Yoga:
Alpha và Omega (Tập 3)
Chương
5. Cái nhìn thuần khiết
Nirvitarka samadhi được đạt tới khi kí ức được làm thuần khiết, và tâm trí có
khả năng thấy bản chất thực của mọi sự không bị vướng cản. Các giải thích được
nêu cho samadhis về savitarka và nirvitarka, cũng giải thích trạng thái cao hơn
của samadhi, nhưng trong những trạng thái cao hơn này của savichara và
nirvichara samadhis, các đối thể của thiền là tinh tế hơn. Phạm vi của samadhi
được kết nối với những đối thể tinh hơn này mở rộng tới giai đoạn vô hình của
năng lượng tinh tế.
Tâm trí
là kí ức; nó giống như máy tính. Để cho chính xác, nó là máy tính sinh học. Nó
tích luỹ mọi thứ được kinh nghiệm, được biết. Qua nhiều kiếp, qua hàng triệu
kinh nghiệm, tâm trí thu thập kí ức. Nó là hiện tượng bao la. Hàng triệu và
hàng triệu kí ức được lưu giữ trong nó; nó là nhà kho lớn.
Mọi kiếp
sống quá khứ của bạn đều được lưu giữ trong nó. Các nhà khoa học nói, ngay cả
trong một phút hàng nghìn kí ức được thu thập, liên tục - không có việc biết của
bạn, tâm trí cứ hoạt động. Ngay cả khi bạn đang ngủ, kí ức vẫn được hình thành.
Ngay cả trong khi bạn ngủ... ai đó kêu và khóc, các giác quan của bạn hoạt động
và thu thập kinh nghiệm này. Bạn có thể không có khả năng nhớ lại nó vào buổi
sáng bởi vì bạn không ý thức, nhưng trong thôi miên sâu nó có thể được gợi ra.
Trong thôi miên sâu, mọi thứ mà bạn đã kinh nghiệm, dù là có chủ ý hay không chủ
ý, tất cả đều có thể được gợi lại - các kiếp sống quá khứ của bạn nữa. Việc trải
rộng đơn giản của tâm trí là thực sự bao la. Nhưng kí ức này là tốt nếu bạn có
thể dùng chúng, nhưng những kí ức này là nguy hiểm nếu chúng bắt đầu dùng bạn.
Tâm trí
thuần khiết là tâm trí mà tâm trí là người chủ của các kí ức riêng của nó. Tâm
trí không thuần khiết là tâm trí mà liên tục bị kí ức gây ấn tượng. Khi bạn
nhìn vào một sự kiện, bạn có thể nhìn mà không diễn giải nó; thế thì tâm thức
là trong tiếp xúc trực tiếp với thực tại. Hay bạn có thể nhìn qua tâm trí, qua
các cách diễn giải; thế thì bạn không trong tiếp xúc với thực tại. Tâm trí là tốt
như một dụng cụ, nhưng nếu tâm trí trở thành sự ám ảnh và tâm thức bị kìm nén bởi
tâm trí, thế thì thực tại cũng sẽ bị kìm nén bởi tâm trí. Thế thì bạn sống
trong maya; thế thì bạn sống trong ảo tưởng.
Bất kì
khi nào bạn nhìn một sự kiện, nếu bạn nhìn nó một cách trực tiếp, ngay lập tức,
không có tâm trí và kí ức chen vào, chỉ thế thì nó mới là sự kiện. Ngoài ra, nó
trở thành diễn giải, và mọi diễn giải đều là giả bởi vì mọi diễn giải đều được
nạp bằng kinh nghiệm quá khứ của bạn. Bạn chỉ có thể thấy những điều mà hài hoà
với kinh nghiệm quá khứ của bạn, bạn không thể thấy được những thứ không trong
hài hoà với kinh nghiệm quá khứ của bạn - và kinh nghiệm quá khứ của bạn không
phải là tất cả. Cuộc sống là lớn hơn kinh nghiệm quá khứ của bạn. Dù tâm trí có
thể lớn đến đâu, nó vẫn chỉ là phần tí hon nếu bạn xét tới toàn thể sự tồn tại
- nhỏ thế. Cái đã biết là rất nhỏ; cái không biết là bao la và vô hạn. Khi bạn
cố biết cái không biết qua cái đã biết thế thì bạn bỏ lỡ vấn đề. Đây là sự
không thuần khiết. Khi bạn cố biết cái không biết bằng cái không biết bên trong
bạn, thế thì có khải lộ.
Chuyện
xảy ra:
Mulla
Nasruddin bắt được một con cá rất, rất to trong sông. Một đám đông tụ tập lại,
bởi vì không ai đã bao giờ thấy con cá to thế. Mulla Nasruddin nhìn con cá,
không thể nào tin nổi điều đó là có thể - con cá to thế! Với đôi mắt lồi ra anh
ta đi quanh con cá, nhưng dầu vậy vẫn không thể nào tin được. Anh ta chạm vào
con cá, những vẫn không thể nào tin được, bởi vì anh đã nghe nói về con cá to
như thế chỉ có trong chuyện cổ tích của người đánh cá. Đám đông cũng đang đứng
đó với những cặp mắt không thể tin được. Thế rồi Mulla Nasruddin nói, “Xin giúp
tôi ném con cá này trở lại sông. Nó không phải là cá, nó là điều dối trá.”
Bất kì
cái gì là thực nó khớp với kinh nghiệm quá khứ của bạn. Nếu nó không khớp, nó
là dối trá. Bạn không thể tin được vào Thượng đế bởi vì nó không khớp với kinh
nghiệm quá khứ của bạn. Bạn không thể tin được vào thiền vì bạn bao giờ cũng sống
trong chợ và bạn chỉ biết thực tại của chợ, của tâm trí tính toán, của tâm trí
kinh doanh. Bạn không biết cái gì về lễ hội - thuần khiết, đơn giản, không có
lí do chút nào, vô nguyên nhân. Nếu bạn đã sống trong thế giới của các nhà khoa
học, bạn không thể tin được rằng có thể có cái gì tự phát bởi vì các nhà khoa học
sống trong thế giới của nhân quả. Mọi thứ đều có nguyên nhân; không cái gì là tự
phát. Cho nên khi nhà khoa học nghe nói rằng cái gì đó là có thể mà tự phát -
khi chúng ta nói tự phát chúng ta ngụ ý rằng nó không có nguyên nhân, đột nhiên
có từ trời xanh - nhà khoa học không thể tin được. Người đó sẽ nói, “Nó không
phải là cá chút nào, nó là dối trá. Ném nó trở lại sông đi.”
Nhưng
những người đã làm việc trong thế giới bên trong biết rằng có hiện tượng mà vô
nguyên nhân. Không chỉ có thế, rằng họ biết điều này; họ biết rằng toàn thể sự
tồn tại là vô nguyên nhân. Nó là một thế giới khác, khác toàn bộ với tâm trí
khoa học.
Bất kì
cái gì bạn thấy, ngay cả trước khi bạn đã nhìn thấy nó, diễn giải này đã đi
vào. Một cách liên tục tôi quan sát mọi người; tôi nói chuyện với họ - nếu nó
khớp, họ thậm chí không nói gì, họ cho tôi cái gật đầu bên trong, “Vâng.” Họ
đang nói: đúng rồi. Nếu nó không khớp với thái độ của họ, họ không nói gì nhưng
cái không được viết ngay lên mặt họ. Sâu bên dưới họ đã bắt đầu nói, “Không, nó
là không đúng.”
Mới đêm
hôm nọ tôi nói chuyện với một người bạn - anh ta đã tới mới chỉ vài ngày trước
đây, rất mới. Anh ta tin vào nhịn ăn, và khi tôi nói với anh ta: Nhịn ăn có thể
là nguy hiểm và bạn không nên cứ theo cách riêng của bạn, bạn nên hỏi chuyên
gia. Và nếu bạn lắng nghe tôi, tôi không ủng hộ nhịn ăn chút nào, bởi vì nhịn
ăn là một loại kìm nén. Thân thể là thực. Đói của thân thể là thực; nhu cầu của
thân thể là thực. Đừng ăn quá nhiều, bởi vì điều đó nữa là chống lại thân thể
và là một loại kìm nén. Và đừng cứ nhịn ăn, bởi vì điều đó nữa là không thực và
điều đó nữa là kìm nén. Điều đó nữa không trong hài hoà với tự nhiên. Đó là lí
do tại sao tôi gọi nó là không thực...
Ai đó bị
ám ảnh với việc ăn thức ăn - người đó điên; và ai đó bị ám ảnh với không ăn thức
ăn - người đó cũng điên. Cả hai đang phá huỷ thân thể họ - những kẻ thù - và nhịn
ăn đã được dùng như một thủ đoạn.
Bất kì
khi nào bạn nhịn ăn, năng lượng của bạn trở nên thấp, phải trở nên thế, bởi vì
thức ăn được cần để giữ cho nó thường xuyên tuôn chảy. Sau ba, bốn ngày nhịn
ăn, năng lượng của bạn thấp tới mức tâm trí không thể nào nhận được đủ năng lượng
từ điều đó, bởi vì tâm trí là xa hoa. Khi thân thể có quá nhiều, thế thì nó cho
tâm trí. Tâm trí là kẻ tới sau, tới rất muộn trên thế giới này. Thân thể là cơ
sở và chủ yếu. Trước hết, nhu cầu thân thể phải được đáp ứng - chỉ thế rồi mới
tới tâm trí.
Nó cũng
giống như khi bạn đói, bạn không thể hỗ trợ được cho triết gia trong thị trấn.
Khi bạn đói triết gia phải đi từ đó; ông ta không thể sống ở đó được. Triết học
chỉ tới khi xã hội phong lưu, giầu có. Tôn giáo tới chỉ khi xã hội là giầu có,
khi nhu cầu cơ sở được đáp ứng. Và cùng điều đó cũng là kinh tế trong thân thể:
thứ nhất là thân thể, thứ hai tới tâm trí. Nếu thân thể đang trong rắc rối và
không có được đủ hạn ngạch cho nó, thế thì hạn ngạch cho tâm trí sẽ lập tức bị
cắt đi.
Và đây
là thủ đoạn mà mọi người đã từng giở ra với thân thể riêng của họ: khi hạn ngạch
cho tâm trí bị cắt bỏ, tâm trí không thể nghĩ được bởi vì việc nghĩ cần năng lượng.
Mọi người nghĩ họ đã trở nên có tính thiền bởi vì tâm trí không có thêm ý nghĩ.
Điều đó là không đúng. Cho chúng thức ăn và ý nghĩ sẽ quay lại. Khi năng lượng
không tuôn chảy, tâm trí trở thành giống như lòng sông mùa hè - sông không chảy
nhưng bờ có đó, mọi thứ đều sẵn sàng. Bất kì khi nào có mưa, sông lại sẽ tuôn
chảy. Bất kì khi nào có năng lượng, rắn sẽ lại ngóc đầu nó lên. Rắng không chết
- đơn giản trong cơn mê vì năng lượng không được cung cấp.
Nhịn ăn
là thủ đoạn để tạo ra trạng thái có tính thiền. Và nhịn ăn cũng là thủ đoạn để
tạo ra brahmacharya hư huyễn, vô dục, bởi vì khi bạn nhịn năng lượng không cao
và trung tâm dục không thể có được năng lượng.
Lại có
câu hỏi về kinh tế: cá nhân sống qua thức ăn, xã hội sống qua dục, giống nòi sống
qua dục. Bạn ở đây bởi vì bố mẹ bạn yêu nhau, đi vào trong dục. Con bạn sẽ ở
đây, bạn sẽ ra đi, nếu bạn đi vào trong dục. Nếu bạn không đi vào trong dục, thế
thì không còn tương lai nữa. Bạn không giúp cho giống nòi được ở đây. Nếu mọi
người trở thành brahmachari, người vô dục, thế thì xã hội sẽ biến mất.
Qua thức
ăn thân thể cá nhân tồn tại; qua dục thân thể của giống nòi tồn tại. Nhưng đầu
tiên là cá nhân, bởi vì nếu cá nhân không có đó thế thì làm sao giống nòi có thể
tồn tại được? Cho nên cá nhân là chính, giống nòi là phụ. Khi bạn đầy năng lượng
và thân thể cảm thấy thoải mái, thế thì lập tức năng lượng được cung cấp cho
trung tâm dục. Bây giờ bạn có đủ và bạn có thể chia sẻ với giống nòi. Khi năng
lượng tuôn chảy thấp, dục biến mất. Nhịn ăn mười ngày, và đến ngày thứ mười bạn
sẽ cảm thấy rằng bạn không quan tâm tới đàn bà. Nếu bạn nhịn ăn dài ngày hơn,
quãng mười lăm ngày, đến ngày thứ mười lăm, ngay cả các tạp chí Playboy và
Playgirl rất đẹp có đó bạn sẽ không có khả năng mở chúng ra. Chúng sẽ nằm đó và
bụi sẽ phủ lên chúng. Bạn sẽ không bị cám dỗ. Đến ngày thứ hai mươi mốt, nếu bạn
tiếp tục nhịn ăn, ngay cả đàn bà trần truồng có thể múa ở đó và bạn sẽ ngồi như
Phật. Không phải là bạn đã trở thành như Phật đâu... chỉ có thức ăn tốt cho một
ngày thôi, và hôm sau bạn quan tâm ngay tới Playboy và Playgirl. Và đến ngày thứ
ba, năng lượng tuôn chảy trở lại; bạn lại quan tâm tới đàn bà.
Thực
ra, các nhà tâm lí học đã làm điều đó thành tiêu chí: nếu đàn ông không quan
tâm tới đàn bà thì cái gì đó là sai. Nếu đàn bà không quan tâm tới đàn ông thì
cái gì đó sai; năng lượng tuôn chảy thấp. Và trong một trăm trường hợp, chín
mươi chín trường hợp họ là đúng, họ là phải. Chỉ với trường hợp thứ một trăm họ
sẽ không đúng bởi vì người đó sẽ là vị Phật - không phải là năng lượng đang
tuôn chảy thấp; năng lượng là cao nhất, tại đỉnh của nó, tại mức lớn nhất của
nó. Nhưng bây giờ người đó là người khác đang đi theo chiều khác, nơi người đó
không quan tâm tới người khác bởi vì người đó đã trở thành được thoả mãn thế với
bản thân mình. Không có chuyển động vì người khác - không phải là năng lượng bị
thiếu.
Khi tôi
đang nói với người mới tới này, tôi có thể thấy trên mặt anh ta rằng anh ta
đang đưa đầu: không. Anh ta đã không nói lấy một lời, nhưng tôi biết rằng anh
ta đang nói rằng “Tôi không thể tin cậy được vào điều này.” Thế rồi anh ta nói,
“Nhưng tôi là người tin vào nhịn ăn, và tôi đã tới đây bởi vì tôi tin vào nhịn
ăn. Bất kì điều gì thầy đang nói, tôi không thể cảm thấy hài hoà với nó.”
Bạn
không thể lắng nghe được bởi vì kí ức; bạn không thể thấy được bởi vì kí ức; bạn
không thể nhìn vào tính giả của thế giới bởi vì kí ức. Kí ức bước vào - quá khứ
của bạn, tri thức của bạn, học hành của bạn, kinh nghiệm của bạn - và chúng tô
mầu thực tại. Thế giới không phải là ảo tưởng, nhưng khi được diễn giải, bạn sống
trong thế giới ảo tưởng. Nhớ lấy điều này.
Người
Hindu nói thế giới là maya, ảo tưởng. Khi họ nói điều đó, họ không ngụ ý thế giới
đang có đó, họ đơn giản ngụ ý thế giới bên trong bạn, thế giới của diễn giải của
bạn. Thế giới của cái giả là không thực; nó là bản thân brahman. Nó là thực tại
tối cao. Nhưng thế giới mà bạn đã tạo ra qua tâm trí và kí ức của bạn và trong
đó bạn sống, cái bao quanh bạn, giống như bầu không khí bao quanh bạn - và bạn
đi cùng nó và ở trong nó - bất kì chỗ nào bạn đi, bạn mang nó quanh bạn. Nó là
hào quang của bạn, và qua nó bạn nhìn vào thế giới. Thế thì bất kì điều gì bạn
đang nhìn vào đều không là sự kiện, nó là diễn giải.
Patanjali
nói:
Nirvitarka
samadhi được đạt tới khi kí ức được làm thuần khiết, và tâm trí có khả năng thấy
bản chất thực của mọi sự không bị vướng cản.
Diễn giải
là chướng ngại. Diễn giải, và thực tại bị mất. Nhìn không có diễn giải và thực
tại có đó, và bao giờ cũng đã từng có đó. Thực tại có đó mọi khoảnh khắc. Làm
sao nó có thể khác được? Thực tại nghĩa là, cái mà là thực. Nó đã không di chuyển
từ chỗ của nó cho dù một khoảnh khắc. Như bạn sống trong diễn giải của bạn và bạn
tạo ra thế giới của riêng bạn. Thực tại là chung, ảo tưởng là riêng.
Bạn phải
đã nghe câu chuyện, một câu chuyện rất cổ, chuyện Ấn Độ cổ đại:
Năm người
mù tới xem voi. Họ chưa bao giờ thấy nó; nó là tuyệt đối mới trong thị trấn.
Voi không tồn tại ở phần nước họ. Tất cả họ đều sờ, tất cả họ đều cảm nhận con
voi, và tất cả họ đều diễn giải bất kì cái gì họ cảm thấy. Họ diễn giải qua
kinh nghiệm của họ. Một người nói, “Voi giống như cột trụ,” vì người đó sờ vào
chân voi - và người đó đúng. Đích thân người đó sờ bằng chính tay người đó, và
thế rồi người đó nhớ tới cột trụ - và đích xác giống như cột trụ. Và cứ thế, cứ
thế, tất cả họ đều diễn giải.
Chuyện
xảy ra ở một trường tiểu học ở Mĩ: một cô giáo kể chuyện này cho lũ con trai và
con gái mà không nói cho chúng rằng năm người đến xem voi là người mù. Và câu
chuyện này nổi tiếng thế, và cô mong đợi rằng lũ trẻ sẽ hiểu. Thế rồi cô hỏi,
“Bây giờ nói cho cô, năm người đó đã tới xem voi là ai?”
Một cậu
bé giơ tay lên và nói, “Dạ các chuyên gia ạ.”
Chuyên
gia bao giờ cũng mù. Cậu bé đó thực sự là người khám phá. Đây là bản chất của
toàn thể câu chuyện. Thực ra, họ đều là chuyên gia bởi vì chuyên gia biết quá
nhiều về cái quá ít. Ông ta trở thành ngày càng hẹp hơn, hẹp hơn, hẹp hơn - gần
như mù với toàn thế giới. Chỉ theo một hướng đặc biệt ông ta mới có mắt; ngoài
ra, ông ta mù. Tầm nhìn của ông ta trở thành cứ hẹp hơn và hẹp hơn và hẹp hơn.
Chuyên gia càng lớn, tầm nhìn càng hẹp. Chuyên gia tuyệt đối phải mù hoàn toàn.
Họ nói rằng chuyên gia là người biết ngày càng nhiều về cái ngày càng ít.
Vài thế
kỉ trước đã có các bác sĩ trị liệu, thầy lang, người biết mọi thứ về thân thể.
Không có chuyên gia. Bây giờ nếu bạn có cái gì đó sai với tim bạn thì bạn đi tới
chuyên gia, cái gì đó sai với răng bạn, bạn đi tới chuyên gia khác. Tôi đã nghe
một câu chuyện rằng một người tới bác sĩ và anh ta nói, “Tôi đang bị khó khăn lắm.
Tôi không thể nhìn rõ được. Mọi thứ cứ dường như trong sương mù.”
Bác sĩ
nói, “Điều đầu tiên nhất đã. Trước hết anh nói với tôi mắt nào gặp khó khăn, bởi
vì tôi là chuyên gia chỉ về mắt phải thôi. Nếu mắt trái anh bị trục trặc, anh
đi sang chuyên gia khác ngồi ngay trước tôi đây.” Chẳng mấy chốc mà chuyên gia
mắt trái và chuyên gia mắt phải sẽ tách rời. Nó phải vậy bởi vì tri thức chuyên
gia trở thành ngày càng hẹp hơn, hẹp hơn. Mọi chuyên gia đều mù, và kinh nghiệm
làm cho bạn thành chuyên gia.
Đẻ biết
thực tại bạn không cần phải là chuyên gia. Để biết thực tại bạn không cần phải
hạn hẹp, riêng biệt. Để hài hoà với thực tại bạn phải bỏ mọi tri thức của bạn,
gạt nó sang bên, và nhìn vào nó với đôi mắt của trẻ thơ không với đôi mắt của
chuyên gia - bởi vì những đôi mắt đó bao giờ cũng mù. Chỉ trẻ thơ mới có mắt thực,
nhìn rộng, nhìn mọi nơi, khắp xung quanh theo mọi hướng - bởi vì nó không biết
gì. Nó di chuyển theo mọi hướng mọi lúc. Khoảnh khắc bạn biết - và bạn bị móc
vào đâu đó. Nếu bạn có thể lại trở thành đứa trẻ lần nữa và có thể nhìn vào thực
tại mà không có chướng ngại, diễn giải, kinh nghiệm, tri thức, tri thức chuyên
gia, thế thì Patanjali nói, nirvitarka samadhi được đạt tới. Bởi vì khi không
có diễn giải, kí ức được làm thuần khiết và tâm trí có khả năng thấy bản tính
thực của mọi sự.
Patanjali
chia samadhi thành nhiều tầng. Thứ nhất ông ấy nói về savitarka samadhi. Nó
nghĩa là: samadhi có lập luận. Bạn vẫn là người lập luận, logic. Thế rồi ông ấy
gọi samadhi thứ hai, nirvitarka: samadhi không lập luận. Bây giờ bạn không
tranh cãi về thực tại. Bạn thậm chí không nhìn vào thực tại bằng tri thức của bạn.
Bạn đơn giản nhìn vào thực tại.
Người
nhìn vào thực tại bằng logic, lập luận, không bao giờ nhìn vào thực tại. Người
đó phóng chiếu tâm trí riêng của mình lên thực tại. Thực tại làm việc như màn ảnh
cho người đó phóng chiếu bản thân mình. Bất kì cái gì bạn phóng chiếu, bạn sẽ
thấy ở đó. Đầu tiên bạn để nó ở đó, và thế rồi bạn thấy nó ở đó. Nó là lừa dối
bởi vì bản thân bạn đặt nó ở đó, và thế rồi bạn thấy nó ở đó. Nó không thực.
Nasruddin
có lần bảo tôi, “Vợ tôi là người đàn bà đẹp nhất trên thế giới.”
Tôi hỏi
anh ta, “Mulla, làm sao anh đi tới biết điều đó?”
Anh ta
nói, “Làm sao á? - đơn giản. Vợ tôi bảo tôi thế!”
Đây là
cách nó cứ diễn ra trong tâm trí: bạn để nó vào trong thực tại, và thế rồi bạn
thấy nó ở đó. Đây là thái độ của tâm trí savitarka. Tâm trí nirvikalpa, tâm trí
nirvitarka, không đặt cái gì; nó đơn giản nhìn vào bất kì cái gì đang là hoàn cảnh.
Tại sao
bạn cứ đặt vào thực tại cái gì đó từ tâm trí bạn? - bởi vì bạn sợ thực tại. Nỗi
sợ sâu sắc về thực tại có đó. Nó có thể là cái không phải là cái thích của bạn.
Nó có thể là cái chống lại bạn - tâm trí bạn - bởi vì thực tại là tự nhiên; nó
không bận tâm bạn là ai. Bạn sợ: thực tại có thể không là điều thoả ước của bạn
cho nên tốt hơn cả là không nhìn nó; cứ nhìn bất kì cái gì bạn muốn. Đây là
cách bạn đã mất nhiều kiếp sống - lừa xung quang. Và bạn không lừa được ai
khác, bạn đang tự lừa mình thôi, bởi vì với diễn giải và phóng chiếu của bạn thực
tại không thể bị thay đổi. Duy nhất bạn chịu khổ không cần thiết. Bạn nghĩ có cửa
và không có cửa; nó là tường và bạn cố đi qua nó. Thế thì bạn chịu đau, thế thì
bạn bị choáng.
Chừng
nào bạn còn chưa thấy thực tại bạn sẽ không bao giờ có khả năng tìm ra cửa của
nhà tù mà trong đó bạn đang ở. Cửa tồn tại, nhưng cửa không thể tồn tại theo
ham muốn của bạn. Cửa tồn tại; nếu bạn bỏ ham muốn bạn sẽ có khả năng thấy nó.
Và đây là rắc rối: bạn cứ đi theo việc thoả ước mong. Bạn cứ tin tưởng và phóng
chiếu, và mọi lần niềm tin bị tan nát và phóng chiếu sụp đổ - bởi vì điều đó sẽ
xảy ra nhiều lần, bởi vì mơ ngày của bạn không thể được hoàn thành bởi thực tại.
Bất kì khi nào mơ bị tan tành, cầu vồng sụp xuống, ham muốn chết đi - bạn khổ.
Nhưng ngay lập tức bạn bắt đầu tạo ra ham muốn khác, cầu vồng khác của ao ước của
bạn. Lần nữa bạn bắt đầu làm cầu vồng mới bắc giữa bạn và thực tại.
Không
ai có thể đi trên cầu vồng được. Nó có vẻ như cầu; nó không phải là cầu. Thực
ra, cầu vồng không tồn tại, nó chỉ xuất hiện. Nếu bạn đi tới đó bạn sẽ không thấy
cầu vồng nào cả. Nó giống như hiện tượng tựa giấc mơ. Sự chín chắn bao gồm
trong việc đã đi tới nhận ra rằng “Bây giờ không phóng chiếu, diễn giải nữa.
Bây giờ tôi sẵn sàng nhìn bất kì cái gì đang là hoàn cảnh.”
Wittgenstein,
một trong nhưng nhà trí thức rất tinh tường của thời đại này, bắt đầu cuốn sách
cực kì có giá trị của ông ấy Tractatus bằng câu, “Thế giới là mọi thứ đang
trong hoàn cảnh. Bạn có thể mơ quanh nó; điều đó sẽ không ích gì. Bạn dừng việc
mơ lại và nhìn xem. Thế giới là mọi thứ đang trong hoàn cảnh.” Bạn đừng phí
hoài không cần thiết cuộc sống và thời gian và năng lượng của bạn trong việc cố
gắng nhìn cái gì đó mà không có đó. Dừng việc mơ lại và nhìn vào thực tại đi.
Đó là
nghĩa của nirvitarka samadhi, samadhi không có lập luận nào. Nó chỉ là cái nhìn
thuần khiết. Bạn không suy luận về nó, bạn đơn giản nhìn nó. Bạn không làm gì về
nó, bạn đơn giản cho phép nó ở đó và xuyên thấu vào bạn. Trong savitarka
samadhi bạn cố xuyên thấu vào thực tại. Trong nirvitarka samadhi bạn cho phép
thực tại xuyên thấu vào bạn. Trong savitarka samadhi bạn cố làm cho thực tại
tương ứng với bạn. Trong nirvitarka samadhi bạn cố, bản thân bạn, tương ứng
theo thực tại.
Các giải
thích được nêu cho samadhis về savitarka và nirvitarka, cũng giải thích trạng
thái cao hơn của samadhi, nhưng trong những trạng thái cao hơn này của
savichara và nirvichara samadhis, các đối thể của thiền là tinh tế hơn.
Thế rồi
Patanjali đem vào hai từ khác, savichara và nirvichara. Savichara nghĩa là với
suy tư, và nirvichara nghĩa là không suy tư. Chúng là những trạng thái cao nhất
của cùng hiện tượng mà ông ấy gọi là savitarka và nirvitarka. Savitarka
samadhi, nếu được tuân theo, sẽ trở thành savichara.
Nếu bạn
nghĩ một cách logic, và cứ nghĩ, và cứ nghĩ, logic có biên giới cho nó, nó là
không vô hạn. Logic không thể vô hạn được; thực ra, logic phủ nhận mọi vô hạn.
Logic bao giờ cũng ở biên giới, chỉ thế thì nó mới có thể vẫn còn là logic, bởi
vì với vô hạn cái phi logic bước vào, với vô hạn điều huyền bí bước vào, với vô
hạn điều kì diệu bước vào. Với việc bước vào này, cái hộp của Pandora* mở ra.
Cho nên logic chưa bao giờ nói về vô hạn; logic nói mọi thứ đều hữu hạn, có thể
được định nghĩa. Mọi thứ đều ở bên trong các biên giới, có thể được hiểu. Logic
bao giờ cũng sợ vô hạn, nó có vẻ như là bóng tối bao la; logic run rẩy khi đi
vào trong nó. Logic giữ bản thân nó ở trên đường xa lộ, nó chưa bao giờ đi vào
nơi hoang dã. Trên xa lộ mọi thứ là an toàn và bạn biết nơi bạn đi. Một khi bạn
bước sang bên đường và đi vào nơi hoang dã bạn không biết bạn đi đâu. Logic là
nỗi sợ rất sâu.
Nếu bạn
hỏi tôi, logic là kẻ hèn lớn nhất. Những người dũng cảm bao giờ cũng đi ra
ngoài logic. Những người hèn bao giờ cũng còn bên trong giam hãm của logic.
Logic là nhà tù, được trang hoàng đẹp. Nhưng nó không giống như bầu trời bao
la. Bầu trời không được trang điểm chút nào; nó là không trang hoàng, nhưng nó
bao la. Nó là tự do, và tự do có cái đẹp riêng của nó; nó không cần trang điểm.
Bầu trời là đủ cho bản thân nó. Nó không cần hoạ sĩ vẽ cho nó, không nhà trang
điểm nào để trang điểm cho nó. Chính tính bao la của nó là cái đẹp của nó.
Nhưng tính bao la cũng là tuyệt vời, bởi vì nó mênh mông thế. Tâm trí đơn giản
chùn lại trước nó, tâm trí dường như yếu ớt thế. Bản ngã bị tan tành trước nó,
cho nên bản ngã tạo ra nhà tù đẹp của logic, định nghĩa - mọi thứ rõ ràng, mọi
thứ đều được biết, từ kinh nghiệm - và đóng cửa nó lại với cái không biết; làm
ra thế giới của bản thân nó, một thế giới tách rời, một thế giới riêng tư.
* Trong
thần thoại Hy Lạp, đó là một chiếc hộp các thần trên đỉnh núi Olympus đã tặng
cho nàng Pandora - người phụ nữ đầu tiên đến thế giới loài người. Nàng Pandora
đã được các thần dặn kĩ rằng không được mở chiếc hộp đó ra. Nhưng vì tò mò,
Pandora đã mở chiếc hộp ra và tất cả những điều bất hạnh từ hộp đó tràn ngập khắp
thế gian: thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… Chiếc hộp chỉ còn sót lại một chút
“ hy vọng” mang tên Pandora cho loài người để có thể tiếp tục sống.
Thế giới
đó không thuộc về cái toàn thể; nó đã bị cắt ra. Mọi mối quan hệ với cái toàn
thể đã bị cắt ra.
Đó là
lí do tại sao logic sẽ không bao giờ dẫn bất kì ai tới điều thiêng liêng bởi vì
logic là con người, và nó đã phá vỡ mọi cây cầu với điều thiêng liêng. Điều
thiêng liêng là hoang dại; nó là điều bí ẩn và cực kì bí ẩn. Nó là bí ẩn lớn mà
không thể được giải quyết. Nó không phải là câu đố mà bạn có thể giải được, nó
là điều bí ẩn. Bản chất của nó là tới mức nó không thể được giải. Nhưng nếu bạn
cứ tiếp tục suy nghĩ một cách logic, sẽ tới một khoảnh khắc mà bạn đạt tới biên
giới của logic. Nếu bạn cứ suy nghĩ thêm nữa và thêm nữa, thế thì tư duy logic
đổi thành suy tư, thành vichar.
Bước đầu
tiên là tư duy logic, và nếu bạn tiếp tục bước cuối cùng sẽ là suy tư. Nếu triết
gia tiếp tục, cứ đi nữa, không bị mắc kẹt ở đâu đó, ông ấy nhất định trở thành
nhà thơ một ngày nào đó vì khi biên giới được vượt qua, đột nhiên có thơ ca.
Thơ ca là suy tư; nó là vichar.
Nghĩ nó
theo cách này: triết gia logic ngồi trong vườn và ngắm hoa hồng. Ông ấy diễn giải
nó, ông ấy phân loại nó - ông ấy biết đây là kiểu hoa hồng gì, nó tới từ đâu,
sinh lí của hoa hồng, hoá chất của hoa hồng: ông ấy nghĩ về mọi thứ một cách
logic. Ông ấy phân loại nó, định nghĩa nó, làm việc loanh quanh - thực ra, chưa
bao giờ chạm vào hoa hồng chút nào. Đi loanh quanh và loanh quanh, lòng vòng,
nói quanh co, bỏ hoa hồng ở đó. Bởi vì logic không thể chạm vào hoa hồng được.
Nó có thể cắt hoa hồng, nó có thể để hoa hồng vào ngăn kéo, nó có thể phân loại,
nó có thể dán nhãn - nhưng nó không thể chạm vào hoa hồng.
Hoa hồng
sẽ không cho phép logic chạm vào nó. Và cho dù logic muốn, điều đó là không thể
được. Logic không có tim và chỉ tim mới có thể chạm vào hoa hồng. Hoa hồng sẽ
không cho phép bí ẩn của nó tới với cái đầu bởi vì đầu chỉ như kẻ cưỡng hiếp -
và hoa hồng tự mở bản thân nó cho tình yêu, không cho cưỡng hiếp.
Khoa học
là cưỡng hiếp; thơ ca là tình yêu. Nếu ai đó tiếp tục, như Einstein, thế thì
triết gia hay nhà khoa học hay nhà logic học trở thành nhà thơ. Einstein đã trở
thành nhà thơ trong những ngày cuối đời của ông ấy. Eddington đã trở thành nhà
thơ trong những ngày cuối đời của ông ấy. Họ đã bắt đầu nói về điều bí ẩn. Họ
đã đi tới biên giới của logic. Những người bao giờ cũng vẫn còn là logic là những
người đã không đi tới chính phạm vi, tới chính tận cùng của suy luận logic của
họ. Họ không thực là logic. Nếu họ thực sự đi, thế thì một khoảnh khắc nhất định
tới nơi logic chấm dứt và thơ ca bắt đầu.
‘Vichar’
là suy tư. Nhà thơ làm gì? - ông ấy suy tư. Ông ấy chỉ nhìn vào hoa, ông ấy
không nghĩ về nó. Đây là phân biệt, rất tinh tế: nhà logic nghĩ về hoa, nhà thơ
nghĩ hoa, không về nó. Và ‘về nó’ không phải là hoa. Bạn có thể nói và nói về
nó, nhưng điều đó không phải là hoa. Nhà logic đi vòng, nhà thơ đi thẳng và đem
tới chính thực tại của 'hoa'. Với nhà thơ, hoa hồng là hoa hồng là hoa hồng là
hoa hồng - không ‘về’. Ông ấy đi vào trong, trong hoa. Bây giờ kí ức không được
đem vào. Tâm trí bị gạt sang bên; nó là tiếp xúc trực tiếp.
Đây là
giai đoạn cao hơn của cùng một hiện tượng. Phẩm chất đã trở nên được làm tinh,
nhưng hiện tượng vẫn là một.
Đó là
lí do tại sao Patanjali nói:
Các giải
thích được nêu cho samadhis về savitarka và nirvitarka, cũng giải thích trạng
thái cao hơn của samadhi, nhưng trong những trạng thái cao hơn này của
savichara và nirvichara samadhis, các đối thể của thiền là tinh tế hơn.
Trong
savichara, nhà thơ - và bất kì ai vào trong savichara đều trở thành nhà thơ -
nghĩ hoa. Không phải về nó, mà ngay lập tức và trực tiếp; nhưng vẫn có phân
chia. Nhà thơ là tách rời khỏi hoa. Nhà thơ là chủ thể và hoa là đối thể. Nhị
nguyên tồn tại. Nhị nguyên là không được siêu việt: nhà thơ đã không trở thành
hoa, hoa đã không trở thành nhà thơ. Người quan sát là người quan sát, và cái
được quan sát vẫn là cái được quan sát. Người quan sát đã không trở thành cái
được quan sát; cái được quan sát đã không trở thành người quan sát. Nhị nguyên
tồn tại.
Trong
savichara samadhi, logic đã bị vứt bỏ, nhưng không vứt nhị nguyên. Trong
nirvichara samadhi, ngay cả nhị nguyên cũng bị vứt bỏ. Người ta đơn giản nhìn
vào hoa, không nghĩ về bản thân mình và không nghĩ về hoa; không nghĩ chút nào.
Đó là nirvichara: không có suy tư, bên ngoài suy tư. Người ta đơn giản ở cùng
hoa, không nghĩ về, không nghĩ - không như nhà logic không như nhà thơ.
Bây giờ
tới nhà huyền môn, người đơn giản ở cùng hoa. Bạn không thể nói rằng ông ấy
nghĩ về, hay ông ấy nghĩ. Không, ông ấy đơn giản hiện hữu cùng. Ông ấy cho phép
hoa được hiện hữu đó và cho phép bản thân ông ấy hiện hữu ở đó. Trong khoảnh khắc
đó của việc cho phép đột nhiên sự thống nhất tới. Hoa không còn là hoa, và người
quan sát không còn là người quan sát. Đột nhiên năng lượng gặp gỡ và quyện lẫn
và trở thành một. Bây giờ nhị nguyên được siêu việt lên. Hiền nhân này không biết
ai là hoa và ai đang quan sát nó. Nếu bạn hỏi hiền nhân, nhà huyền môn, ông ấy
sẽ nói, “Tôi không biết. Có thể là hoa đang quan sát tôi. Có thể là tôi đang
quan sát hoa. Điều đó thay đổi,” ông ấy sẽ nói, “điều đó còn tuỳ. Và thỉnh thoảng,
không có cả ta không có cả hoa. Cả hai biến mất. Chỉ một năng lượng được thống
nhất còn lại. Ta trở thành hoa và hoa trở thành ta.” Đây là trạng thái của
nirvichara, của không suy tư nhưng hiện hữu.
Savitarka
là bước thứ nhất, nirvitarka là bước cuối cùng theo cùng một hướng. Savichara
là bước thứ nhất, nirvichara là bước cuối cùng theo cùng hướng - trên hai bình
diện. Nhưng Patanjali nói cùng lời giải thích đó áp dụng được. Cái cao nhất,
mãi cho tới nay, là nirvichara.
Patanjali
sẽ đi tới giai đoạn cao hơn nữa, bởi vì ít thứ hơn phải được giải thích, và ông
ấy đi rất chậm, bởi vì nếu ông ấy đi rất nhanh sẽ không thể nào để cho bạn hiểu
được. Ông ấy đi ngày càng sâu hơn mọi khoảnh khắc. Ông ấy đang đưa bạn, dần dần,
tới đại dương vô hạn, từng bước một. Ông ấy không phải là người tin vào đốn ngộ
- phải dần dần, đó là lí do tại sao hấp dẫn của ông ấy là lớn thế.
Nhiều
người đã tồn tại, những người đã nói về đốn ngộ, nhưng họ đã không hấp dẫn quần
chúng bởi vì điều đơn giản không thể tin nổi rằng đốn ngộ là có thể. Tilopa có
thể nói điều đó, nhưng đó không phải là vấn đề - rằng Tilopa nói điều đó. Vấn đề
là: mọi người có hiểu điều đó không? - đó là lí do tại sao nhiều Tilopa đã biến
mất. Hấp dẫn củaPatanjali tiếp tục, bởi vì không ai có thể hiểu những hoa dại
đó như Tilopa. Họ đột nhiên biến mất khỏi trời xanh và họ nói, “Đột nhiên, ông
cũng có thể trở thành giống chúng ta.” Điều này là không thể lĩnh hội được. Dưới
nhân cách từ lực của họ, bạn có thể nghe họ, nhưng bạn không thể tin được họ.
Khoảnh khắc bạn rời khỏi họ bạn sẽ nói, “Người này đang nói cái gì đó ở bên
ngoài mình. Nó đi qua đầu mình.”
Các
Tilopa đã sống, đã nói, đã thử, nhưng họ đã không có khả năng giúp được nhiều
người. Hiếm khi ai đó sẽ hiểu họ. Đó là lí do tại sao Tilopa phải đi tới Tây Tạng
để tìm đệ tử - nước bao la này, và ông ấy không thể tìm được một đệ tử - và Bồ
đề đạt ma phải đi sang Trung Quốc để tìm đệ tử. Đất nước cổ đại này, trong hàng
nghìn năm làm việc về chiều hướng tôn giáo, và ông ấy đã không thể tìm ra được
một đệ tử! Vâng... khó cho Tilopa, khó cho Bồ đề đạt ma tìm ra một đệ tử.
Tìm ai
đó người có thể hiểu được Tilopa là khó vì ông ấy nói về mục đích, và ông ấy
nói, “Không có đường và không có phương pháp.” Ông ấy đứng trên đỉnh núi và ông
ấy nói, “Không có đường.” Và bạn đang đứng ở thung lũng - tăm tối, ẩm ướt,
trong khổ của bạn - bạn nhìn vào Tilopa và bạn nói, “Có thể đấy... nhưng làm
sao, làm sao người ta đạt tới...?” Bạn cứ hỏi, “Làm sao?”
Krishnamurti
cứ nói với mọi người không có phương pháp và sau mỗi buổi nói mọi người lại hỏi,
“Thế thì làm sao? Thế thì làm sao đạt tới?” Và ông ấy đơn giản nhún vai và trở
nên cáu, “Tôi đã bảo các ông không có phương pháp, cho nên đừng có hỏi làm sao,
bởi vì làm sao lại là hỏi về phương pháp.” Và đây không phải là những người mới,
người hỏi. Krishnamurti có những người đã từng nghe ông ấy trong ba mươi, bốn
mươi năm. Bạn sẽ thấy những người rất già, cổ đại trong buổi nói của ông ấy. Họ
đã từng nghe ông ấy liên tục; họ nghe ông ấy một cách tôn giáo. Họ bao giờ cũng
tới - bất kì khi nào ông ấy có đó, họ bao giờ cũng tới và họ nghe. Bạn sẽ thấy
gần như cùng khuôn mặt trong bao nhiêu năm đó, và họ cứ hỏi đi hỏi lại từ thung
lũng của họ, “Nhưng làm sao?” - và Krishnamurti đơn giản nhún vai và nói,
“Không có làm sao. Ông đơn giản hiểu, và ông đạt tới. Không có đường.”
Tilopa,
Bồ đề đạt ma, Krishnamurti, họ tới và đi; họ không giúp gì mấy. Những người
nghe họ thích nghe họ - cho dù đi tới hiểu biết trí tuệ nào đó - nhưng họ vẫn
còn trong thung lũng. Bản thân tôi đã bắt gặp nhiều người nghe Krishnamurti,
nhưng tôi chưa bao giờ thấy một người nào đã đi ra ngoài thung lũng của mình bằng
việc nghe ông ấy. Người đó vẫn còn trong thung lũng, bắt đầu nói như
Krishnamurti, có vậy thôi; bắt đầu nói cho người khác rằng không có đường và
không có lối, và vẫn còn trong thung lũng.
Patanjali
đã là giúp đỡ vô biên, vô song. Hàng triệu người đã đi qua thế giới này bởi
giúp đỡ của Patanjali bởi vì ông ấy không nói theo hiểu biết của ông ấy, ông ấy
đi cùng bạn. Và khi hiểu biết của bạn tăng trưởng, ông ấy đi ngày càng sâu hơn
và sâu hơn; Tilopa muốn đệ tử này đi theo ông ấy. Patanjali đi tới bạn; Tilopa
muốn bạn đi tới ông ấy. Và, tất nhiên, Patanjali cầm tay bạn và dần dần ông ấy
đưa bạn tới đỉnh cao nhất có thể được, về điều Tilopa nói nhưng không thể đưa
được, vì ông ấy sẽ không bao giờ tới thung lũng của bạn. Ông ấy sẽ vẫn còn ở
trên đỉnh núi và sẽ cứ kêu từ chỗ đó. Thực ra, ông ấy sẽ làm cho nhiều người
phát cáu vì ông ấy sẽ không dừng. Ông ấy sẽ cứ hô lên từ đỉnh, “Điều này là có
thể! Và không có đường, và không có phương pháp. Các ông đơn giản tới, Nó xảy
ra; các ông không thể làm được.” Ông ấy chọc tức.
Khi
không có phương pháp, mọi người phát cáu và họ muốn ông ấy thôi đi, đừng có hô
lên nữa. Bởi vì nếu không có đường, thế thì làm sao đi từ thung lũng tới đỉnh
được? Bạn đang nói điều vô nghĩa! Nhưng Patanjali rất nhạy cảm, rất lành mạnh,
ông ấy đi từng bước một, đưa bạn từ nơi bạn đang hiện hữu; và đi tới thung
lũng, cầm tay bạn và nói, “Từng bước một thôi, lấy các bước đi.”
Patanjali
nói, “Có đường chứ. Có phương pháp chứ.” Và ông ấy thực sự rất, rất khôn ngoan.
Dần dần, ông ấy sẽ thuyết phục bạn đến cuối rằng bỏ phương pháp và bỏ con đường
đi - chả có gì cả - nhưng chỉ ở lúc cuối, tại chính đỉnh, ngay khi bạn đã đạt tới.
Khi ngay cả Patanjali bỏ bạn, cũng không có rắc rối gì; bạn sẽ đích thân đạt tới.
Vào khoảnh khắc cuối ông ấy trở thành vô lí. Bằng không, ông ấy là hợp lí. Ông ấy
vẫn còn hợp lí cả ngày tới mức khi ông ấy trở thành vô lí, thế nữa ông ấy vẫn hấp
dẫn, thế nữa ông ấy vẫn có vẻ rất hợp lí. Bởi vì một người như Patanjali không
thể nói điều vô nghĩa. Ông ấy là tin cậy được.
Giải
thích được nêu về samadhis của savitarka and nirvitarka, cũng giải thích trạng
thái cao hơn của samadhi, nhưng trong những trạng thái cao hơn này của
savichara và nirvichara samadhis, các đối thể của thiền là tinh tế hơn.
Các giải
thích được nêu cho samadhis về savitarka và nirvitarka, cũng giải thích trạng
thái cao hơn của samadhi, nhưng trong những trạng thái cao hơn này của
savichara và nirvichara samadhis, các đối thể của thiền là tinh tế hơn.
Dần dần,
đối thể của thiền phải được làm ngày càng tinh tế hơn. Chẳng hạn, bạn có thể
thiền về tảng đá, hay bạn có thể thiền về hoa, hay bạn có thể thiền về hương
hoa, hay bạn có thể thiền về thiền nhân. Và thế thì mọi sự trở nên tinh tế...
và tinh tế... và tinh tế.... Chẳng hạn, bạn có thể thiền về âm Aum. Thiền đầu
tiên là nói nó to để cho nó vang vọng khắp quanh bạn. Nó trở thành ngôi đền âm
thanh quanh bạn: “Aum, aum, aum.” Bạn tạo ra rung động khắp quanh bạn - thô, bước
thứ nhất. Thế rồi bạn ngậm miệng lại. Bây giờ bạn không nói nó to: bên trong bạn
nói: “Aum, aum, aum. ” Môi không được phép chuyển động, thậm chí cả lưỡi cũng
không. Không lưỡi không môi, bạn nói aum. Bây giờ bạn tạo ra bầu không khí bên
trong, khí hậu bên trong của aum. Đối thể đã trở nên tinh tế. Thế rồi bước thứ
ba: bạn thậm chí không nhẩm nó, bạn đơn giản nghe nó. Bạn đổi vị trí - từ người
làm, bạn chuyển sang tính thụ động của người nghe. Ở trạng thái thứ ba bạn cũng
không phát âm aum bên trong, bạn đơn giản ngồi và bạn nghe âm này. Nó tới bởi
vì nó có đó. Bạn không im lặng; đó là lí do tại sao bạn không thể nghe thấy nó.
Aum
không phải là lời của ngôn ngữ con người. Nó không có nghĩa gì. Đó là lí do tại
sao người Hindu không viết nó trong thứ tự chữ cái thông thường. Không, họ đã
làm một hình dạng tách rời cho nó chỉ để phân biệt nó, rằng đây không phải là một
phần của bảng chữ. Nó tồn tại theo cách riêng của nó, tách rời, và nó ngụ ý cái
không. Nó không phải là lời của ngôn ngữ con người. Nó là âm của chính bản thân
sự tồn tại; âm của vô âm, âm của im lặng. Khi mọi thứ là im lặng thế thì nó được
nghe thấy. Cho nên bạn trở thành người nghe. Nó cứ diễn ra, ngày càng tinh tế
hơn. Và ở giai đoạn thứ tư bạn đơn giản quên về mọi thứ: người làm, và người
nghe, và âm thanh - mọi thứ. Trong giai đoạn thứ tư có cái không.
Bạn phải
đã thấy mười bức tranh chăn bò của Thiền. Trong bức tranh thứ nhất một người
đang đi tìm bò - bò đi đâu đó trong rừng hoang, không dấu hiệu, không vết chân
- chỉ nhìn khắp xung quanh, toàn cây là cây. Ở bức tranh thứ hai anh ta có vẻ hạnh
phúc hơn - dấu chân đã được tìm thấy. Ở bức thứ ba anh ta dường như có chút ít
ngơ ngác - mỗi lưng bò được thấy ló ra gần cây, nhưng khó phân biệt. Rừng hoang,
rậm rạp. Có thể đó chỉ là ảo giác mà anh ta thấy lưng bò; có đó chỉ là một phần
của cây, và anh ta phóng chiếu... Thế rồi ở bức thứ tư, anh ta tóm được đuôi
bò. Ở bức thứ năm, anh ta đã kiểm soát được nó bằng chiếc roi; bây giờ con bò ở
trong quyền lực của anh ta. Ở bức thứ sáu, anh ta cưỡi lên con bò. Ở bức thứ bẩy,
anh ta quay về nhà với chiếc sáo, hát bài ca, cưỡi trên bò. Ở bức thứ tám, bò
trong ổn định, anh ta đang về nhà, hạnh phúc; bò đã được tìm thấy. Ở bức thứ
chín, không có gì; bò đã tìm được, và bò và người tìm kiếm, người tìm kiếm và
cái được tìm, cả hai đã biến mất. Việc tìm kiếm xong rồi.
Vào thời
cổ đã có chín bức tranh. Nó là một bộ hoàn chỉnh. Cái trống rỗng là bức cuối
cùng. Nhưng thế rồi một thầy vĩ đại đã thêm bức tranh khác. Bức thứ mười - người
này trở lại, lại có đó. Và trong bức thứ mười không chỉ người này trở lại, người
này đã đi ra chợ để mua vài thứ, và không chỉ vài thứ, người này đang mang một
chai rượu. Điều này thực sự hay. Đây là sự đầy đủ. Nếu nó chấm dứt ở trống rỗng,
cái gì đó là không đầy đủ. Người này lại trở lại, và không chỉ trở lại, người
đó ở trong chợ. Không chỉ trong chợ, người này đã mua chai rượu.
Cái
toàn thể trở nên ngày một tinh tế hơn, ngày một tinh tế hơn. Một khoảnh khắc tới
khi bạn cảm thấy nó là hoàn hảo, tinh tế nhất. Khi mọi thứ trở thành trống rỗng
và không có tranh, người tìm kiếm và cái tìm kiếm cả hai đã biến mất. Nhưng đây
không thực sự là chấm dứt. Vẫn còn một điều tinh tế. Người này quay lại thế giới
được biến đổi toàn bộ. Người này không còn là cái ta cũ - được tái sinh, và khi
bạn được tái sinh, thế giới cũng không còn như cũ. Rượu là rượu không còn nữa,
chất độc là chất độc không còn nữa, chợ là chợ không còn nữa. Bây giờ mọi thứ
được chấp nhận. Nó là đẹp. Bây giờ người đó đang mở hội. Đó là biểu tượng: rượu.
Việc
tìm kiếm trở thành ngày một tinh tế hơn, và tâm thức trở nên ngày một mạnh hơn.
Và một khoảnh khắc tới khi tâm thức là mạnh tới mức bạn sống như người thường
trong thế giới, không sợ hãi. Nhưng đi cùng Patanjali từng bước một. Các đối thể
của thiền là ngày một tinh tế hơn.
Phạm vi
của samadhi được kết nối với những đối thể tinh hơn này mở rộng tới giai đoạn
vô hình của năng lượng tinh tế.
Đây là
bức tranh thứ chín. Phạm vi của samadhi mà được kết nối với những đối thể mịn
hơn này trở thành ngày càng mịn hơn, và một khoảnh khắc tới khi hình dạng biến
mất và nó là vô hình dạng.
...mở rộng
tới giai đoạn vô hình của năng lượng tinh tế.
Năng lượng
là tinh tế thế bạn không thể làm ra bức tranh từ chúng, bạn không thể khắc
chúng được; duy nhất cái trống rỗng có thể chỉ ra chúng: số không - bức tranh
thứ chín. Dần dần bạn sẽ hiểu cách các tranh còn lại bước vào.
Patanjali
- tôi gọi ông ấy là nhà khoa học của thế giới tôn giáo, nhà toán học của huyền
môn, nhà logic học của phi logic. Hai cái đối lặp gặp gỡ trong ông ấy. Nếu nhà
khoa học đọc kinh yoga của Patanjali ông ấy sẽ hiểu ngay lập tức. Một
Wittgenstein, một tâm trí logic, sẽ lập tức cảm thấy đồng cảm với Patanjali.
Ông ấy tuyệt đối logic. Và nếu ông ấy dẫn bạn tới phi logic, ông ấy dẫn bạn vào
trong các bước logic mà bạn chưa bao giờ biết khi ông ấy đã bỏ logic và đưa bạn
ra ngoài nó.
Ông ấy
đi như triết gia, nhà tư tưởng, và làm phân biệt tinh tế tới mức khoảnh khắc
ông ấy đưa bạn vào trong nirvichara, vào trong vô suy tư, bạn sẽ không thể có
khả năng quan sát khi nào bước nhảy đã được lấy. Ông ấy đã cắt việc nhảy thành
nhiều bước nhỏ.
Với
Patanjali bạn sẽ không bao giờ cảm thấy sợ, bởi vì ông ấy biết bạn sẽ cảm thấy
sợ ở đâu. Ông ấy cắt ra các bước ngày càng nhỏ hơn, gần như bạn đi trên đất bằng.
Ông ấy đưa bạn chậm tới mức bạn không thể quan sát được khi nào cú nhảy đã xảy
ra, khi nào bạn đã vượt qua biên giới. Và ông ấy cũng là nhà thơ, nhà huyền môn
- tổ hợp rất hiếm hoi.
Có những
nhà huyền môn như Tilopa, có những nhà thơ lớn như các rishis của Upanishads,
có những nhà logic lớn như Aristotle, nhưng bạn không thể tìm ra được một
Patanjali. Ông ấy là tổ hợp tới mức kể từ khi ông ấy hiện hữu không ai có thể
được so sánh với ông ấy. Rất dễ dàng là nhà thơ bởi vì bạn được làm từ một mảnh.
Rất dễ dàng là nhà logic - bạn được làm từ một mảnh. Gần như không thể nào là một
Patanjali vì bạn bao hàm nhiều cái đối lập thế - và ông ấy tổ hợp chúng tất cả
trong một hài hoà đẹp thế. Đó là lí do tại sao ông ấy đã trở thành alpha và
omega của toàn thể truyền thống yoga.
Thực
ra, không phải là ông ấy đã phát minh ra yoga; yoga là cổ đại hơn nhiều. Yoga
đã có đó trong nhiều thế kỉ trước Patanjali. Ông ấy không phải là người khám
phá, nhưng ông ấy gần như trở thành người khám phá và người sáng lập chỉ bởi vì
tổ hợp hiếm hoi này của nhân cách của ông ấy. Nhiều người đã làm việc trước ông
ấy và gần như mọi thứ đã được biết tới, nhưng yoga vẫn phải đợi một Patanjali.
Và đột nhiên, khi Patanjali nói về nó, mọi thứ rơi vào hàng lối và ông ấy trở
thành người sáng lập. Ông ấy đã không là người sáng lập, nhưng nhân cách của
ông ấy là tổ hợp các mặt đối lập thế, ông ấy có thể chứa trong bản thân mình những
phần tử không thể nào hiểu thấu, ông ấy đã trở thành người sáng lập - gần như
người sáng lập. Bây giờ yoga bao giờ cũng sẽ được biết cùng với Patanjali.
Kể từ
Patanjali, nhiều người đã lại làm việc và nhiều người đã đạt tới những góc mới
của thế giới của yoga, nhưng Patanjali sừng sững như đỉnh Everest. Dường như
không thể có chuyện bất kì ai đã bao giờ có khả năng vươn lên cao hơn Patanjali
- gần như không thể được; bởi vì tổ hợp hiếm hoi này là không thể được. Là nhà
logic và là nhà thơ và là nhà huyền môn, và không phải là tài năng bình thường...
Điều đó là có thể: bạn có thể là nhà logic, nhà logic lớn, và là nhà thơ rất
thường. Bạn có thể là nhà thơ lớn và nhà logic thường, hạng ba - điều đó là có
thể, điều đó không rất khó. Patanjali là nhà logic thiên tài, nhà thơ thiên
tài, và nhà huyền môn thiên tài; Aristotle, Kalidas, Tilopa tất cả được buộc lại
thành một - do đó mới có hấp dẫn.
Cố hiểu
Patanjali sâu nhất có thể được đi, bởi vì ông ấy sẽ giúp cho bạn. Các Thiền sư
sẽ không giúp được mấy đâu. Bạn có thể tận hưởng họ - hiện tượng đẹp. Bạn có thể
kính nể, bạn có thể tràn đầy sự ngạc nhiên, nhưng họ sẽ không giúp cho bạn. Hiếm
hoi mới có người có khả năng trong các bạn, người có thể nhận dũng cảm và nhảy
vào trong vực thẳm. Patanjali sẽ giúp đỡ nhiều. Ông ấy có thể trở thành rất nền
tảng của bản thể bạn, và ông ấy có thể dẫn bạn đi, dần dần. Ông ấy hiểu bạn nhiều
hơn bất kì ai khác. Ông ấy nhìn bạn và ông ấy cố gắng nói ngôn ngữ mà người cuối
cùng trong các bạn sẽ có khả năng hiểu được. Ông ấy không chỉ là thầy, ông ấy
là thầy giáo vĩ đại nữa.
Các nhà
giáo dục biết rằng thầy giáo vĩ đại không phải là người có thể được hiểu chỉ bởi
vài học sinh hàng đầu trong lớp, những người ngồi hàng ghế đầu, bốn hay năm người
trong một lớp năm mươi người. Người đó không phải là thầy giáo vĩ đại. Thầy
giáo vĩ đại là người có thể được hiểu bởi người ngồi hàng ghế cuối cùng.
Patanjali không chỉ là thầy, ông ấy cũng là thầy giáo nữa.
Krishnamurti
là thầy, Tilopa là thầy - nhưng không là thầy giáo. Họ có thể được hiểu chỉ bởi
người cao nhất. Đây là vấn đề - người cao nhất không cần hiểu. Họ có thể đi bằng
cách riêng của họ. Cho dù không có Krishnamurti họ sẽ đi vào trong đại dương và
đạt tới bờ bên kia; vài ngày sớm hay muộn, có vậy thôi. Người ngồi hàng ghế cuối
cùng, người không thể đi theo cách riêng của họ - Patanjali là dành cho họ. Ông
ấy bắt đầu từ chỗ thấp nhất và ông ấy đạt tới chỗ cao nhất. Giúp đỡ của ông ấy
là cho tất cả mọi người. Ông ấy không dành cho vài người được chọn.
Đủ cho
hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment