Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 1)
Chương
4. Chỉ may, tôi đoán
Câu
hỏi thứ nhất:
Thưa
Thầy kính yêu,
Khi
trở về Hà lan năm ngoái tôi bắt đầu trao đổi về Thầy với cảm giác khẩn thiết
tràn ngập. Tôi cảm thấy Thầy vô tư với sự khẩn thiết này với tôi, nhưng điều đó
dường như là một phần của bản tính của tôi. Cảm giác này không một giây để mất,
ao ước có được thật nhiều người Hà lan trở thành sannyasin sớm nhất có thể được,
làm cho tôi xa khỏi vui đùa. Nghiêm chỉnh dẫn tới quá nhiều thống khổ bởi vì
tôi phải đương đầu với sự dửng dưng, chế giễu và khinh miệt, đặc biệt từ các
nhà báo. Một cách khách quan, tôi đã không thất bại - xa khỏi nó - nhưng dưới dạng
con người, chuyến đi của tôi không đích xác là vô vi. Tôi đơn giản không thể tổ
hợp được sự khẩn thiết này với vui vẻ và thảnh thơi. Xin Thầy nói đôi lời về sự
khẩn thiết này, cho dù Thầy đã cho tôi nhiều thế rồi.
Deva
Amrito, vui đùa mà tôi nói, đến rất chậm đấy. Bạn không thể nhảy ngay khỏi cái
nghiêm chỉnh của bạn mà bạn đã tích luỹ trong nhiều kiếp. Bây giờ nó có lực của
riêng nó.
Thảnh
thơi không phải là vấn đề đơn giản; nó là một trong những hiện tượng phức tạp
nhất có thể có, bởi vì mọi điều chúng ta được dạy đều là căng thẳng, lo âu, thống
khổ. Nghiêm chỉnh là chính cốt lõi mà xã hội đã dựng lên. Vui đùa là cho trẻ nhỏ,
không cho người lớn. Và tôi đang dạy bạn là trẻ con lần nữa, lại vui đùa. Nó là
bước nhảy lượng tử, cú nhảy... nhưng nó cần thời gian để hiểu.
Khi
có liên quan tới tôi, bạn đã thành công vô cùng: khách quan, chắc chắn rồi,
nhưng chủ quan nữa. Bạn đã thành công không ngờ tới. Bất kì ai khác ở vị trí của
bạn chắc đã vào nhà thương điên rồi.
Bạn
được kích động, và điều tự nhiên là được kích động. Khi ai đó hiểu tôi, cảm
tôi, người đó lập tức bắt đầu cảm thấy sự khẩn thiết - không mất một khoảnh khắc.
Và từ này phải được lan toả. Một loại tràn ngập tức khắc mênh mông. Điều đó là
tự nhiên! Đúng là không một khoảnh khắc nào mất. Và nếu bạn yêu tôi, bạn sẽ
thích tất cả những người đó tới với tôi, bởi vì họ không thể có được cơ hội lần
nữa - hàng thế kỉ, hàng nhiều kiếp sống!
Khi
bạn yêu, và bạn đã tìm ra kho báu, bạn muốn chia sẻ nó. Và nếu kho báu này có
thể biến mất vào bất kì lúc nào, làm sao bạn có thể tránh được cảm giác khẩn
thiết mênh mông đó? Bạn sẽ phải hô lên từ trên nóc nhà.
Và
đáp ứng mà bạn sẽ nhận được là tuyệt đối chắc chắn và cố định. Bạn càng muốn
nhiều người hơn tới tôi, họ sẽ càng trốn đi nhiều hơn - khỏi bạn, khỏi chính ý
tưởng tới tôi.
Và
cách duy nhất để trốn thoát là chế giễu bạn, cười vào bạn, gọi bạn là điên. Đó
là cách thức của họ để bảo vệ bản thân họ. Nếu họ nghe bạn một cách có hiểu biết,
nếu họ cho phép bạn tràn ngập bản thể họ, tuôn trào vào bản thể họ, ngập lụt bản
thể họ, thế thì họ cũng sẽ thấy bản thân họ trong cùng lôi cuốn đó. Và sẽ rất
khó cho họ né tránh.
Do
đó, từ ngay ban đầu họ sẽ chế giễu bạn, chỉ trích bạn, đối lập bạn, cười vào bạn.
Họ sẽ làm mọi thứ có thể để tạo ra cảm giác trong bạn rằng bạn sai. Nhưng họ đã
thất bại. Họ không thể tạo ra cảm giác đó trong bạn. Họ càng chế giễu bạn, họ
càng cười, họ càng chỉ trích, bạn càng cố gắng thuyết phục họ.
Và
bạn đã thành công một cách khách quan - bạn đã thuyết phục được hàng nghìn người.
Từ lúc bạn đi Hà lan, nhiều người Hà lan đã tới, nhiều người hơn đang tới, và
nhiều người hơn nữa sắp tới. Bạn đã tạo ra khuấy động lớn. Bạn đã động chạm tới
trái tim của nhiều người. Và đó đã là kinh nghiệm lớn cho trưởng thành bên
trong của bạn nữa.
Tác
động mà bạn đã tạo ra vẫn chưa đi vào đầu bạn; nó không làm cho bạn thành nhiều
bản ngã hơn. Thực ra, nó đã làm cho bạn khiêm tốn hơn. Nó có thể đã không đích
xác là vô vi, nhưng nó rất gần. Và tôi không trông đợi nó phải tuyệt đối vô vi,
nhưng nó đã nhiều hơn là tôi trông đợi.
Tôi
có chút ít lo ngại, Amrito, rằng bạn có thể phát điên. Sự khẩn thiết đến mức, cực
lạc của bạn đến mức, bạn đam mê trong tình yêu với tôi đến mức tôi sợ hãi sâu
bên dưới. Tôi đã gửi cho bạn với mọi lời ca ngợi. Nhưng bạn vẫn tồn tại qua
phép thử. Bạn đã quay lại. Rối loạn đã được tạo ra quanh bạn bởi vì bạn nói về
tôi - trong báo chí, trên đài, trên truyền hình - cách thức bạn nói, nó cho cảm
giác về tình yêu mênh mông của bạn, nó cho cảm giác rằng bạn đã tìm thấy nhà.
Nhiều
người đã được thuyết phục. Và nhiều người chưa được thuyết phục cũng đã bắt đầu
nghĩ về điều đó. Và ngay cả những người đã chế giễu bạn và đối lập với bạn cũng
bị ấn tượng; bằng không ai quan tâm? Tại sao bạn phải đối lập với ai đó nếu bạn
không bị ấn tượng? Tại sao bạn phải chế giễu và cười ai đó nếu bạn đơn giản tỉnh
táo rằng anh ta điên? Không ai cười người điên cả, không ai chế giễu người
điên. Biết rằng anh ta điên là đủ và mọi sự được chấm dứt!
Bạn
đã tạo ra một dây chuyền mà sẽ tiếp tục. Và tôi muốn nhiều người trong các
sannyasin của tôi được kích động như thế, cảm thấy khẩn thiết, đi về nước họ và
lan toả lời này. Và bạn sẽ phải hô to từ trên nóc nhà.
Và
bất kì khi nào bạn trong tình yêu bạn đều có vẻ điên - bạn đang điên. Yêu là
điên... nhưng cao hơn rất nhiều cái gọi là lành mạnh tầm thường, xoàng xĩnh. Và
yêu là mù quáng, nhưng mù quáng vẫn có khả năng thấy được cái vô hình.
Yêu
không phải là một phần của thế giới bình thường mà chúng ta đã tạo ra. Chúng ta
đã trục xuất yêu khỏi nó. Cho nên bất kì khi nào bạn đang trong tình yêu - và
trong tình yêu với một thầy, trong tình yêu với vị phật, đó là tình yêu tối thượng
- nó hướng bạn tới mất trí. Nó làm cho bạn thành một phần của cõi bên kia. Không
ai có thể tin vào điều đó.
Làm
sao bạn của bạn, Amrito, tin vào điều đó, rằng điều đó đã xảy ra cho bạn và nó
đã không xảy ra cho họ? Điều đó chống lại bản ngã của họ nhiều đến mức bạn đã
tìm ra còn họ chưa tìm ra, và họ vẫn còn đang vật lộn. Không, cách dễ dàng hơn
cho họ là phủ nhận, là nói rằng bạn đã không tìm thấy, rằng bạn đang trong ảo
tưởng, rằng bạn đã bị thôi miên, rằng bạn đang ảo giác, rằng bạn đã bị ma tuý.
Điều đó cho họ sự an ủi, điều đó cho họ một loại thoải mái. Nếu bạn đã thực sự
tìm thấy, thế thì họ sẽ cảm thấy rất, rất không thoải mái - thế thì cuộc sống của
họ là thất bại.
Đấy
đã là một kinh nghiệm hay. Tôi biết bạn không thể rất vui đùa được. Điều đó là
khó. Lần sau khi tôi cử bạn đi, bạn sẽ vui đùa hơn. Bây giờ đừng sợ nhé! Tôi biết
rằng bạn không muốn quay lại lần nữa. Thế là đủ rồi... nhưng thêm một lần nữa
đi. Lần tới toàn bộ dự án sẽ là vui đùa. Thế thì mọi người sẽ cười nhiều hơn và
họ sẽ nghĩ rằng bạn thậm chí còn phát điên hơn. Nhưng cứ cười..., nhảy múa, ca
hát. Lần này bạn đã tranh cãi. Lần tiếp không tranh cãi - ca hát, nhảy múa, ôm
ghì mọi người.
Nhưng
tôi tuyệt đối hạnh phúc. Bất kì cái gì đã xảy ra đều là tốt một cách khách
quan, đều tốt cho người khác, đều tốt cho bạn. Nó là một phương cách: cử bạn với
một mục đích đặc biệt là một phương cách cho trưởng thành bên trong của bạn. Và
bạn đã thành công.
Có
mọi khả năng bị thất bại.
Tôi
nhớ:
Có
lần George Gurdjieff yêu cầu P.D. Ouspensky, đại đệ tử của ông ấy thời đó, từ
London tới một chỗ xa xôi đâu đó ở Caucasus. Điều đó rất khó. Cuối cùng
Ouspensky bị phá sản. Ông ta không còn tiền bạc, không nhà cửa để sống, không
ai hỗ trợ. Và cuộc hành trình dài thế! Mà thời đó là rất nguy hiểm. Tại những
phần đó của thế giới đi lại là nguy hiểm, bởi vì cuộc cách mạng Nga đã xảy ra.
Mọi người đều bị tàn sát, giết chết, ám sát. Không có hoà bình. Ngay cả
Gurdjieff cũng phải rời bỏ nước Nga, và ông ấy trốn trong vùng núi non của
Caucasus.
Không
phải là đúng lúc để tới đó; điều đó rất nguy hiểm. Cuộc hành trình không dễ
dàng: mọi tầu hoả đều bị đảo lộn, đường bộ bị cắt đứt, cầu cống bị phá đổ. Thật
là hỗn độn! Nhưng khi thầy gọi, đệ tử phải tuân theo. Bất kì của cải nào ông ấy
có, ông ấy bán tuốt. Ông ấy vay tiền của mọi người, và đi hàng nghìn dặm đường.
Ông ấy mất gần ba mươi ngày để tới Gurdjieff. Mệt mỏi, tả tơi, nghĩ nhiều lần,
“Mình đang làm gì thế này? Mọi người đều trốn khỏi nước Nga, còn mình đi đến
đó!” Và ông ấy là người nằm trong sổ đen của người cộng sản, bởi vì ông ấy là một
nhân vật nổi tiếng - đại đệ tử của George Gurdjieff, một nhà toán học nổi tiếng,
nổi tiếng thế giới, một tác giả vĩ đại, một trong những người vĩ đại nhất mà thế
giới đã từng biết tới. Sách của ông ấy đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng
trên thế giới. Quay trở lại Nga là nguy hiểm. Ông ấy có thể bị bắt, bị bỏ tù, bị
giết. Ông ấy là người chống cộng! - không người nhạy cảm nào có thể là người cộng
sản, bởi vì toàn thể ý tưởng này là vô nghĩa. Nhưng ông ấy đã đi... và khi ông ấy
tới Gurdjieff, Gurdjieff nhìn ông ấy và điều đầu tiên ông này nói là, “Về lại
London đi và bắt đầu làm việc lại.”
Bây
giờ thế thì quá lắm. Ouspensky đã thất bại. Ông ấy không thể tin cậy vào người
này được. Bây giờ đây là loại đùa gì thế này? Đùa với mạng ai đó theo cách như
vậy... và ngay lập tức ông ấy nói, “Quay về ngay bây giờ! Ta chẳng có gì khác để
nói.”
Ouspensky
quay về - trở thành người chống lại Gurdjieff, trở thành kẻ thù. Đó là phương
sách vĩ đại của thầy vĩ đại. Nếu như ông ấy tin cậy, ông ấy đã trở nên chứng ngộ.
Ông ấy bỏ lỡ cơ hội này. Ông ấy chết là người chưa chứng ngộ.
Khi
mọi thứ diễn ra trôi chảy và dễ dàng, tin cậy là dễ dàng - nhưng nó vô giá trị.
Khi mọi sự trở thành khó khăn, gian nan, không thể được, và bạn vẫn có thể tin
cậy, khi điều đó trở thành tuyệt đối phi logic để tin cậy và bạn vẫn có thể tin
cậy, chỉ tin cậy như vậy mới trở thành lực biến đổi.
Amrito,
tôi đang định cử bạn lần nữa đây. Và nhớ, tôi không phải là con người nhất quán
lắm đâu: có thể là hai, ba lần đấy... điều đó còn tuỳ. Nhưng hiện tại, tôi định
cử bạn đi một lần nữa - chừng ấy là chắc chắn.
Và
lần này dự án là vui đùa.
Câu hỏi thứ hai:
Thưa
Thầy kính yêu,
Sao
có nhiều tôn giáo trên thế giới thế, và tại sao các tôn giáo này liên tục cãi
nhau?
Geetam,
điều tự nhiên là phải có nhiều tôn giáo rồi. Thực ra, nhiều hơn là cần đấy. Như
tôi thấy nó, mỗi cá nhân nên có tôn giáo riêng của mình; phải có nhiều tôn giáo
như có ngần ấy người. Con số không nhiều thế đâu: chỉ có ba trăm tôn giáo - và
bao nhiêu người trên trái đất?
Từng
cá nhân nên có tôn giáo riêng của mình, bởi vì từng cá nhân là duy nhất thế,
khác biệt thế với bất kì ai khác. Làm sao hai người có thể có một tôn giáo được?
Điều đó là không thể được. Nhưng chúng ta đang yêu cầu điều không thể được. Từng
cá nhân phải đạt tới Thượng đế theo con đường riêng của mình, và con đường đó
không bao giờ được bất kì ai khác đi qua lần nữa.
Do
đó, chư phật có thể chỉ dẫn, có thể cho bạn hướng dẫn. Họ không thể cung cấp
cho bạn bản đồ chắc chắn, tuyệt đối chắc chắn - chỉ là hướng dẫn, vài hướng dẫn.
Và những hướng dẫn đó không nên bị coi là rất nghiêm chỉnh - nên rất vui đùa. Bạn
không định trở thành người cuồng tín. Nếu bạn trở thành người cuồng tín thì bạn
không còn là tôn giáo nữa.
Người
tôn giáo là khiêm tốn, sẵn có cho mọi loại hướng dẫn; người đó là người tìm kiếm,
người tìm tòi, người thám hiểm, và người đó sẽ học từ mọi nguồn có thể. Người
đó sẽ học từ Kinh Thánh, và người đó sẽ học từ Veda, và người đó sẽ học từ
Dhammapada. Người đó sẽ lắng nghe Phật, nghe Jesus, nghe Zarathustra. Người đó
sẽ học từ mọi nguồn có thể, nhưng dầu vậy người đó vẫn còn là bản thân mình.
Người đó sẽ không trở thành bắt chước, người đó sẽ không trở thành bản sao. Người
đó sẽ duy trì tính đích thực của mình. Người đó sẽ khiêm tốn, chân thành, đích
thực; người đó sẽ không trở thành đồ rởm. Người đó sẽ không là tín đồ, người đó
sẽ là người yêu.
Người
đó sẽ yêu phật, nhưng người đó sẽ không theo ông ấy; người đó sẽ không theo ông
ấy đến từng chi tiết. Làm sao bạn theo vị phật đến từng chi tiết được? Người đó
là kiểu người khác toàn bộ. Bạn chưa bao giờ là như vậy trước đây, không ai giống
như bạn đã từng có trước đây, và không ai đích xác giống bạn sẽ có lại lần nữa.
Do đó tôn giáo của bạn phải là tôn giáo của bạn, chân lí của bạn phải là chân
lí của bạn.
Và
đó là cái đẹp của chân lí, rằng nó bao giờ cũng tới dưới dạng duy nhất đến mức
bạn có thể nói, “Đây là món quà đặc biệt từ Thượng đế cho tôi.” Do đó có nhiều
tôn giáo thế. Và điều đó là đẹp! - nên có nhiều hơn nữa. Nhiều người đã cố gắng
tạo ra một tôn giáo; đó là xuẩn ngốc hoàn toàn. Bạn không thể tạo ra một tôn
giáo được. Bạn có thể áp đặt một tôn giáo lên mọi người, nhưng điều đó sẽ phá
huỷ tâm linh của họ, tự do của họ; điều đó sẽ làm què quặt bản thể họ và làm tê
liệt trưởng thành của họ.
Cũng
như có nhiều ngôn ngữ thế, có nhiều tôn giáo thế. Tính đa dạng là đẹp, tính đa dạng
tạo khả năng cho bạn chọn lựa tương ứng theo kiểu của bạn. Tôn giáo không và
không thể được quyết định bởi việc sinh, và những người đã quyết định tôn giáo
của họ bởi việc sinh của họ là kẻ ngu hoàn toàn. Bạn không thể được sinh ra là
người Hindu giáo và bạn không thể được sinh ra là người Ki tô giáo; việc sinh
không liên quan gì tới tôn giáo của bạn cả. Tôn giáo là cuộc truy tìm. Bạn có
thể được sinh ra từ bố mẹ Hindu giáo - đó là một điều - nhưng nếu bố mẹ bạn thực
sự yêu bạn họ sẽ không chuyển đổi bạn thành người Hindu. Tất nhiên họ sẽ nói
cho bạn về tất cả những điều họ đã biết và đã trải nghiệm, nhưng họ sẽ để cho bạn
tự do. Và họ sẽ bảo bạn, “Trở nên tỉnh táo hơn, quan sát hơn, chín chắn hơn, và
khi con đủ chín chắn và con muốn quyết định, chọn lấy tôn giáo của riêng con.”
Đi
tới chùa chiền, đi tới nhà thờ, đi tới đền đài, đi tới gurudwara. Lắng nghe mọi
loại đồ vật, nhìn mọi loại hoa: vườn của Thượng đế tràn đầy tính đa dạng thế,
phong phú thế bởi tính đa dạng. Có hoa hồng và hoa sen và cả nghìn lẻ một hoa
khác. Đi và chọn lấy mùi hương riêng của bạn, hương thơm riêng của bạn, bởi vì
chừng nào bản thân bạn chưa chọn, bạn sẽ không tận tâm với nó, bạn sẽ không được
buông xuôi theo nó.
Thế
giới này không phải là tôn giáo bởi vì tôn giáo bị áp đặt lên chúng ta. Bố mẹ
đang vội vã áp đặt; nhà thờ, quốc gia, đất nước - mọi người đều đang vội vã áp
đặt tôn giáo nào đó lên con trẻ. Ngu xuẩn làm sao! Đần độn làm sao! Tôn giáo cần
chín chắn, hiểu biết lớn lao, trước khi người ta có thể chọn.
Không
ai sinh ra mà là người Hindu giáo hay Mô ha mét giáo hay Parsi giáo. Mọi người
được sinh ra đều trong sạch, hồn nhiên, tabula rasa, và thế rồi mọi người đều
phải tìm và kiếm. Đây là cái đẹp của cuộc sống bởi vì cuộc sống là cuộc truy
tìm. Và đừng bị lắng đọng quá sớm; không cần đâu. Có thể là mọi tôn giáo hiện
có không thể thoả mãn bạn. Nhưng điều đó là tốt; điều đó nghĩa là tôn giáo mới
được sinh ra trong bạn. Thế giới trở nên giầu có hơn: một tôn giáo nữa, một đoá
hoa nữa, một cây nữa - một hiện tượng mới.
Phật
đem tới một tôn giáo mới vào trong thế giới này; thế giới đã nghèo hơn trước Phật
bởi vì nó thiếu Phật giáo. Phật có thể đã theo tôn giáo của bố mẹ ông ấy; thế
thì thế giới sẽ vẫn còn nghèo nàn. Thế giới bỏ lỡ cái gì đó giá trị mênh mông,
cánh cửa mới tới Thượng đế. Phật đã mở ra cánh cửa mới, viễn kiến mới, sáng suốt
mới. Ông ấy đã không bị thuyết phục bởi tôn giáo của bố mẹ ông ấy; bằng không
ông ấy vẫn còn là người Hindu. Ông ấy đã nổi dậy. Mọi người tôn giáo đều là người
nổi dậy.
Ông
ấy đã đi vào tìm kiếm cá nhân - mọi người tôn giáo đều là nhà thám hiểm, mọi
người tôn giáo đều là nhà phiêu lưu. Sẽ dễ dàng, thuận tiện và thoải mái để tin
vào tôn giáo đã từng được bố mẹ, bố mẹ của bố mẹ tin vào, và trong hàng thế kỉ.
Điều đó sẽ còn thuận tiện nhiều hơn bởi vì bạn không cầm truy tìm, bạn không cần
đi qua toàn thể nỗ lực để tìm ra chân lí. Nó đã được tìm ra bởi nhà tiên tri
nào đó trong quá khứ - bạn có thể đơn giản vay mượn nó. Nhưng chân lí vay mượn
không phải là chân lí chút nào. Chân lí vay mượn là dối trá.
Phật
đã đi tìm; gian truân là cuộc truy tìm. Ông ấy đã mạo hiểm tất cả - vương quốc,
cuộc sống. Nhưng khi bạn mạo hiểm nhiều thế, cuộc sống mưa rào các kho báu mới
lên bạn. Một tôn giáo mới, một sự sáng suốt mới, một tầm nhìn mới, được sinh
thành vào thế giới này.
Mohammed
có thể đã theo tôn giáo của bố mẹ ông ấy. Jesus có thể đã đi theo Do Thái giáo.
Trở thành một Jesus đi, trở thành một Phật đi, trở thành một Mohammed đi! Đừng
là người Mô ha mét giáo, đừng là Phật tử và đừng là người Ki tô giáo - thám hiểm!
Đừng phí hoài cuộc sống trong việc bắt chước, bởi vì thế thì bạn sẽ vẫn còn là
rởm. Và người rởm không thể là tôn giáo được. Đích thực , chân thành lớn lao là
cần thiết.
Cho
nên, Geetam này, điều tốt là có ba trăm tôn giáo - đáng phải có nhiều hơn! Tôi
bao giờ cũng thiên về đa dạng. Tôi muốn thế giới này giầu có hơn theo mọi cách
có thể. Bạn có muốn toàn thể thế giới này chỉ có một loài hoa - chỉ hoa hồng,
hay chỉ hoa sen không? Điều đó sẽ không là một thế giới bần cùng hoá, rất nghèo
nàn chứ? Bạn có muốn thế giới này chỉ có một ngôn ngữ không? Thế thì những sắc
thái khác biệt của các ngôn ngữ khác nhau sẽ biến mất.
Có
những điều mà chỉ có thể được nói trong tiếng Arab và không thể nói được trong
bất kì ngôn ngữ nào khác; và có những điều chỉ có thể nói trong tiếng Do Thái
và không thể được nói trong bất kì ngôn ngữ nào khác. Có những điều chỉ có thể
được nói trong tiếng Trung quốc và không thể được nói trong bất kì ngôn ngữ nào
khác. Nếu thế giới chỉ có một ngôn ngữ, nhiều, nhiều điều đẹp đẽ sẽ vẫn còn không
được nói ra.
Lão
Tử chỉ nói được tiếng Trung quốc. Bạn có thể không cân nhắc về vấn đề
này: nghĩ về Lão Tử viết Đạo Đức Kinh trong tiếng Anh mà xem... và cuốn sách sẽ
khác toàn bộ. Nó sẽ thiếu cái gì đó có giá trị mênh mông; nó sẽ có cái gì đó
khác, mầu sắc khác toàn bộ, nhưng nó sẽ thiếu hương vị mà nó có trong tiếng
Trung quốc.
Bây
giờ, chữ Trung quốc không có bảng chữ cái; nó được viết trong các kí hiệu. Bởi
vì không có bảng chữ, các kí hiệu có thể được diễn giải theo cả nghìn lẻ một
cách; kí hiệu là linh động hơn, kém cố định hơn, nhiều thi vị hơn, ít nôm na
hơn. Một kí hiệu có thể ngụ ý nhiều điều. Nó là không khoa học; rất khó viết ra
chuyên luận khoa học trong tiếng Trung quốc. Với điều đó, tiếng Anh là ngôn ngữ
thích hợp hơn nhiều.
Nhưng
điều Lão Tử đã tặng cho thế giới sẽ không thể nào có được nếu không có chữ
Trung quốc. Từng kí hiệu có nhiều nghĩa, đa nghĩa. Bạn có thể chọn nghĩa của bạn
tương ứng với trạng thái tâm trí của bạn. Từng kí hiệu có nhiều tầng nghĩa. Khi
bạn trưởng thành trong hiểu biết của mình, nghĩa của các kí hiệu đó thay đổi.
Do
đó, ở phương Đông một kiểu đọc khác toàn bộ đã tồn tại mà không tồn tại ở
phương Tây. Bạn sẽ không thích đọc đi đọc lại cùng cuốn sách của Bernard Shaw
mãi, hay bạn thích thế? Chừng nào bạn còn lành mạnh bạn sẽ không thích đọc đi đọc
lại nó mãi. Phỏng có ích gì? Một khi bạn đã đọc nó rồi, nó được kết thúc! Đó là
lí do tại sao sách bìa mềm lại tồn tại: đọc nó rồi vứt nó. Nhưng ở phương Đông
một loại đọc khác tồn tại: cùng cuốn sách được đọc đi đọc lại suốt cả đời.
Đạo
Đức Kinh không phải là cuốn sách có thể được xuất bản theo kiểu sách bìa mềm -
bây giờ người ta đang làm điều đó. Nó không nên được xuất bản bằng sách bìa mềm
- nó không thể là như vậy, bởi vì nó là loại sách hoàn toàn khác. Nó có hết tầng
nọ tới tầng kia nghĩa. Khi lần đầu tiên bạn đọc nó, nó là một cuốn sách bởi vì
bạn chỉ biết một nghĩa, nông cạn. Sau khi thiền vài tháng bạn đọc lại nó lần nữa;
ý nghĩa khác tự nó lộ ra; sau khi thiền thêm vài tháng nữa bạn đọc lại nó lần nữa...
nghĩa thứ ba. Nó phải cứ tiếp diễn, nó phải trở thành việc nghiên cứu cả đời.
Và
bạn sẽ tìm thêm ra nghĩa - chúng không cạn. Aes dhammo sanantano: điều tối thượng
là vĩnh hằng và không cạn. Nó không phải là hư cấu; bạn không thể chỉ đọc nó và
được kết thúc với nó. Một lần đọc sẽ không giúp cho bạn chút nào đâu; nó đơn giản
giới thiệu cho bạn, nó không cho bạn cốt lõi của nó. Phải mất cả đời mới đi tới
cốt lõi của nó được.
Bây
giờ chúng ta cần mọi loại ngôn ngữ. Tiếng Anh là cần thiết cho tính xác định của
nó, cho tính chắc chắn của nó. Mỗi từ đều có một định nghĩa. Khoa học không thể
phát triển mà không có ngôn ngữ như vậy.
Khoa
học không thể sinh ra ở Ấn Độ bởi vì ngôn ngữ; tiếng Phạn là ngôn ngữ thơ ca. Bạn
có thể hát nó - nó có phẩm chất đó - bạn có thể tụng bằng nó, nhưng bạn không
thể nào làm nhiều suy luận từ nó được. Nhiều bài ca, chắc chắn, nhưng nó không
có tính biện minh; diễn đạt nhưng không biện minh.
Tiếng
Arab có phẩm chất rất ám ảnh. Nếu bạn tụng nó, nó sẽ trở nên ám trong tim bạn.
Dừng tụng nó và việc tụng vẫn cứ tiếp tục trong tim. Tiếng Arab có phẩm chất đó
trong nó bởi vì nó là ngôn ngữ của sa mạc; ngôn ngữ sa mạc có phẩm chất ám ảnh.
Khi bạn gọi ai đó trong sa mạc, từ xa xôi, bạn phải gọi theo cách nào đó - và
trong sa mạc bạn có thể gọi người ở rất xa; nếu bạn gọi họ theo cách thức có nhịp
điệu, âm thanh của bạn sẽ đạt tới họ.
Do
đó có cái đẹp của Koran. Nó không phải là sách để được đọc - những người đã đọc
Koran sẽ bỏ lỡ ngĩa của nó - nó là cuốn sách để được hát. Nó không phải là sách
để được nghiên cứu: nó là cuốn sách để được nhảy múa, chỉ thế thì bạn sẽ đạt tới
tâm linh bên trong của nó.
Điều
hay là có nhiều ngôn ngữ bởi vì có nhiều điều cần được nói, diễn đạt, trao đổi.
Và khi thế giới trưởng thành, nhiều ngôn ngữ nữa được cần tới, bởi vì khi thế
giới trưởng thành, người ta cảm thấy nhiều thứ hơn, mọi người đang đi qua, mọi
người đang đạt tới.
Tôn
giáo không là gì khác hơn ngôn ngữ để bầy tỏ điều tối thượng. Geetam, không có
gì sai trong việc có nhiều tôn giáo cả. Tất nhiên, chắc chắn có điều gì đó sai
trong cãi lộn thường xuyên của họ với nhau. Điều đó chỉ ra rằng cái gọi là các
tôn giáo đó đã đánh mất phẩm chất tôn giáo của họ, họ đã trở thành chính trị; rằng
cái gọi là các tôn giáo đó không còn có các thầy sống nữa mà chỉ những tu sĩ chết,
đờ đẫn, xoàng xĩnh. Họ cứ cãi nhau, họ cứ cố cải đạo nhau, bởi vì con số tạo ra
quyền lực. Nếu có nhiều người Ki tô giáo hơn, thế thì Ki tô giáo có quyền lực
hơn và giáo hoàng ở Vatican trở nên mạnh hơn. Nếu người Hin du nhiều hơn về con
số, tất nhiên họ hơn về quyền lực.
Số
lượng cho quyền lực. Cho nên Ki tô giáo muốn mọi người là người Ki tô giáo, và
người Mô ha mét giáo muốn mọi người là người Mô ha mét giáo. Cách thức và
phương tiện của họ có thể khác nhau, nhưng nỗ lực và ham muốn của họ là như
nhau, ham muốn chính trị rất sâu xa - đó là chính trị quyền lực. Thế thì một
cách tự nhiên cãi lộn sẽ nảy sinh. Chính trị là cãi lộn; nó không liên quan gì
tới tôn giáo cả.
Các
tôn giáo nên có nhiều nhất có thể được. Và không có vấn đề về bất kì xung đột
nào: đấy là vấn đề về thích hay không thích. Nếu tôi thích hoa hồng, bạn không
cố gắng tới và thuyết phục tôi rằng tôi nên thích cúc vạn thọ - bạn đơn giản chấp
nhận ý thích của tôi. Và nếu bạn thích cúc vạn thọ, điều đó hoàn toàn được;
không có vấn đề tranh luận, cãi cọ. Chúng ta không cần đánh lẫn nhau - đánh thực
hay bằng trí tuệ. Tôi có thể để bạn với chọn lựa của bạn, và tôi không cảm thấy
bị xúc phạm bởi vì bạn thích cúc vạn thọ và tôi không thích chúng.
Thích
và không thích là chuyện cá nhân. Người này có thể thích Bhagavadgita, người
khác có thể thích Koran, ai đó khác có thể thích Dhammapada - điều đó hoàn toàn
được, tuyệt đối được. Chúng ta nên chia sẻ lẫn nhau sở thích của mình, nhưng
chúng ta không nên cố gắng cải đạo người khác, buộc người khác vào nhóm của
chúng ta. Vâng, chia sẻ bằng đủ mọi phương tiện, bởi vì chia sẻ chỉ ra tình yêu
của bạn. Nếu bạn đã tìm ra cội nguồn, chia sẻ đi! Nhưng chia sẻ nên là từ tình
yêu, không phải từ chính trị quyền lực. Đấy không phải là thuyết phục người
khác và lôi kéo anh ta vào nhóm của bạn. Các tôn giáo đã làm những điều xấu xa
như vậy. Mọi người đã bị cải đạo bằng đầu lưỡi lê; mọi người đã bị cải đạo bằng
tiền bạc, bằng đút lót cho họ... bằng bất kì phương tiện gì, đúng hay sai. Trở
thành người Ki tô giáo đi! Trở thành người Mô ha mét giáo đi! Trở thành người
Hindu đi! Chộp lấy ngày càng nhiều người để bạn trở nên ngày càng mạnh hơn, và
không cho phép bất kì ai khác rời khỏi nhóm của bạn.
Con
trai của Mulla Nasruddin hỏi anh ta, “Bố ơi, khi một người Ki tô giáo trở thành
người Mô ha mét giáo, bố gọi người ấy là gì?”
Nasruddin
mỉm cười và nói, “Người đó đã trở về nhận biết của mình, người đó là con người
của hiểu biết, của trí huệ. Anh ta đã hiểu ra cái gì giả là giả và cái gì thật
là thật.”
Đứa
con lại hỏi, “Này bố, thế nếu người Mô ha mét giáo trở thành người Ki tô giáo bố
gọi người đó là gì?”
Nasruddin
giận lắm và nói, “Nó là kẻ phản bội! Nó đã phản bội. Nó là thằng ngu!”
Bây
giờ, nếu người Ki tô giáo trở thành người Mô ha mét giáo, người đó là người
thông minh, người trí huệ; và nếu người Mô ha mét giáo trở thành người Ki tô
giáo người đó là kẻ phản bội, ngu xuẩn. Và cùng tình huống này nếu bạn hỏi người
Ki tô giáo.
Một
người Hindu trở thành người Ki tô giáo. Mọi người Hindu đều chống lại anh ta, tự
nhiên thôi - anh ta đã phản bội họ! Nhưng người Ki tô giáo làm anh ta thành
thánh nhân. Sadhu Sunder Singh là tên anh ta. Họ gần như tôn thờ anh ta dường
như anh ta là hoá thân của Jesus, bởi vì anh ta đã chứng minh cho chân lí của
Ki tô giáo. Còn người Hindu?
-
họ giận con người này đến mức họ muốn giết chết anh ta. Và có mọi khả năng là họ
đã giết chết anh ta, bởi vì một hôm anh ta bỗng nhiên biến mất và kể từ đó thi
thể anh ta không tìm thấy đâu cả. Điều gì đã xảy ra cho Sadhu Sunder Singh, đấy
vẫn còn là bí ẩn.
Tôi
biết một người đã từng là người Hindu và đã trở thành người Jaina. Người Hindu
chống lại ông ta ghê lắm, cũng là tự nhiên, hiển nhiên. Họ cố gắng theo đủ mọi
cách để tiêu diệt con người này, nhưng người đó trở thành vị thánh Jaina nổi tiếng.
Ganesh Varni là tên ông ta. Ông ta đánh bại mọi vị thánh Jaina khác; ông ta đạt
tới đỉnh cao nhất. Phẩm chất thực của ông ta là gì? Tại sao ông ta đã đạt tới đỉnh
cao nhất đó? bởi vì về cơ bản ông ấy là người Hindu và đã trở thành người
Jaina. “Ông ấy đã chứng minh rằng đạo Jaina cao xa hơn nhiều đạo Hindu; bằng
không tại sao con người này, một người khôn ngoan như vậy, lại tới nhóm của
chúng ta?”
Geetam,
những tôn giáo này cãi lộn bởi vì họ không phải là tôn giáo; họ đã trở thành
ngày một chính trị hơn. Và khi bạn cãi lộn, thế thì mọi thứ là đúng - trong
tình yêu và chiến tranh mọi thứ đều đúng.
Một
người cơ đốc giáo đang cố gắng cải đạo một người Do Thái và bảo anh ta rằng nếu
anh ấy trở thành người cơ đốc giáo lời cầu nguyện của anh ta chắc chắn sẽ được
trả lời - bởi vì ông linh mục sẽ trao chúng cho ông giám mục, ông này sẽ trao
chúng cho hồng y giáo chủ, ông này trao chúng cho giáo hoàng, ông này sẽ đẩy
chúng vào cõi trời qua một lỗ hổng trên đỉnh Vatican, mà khớp với lỗ hổng dưới
sàn của cõi trời, nơi Thánh Peter sẽ đưa chúng tới Đức Mẹ đồng trinh, người sẽ
nói giùm nhân danh họ với Jesus, Jesus sẽ nói lời tốt lành về chúng cho Thượng
đế.
Người
Do Thái lặp lại toàn bộ hành trình này với vẻ sững sờ, kết thúc, “Ông biết điều
đó phải đúng chứ, bởi vì tôi bao giờ cũng tự hỏi họ làm gì với tất cả cứt trên
cõi trời. Họ phải vứt nó qua cái lỗ nhỏ đó ở Vatican, nơi giáo hoàng lại đưa nó
cho hồng y giáo chủ, ông này đưa nó cho giám mục, ông này đưa nó cho linh mục,
ông này đưa nó cho ông - và ông đang cố trao tay nó cho tôi có phải không?”
Tôn
giáo là tốt - cần nhiều hơn nữa - nhưng tôn giáo cãi lộn không phải là tôn
giáo. Chính thái độ cãi lộn làm cho họ thành chính trị. Và tu sĩ và chính khách
đã trong cùng một mưu đồ rất tinh vi qua nhiều thời đại - bởi vì chính khách có
thể chi phối mọi người qua tu sĩ rất dễ dàng. Tu sĩ sở hữu linh hồn mọi người
và chính khách sở hữu thân thể của mọi người. Cả hai đều là kẻ áp bức, bóc lột.
Cả hai đều trong cùng việc kinh doanh, cả hai đều là đối tác. Cả hai có thể
giúp lẫn nhau. Chính khách có thể giúp tu sĩ bởi vì ông ta có quyền lực tạm thời,
và tu sĩ có thể giúp chính khách bởi vì mọi người nghe ông ta, tôn thờ ông ta,
coi lời ông ta là thiêng liêng.
Bạn
có biết không, Phật giáo đã không trở thành tôn giáo lớn bởi vì Phật; nó đã trở
thành tôn giáo lớn bởi vì hoàng đế Ashoka. Không phải bởi vì Phật mà hàng triệu
người trở thành phật tử, không. Trong khi Phật còn sống, chỉ có vài, một vài
người được chọn lựa là đủ dũng cảm để bước đi với ông ấy trong ánh sáng của ông
ấy, giao cảm với ông ấy. Và họ dũng cảm thật - bởi vì họ phải chịu đựng, họ phải
chịu đựng nhiều chế giễu, đối lập, bởi vì nhà thờ Hindu đã thiết lập chống lại
con người Phật này.
Phật
giáo trở thành tôn giáo thế giới không phải bởi vì Phật mà bởi vì hoàng đế
Ashoka. Khi các tu sĩ Phật giáo nắm tay hoàng đế Ashoka, thế thì tôn giáo này
trở thành tôn giáo thế giới. Toàn thể châu Á đã được chuyển đạo. Bây giờ các tu
sĩ sẽ giúp Ashoka duy trì quyền lực của ông ấy, và Ashoka sẽ giúp cho các tu sĩ
trở nên ngày càng mạnh hơn.
Ki
tô giáo đã trở thành tôn giáo thế giới không phải bởi vì Jesus. Jesus rất một
mình - chỉ vài đệ tử, mười hai đệ tử, và vài trăm người thông cảm, có vậy thôi.
Và ngay cả những đệ tử này đã biến mất khi Jesus bị đóng đinh, và những người
thông cảm đơn giản quên ông ấy; họ thôi nói về con người này bởi vì điều đó là
nguy hiểm ngay cả việc biểu lộ sự thông cảm.
Tương
truyền rằng những người đã thông cảm với Jesus đã tới để nhổ vào mặt ông ấy
trong khi ông ấy sắp chết để chỉ cho mọi người, “Chúng tôi chống lại, chúng tôi
không ủng hộ ông ta.” Để chứng minh cho mọi người... bởi vì người này sắp chết
- bây giờ họ sẽ bị rắc rối. Họ phải sống, họ vẫn phải sống. Họ phải đưa ra bằng
chứng nào đó rằng họ chống lại người này.
Họ
phủ nhận Jesus trong khi ông ấy sắp chết. Họ ném bùn, đá, họ nhổ vào mặt ông ấy,
chỉ để chỉ ra cho đám đông, “Thấy chưa, thế không đủ bằng chứng rằng những lời
đồn đại mà các vị đã nghe rằng chúng tôi là người có cảm tình là tuyệt đối sai
sao, là không có căn cứ sao? Chúng tôi chống lại ông ta cũng như các vị vậy -
thực ra, chúng tôi chống ông ta nhiều hơn các vị nữa.”
Kẻ
thù không khạc nhổ vào ông ấy nhưng bạn khạc nhổ. Jesus trở thành một lực lượng
thế giới không phải bởi bản thân ông ấy mà chỉ khi các hoàng đế La Mã và các
linh mục Ki tô giáo nắm tay nhau. Bây giờ, điều này là sự mỉa mai. Jesus đã bị
hoàng đế La Mã đóng đinh - xem cách thức lịch sử chuyển vận! Pontius Pilate chỉ
là đại diện của quyền lực La Mã, của hoàng đế La Mã; ông ta đơn giản tuân theo
mệnh lệnh từ Rome. Ai đã nghĩ được rằng Rome sẽ trở thành vị trí trung tâm của
Ki tô giáo? Ai đã nghĩ được trong khi Jesus bị đóng đinh rằng Rome sẽ là nơi
thường trú của giáo hoàng? Nhưng đó là cách thức sự việc xảy ra. Khi các linh mục
nắm tay Hoàng đế Constantine và các hoàng đế La Mã khác, Ki tô giáo trở thành lực
lượng thế giới.
Ki
tô giáo, Phật giáo, Hindu giáo, Jaina giáo - tất cả họ đều phụ thuộc vào chính
trị. Họ không phải là tôn giáo thực chút nào mà là trò chơi chính trị được chơi
nhân danh tôn giáo.
Tôi
muốn thế giới này có nhiều tôn giáo hơn, nhiều đến mức mỗi cá nhân có tôn giáo
riêng của mình - thế thì sẽ không tu sĩ nào được cần nữa. Đó là cách duy nhất để
vứt bỏ các tu sĩ. Nếu bạn có tôn giáo riêng của mình, không tu sĩ nào được cần
- bạn là tu sĩ và bạn là tín đồ và bạn là mọi thứ.
Bạn
phải lắng nghe tiếng nói bên trong của bạn. Phật nói: Tuân theo bản tính riêng
của ông; không cần bất kì ai xin giùm nhân danh bạn.
Nhưng
tôi không thiên về việc tạo ra một tôn giáo; đủ điều vô nghĩa đó rồi! Trong quá
khứ chúng ta đã cố gắng làm điều đó: làm ra một tôn giáo để cho việc cãi lộn có
thể chấm dứt. Nhưng điều đó là không thể được. Cho dù bạn có thể áp đặt một tôn
giáo, nếu toàn thế giới trở thành Ki tô giáo, thế thì lại sẽ có Tin lành và Cơ
đốc giáo và cả nghìn lẻ một giáo phái. Và cùng trò chơi sẽ bắt đầu: mọi người sẽ
bắt đầu cãi lộn - bởi vì nhu cầu của họ là khác, hiểu biết của họ là khác.
Tôi
đã nghe:
Một
phụ nữ trẻ đẹp từ London về nhà. Cô ấy ở một làng nhỏ, xuất thân từ một gia
đình cơ đốc giáo. Sau ba hay bốn năm sống ở London cô ấy trở nên rất giầu; cô ấy
trở về gặp bố mẹ. Người mẹ không thể nào tin vào mắt mình. Bà ấy hỏi, “Con xoay
xở thế nào vậy? Con trở nên giầu thế - quần áo đẹp thế, vòng kim cương, ô tô đẹp!”
Và
cô gái trả lời, “Mẹ ạ, con đã trở thành gái mãi dâm*.”
Vừa
mới nghe thấy điều này bà mẹ ngất xỉu, mất ý thức.
Khi
bà ấy tỉnh dậy bà ấy hỏi lại, “Con vừa nói gì?”
Người
con gái nói, “Mẹ ạ, con nói con đã trở thành gái mãi dâm”
Và
bà mẹ bắt đầu cười và bà ấy nói, “Mẹ hiểu lầm con - mẹ cứ nghĩ con nói con đã
trở thành người theo Tin lành.”
Thành
gái mãi dâm là được, nhưng trở thành người Tin lành... ? Cùng chuyện cãi lộn sẽ
bắt đầu. Ngay cả những tôn giáo nhỏ - chẳng hạn, Jaina giáo, một trong những
tôn giáo nhỏ nhất trên thế giới - có biết bao nhiêu giáo phái, giáo phái bên
trong giáo phái. Thực ra, chúng ta còn chưa trở nên nhận biết về sự cần thiết lớn
lao rằng mỗi cá nhân cần có một phiên bản riêng của mình về Thượng đế, và mỗi
cá nhân có con đường riêng của mình để tiếp cận Thượng đế.
Một
người được một gái mãi dâm đón trong quán rượu, lấy làm ngạc nhiên bởi cờ hiệu
trường đại học và chứng chỉ trang trí trên tường của phòng cô ấy.
“Đây
là chứng chỉ của cô ư?” anh ta hỏi.
“Hẳn
rồi,” cô ấy nói một cách vui vẻ. “Tôi có bằng thạc sĩ nghệ thuật tại trường
Columbia, và tôi đã lấy bằng tiến sĩ về Shakespeare tại Oxford.”
Người
này ngờ vực. “Nhưng làm sao một cô gái như cô đi làm cái nghề như thế này?”
“Tôi
không biết,” cô ấy nói. “Chỉ may, tôi đoán.”
Mọi
người có hiểu biết khác nhau, các cách khác nhau để nhìn vào mọi thứ, các cách diễn
giải khác nhau. Và họ phải được phép có tự do này.
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
thầy kính yêu,
Bố
mẹ tôi là các nhà truyền giáo Ki tô giáo ở Ấn Độ trong hai mươi nhăm năm. Anh
tôi là một người nghiện ma tuý, chị tôi là một người nói dối cưỡng bách. Còn với
tôi, tôi nghiêm chỉnh đến mức nếu tôi mỉm cười thì mồn tôi bị tổn thương. Làm
sao tôi kết thúc ở đây được?
Prem
Parijat, chỉ may, tôi đoán! Bạn sẽ sống trong cực lạc và bạn sẽ chết trong cực
lạc.
Bạn
có nghe nói về một người tám mươi bẩy tuổi mà lại cưới một cô gái mười chín tuổi
hay không?
Ông
ấy đã chết vì một bệnh mới gọi là cực lạc. Người ta phải mất ba ngày mới xoá đi
nụ cười trên khuôn mặt ông ấy.
Bây
giờ, điều này lại sắp xảy ra cho bạn nữa: khi sống, cuộc sống của bạn sẽ là cái
cười; khi chết, sẽ khó khăn cho mọi người để xoá đi nụ cười của bạn.
Có
thể chỉ bởi vì bố mẹ bạn là các nhà truyền giáo Ki tô giáo mà bạn đã tiếp đất ở
đây, bởi vì được sinh vào bất kì loại nhà truyền giáo nào - Ki tô giáo, Hindu
giáo hay Mô ha mét giáo - đều là đã chán ngán với tất cả những cái vô nghĩa đó.
Được sinh ra trong nhà tu sĩ là biết một điều cho chắc chắn: rằng tu sĩ không
tin vào Thượng đế. Đó là việc kinh doanh của họ; họ giả vờ.
Được
sinh ra trong nhà một tu sĩ là cơ hội hiếm có, bởi vì trẻ con rất cảm nhận và
chúng có thể thấy rõ rằng tất cả những điều vô nghĩa đó mà bố chúng thuyết giảng
thì chỉ là thuyết giảng thôi - ông ấy không ngụ ý nó bởi vì ông ấy chưa bao giờ
thực hành nó. Con cái của tu sĩ nhất định trở nên nhận biết về đạo đức giả của
cái gọi là người tôn giáo.
Có
thể chỉ bởi vì điều đó, bởi vì gần như không thể nào ở trong nhà tu sĩ mà không
biết rằng ông ta là người phi tôn giáo nhất trên thế giới.
Các
tu sĩ đang khai thác tôn giáo. Họ đang khai thác sự tin cậy của mọi người. Họ
là những kẻ lừa gạt lớn nhất trên thế giới, bởi vì việc khai thác sự tin cậy của
mọi người là tội lỗi lớn nhất. Bạn đang phá huỷ sự tin cậy của họ. Nhưng họ sống
trên cái loại lừa gạt đó; đó là toàn bộ bí mật thương mại của họ.
Ông
giám mục rất tự hào về khu nhà thanh nhã mà ông ấy vừa mới xây dựng làm tư dinh
chính thức của mình. Một hôm, một người bạn và ông giám mục tham gia vào cuộc đối
thoại và ông giám mục cứ đeo đuổi mãi chuỗi ý nghĩ dường như vô thần...
Loại
suy nghĩ đó trở nên rất phổ biến trong giới Ki tô giáo: tôn giáo phi tôn giáo,
Ki tô giáo phi Thượng đế - những điều này được nói mãi, thảo luận mãi. Sau
Friedrich Nietzshe, người đã tuyên bố rằng Thượng đế chết, Ki tô giáo đã trong
rối loạn - phải làm gì bây giờ? Họ đã từng cố gắng đủ mọi cách có thể để tạo ra
một Ki tô giáo không cần Thượng đế chút nào, để cho việc tin theo có thể mở rộng
nữa.
Bây
giờ Thượng đế đã trở thành rào chắn; khoảnh khắc bạn xác nhận từ ‘Thượng đế’, bạn
đẩy mọi người ra. Cho nên các nhà thượng đế học Ki tô giáo đang thảo luận, suy
nghĩ, thiền, làm sao để tạo ra một Ki tô giáo không cần Chúa chút nào. Và điều
đó là có thể! - bởi vì Phật giáo có đó mà không có Thượng đế nào, và Jaina giáo
có đó mà không có Thượng đế nào, vậy tại sao không thể có Ki tô giáo mà không
có Thượng đế?
...
Ông giám mục này đang theo đuổi chuỗi suy nghĩ dường như vô thần. Người bạn hỏi
ông ta, ‘Thưa giám mục, ông có tin vào Thượng đế hay không? Nói nó chính xác,
nói ngắn gọn thôi. Đừng vòng vo. Nói đơn giản có hay không - ông có tin vào Thượng
đế không?”
Sau
một hồi do dự, ông giám mục đáp, “Tất nhiên tôi tin chứ! Ông nghĩ ai sẽ trả tiền
cho ngôi nhà này?”
Bây
giờ, ngôi nhà mà ông ta mới làm, một ngôi nhà đẹp, là khả năng duy nhất bởi vì
mọi người vẫn tin vào Thượng đế; và bởi vì họ tin vào Thượng đế, nên họ tin vào
ông giám mục. Ông ta không thể tuyên bố công khai là không có Thượng đế. Nếu bạn
vứt bỏ Thượng đế, thế thì Jesus không còn là con trai của Thượng đế nữa, thế
thì giáo hoàng không còn là đại diện của Jesus nữa, và cứ như vậy tiếp diễn. Và
tất cả họ đều trôi tuột đi hết. Nó cần hệ thống cấp bậc: Thượng đế ở trên đỉnh
và các tu sĩ dưới đáy, toàn thể chiếc thang.
Và
ông linh mục này chắc chắn biết rằng không có Thượng đế. Nếu ông ấy nhận biết rằng
có Thượng đế, ông ấy sẽ không là linh mục ngay chỗ đầu tiên - ông ấy sẽ là
Jesus, ông ấy sẽ là Phật, nhưng không là linh mục. Ông ấy sẽ là nhà tiên tri
nhưng không là linh mục. Ông ấy sẽ đem cái gì đó của cái không biết vào cuộc sống
của mọi người, nhưng ông ấy sẽ không là một phần của cái nguyên trạng, ông ấy sẽ
không là một phần của nhà thờ đã được thiết lập. Không con người nào của hiểu
biết, không con người nào có tâm thức và kinh nghiệm tôn giáo nào đó, có thể là
một phần của bất kì nhà thờ đã được thiết lập. Điều đó chưa hề xảy ra. Phật phải
bỏ nhóm của mình, Jesus phải bỏ nhóm của mình, Mohammed phải bỏ nhóm của mình -
điều này bao giờ cũng là như vậy. Bất kì khi nào một người tôn giáo được sinh
ra, người đó phải bỏ lại nhóm của mình, bởi vì nhóm này đã trong tay của các
chính khách và tu sĩ, những người có toàn bộ mối quan tâm là ở trong việc khai
thác mọi người.
Anand
Moksha đã viết cho tôi:
Trong
thời gian động đất chính ở Guatemala năm 1976, giám mục cơ đốc giáo tại Hồ
Atitlan đã là bạn tôi và cho phép tôi ở lại trong vườn của ông ấy một thời
gian.
Vài
tháng trôi qua và những cơn chấn động sau động đất vẫn còn hay xảy ra. Vào thời
gian đó tôi đã phát hiện ra rằng một ngôi nhà đẹp bên sườn đồi để cho thuê với
rất ít tiền. Lí do là ở chỗ một tảng đá cuội lớn mang điềm gở treo trên ngôi
nhà và mọi người đều sợ. Tôi có cảm thấy các rung động và điều đó dường như hợp
với tôi - cho nên tôi đã thuê lâu đài đó.
Khi
tôi kể cho vị giám mục, ông ấy phản ứng với việc mất hết tinh thần và vung tay
lung tung, nói, “Ông không lo việc tảng đá rơi xuống nhà hay sao?”
Tôi
đáp, “Nếu Trời muốn đem tôi đi, ngài sẽ làm.”
Ông
giám mục nhún vai và nói, “Ông không tin vào điều đó, phải không?”
Điều
đó có thể đơn giản, Parijat, rằng chỉ bởi vì bạn đã được sinh ra trong gia đình
nhà truyền giáo Ki tô giáo sự việc trở thành có thể cho bạn để ở đây. Các nhà
truyền giáo Ki tô giáo, và hai mươi nhăm năm ở Ấn Độ! - điều đó là quá nhiều rồi.
Ngay chỗ đầu tiên, người truyền giáo Ki tô giáo và chỗ thứ hai, hai mươi nhăm
năm ở Ấn Độ... thế là đủ, quá đủ, để thuyết phục trẻ con rằng bố mẹ chúng đều
giả, rằng họ đang nói về kinh doanh, rằng họ không tin.
Đấy
không phải là vấn đề niềm tin chút nào.
Tôi
đã nghe một câu chuyện nhỏ:
Trong
một trường học, một trường truyền giáo Ki tô giáo, cô giáo hỏi các em, “Ai là
người vĩ đại nhất trong lịch sử?”
Một
cậu học sinh Mĩ nói, “Abraham Lincoln.” Một em gái Hindu nói, “Ngài Krishna.”
Và
cứ thế mãi... và cuối cùng, một cậu nhỏ Do Thái
đứng
dậy và nói, “Jesus Christ.”
Cô
giáo không thể tin vào tai mình - Người Do Thái và nói về Jesus Christ? Cô hỏi,
“Em thực sự ngụ ý điều đó chứ?”
Cậu
ta nói, “Điều đó không thành vấn đề. Trong tâm điểm trái tim mình, em biết đấy
là Moses - nhưng kinh doanh là kinh doanh.”
Ở
cùng nhà truyền giáo Ki tô giáo hai mươi nhăm năm, và ở Ấn Độ, và thấy điều họ
đang làm, là đủ để làm bạn vỡ mộng. Toàn bộ niềm tin đi theo bố mẹ bạn và hai
mươi nhăm năm của họ ở Ấn Độ. Họ đã đem bạn tới đây - cám ơn họ đi.
Câu
hỏi thứ tư:
Thưa
Thầy kính yêu,
Tôi
cảm thấy rằng tôi là người rất đặc biệt. Tôi đặc biệt đến mức tôi muốn chỉ là
người bình thường. Xin thầy nói đôi điều về điều này?
Anand
Sangito, mọi người ở đây đều nghĩ hệt như vậy đấy. Và cũng không chỉ ở đây đâu,
mà ở mọi nơi khác nữa. Mọi người sâu trong tim họ đều biết rằng mình là đặc biệt.
Đây là trò đùa Thượng đế chơi trên mọi người. Khi ngài làm ra một người mới và
đẩy người đó xuống trái đất, ngài thì thào vào tai người đó, “Con là đặc biệt.
Con là vô song, con là duy nhất!”
Nhưng
điều này ngài cứ làm cho mọi người và mọi người cứ mang nó sâu trong tim, mặc dầu
mọi người không nói to điều đó như bạn đang làm, bởi vì họ sợ người khác có thể
cảm thấy khó chịu. Và không ai sẽ bị thuyết phục về điều ấy, cho nên phỏng có
ích gì mà nói nó ra? Nếu bạn bảo ai đó, “Tôi là người đặc biệt,” bạn không thể
nào thuyết phục được người đó bởi vì bản thân người đó biết rằng người đó là đặc
biệt. Làm sao bạn có thể thuyết phục được bất kì ai?
Vâng,
có thể đôi khi ai đó được thuyết phục, ít nhất giả vờ được thuyết phục. Nếu người
đó có việc gì đó cần làm với bạn, như việc hối lộ người đó có thể nói, “Vâng,
anh thật là đặc biệt, anh thật là vĩ đại.” Nhưng sâu bên dưới người đó biết
kinh doanh vẫn cứ là kinh doanh thôi.
Một
kẻ ba hoa đang kể cho bạn anh ta về ba chiếc xe của anh ta, vân vân và vân vân.
Khi anh ta cũng nhắc rằng anh ta có hai chiếc đang được để ở nhà các tình nhân ở
New York, nhưng anh ta cũng muốn nói rằng anh ta đã làm cho cô thư kí riêng đẹp
mê hồn và đam mê khủng khiếp có mang, và do đó phải đem cô viết tốc kí tóc vàng
tuyệt trần đi cùng mình trong chuyến đi kinh doanh tới Rio de Janeiro để xem vũ
hội hoá trang, người nghe bỗng nhiên bắt đầu thở hổn hển, nắm lấy ca vát của
mình, và bị đau tim.
Kẻ
ba hoa ngừng câu chuyện, lấy nước, vỗ vào lưng nạn nhân, vân vân và vân vân, và
anh ta hỏi một cách rất lo lắng chuyện gì xảy ra. “Tôi có thể giúp gì không?” người
này hổn hển. “Tôi bị dị ứng với chuyện nhảm nhí.”
Tốt
hơn cả là giữ những chuyện nhảm nhí như vậy sâu kín bên trong bạn, bởi vì mọi
người đều dị ứng cả. Nhưng theo một cách nào đó cũng tốt là bạn đã phơi bầy tâm
trí mình.
Nếu
bạn nghĩ bạn là đặc biệt thế thì bạn nhất định tạo ra khổ cho bản thân bạn. Nếu
bạn nghĩ rằng bạn cao hơn người khác, khôn hơn người khác, thế thì bạn sẽ đạt tới
bản ngã rất mạnh. Và bản ngã là chất độc, chất độc thuần khiết. Và bạn càng trở
nên bản ngã hơn, nó càng gây tổn thương hơn, bởi vì nó là vết thương. Bạn càng
trở nên bản ngã hơn thì bạn càng không thể bắc cầu được từ cuộc sống. Bạn rơi
vào tách biệt khỏi cuộc sống; bạn không còn trong luồng chảy của sự tồn tại, bạn
đã trở thành tảng đá trong dòng sông. Bạn đã trở thành lạnh như băng, bạn đã mất
mọi hơi ấm, mọi tình yêu. Người đặc biệt không thể yêu được, bởi vì bạn sẽ tìm
đâu ra người đặc biệt khác?
Tôi
đã nghe nói về một người vẫn không lấy vợ trong cả đời mình, và khi người đó sắp
chết, chín mươi tuổi, ai đó hỏi ông ấy, “Ông vẫn không lấy vợ trong cả đời,
nhưng ông chưa bao giờ nói lí do là gì. Bây giờ ông sắp chết rồi, ít nhất giải
đáp cho tò mò của chúng tôi đi. Nếu có bí mật gì, bây giờ ông có thể nói ra, bởi
vì ông sắp chết; ông sẽ qua đời. Cho dù bí mật có được mọi người biết tới, điều
đó không thể hại ông được.”
Người
này nói, “Vâng, có một bí mật. Không phải là tôi chống lại hôn nhân đâu, nhưng
tôi đã tìm kiếm người đàn bà hoàn hảo. Tôi cứ tìm và tìm mãi, và cả đời tôi
trôi tuột qua.”
Người
hỏi lại hỏi, “Nhưng trên trái đất to lớn này, có đến hàng triệu người, một nửa
là đàn bà, không lẽ ông không thể tìn được một đàn bà hoàn hảo sao?”
Nước
mắt lăn dài từ mắt người hấp hối. Ông ta nói, “Vâng, tôi đã tìm ra một người.”
Người
hỏi hoàn toàn bị sốc. Anh ta nói, “Thế thì điều gì xảy ra? Sao ông lại không lấy
vợ?”
Còn
ông già nói, “Nhưng người đàn bà này đang đi tìm người chồng hoàn hảo.”
Cuộc
sống của bạn sẽ rất khó khăn nếu bạn sống với những ý tưởng như vậy. Và vậy mà
bản ngã thủ đoạn thế, tinh ranh thế, nó có thể cho bạn, Sangito, dự án mới này:
“Mình đặc biệt thế, trở thành bình thường thôi.” Nhưng trong cái bình thường của
bạn, bạn sẽ biết bạn là người bình thường phi thường nhất. Không ai bình thường
hơn bạn! Nó sẽ vẫn là cùng trò chơi thôi, được nguỵ trang lại.
Đó
là điều mà cái gọi là người khiêm tốn của bạn cứ làm mãi. Họ nói, “Tôi là người
khiêm tốn nhất. Tôi chỉ là cát bụi dưới chân bạn.” Nhưng họ không ngụ ý điều
đó! Đừng nói, “Vâng, tôi biết anh là vậy,” bằng không họ sẽ không bao giờ tha
thứ cho bạn đâu. Họ đang đợi bạn nói, “Anh là người khiêm tốn nhất mà tôi đã từng
gặp, anh là người ngoan đạo nhất mà tôi đã từng gặp.” Thế thì họ sẽ được thoả
mãn, bằng lòng. Đấy là bản ngã ẩn sau tính khiêm tốn. Bạn không thể nào vứt bỏ
được bản ngã theo cách này.
Bạn
hỏi, “Tôi cảm thấy rằng tôi là người rất đặc biệt. Tôi đặc biệt đến mức tôi muốn
chỉ là người bình thường. Xin thầy nói đôi điều về điều này?”
Không
ai là đặc biệt cả, hay, mọi người đều đặc biệt. Không ai là bình thường, hay mọi
người đều bình thường. Bất kì điều gì bạn nghĩ về bản thân mình, xin nghĩ cùng
điều đó về mọi người khác, và vấn đề sẽ được giải quyết. Bạn có thể chọn. Nếu bạn
muốn dùng từ ‘đặc biệt’, bạn có thể nghĩ bạn là đặc biệt - nhưng thế thì mọi
người cũng đặc biệt. Không chỉ mọi người, mà cả cây cối, chim chóc, con vật, tảng
đá - toàn thể sự tồn tại đều đặc biệt, bởi vì bạn bắt nguồn từ sự tồn tại này
và bạn sẽ tan biến trong sự tồn tại này. Nhưng nếu bạn thích từ ‘bình thường’ -
chính là từ hay hơn, thảnh thơi hơn - thế thì biết rằng mọi người đều bình thường.
Thế thì toàn thể sự tồn tại là bình thường.
Một
điều cần phải nhớ: bất kì điều gì bạn nghĩ về bản thân mình, nghĩ cùng điều đó
cho mọi người khác và bản ngã sẽ biến mất. Bản ngã là ảo tưởng được tạo ra bởi
việc suy nghĩ về bản thân mình theo cách này và nghĩ về người khác theo cách
khác. Nó là suy nghĩ kép. Nếu bạn vứt bỏ suy nghĩ kép, bản ngã chết theo cách
riêng của nó.
Câu
hỏi cuối cùng:
Thưa
Thầy kính yêu,
Khi
tôi tới đây tôi đã cảm thấy rằng Thượng đế ở rất gần - bất kì khoảnh khắc nào
và tôi sẽ ở cùng ngài - nhưng khi thời gian trôi qua điều đó dường như không thể
được. Ngài không ở quanh; khó mà thấy ngài. Tại sao như vậy? Xin Thầy nói đôi
điều về việc này.
Vedant
Bharti, bạn phải đang mang một hình ảnh nào đó về Thượng đế trong tâm trí bạn;
do đó bạn bỏ lỡ đấy. Và chừng nào bạn chưa vứt bỏ hình ảnh đó bạn sẽ còn bỏ lỡ.
Thượng đế không có nghĩa vụ nào phải hoàn thành ý tưởng của bạn về ngài. Bạn phải
đang mang một ý tưởng nào đó rằng “Thượng đế trông giống thế này, cư xử như thế
này...” Đó là lí do tại sao điều đó trở thành không thể được: bạn đang làm cho
điều đó thành không thể được.
Thượng
đế chỉ có thể được biết tới bởi những người có khả năng vứt bỏ mọi ý tưởng về
Thượng đế. Bất kì ý tưởng nào bạn đã từng tích luỹ trong bản thân bạn trong dốt
nát của bạn đều là cản trở. Vứt bỏ mọi ý tưởng về Thượng đế và bạn sẽ ngạc
nhiên, bạn sẽ bị choáng, bạn sẽ không có khả năng tin vào mắt bạn nữa... bởi vì
duy nhất Thượng đế hiện hữu! Thế thì bạn sẽ không bao giờ hỏi, “Thượng đế ở
đâu?” Bạn sẽ hỏi, “Có chỗ nào Thượng đế không hiện hữu không?”
Thế
thì trong chính cái bình thường của mọi vật bạn sẽ thấy cái gì đó cực kì phi
thường. Thế thì viên sỏi bình thường được biến đổi thành kim cương. Thế thì
nhân loại bình thường không còn là bình thường nữa - thế thì cái gì đó sáng
chói ở trong tim của mọi người. Thế thì con người tới gần hơn với điều thiêng
liêng, và điều thiêng liêng tới gần hơn với con người; con người và điều thiêng
liêng biến mất trong nhau, thế giới và Thượng đế biến mất trong nhau. Thế thì bạn
không tìm kiếm Thượng đế là người tách biệt ở cao và xa, sống trên tầng trời thứ
bẩy; thế thì ngài sống ngay cạnh bạn như người hàng xóm của bạn. Thế thì ngài
là con người, ngài là con vật, ngài là rau cỏ, ngài là khoáng vật... ngài là tất
cả.
Và
khi bạn có thể thấy rằng ngài bao quanh bạn, không phải như một người mà như sự
hiện diện, chỉ thế thì việc truy tìm của bạn mới đi tới sự hoàn thành. Thượng đế
không trốn khỏi bạn nhưng bạn đang để mắt mình nhắm lại bởi vì biết bao nhiêu định
kiến. Ai đó có ý tưởng Hindu về Thượng đế, và ai đó có ý tưởng Ki tô giáo về
Thượng đế, và ai đó khác có ý tưởng Mô ha mét giáo về Thượng đế. Bây giờ, Thượng
đế không là người Mô ha mét giáo, không là người Ki tô giáo, không là người
Hindu giáo, cho nên tất cả những người đang mang những ý tưởng này nhất định sẽ
cứ dò dẫm trong bóng tối và còn đen tối hơn. Từ bóng tối tới bóng tối sẽ là
hành trình của họ, họ sẽ di chuyển từ cái chết tới cái chết. Họ sẽ không bao giờ
biết tới ánh sáng.
Người
Hindu không thể biết tới Thượng đế, người Mô ha mét giáo không thể biết tới Thượng
đế. Trước hết bạn sẽ phải làm sạch sẽ tâm trí bạn hoàn toàn khỏi mọi Hindu
giáo, mọi Mô ha mét giáo, mọi Phật giáo. Khi bạn hoàn toàn vô ý nghĩ, chỉ tỉnh
táo, nhận biết, quan sát, thế thì Thượng đế bùng nổ. Và ngài bùng nổ ở khắp
nơi.
Vedant
Bharti, bạn nói, “Khi tôi tới đây tôi đã cảm thấy Thượng đế ở rất gần.” Đấy là
tưởng tượng của bạn thôi.
“...
Bất kì khoảnh khắc nào và tôi sẽ ở cùng ngài.” Đó là mong ước của bạn.
“...
Nhưng khi thời gian trôi qua điều đó dường như không thể được.” - bởi vì không
tưởng tượng nào đã bao giờ có thể trở thành thực. Không giấc mơ nào của bạn có
thể được hoàn thành. Thực tại phải được phát hiện ra, không tưởng tượng.
Bây
giờ bạn nói, “Ngài không ở quanh; khó thấy ngài.”
Duy
nhất ngài ở quanh. Khó thấy ngài bởi vì mắt bạn quá bị nặng gánh với định kiến,
khái niệm, hệ thống tư tưởng riêng của bạn. Trở nên giống trẻ con thêm chút nữa
đi, hồn nhiên thêm chút nữa đi. Thượng đế chỉ tới khi trái tim hồn nhiên. Thượng
đế chỉ tới khi bạn hoàn toàn trống rỗng mọi ý tưởng. Ngài bao giờ cũng sẵn sàng
tới, ngài đang đứng ở cửa, nhưng bạn không thể nghe thấy được bởi vì tâm trí bạn
quá tràn đầy rối loạn, đầy ý nghĩ, hàng triệu ý nghĩ la ó xung quanh. Tâm trí bạn
ồn ào đến mức bạn không thể nghe thấy tiếng gõ cửa im lặng.
Im
lặng đi, hồn nhiên đi.
Thượng
đế hiện hữu. Duy nhất Thượng đế hiện hữu.
*
Trong tiếng Anh gái mãi dâm - prostitude phát âm gần giống với người Tin lành -
Prorestant.
Xem Chương 5 – Quay về Mục Lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment