh ra. Các nhà giả kim thuật không phải là các nhà hoá học đâu; các nhà
giả kim thuật không thực sự cố gắng biến đổi kim loại cơ bản thành vàng, đó chỉ
là phương cách để che giấu đằng sau.
Các
nhà giả kim thuật là các thầy thực nhưng họ giả vờ là nhà giả kim thuật, và nếu
bạn đã thấy họ từ bên ngoài bạn sẽ thấy họ quan tâm tới kim loại cơ sở và vàng
và bạc. Và nhiều thực nghiệm đã diễn ra, nhưng sâu bên dưới thực nghiệm thật
cũng diễn ra. Việc biến đổi vô ý thức thành ý thức - đó là biến đổi thực của
kim loại cơ bản thành vàng. Vàng đại diện cho tâm thức, chứng ngộ.
Cho
nên điều này đã xảy ra ở phương Tây. Các tu sĩ nhiều quyền lực thế và các tu sĩ
cùng mưu đồ với quốc gia tới mức hoặc họ thiêu sống người như Jean d' Arc, một
nhà huyền môn - họ giết nhiều nhà huyền môn - hoặc ép buộc các nhà huyền môn phải
sống bí mật, hay ép buộc họ nói ngôn ngữ của nhà thờ.
Do
đó ở phương Tây các thầy gần như biến mất, và bây giờ từ phương Đông, đặc biệt
là từ Ấn Độ, có nhiều, nhiều cái gọi là thầy vẩn vơ khắp phương Tây - Mahesh
Yogi, Muktananda, vân vân và vân vân. Tôi gọi họ là "các thầy vân
vân." Đây là tất cả những người rởm. Bởi vì thầy đợi đệ tử tới mình; không
cần thầy đi đâu cả. Nếu thầy có từ lực thực thầy sẽ hấp dẫn mọi người từ những
góc xa xôi nhất của thế giới. Nếu bạn không có từ lực nào trong mình thế thì bạn
sẽ phải đi và bán bất kì cái gì bạn có thể lừa gạt mọi người. Cho nên toàn thể
phương Tây đầy những thầy rởm này.
Tốt
hơn cả, Sarjana này, ở cùng với nhà tâm thần còn hơn là ở cùng với một
Muktananda, bởi vì nhà tâm thần ít nhất cũng đi theo hướng đúng. Ông ấy còn
chưa đạt tới nhưng ông ấy đang đi theo hướng đúng. Bạn có thể tìm ra vài người
rất thông minh trong nghề đó. Nhưng trí huệ là khác toàn bộ: trí huệ nghĩa là
chứng ngộ, người trí huệ nghĩa là người đã biết tới bản thân mình.
Nhưng
tôi có thể hiểu được khó khăn của bạn: ở trong sa mạc của phương Tây, ốc đảo trở
thành cực kì quan trọng, và đó là lí do tại sao bạn trở nên rất buồn nếu tôi
đánh các nhà phân tâm. Nhưng không đánh họ không thể nào đánh thức họ dậy được.
Tôi có thể hiểu khó khăn của bạn. Nhưng bởi vì bạn đang ở đây, là một phần của
phật trường, bạn nên gạt bỏ các nhà phân tâm và các nhà tâm thần của bạn đi.
Nói lời tạm biệt họ; cám ơn họ về tất cả những điều họ đã làm cho bạn, nhưng
nói lời tạm biệt họ. Ở phương Tây bạn đã không được giúp đỡ và đó là khả
năng duy nhất của việc có được bất kì sự giúp đỡ nào.
"Đó
là ở sâu trong rừng đằng sau kia," ông già Herbie, người hướng dẫn bắt đầu
nói. "Tôi đang đi chậm chạp chăm chú vào công việc của mình thì bỗng nhiên
một con gấu khổng lồ lẻn tới đằng sau tôi. Nó kẹp chặt tay tôi vào cạnh sườn
tôi và bắt đầu thở phì vào tôi. Súng của tôi rơi khỏi tay. Điều đầu tiên các
ông biết đấy, con gấu đã cúi mình xuống, nhặt khẩu súng lên, dí súng vào lưng
tôi."
"Ông
đã làm gì?" lính mới há hốc mồm kinh ngạc.
Ông
già Herbie thở dài, "Tôi còn có thể làm được gì nữa? Tôi đã cưới con gái
nó!"
Ở
phương tây bạn có thể làm được gì khác? Bất lực... Nhưng bởi vì bạn đang ở đây
nên đừng cảm thấy buồn nếu tôi đánh nhà phân tâm.
Bạn
nói, "Nghề nghiệp của họ không bằng mức độ bản thể họ nhưng vẫn hấp dẫn
tôi."
Bạn
không biết mình đang nói gì. Bạn đang nói tới mức độ bản thể nào vậy? Tôi đã thấy
hàng trăm nhà phân tâm - công xã đầy họ, chúng tôi có nhiều nhà tâm thần hơn bệnh
nhân. Mức độ bản thể nào? Không có nhiều mức độ bản thể ngay chỗ đầu tiên.
Chỉ
có hai bình diện thôi: hoặc là bạn chứng ngộ, hoặc bạn không chứng ngộ. Bạn cho
rằng có nhiều, nhiều bình diện cho nên người này mười phần trăm chứng ngộ, người
kia hai mươi phần trăm chứng ngộ, người khác ba mươi phần trăm chứng ngộ sao?
Không, hoặc nó là một trăm phần trăm hoặc nó là không - không phần trăm hay một
trăm phần trăm.
Bạn
phải đã bị hấp dẫn - đến mức đó tôi có thể hiểu được - nhưng hấp dẫn của bạn phần
nhiều là vì bạn hơn là vì mức độ của người mà bạn trở nên bị hấp dẫn.
Phương
Tây đang chịu đựng nhiều ốm yếu tinh thần; bị bệnh tinh thần còn tốt hơn bị bệnh
thể chất, ít nhất nó cũng là cái gì đó cao hơn. Giầu và thất vọng còn tốt hơn
là nghèo và đói. Tôi đã biết cả nghèo và giầu, và tôi phải nói thẳng với bạn,
là giầu là tốt hơn, bởi vì người giầu chịu bệnh giầu; người nghèo chịu bệnh
nghèo. Người nghèo quan tâm tới thân thể, người giầu quan tâm tới tâm trí.
Và
nhà tâm thần, nhà phân tâm có thể cung cấp cho bạn nhiều điều an ủi, nhiều điều
chỉnh. Và, chắc chắn, khi bạn bị rối loạn, bất kì ai có vẻ không rối loạn, người
có vẻ rất trí huệ trong lời khuyên của họ, người cứ phân tích các giấc mơ của bạn,
đều có vẻ dường như người đó có mức độ bản thể khác. Nó không phải vậy.
Tất
cả những điều phân tâm đang làm là giúp cho mọi người trở nên được điều chỉnh.
Tâm trí hiện đại phương Tây đã trở nên bị điều chỉnh rất sai - đó là dấu hiệu tốt,
đó là dấu hiệu của khủng hoảng, khủng hoảng căn cước. Tất cả các giá trị cũ đã
trở nên không hợp thức, các giá trị mới được cần tới. Quá khứ đã trở thành
không liên quan; chúng ta đã thành công nhiều ở phương Tây tới mức chúng ta
không thể sống được với những giá trị đã được tạo ra khi mọi người còn nghèo,
nhớ điều đó.
Xã
hội nghèo cần những giá trị khác, xã hội giầu cần những giá trị khác. Khi xã hội
nghèo thành công trong việc trở nên giầu, nó trở nên bị điều chỉnh sai, bởi vì
nó cứ dạy các giá trị cũ mà không còn có liên quan, và nó sống trong xã hội mới
giầu có.
Cho
nên tâm trí mọi người đều trong đống lộn xộn. Điều đã được nói cho họ bởi các
tu sĩ, bởi trường học, bởi trường cao đẳng và đại học, thuộc vào quá khứ. Và xã
hội đã di chuyển từ đó. Cứ dường như bạn được dạy về cơ chế của xe bò kéo và bạn
có chiếc xe hơi; bạn sẽ bị điều chỉnh sai, bởi vì bạn biết cơ chế của xe bò kéo
và bạn có chiếc Mercedes Benz. Bạn đâm ra lúng túng; tri thức của bạn là không
liên quan, nhưng bạn níu bám lấy tri thức của mình bởi vì đó là tất cả những gì
bạn biết. Đó là điều đang xảy ra.
Tong
nhiều thế kỉ mọi người đã được bảo tham vọng, có đủ mọi loại giầu có, thành
công trong thế giới này. Bây giờ điều đó tất cả đã xảy ra! Bây giờ bảo mọi người
giầu có, thành công, là hoàn toàn vô tích sự. Họ sẽ cười vào bạn, họ sẽ nói,
"Anh đang nói điều vô nghĩa gì thế!"
Do
đó mới có người hippies. Ở phương Đông họ không thể xảy ra được; các giá trị cũ
vẫn còn liên quan - mọi người biết về xe bò kéo và mọi người có xe bò kéo. Họ
khớp hoàn hảo. Nhưng công nghệ phương Tây, khoa học phương Tây, sự giầu có
phương Tây, đã đi xa trước tâm trí và thái độ phương Tây. Cho nên mọi người đều
lúng túng. Tri thức của từng người không khớp với tình huống người đó sống. Người
đó không thể vứt bỏ tri thức được bởi vì với việc vứt bỏ tri thức người đó trở
thành gần như người dốt nát. Và không có tri thức khác là có sẵn.
Chức
năng của nhà phân tâm là giúp cho những người bị điều chỉnh sai trở nên được điều
chỉnh lại. Đây không phải là công việc cách mạng gì mấy; nó là phản cách mạng,
nó là phản động. Đó là lí do tại sao tôi đánh phân tâm học. Phân tâm học phải
báo trước thời đại mới! Và ngược lại, điều đang được làm là giúp cho mọi người
trở nên được điều chỉnh với xã hội cũ, mục nát, cái đang chết. Phân tâm học phải
giúp cho mọi người hướng tới con người mới, người sẽ chẳng mấy chốc hiện ra trên
đường chân trời. Đó là nỗ lực của tôi ở đây.
Công
việc của tôi có tính đa chiều. Nó không chỉ có tính tôn giáo, nó không chỉ có
tính giáo dục, nó không chỉ có tính tâm hồn, nó không chỉ có tính nghệ thuật -
nó có mọi chiều; bởi vì con người mới sẽ là con người đa chiều. Và nhà phân tâm
đang giúp đỡ xã hội cũ, mục nát để nó tồn tại tốt hơn nó tồn tại mà không có sự
giúp đỡ của phân tâm học.
Các
tu sĩ, giáo sĩ, và nhà truyền giáo thường xuyên đối diện với lo âu, sợ hãi và
thất vọng. Đây là trường hợp với Cha Flannagan. Đòi hỏi của giáo dân của ông ấy
đã áp đảo ông ấy. Ông ấy e rằng ông ấy có thể đối diện với sự suy nhược tinh thần
hoàn toàn. Cho nên ông ấy đến tư vấn một nhà tâm thần. Bác sĩ động viên ông ấy
bỏ bộ lễ phục tu sĩ, mặc quần áo thường phục, đeo cà vạt đỏ, áo sơ mi kẻ sọc,
quần yếm, đi đến quán rượu và hoà lẫn với người thường, những người thường lui
tới chỗ như vậy. Tại đó, làm người cải trang, ông ta có thể không khó khăn gì
vượt qua thất vọng của mình. Ông ấy chấp nhận đơn thuốc này, thay đổi áo quần,
và thực hiện chuyến đi tới quán rượu.
Khi
ông ta ngồi vào bàn một cô ca sĩ nhanh nhẹn đi tới ông ta để nhận lệnh.
Cô
ấy nói, "Em chưa từng gặp anh trước đây thì phải? Mặt anh trông quen
quen."
Hơi
chút bối rối ông ta trả lời, "Không, thực vậy, cô chưa bao giờ gặp tôi trước
đây. Đây là lần đầu tiên tôi tới quán rượu này."
Thấy
có động viên cư xử, ông ấy quay lại quán rượu này lần thứ hai. Cùng cô ca sĩ đó
chạy xô về ông ta để nhận lệnh. Lần này cô ấy nói, "Em chắc là em đã gặp
anh ở chỗ nào đó."
Bị
bối rối hơn, nhưng vẫn bị thuyết phục rằng mình đã không bị nhận ra, ông ta kêu
lên, "Tất nhiên em chưa bao giờ gặp tôi trước đây. Đây là lần thứ hai tôi
tới quán rượu này."
Một
thời gian sau ông ta tới thăm quán rượu đó lần thứ ba. Ngay lập tức cô ca sĩ nhỏ
bé chạy tới ông ta với nụ cười lớn nói, "Bây giờ em biết anh là ai rồi!
Anh là Cha Flannagan ở nhà thờ phố Dublin!"
Choáng
váng vì việc nhận ra này gần như làm ông ta bối rối, nhưng cô gái nhỏ bé vỗ vai
ông ta với những lời đảm bảo thông cảm này: "Đừng sợ, Cha Flannagan! Em là
xơ Elizabeth ở nữ tu viện Thánh Theresa. Em có tới cùng nhà tâm thần đó!"
Những
ý niệm cũ về cuộc sống, đạo đức cũ, các ý niệm cũ về tội lỗi và ăn năn, tất cả
đều đã trở thành không liên quan. Giới tu sĩ cũ bị điều chỉnh sai tuyệt đối, và
những người sống theo các ý niệm tôn giáo cũ đang cảm thấy không đúng chỗ. Và
những người mới cũng cảm thấy không đúng chỗ, do đó có lỗ hổng giữa các thế hệ
- nó chưa bao giờ lớn như ngày nay.
Bố
mẹ không thể hiểu được con cái, con cái không thể hiểu được bố mẹ. Họ nói ngôn
ngữ khác, không có trao đổi; bức Trường thành Trung Quốc đã tới giữa bố mẹ và
con cái.
Tất
cả những giá trị cũ được yêu mến, được yêu mến trong hàng thế kỉ, đều có vẻ ngu
xuẩn. Những thứ chúng ta nghĩ là tâm linh thì không còn là tâm linh nữa. Thế giới
cần tính tâm linh mới và một loại tính tôn giáo mới.
Tôi
đánh các nhà tâm thần, các nhà phân tâm, nhiều hơn bất kì nghề nào khác bởi lẽ
đơn giản là họ là những người có thể hiểu được điều tôi đang làm ở đây. Và nếu
họ hiểu đúng họ sẽ phục vụ cho tương lai và không cho quá khứ. Họ sẽ giúp bạn
trở nên hài hoà với bản thân mình hơn là trở nên được điều chỉnh với xã hội ốm
yếu đang trên giường chết.
Đó
là chỗ công việc của tôi khác: tôi không giúp bạn trở thành được điều chỉnh
theo xã hội. Xã hội này nhất định chết đi, nó mang định mệnh chết đi, và điều
đó xảy ra càng sớm càng tốt bởi vì nó đã trở nên xấu xí. Mang mãi cái xác mục
nát này không cho phép mọi người sống đúng. Họ phải chăm nom tới cái xác bốc
mùi, và có nhiều xác thế trong nhà bạn tới mức không còn chỗ cho bạn sống.
Chúng
ta phải gạt bỏ quá khứ. Mãi cho tới giờ không người nào theo các trường phái
tâm lí Freud hay Adler hay Jung đã từng có giúp đỡ gì; nó đã trở thành một phần
của thể chế. Như các tu sĩ đã từng làm trong quá khứ, các nhà phân tâm bây giờ
đang làm cùng điều: giúp mọi người thoả hiệp với xã hội, giúp mọi người
thành bình
thường. Tính bình thường không phải là lành mạnh! Lành mạnh có tính rất nổi dậy,
và phân tâm còn chưa đủ dũng cảm để có tính nổi dậy. Do đó tôi đánh nó - bởi vì
tôi biết tiềm năng; nó có thể trở nên có tính nổi dậy.
Một
khi phân tâm trở nên có tính nổi dậy nó sẽ giúp con người mới tới sớm hơn, nó sẽ
giúp cuộc cách mạng thực đầu tiên trên thế giới. Mãi cho tới nay tất cả các cuộc
cách mạng đều rất nhỏ bé, rởm, hời hợt, bởi vì cuộc cách mạng thực chỉ có thể xảy
ra trong tâm hồn của con người, không trong cấu trúc xã hội hay cấu trúc kinh tế.
Cuộc cách mạng thực chẳng liên quan gì tới chính trị; nó có cái gì đó liên quan
tới tính tâm linh của con người.
Chúng
ta phải tạo ra tâm linh mới, cách nhìn mới.
Bạn
nói, Sarjana, "Trong cuộc sống riêng của mình tôi đã được ân huệ với việc
gặp gỡ vài nhà tâm thần, nhà tâm hồn trí huệ và hiếm hoi - một trong số họ đã
đưa tôi tới thầy."
Nhưng
người đó ở đâu? Bây giờ nghĩa vụ của bạn là đưa người đó tới tôi. Trả lại cho
người đó cùng đồng tiền chứ! Người đó đang làm gì ở đó? Người đó nên ở đây! Người
đó phải đã đọc, người đó phải đã nghe nói về tôi, nhưng đấy không phải là cách
để biết tôi. Cách duy nhất để biết tôi là trở thành sannyasin, là một phần của
trường năng lượng của tôi, rung động với tôi, đập rộn ràng cùng tôi, đồng bộ với
tôi. Bây giờ đây là nghĩa vụ của bạn, bạn nợ điều này với người đó. Giúp người
đó tới đây; người đó có thể ngại tự mình tới.
Mới
hôm nọ tôi nhận được bức thư từ Hari Chetana ở Đức nói rằng trên radio một nhà
tâm lí rất nổi tiếng đã được một người đàn bà hỏi, "Đến giờ đã sáu năm rồi
kể từ khi con trai tôi đi Pune và dường như không có khả năng nào nó sẽ quay về.
Ông nói gì về điều đó?"
Và
vị tiến sĩ nổi tiếng này nói, "Tôi đã nghe nói nhiều về Pune, tôi cũng đã
đọc nữa. Bà không phải lo - con bà đang ở đúng chỗ đấy."
Nhưng
nghe về tôi và đọc về tôi trong khi tôi đang sống ở đây sao... Và khoảnh cách
giữa Berlin và Pune chẳng là gì cả. Trong vài giờ bạn có thể ở đây - ông ấy
chưa bao giờ tới đây cả.
Những
người này chỉ biết một cách trở nên quen với mọi thứ - và đó là đọc, nghiên cứu.
Những người này là những người thông thái, nhưng không trí huệ.
Chúng
ta bất lực. Chúng ta không thể làm gì được về Phật - chúng ta phải đọc ông ấy bởi
vì ông ấy không còn hiện diện nữa. Nhưng bao nhiêu lần, đọc Phật và những lời
kinh hay của ông ấy, ý niệm này vẫn không nảy sinh trong hàng triệu con tim,
"Sẽ thật là may mắn làm sao nếu chúng ta đã được sống vào thời của Phật."
Hay đọc những lời hay này của Jesus đã không làm xuất hiện nên ý niệm nào cho bạn
rằng, "Những người theo Jesus được ân huệ làm sao khi ông ấy còn sống, được
bước đi cùng ông ấy, nói với ông ấy, ăn tối với ông ấy, uống rượu với ông ấy"?
Đọc về Krishna bạn đã không nghe thấy tiếng gọi xa xăm của cây sáo của ông ấy
sao? Bạn đã không cảm thấy chút ít buồn rầu rằng bây giờ không có khả năng nào
đối diện với con người đẹp đẽ này sao?
Nhưng
khi chư phật còn sống bạn không dùng cơ hội đó. Bạn có thể đã sống khi Jesus có
đó - ông ấy có thể đi ngang qua làng bạn và bạn có thể đã không đi tới gặp ông ấy.
Bạn có thể đã sống trong khi Phật bước đi trên đất và bạn có thể đã đương đầu với
ông ấy. Bạn có thể đã sống khi Krishna còn đang thổi sáo và vài người dũng cảm
nhảy múa quanh ông ấy; bạn có thể đã đi qua và bạn có thể đã nghĩ, "Những
người này lạ kì và con người này đã thôi miên họ bằng âm nhạc của ông ta"
- và bạn đã nghĩ bản thân mình rất lành mạnh.
Nhưng
bây giờ bạn khóc lóc và bạn than vãn và bạn cảm thấy buồn.
Sarjana,
giúp các nhà tâm thần của bạn, các nhà phân tâm của bạn tới đây đi. Bảo họ vị
phật đang sống đây, một christ đã quay lại trái đất rồi - bảo họ thế!
Và
đây không chỉ là thông điệp cho Sarjana, đây là cho tất cả các bạn đấy. Jesus
nói: Trèo lên mái nhà và kêu to để mọi người có thể nghe thấy. Tôi cũng nói với
bạn: kêu to từ mái nhà; giúp thật nhiều người bạn có thể giúp tới đây đi, bởi
vì ngay bây giờ nước đang sẵn có, nước đang tuôn chảy. Nó có thể làm dịu cơn
khát của hàng triệu người, nhưng họ sẽ phải tới dòng song và họ sẽ phải cúi
mình xuống dòng sông; chỉ thế thì họ mới nhận được món quà.
Đừng
cảm thấy buồn, cảm thấy hạnh phúc là bạn đang ở đây. Và tôi sẽ đánh đi đánh lại,
để cho bạn phải trở nên quen với cách thức của tôi. Tôi đánh mọi người chỉ khi
tôi thấy tiềm năng lớn trong họ.
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
thầy kính yêu,
Tôi
bị ám ảnh với thức ăn. Tôi ăn quá nhiều và đã tăng cân khủng khiếp. Thầy có thể
giúp tôi giảm cân được không?
Sangito,
điều này thực lạ đấy, từ California tới tôi chỉ để giảm cân của bạn. Ở
California có tiện nghi sẵn có để giảm cân hơn nhiều. Tôi biết điều đó bởi vì
tôi đã phái Mulla Nasruddin tới California. Vấn đề là như nhau.
Khi
Mulla Nasruddin tới California, anh ta được các sannyasins của chúng tôi chỉ tới
chương trình giảm cân tối thượng này. Phải mất bốn ngày và được đảm bảo giảm đi
hai mươi nhăm cân nếu không thì tiền sẽ được hoàn trả lại cho bạn.
Anh
ta đi vào một toà nhà và được bảo đi vào cánh cửa thứ nhất ở bên trái và cởi quần
áo ra ở đó. Anh ta làm như vậy và thế rồi từ cánh cửa thứ hai trong phòng này một
người đàn bà tóc vàng xinh đẹp bước vào, không gì che thân nhưng có biển hiệu
quanh cổ cô ấy. Nó viết, "Nếu anh bắt được em, anh có thể làm tình với
em!"
Nasruddin
cảm thấy ham muốn dục nổi lên bên trong mình. Căn phòng khá nhỏ, như cô này lại
linh lợi, và phải mất hai mươi phút anh ta mới tóm được cô ta. Sau khi làm
tình, Nasruddin đi tắm và bỏ về, sốt sắng chờ đợi ngày hôm sau.
Vào
ngày thứ hai, anh ta được chỉ tới một căn phòng khác, lớn hơn chút ít so với
phòng đầu. Có cô gái đầu tóc đỏ hoe xinh đẹp, không gì che thân ngoại trừ biển
hiệu, đón chào anh ta. Cuộc săn đuổi kéo dài gần bốn mươi phút.
Vào
ngày thứ ba, đó là một căn phòng khác, căn phòng rộng hơn, và một cô ngăm ngăm
đen xinh đẹp! Sau gần một giờ, anh ta cũng bắt được cô ta.
Suốt
ba ngày, Nasruddin đã giữ bản ghi chép về việc giảm cân - mười bốn cân cho tới
ngày đó.
Vào
ngày thứ tư, anh ta mường tượng có lẽ là một nhóm các cô đẹp lắm. Anh ta được
chỉ tới tầng nóc. Anh ta trèo lên cầu thang, bỏ quần áo ra và chờ đợi. Có tiếng
lách cách đằng sau anh ta khi cửa bị khoá lại, và liếc bên khoé mắt trái anh ta
thấy cảnh một con gorilla khổng lồ đang đi tới với dấu hiệu quanh cổ nó, viết,
"nếu em bắt được anh em sẽ làm tình với anh!"
Sangito,
bạn không cần từ California tới Pune đâu! Nhưng một điều là chắc chắn: mọi người
trở nên bị ám ảnh bởi thức ăn chỉ khi người ta mất năng lực yêu. Đó là một chỉ
dẫn rằng bạn đã quên mất ngôn ngữ của tình yêu. Nếu bạn đang yêu bạn không bao
giờ bị ám ảnh bởi thức ăn. Ám ảnh với thức ăn là triệu chứng rằng bạn không biết
cách yêu. Cách nó xảy ra phải được hiểu.
Quen
biết đầu tiên của đứa trẻ với thế giới là vú mẹ. Đó là việc giới thiệu đầu tiên
của nó với thế giới, việc đi vào thế giới của nó - quan hệ đầu tiên của nó với
bầu vú của người mẹ. Và vú trở thành biểu tượng cho nó về hai điều: thức ăn và
tình yêu.
Bất
kì khi nào người mẹ yêu thương, bầu vú đều có sẵn; và bất kì khi nào người mẹ
không yêu, bầu vú không có sẵn. Thức ăn và tình yêu trở nên được liên hệ; một
phản xạ có điều kiện sâu sắc xảy ra. Nó trở nên được bắt rễ vô ý thức đến mức bạn
lặp lại nó cả đời mình. Nếu đứa trẻ biết rằng người mẹ yêu nó thì nó sẽ không
bú quá nhiều, bởi vì nó biết, nó được an toàn; bất kì khi nào nó cần người mẹ bầu
vú đều sẽ có sẵn.
Nếu
đứa trẻ bất an và cảm thấy rằng lần tới người mẹ có thể không sẵn có, nó sẽ bắt
đầu bú quá nhiều, ăn quá nhiều.
Bây
giờ, bạn có thể thấy ra vấn đề: bất kì khi nào tình yêu có đó, đều có an ninh
và một loại thoả mãn, và đứa trẻ chưa bao giờ trở nên bị ám ảnh bởi thức ăn. Nếu
tình yêu không có đó, có bất an, sợ hãi, và một loại trống rỗng, và đứa trẻ tọng
vào cái trống rỗng đó bằng thức ăn.
Ở
phương Tây, trọng lượng đang ngày một trở thành vấn đề bởi một lẽ đơn giản là
người mẹ không sẵn sàng dành vú mình cho con họ. Tất nhiên vú bị mất hình dáng
của nó; và nỗi sợ rằng vú sẽ mất hình dáng của nó làm cho đàn bà trông già đi
đã bám vào tâm trí đàn bà ở phương Tây sâu sắc tới mức họ sợ cho con mình bầu
vú. Và họ đang tạo ra ám ảnh về thức ăn trong đứa trẻ một cách không chủ ý, vô
ý thức. Đứa trẻ sẽ trở nên bị ám ảnh bởi thức ăn, nó sẽ ăn quá nhiều. Việc ăn sẽ
trở thành cái thay thế của nó cho tình yêu.
Sangito,
bạn sẽ phải học yêu. Không có cách nào khác để làm giảm cân của bạn đâu. Tất cả
các chương trình khác có thể giúp bạn một chút ít, nhưng sớm hay muộn bạn sẽ lấy
lại trọng lượng bởi vì nguyên nhân gốc rễ căn bản vẫn còn là như cũ. Bạn có thể
ăn kiêng, bạn có thể chạy, bơi, luyện tập, nhưng bạn có thể ăn kiêng được bao
lâu? Sớm hay muộn bạn sẽ chán với ăn kiêng và tâm trí bạn sẽ trở nên ngày một bị
ám ảnh với việc ăn. Bây giờ bạn sẽ ăn trong tưởng tượng của mình, trong giấc mơ
của mình, và tâm trí bạn sẽ thuyết phục bạn rằng đây không phải là cách sống
đúng. Bạn không thể ăn cái này, bạn không thể ăn cái nọ, và bằng cách nào đó nếu
bạn hỏi các bác sĩ, tất cả những cái tốt đều phải tránh.
Một
đứa trẻ nói với mẹ nó, "Mẹ nói Thượng đế rất khôn ngoan. Con không tin vào
điều đó."
Người
mẹ nói, "Nhưng tại sao con không tin điều đó?"
Nó
nói, "Nếu ông ấy khôn ngoan, ông ấy đã cho nhiều vitamin vào kem rồi. Ông ấy
cho nhiều vitamin trong những thứ không thể ăn nổi, còn những thứ thực sự đáng
ăn thì lại nguy hiểm."
Bạn
sẽ tránh kem được bao lâu? Sự cám dỗ sẽ tới mức nó sẽ là điều không tránh nổi.
Cho nên bạn có thể giảm cân trong vài ngày và thế rồi bạn sẽ ăn quá nhiều, bạn
sẽ báo thù. Và bạn có thể thu được trọng lượng còn nhiều hơn số bạn đã làm mất
đi bởi việc ăn kiêng. Đây là hình mẫu của hàng triệu người, đặc biệt ở phương
Tây.
Ở
phương Đông mọi người đang đói. Bạn có thể thấy vài người béo ở Bombay, ở
Delhi, ở Calcutta, nhưng có vậy thôi. Nếu bạn đi tới Ấn Độ thực, tám mươi phần
trăm người ở Ấn Độ đang đói. Không có vấn đề tăng thêm cân, họ không đủ cân. Họ
đang phải chịu kém dinh dưỡng. Vâng, thỉnh thoảng bạn sẽ thấy các dân làng có bụng
to và thân thể gầy còm, bởi vì họ ăn thức ăn không đủ dinh dưỡng, không cân bằng,
và họ ăn chỉ khi nó có sẵn. Cho nên khi nó có sẵn thì họ ăn quá nhiều.
Có
hàng triệu người ở Ấn Độ ăn chỉ một lần một ngày bởi vì họ không thể đảm đương
được việc ăn hai lần. Cho nên để giữ cho thân thể họ kết lại trong hai mươi tư
giờ họ ăn bất kì cái gì, bất kì cái gì có sẵn đấy; thỉnh thoảng họ phải ăn cả rễ
cây.
Cho
nên vấn đề không phải là ở phương Đông, vấn đề là ở phương Tây nơi có đủ thức
ăn và mọi người đã hoàn toàn quên mất rằng thức ăn phát triển từ cây cối. Trẻ
con biết rằng thức ăn phát triển trong tủ lạnh. Bạn tới tủ lạnh vào bất kì lúc
nào và thức ăn sẵn có đấy.
Tôi
đã nghe nói về một người đàn bà phải đã khổ như Sangito. Cô ta đi tới nhà tâm
thần và hỏi lời khuyên của ông ta - phải làm gì? Ông ấy đắn đo về vấn đề này và
cho cô ấy bức hình, bức hình người đàn bàn khoả thân, người đàn bà béo hú xấu
xí, kinh tởm, buồn nôn, ghê tởm - chỉ nhìn thấy nó cũng đủ để sợ thức ăn rồi. Và
ông ta bảo người đàn bà này, "Dán nó vào bên trong tủ lạnh của cô để cho bất
kì khi nào cô mở nó ra cô sẽ thấy bức hình này - đây sẽ là việc nhắc nhở cô về
điều đang xảy ra cho cô."
Thế
là cô ấy dán bức hình của người đàn bà khoả thân vào. Nhà tâm thần cũng đã cho
cô ấy bức tranh khác về một người đàn bà trẻ đẹp với thân thể cân đối, cái đẹp
trần gian, và bảo cô ấy, "dán cả tấm hình này nữa vào, để cô có thể so
sánh. Nếu cô không ăn quá nhiều cô sẽ giống người đàn bà này, nếu cô ăn quá nhiều
cô sẽ giống người đàn bà kia."
Ngay
lập tức, từ ngày hôm sau, người đàn bà này bắt đầu giảm cân. Nhưng phép màu đã
xảy ra: chồng cô ấy bắt đầu tăng cân. Người đàn bà này đâm ra phân vân. Cô ấy
nói, "Có chuyện gì vậy?"
Anh
ta nói, "Từ lúc em dán tấm hình người đàn bà đẹp khoả thân vào bên trong tủ
lạnh, anh cứ tới mãi để xem bức hình đó. Và khi anh thấy bức hình anh cũng thấy
cả thức ăn nữa, và hương vị và mùi vị ngon làm sao... và anh nói, 'Sao mình
không ăn cái bánh hay ít kem hay cái gì đó?' Anh ăn quá nhiều bởi vì bức hình của
em."
Ở
phương Tây trẻ con lớn lên với ý niệm rằng thức ăn được tủ lạnh tạo ra bằng
cách huyền bí nào đó và nó bao giờ cũng có sẵn, hai mươi bốn giờ một ngày; bất
kì lúc nào nó cũng có thể tới và ăn. Và các bà mẹ đã thôi không cho bú vú và
các bà mẹ không sẵn có nhiều nữa. Chồng đi làm và mẹ đi tới nhiều uỷ ban thế -
họ thuộc vào phong trào giải phóng phụ nữ, các uỷ ban nâng cao ý thức - và họ
có nhiều buổi trình diễn từ thiện và họ phải bán vé và thu quĩ từ thiện... họ
không sẵn có. Người bố đi vắng, người mẹ đi vắng; đứa con bị bỏ lại với cái tủ
lạnh và không có tình yêu.
Sangito,
hiểu căn nguyên gốc rễ của nó: tình yêu bị thiếu ở đâu đó trong cuộc sống của bạn.
Tôi sẽ không coi nỗi ám ảnh của bạn với thức ăn là vấn đề thực, nó là triệu chứng
thôi. Yêu là vấn đề thực - yêu nhiều hơn đi. Và nếu bạn yêu nhiều hơn, bạn sẽ
được yêu nhiều hơn. Và điều đó vẫn chưa quá muộn đâu; bạn có thể tìm thấy một
người đàn bà. Và mọi đàn bà đều là mẹ, và tất cả đàn ông bao giờ cũng giống như
trẻ con. Cho nên bất kì đàn bà nào cũng được, bởi vì cô ấy sẽ hành động như người
mẹ. Và từng đàn ông đều cần người mẹ cho cả đời mình, anh ta cần có việc làm mẹ,
và từng đàn bà đều cần con cái. Ngay cả chồng cũng chỉ là đứa con lớn nhất, có
thế thôi. Và nếu bạn không thể tìm thấy một người, bạn có thể tới tôi - tôi bao
giờ cũng có nhiều đơn xin ở cùng tôi; đàn bà tìm đàn ông, đàn ông tìm đàn bà.
Và tôi bố trí bất kì ai với bất kì ai! Tôi không tin vào chiêm tinh, tôi tin
vào ngẫu nhiên.
Mulla
Nasruddin một sáng thức dậy và nhìn đồng hồ. Lúc đó là năm giờ kém năm. Không
thể nào ngủ lại được, anh ta đi ra cửa trước để lấy báo. Ở trang trước anh ta
thấy đề ngày: mồng 5 tháng năm.
"Ồ,
ngày thứ năm, tháng thứ năm, năm giờ kém năm," anh ta nghĩ. "Hôm nay
sẽ là ngày may mắn của mình đây!"
Anh
ta quyết định đi xem cuộc đua ngựa, thế là anh ta mặc quần áo và đi tới góc đợi
xe bus. Chẳng mấy chốc nó tới - nó mang số năm, và Nasruddin để ý khi anh ta
lên xe rằng đã có ba hành khách khác, người lái xe và mình - năm người tất cả.
Anh
ta tới đường đua và chờ đợi cuộc đua thứ năm. Anh ta cá năm trăm ru pi để thắng
- ngựa của anh ta về đích thứ năm!
Đủ
cho hôm nay.
Xem Chương 5 - Quay về Mục lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment