Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 2)
Chương
5. Trong rác của lề đường
Hương
của đàn hương,
đỗ
quyên, hay nhài,
không
thể đi ngược chiều gió.
Nhưng
hương của đức hạnh vẫn đi ngược chiều gió,
xa
tới tận cùng thế giới.
Hương
của đức hạnh cao quí hơn nhiều so với
hương
của đàn hương, đỗ quyên, của sen xanh, hay nhài!
Hương
của đàn hương hay đỗ quyên không đi xa.
nhưng
hương của đức hạnh bay lên trời.
Ham
muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường của người đức hạnh và thức tỉnh.
Sáng
dạ làm cho họ tự do.
Hoa
sen mọc duyên dáng làm sao trong rác rưởi của lề đường.
Hương
thuần khiết của nó làm thích thú trái tim.
Đi
theo người đã thức tỉnh và từ trong những người mù ánh sáng của trí huệ của bạn
sẽ
chiếu sáng hoàn toàn bên ngoài.
Con
người không phải là hiện hữu mà chỉ là sự trở thành. Con người là quá trình, sự
trưởng thành, khả năng, tiềm năng. Còn người vẫn chưa là thực tại. Con người phải
hiện hữu, con người phải đạt tới. Con người được sinh ra không phải như
điều bản chất mà chỉ như sự tồn tại... một không gian lớn nơi nhiều điều có thể
xảy ra, hay chẳng cái gì có thể xảy ra - mọi điều đó đều phụ thuộc vào bạn.
Con
người phải tạo ra bản thân mình. Con người không phải là thứ đã được làm sẵn,
con người không được cho sẵn. Và việc sáng tạo phải là tự sáng tạo - không ai
khác có thể làm ra bạn được. Bạn không phải là một vật, một thứ hàng hoá; bạn
không thể được sản xuất hay chế tạo. Bạn phải tự tạo ra bản thân mình, bạn phải
trở thành được thực tỉnh về phần riêng của mình, không ai có thể đánh thức bạn
dậy được.
Đây
là cao thượng của con người, vinh quang của con người, rằng con người là sinh
linh duy nhất trên trái đất, không chỉ là sinh linh mà còn là tự do để hiện hữu.
Mọi sinh linh khác đều đã bị cố định, theo hình mẫu. Chúng đem theo bản thiết kế
tổng thể, và chúng đơn giản tuân theo bản thiết kế đó. Vẹt sẽ trở thành vẹt,
chó sẽ trở thành chó, sư tử sẽ trở thành sư tử; không có chuyện sư tử là ai đó
khác. Nhưng với con người điều liên quan là hỏi liệu người đó có thực sự là con
người không.
Từng
con sư tử đều thực sự là sư tử, và từng con voi cũng là con voi, nhưng con người
là dấu chấm hỏi. Con người có thể là con người, có thể không. Con người có thể
rơi xuống thấp hơn con vật, và con người có thể vươn cao trên các thần. Trạng
thái tối thượng trên các thần đó là phật tính - thức tỉnh, thức tỉnh tối thượng,
việc nhận ra tiềm năng của bạn trong tính toàn bộ của nó.
Vị
phật ở trên các thần. Đây là một trong những lí do mà người Hindus đã không thể
dung thứ được Phật Gautama, bởi vì ông ấy nói rằng phật ở trên các thần. Các thần
cũng ngủ; tất nhiên, mơ của họ đẹp, mơ của họ không phải là ác mộng; họ sống
trên cõi trời. Các kiếp sống của họ chỉ toàn hoan lạc. Cõi trời không là gì
ngoài chủ nghĩa khoái lạc thuần tuý, chính ý tưởng là khoái lạc. Địa ngục là
chính cái đối lập. Địa ngục là đau đớn, cõi trời là hoan lạc; địa ngục là ác mộng,
cõi trời là mơ dịu ngọt. Nhưng mơ là mơ; dù dịu ngọt hay cay đắng, không thành vấn
đề gì.
Các
thần cũng ngủ và mơ những giấc mơ đẹp. Vị phật thức tỉnh, ông ấy không còn mơ nữa.
Kinh sách Phật giáo nói: Ngày Siddhartha Gautam trở thành phật
các
thần từ trên trời tới để tôn sùng ông ấy, để rửa chân ông ấy. Người Hindus
không thể tha thứ được ý tưởng này, bởi vì với họ các thần ở trên cõi trời -
Indra và các thần khác - đều là tối cao nhất rồi. Và nhìn vào cao ngạo của Phật
tử, những người nói các thần từ cõi trời tới để rửa chân cho một người.
Phật
giáo đã nâng nhân loại lên đỉnh cao nhất của nó. Không tôn giáo nào khác đã làm
điều đó. Con người trở thành trung tâm của sự tồn tại. Thượng đế không phải là
trung tâm của sự tồn tại, theo Phật, mà chính là người đã trở nên chứng ngộ.
Ngoại vi bao gồm những người ngủ và mù, và trung tâm bao gồm những người có mắt,
người đã thức tỉnh. Thượng đế đơn giản bị loại bỏ đi; họ không còn liên quan nữa.
Điều Nietzsche đã làm hai nghìn năm sau, Phật đã làm rồi.
Một
nhà thơ lớn, Chandidas, rất bị ấn tượng bởi Phật Gautam - và ai không bị ấn tượng
bởi con người này được? Ông ấy đã nói: Sabar upar manus satya, tahar upar nahin
- chân lí của con người là chân lí cao nhất, không có chân lí nào khác cao hơn
cái đó. Nhưng để tôi nhắc bạn lần nữa: khi Phật nói về con người, ông ấy nói về
người đã chứng ngộ, không về bạn - bạn chỉ đang trên đường thôi, bạn chỉ đang
trong quá trình. Bạn là hạt mầm.
Hạt
mầm có thể có bốn khả năng. Hạt mầm có thể vẫn còn là hạt mầm mãi mãi, khép
kín, không cửa sổ, không trong giao cảm với sự tồn tại, chết, bởi vì sống có
nghĩa là giao cảm với sự tồn tại. Hạt mầm là chết, nó chưa được trao đổi với đất,
với trời, với khí, với gió, với mặt trời, với các vì sao. Nó chưa làm nỗ lực
nào để có đối thoại với tất những cái đang tồn tại. Nó hoàn toàn đơn độc, bị
bao vây, bị gói gọn trong bản thân nó, bị bao quanh bởi Trường Thành Trung Quốc.
Hạt mầm sống trong nấm mồ riêng của nó.
Khả
năng thứ nhất là ở chỗ hạt mầm có thể vẫn còn là hạt mầm. Điều đó là rất không
may mắn - con người có thể vẫn còn đơn giản là hạt mầm. Với mọi tiềm năng có
trong tay bạn, với mọi phúc lành sẵn sàng mưa rào lên bạn, bạn có thể chẳng bao
giờ mở ra cánh cửa của mình.
Khả
năng thứ hai là ở chỗ hạt mầm có thể đủ dũng cảm, có thể chìm sâu vào trong đất,
có thể chết đi như một bản ngã, có thể vứt bỏ lớp áo giáp của nó, có thể bắt đầu
giao cảm với sự tồn tại, có thể trở thành một với đất. Dũng cảm lớn được cần tới,
bởi vì ai biết được? - cái chết này có thể là tối hậu, có thể không có việc
sinh theo sau nó nữa. Cái gì là đảm bảo? Không có đảm bảo nào cả; đó là mạo hiểm.
Chỉ vài người thu được đủ dũng cảm mới dám mạo hiểm, mới dám liều mạng.
Làm
sannyasin là việc bắt đầu của mạo hiểm. Bạn đang mạo hiểm cuộc đời mình, bạn
đang mạo hiểm bản ngã mình. Bạn đang liều mạng bởi vì bạn đang vứt bỏ mọi an
ninh của mình, mọi thu xếp an toàn cho mình. Bạn đang mở ra các cửa sổ... ai biết
ai sẽ vào - bạn hay thù? Ai biết? Bạn trở nên mong manh. Đó là điều tính chất
sannyas tất cả là gì. Đó là điều Phật đã dạy trong cả đời ông ấy. Bốn mươi hai
năm liên tục, biến đổi các hạt mầm thành cây cối - đó là công việc của ông ấy -
biến đổi người thường thành sannyasins.
Sannyasin
là cây, mầm mới nhú lên - mềm mại, tinh tế. Hạt mầm chẳng bao giờ trong nguy hiểm,
nhớ lấy. Nguy hiểm gì có thể có đó cho hạt mầm? Nó được bảo vệ tuyệt đối. Nhưng
cây bao giờ cũng trong nguy hiểm, cây rất mềm mại. Hạt mầm giống như hòn đá, cứng
rắn, ẩn đằng sau lớp vỏ cứng. Nhưng cây phải trải qua cả nghìn lẻ một mối nguy.
Đó là giai đoạn thứ hai: hạt mầm tan biến vào trong đất, con người biến mất như
một bản ngã, biến mất như một cá tính, trở thành cây.
Khả
năng thứ ba, thậm chí còn hiếm hoi hơn, bởi vì không phải mọi cây cối đều đạt tới
chiều cao đó nơi chúng có thể nở hoa, cả nghìn lẻ một hoa... Rất ít người đạt tới
giai đoạn thứ hai, và rất ít trong số những người đã đạt tới giai đoạn hai, đạt
tới giai đoạn ba, giai đoạn của hoa. Tại sao họ không thể đạt tới giai đoạn thứ
ba, giai đoạn của hoa? Bởi vì tham lam, bởi vì keo kiệt, họ không sẵn sàng chia
sẻ… bởi vì trạng thái không có tình yêu.
Dũng
cảm là cần để trở thành cây, và tình yêu là cần để trở thành hoa. Hoa nghĩa là
cây đang mở trái tim nó ra, toả ra hương thơm của nó, đem tặng linh hồn nó, rót
sự hiện hữu của nó vào trong sự tồn tại. Hạt mầm có thể trở thành cây mặc dầu
khó vứt vỏ áo giáp, nhưng theo cách nào đó điều này là đơn giản. Hạt mầm sẽ chỉ
thu lấy ngày một nhiều hơn, tích luỹ ngày một nhiều hơn; hạt mầm chỉ lấy từ đất.
Cây chỉ lấy từ nước, từ không khí, từ mặt trời; tham lam của nó không bị quấy rối,
mà ngược lại, tham vọng của nó được hoàn thành. Nó cứ trở nên ngày một lớn hơn.
Nhưng một thời điểm tới khi bạn đã lấy quá nhiều đến mức bây giờ bạn phải chia
sẻ. Bạn đã được ích lợi nhiều thế, bây giờ bạn phải phục vụ. Thượng đế đã cho bạn
nhiều thế, bây giờ bạn phải cám ơn, phải biết ơn chứ - và cách duy nhất để biết
ơn là làm mưa rào kho báu của bạn xuống, cho chúng trở với sự tồn tại, hào
phóng như sự tồn tại đã từng hào phóng với bạn. Thế thì cây phát triển thành
hoa, nó nở hoa.
Và
giai đoạn thứ tư là giai đoạn của hương thơm. Hoa vẫn còn thô, nó vẫn còn là vật
chất, nhưng hương thơm là tinh tế, nó gần như cái gì đó phi vật chất. Bạn không
thể thấy được nó, nó là vô hình. Bạn chỉ có thể ngửi được nó, bạn không thể nắm
bắt nó, bạn không thể ôm được nó. Chính hiểu biết nhạy cảm được cần tới để có đối
thoại với hương thơm. Và bên ngoài hương thơm chẳng có gì cả. Hương thơm biến mất
vào trong vũ trụ, trở thành một với nó.
Đây
là bốn giai đoạn của hạt mầm, và đây là bốn giai đoạn của con người nữa. Đừng vẫn
còn là hạt mầm. Thu lấy dũng cảm - dũng cảm vứt bỏ bản ngã, dũng cảm vứt bỏ an
ninh, dũng cảm vứt bỏ an toàn, dũng cảm là mong manh. Nhưng thế thì cũng đừng vẫn
còn là cây, bởi vì cây không hoa nghèo nàn lắm. Cây không hoa là trống rỗng,
cây không hoa là đang thiếu đi cái gì đó rất tinh tuý. Nó không có cái đẹp -
không tình yêu không có cái đẹp. Và chỉ qua hoa mà cây mới biểu lộ tình yêu của
nó. Nó đã lấy bao nhiêu thứ từ mặt trời và mặt trăng và từ đất rồi; bây giờ đến
lúc nó cho!
Cuộc
sống bao giờ cũng phải đạt tới cân bằng. Bạn đã lấy nhiều rồi, bây giờ cho nó
đi. Trở thành hoa đi! Chỉ khi bạn trở thành hoa mới có khả năng biến mất như
hương thơm. Nhưng thế nữa, nhớ lấy, đừng vẫn còn là đoá hoa khép kín, đừng vẫn
còn là nụ; bằng không thì hương thơm của bạn sẽ không toả ra được. Và chừng nào
hương thơm của bạn chưa toả ra, bạn không tự do, bạn vẫn trong tù túng.
Tù
túng này Phật gọi là sansara - thế giới. Và ông ấy gọi tự do, tự do của hương
thơm, là niết bàn: dừng toàn bộ, biến mất, tan biến. Bộ phận biến mất vào trong
toàn thể, giọt sương tuột vào trong đại dương và trở thành đại dương. Ngày bạn
biến mất và trở thành đại dương là ngày theo một nghĩa nào đó bạn không còn nữa,
và theo nghĩa khác bạn hiện hữu lần đầu tiên - bạn đã đạt tới tính hiện hữu.
Tính
hiện hữu này mới là tính thượng đế thực. Tính hiện hữu này, kinh nghiệm đại
dương kết tinh này, là giải thoát, cứu rỗi, moksha, kaivalya, niết bàn. Bạn có
thể dùng bất kì từ nào bạn muốn dùng nhưng chúng tất cả đều mang cùng một
nghĩa: tự do tuyệt đối của linh hồn, không biên giới, không giới hạn.
Lời
kinh:
Hương
của đàn hương,
đỗ
quyên, hay nhài,
không
thể đi ngược chiều gió.
Hiển
nhiên! Hương của đàn hương, đỗ quyên hay nhài là một phần của thế giới vật chất.
Nó chỉ có thể đi cùng gió, không đi ngược được gió. Nó phải tuân theo luật của
vật chất. Nó là vật chất. Bởi vì nó phải tuân theo luật của vật chất nên nó
không thực sự tự do - tự do chỉ theo nghĩa tương đối. Hương này tự do hơn hoa,
hoa tự do hơn cây, cây tự do hơn hạt mầm. Nhưng những tự do này chỉ là tương đối,
không tuyệt đối.
Và
Phật nói, nhớ lấy: mục tiêu là tự do tuyệt đối, siêu việt lên trên mọi luật.
Chính chỉ trong việc siêu việt lên trên mọi luật mà bạn sẽ trở thành một phần của
luật tối thượng: Aes dhammo sanantano. Chính chỉ bằng việc siêu việt lên trên mọi
giới hạn của vật chất thô mà bạn sẽ có khả năng trở thành vô hạn như bầu trời.
Chừng
nào bạn chưa trở thành vũ trụ bạn vẫn chưa đạt tới tiềm năng của mình. Bạn được
ngụ ý trở thành vũ trụ, và bạn đã trở thành con người nhỏ bé, bị giới hạn, gần
như bạn đang sống trong xà lim tù đày, tối tăm và ảm đạm, không cửa ra vào,
không cửa sổ, sự tồn tại xấu xí, bị bao quanh bởi đủ mọi loại bệnh hoạn - bản
ngã, tham lam, giận dữ, thèm khát, ghen tị, sở hữu. Đây là những bạn đồng hành
của bạn. Bạn đã kinh nghiệm hương thơm nào trong cuộc đời?
Bạn
chưa biết tới tình yêu không thèm khát. Bạn chưa biết tới bất kì trạng thái nào
nơi không giới hạn nào tồn tại. Bạn bị trói buộc vào một số luật rất thô. Bạn
là một phần của lực hút, bạn vẫn chưa biết gì về ân huệ. Bạn cứ đi xuống mãi, bởi
vì những luật hút đó cứ kéo bạn xuống. Bạn không biết cách vươn lên, bay bổng
lên. Bạn không biết gì về bay lên cả.
Trong
khoa học, họ không nói về bay lên, họ chỉ nói về hút, kéo xuống. Nhưng đây là
hiện tượng đơn giản thế cần hiểu, rằng trong tự nhiên mọi thứ đều được cân bằng
bởi cực đối lập của nó. Nếu có lực kéo xuống, lực hút, sẽ phải có lực kéo lên để
cân bằng nó - đó là bay lên. Theo ngôn ngữ thơ ca hơn nó được gọi là ân huệ.
Có
hai luật: luật hút, luật của đất, thô, vật chất; và luật của ân huệ, luật
thiêng liêng, điều Phật gọi là luật thiêng liêng - aes dhammo sanantano - luật
vĩnh hằng, không cạn, luật thiêng liêng, cái kéo bạn lên.
Hương
của đàn hương,
đỗ
quyên, hay nhài,
không
thể đi ngược chiều gió.
Nó
có những giới hạn tuyệt đối nào đó, nó chỉ có thể cưỡi lên gió. Nó không thể có
ý chí riêng của nó, nó không thực sự tự do. Chừng nào bạn chưa thể tồn tại
trong tự do toàn bộ, cái gì đó vẫn còn thiếu. Nếu bạn phải tuân theo luật, thế
thì bạn là tù nhân. Luật có thể cho bạn chiếc dây vừa đủ, nhưng dẫu sao bạn vẫn
cứ là tù nhân.
Đó
là cách mọi sự là vậy: nếu chiếc dây vừa đủ được trao cho bạn, bạn quên mất nhà
tù. Chẳng hạn, cái gọi là các quốc gia - Ấn Độ, Pakistan, Nhật Bản, Đức - đây tất
cả đều là những nhà tù lớn, nhưng chúng lớn tới mức bạn không thể thấy được
biên giới nhà tù của mình. Đi ngang qua biên giới quốc gia mình và bạn sẽ thấy
rằng mình quả là tù nhân. Nhưng nhà tù đủ lớn; bạn có thể đi trong nhà tù này tới
bất kì chỗ nào bạn muốn. Nhưng cứ bước ra khỏi nhà tù này, thử đi vào nhà tù
khác mà xem, và thế thì bạn sẽ thấy giới hạn.
Đây
là những nhà tù nhân tạo; đủ lớn đến mức chúng có thể cho bạn cảm giác giả tạo
về tự do, nhưng không có tự do. Chừng nào mọi quốc gia chưa biến mất khỏi thế
giới, trái đất sẽ vẫn còn là nô lệ, nhân loại sẽ vẫn còn trong tù, nhỏ hay lớn.
Nhưng không khác biệt gì việc nhà tù rất lớn và bạn không thể nào thấy được bức
tường bao quanh nó... Bức tường có thể rất tinh vi - về hộ chiếu hay visa - bức
tường có thể rất tinh vi, bạn có thể không thấy chúng, nhưng chúng có đó. Bạn
không được tự do di chuyển.
Gần
như mọi hiến pháp của thế giới đều nói rằng tự do di chuyển là quyền tập ấm của
mọi người, nhưng điều đó chỉ được viết trong sách vở, điều đó là không đúng. Bạn
không thể di chuyển tự do được. Nếu bạn muốn sang Nga, không thể được; nếu bạn
muốn vào Trung Quốc, không thể được.
Các
quốc gia đã trở thành những nhà tù lớn thế, và các tổng thống của bạn và cái gọi
là các thủ tướng của bạn tất cả đều không là gì khác hơn các cai tù. Những người
vẫn nói về tự do không là gì khác hơn cảnh sát. Họ nói họ đang canh gác cho sự
an toàn riêng của bạn, nhưng thực ra họ là cai tù đang theo dõi để bạn không thể
trốn thoát được.
Tôi
đã nghe:
Một
ông già Nga sắp chết, và ông ấy nghe tiếng gõ trên cửa. Ông ấy hỏi, "Ai đấy?"
Và
một giọng nói rất ma quỉ cất lên, "Thần chết."
Ông
già Nga nói, "Cám ơn Thượng đế! Tôi cứ tưởng đấy là cảnh sát chìm."
Và
có những nhà tù bên trong nhà tù kiểu như cái hộp Trung Quốc - hộp bên trong hộp...
Ấn Độ là một nhà tù lớn; thế rồi có người Hindus và người Mô ha mét giáo và người
Ki tô giáo và người Sikhs và người Jainas và Phật tử - bây giờ đây là những nhà
tù nhỏ. Người Ki tô giáo có thể đi nhà thờ, người đó không thể tới đền thờ được;
người Hindu có thể tới đền thờ, người đó không thể tới nhà thờ. Người đó đã được
dạy và được ước định rằng nhà thờ không phải là chỗ có tính tôn giáo; người Ki
tô giáo đã được bảo rằng nhà thờ là chỗ đúng duy nhất để tới - mọi tôn giáo
khác đều là sai, và mọi tôn giáo khác đều dẫn bạn đi lạc lối. Chừng nào bạn
chưa là người Ki tô giáo bạn không thể được cứu. Và thế rồi trong Ki tô giáo có
Cơ đốc giáo và Tin lành, và trong Tin lành và Cơ đốc giáo có những giáo phái
con ngày một nhỏ hơn. Và nhà tù trở thành ngày một nhỏ hơn.
Rồi
có các nhà tù chính trị: ai đó là người cộng sản và ai đó là người xã hội, và
ai đó là người tư bản... vân vân và vân vân. Và bạn không thoả mãn ngay cả với
những điều này: thế rồi bạn làm ra câu lạc bộ Rotary, câu lạc bộ Lions... Khát
khao của bạn để là tù nhân mạnh tới mức bạn không thể đơn giản là một con người
được. Bạn phải là một người của Rotary và bạn tự hào tuyên bố, "Tôi là người
của Rotary,"
"Tôi
là người của Lion." Bạn không được thoả mãn với việc đơn giản là một con
người, bạn phải là người của Lion. Và thế rồi có những ngăn còn nhỏ hơn nữa.
Thay
vì chui ra khỏi những xà lim nhà tù này, chúng ta cứ trang hoàng cho chúng,
chúng ta cứ làm cho chúng ngày một tiện nghi hơn. Chúng ta đang sống dưới luật
hút, chúng ta đang sống như tù nhân. Chúng ta không thể đi ngược chiều gió được
- cuộc sống chúng ta là thô. Phật nói: nhận biết về điều đó: ông đang làm gì với
cuộc sống của ông? Cân nhắc lại, thiền về nó, điều bạn đã làm cho bản thân
mình.
Nhưng
hương của đức hạnh vẫn đi ngược chiều gió, xa tới tận cùng thế giới.
Phật
nói: Nhưng có việc nở hoa của bản thể bên trong của bạn, cái đẹp hơn cả đàn
hương, đỗ quyên hay nhài. Cái đẹp của nó là tự do tuyệt đối của nó. Nó có thể
đi ngược chiều gió. Người đức hạnh thực sự sống trong tự do; người đó không
tuân theo điều răn dạy nào, người đó không tuân theo kinh sách nào, người đó
không tuân theo bất kì ai khác ngoài ánh sáng bên trong riêng của mình. Người
đó sống theo trái tim của mình - người đó là người nổi dậy.
Nhưng
Phật đang nói về hương của đức hạnh thật. Ông ấy không nói về cái gọi là chính
đáng, ông ấy không nói về cái gọi là "con người có cá tính", cái gọi
là các thánh nhân và mahatma của bạn - ông ấy không nói về họ. Họ không phải là
người tự do. Thực ra, hương của đàn hương, đỗ quyên và nhài còn tự do hơn nhiều
cái gọi là các thánh nhân của bạn. Họ sống theo các luật nhân tạo. Hương của
đàn hương, hương của các loại hoa, ít nhất cũng tuân theo các luật của tự
nhiên. Nhưng các thánh nhân của bạn, cái gọi là những người đức hạnh của bạn, họ
tuân theo luật nhân tạo - luật do những kẻ mù làm ra, luật do những người dốt
nát làm ra, luật do những người chưa thức tỉnh làm ra, những người không biết
gì về nhận biết cả.
Ai
làm ra luật của bạn? Ai làm ra Hiến pháp của bạn? Ai chịu trách nhiệm cai quản
xã hội và thu xếp và quản lí xã hội? Chính những người mù như bạn, có thể có học
hơn, có thể có hiểu biết hơn. Nhưng không có gì khác biệt liệu người mù có hiểu
biết hơn về ánh sáng hay ít hiểu biết hơn về ánh sáng - người mù là người mù.
Quan sát các thánh nhân của bạn mà xem, và bạn sẽ ngạc nhiên! - họ sống tù túng
sâu hơn nhiều so với người thường.
Một
sư Jaina muốn tới gặp tôi. Ông ta gửi một thông điệp rằng ông ta đã từng khao
khát gặp tôi trong nhiều năm, và bây giờ ông ấy ở trong thành phố này và ông ấy
muốn gặp tôi. Nhưng các tín đồ của ông ấy không cho phép ông ấy, người Jainas
không cho phép ông ấy tới công xã này. Bây giờ người này là loại thánh nhân gì
mà các tín đồ quyết định được nơi ông ấy phải đi và nơi ông ấy phải không đi?
Nhưng có thu xếp lẫn nhau: các tín đồ gọi ông ấy là thánh nhân, họ tôn thờ ông ấy,
bây giờ ông ấy phải nhân nhượng, thoả hiệp. Ông ấy phải theo các tín đồ.
Cái
gọi là các thánh nhân và người lãnh đạo của bạn đều là tín đồ của các tín đồ của
riêng họ. Đó là một thế giới ngu xuẩn thế, nực cười thế, toàn thể tình huống
này. Trên bề mặt dường như là các thánh nhân là nhân tố quyết định; ông ấy cho
mọi người lời khuyên để theo ông ấy. Nhưng nếu bạn nhìn sâu xuống dưới, bạn sẽ
ngạc nhiên - ông thánh này đang tuân theo các tín đồ riêng của mình. Thực ra, họ
quyết định. Và họ có quyền lực quyết định bởi vì họ có thể tôn thờ bạn và họ có
thể sỉ nhục bạn. Họ có thể tôn thờ bạn nếu bạn theo họ, nếu bạn đi theo các ý
tưởng, định kiến mà họ đang mang trong tâm trí họ; bằng không bạn không còn là
thánh nhân nữa. Họ có thể hạ bệ bạn - họ có quyền đưa bạn lên tới bậc thánh hay
hạ bệ bạn xuống thành tội nhân. Nếu bạn muốn là thánh nhân bạn phải tuân theo đủ
mọi loại ngu xuẩn. Bạn có thể biết sâu bên dưới rằng điều này là ngu xuẩn.
Tôi
đã gửi cho ông ấy một thông điệp nói, "Điều này là ngu xuẩn, lố bịch! Sao
ông phải hỏi tín đồ của ông? Tín đồ là ai, ông hay họ? Sao ông phải hỏi họ?"
Ông
ấy nói, "Thầy phải đấy, nhưng tôi phải phụ thuộc vào họ. Vào tuổi tôi đây,
tôi không thể rời bỏ được họ bởi vì tôi chưa bao giờ làm việc trong đời mình.
Tôi bị phụ thuộc vào họ từ thức ăn, quần áo, mọi thứ."
Bây
giờ bạn thấy thu xếp đấy. Điều này được gọi là tâm linh, và việc thu xếp là tài
chính!
Người
đức hạnh thực sự chắc chắn tự do, và tự do tới mức người đó có thể đi ngược chiều
gió, người đó có thể đi ngược toàn thể xã hội, người đó có thể đi ngược toàn thể
quá khứ, người đó có thể đi ngược mọi tập tục. Thực ra người đó làm vậy - bởi
vì đi ngược mọi tập tục và quá khứ chết người đó xác nhận tự do của mình.
Chính
bởi vì điều này mà tôi bị kết án trên khắp nước này và bây giờ, dần dần trên khắp
thế giới. Lí do duy nhất là ở chỗ họ muốn tôi đi cùng chiều gió, họ muốn tôi
chính thống, theo tập tục. Họ sẵn sàng tôn thờ tôi, họ đã nhiều lần tới tôi nói
rằng nếu tôi có thể đơn giản tuân theo tôn giáo truyền thống thì họ sẽ tôn thờ
tôi như thánh nhân. Tôi nói, "Tôi không quan tâm tới việc được tôn thờ hay
là thánh nhân. Tôi đơn giản muốn là bản thân mình. Và tôi không định thoả hiệp
với bất kì ai, dù người đó là ai. Thoả hiệp không phải là cách thức của
tôi."
Bởi
vì tôi đi ngược chiều gió nên họ bực mình lắm. Nhưng nếu bạn mà đức hạnh... và
đức hạnh là gì? Nó không phải là cá tính nào đó được trau dồi từ bên ngoài. Đức
hạnh là hương thơm của tính thiền, đức hạnh là hương thơm của hoa của thiền; do
đó, tôi nói nó không phải là ngay thẳng đạo đức, nó không là đạo đức.
Tôi
đã nghe:
Gái
điếm thành phố ở Jerusalem bị ném đá. Khi Jesus nói, "Để ai trong số các vị
không có tội lỗi nào ném hòn đá đầu tiên," một bà già lẩy bẩy mang một hòn
đá lớn, thả nó vào đầu gái điếm và lên tiếng chê bai con mụ dâm đãng.
Jesus
nhìn xuống và nói, "Bà biết đấy, thưa mẹ, đôi khi bà thực sự làm tôi bực
mình."
Người
ngay thẳng, người đạo đức, người khắt khe đạo đức bao giờ cũng sẵn sàng... thực
ra toàn thể vui vẻ của người đó là làm sao lên án, làm sao tống ngày một nhiều người
xuống địa ngục, làm sao đóng đinh mọi người, làm sao giết và phá huỷ. Người đó
thực sự khổ sở, người đó thực sự là tự bạo, người đó thực sự trải qua đủ mọi loại
khổ hạnh ngu xuẩn, chỉ để tận hưởng cảm giác của tính cao siêu, cảm giác của việc
đạo đức hơn người khác, cảm giác rằng "Các ông tất cả đều là tội nhân còn
ta đây là thánh nhân."
Vị
thánh thực có phẩm chất hoàn toàn khác. Ông ấy không đạo đức; ông ấy biết cách
tha thứ, bởi vì ông ấy biết Thượng đế đã tha thứ cho ông ấy nhiều thế. Ông ấy
biết những giới hạn của con người, bởi vì bản thân ông ấy đã chịu đựng qua những
giới hạn con người đó. Ông ấy có thể tha thứ. Ông ấy hiểu biết.
Người
đạo đức không bao giờ hiểu, người đó không bao giờ tha thứ; người đó không thể
tha thứ được bởi vì người đó đã từng hà khắc với bản thân mình. Người đó đã đạt
tới cái gọi là tính cách của mình với những khó khăn đến mức vui vẻ duy nhất,
thoải mái duy nhất người đó có thể có được là ở việc đạo đức hơn bạn. Làm sao
người đó có thể tha thứ được? Nếu người đó tha thứ thế thì người đó không thể tận
hưởng cuộc hành trình bản ngã mà người đó đang đi.
Người
khổ hạnh là người bản ngã nhất trên thế giới. Người đức hạnh không phải là người
khổ hạnh.
Câu
chuyện này được kể về bản thân Phật:
Trong
sáu năm khi ông ấy rời bỏ cung điện của mình ông ấy đã sống qua những cách khổ
hạnh lớn lao - đó là cách thức truyền thống của việc tìm kiếm chân lí. Ông ấy
đã hành hạ thân thể mình, ông ấy nhịn ăn, ông ấy nhịn ăn tới mức tương truyền
ông ấy trở nên gầy còm giơ xương; bạn có thể đếm được các xương sườn của ông ấy.
Ông ấy trở thành khẳng khiu đến mức dạ dầy ông ấy dính lưng - chẳng có gì còn
giữa dạ dày và lưng cả. Ông ấy trở nên yếu đến mức ông ấy không thể vượt
qua được con sông nhỏ, sông Niranjana. Tôi đã từng tới chỗ đó để xem. Sông
Niranjana là con sông nhỏ, và lúc đó không phải là mùa mưa, nhưng ông ấy đã
không thể vượt qua sông được, ông ấy không thể bơi qua sông được. Ông ấy phải cực
kì yếu.
Hôm
đó, một khải lộ lớn lao đã xảy ra cho ông ấy: "Mình đã làm những việc bạo
hành không cần thiết cho bản thân mình." Ông ấy có năm tín đồ; họ tất cả đều
là người khổ hạnh và họ đã trở thành tín đồ của Phật bởi vì ông ấy đi xa trước
họ. Họ chỉ có thể làm chừng đó, nhưng ông ấy đã làm nhiều lần hơn; do đó họ mới
là tín đồ. Tối hôm đó Phật quyết định, "Hành hạ thân thể là ngu xuẩn, và
làm sao các ông đạt tới được linh hồn bằng việc hành hạ thân thể? Dường như chẳng
có mối quan hệ logic nào." Và ông ấy thấy, "Nếu ta thậm chí không thể
vượt qua được con sông này, con sông Niranjana bé tẹo, làm sao ta vượt qua được
đại dương thế giới khổng lồ này? Thân thể cần thức ăn, thân thể cần nuôi dưỡng,
thân thể cần sức mạnh, để cho ta có thể thiền, để cho ta có thể suy tư, để cho
ta có thể truy tìm, với y mê, nhiệt tình, nghị lực."
Ông
ấy quyết định vứt bỏ mọi khổ hạnh. Năm tín đồ của ông ấy lập tức rời bỏ ông ấy.
Họ nói, "Gautam đã sa ngã khỏi trạng thái thiêng liêng của ông ấy, ông ấy
không còn là thánh nhân nữa." Họ bỏ ông ấy ngay lập tức; họ không ở cùng
ông ấy nữa. Họ đã ở với ông ấy chỉ vì phong cách sống tự bạo của ông ấy - bản
thân họ cũng phải là những kẻ tự bạo.
Và
Phật Gautam đã trở nên chứng ngộ ngày hôm sau. Vứt bỏ mọi khổ hạnh, vứt bỏ mọi
xung đột bên trong không cần thiết, cuộc nội chiến đó, ông ấy đã trở nên yên
tĩnh, im lặng tới mức sáng hôm sau ông ấy có thể thấy, ông ấy đã trở nên cảm nhận.
Trong im lặng của mình, mọi rối loạn, mọi tán gẫu đều biến mất. Vào sáng sớm
khi mặt trời lên, ông ấy bắt đầu vươn lên bên trong bản thể mình. Ông ấy đã thức
tỉnh, ông ấy đã trở thành vị phật.
Đức
hạnh bắt nguồn từ im lặng, từ tính thiền, từ thảnh thơi - không từ nỗ lực,
không từ căng thẳng, không từ vật lộn. Ông ấy đã đi tìm năm tín đồ cũ của mình
để cho họ thông điệp: "Đừng tự hành hạ mình nữa. Điều này chẳng liên quan
gì tới điều thiêng liêng cả. Điều này chẳng liên quan gì tới tôn giáo cả."
Thiền
phải xảy ra trước hết, thế rồi tính cách tới như cái bóng của nó. Và nếu thiền
không xảy ra, thế thì tính cách của bạn chỉ là thói đạo đức giả chứ không là gì
khác. Thánh nhân của bạn là những kẻ đạo đức giả lớn; họ nói điều này, họ nghĩ
điều khác, có thể là cái đối lập. Họ làm điều này, nhưng họ muốn làm điều gì đó
đích xác đối lập lại. Trên bề mặt họ biểu lộ điều này, nhưng sâu bên dưới họ là
chính điều tương phản lại.
Một
cô gái thú tội rằng cô ấy đã để cho bạn trai để tay lên đầu gối mình. "Và
đấy là tất cả những gì anh ta đã làm sao?" linh mục hỏi.
"Không.
Anh ấy luồn ngón tay vào dưới dây chun si lip con nữa."
"Thế
rồi sao?"
"Thế
rồi anh ấy rẽ chỗ lông tơ của con và bắt đầu mơn trớn chỗ thích thích của con."
"Rồi
sao? Rồi sao?"
"Thế
rồi mẹ con bước vào." "Ô, cứt thật!" linh mục nói.
Những
linh mục này, những thánh nhân này, họ còn xấu hơn bạn nhiều, xấu hơn bạn đã từng
có thể là vậy nhiều, bởi vì họ chia chẻ nhiều hơn, phân chia nhiều hơn. Họ bị
kìm nén nhiều tới mức phần ý thức và vô ý thức của họ đã rời nhau ra. Họ thuyết
giảng điều này, họ thực hành điều khác. Tại cửa trước nhà họ bạn sẽ thấy người
này, tại cửa sau bạn sẽ thấy một người hoàn toàn khác. Bạn thậm chí sẽ không có
khả năng nhận ra được họ - họ đeo mặt nạ.
Những
người này không phải là người đức hạnh. Phật không nói về đức hạnh như vậy, ông
ấy nói về đức hạnh nảy sinh từ việc nở hoa của thiền. Phật nhấn mạnh vào dhyan
- thiền. Đó là đóng góp cơ bản của ông ấy cho thế giới. Cách tiếp cận nền tảng
nhất của ông ấy là ở chỗ trước hết bạn phải trở nên thức tỉnh tại trung tâm, thế
rồi chu vi của bạn sẽ tràn đầy ánh sáng - theo cách riêng của nó, không ngược lại.
Bạn
đã được các linh mục bảo trước hết thực hành tính cách, và thế rồi trung tâm của
bạn sẽ thay đổi. Điều đó là vô nghĩa. Trung tâm không bao giờ có thể theo chu
vi được, bởi vì trung tâm còn quan trọng hơn nhiều, cơ sở hơn nhiều - nó là
trung tâm, nó không thể đi theo chu vi được. Nhưng chu vi bao giờ cũng đi theo
trung tâm. Biến đổi trung tâm đầu tiên đi, và đừng lo nghĩ về chu vi. Đó là nhấn
mạnh của tôi nữa, tại đó tôi tuyệt đối đồng ý với Phật. Thiền trước hết, và thế
rồi tất cả những cái khác sẽ theo sau bằng cách riêng của nó.
Jesus
nói: tìm kiếm vương quốc của Thượng đế trước, và tất cả những cái khác sẽ được
thêm vào cho ông.
Điều
Jesus nói bằng "vương quốc của Thượng đế" thì Phật nói bằng "thiền."
Lời của Phật khoa học hơn nhiều so với lời của Jesus. Jesus nhiều tính nhà thơ
hơn Phật; Jesus nói nhiều theo kiểu cách ngôn hơn Phật. Phật nói theo cách rõ
ràng, logic, toán học. Ông ấy là người không muốn nói bất kì cái gì theo bất kì
cách nào có thể được diễn giải theo nhiều cách. Ông ấy không muốn dùng thơ ca,
bởi vì thơ ca là mơ hồ, có thể có nhiều diễn giải. Ông ấy nói như nhà toán học,
ông ấy nói như nhà logic, để cho từng lời có nghĩa cố định và hàm ý cố định.
Nhưng
hương của đức hạnh vẫn đi ngược chiều gió, xa tới tận cùng thế giới.
Hương
của đức hạnh cao quí hơn nhiều so với hương của đàn hương, đỗ quyên, của sen
xanh, hay nhài!
Hương
của sen xanh hay nhài hay đàn hương là thơm ngát, dịu, nhưng so với hương của đức
hạnh thì nó rất thô. Đức hạnh thực sự có hương thơm, và hương này đi tới những
góc xa xôi nhất của thế giới.
Làm
sao bạn đã tới đây với tôi? Từ những góc khác nhau của thế giới bạn đã du hành,
đôi khi không thật đích xác rõ ràng vì sao; nhưng cái gì đó đã kéo bạn đi, lực
vô hình nào đó đã làm xúc động trái tim bạn, cái gì đó đã được cảm thấy từ cốt
lõi sâu thẳm nhất của bản thể bạn. Đôi khi bạn thậm chí đã tới ngược với chính
bản thân mình. Tâm trí của bạn nói, "Đừng đi! Không cần đi đâu cả." Dầu
vậy bạn đã tới. Bạn phải đã ngửi thấy mùi thơm - mùi thơm này chẳng liên quan
gì tới cái thấy được. Nó là hiện tượng vô hình.
Nhiều,
nhiều người nữa sẽ sớm tới. Hương thơm đang vươn tới họ, nhất định tới. Bất kì
ai ở bất kì đâu, người thực sự đang đi tìm chân lí đều nhất định tới. Điều đó
không thể cưỡng được, điều đó phải xảy ra. Đó là cách nó đã xảy ra qua nhiều thời
đại. Hàng nghìn người đã du hành tới Phật, hàng nghìn người đã du hành tới
Mahavira, tới Lão Tử, tới Zarathustra - chẳng bởi lí do nào cả, bởi vì bất kì
điều gì họ đã nói đều có trong kinh sách.
Điều
tôi đang nói đây bạn có thể đọc trong Bhagavadgita, trong Kinh Thánh, trong
Koran, trong Dhammapada, điều tôi đang nói bạn có thể dễ dàng tìm thấy trong
Upanishads, trong Đạo Đức Kinh - nhưng bạn sẽ không tìm thấy hương thơm. Đấy là
hoa - cũ, chết, khô héo. Bạn có thể kẹp giữ bông hồng trong cuốn Kinh Thánh của
mình; chẳng mấy chốc nó sẽ khô đi, hương thơm sẽ bay đi, nó sẽ chỉ là cái xác,
một kỉ niệm về hoa thực. Kinh sách cũng vậy. Chúng được làm sống lại lần nữa bởi
vị phật khác; bằng không chúng không thể thở được.
Đó
là lí do tại sao tôi đang nói về Dhammapada, về Gita, về Kinh Thánh - để cho
chúng thở lần nữa. Tôi có thể thổi cuộc sống vào trong chúng. Tôi có thể chia sẻ
hương của tôi với chúng, tôi có thể rót hương của tôi vào chúng. Do đó, người
Ki tô giáo, người thực sự là người Ki tô giáo, không chỉ bởi những ước định xã
hội mà bởi vì tình yêu lớn lao với Christ, người đó sẽ thấy Christ sống lại
trong lời tôi. Hay nếu ai đó là phật tử người đó sẽ thấy trong lời tôi Phật
đang nói lại - theo ngôn ngữ của thế kỉ hai mươi, với những người của thế kỉ
hai mươi.
Hương
của đức hạnh cao quí hơn nhiều so với hương của đàn hương, đỗ quyên, của sen
xanh, hay nhài! Nó thơm dịu thế, nó có thể đi ngược chiều gió, nó có thể đi ngược
mọi luật. Nó có thể đi ngược lực hút, nó có thể vươn lên cao, nó có thể đạt tới
những bầu trời cao nhất.
Hương
của đàn hương hay đỗ quyên không đi xa.
nhưng
hương của đức hạnh bay lên trời.
Hương
của hoa không thể đi xa được. Nó là nhất thời, nó là hữu hạn; nó có thể lan đi
chừng mực nào đó thế rồi nó biến mất. Nhưng hương của phật tính có thể đi tới
chính tận cùng của thế giới bởi vì nó vô hạn, và nó là cái gì đó bên ngoài thời
gian, bên ngoài không gian. Thực ra, ngay cả khi thân của vị phật mất rồi,
hương thơm vẫn tiếp tục du hành.
Những
người thực sự cảm nhận, nhạy cảm, có thể bắt giữ được nó ngay cả khi vị phật đã
qua hàng thế kỉ. Có khả năng là người đương đại của Phật ngay cả bây giờ, vẫn
có thể có giao cảm với Jesus ngay cả bây giờ. Đoá hoa không còn nữa, nhưng
hương thơm đã trở thành một phần của vũ trụ - cây có nó, gió có nó, mây có nó.
Bây giờ Jesus không trong thân thể vật lí, nhưng Jesus đã trở thành vũ trụ. Nếu
bạn biết cách uống từ vũ trụ này, nếu bạn biết cách tiếp xúc với vũ trụ, bạn sẽ
ngạc nhiên: tất cả chư phật đều trở thành sống vì họ là mọi thời đại, thời gian
không tạo ra khác biệt.
Đó
là toàn thể nỗ lực của tôi ở đây: để làm cho bạn thành người đương đại của
Jesus, của Phật, của Zarathustra, của Lão Tử. Nếu bạn có thể là người đương đại
của những linh hồn thức tỉnh này, phỏng có ích gì mà còn đương đại với thế giới
bình thường của bạn cùng những công dân bình thường của nó, cái gọi là con người,
những người chẳng có tính người gì trong họ, những người vẫn chưa trở thành
sinh linh, những người chỉ là lỗ hổng, trống rỗng, vô nghĩa?
Phỏng
có ích gì mà sống bên cạnh những xà lim trống rỗng khi bạn có thể ở bên cạnh Phật
Gautama?
Vâng,
điều đó là có thể - điều đó là có thể bởi việc siêu việt lên trên thời gian và
không gian. Và trong thiền bạn siêu việt lên trên cả hai. Trong thiền bạn không
biết mình ở đâu, bạn không biết thời gian, bạn không biết không gian. Trong thiền,
thời gian và không gian cả hai đều biến mất - bạn đơn giản hiện hữu.
Khoảnh
khắc đó, khi bạn đơn giản hiện hữu, Phật ở ngay bên cạnh bạn; bạn được bao
quanh bởi chư phật của mọi thời đại. Bạn sẽ sống lần đầu tiên một cuộc sống xứng
đáng để sống, một cuộc sống có ý nghĩa: khi bạn có thể cầm tay chư phật và các
krishnas, khi bạn có thể nhảy múa cùng Krishna và hát cùng Meera và ngồi cùng
Kabir. Điều đó là có thể - bởi vì chỉ hoa đã biến mất, nhưng hương thơm là vĩnh
hằng. Nó không thể biến mất được.
Và
thế thì mọi kinh sách trở thành sống cho bạn. Thế thì đọc Kinh Thánh, bạn không
chỉ đọc một cuốn sách - thế thì Moses nói với bạn, Abraham nói với bạn, Jesus
nói với bạn, mặt đối mặt!
Ham
muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường của người đức hạnh và thức tỉnh.
Sáng
dạ làm cho họ tự do.
Ham
muốn nghĩa là tham lam để được ngày một nhiều hơn. Ham muốn nghĩa là không hài
lòng, không hài lòng với cái đang đó, không hài lòng với hiện tại; do đó bạn
tìm kiếm mãn nguyện trong hi vọng vào tương lai. Hôm nay là trống rỗng; bạn có
thể sống chỉ bằng hi vọng vào ngày mai. Ngày mai sẽ đem tới cái gì đó... mặc dầu
nhiều ngày mai đã tới rồi đi mà cái gì đó kia vẫn chẳng bao giờ xảy ra, nhưng bạn
cứ hi vọng tựa vào hi vọng mãi. Chỉ cái chết sẽ tới.
Ham
muốn chưa bao giờ được hoàn thành cả. Trong chính bản chất của mọi sự chúng
không thể được hoàn thành. Người thức tỉnh nhìn vào trong tâm trí ham muốn và
cười to. Tâm trí ham muốn là tâm trí ngu xuẩn nhất, bởi vì nó ham muốn cái gì
đó mà không thể được hoàn thành trong chính bản chất của mọi sự. Cũng như bạn
không thể lấy được dầu từ cát - bạn có thể cứ làm việc mãi trên cát, nhưng bạn
sẽ không lấy được dầu từ nó, nó không tồn tại trong cát, điều đó là không thể
được - đích xác giống thế, ham muốn chỉ là lừa dối.
Nó
giữ cho bạn bận bịu - hiển nhiên, đó là toàn thể chủ định của nó - nó giữ cho bạn
bận bịu, nó giữ cho bạn hi vọng, nó cứ hứa hẹn với bạn. Ham muốn là chính
khách: nó cứ hứa với bạn, "Đợi chút - thêm năm năm nữa và mọi thứ sẽ tuyệt
đối đúng. Chỉ cần năm năm nữa thôi và thế giới sẽ trở thành thiên đường."
Và các chính khách đã nói điều đó từ hàng nghìn năm. Và nhìn vào nhân loại
không thông minh mà xem: nó vẫn cứ tin vào các chính khách. Nó thay đổi các
chính khách; nó trở nên nhàm chán người này, nó bắt đầu nghe người khác. Nhưng
điều đó không phải là thay đổi chút nào. Chính khách này được thay thế bởi
chính khách khác; do đó các nền dân chủ sống như hệ thống hai đảng.
Đảng
này nắm quyền trong năm năm; tương ứng với những lời hứa bạn cứ thế mà hi vọng,
thế rồi bạn bị thất vọng - chẳng cái gì xảy ra cả. Mọi sự còn tồi tệ hơn chúng
trước đây. Nhưng đến lần này, đảng không nắm quyền kia bắt đầu hứa hẹn với bạn.
Và điều ngu xuẩn là bạn bắt đầu tin vào đảng kia. Bạn đưa đảng kia lên nắm quyền;
trong năm năm nó sẽ lừa bạn. Đến lúc đó đảng đầu mà đã lừa bạn trước đây lại trở
thành đáng khen; lần nữa nó lại thu được lòng tin, lần nữa nó đã phê bình đang
cầm quyền và lần nữa nó đã lại thu được kính trọng trong mắt bạn. Và lần nữa nó
lại khuấy động tâm trí hi vọng của bạn. Và kí ức của mọi người là rất thiển cận;
do đó các chính khách cứ thế mà đánh lừa.
Ham
muốn là chính khách. Ham muốn này giữ cho bạn bận bịu trong nhiều năm; thế rồi,
thất vọng trong tay, bạn chán ngán về nó, mòn mỏi về nó, bạn vứt nó đi - nhưng
ngay lập tức bạn đi vào trong ham muốn khác. Chính khách khác đang đợi bạn. Bạn
chạy theo tiền; rồi chán ngán, bạn quên mất tất cả về nó và bạn bắt đầu xô theo
quyền hay danh.
Ham
muốn tinh ranh tới mức nó thậm chí có thể lấy dạng tôn giáo, nó có thể trở
thành có tính tôn giáo. Nó sẵn sàng đeo bất kì mặt nạ nào. Nó có thể bắt đầu
nghĩ về cõi trời và các thú vui cõi trời. Nó có thể cho bạn ý tưởng rằng kiếp sống
này điều đó là không thể được, nhưng kiếp sống tiếp bạn sẽ trên thiên đường, và
ở thiên đường thì có đủ mọi loại thoả mãn... cây thoả ước. Bạn chỉ ngồi dưới gốc
cây, bạn ước, và điều đó được hoàn thành. Bạn sẽ ước gì? Ước muốn của bạn sẽ
ngu xuẩn bởi vì chúng bắt nguồn từ tâm trí bạn. Bạn định đi tìm vui thú nào
trên cõi trời? Một hôm cứ thử nghĩ mình đã lên đến cõi trời rồi: bây giờ bạn muốn
gì? Bạn sẽ bắt đầu hỏi về khách sạn, về rạp chiếu bóng, về đàn bà, về đàn
ông... còn gì khác nữa? Vẫn toàn những điều ấy thôi! Và cùng những thất vọng sẽ
theo sau.
Ham
muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường của người đức hạnh và tỉnh thức. Phật
nói: Ta gọi một người là đức hạnh nếu người đó hoàn toàn nhận biết về tính lừa
dối của ham muốn và do đó ham muốn không bao giờ nảy ra trong tâm trí người đó.
Tâm trí người đó vẫn còn vô ham muốn. Cách duy nhất để vô ham muốn là tỉnh thức,
có tính quan sát. Tính quan sát tạo ra ánh sáng trong bạn, và trong ánh sáng đó
bóng tối của ham muốn không thể đi vào được.
Sáng
tỏ làm cho họ tự do. Và khi bạn có tính quan sát, có chói sáng trong bản thể bạn;
thông minh lớn lao nảy sinh trong bạn. Người thường sống trong ngu xuẩn; người
thường sống theo cách rất đần độn. Khoảnh khắc bạn trở nên hài hoà với âm nhạc
bên trong của mình, bạn trở nên hài hoà với tính thiền, thông minh lớn lao được
thoát ra. Trong thông minh đó bạn không thể nào bị lừa dối bởi ham muốn. Trong
thông minh đó lần đầu tiên bạn bắt đầu hiểu mọi sự như chúng vậy, bạn dừng việc
hiểu lầm. Thông thường mọi hiểu biết của bạn đều không là gì ngoài hiểu lầm. Bạn
có thể cho rằng bạn rất thông minh, nhưng chỉ người ngu mới nghĩ rằng họ thông
minh. Bản thân thông minh là rất không tự ý thức. Nó vận hành, vận hành hoàn hảo,
nhưng nó không tạo tự ý thức, nó không đem tới ý tưởng về bản ngã, không có
tính siêu đẳng. Nó rất khiêm tốn, nó rất đơn giản.
Nhưng
khi người thường tồn tại, người đó cứ hiểu lầm. Bạn đọc Kinh Thánh và bạn hiểu
lầm. Ngay cả những đệ tử gần gũi nhất của Jesus không bao giờ hiểu ông ấy. Tôi
nói đi nói rằng Jesus là một trong những thầy không may nhất đã từng bước chân
trên trái đất này - không chỉ bởi vì ông ấy bị đóng đinh và chỉ có ba năm làm
việc, mà bởi vì ông ấy có nhiều tín đồ rất ngu.
Ngày
Jesus sắp bị bắt, và điều tuyệt đối chắc chắn là ông ấy đã bị một trong những đệ
tử của mình phản bội, Judas, ông ấy đã hỏi mười một tông đồ khác, "Các ông
có điều gì hỏi ta không?" Và bạn có biết họ đã hỏi cái gì không? Họ đã hỏi
những điều ngu xuẩn thế. Jesus phải phát khóc. Ông ấy có thể phải đã cầu nguyện
từ sâu trong trái tim mình, như ông ấy đã làm lần nữa trên cây chữ thập:
"Cha ơi, xin tha thứ cho họ, vì họ không biết điều họ đang hỏi."
Họ
đã hỏi cái gì? Họ đã hỏi, "Thưa thầy, vì thầy sắp ra đi, đôi điều cần được
làm rõ. Trong thế giới của Thượng đế, trong vương quốc của Thượng đế, mà thầy
đã nói đi nói lại nhiều thế, thầy chắc chắn sẽ ở bên phải Thượng đế rồi; vậy ai
sẽ ở bên phải thầy? Trong số chúng tôi ai sẽ là người thứ hai tiếp thầy và ai sẽ
là người thứ ba và người thứ tư? Cấp bậc sẽ là gì?"
Xem
câu hỏi đấy! Thầy sắp bị đóng đinh ngày mai, mà những người ngu này lo nghĩ về
cấp bậc, ai sẽ cao nhất. Họ sẵn sàng nhân nhượng với Jesus, "Thôi được, đến
chừng ấy thì chúng tôi chấp nhận, rằng thầy sẽ là người thứ hai cạnh Thượng đế,
nhưng ai sẽ thứ ba và thứ tư và thứ năm? Để điều đó được quyết định rõ ràng đi,
bởi vì bây giờ thầy sắp ra đi và chúng tôi có thể không sớm gặp lại nữa, cho
nên mọi thứ phải chắc chắn!"
Tâm
trí ham muốn, tâm trí tham vọng này - họ đã không hiểu Jesus chút nào. Và tương
truyền Jesus quì xuống và cầu nguyện và nước mắt lăn dài trên má ông ấy. Không
ai biết ông ấy cầu nguyện gì, nhưng ông ấy phải đã cầu nguyện: "Xin tha thứ
cho những người này, họ không biết họ đang hỏi gì." Và ông ấy phải đã khóc
vì đây là công trình cả đời của ông ấy, những người này. Và ông ấy đã bảo họ đừng
ham muốn, đừng tham vọng. Ông ấy đã bảo họ, "Những người đầu tiên trong thế
giới này sẽ là người cuối cùng trong vương quốc của Thượng đế của ta, và những
người cuối cùng sẽ là những người đầu tiên." Nhưng họ đã không hiểu rằng
ông ấy đang nói với họ đừng tham vọng.
Mới
hôm nọ, Premgeet đã gửi cho tôi một giai thoại nhỏ về việc diễn giải nhầm:
Một
cô y tá điên chạy theo một bệnh nhân đang la hét dọc theo hành lang của khu nhà
thương, mang cái bát. Cô ta bị bác sĩ giải phẫu chặn nói, "Cô y tá! Cô y
tá! Tôi đã bảo cô chích chỗ sưng!"
Bạn
có hiểu điều đó không? Cô ấy đang làm sưng chim anh ta! Nhưng đây là điều đích
xác đang xảy ra - tâm trí quần chúng không thể hiểu được. Hiểu lầm là không
tránh khỏi, bởi vì tâm trí đám đông là điếc. Trong khi bạn nói với mọi người, họ
không thực sự lắng nghe, họ chỉ giả vờ nghe. Cả nghìn lẻ một ý nghĩ đan chéo
qua tâm trí họ; họ không thực sự ở đó, họ chưa bao giờ diện diện với bất kì
tình huống nào, họ bao giờ cũng vắng mặt. Họ không ở chỗ họ đang ở, họ bao giờ
cũng ở đâu đó khác. Khi họ đang ở Pune, họ ở Bắc Kinh; khi họ ở Bắc Kinh, họ ở
Pune. Những người kì lạ! Dù họ ở bất kì đâu bạn cũng có thể chắc chắn rằng ít
nhất họ không ở đó; họ có thể đang ở chỗ nào đó khác trên thế giới. Làm sao họ
có thể hiểu được?
Và
họ chỉ lắng nghe lời, họ không bao giờ lắng nghe nghĩa cả - bởi vì nghĩa có thể
được nghe chỉ bằng trái tim. Lời có thể được nghe bằng đầu. Bây giờ, họ không
biết cách nghe qua trái tim. Lắng nghe qua trái tim là nghĩa của việc là đệ tử;
lắng nghe qua trái tim nghĩa là lắng nghe trong tình yêu, trong tin cậy, trong
thông cảm sâu sắc, và cuối cùng trong thấu cảm sâu sắc. Lắng nghe qua trái tim
nghĩa là lắng nghe dường như bạn đã trở thành một với điều được nói cho bạn -
khi đệ tử trở nên hài hoà với thầy tới mức ngay cả trước khi lời được thốt ra
thì đệ tử đã nghe thấy chúng, và không chỉ lời mà cả nghĩa, hương thơm do lời
mang theo. Nhưng điều đó rất vô hình. Cái đầu là thô.
Cái
vô hình chỉ có thể được nắm bắt qua mạng lưới của trái tim.
Mọi
người thậm chí đi theo, nhưng thế nữa họ đi theo từ hiểu lầm. Chỉ trở thành tín
đồ không làm thay đổi cái gì trong cuộc sống của bạn. Vấn đề không phải là theo
ai đó: vấn đề là hiểu ai đó đã thức tỉnh. Do đó, tôi không gọi bạn là tín đồ mà
chỉ là bạn của tôi. Nếu bạn có thể là bạn của tôi, nếu bạn có thể trong tình
yêu và tin cậy sâu sắc ở đây trong sự hiện diện của tôi, nếu chúng ta có thể đối
diện lẫn nhau và soi gương lẫn nhau, những điều cực kì quan trọng sẽ bắt đầu xảy
ra theo cách riêng của chúng - bởi vì trái tim bạn sẽ hiểu, và khi trái tim hiểu,
lập tức biến đổi xảy ra.
Khi
cái đầu hiểu, thế thì nó hỏi, "Làm sao? Vâng điều đó đúng; bây giờ, làm
sao nó có thể được làm?"
Nhớ
khác biệt này: trong cái đầu, tri thức và hành động là hai điều khác nhau;
trong trái tim, tri thức là hành động.
Socrates
nói: Tri thức là đức hạnh - và ông ấy đã không được hiểu qua nhiều thời đại.
Ngay cả các đệ tử riêng của ông ấy, Plato và Aristotle, đã không hiểu ông ấy
đúng. Khi ông ấy nói tri thức là đức hạnh, ông ấy ngụ ý có cách lắng nghe và hiểu
trong đó khoảnh khắc bạn hiểu ra một điều, bạn không thể làm khác được. Khi bạn
thấy rằng đây là cửa, thế thì bạn không thể cứ cố đi ra qua tường được, bạn sẽ
đi ra qua cửa. Thấy nghĩa là hành động, thấy đem tới hành động.
Nếu
khi tôi bảo bạn, "Đây là cửa. Bất kì khi nào bạn muốn ra, xin ra qua cửa
này, bởi vì bạn đập đầu mình khi cố đi ra qua tường là đủ rồi," bạn nói,
"Vâng, thưa thầy, tôi hiểu rõ lắm, nhưng làm sao đi ra qua cửa được?"
câu hỏi của bạn sẽ chỉ ra rằng trái tim vẫn chưa lắng nghe đâu, chỉ mỗi cái đầu.
Cái đầu bao giờ cũng hỏi "Làm sao?"
Cái
đầu bao giờ cũng hỏi những câu hỏi dường như rất thích đáng trên bề mặt nhưng
tuyệt đối lố bịch. Trái tim không bao giờ hỏi cả - nó lắng nghe và hành động. Lắng
nghe và hành động là một trong trái tim; tình yêu biết và hành động tương ứng.
Nó chưa bao giờ hỏi "Làm sao?" Trái tim có thông minh của riêng nó.
Cái đầu là trí tuệ, trái tim là thông minh.
Hoa
sen mọc duyên dáng làm sao trong rác rưởi của lề đường.
Hương thuần khiết của nó làm thích thú trái
tim.
Nhớ
điều đó lặp đi lặp bởi vì bạn sẽ quên đi quên lại rằng đó là vấn đề của trái
tim. Nếu trái tim vui mừng trong cái gì đó, thế thì bạn có thể chắc chắn cuộc sống
của bạn đang phát triển, mở rộng; tâm thức bạn đang trở thành rõ ràng hơn,
thông minh của bạn đang thoát ra khỏi tù túng của nó.
Hoa
sen mọc duyên dáng làm sao trong rác rưởi của lề đường. Từ về hoa sen mà Phật
dùng là pankaj; đó là một trong những từ hay nhất. Pankaj nghĩa là cái được
sinh ra từ bùn, từ bùn bẩn. Hoa sen là một trong những hiện tượng huyền diệu nhất
trong sự tồn tại; do đó ở phương Đông nó đã trở thành biểu tượng của biến đổi
tâm linh. Phật ngồi trên hoa sen, Vishnu đứng trên hoa sen. Tại sao lại hoa
sen? - bởi vì hoa sen có một ý nghĩa rất biểu tượng: nó mọc ra từ bùn bẩn. Nó
là biểu tượng biến đổi, nó là sự biến thái. Bùn thì bẩn, có thể còn bốc mùi
hôi; hoa sen là hương thơm, và nó bắt nguồn từ bùn hôi.
Phật
đang nói: Theo đích xác cùng cách đó, cuộc sống thường chỉ là bùn hôi - nhưng
khả năng trở thành hoa sen được ẩn ở đó. Bùn có thể được biến đổi, bạn có thể
trở thành hoa sen. Dục có thể được biến đổi và nó có thể trở thành samadhi. Giận
có thể được biến đổi và nó có thể trở thành từ bi. Ghét có thể được biến đổi và
nó có thể trở thành yêu. Mọi thứ mà bạn có cái nhìn tiêu cực bây giờ, như bùn,
có thể được biến đổi. Tâm trí ồn ào của bạn có thể được làm trống rỗng và được
biến đổi, và nó trở thành âm nhạc tinh tú.
Đi
theo người đã thức tỉnh và từ trong những người mù ánh sáng của trí huệ của ông
sẽ
chiếu sáng hoàn toàn bên ngoài.
Nhưng
lối ra duy nhất khỏi đống lộn xộn này là ở việc hài hoà với ai đó đã thức tỉnh.
Bạn đang ngủ; chỉ ai đó thức tỉnh mới có thể lay bạn ra khỏi giấc ngủ của mình,
mới có thể giúp bạn ra khỏi nó.
Gurdjieff
thường nói: Nếu bạn đang trong tù, chỉ ai đó ở ngoài nhà tù mới có thể xoay xở,
mới có thể thu xếp để cho bạn có thể thoát ra khỏi nhà giam; bằng không điều đó
là không thể được. Và bạn không chỉ trong nhà giam - bạn đã bị thôi miên và được
bảo rằng đây không phải là nhà giam, đây là nhà bạn. Bạn không chỉ trong tù - bạn
đã tin nó là nhà bạn và bạn đang trang hoàng cho nó. Toàn thể cuộc sống của bạn
không là gì ngoài việc trang hoàng cho nhà giam này, và bạn đang đua với các tù
nhân khác, những người cũng đang trang hoàng cho xà lim đen tối của mình.
Chỉ
ai đó tự do, người đã có thời ở trong tù và không còn trong tù nữa, mới có thể
xoay xở đánh thức bạn, làm cho bạn nhận biết về thực tại. Người đó có thể xoay
xở để giải thôi miên bạn, người đó có thể giúp bạn giải ước định, và người đó
có thể phát minh ra các phương pháp và phương tiện để cho bạn có thể thoát khỏi
nhà giam. Người đó có thể hối lộ cai ngục, cai tù; người đó có thể đem chiếc
thang gần bức tường, người đó có thể ném dây thừng vào bên trong. Người đó có
thể làm ra lỗ hổng trong tường từ bên ngoài... cả nghìn lẻ một khả năng.
Nhưng
hi vọng duy nhất cho bạn là trong tiếp xúc sâu với ai đó đã thức tỉnh. Người thức
tỉnh được gọi là thầy - satguru. Nếu bạn có thể tìm thấy thầy, đừng bỏ lỡ cơ hội
này - buông xuôi, thảnh thơi trong hiện hữu của thầy, thấm đẫm nhận biết của thầy,
để hương thơm của thầy bao quanh bạn. Và ngày đó không xa xôi gì khi bạn cũng
được thức tỉnh, bạn cũng sẽ là vị phật.
Tự
nhủ mình rằng chừng nào bạn chưa là vị phật, cuộc sống của bạn vẫn còn là phí
hoài. Chỉ bằng việc là vị phật cuộc sống của người ta mới có vẻ duyên dáng, đẹp
đẽ, thông minh, ý nghĩa, phúc lành.
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment