Yoga:
Alpha và Omega (Tập 1)
Chương
4. Điên hay Thiền
Câu
hỏi thứ nhất:
Thầy
nói rằng chỉ có hai phương án cho con người, hoặc điên hoặc thiền. Nhưng hàng triệu
người trên trái đất đã không đạt tới cái nào trong hai điều này. Thầy nghĩ họ sẽ
đạt tới chăng?
Họ đã đạt
tới rồi! Họ đã không đạt tới thiền, nhưng họ đã đạt tới điên. Và khác biệt giữa
người điên ở trong nhà thương điên và người điên ở bên ngoài chỉ là ở mức độ.
Không có khác biệt về chất, khác biệt chỉ là về lượng. Bạn có thể ít điên hơn,
họ có thể nhiều điên hơn, nhưng người như người đó đang vậy là điên.
Tại sao
tôi nói con người như người đó vậy là điên? Điên ngụ ý nhiều điều. Một, bạn
không được định tâm. Nếu bạn không được định tâm bạn sẽ không lành mạnh. Không
được định tâm, nhiều tiếng nói có trong bạn - bạn là nhiều, bạn là đa nhân
cách. Và không ai là chủ trong nhà, và mọi kẻ hầu trong nhà đều đòi là người chủ.
Có lẫn lộn, xung đột và vật lộn liên tục. Bạn ở trong nội chiến liên tục. Nếu
cuộc nội chiến này mà không diễn ra thế thì bạn sẽ trong thiền. Nó liên tục
ngày và đêm, trong hai mươi bốn giờ. Viết ra bất kì cái gì diễn ra trong tâm
trí bạn trong vài phút, và trung thực vào. Viết ra đích xác bất kì cái gì đang
diễn ra và bản thân bạn sẽ cảm thấy rằng đây là điên.
Tôi có
một kĩ thuật đặc biệt tôi dùng với nhiều người. Tôi nói họ, ngồi trong một
phòng đóng kín và thế rồi bắt đầu nói to, bất kì điều gì tới trong tâm trí. Nói
to để cho bạn có thể nghe được. Mười lăm phút nói này và bạn sẽ cảm thấy rằng bạn
đang nghe người điên. Ngớ ngẩn, không nhất quán, các mảnh mẩu không liên quan
trôi nổi trong tâm trí - và đó là tâm trí của bạn đấy! Cho nên bạn có thể chín
mươi chín phần trăm điên và ai đó khác đã đi qua biên giới, người đó đã đi ra
ngoài một trăm phần trăm. Những người đã đi ra ngoài một trăm phần trăm, chúng
ta để họ vào trong nhà thương điên. Chúng ta không thể để bạn vào nhà thương
điên bởi vì không có nhiều nhà thương điên thế. Và không thể có được - thế thì
toàn thể trái đất phải là nhà thương điên.
Khalil
Gibran viết một giai thoại nhỏ. Ông ấy nói một trong những bạn của ông ấy đã trở
nên điên cho nên người đó bị đưa vào nhà thương điên. Thế rồi chỉ từ tình yêu,
từ bi, ông ấy tới gặp người đó, tới thăm người đó. Người đó đang ngồi dưới cây
trong vườn của nhà thương điên, được bao quanh bởi một bức tường rất lớn.
Khalil Gibran đi tới đó, ngồi bên cạnh người bạn mình trên ghế dài và hỏi người
đó, “Anh có bao giờ nghĩ về tại sao anh ở đây không?”
Người
điên cười và người đó nói, “Tôi ở đây bởi vì tôi muốn rời bỏ nhà thương điên lớn
bên ngoài. Và tôi an bình ở đây. Trong nhà thương điên này - ông gọi nó là nhà
thương điên - không ai điên cả.”
Người
điên không thể nghĩ được rằng họ điên; đó là một trong những đặc trưng cơ sở của
điên. Nếu bạn điên bạn không thể nghĩ được rằng bạn điên. Nếu bạn có thể nghĩ
được bạn điên, có khả năng.... Nếu bạn có thể nghĩ và quan niệm rằng bạn điên,
bạn vẫn còn chút ít lành mạnh. Tính điên đã không xuất hiện trong tính toàn bộ
của nó. Cho nên đây là điều ngược đời: những người thực sự lành mạnh, họ biết rằng
họ điên, và những người hoàn toàn điên, họ không thể nghĩ được rằng họ điên.
Bạn
chưa bao giờ nghĩ rằng bạn điên: đó là một phần của điên. Bạn không được định
tâm; bạn không thể lành mạnh. Lành mạnh của bạn chỉ là bên ngoài, được thu xếp.
Ngay trên bề mặt bạn dường như lành mạnh. Đó là lí do tại sao, một cách liên tục,
bạn phải lừa dối thế giới quanh bạn. Bạn phải che giấu nhiều, bạn phải giả vờ
nhiều. Bạn không cho phép mọi thứ đi ra. Bạn có tính kìm nén: bạn có thể nghĩ
cái gì đó nhưng bạn sẽ nói cái gì đó khác. Bạn đang giả vờ, và bởi vì việc giả
vờ này bạn có thể có lành mạnh bề ngoài tối thiểu quanh bạn; bên trong bạn đang
sôi lên.
Thỉnh
thoảng có việc bùng phát. Trong giận dữ bạn bùng nổ và cái điên bạn đã từng che
giấu lòi ra. Nó phá vỡ mọi điều chỉnh của bạn. Cho nên các nhà tâm lí nói giận
dữ là điên tạm thời. Bạn sẽ thu lại cân bằng, bạn sẽ che giấu lại thực tại của
bạn, bạn sẽ lại đánh bóng bề mặt của bạn - bạn sẽ lại trở thành lành mạnh. Và bạn
sẽ nói rằng, “Điều đó là sai. Tôi đã làm nó mặc cho bản thân tôi. Tôi chưa bao
giờ ngụ ý điều đó, cho nên thứ lỗi cho tôi.” Nhưng bạn đã ngụ ý điều đó! Điều
đó còn thực hơn! Việc hỏi xin tha thứ này chỉ là giả vờ. Lần nữa bạn đang duy
trì bề ngoài của bạn, mặt nạ của bạn.
Người
lành mạnh không có mặt nạ. Mặt của người đó là nguyên thuỷ: dù người đó là bất
kì cái gì, người đó là vậy. Người điên phải liên tục đổi mặt. Mọi khoảng khắc
người đó phải dùng một mặt nạ khác cho các tình huống khác, cho các quan hệ
khác. Cứ quan sát bản thân bạn đổi mặt mình mà xem: khi bạn đi tới vợ, bạn có mặt
khác, khi bạn đi tới người yêu, bồ của bạn, bạn có mặt khác toàn bộ. Khi bạn
nói với người hầu bạn có mặt nạ khác và khi bạn nói với ông chủ, một mặt khác
toàn bộ. Có thể là người hầu của bạn đang đứng ở bên phải bạn và ông chủ đang đứng
bên trái bạn - thế thì bạn có hai mặt đồng thời. Bên trái bạn có mặt này, bên
phải bạn có mặt khác. Bởi vì với người hầu bạn không thể biểu lộ cùng mặt được;
bạn không cần - bạn là ông chủ ở đó, cho nên một phía sẽ là 'ông chủ'. Bạn
không thể biểu lộ 'mặt ông chủ' đó cho ông chủ của bạn được, bạn là người hầu ở
đó; phía bên kia của bạn sẽ biểu lộ thái độ nô lệ.
Điều
này liên tục diễn ra. Bạn không quan sát, đó là lí do tại sao bạn không nhận biết.
Nếu bạn quan sát bạn sẽ trở nên nhận biết rằng bạn điên. Bạn không có mặt nào -
hay, mặt nguyên thuỷ đã bị mất. Lấy lại mặt nguyên thuỷ là điều thiền nghĩa là
gì.
Cho nên
Thiền sư nói, “Đi và tìm mặt nguyên thuỷ của ông, mặt ông đã có trước khi ông
được sinh ra, mặt mà ông sẽ có khi ông đã chết.” Giữa sinh và tử bạn có những mặt
giả. Bạn liên tục cứ lừa dối - và không chỉ lừa người khác: khi bạn đứng trước
gương bạn tự lừa dối bản thân mình, bạn chưa bao giờ thấy mặt thực của bạn
trong gương. Bạn không có dũng cảm ngần ấy để đối diện với bản thân mình. Mặt
đó trong gương cũng là giả. Bạn tạo ra nó, bạn tận hưởng nó; nó là mặt nạ được
tô vẽ.
Chúng
ta không chỉ đang lừa dối người khác, chúng ta cũng đang tự lừa dối bản thân
mình. Thực sự, chúng ta không thể lừa được người khác nếu chúng ta đã không tự
lừa mình. Cho nên chúng ta phải tin vào dối trá riêng của mình, chỉ thế thì
chúng ta mới có thể làm cho người khác tin. Nếu bạn không tin vào dối trá của bạn,
không ai khác sẽ bị lừa.
Và toàn
thể điều phiền toái này mà bạn gọi là cuộc đời của bạn chẳng dẫn tới đâu cả. Nó
là chuyện điên khùng. Bạn làm việc quá nhiều, bạn làm quá sức; bạn bước và chạy.
Và toàn thể cuộc đời, bạn vật lộn và bạn không đạt tới đâu cả. Bạn không biết bạn
tới từ đâu, bạn không biết bạn đang chuyển tới đâu, bạn đang đi đâu. Nếu bạn gặp
một người trên đường và bạn hỏi người đó, “Ông tới từ đâu thưa ông?” và người
đó nói, “Tôi không biết,” và bạn hỏi người đó, “Ông đang đi đâu,” và người đó nói,
“Tôi không biết,” và dầu vậy người đó nói, “Đừng cản tôi, tôi đang vội,” bạn sẽ
nghĩ gì về người đó? Bạn sẽ nghĩ người đó là điên.
Nếu bạn
không biết bạn tới từ đâu và bạn đang đi đâu, thế thì vội làm gì? Nhưng đây là
tình huống của mọi người, và mọi người đều trên đường. Cuộc sống là con đường -
bạn bao giờ cũng ở giữa - và bạn không biết bạn đã tới từ đâu, bạn không biết bạn
đang đi đâu. Bạn không có tri thức về cội nguồn, không có tri thức về mục đích,
nhưng bạn đang vội lắm, làm mọi nỗ lực để chẳng đạt tới đâu cả.
Đây là
kiểu lành mạnh gì? Và từ toàn thể vật lộn này thậm chí không có thoáng nhìn nào
về hạnh phúc tới với bạn - thậm chí không các thoáng nhìn. Bạn đơn giản hi vọng
một ngày nào đó, ở đâu đó, ngày mai, ngày kia - hay sau cái chết, trong kiếp
sau nào đó - rằng hạnh phúc đang chờ đợi bạn. Đây chỉ là thủ đoạn để trì hoãn,
chỉ để cho không cảm thấy quá khổ ngay bây giờ.
Bạn thậm
chí không có những thoáng nhìn về phúc lạc. Đây là kiểu lành mạnh gì? Liên tục
khổ - và qua khổ và trên khổ, khổ đó không được tạo ra bởi bất kì ai khác. Bạn
tạo ra khổ của bạn. Đây là kiểu lành mạnh gì? Bạn liên tục tạo ra khổ của mình!
Tôi gọi điều đó là điên.
Lành mạnh
sẽ là điều này: bạn sẽ trở nên nhận biết rằng bạn không được định tâm. Cho nên
điều đầu tiên cần được làm là được định tâm, có được định tâm - có một trung
tâm bên trong bản thân bạn từ đó bạn có thể dẫn dắt cuộc đời của bạn, từ đó bạn
có thể tạo kỉ luật cuộc đời của bạn; có người chủ bên trong bạn từ đó bạn có thể
chỉ đạo, bạn có thể di chuyển. Điều đầu tiên là được kết tinh, và thế rồi điều
thứ hai sẽ là không tạo ra khổ cho bản thân bạn. Vứt mọi cái tạo ra khổ đi, mọi
động cơ đó, ham muốn, hi vọng cái tạo ra đau khổ.
Nhưng bạn
không nhận biết. Bạn đơn giản cứ làm nó, bạn không thấy rằng bạn tạo ra nó. Bất
kì điều gì bạn làm, bạn đang gieo hạt mầm nào đó. Thế thì cây sẽ theo sau, và bất
kì cái gì bạn đã gieo bạn sẽ gặt nó. Và bất kì khi nào bạn gặt cái gì đều có khổ,
nhưng bạn chưa bao giờ nhìn vào những hạt mầm này mà bạn đã gieo. Bất kì khi
nào đau khổ xảy ra cho bạn, bạn nghĩ nó tới từ đâu đó khác. Bạn nghĩ nó là ngẫu
nhiên nào đó hay lực ác nào đó đang làm việc chống lại bạn. Cho nên bạn đã bịa
ra Quỉ.
Quỉ chỉ
là anh chàng giơ đầu chịu báng. Bạn là Quỉ; bạn tạo ra khổ của mình. Nhưng bất
kì khi nào bạn khổ bạn đơn giản đổ điều đó lên đầu Quỉ: “Quỉ đang làm cái gì
đó.” Thế thì bạn thoải mái. Thế thì bạn không bao giờ trở nên nhận biết về hình
mẫu ngu xuẩn của cuộc sống, hình mẫu ngu si của cuộc đời.
Hay bạn
gọi nó là số phận, hay bạn nói, “Thượng đế đang thử mình.” Nhưng bạn cứ né
tránh sự kiện cơ sở là bạn là nguyên nhân duy nhất của bất kì điều gì xảy ra
cho bạn. Và không cái gì là ngẫu nhiên. Mọi thứ đều có móc nối nhân quả - và bạn
là nguyên nhân.
Chẳng hạn,
bạn rơi vào tình yêu. Tình yêu cho bạn cảm giác, cảm giác rằng phúc lạc là ở
đâu đó cận kề. Bạn cảm thấy lần đầu tiên rằng bạn được ai đó đón chào, ít nhất
một người đón chào bạn. Bạn bắt đầu nở hoa. Ngay cả một người đón chào bạn, chờ
đợi bạn, yêu bạn, chăm sóc cho bạn, bạn bắt đầu nở hoa. Ngay lúc bắt đầu... và
thế thì ngay lập tức hình mẫu sai của bạn bắt đầu vận hành - bạn ngay lập tức
muốn sở hữu người được yêu, người yêu.
Và sở hữu
giết chết. Khoảnh khắc bạn sở hữu người yêu bạn đã giết chết. Thế thì bạn khổ.
Thế thì bạn kêu và khóc và bạn nghĩ rằng người yêu là sai, số mệnh là sai, “Số
phận không chiều mình.” Nhưng bạn không biết rằng bạn đã đầu độc tình yêu qua sở
hữu, qua tính sở hữu.
Nhưng mọi
người yêu đều đang làm điều đó, và mọi người yêu đều khổ. Yêu, điều có thể cho
bạn phúc lành sâu sắc nhất, trở thành khổ sâu sắc nhất. Cho nên các nền văn hoá
cũ, đặc biệt ở Ấn Độ vào thời xưa, đã hoàn toàn phá huỷ hiện tượng về yêu. Họ
đã thu xếp hôn nhân cho trẻ em - không có khả năng rơi vào tình yêu, bởi vì yêu
dẫn tới khổ. Điều này là hiện tượng được biết tới mức nếu bạn cho phép yêu, thế
thì yêu dẫn tới khổ, cho nên tốt hơn cả đừng có khả năng đó. Để cho trẻ con, trẻ
nhỏ được lấy nhau. Trước khi chúng có thể rơi vào tình yêu, để cho chúng được lấy
nhau. Thế thì chúng sẽ không bao giờ biết tình yêu là gì và chúng sẽ không
trong khổ.
Nhưng
yêu không bao giờ tạo ra khổ - chính bạn đầu độc nó. Yêu bao giờ cũng là vui vẻ,
yêu bao giờ cũng là mở hội. Yêu là cực lạc sâu sắc nhất mà tự nhiên cho phép bạn,
nhưng bạn phá huỷ nó. Cho nên chỉ để không rơi vào khổ, ở Ấn Độ và ở các nước cổ,
cổ đại khác, khả năng của yêu đã hoàn toàn bị đóng lại. Vậy thì bạn sẽ không
rơi vào khổ - nhưng thế thì bạn cũng đã bỏ lỡ chính cực lạc mà tự nhiên cho
phép. Cho nên cuộc sống tầm thường sẽ có đó: không khổ, không sướng, chỉ cứ diễn
ra bằng cách nào đó. Đây là điều hôn nhân đã từng là vậy trong quá khứ.
Bây giờ
Mĩ đang thử, phương Tây đang thử làm sống lại tình yêu. Nhưng nhiều khổ đang tới
qua điều đó, và sớm hay muộn các nước phương Tây sẽ phải quyết định cho hôn
nhân trẻ con lần nữa. Vài nhà tâm lí học đã đề nghị rằng hôn nhân trẻ em nên được
đem lại bởi vì tình yêu đang tạo ra nhiều khổ thế. Nhưng tôi lại nói, nó không
phải là yêu. Yêu không thể tạo ra khổ được. Chính là bạn, hình mẫu điên khùng của
bạn, tạo ra khổ - và không chỉ trong yêu, ở mọi nơi. Mọi nơi bạn nhất định đem
tâm trí của bạn tới.
Chẳng hạn,
nhiều người tới tôi. Họ bắt đầu thiền. Lúc ban đầu có chớp loé bất thần, nhưng
chỉ lúc ban đầu. Một khi họ đã biết kinh nghiệm nào đó, một khi họ biết thoáng
nhìn nào đó, mọi thứ dừng lại. Và họ tới tôi, khóc lóc và họ nói, “Cái gì xảy
ra vậy? Cái gì đó đã sắp xảy ra, cái gì đó đã xảy ra, bây giờ mọi thứ đã dừng lại.
Và chúng tôi đang cố gắng hết sức, nhưng chẳng cái gì, chẳng cái gì tới từ nó.”
Tôi bảo
họ, “Điều đó đã xảy ra lần đầu tiên bởi vì bạn đã không mong đợi. Bây giờ bạn
mong đợi cho nên toàn thể tình huống đã thay đổi. Khi bạn có cảm giác về vô trọng
lượng lần đầu tiên, cảm giác về việc được rót đầy bởi cái gì đó không biết, cảm
giác được mang khỏi cuộc sống chết của bạn, cảm giác về những khoảnh khắc cực lạc,
bạn đã không mong đợi nó. Bạn chưa bao giờ biết tới những khoảnh khắc như vậy.
Lần đầu tiên chúng rơi xuống bạn. Bạn đã không nhận biết. Đó là tình huống.
"Bây
giờ bạn đang đổi tình huống. Bây giờ mọi ngày bạn ngồi cho thiền, bạn đang mong
đợi. Bây giờ bạn tinh ranh, láu lỉnh, tính toán. Khi lần đầu tiên bạn có thoáng
nhìn, bạn hồn nhiên, như đứa trẻ. Bạn chơi đùa với thiền, nhưng không có mong đợi.
Thế thì nó đã xảy ra. Nó sẽ xảy ra lần nữa, nhưng thế thì bạn sẽ lại phải hồn
nhiên.
"Bây
giờ tâm trí bạn đang mang khổ của bạn vào, và nếu bạn cứ khăng khăng rằng 'Mình
phải có kinh nghiệm này lặp đi lặp lại', bạn sẽ đánh mất nó mãi mãi. Chừng nào
bạn còn chưa quên nó hoàn toàn, điều đó có thể mất nhiều năm. Chừng nào bạn
chưa trở nên thiếu chú ý hoàn toàn rằng ở đâu đó trong quá khứ việc xảy ra như
vậy đã có đó, thế thì khả năng này sẽ lại mở ra cho bạn."
Điều
này tôi gọi là điên. Bạn phá huỷ mọi thứ. Bất kì cái gì tới trong tay bạn, bạn
lập tức phá huỷ nó. Và nhớ, cuộc sống cho bạn nhiều món quà, không được hỏi. Bạn
chưa bao giờ hỏi cuộc sống, cuộc sống vẫn cho bạn nhiều món quà. Nhưng bạn phá
huỷ mọi món quà, và mọi món quà có thể trở nên ngày một lớn hơn. Nó có thể lớn
lên bởi vì cuộc sống chưa bao giờ cho bạn cái gì chết. Nếu yêu được trao cho bạn,
nó có thể lớn lên. Nó có thể phát triển tới những chiều không biết, nhưng chính
khoảnh khắc đầu tiên bạn phá huỷ nó.
Nếu thiền
đã xảy ra cho bạn, cứ cảm thấy cám ơn với điều thiêng liêng và quên nó đi. Chỉ
cảm thấy biết ơn, và nhớ cho rõ rằng bạn không có năng lực nào để có nó, bạn
không có thẩm quyền theo bất kì cách nào để có nó; nó đã là món quà. Nó đã là
việc tràn đầy của điều thiêng liêng. Quên nó đi. Đừng mong đợi nó, đừng đòi hỏi
nó. Nó sẽ tới lại vào ngày hôm sau - sâu hơn, cao hơn, lớn hơn. Nó sẽ cứ bàng
trướng ra, nhưng mọi ngày vứt nó đi khỏi tâm trí.
Không
có kết thúc cho các khả năng của nó. Nó sẽ trở thành vô hạn; toàn thể vũ trụ sẽ
trở thành cực lạc cho bạn. Nhưng tâm trí bạn phải bị vứt bỏ. Tâm trí bạn là
điên. Cho nên khi tôi nói chỉ có hai phương án, điên và thiền, tôi ngụ ý tâm
trí và thiền. Nếu bạn vẫn còn bị giới hạn trong tâm trí bạn sẽ vẫn còn điên. Chừng
nào bạn chưa siêu việt lên trên tâm trí bạn không thể siêu việt lên trên điên
được. Nhiều nhất bạn có thể là thành viên hoạt động của xã hội, có vậy thôi. Và
bạn có thể là thành viên hoạt động của xã hội bởi vì toàn thể xã hội cũng giống
như bạn. Mọi người đều điên, cho nên điên là qui tắc.
Trở nên
nhận biết đi - và đừng nghĩ rằng người khác điên; cảm thấy điều đó sâu sắc rằng
bạn điên và cái gì đó phải được làm. Ngay lập tức! Nó là khẩn cấp! Đừng trì
hoãn nó bởi vì một khoảnh khắc có thể tới khi bạn không thể làm được gì. Bạn có
thể điên tới mức bạn không thể làm được gì.
Ngay
bây giờ bạn có thể làm cái gì đó. Bạn vẫn ở bên trong các giới hạn. Cái gì đó
có thể được làm, nỗ lực nào đó có thể được làm; hình mẫu có thể được thay đổi.
Nhưng một khoảnh khắc có thể tới khi bạn không thể làm được gì, khi bạn đã trở
nên bị tan nát hoàn toàn và bạn thậm chí đã mất ý thức.
Nếu bạn
có thể cảm thấy rằng bạn điên, điều này là dấu hiệu rất hi vọng. Nó chứng tỏ bạn
có thể trở nên tỉnh táo hướng tới thực tại riêng của bạn. Cánh cửa có đó, bạn
có thể trở nên thực sự lành mạnh. Ít nhất lành mạnh chừng này là có đó - rằng bạn
có thể hiểu.
Câu
hỏi thứ hai:
Năng
lực của tri thức đúng là một trong năm khả năng của tâm trí, nhưng nó không phải
là trạng thái của vô trí. Thế thì làm sao có thể có chuyện là bất kì cái gì người
ta thấy qua trung tâm này là đúng? Trung tâm này của tri thức đúng có vận hành
sau chứng ngộ không, hay thậm chí một thiền nhân, một sadhak, có thể hiện hữu
cùng trung tâm này không?
Vâng,
trung tâm của tri thức đúng, praman, là tĩnh lặng bên trong tâm trí. Dốt nát là
của tâm trí, tri thức cũng là của tâm trí. Khi bạn đi ra ngoài tâm trí không có
cái nào; không có dốt nát không có tri thức. Tri thức cũng là bệnh tật. Nó là bệnh
tốt, bệnh vàng, nhưng nó là bệnh. Cho nên thực sự, không thể nói được rằng Phật
biết, không thể nói được rằng ông ấy không biết. Ông ấy đã đi ra ngoài. Liệu
ông ấy là người biết hay là kẻ dốt nát, chẳng cái gì có thể được khẳng định về
điều đó.
Khi
không có tâm trí, làm sao bạn có thể biết hay không biết? Việc biết là qua tâm
trí, việc không biết cũng là qua tâm trí. Qua tâm trí bạn có thể biết một cách
sai, qua tâm trí bạn có thể biết một cách đúng. Khi không có tâm trí, tri thức
và dốt nát cả hai đều dừng. Điều này sẽ là khó hiểu, nhưng nó là dễ nếu bạn đi
theo: tâm trí biết, cho nên tâm trí có thể là dốt nát; khi không có tâm trí làm
sao bạn có thể là dốt nát và làm sao hạn có thể là việc biết? Bạn hiện hữu,
nhưng việc biết và việc không biết, cả hai đều đã dừng lại.
Tâm trí
có hai trung tâm: một, trung tâm của tri thức đúng. Nếu trung tâm đó vận hành
nó bắt đầu vận hàng qua việc tập trung, thiền, suy tư, nguyện - thế thì bất kì
cái gì bạn biết cũng là đúng. Có trung tâm sai: nó vận hành nếu bạn ngủ, sống
trong trạng thái tựa thôi miên, say sưa với cái gì đó hay cái khác - dục, âm nhạc,
ma tu ý hay bất kì cái gì.
Bạn có
thể bị nghiện với thức ăn, thế thì nó trở thành say sưa. Bạn có thể ăn quá nhiều.
Bạn điên, bị ám ảnh, với thức ăn. Thế thì thức ăn trở thành giống như rượu. Bất
kì cái gì chiếm quyền sở hữu tâm trí bạn, bất kì cái gì không có nó bạn không
thể sống được, nó trở thành gây say. Cho nên nếu bạn sống qua chất gây say thế
thì trung tâm tri thức sai của bạn vận hành và bất kì cái gì bạn biết cũng là
sai, không đúng. Bạn sống trong thế giới của dối trá.
Nhưng cả
hai trung tâm này đều thuộc về tâm trí. Khi tâm trí bị mất đi và thiền đã đi tới
tính toàn bộ của nó.... Trong tiếng Phạn chúng ta có hai thuật ngữ: một thuật
ngữ là dhyana - dhyana nghĩa là thiền; và thuật ngữ kia là samadhi. Samadhi
nghĩa là thiền hoàn hảo, nơi ngay cả hành thiền cũng đã trở nên không cần thiết,
nơi ngay cả hành thiền cũng là vô nghĩa. Bạn không thể làm được nó, bạn đã trở
thành nó - thế thì nó là samadhi.
Trong
trạng thái này của samadhi không có tâm trí. Và không có tri thức không có dốt
nát, chỉ có hiện hữu thuần khiết. Hiện hữu thuần khiết này là chiều khác toàn bộ.
Nó không phải là chiều của việc biết, nó là chiều của hiện hữu.
Ngay cả
một người như vậy, một Phật hay một Jesus, muốn trao đổi với bạn, người đó sẽ
phải dùng tâm trí. Với trao đổi người đó sẽ phải dùng tâm trí. Và nếu bạn hỏi
câu hỏi nào đó người đó sẽ phải dùng trung tâm tâm trí của mình về tri thức
đúng. Tâm trí là công cụ của trao đổi, của suy nghĩ, của việc biết.
Nhưng
khi bạn không hỏi cái gì và Phật đang ngồi dưới cây bồ đề, ông ấy không là người
dốt không là người biết. Ông ấy ở đó. Thực ra, không có khác biệt giữa cây và
Phật. Có khác biệt, nhưng theo một cách nào đó không có khác biệt. Ông ấy đã trở
thành dường như là cây; ông ấy chỉ tồn tại. Không có chuyển động, thậm chí của
tri thức. Mặt trời sẽ mọc nhưng ông ấy sẽ không biết rằng mặt trời đã mọc.
Không phải là ông ấy sẽ vẫn còn là người dốt - không, đơn giản điều đó bây giờ
không phải là chuyển động của ông ấy. Ông ấy đã trở thành im lặng, tĩnh lặng tới
mức không cái gì chuyển động. Ông ấy giống hệt như cây. Cây là dốt nát toàn bộ.
Hay, bạn có thể nói cây ở ngay dưới tâm trí; tâm trí đã không bắt đầu vận hành.
Cây sẽ trở thành người trong kiếp nào đó, cây sẽ trở thành điên như bạn trong
kiếp nào đó... và cây sẽ thử thiền trong kiếp nào đó, và cây cũng sẽ trở thành
vị Phật một ngày nào đó. Cây là ở dưới tâm trí, và Phật ngồi dưới cây là ở bên
ngoài tâm trí. Họ cả hai đều vô tâm trí. Một đằng là tĩnh lặng để đạt tới tâm
trí và một đằng đã đạt tới và đã vượt qua nó.
Cho nên
khi tâm trí được siêu việt lên, khi vô trí được đạt tới, bạn là hiện hữu thuần
khiết, satchitananda. Không có việc xảy ra trong bạn. Không có hành động không
có việc biết - nhưng điều đó là khó cho chúng ta...
Kinh
sách cứ nói rằng mọi nhị nguyên được siêu việt lên. Tri thức cũng là một phần của
nhị nguyên - dốt nát, tri thức. Nhưng cái gọi là thánh nhân cứ nói rằng Phật đã
trở thành ‘người biết’. Thế rồi chúng ta níu bám lấy nhị nguyên này. Đó là lí
do tại sao Phật chưa bao giờ trả lời. Nhiều lần, hàng triệu lần điều đó đã được
hỏi với ông ấy, “Điều gì xảy ra khi một người trở thành vị Phật?” Ông ấy vẫn
còn im lặng. Ông ấy nói, “Trở thành và biết.” Không cái gì có thể được nói về
điều xảy ra bởi vì bất kì cái gì có thể được nói sẽ được nói theo ngôn ngữ của
bạn. Và ngôn ngữ của bạn về căn bản là nhị nguyên cho nên bất kì cái gì có thể
được nói đều sẽ là không đúng.
Nếu người
ta nói rằng ông ấy biết điều đó sẽ không đúng, nếu người ta nói rằng ông ấy đã
trở thành bất tử điều đó sẽ không đúng, nếu người ta nói rằng bây giờ ông ấy đã
đạt tới phúc lạc điều đó sẽ không đúng - bởi vì mọi nhị nguyên biến mất. Khổ biến
mất, sướng biến mất. Dốt nát biến mất, tri thức biến mất. Tối biến mất, sáng biến
mất. Chết biến mất, sống biến mất. Không cái gì có thể được nói. Hay, chỉ chừng
này có thể được nói - rằng bất kì cái gì bạn có thể nghĩ đều sẽ không có đó, bất
kì cái gì bạn có thể quan niệm tới sẽ không có đó. Và cách duy nhất là trở
thành cái đó. Chỉ thế thì bạn mới biết.
Câu
hỏi thứ ba:
Thầy
nói rằng nếu chúng ta thấy linh ảnh về Rama hay rằng chúng ta đang nhảy múa cùng
Krishna, phải nhớ đó chỉ là tưởng tượng. Nhưng đêm hôm nọ thầy nói rằng nếu
chúng ta cảm nhận chúng ta có thể trao đổi được với Christ, Phật hay Krishna
ngay bây giờ. Trao đổi đó có phải cũng là tưởng tượng khi nó xảy ra, hay có trạng
thái thiền trong đó Christ hay Phật thực sự ở đó?
Hơi khó
chút ít để được hiểu...
Điều thứ
nhất: trong một trăm trường hợp, chín mươi chín trường hợp sẽ là của tưởng tượng.
Bạn tưởng tượng: đó là lí do tại sao với người Ki tô giáo Krishna không bao giờ
xuất hiện trong linh ảnh; với người Hindu Mohammed không bao giờ xuất hiện
trong linh ảnh của người đó. Để Mohammed và Jesus ra; họ xa xôi rồi. Nhưng với
người Jaina, Rama không bao giờ xuất hiện trong linh ảnh của người đó - không
thể xuất hiện được. Với người Hindu Mahavira không bao giờ xuất hiện. Tại sao?
- bạn không có tưởng tượng nào về Mahavira.
Nếu bạn
được sinh ra là người Hindu bạn đã được nạp vào với khái niệm về Rama và
Krishna. Nếu bạn được sinh ra là người Ki tô giáo bạn đã được nạp vào - máy
tính của bạn, tâm trí của bạn, đã được nạp vào - bằng hình ảnh của Jesus. Bất
kì khi nào bạn bắt đầu thiền hình ảnh được nạp vào đó lại tới trong tâm trí; nó
nhoáng lên trong tâm trí.
Jesus
xuất hiện cho bạn, Jesus chưa bao giờ xuất hiện cho người Do Thái. Và ông ấy là
người Do Thái. Ông ấy đã được sinh ra là người Do Thái, ông ấy chết đi là người
Do Thái, nhưng ông ấy chưa bao giờ xuất hiện cho người Do Thái bởi vì họ chưa
bao giờ tin vào ông ấy. Họ nghĩ ông ấy chỉ là kẻ lang thang, họ đã đóng đinh
ông ấy như kẻ tội phạm. Jesus chưa bao giờ xuất hiện cho người Do Thái; ông ấy
thuộc vào người Do Thái, ông ấy có máu và xương Do Thái.
Tôi đã
nghe một chuyện đùa rằng trong thời Đức quốc xã lính của Hitler đã giết người
Do Thái trong một thị trấn. Họ đã giết nhiều người. Vài người Do Thái trốn
thoát. Hôm đó là sáng chủ nhật. Họ đã trốn thoát; họ đi vào trong nhà thờ bởi
vì họ nghĩ rằng chắc đó là chỗ ẩn trốn tốt nhất, nhà thờ Ki tô giáo. Nhà thờ đầy
những người Ki tô giáo, lúc đó là sáng chủ nhật. Cho nên vài người, một tá người
Do Thái ẩn trốn ở đó.
Nhưng
lính nhận được tin rằng một số người Do Thái đã vào nhà thờ và họ đang trốn ở
đó. Thế là họ đi vào nhà thờ; họ nói với linh mục, “Dừng buổi lễ lại!” Viên chỉ
huy lính đi tới diễn đàn và nói, “Các ông không thể lừa được chúng tôi. Có vài
người Do Thái trốn ở đây. Cho nên bất kì ai là người Do Thái phải đi ra và đứng
vào một hàng. Nếu các ông tuân theo lệnh của chúng ta các ông có thể cứu được bản
thân mình. Nếu ai đó cố lừa dối, người đó sẽ bị giết ngay lập tức.”
Thế là
dần dần, những người Do Thái bước ra khỏi nhà thờ và họ đứng vào một hàng. Thế
rồi đột nhiên cả đám đông trong nhà thờ trở nên nhận biết rằng Jesus đã biến mất,
bức tượng của Jesus. Ông ấy cũng là người Do Thái cho nên ông ấy đã đứng ra bên
ngoài trong hàng!
Nhưng
Jesus chưa bao giờ xuất hiện cho người Do Thái. Ông ấy không phải là người Ki
tô giáo, ông ấy chưa bao giờ thuộc về bất kì nhà thờ Ki tô giáo nào. Nếu ông ấy
quay lại ông ấy sẽ không nhận nhà thờ Ki tô giáo, ông ấy sẽ đi tới giáo đường
Do Thái; ông ấy sẽ đi tới cộng đồng Do Thái. Ông ấy sẽ tới thăm giáo sĩ, ông ấy
không thể đi tới thăm linh mục Cơ đốc giáo hay Tin Lành được. Ông ấy không biết.
Nhưng ông ấy chưa bao giờ xuất hiện cho người Do Thái bởi vì ông ấy chưa bao giờ
là hạt mầm trong tưởng tượng của họ. Họ đã từ chối ông ấy, cho nên hạt mầm
không có đó.
Cho nên
bất kì cái gì xảy ra, chín mươi chín phần trăm khả năng là ở chỗ nó có thể chỉ
là tri thức, khái niệm, hình ảnh đã được nạp vào: chúng nhoáng lên trước tâm
trí bạn. Và khi bạn bắt đầu thiền bạn trở nên nhạy cảm. Bạn trở nên nhạy cảm tới
mức bạn có thể trở thành nạn nhân của tưởng tượng của bạn. Và tưởng tượng sẽ có
vẻ thực thế, và không có cách nào để phán xét liệu nó là thực hay không thực.
Chỉ
trong một phần trăm trường hợp sẽ không phải là tưởng tượng, nhưng làm sao biết
được? Trong một phần trăm trường hợp đó sẽ không có hình ảnh, thực sự. Bạn sẽ
không cảm thấy Jesus đang đứng trước bạn bị đóng đinh, bạn sẽ không cảm thấy
Krishna đứng trước bạn và bạn nhảy múa cùng ông ấy. Bạn sẽ cảm thấy sự hiện diện
nhưng sẽ không có hình ảnh, nhớ điều này. Bạn sẽ cảm thấy việc giáng xuống của
sự hiện diện thiêng liêng. Bạn sẽ được rót đầy với cái gì đó không biết, nhưng
không có hình dạng nào. Sẽ không có Krishna nhảy múa và sẽ không có Jesus bị
đóng đinh sẽ không có Phật ngồi trong tư thế siddhasan, không! Sẽ đơn giản có sự
hiện diện, sự hiện diện sống mà tuôn chảy bên trong bạn, trong và ngoài. Bạn được
tràn ngập, bạn ở trong đại dương của nó.
Jesus sẽ
không ở trong bạn, bạn sẽ ở trong Jesus; điều đó sẽ là khác biệt. Krishna sẽ
không ở trong tâm trí bạn, hình ảnh; bạn sẽ ở trong Krishna. Nhưng thế thì
Krishna sẽ là vô hình dạng. Nó sẽ là kinh nghiệm nhưng không là hình ảnh.
Thế thì
tại sao gọi nó là Krishna? Sẽ không có hình dạng. Sao gọi nó là Jesus? Đây đơn
giản là biểu tượng, biểu tượng ngôn ngữ. Bạn quen với từ ‘Jesus’ cho nên khi sự
hiện diện đó tràn ngập bạn và bạn trở thành một phần của nó, một phần rung động
của nó, khi bạn trở thành một giọt nước trong đại dương đó, làm sao diễn đạt được
nó? Bạn biết từ hay nhất cho bạn có thể là ‘Jesus’ hay từ hay nhất có thể là
‘Phật’ hay ‘Krishna’ - những từ này được nạp vào trong tâm trí cho nên bạn phải
chọn những từ này để chỉ tới sự hiện diện đó.
Nhưng sự
hiện diện đó không phải là hình ảnh, nó không phải là mơ. Nó không phải là linh
ảnh chút nào. Bạn có thể dùng Jesus, bạn có thể dùng Krishna, bạn có thể dùng
Christ, hay bất kì cái gì - bất kì cái tên nào có hấp dẫn với bạn, bất kì cái
tên nào có hấp dẫn tình yêu với bạn, cái đó là tuỳ bạn. Từ đó và cái tên đó và
hình ảnh đó sẽ tới từ tâm trí bạn, nhưng bản thân kinh nghiệm này là vô hình ảnh.
Nó không phải là tưởng tượng.
Một
linh mục Cơ đốc giáo tới thăm một Thiền sư, Nan-in. Nan-in chưa bao giờ nghe
nói tới Jesus, cho nên linh mục Cơ đốc giáo này nghĩ, “Điều tốt đây. Mình phải
đi và đọc một số đoạn trong Bài giảng trên núi, và mình sẽ xem Nan-in này phản ứng
thế nào. Và mọi người nói rằng ông ấy đã chứng ngộ.”
Thế là
linh mục Cơ đốc giáo đó đi tới Nan-in và ông ta nói, “Thưa thầy, tôi là người
Ki tô giáo, và tôi có một cuốn sách và tôi thích nó lắm. Tôi muốn đọc một cái
gì đó từ nó chỉ để biết ông đáp ứng thế nào, ông phản ứng thế nào.” Thế là ông ấy
đọc vài dòng trong Bài giảng trên núi, kinh Tân Ước. Ông ấy dịch nó sang tiếng
Nhật Bản bởi vì Nan-in chỉ có thể hiểu được tiếng Nhật Bản.
Khi ông
ấy bắt đầu dịch, toàn thể mặt Nan-in thay đổi hoàn toàn. Nước mắt bắt đầu chảy
từ mắt ông ấy và ông ấy nói, “Đây là lời của Phật.”
Linh mục
Ki tô giáo nói, “Không, không, đây là lời của Jesus.”
Nhưng
Nan-in nói, “Bất kì cái tên gì ông đưa ra, tôi cảm thấy đây là lời của Phật, bởi
vì tôi biết mỗi Phật và những lời này có thể tới chỉ qua Phật. Và nếu ông nói
chúng đã tới qua Jesus, thế thì Jesus là vị Phật; điều đó không tạo ra khác biệt
gì. Thế thì tôi sẽ nói cho các đệ tử của tôi rằng Jesus là một Phật tử.”
Đây sẽ
là cảm giác này. Nếu bạn cảm thấy sự hiện diện của điều thiêng liêng, thế thì
các cái tên là không quan trọng. Các tên nhất định là khác nhau với mọi người bởi
vì tên tới từ giáo dục, tên tới từ văn hoá, tên tới từ giống nòi mà bạn thuộc
vào. Nhưng kinh nghiệm đó không thuộc vào xã hội nào, kinh nghiệm đó không thuộc
vào văn hoá nào, kinh nghiệm đó không thuộc vào tâm trí bạn, chiếc máy tính -
nó thuộc vào bạn.
Cho nên
nhớ lấy, nếu bạn thấy linh ảnh, chúng là tưởng tượng. Nếu bạn bắt đầu cảm thấy
sự hiện diện, vô hình, kinh nghiệm tồn tại - được bao trong chúng, được hội nhập
trong chúng, tan chảy trong chúng - thế thì bạn thực sự trong tiếp xúc.
Bạn có
thể gọi sự hiện diện đó là Jesus, bạn có thể gọi sự hiện diện đó là Phật, điều
đó là tuỳ ở bạn; nó không tạo ra khác biệt gì. Jesus là vị Phật và Phật là một
Christ. Những người đã vượt ra ngoài tâm trí, họ cũng đã đi ra ngoài nhân cách.
Họ cũng đã đi ra ngoài hình dạng. Nếu Jesus và Phật đứng cùng nhau, sẽ có hai
thân thể nhưng một linh hồn. Sẽ có hai thân thể nhưng không hai sự hiện diện...
một sự hiện diện.
Điều đó
cũng giống như bạn để hai ngọn đèn trong phòng. Đèn có hai, hai thân thể của
chúng, nhưng ánh sáng đã trở thành một. Bạn không thể phân ranh giới rằng ánh
sáng này thuộc về đèn này và ánh sáng kia thuộc về đèn kia. Ánh sáng đã hội nhập.
Chỉ phần vật chất của đèn là còn tách rời, nhưng phần phi vật chất đã trở thành
một.
Nếu Phật
và Jesus lại gần, nếu họ đứng cùng nhau, bạn sẽ thấy hai ngọn đèn, tách rời,
nhưng ánh sáng của chúng đã hội nhập. Chúng đã trở thành một. Tất cả những người
đã biết tới chân lí đều đã trở thành một. Tên của họ là khác đối với tín đồ của
họ; với họ, bây giờ không có tên.
Câu
hỏi thứ tư:
Xin
thầy giải thích liệu nhận biết có cũng là một trong các biến thể của tâm trí
không.
Không,
nhận biết không phải là một phần của tâm trí. Nó chảy qua tâm trí, nhưng nó
không là một phần của tâm trí. Nó cũng giống như bóng đèn này: điện chạy qua
nó, nhưng điện không là một phần của bóng đèn. Nếu bạn đập bóng đèn ra bạn đã
không phá vỡ điện. Cách diễn đạt sẽ bị cản trở, nhưng tiềm năng vẫn còn bị giấu
kín. Bạn để chiếc bóng đèn khác và điện bắt đầu chạy qua.
Tâm trí
là công cụ. Nhận biết không phải là một phần của nó, nhưng nhận biết chảy qua
nó. Khi tâm trí được siêu việt lên, nhận biết vẫn còn trong bản thân nó. Đó là
lí do tại sao tôi nói ngay cả vị Phật sẽ phải dùng tâm trí nếu ông ấy nói với bạn,
nếu ông ấy quan hệ với bạn, bởi vì thế thì ông ấy sẽ cần tuôn chảy, chảy từ cái
ao bên trong của ông ấy. Ông ấy sẽ phải dùng công cụ, phương tiện, và thế thì
tâm trí sẽ vận hành. Nhưng tâm trí chỉ là xe cộ.
Bạn đi
trong xe cộ, nhưng bạn không phải là xe cộ. Bạn đi trong ô tô hay bạn bay trong
máy bay, nhưng bạn không là phương tiện. Tâm trí chính là phương tiện. Và bạn
không dùng tâm trí tới toàn bộ năng lực của nó. Nếu bạn dùng nó tới toàn thể
năng lực của nó, nó sẽ trở thành tri thức đúng.
Chúng
ta đang dùng tâm trí của mình kiểu như ai đó có thể dùng máy bay làm xe bus. Bạn
có thể cắt cánh máy bay và dùng nó như xe bus trên đường. Điều đó cũng được, nó
sẽ làm việc như xe bus - nhưng bạn ngu. Xe bus đó có thể bay được! Bạn không
dùng nó theo đúng năng lực của nó.
Bạn
đang dùng tâm trí của bạn cho mơ, tưởng tượng, điên khùng. Bạn đã không dùng
nó, bạn đã cắt cánh. Nếu bạn dùng nó có cánh, nó có thể trở thành tri thức
đúng, nó có thể trở thành trí huệ. Nhưng điều đó nữa cũng là một phần của tâm
trí, điều đó nữa là phương tiện. Người dùng vẫn còn ở đằng sau; người dùng
không thể là cái được dùng. Bạn đang dùng nó, bạn là nhận biết. Và mọi nỗ lực
vì thiền nghĩa là biết nhận biết này trong tính thuần khiết của nó, không có bất
kì trung gian nào. Một khi bạn biết nó mà không có bất kì công cụ nào.... Bạn
có thể biết nó. Và điều này có thể được biết chỉ khi tâm trí đã dừng vận hành.
Khi tâm trí đã dừng vận hành bạn sẽ trở nên nhận biết rằng nhận biết có đó, bạn
được tràn đầy với nó. Tâm trí chỉ là phương tiện, lối chuyển. Bây giờ nếu bạn
muốn bạn có thể dùng tâm trí, nếu bạn không muốn bạn không cần dùng nó.
Thân thể,
tâm trí, cả hai đều là xe cộ. Bạn không phải là xe cộ, bạn là người chủ ẩn đằng
sau những xe cộ này. Nhưng bạn đã quên hoàn toàn. Và bạn đã trở thành chiếc xe,
bạn đã trở thành xe cộ. Đây là điều Gurdjieff gọi là đồng nhất. Đây là điều ở Ấn
Độ các nhà yogi đã gọi là tadatmya, trở thành một với cái gì đó mà bạn không
có.
Câu
hỏi thứ năm:
Xin
thầy giải thích làm sao có thể chỉ bằng việc nhìn, bằng việc chứng kiến những
việc ghi lại trong tế bào não, cội nguồn của quá trình ý nghĩ có thể dừng hiện
hữu.
Chúng
không bao giờ dừng hiện hữu, nhưng chỉ bằng việc chứng kiến sự đồng nhất bị phá
vỡ. Phật đã sống trong thân thể ông ấy trong bốn mươi năm sau chứng ngộ của ông
ấy, thân thể không dừng lại. Một cách liên tục, trong bốn mươi năm ông ấy đã
nói, giải thích, làm cho mọi người hiểu điều đã xảy ra cho ông ấy và cách cùng
điều đó có thể xảy ra cho họ. Ông ấy đã dùng tâm trí, tâm trí đã không dừng lại.
Và khi ông ấy quay về thị trấn quê nhà sau mười hai năm ông ấy đã nhận bố mình,
ông ấy đã nhận vợ mình, ông ấy đã nhận con mình. Tâm trí có đó, kí ức có đó; nếu
không việc nhận ra là không thể được. Tâm trí đã không thực dừng lại.
Khi
chúng ta nói tâm trí dừng lại, chúng ta ngụ ý sự đồng nhất của bạn bị phá vỡ.
Bây giờ bạn biết đây là tâm trí và đây là 'tôi đây'. Chiếc cầu bị phá vỡ. Bây
giờ tâm trí không là người chủ. Nó đã trở thành chỉ là một công cụ, nó đã rơi
vào chỗ đúng của nó. Cho nên bất kì khi nào bạn cần nó bạn có thể dùng nó. Nó
cũng giống như chiếc quạt: nếu bạn muốn dùng nó chúng ta bật nó lên, thế thì quạt
bắt đầu vận hành. Ngay bây giờ chúng ta không dùng quạt nên nó không vận hành.
Nhưng nó có đó, nó đã không dừng hiện hữu. Bất kì khoảnh khắc nào bạn đều có thể
dùng nó. Nó đã không biến mất.
Chỉ bằng
chứng kiến đồng nhất biến mất, không phải tâm trí. Nhưng với đồng nhất biến mất,
bạn là con người mới toàn bộ. Lần đầu tien bạn đã đi tới biết hiện tượng thực của
bạn, thực tại thực của bạn. Lần đầu tiên bạn đã đi tới biết bạn là ai. Bây giờ
tâm trí chỉ là một phần của bộ máy quanh bạn.
Cũng hệt
như bạn là phi công và đang bay trên máy bay: bạn dùng nhiều công cụ, mắt bạn
đang làm việc trên nhiều công cụ liên tục nhận biết về cái này cái nọ, nhưng bạn
không phải là công cụ.
Tâm trí
này, thân thể này và nhiều vận hành của thân-tâm đang ở quanh bạn - bộ máy.
Trong bộ máy này bạn có thể tồn tại theo hai cách. Một cách tồn tại là quên bản
thân bạn và cảm thấy dường như bạn là cái máy. Đây là tù túng, đây là khổ; đây
là thế giới, sansar.
Cách vận
hành khác là thế này: trở nên tỉnh táo rằng bạn là tách rời, bạn là khác. Thế
thì bạn cứ dùng, nhưng bây giờ điều đó tạo ra nhiều khác biệt - bây giờ cái máy
không là bạn. Và nếu cái gì đó đi sai trong bộ máy, bạn có thể thử đưa nó về
đúng, nhưng bạn sẽ không bị làm rối loạn. Cho dù toàn thể bộ máy biến mất bạn sẽ
không bị rối loạn.
Phật chết
và bạn chết là hai hiện tượng khác nhau. Phật biết chỉ cái máy đang chết. Nó đã
được dùng và bây giờ không có nhu cầu. Gánh nặng đã được loại bỏ, ông ấy trở
thành tự do. Bây giờ ông ấy sẽ di chuyển không hình dạng. Nhưng bạn chết là
khác toàn bộ: bạn khổ, bạn khóc bởi vì bạn cảm thấy bạn đang chết, không phải
cái máy. Đó là cái chết của bạn; thế thì nó trở thành đau khổ mãnh liệt.
Chỉ bằng
chứng kiến, tâm trí không dừng lại và các tế bào não sẽ không dừng lại. Thay vì
thế, chúng sẽ trở nên sống động hơn bởi vì sẽ ít có xung đột, nhiều năng lượng
hơn. Chúng sẽ trở nên tươi tắn hơn. Và bạn có thể dùng chúng đúng hơn, chính
xác hơn, nhưng bạn sẽ không bị nặng gánh bởi chúng và chúng sẽ không buộc bạn
làm cái gì đó. Chúng sẽ không đẩy và kéo bạn đây đó. Bạn sẽ là người chủ.
Nhưng
điều đó xảy ra thế nào chỉ bằng việc chứng kiến? Bởi vì nó đã xảy ra, tù túng
đã xảy ra, bởi không chứng kiến. Tù túng đã xảy ra bởi vì bạn không tỉnh táo,
cho nên tù túng sẽ biến mất nếu bạn trở nên tỉnh táo. Tù túng chỉ là vô nhận biết.
Không cái gì khác được cần ngoài việc trở nên tỉnh táo, dù bạn làm bất kì cái
gì.
Bạn
đang ngồi ở đây nghe tôi. Bạn có thể nghe có nhận biết, bạn có thể nghe không
có nhận biết. Không có nhận biết việc nghe cũng sẽ có đó, nhưng nó sẽ là điều
khác, phẩm chất sẽ khác. Thế thì tai bạn đang nghe và tâm trí bạn đang vận hành
ở đâu đó khác.
Thế
thì, bằng cách nào đó, một vài từ sẽ thấm vào bạn và chúng sẽ bị trộn lẫn, và
tâm trí bạn sẽ diễn giải chúng theo cách riêng của nó. Nó sẽ đặt các ý tưởng
riêng của nó vào chúng. Mọi thứ sẽ thành rối ren và đống lộn xộn. Bạn đã nghe
nhưng nhiều điều sẽ bị bỏ qua, bạn sẽ không nghe nhiều điều, bạn sẽ chọn. Thế
thì toàn thể sự việc sẽ bị bóp méo.
Nếu bạn
tỉnh táo, khoảnh khắc bạn trở nên tỉnh táo suy nghĩ dừng lại. Với tỉnh táo bạn
không thể nghĩ được. Toàn thể năng lượng trở thành tỉnh táo, không có năng lượng
nào còn lại để đi vào suy nghĩ. Khi bạn tỉnh tảo cho dù một khoảnh khắc, bạn
đơn giản nghe. Không có rào chắn. Lời của bạn không có đó mà có thể được trộn
vào. Bạn không cần diễn giải. Tác động là trực tiếp.
Nếu bạn
có thể lắng nghe với tỉnh táo, thế thì điều tôi đang nói có thể có nghĩa hay có
thể không có nghĩa, nhưng việc nghe của bạn với tỉnh táo bao giờ cũng sẽ có ý
nghĩa trong nghĩa nào đó. Chính tỉnh táo đó sẽ làm ra đỉnh của tâm thức bạn.
Quá khứ sẽ tan biến, tương lai sẽ biến mất. Bạn sẽ không ở đâu khác, bạn sẽ chỉ
ở đây và bây giờ.
Và
trong khoảnh khắc đó của im lặng khi suy nghĩ không có, bạn sẽ ở sâu trong tiếp
xúc với cội nguồn riêng của bạn. Và cội nguồn đó là phúc lạc, và cội nguồn đó
là thiêng liêng. Cho nên điều duy nhất cần được làm là làm mọi thứ với tỉnh
táo.
Câu
hỏi cuối cùng:
Khi
nói về Lão Tử thầy trở thành hiền nhân Đạo, khi nói về Mật tông thầy trở thành
người mật tông, khi nói về bhakti thầy trở thành người bhakta chứng ngộ, và khi
nói về Yoga thầy đã trở thành nhà yogi hoàn hảo. Xin thầy giải thích làm sao hiện
tượng này đã trở thành có thể?
Nếu bạn
không có, chỉ thế thì điều đó mới có thể trở thành có thể. Nếu bạn có, thế thì điều
đó không thể trở thành có thể được. Nếu bạn không có, nếu chủ nhà đã hoàn toàn
biến mất, thế thì khách trở thành chủ nhà. Cho nên khách có thể là Lão tử,
khách có thể là Patanjali. Chủ nhà không có đó, cho nên khách chiếm vị trí này
hoàn toàn, người đó trở thành chủ nhà. Nếu bạn không có, thế thì bạn có thể trở
thành Patanjali; không khó khăn gì. Bạn có thể trở thành Krishna, bạn có thể trở
thành Christ. Nếu bạn có đó, thế thì rất khó. Và nếu bạn có đó, bất kì cái gì bạn
nói đều sẽ sai.
Đó là
lí do tại sao tôi nói đây không phải là bình luận. Tôi không bình luận về
Patanjali. Tôi đơn giản vắng mặt, cho phép Patanjali. Cho nên nó không phải là
bình luận.
‘Bình
luận’ nghĩa là, “Patanjali là cái gì đó tách rời, và tôi là cái gì đó tách rời,
và tôi đang bình luận về Patanjali” - nó nhất định bị bóp méo vì làm sao bạn có
thể bình luận về Patanjali được? Bất kì điều gì tôi nói đều sẽ là việc nói của
tôi, và bất kì điều gì tôi nói sẽ là diễn giải của tôi. Nó không thể là của bản
thân Patanjali được. Và điều đó là không tốt. Điều đó mang tính phá huỷ. Cho
nên tôi không bình luận chút nào. Tôi đơn giản cho phép, và việc cho phép này
là có thể nếu bạn không có.
Nếu bạn
trở thành nhân chứng, bản ngã biến mất. Và khi bản ngã biến mất bạn trở thành
phương tiện, bạn trở thành lối chuyển, bạn trở thành chiếc sáo. Và sáo có thể
được đặt lên môi của Patanjali, và sáo có thể được đặt lên môi của Krishna, và
sáo có thể được đặt lên môi của Phật - sáo vẫn còn như vậy. Nhưng khi nó trên
môi Phật, Phật đang tuôn chảy.
Cho nên
đây không phải là bình luận. Điều này là khó hiểu bởi vì bạn không thể cho
phép. Bạn ở bên trong nhiều thế bạn không thể cho phép được bất kì ai. Và đây
không phải là cá thể người. Patanjali không phải là một người: Patanjali là sự
hiện diện. Nếu bạn vắng mặt, sự hiện diện của ông ấy có thể vận hành.
Và nếu
bạn hỏi Patanjali, ông ấy sẽ nói cùng điều đó. Nếu bạn hỏi Patanjali, ông ấy sẽ
không nói rằng những kinh này đã được ông ấy tạo ra. Ông ấy sẽ nói, “Kinh này rất
cổ đại - sanatan.” Ông ấy sẽ nói, “Hàng triệu và hàng triệu người thấy đã thấy
chúng. Tôi chỉ là phương tiện. Tôi vắng mặt và họ nói.” Nếu bạn hỏi Krishna,
ông ấy sẽ nói, “Ta không nói. Đây là thông điệp cổ đại nhất. Nó bao giờ cũng là
vậy.” Và nếu bạn hỏi Jesus, ông ấy sẽ nói, “Ta không còn nữa, ta không ở đó.”
Tại sao
có sự khăng khăng này? Bất kì ai trở thành sự vắng mặt, người trở thành vô ngã,
đều bắt đầu vận hành như phương tiện, như lối chuyển - lối chuyển cho mọi điều
là đúng, lối chuyển cho mọi điều đang ẩn kín trong sự tồn tại, cái có thể tuôn
chảy. Và bạn sẽ có khả năng hiểu bất kì điều gì tôi đang nói chỉ trong những
khoảnh khắc ngay cả bạn sẽ vắng mặt.
Nếu bạn
có đó quá nhiều, bản ngã của bạn có đó, thế thì bất kì cái gì tôi đang nói
không thể chảy được trong bạn. Nó không chỉ là trao đổi trí tuệ. Nó là cái gì
đó sâu hơn.
Nếu bạn
là vô ngã cho dù một khoảnh khắc thôi, thế thì tác động này sẽ được cảm thấy.
Thế thì cái gì đó không biết đã đi vào trong bạn, và trong khoảnh khắc đó bạn sẽ
hiểu. Và không có cách khác để hiểu.
Đủ cho
hôm nay?


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment