Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 5)
Chương
7. Bạn là cội nguồn
Điều
hại là của ông.
Buồn
khổ là của ông.
Nhưng
đức hạnh cũng là của ông.
Và
thuần khiết.
Ông
là cội nguồn của mọi thuần khiết và mọi pha tạp.
Không
ai làm thuần khiết người khác.
Đừng
bao giờ bỏ quên việc của ông
Vì
việc của người khác,
Dù
nhu cầu người đó lớn thế nào.
Việc
của ông là khám phá việc của ông
Và
thế rồi với cả trái tim ông
Để
trao bản thân ông cho nó.
Con
người hoặc ở trong địa ngục hoặc ở trong cõi trời - đó là chọn lựa của người
đó. Địa ngục và cõi trời không phải là theo địa lí; chúng không phải là nơi chốn
bên ngoài bạn mà là không gian bên trong bạn - và cả hai nơi này đều tồn tại
trong từng cá nhân. Con người giống như chiếc thang: bạn có thể đi lên, bạn có
thể đi xuống; nó là cùng một chiếc thang. Đổi hướng và bạn bắt đầu đi lên. Nó
là cùng năng lượng bắt đầu trở thành địa ngục và bắt đầu trở thành cõi trời. Hiểu
biết sâu sắc là cần thiết về năng lượng của bạn, về khả năng của bạn, về tiềm
năng của bạn.
Cõi
trời và địa ngục không phải là khi bạn chết: chúng là những khả năng ngay bây
giờ. Trong chính khoảnh khắc này người ta có thể ở trong địa ngục hay cõi trời
- và bạn có thể ở trong địa ngục và hàng xóm của bạn có thể ở cõi trời. Và khoảnh
khắc này bạn sẽ trong địa ngục và khoảnh khắc khác bạn sẽ trong cõi trời. Quan
sát cho kĩ vào: bầu khí hậu cứ thay đổi quanh bạn. Lúc thì nó rất mây mù và mọi
thứ tối tăm và buồn thảm, và lúc thì nó nắng ráo thế, và đẹp thế, vui thế.
Nhưng
sai lầm, sai lầm lớn nhất con người có thể phạm phải, là nghĩ rằng bầu khí hậu
này được tạo ra bởi các lực bên ngoài. Nó không được tạo ra bởi các lực bên
ngoài đâu; nó là quyết định bên trong của bạn, ý chí bên trong của bạn đấy. Đó
là chọn lựa của bạn. Nó xảy ra ở bên ngoài, nhưng nó nảy sinh từ cốt lõi sâu nhất
của bản thể bạn. Nó cần tính quan sát rất tỉnh táo để thấy ra điểm này. Một khi
bạn đã thấy nó bạn không cần sống trong địa ngục chút nào. Sao bạn phải chọn địa
ngục một khi điều này đã được hiểu - rằng đó là chọn lựa của bạn?
Nhưng
trong hàng thế kỉ con người đã từng cố gắng tìm các cớ, cách hợp lí hoá, những
nguyên nhân giả, bên ngoài bản thân mình, bởi một lí do nào đó: người ta cảm thấy
rất xấu rằng mình là kẻ tạo ra mọi khổ của mình. Thứ nhất khổ có đó, và thứ
hai, chính ý niệm rằng "Mình là kẻ tạo ra tất cả những khổ này" thậm
chí còn gây đau hơn cả bản thân việc khổ. Để né tránh cái đau này, để né tránh
vết thương này, để né tránh trách nhiệm lớn lao này, con người đã tìm ra cả
nghìn lẻ một cách.
Trong
quá khứ chúng ta đã tạo ra ý niệm về Thượng đế: rằng Ngài tiền định, rằng mọi
thứ đều được quyết định trước rồi, tiền định trước rồi, rằng đứa trẻ được sinh
ra đã tuyệt đối bị xác định rồi. Thượng đế tiền định điều nó sẽ là; nó không được
tự do, nó không có tự do. Nếu không có tự do, có thể không có trách nhiệm; nếu
có tự do, thế thì có trách nhiệm. Chúng tới cùng nhau, chúng là không tách rời.
Con người sẵn sàng giành lấy tự do của mình, nhưng con người rất sợ chấp nhận
trách nhiệm. Ngay cả với cái giá mất tự do người đó vẫn muốn tuyệt đối không có
trách nhiệm. Ít nhất người đó có thể nói, "Đấy không phải là ý chí của tôi
rằng tôi phải khổ. Tôi có thể làm được gì nào? Tôi bất lực! Thượng đế đã tiền định
trước điều đó rồi." Hay định mệnh, số mệnh...
Và
các tôn giáo không tin vào Thượng đế và không tin vào định mệnh, họ phải tìm
cách giải thích nào đó khác, nhưng nó vẫn là cùng một điều thôi. Họ đã tìm ra
lí thuyết về đầu thai, lí thuyết về nghiệp: các kiếp sống quá khứ của bạn quyết
định ra kiếp sống hiện tại của bạn. Lần nữa bạn lại bất lực! Bây giờ chẳng thể
làm được gì về các kiếp quá khứ của bạn cả; không có khả năng nào thay đổi chúng.
Bạn không thể hoàn tác lại chúng, cho nên bạn phải đơn giản chấp nhận bất kì
cái gì là hoàn cảnh. Nếu bạn khổ, thì bạn khổ - chấp nhận nó đi.
Chính
bởi vì chấp nhận này mà phương Đông vẫn còn nghèo, đói, ốm yếu. Nếu bạn chấp nhận
rằng bất kì cái gì đang xảy ra là xảy ra vì nghiệp quá khứ của bạn, thế thì nó
phải xảy ra thôi; không có cách nào tránh được nó. Ngay cả những ý niệm hoàn
toàn ngu xuẩn nảy sinh từ nó, và chúng có vẻ rất logic nếu bạn chấp nhận tiền đề
căn bản này.
Ở Ấn
Độ có một giáo phái của người Jaina, Terapanth; Acharya Tulsi là thủ lĩnh của
nó. Giáo phái Jaina này nói rằng nếu ai đó ngã xuống giếng, đừng giúp người đó
thoát ra. Bạn sẽ ngạc nhiên - làm sao người ta có thể nói được điều này? Bạn
đang đứng đó, người này đang kêu cứu, la to xin giúp đỡ, nhưng giáo phái này
nói, "Đừng giúp người đó, bởi vì người đó đang chịu đựng nghiệp quá khứ của
người đó. Đừng can thiệp. Nếu ông can thiệp và kéo người đó ra người đó sẽ phải
ngã vào lần nữa đấy, cho nên ông sẽ không thực sự là giúp đỡ đâu. Ngược lại,
ông sẽ làm chậm trễ quá trình mà đáng ra thì đã được hoàn thành bây giờ. Và bằng
việc can thiệp vào cuộc đời người đó và nghiệp người đó ông đang tạo ra nghiệp
nào đó cho bản thân mình, bởi vì can thiệp vào cuộc sống của ai đó, làm rối quá
trình của người đó, sự phát triển của người đó, là tội lỗi."
Do
đó các tín đồ của giáo phái này không giúp bất kì ai theo bất kì cách nào. Giúp
đỡ là tội lỗi, phục vụ là tội lỗi. Điều đó có vẻ rất ngớ ngẩn, nhưng nếu bạn chấp
nhận tiền đề của họ thế thì nó không ngớ ngẩn. Tiền đề này được chấp nhận, nó
dường như là kết luận logic của tiền đề này.
Các
triết lí ngớ ngẩn đã nảy sinh, chỉ vì một lí do thôi: làm sao né tránh trách
nhiệm? Đổ nó lên vai ai đó khác! Đó có thể là Thượng đế, số phận, lí thuyết
nghiệp, hay, nếu bạn không theo tôn giáo, nếu bạn là người duy vật, thế thì bạn
có thể đổ nó cho lịch sử, như Hegel đã làm - lịch sử chịu trách nhiệm. Nó lại
là cùng trò chơi đó thôi - chỉ cái tên thay đổi, cái nhãn thay đổi. Nó không
còn là quá khứ, bây giờ nó được gọi là lịch sử - không phải nghiệp cá nhân mà
là nghiệp của xã hội mới có tính quyết định; cá nhân bất lực. Thực ra, theo
Hegel cá nhân là hư cấu; chỉ xã hội tồn tại và lịch sử là nhân tố tất định.
Và
hàng triệu và hàng triệu năm đã trôi qua rồi! Làm sao bạn có thể tranh đấu với
nó được? Bạn có thể làm được gì về nó? Bạn hoàn toàn bất lực! Mọi điều có thể
được làm là: chấp nhận nó, là một phần của nó. Bất kì cái gì đang trong hoàn cảnh
- khổ hay phúc lạc - bạn không chịu trách nhiệm. Làm sao bạn có thể chịu trách
nhiệm cho toàn thể lịch sử được - từ chính lúc bắt đầu, nếu như có lúc bắt đầu
nào?
Karl
Marx nói nó không phải là lịch sử mà cấu trúc kinh tế của xã hội đấy. Sigmund
Freud nói nó không phải là cấu trúc kinh tế của xã hội đâu mà là cấu trúc vô thức
của tâm lí của bạn - vô ý thức! Bạn không thể làm gì được về nó cả, nó ở bên
ngoài bạn. Bạn có ý thức và nó là vô ý thức; không có cây cầu nào. Bạn hoàn
toàn vô nhận biết về nó. Kẻ thù cứ vận hành từ góc tối bên trong bạn và không
có khả năng nào đem ánh sáng tới cho nó. Nhiều nhất chúng ta có thể phân tích,
hiểu tình huống, và được điều chỉnh theo nó.
Mọi
triết học, tâm lí học, xã hội học này đều là bịa đặt của con người để né tránh
một hiện tượng đơn giản: hiện tượng trách nhiệm.
Người
tôn giáo thực được sinh ta vào khoảnh khắc bạn chấp nhận trách nhiệm của mình
cho bản thân mình, khoảnh khắc bạn nói, "Bất kì điều gì mình đang vậy đều
là chọn lựa của mình - không phải của quá khứ mà của hiện tại. Nó là chọn lựa của
mình về khoảnh khắc này, và nếu mình muốn thay đổi nó mình tuyệt đối tự do để
thay đổi nó. Không ai có thể cản trở mình được - không lực xã hội nào, không quốc
gia nào, không lịch sử nào, không kinh tế nào, không vô thức nào có thể cản trở
mình được. Nếu mình quyết tâm thay đổi nó, mình có thể thay đổi nó."
Vâng,
lúc ban đầu trách nhiệm có vẻ như nặng nề, trọng lượng nặng; đổ trách nhiệm lên
ai đó khác tạo cảm giác thoải mái. Ít nhất bạn có thể tận hưởng ngần này, rằng
"Mình không chịu trách nhiệm." Bạn có thể tận hưởng rằng bạn chỉ là nạn
nhân, bất lực. Lúc ban đầu việc chấp nhận trách nhiện về chính bản thân bạn một
cách toàn bộ là nặng nề. Nó tạo ra thất vọng, phiền não, lo âu, nhưng chỉ lúc
ban đầu thôi. Một khi nó được chấp nhận, dần dần, dần dần bạn trở nên nhận biết
về tiềm năng lớn lao và tự do lớn lao mà nó đem lại.
Nếu
tôi chịu trách nhiệm cho khổ của tôi, điều đó cũng có nghĩa, một cách tự động,
là tôi chịu trách nhiệm cho phúc lạc của mình. Nếu tôi chịu trách nhiệm cho khổ
của tôi, tôi có thể chấm dứt nó ngay lập tức. Để tôi nhắc lại từ 'ngay lập tức'
- thậm chí không một khoảnh khắc nào người ta phải chờ đợi cả. Vấn đề không phải
là thay đổi các kiếp quá khứ của bạn, vấn đề không phải là thay đổi toàn thể xã
hội, vấn đề không phải là đem tới chuyên chính của giai cấp vô sản, và vấn đề
không phải là đi hết năm nọ tới năm kia vào phân tâm. Nó đơn giản là vấn đề chấp
nhận trách nhiệm rằng "Dù tôi là bất kì ai, tôi đã tạo ra bầu khí hậu của
tôi, con người tôi."
Con
người được sinh ra chỉ như một tiềm năng. Con người có thể trở thành gai cho bản
thân mình và cho người khác, con người cũng có thể trở thành đoá hoa cho bản
thân mình và cho người khác. Và nhớ lấy, bất kì cái gì bạn đang là vậy cho người
khác, bạn là cái đó cho bản thân mình nữa, và bất kì cái gì bạn là vậy cho bản
thân mình bạn là cái đó cho người khác nữa. Nếu bạn là đoá hoa cho bản thân
mình, hương thơm của bạn nhất định được toả ra; nó sẽ đạt tới người khác. Nếu bạn
là gai cho bản thân mình, làm sao bạn có thể là hoa cho người khác được?
Đây
là một trong những đóng góp vĩ đại nhất của Phật Gautama cho thế giới: ông ấy
làm cho cá nhân chịu trách nhiệm tuyệt đối, dứt khoát, không đảo ngược được. Những
người rất dũng cảm chấp nhận nó, chỉ các cá nhân hiếm hoi mới chấp nhận điều
đó. Kẻ hèn bao giờ cũng muốn trốn khỏi trách nhiệm.
Những
người theo Phật trở thành đệ tử và người thành tâm. Những người mà vì họ Phật
trở thành thầy đều là loại người hiếm hoi: thực sự dũng cảm, sẵn sàng mạo hiểm
tất cả, sẵn sàng chấp nhận phiền não của việc tái sinh... bởi vì đây là tái
sinh! Vứt bỏ tất cả những triết lí làm cho ai đó khác, XYZ, chịu trách nhiệm
cho cuộc sống của bạn - đó là việc tái sinh. Việc chấp nhận toàn thể trách nhiệm
của cuộc sống của bạn, bất kì cái gì bạn đang là - tốt, xấu, tội nhân, thánh
nhân - nghĩa là bạn đã lấy bước nhảy lượng tử. Nhưng chẳng mấy chốc trách nhiệm
biến thành tự do. Giải thoát vĩ đại thế xảy ra qua nó!
Cùng
kiểu người đang đó đang tụ tập quanh tôi lần nữa. Tôi không ở đây cho những kẻ
hèn nhát. Kẻ hèn nhát có nhiều chỗ khác trên thế giới, nhiều người giúp họ - giúp
họ vẫn còn là kẻ hèn nhát vĩnh viễn. Tôi tồn tại ở đây chỉ dành cho những người
dũng cảm, người phiêu lưu: những người sẵn sàng mạo hiểm và mạo hiểm tất cả, những
người sẵn sàng tham dự, cam kết, những người sẵn sàng đánh cược mọi thứ cho giải
thoát, cho biến đổi, cho việc đạt tới chân lí tối thượng.
Lời
kinh này của ngày hôm nay là những phát biểu nhỏ, rất hàm chứa. Đó đích xác là
điều kinh ngụ ý. Kinh nghĩa là một phát biểu tinh tuý, không nói kĩ lưỡng,
không giải thích, không tô điểm - chỉ cái lõi trơ trụi, trần trụi của nó. Nó được
cần tới trong những ngày đó, bởi vì mọi người phải ghi nhớ những kinh này. Do
đó chúng phải rất cô đọng, chúng phải vắn tắt, để cho mọi người có thể nhớ được
hàng thế kỉ, bởi vì chúng sẽ đi từ thế hệ này sang thế hệ khác như một phần của
kí ức mọi người. Sách còn chưa có trong sự tồn tại, việc in ấn còn chưa tới
trong sự tồn tại. Mọi người phải ghi nhớ; do đó mới có phương cách lời kinh.
Kinh nghĩa là câu châm ngôn, chính cốt lõi tinh tuý, nhưng nếu bạn ghi nhớ nó bạn
bao giờ cũng có thể giải mã nó.
Và
đó là điều tôi đang làm ở đây: giải mã những kinh này cho bạn.
Một
người có ba con gái. Một hôm một người bạn tới gặp ông ấy và trong cuộc nói
chuyện đã hỏi tên của các con gái là gì.
Người
cha nói rằng con gái cả tên là S.C., con thứ tên là, M.C., và con út tên là,
D.C.
"Tên
đó có nghĩa gì vậy?" anh bạn hỏi.
Người
cha đáp, "Con cả, S.C., được sinh ra từ 'sheer curiosity - cực kì tò mò';
con thứ, M.C., được sinh ra bởi 'mutual consent - bằng lòng lẫn nhau'; và con
út, D.C., được sinh ra bởi 'damn carelessness - bất cẩn chết tiệt'."
Quan
sát cuộc sống của bạn - dù nhiều hay ít nó đều là bất cẩn chết tiệt, nó là
D.C.! Bất kì cái gì bạn đang là, bạn đều có tính ngẫu nhiên, như mẩu gỗ trôi giạt.
Bạn đã không chọn lựa là bất kì cái gì bạn đang là; bạn đã không lấy quyết định
có ý thức về nó, bạn đã không định nó như vậy. Bạn chỉ phó mặc cho gió. Nhìn
vào toàn thể cuộc sống của bạn mà xem, vào cách mọi sự đã từng xảy ra cho bạn.
Chỉ ngẫu nhiên!
Một
người đàn bà gặp bạn và bạn rơi vào tình yêu, bởi vì cô ấy có cái mũi đẹp. Bây
giờ mũi đang quyết định ra cuộc sống của bạn đấy! Hay cô ấy có tóc vàng hoe hay
thân hình đẹp. Quan sát điều quyết định ra hành vi của bạn, tương lai của bạn!
Bây giờ, mầu tóc của cô ấy hay cách người đàn bà này bước đi hay cách cô ấy hát
hay mầu mắt cô ấy - là những điều có thể quyết định ra tình yêu của bạn sao? -
bởi vì tình yêu của bạn sẽ thay đổi cuộc sống của bạn! Nhưng đó là cách mọi thứ
xảy ra.
Kể
từ việc phát minh ra xe hơi nhiều thứ đã thay đổi, bởi vì khu vực ngẫu nhiên đã
trở nên rất lớn. Bằng không mọi người thường rơi vào tình yêu với người lân cận
mình; bây giờ miền này đang lớn hơn lên. Bây giờ thanh niên có xe riêng của họ:
trong vòng vài giờ họ có thể đi xa tới hàng trăm dặm. Trong quá khứ, mọi người
thường yêu những người lân cận - ai đó sống bên cạnh nhà hay ai đó sống trong
cùng ngôi nhà. Xe hơi đã làm thay đổi toàn thể hình mẫu cuộc sống của mọi người,
chuyện tình của họ!
Bây
giờ, đây là loại nhân loại gì mà được quyết định bởi những điều bên ngoài như vậy?
Nhưng đó là cách nó vậy, và tốt hơn cả là nhìn nó như nó vậy.
Mọi
người đã trở nên thông minh hơn - nếu không thông mình, ít nhất trí thức hơn,
có giáo dục hơn, có văn hoá hơn, tinh tế hơn - nhưng phong cách sống cơ bản của
họ vẫn như cũ: vô ý thức, ngẫu nhiên. Mọi người không sống từ tinh hoa của họ,
họ đơn giản phụ thuộc vào hoàn cảnh ngẫu nhiên. Và không chỉ những người nhỏ
bé, mà những người bạn cho là thiên tài, ngay cả họ cũng cư xử theo cách rất
ngu xuẩn.
Nhà
vật lí của thế kỉ hai mươi, Niels Bohr, đã có đóng góp lớn lao cho thế giới khi
ông ấy làm chi tiết cấu trúc và vận hành của nguyên tử, và đặt nền tảng cho lí
thuyết cơ học lượng tử. Ông ấy là nhà khoa học của các nhà khoa học.
Một
hôm một đồng nghiệp người Mĩ được Bohr mời tới quê hương Đan Mạch của ông ấy.
Người Mĩ thấy một chiếc bùa vận may phía trên bàn làm việc - chiếc móng ngựa lật
úp treo trên tường.
"Chắc
chắn là ông không tin móng ngựa sẽ đem tới cho ông vận may, đúng không, thưa
giáo sư Bohr?" vị khách ngỡ ngàng hỏi. "Sau rốt, chúng ta đều là các
nhà khoa học điềm đạm!"
"Tôi
không tin vào điều như vậy đâu, anh bạn tốt của tôi ơi, không tin chút nào cả.
Tôi chắc chắn là không thể tin được vào những điều vô nghĩa ngu xuẩn thế,"
người Scandinavian tái khẳng định với ông ấy. "Tuy nhiên, tôi được bảo rằng
móng ngựa sẽ đem tới cho ông vận may dù ông có tin vào điều đó hay không."
Bây
giờ, một người như Niels Bohr, một trong những thiên tài của thế kỉ này, vẫn
hành xử theo cùng cách, cùng cách vô ý thức như người thường bao giờ cũng hành
xử! Dường như giáo dục chẳng tạo ra khác biệt gì, khoa học chẳng tạo ra khác biệt
gì, văn minh chẳng tạo ra khác biệt gì. Con người cứ sống và lặp lại những hình
mẫu cũ.
Và
hình mẫu lớn nhất và cổ nhất là: không chấp nhận trách nhiệm về bản thân mình.
Và né tránh trách nhiệm là né tránh việc sinh thành ra linh hồn bạn. Và bạn bao
giờ cũng có thể tìm ra cớ để né tránh việc sinh thành đó... bởi vì mọi việc
sinh đều sẽ đau đớn, và việc sinh càng lớn, càng đau hơn.
Mọi
người co trách nhiệm của họ lại, họ co lại với trách nhiệm của họ. Bất kì khi
nào một vấn đề xuất hiện cần đáp ứng một cách tự phát, họ đều lúng túng. Họ tìm
trong kí ức, trong quá khứ của mình, cách phản ứng. Và nhớ: phản ứng không phải
là đáp ứng. Phản ứng nghĩa là bạn đang lặp lại hình mẫu cũ. Bạn không nhận biết
về tình huống hiện thời, bạn không đáp ứng với nó. Bạn đang đáp ứng với tình huống
nào đó không còn đó nữa.
Cuộc
sống cứ thay đổi và hình mẫu của bạn trở nên cố định, bởi vì tâm trí là cái
máy. Tâm trí không thể thay đổi được bản thân nó. Chừng nào bạn còn chưa trở
nên rất ý thức và bắt đầu dùng tâm trí mình một cách có ý thức, tâm trí cứ cho
bạn những công thức làm sẵn. Chúng có thể đã từng hiệu quả trong những tình huống
khác nào đó, nhưng chúng không liên quan mãi mãi - bởi vì cuộc sống chưa bao giờ
hệt nhau ngay cả cho hai khoảnh khắc liên tiếp.
Người
có trách nhiệm là người tỉnh táo, luôn quan sát, và không bao giờ hành động từ
quá khứ của mình mà hành động từ nhận biết hiện tại của mình. Bằng không bạn
bao giờ cũng bị lạc hậu. Đó là cách mọi người đang vậy - bao giờ cũng lạc hậu.
Họ cứ cho những câu trả lời cho các câu hỏi mà không được hỏi. Họ cứ làm những
thứ cực kì mất thời gian và năng lượng - bởi vì tình huống không đòi hỏi chúng.
Bây
giờ con người đã trở nên rất có khả năng về mặt khoa học, nhưng về mặt tâm hồn
con người còn chưa đủ chín chắn. Và công nghệ cùng tất cả quyền năng của nó ở
trong tay của những người chưa chín chắn là rất nguy hiểm. Hiroshima và
Nagasaki sắp sửa sẽ được lặp đi lặp lại. Điều đó giống như đưa cho trẻ nhỏ chiếc
kiếm để chơi: hoặc nó sẽ làm hại bản thân nó hoặc ai đó khác. Điều đó nhất định
xảy ra; điều hại là gần như không tránh khỏi.
Và
đó là điều đã xảy ra cho thế giới hiện đại. Về mặt khoa học chúng ta có công
nghệ lớn có thể làm thay đổi toàn thể bề mặt trái đất và chung cuộc toàn thể
khuôn mặt của vũ trụ, nhưng về mặt tâm hồn chúng ta chưa chín muồi. Về mặt tâm
hồn chúng là ở sau hàng thế kỉ - có lỗ hổng nhiều thế kỉ giữa khoa học của
chúng ta và tâm trí của chúng ta!
Suy
ngẫm lần nữa về phản ứng của Niels Bohr đi. Ông ấy nói, "Tôi đã được bảo rằng
nó sẽ là ân huệ dù ông tin vào nó hay không." Ông ấy đang sống trong cuộc
sống mê tín!
Vâng,
điều đó là được với người nguyên thuỷ, nhưng với Niels Bohr, một trong những bộ
óc tinh tế nhất, người đã đóng góp lớn cho tri thức hiện đại, người cùng loại với
Albert Einstein, Eddington, Edison, và những người khác... người có trí tuệ lớn,
vẫn vận hành như đứa trẻ nhỏ, người nguyên thuỷ, vận hành rất trẻ con!
Và
để tôi nhắc bạn lần nữa: cũng như có khác biệt lớn lao giữ phản ứng và đáp ứng,
cũng có sự khác biệt lớn lao giữa như trẻ thơ và ngây thơ. Đừng ngây thơ. Vâng,
hồn nhiên như trẻ thơ là hay, như mê tín ngây thơ lại là xấu.
Và
nhớ loại cớ nào bạn cứ đi tìm trong cả đời mình, bởi vì nếu bạn cứ tìm ra cớ
cho cách thức cuộc sống của bạn, nó sẽ cứ còn lại đúng cách nó đang là. Nó sẽ
không bao giờ bị thay đổi cả, bởi vì không ai khác có thể làm điều đó cho bạn
được.
Gái
điếm cố gắng bán hàng cho một đàn ông trên Đại lộ Công viên.
"Tôi
không đi vì ba lí do," anh ta đáp. "Tôi đã hứa với vợ tôi, và tôi
cũng đã hứa với mẹ tôi, rằng tôi sẽ không ngu mà đi với đàn bà lạ đâu."
"Cớ
thứ ba của anh là gì?" gái điếm hỏi. "Tôi mới có một con bé rồi!"
anh ta nói.
Nhìn
vào lập luận phi lí của bạn đi - ngu xuẩn, nếu bạn là người có chút ít quan
sát; bằng không chúng có vẻ đúng cả.
Phật
nói:
Điều
hại là của ông.
Điều
đầu tiên cần chú ý: Phật không gọi nó là tội lỗi, ông ấy gọi nó là điều hại -
sai lầm, lỗi, nhưng không là tội. Thực ra, trong cách nhìn của Phật không có cái
gì như tội lỗi cả. Gọi cái gì đó là tội lỗi là kết án nó, và đó không chỉ là kết
án hành động, đó là kết án người này nữa. Từ 'tội lỗi' là rất nặng nề. Phật
dùng từ 'điều hại' - thay đổi là lớn lao. Nếu bạn gọi nó là tội lỗi, thế thì bạn
phải bị trừng phạt vì nó. Thế thì bạn là tội nhân, thế thì bạn sẽ phải chịu khổ
lúc nào đó trong tương lai.
Tương
lai được tạo ra bởi các tu sĩ, bởi lí do nào đó. Trong cuộc sống chúng ta thấy
nhiều kẻ tội nhân nở hoa: họ nổi tiếng, họ có quyền thế, họ giầu có. Thực ra,
là tổng thống hay là thủ tướng của một nước, bạn phải rất vô đạo đức. Bạn phải
phạm đủ mọi loại điều vô đạo đức, chỉ thế thì bạn mới có thể leo tới chức vụ
cao nhất. Không dễ lên tới đó đâu: bạn phải cạnh tranh, bằng phương tiện sai
hay phương tiện đúng.
Trong
chính trị chẳng có gì sai hay đúng cả: mọi thứ đúng là những thứ cho bạn kết quả.
Dùng mọi loại thang để leo tới chức vụ cao nhất, và một khi bạn đã lên tới rồi,
không ai sẽ nhớ điều bạn đã làm trên đường. Một khi bạn có quyền, mọi người
đơn giản quên tất cả về điều bạn đã làm cho họ. Không chỉ điều đó đâu - bạn có
thể viết lại toàn thể lịch sử nữa! Đó là điều Joseph Stalin đã làm, Adolf
Hitler đã làm.
Joseph
Stalin đã viết lại sử của Cách mạng Nga: tất cả những cái tên mà ông ta chống lại
đều bị vứt bỏ đi. Trotsky, người đã là một nhân vật lỗi lạc trong cách mạng hơn
Stalin nhiều, đã hoàn toàn bị vứt bỏ; ông ấy thậm chí bị loại ra khỏi các ảnh.
Stalin đã nắm quyền trong một thời kì dài: ông ta đã thay đổi toàn bộ lịch sử,
ông ta đã làm ra lịch sử mới - bịa ra!
Một
khi ông ấy chết, cùng điều đó được Khrushchev làm cho ông ấy - ông này thay đổi
lại lịch sử lần nữa. Ngay cả xác của Stalin, được gìn giữ như xác của Lenin
cũng đã bị loại bỏ khỏi chỗ của nó, bởi vì xác của ông ấy nằm cạnh xác Lenin.
Ông ấy đã chỉ đổi ảnh và lời! Khrushchev loại bỏ xác của Stalin. Mọi người nhổ
vào xác chết của ông ta. Nó bị bỏ vào một góc xa xôi, một nơi không ai tới cả.
Tôi
đã nghe nói rằng ai đó đã gợi ý, "Tại sao đồng chí không gửi cái xác sang
Israel?"
Khrushchev
nói, "Tôi ngại lắm, bởi vì người ta nói rằng có lần một người được phục
sinh sau ba ngày. Tôi có thể gửi xác ông ấy tới bất kì đâu, nhưng không gửi tới
Israel đâu. Ai mà biết được - ngộ nhỡ ông ấy quay lại thì sao...? Chỉ ý niệm
đó!"... Bởi vì trong ba mươi năm Khrushchev đã chỉ vẫy đuôi trước Stalin.
Trong ba mươi năm ông ấy chỉ như một con chó, không hơn thế! Sau cái chết của
Stalin, khi ông ấy trở nên có quyền, ông ấy trả thù.
Ai
đó đã hỏi ông ấy trong một cuộc hội nghị, "Nếu đồng chí chống lại Stalin dữ
thế, tại sao đồng chí đã không khẳng định điều đó khi ông ấy còn sống? Trong ba
mươi năm đồng chí đã cùng làm việc với ông ấy - thậm chí không có lấy một trường
hợp nào ghi lại rằng đồng chí đã tranh cãi với ông ấy hay đã nói cái gì chống lại
ông ấy hay thậm chí thảo luận về bất kì cái gì. Đồng chí bao giờ cũng là người
nói có. Đồng chí giải thích điều đó thế nào, sự liên kết của đồng chí trong ba
mươi năm với Stalin? Nếu ông ấy sai, thế thì đồng chí cũng sai!" Ai đó nói
to từ hàng ghế cuối của phòng hội nghị.
Khrushchev
đứng im lặng một chốc, thế rồi ông ấy nói, "Xin mời đồng chí đứng dậy và
nói đồng chí là ai!" Không ai đứng dậy cả, và ông ấy nói, "Bây giờ đồng
chí thấy rồi chứ? Đây là câu trả lời của tôi! Đồng chí không thể đứng dậy và
nói tên đồng chí trước tôi được; đó là cùng tình huống với tôi trong những ngày
đó. Tôi có thể giết đồng chí - ông ấy có thể đã giết tôi!"
Và
cùng điều đó đã được làm cho Khrushchev.
Đó
là cách nó đã từng diễn ra. Trong chính trị quyền lực bạn không nghĩ tới phương
tiện đúng hay sai. Trong chính trị không có đúng, không có sai: bất kì cái gì
thành công đều đúng và bất kì cái gì thất bại đều sai. Và tình huống cũng là
như vậy ở bãi chợ. Nếu bạn thành công trong việc tích luỹ tiền, bạn đúng.
Các
tu sĩ trở nên nhận biết về vấn đề này. Vấn đề là: tội nhân thành công trong cuộc
sống - thế thì làm sao giải thích được điều đó? Nếu tội nhân mà phải bị trừng
phạt, thì đây là loại trừng phạt gì vậy? Thực ra, thánh nhân dường như bị phạt
còn tội nhân dường như được thưởng. Giải thích điều này thế nào? Kiếp sống
tương lai là cách thoát duy nhất cho vấn đề này.
Các
tu sĩ đã bịa ra ý niệm này rằng địa ngục và cõi trời là kiếp sống sau. Trong kiếp
này tội nhân có thể thành công, nhưng trong kiếp sống tiếp người đó sẽ phải khổ,
sau cái chết người đó sẽ phải chịu khổ. Và thánh nhân có thể chịu khổ trong kiếp
này, nhưng sau cái chết người đó sẽ được thưởng: người đó sẽ được đưa lên thiên
đường. Bây giờ, không ai biết gì về kiếp sau cả, liệu nó có hay không. Không ai
đã bao giờ quay lại từ đó; không ai đã bao giờ tường trình nó giống cái gì, cái
gì xảy ra ở đó. Nhưng nó là phương cách tốt; nó giúp cho tu sĩ an ủi mọi người.
Phật
chưa bao giờ dùng từ 'tội lỗi', bởi vì nó có tính kết án. Ông ấy có kính trọng
sâu sắc với nhân loại thế! Không thầy nào khác đã từng biểu lộ kính trọng nhân
loại như Phật. Và khó mà biểu lộ được sự kính trọng nhân loại, thực sự khó, bởi
vì nhân loại hành xử theo cách ngu xuẩn thế. Chỉ thầy chứng ngộ vẫn có thể biểu
lộ sự kính trọng nhân loại, mặc cho tất cả những điều nhân loại vẫn đang làm.
Phật
dùng từ 'điều hại'; nó không kết án bạn. Nó đơn giản nói rằng bạn đã chọn cách
sai. Và ông ấy nói: điều hại là của ông. Điều đó không bị tiền định bởi Thượng
đế, bởi số phận, hay bởi bất kì ai khác - nó là của bạn. Và buồn khổ đi theo điều
hại - hay, chính xác hơn, buồn khổ xảy ra đồng thời với điều hại, cũng là của bạn.
Không có thượng đế nào trừng phạt bạn cả, không cần, bởi vì nếu có thượng đế -
lại bịa đặt của tu sĩ - nếu có thượng đế như quan toà... quan toà có thể bị hối
lộ chứ.
Và
tu sĩ đã từng bảo mọi người, "Cầu nguyện Thượng đế đi, cầu nguyện Thiên
Chúa đi, và ông sẽ được tha thứ." Tán dương là gì? Nó là một loại hối lộ!
Do
đó, ở một nước như Ấn Độ nơi mọi người đã từng cầu nguyện Thượng đế hàng thế kỉ,
hối lộ là rất đơn giản. Không ai nghĩ điều đó là sai - nó là cái gì tôn giáo chứ!
Nếu ngay cả Thượng đế mà cũng có thể bị hối lộ, nói gì tới anh cảnh sát nghèo!
Nếu ngay cả Thượng đế mà cũng có thể bị hối lộ và thuyết phục làm những điều lợi
cho bạn, nói gì tới quan toà nghèo? Và nếu Thượng đế không sai, sao quan toà bị
coi là sai?
Ở
phương Đông, hối lộ không bị coi là sai; chính khái niệm phương Tây là hối hộ
là sai. Ở phương Đông nó chỉ là một việc đơn giản, nó bao giờ cũng được làm. Tu
sĩ không là gì ngoài tác nhân giữa bạn và Thượng đế: họ nhận hối lộ từ bạn, và
nhân danh bạn họ cầu xin Thượng đế. Tất nhiên, trong những thứ như hối lộ, tác
nhân được cần tới bởi vì đưa hối lộ trực tiếp bạn sẽ cảm thấy sợ. Người này có
thể cảm thấy không đúng; người này có thể thấy bị xúc phạm, cảm giác nhân phẩm
của người này có thể bị xúc phạm. Người này có thể cảm thấy bị tổn thương khi
nghĩ, "Ông nghĩ gì về tôi? Rằng ông có thể mua được tôi sao?" Hay,
cho dù người này có muốn nhận nó, người này có thể nói không, người này có thể
phủ nhận nó. Người này có thể nói, "Tôi chưa bao giờ nhận hối lộ nào cả."
Ý thức của người đó về bản ngã ngoan đạo có thể chiếm quyền sở hữu con người
đó. Tác nhân được cần tới, người trung gian biết cả hai bên cho nên bạn không cần
đương đầu trực tiếp với người này. Ở mọi nơi tác nhân đều được cần tới.
Các
tu sĩ đã là tác nhân giữa con người và Thượng đế. "Con phạm tội à? Đừng
lo," tu sĩ nói. "Đưa đủ tiền hối lộ ra đây và con sẽ được tha thứ. Và
Thượng đế rất từ bi." Nếu bạn không hối lộ thế thì dĩ nhiên bạn phải chịu
khổ rồi.
Phật
đã loại bỏ Thượng đế hoàn toàn. Ông ấy đã loại bỏ Thượng đế bởi vì ông ấy muốn
loại bỏ tu sĩ. Chừng nào Thượng đế còn chưa bị loại bỏ tu sĩ không thể nào bị
loại bỏ; ông ta chỉ là cái bóng của Thượng đế, sản phẩm phụ. Thượng đế là bịa đặt
của ông ta! Do đó toàn thể giới tu sĩ của Ấn Độ đều chống lại Phật, bởi vì ông ấy
đang phá huỷ đi chính thương mại của họ, ông ấy tiết lộ ra chính bí mật thương
mại của họ, ông ấy chặt chính gốc rễ của họ.
Và
Ấn Độ có giới tu sĩ lâu nhất, cũ nhất trên thế giới: người brahmins. Trong mười
nghìn năm họ đã từng khai thác mọi người. Họ đã sống trên sự khai thác, họ đã
không làm cái gì khác cả. Họ đã không làm việc cực nhọc, họ đã không lao động.
Toàn thể chức năng của họ chỉ là hành động như kẻ trung gian.
Phật
mới thực sự chặt đi chính gốc rễ của giới tu sĩ, toàn thể thể chế đi cùng nó,
và việc khai thác nhân danh tôn giáo. Ông ấy nói:
Điều
hại là của ông. Buồn khổ là của ông.
Không
có Thượng đế nào cho bạn sự trừng phạt, từng hành động của điều hại về bản chất
đều đem buồn khổ tới cho bạn. Nếu bạn cho tay vào lửa bạn sẽ bị bỏng. Không phải
là cần có quan toà để tuyên bố rằng bây giờ bạn phải bị trừng phạt bởi sắc lệnh
của Thượng đế hay sắc lệnh của quan toà; bạn phải bị trừng phạt bởi vì bạn đã
đưa tay vào lửa. Không cần bất kì ai tuyên bố phán quyết nào. Khoảnh khắc bạn
đưa tay vào lửa bạn sẽ bị bỏng - ngay lập tức, tức khắc! Theo cách nhìn của Phật,
hành động đem tới kết quả riêng của nó; chẳng cần quan toà nào cả.
"Tai
nạn này xảy ra thế nào?" bác sĩ hỏi.
"Thế
này," bệnh nhân giải thích, "Tôi đang làm tình với cô gái của mình
trên chiếc thảm phòng ngủ thì, bất ngờ, đèn treo trên trần rơi xuống chúng
tôi."
"May
mắn là anh chỉ phải chịu vài vết rách nhỏ trên mông," bác sĩ nói.
"Tôi nghĩ anh là người rất may mắn đấy."
"Bác
sĩ nói thế chứ," người này kêu lên. "Một phút sớm hơn nó có thể đã
làm vỡ sọ tôi rồi!"
Điều
đó tất cả phụ thuộc vào bạn! Điều hại là của ông. Buồn khổ là của ông.
Nhưng
đức hạnh cũng là của ông. Và thuần khiết.
Cho
nên đừng cảm thấy buồn. Thực ra, cảm thấy vui đi. Phật đang cho bạn tự do toàn
bộ... bạn có thể chọn. Nếu bạn đang thích buồn, đó là chọn lựa của bạn. Thế thì
đừng phàn nàn. Bạn đã tự mình chọn nó; tận hưởng nó nếu bạn muốn tận hưởng nó.
Điều đó tất cả là tuỳ bạn.
Cô
dâu trở về từ tuần trăng mật và kể lại kinh nghiệm của mình cho người bạn thân
nhất của cô ấy. "Và đêm đầu tiên thế nào?" cô bạn hỏi trong mong đợi.
"Ồ,
kinh khủng!" cô dâu nói. "Cả đêm - lên và xuống, trong và ngoài, lên
và xuống, trong và ngoài. Chẳng bao giờ vào được phòng cạnh thang máy!"
Cả
đời bạn là chọn lựa của bạn: bạn có thể ở trong địa ngục, bạn có thể ở cõi trời.
Và cõi trời và địa ngục là không xa xôi nhau gì cả. Thực ra, thậm chí không có
lấy một hàng rào giữa hai nơi này, không có phân chia; chúng hội nhập và tan chảy
vào nhau. Bạn có thể dễ dàng đi từ không gian này sang không gian kia.
Và
mọi người đều đã thử đủ mọi thứ, nhưng không cái gì thành công. Mọi người đã thử
rượu và ma túy và mọi người đã thử lời cầu nguyện, nghi lễ tôn giáo - chẳng cái
gì có tác dụng. Có thể trong một khoảnh khắc, hay trong vài giờ, mescaline hay
LSD có thể đem bạn đi xa khỏi khổ hiện tại của bạn, nhưng thực ra chúng chẳng
đưa bạn đi xa - chúng đơn giản làm cho bạn vô nhận biết về nó.
Chỉ
một điều đã thành công và đó là việc trở nên có ý thức hơn, chấp nhận rằng đó
là trách nhiệm của bạn; nếu bạn khổ, thế thì nhìn vào nó và tìm ra cách bạn đã
chọn nó và tại sao bạn đã chọn nó. Và thấy rằng nó là chọn lựa của bạn: nếu bạn
vẫn muốn ích lợi tới cùng nó...
Vâng,
có vài ích lợi; đó là lí do tại sao mọi người chọn khổ. Không ai muốn khổ cả,
nhưng có vài ích lợi tới cùng khổ. Mọi người đều muốn phúc lạc, nhưng có vài bất
lợi - ít nhất chúng cũng có vẻ bất lợi theo quan điểm của bạn. Đó là lí do tại
sao người ta muốn phúc lạc nhưng không chọn nó, người ta không muốn khổ những vẫn
chọn nó.
Khổ
cho bạn cảm giác về bản ngã. Khổ tách bạn khỏi sự tồn tại, xác định ra bạn.
Phúc lạc là hội nhập, tan chảy. Các định nghĩa của bạn biến mất, bản ngã của bạn
không được tìm thấy nữa. Cho nên những người muốn cảm thấy "tôi đây,"
họ phải chọn khổ, không có cách khác. Cái 'tôi' nuôi dưỡng cho khổ; bạn có thể
không thích khổ nhưng bạn thích bản ngã, và đó là động cơ tinh vi cho việc chọn
khổ. Bạn thích phúc lạc, nhưng bạn không muốn tan chảy.
Chuyện
xảy ra nhiều lần: mọi người tới tôi và họ nói.... Và cùng điều đó đã xảy ra với
Phật: nhiều lần ông ấy đã được hỏi cùng một câu hỏi - và có thể đó là cùng một
người đã hỏi ông ấy và bây giờ họ đang hỏi tôi! Ông ấy đã được hỏi nhiều lần,
"Thầy nói phúc lạc sẽ có đó khi chúng tôi đã biến mất. Nhưng nếu chúng tôi
không có đó, phỏng có ích gì mà đạt tới phúc lạc? Nếu tôi không có đó để tận hưởng
nó, phỏng có ích gì?"
Cùng
những người đó tới tôi và hỏi, "Nếu tôi biến mất, thế thì tôi chẳng thấy
ra vấn đề. Cho dù có phúc lạc, nếu tôi không có, ai sẽ kinh nghiệm nó?" Và
về mặt logic dường như là luận cứ của họ là hợp thức - nhưng chỉ về mặt logic
thôi, không về mặt tồn tại.
Phúc
lạp không phải là kinh nghiệm. Không phải là có phúc lạc và bạn kinh nghiệm nó.
Khi bạn biến mất bạn là phúc lạc; không cần bất kì ai để kinh nghiệm nó - bạn
trở thành nó. Bạn bỏ trống... và phúc lạc bắt đầu nảy sinh trong bạn. Bạn đang
chặn nó lại, bạn là rào chắn duy nhất.
Bạn
phải nhìn sâu vào trong nó; chỉ thế thì kinh của Phật mới rõ ràng cho bạn.
Điều
hại là của ông. Buồn khổ là của ông. Nhưng đức hạnh cũng là của ông. Và thuần
khiết. Và ông ấy ngụ ý gì bởi thuần khiết? Đức hạnh không phải là thuần khiết
sao? Không; do đó ông ấy phải nhắc tới nó một cách tách biệt. Thuần khiết nghĩa
là trạng thái vượt ra ngoài cả hai tốt và xấu, khổ và phúc lạc - bên ngoài cả
hai.
Có
trạng thái siêu việt; nó là an bình. Phật gọi nó là niết bàn: việc dừng mọi trạng
thái, tốt và xấu cả hai, ngày và đêm cả hai. Người ta đơn giản hiện hữu: đó là
thuần khiết. Không kinh nghiệm nào, không cái gì xảy ra, không nội dung, tính
chủ quan thuần tuý, im lặng vĩnh hằng: đó là thuần khiết.
Điều
hại là của ông. Buồn khổ là của ông. Đức hạnh là của bạn, phúc lạc là của bạn,
và bên ngoài mọi thứ là thuần khiết, phật tính, thức tỉnh, siêu việt. Cái đó
cũng là của bạn.
Ông
là cội nguồn
Của
mọi thuần khiết và mọi không thuần khiết.
Đây
là khăng khăng liên tục của ông ấy, rằng: Ông là cội nguồn... Ông ấy muốn bạn
được nhắc nhở lặp đi lặp lại rằng: Ông là cội nguồn... Bạn đi vào trong thế giới
như một tiềm năng thuần khiết, tiềm năng đa chiều. Bạn có thể trở thành bất kì
cái gì. Bạn có thể là tội nhân, bạn có thể là thánh nhân. Bạn có thể là Adolf
Hitler, Joseph Stalin, hay bạn có thể là vị Phật hay một Jesus. Bạn đem mọi loại
tiềm năng cùng mình; bạn có thể chọn bất kì cái gì bạn muốn là. Bạn không được
sinh ra được làm sẵn; bạn chỉ tới như một khả năng, cơ hội vô hạn.
Một
cơ hội để trưởng thành, đó là điều cuộc sống là gì - một không gian để trưởng
thành. Nhưng bạn có thể trưởng thành theo nhiều cách, những cách đối lập hẳn.
Adolf Hitler có thể trở thành Phật Gautama; Gautam Siddhartha có thể trở thành
Adolf Hitler. Adolf Hitler không được sinh ra như Adolf Hitler.
Chúng
ta được sinh ra là tabula rasa, tấm đá sạch; không gì được viết lên nó. Chính
là về sau chúng ta bắt đầu viết. Thế thì tấm này trở thành Bhagavadgita, Kinh
Thánh, Talmud, Upanishads, và tấm khác trở thành cuốn sách khiêu dâm. Và đó là
cùng một tờ giấy sạch mà trên đó sách báo khiêu dâm được in lên hay trên đó
Bhagavadgita được in, và đó là cùng mực được dùng cho cả hai trường hợp và nó lại
là cùng máy in nữa. Nhưng khác biệt thật bao la! Khác biệt bao la làm sao giữa
Adolf Hitler và Phật Gautam! Và cả hai tới với cùng cơ hội, nhưng chọn lựa là
khác nhau.
Tự
nhắc nhở bản thân mình lặp đi lặp lại rằng: Ông là cội nguồn của mọi thuần khiết
và mọi không thuần khiết. Một khi điều này được chấp nhận, tính đích thực lớn
lao nảy sinh trong bạn.
Frederick
II của Prussia, cũng nổi tiếng với cái tên Frederick Đại đế, đã thiết lập những
cải cách và cải tiến xã hội trong cả nước mình. Một hôm ông ấy tới thăm bất ngờ
trại tù để giám định các tiện nghi. Viên trưởng trại mất tinh thần khi bị yêu cầu
chỉ cho vua xem nhà tù để xem các điều kiện sống một cách cá nhân.
Khi
Frederick đi qua nhà giam, những người tù chạy tới ông ấy, biện hộ cho sự hồn
nhiên và cầu xin tha thứ. Nhà vua nghe mọi người, rồi bước tiếp. Ông ấy bị bao
quanh bởi những người nói rằng họ không phạm tội.
Tuy
nhiên một người vẫn ở trong góc của mình. Nhà vua ngạc nhiên. "Anh
kia!" ông ấy gọi. "Sao anh ở đây?"
"Ăn
cướp, thưa bệ hạ," tù nhân tuyên bố. "Và anh phạm tội?"
Frederick hỏi.
"Hoàn
toàn phạm tội, thưa bệ hạ. Tôi xứng đáng với sự trừng phạt của
mình."
Nhà
vua lấy chiếc gậy của mình tách đám đông ra và trỏ nó vào người coi tù.
"Ông cai ngục," ông ấy nói, "thả tay phạm tội này ngay. Ta sẽ
không để anh ta ở đây trong tù nơi mà theo gương mọi người anh ta sẽ làm hư hỏng
tất cả những người hồn nhiên, huy hoàng ở trong đó."
Khoảnh
khắc bạn nhận trách nhiệm một cách toàn bộ, đó là việc chuộc lại lớn lao, nó là
tự do. Bạn bỗng nhiên ở ngoài nhà giam - chỉ bằng việc nhận trách nhiệm. Khó, rất
khó rất gian nan để chấp nhận rằng "Tôi chịu trách nhiệm"; điều đó
làm tổn thương bản ngã. Nhưng không có cách khác.
Không
ai làm thuần khiết người khác.
Đây
là cách Phật vứt bỏ toàn thể giới tu sĩ. Nếu không ai có thể làm thuần khiết được
bạn, nếu không ai có thể làm thuần khiết được người khác, thế thì toàn thể chức
năng của giới tu sĩ biến mất.
Giới
tu sĩ lớn nhất trên thế giới bây giờ là giới linh mục Cơ đốc giáo. Và bạn có thấy
lí do tại sao không? - bởi vì trong hai mươi thế kỉ họ đã từng tuyên bố rằng việc
cứu rỗi là qua Jesus. Đó là gốc rễ căn bản của giới linh mục Cơ đốc giáo; nó tuỳ
thuộc vào điều đó. Nếu bằng cách nào đó người ta có thể chứng minh được rằng
Jesus không thể cứu được bất kì ai khác, thế thì toàn thể nhà thờ Cơ đốc giáo sẽ
trở thành không liên quan.
Nhà
thờ có liên quan, giáo hoàng có liên quan chỉ bởi vì lời tuyên bố nhân danh
Jesus rằng "Jesus làm thuần khiết," rằng "Jesus cứu vớt."
Và giáo hoàng đại diện cho Jesus: ông ấy là đại diện của Jesus trên trần gian,
của Thượng đế trên trần gian. Thượng đế là vô hình; Jesus không còn trong trần
gian, nhưng ông ấy đã để lại các đại diện của mình và họ có những liên lạc trực
tiếp - họ có thể quay số bất kì khoảnh khắc nào.
Họ
có thể tiến cử bạn hay họ có thể cho tên bạn vào danh sách đen.
Phật
nói: Không ai làm thuần khiết người khác. Bạn đã làm điều tai hại cho bản thân
mình - bây giờ chỉ bạn mới có thể hoàn tác được nó. Sao lại đem ai đó khác vào
trong nó? Nếu Jesus đã không là nguyên nhân cho điều hại của bạn, làm sao ông ấy
có thể là nguyên nhân của việc cứu bạn khỏi những điều hại đó?
Phật
nói: chư phật chỉ có thể chỉ con đường - nhưng ông phải bước đi. Họ không thể
bước hộ bạn được; không ai có thể mang bạn tới thiên đường được. Bạn là người,
bạn không phải là cừu! Nhưng ý niệm Ki tô giáo là ở chỗ Jesus là người chăn cừu
và bạn là cừu. Và ý niệm Ki tô giáo là ở chỗ bạn càng lạc nhiều, cơ hội càng tốt
để Jesus sẽ mang bạn trên vai ông ấy tới nhà tối thượng.
Điều
này tất cả là bịa đặt! Jesus chỉ có thể cứu được bản thân ông ấy thôi, và bằng
việc cứu bản thân mình, ông ấy có thể chỉ ra cho bạn con đường để cứu bản thân
bạn, nhưng ông ấy không thể cứu bạn được.
Đây
là chỗ Phật nổi bật trên mọi tôn giáo khác. Ông ấy thực sự rất, rất nhận biết
không để bất kì cơ hội nào cho bất kì loại tu sĩ nào nảy sinh đằng sau ông ấy -
bởi vì tu sĩ là kẻ thù lớn nhất của tôn giáo. Và các tu sĩ không phải là cây cầu
giữa bạn và Thượng đế đâu; ngược lại, họ là bức tường.
Một
quí ông Do Thái già cả trèo lên toa tầu hoả và chẳng mấy chốc bắt ngay vào cuộc
hội thoại với một hành khách khác trong khoang, người này giải thích rằng mình
là linh mục Cơ đốc giáo miền quê.
"Và
sau khi là linh mục miền quê, ông trở thành cái rì trong nhà thờ của
mình?" người Do Thái hỏi.
"Thế
này, có thể tôi được chuyển vào một giáo xứ thị trấn."
"Rồi
sau dó?"
"Ồ,
không! Tôi sẽ không bao giờ được đặt cao hơn chỗ đó đâu."
"Nhưng
nếu ông rất thạo trong việc ông có thể trở thành cái rì?" người Do Thái cứ
hỏi dai dẳng.
"Thế
này, tôi có thể trở thành một Đức ông." "Rồi sau dó?"
"Nếu
tôi rất, rất may mắn tôi có thể trở thành giám mục."
"Rồi
thì sao?" "Tổng giám mục." "Rồi sau dó?"
"À,
hồng y giáo chủ ở Rome." "Thế dồi tiếp?"
"Từ
các hồng ý giáo chủ, giáo hoàng được bầu ra." "Ồ, giáo hoàng. Sau ông
ấy là rì?"
"Cái
gì! Không có cái cao hơn giáo hoàng đâu. Ông ấy là linh mục của Thượng đế trên
trần gian đấy!"
"Vậy
về Jesus Christ thì xao?"
"Không,
điều đó là báng bổ! Không ai có thể trở thành Christ được!"
"Ồ!"
người Do Thái nói, "'một trong các bạn tui đã làm ra nó đấy."
Điều
đó không báng bổ - mọi người đều có thể trở thành một christ, bởi vì christ là
trạng thái của tâm thức; nó chẳng liên quan gì tới Jesus. Christ là tương đương
với phật. Phật không liên quan gì tới Gautam Siddhartha - bất kì ai cũng đều có
thể trở thành vị phật. Bất kì ai trở nên thức tỉnh đều là vị phật và bất kì ai
thức tỉnh, được tôn lên bởi niềm vinh quang của thức tỉnh, đều là christ.
Christ nghĩa là người được tôn lên. Người đã về nhà và được tôn lên với niềm
vinh quang của việc trở thành một với Thượng đế, là một christ.
Bạn
có thể là một christ.
Đã
từng có nhiều christ trước Jesus Christ và sẽ có nhiều nữa. Thực ra, chung cuộc,
từng cá nhân đều phải đạt tới trạng thái của tính christ. Điều đó không báng bổ
- nhưng tu sĩ phải gọi nó là báng bổ. Ông ta không thể cho phép bạn trở thành một
christ được, bởi vì nếu bạn trở thành một christ, tu sĩ không được cần tới chút
nào nữa. Thậm chí ý niệm rằng bạn có thể trở thành christ nghĩa là bạn đã đi xa
khỏi nanh vuốt của giới tu sĩ. Chính ý niệm này là nguy hiểm đối với giới tu
sĩ; đó là lí do tại sao nó lại báng bổ.
Nhưng
Phật nói: Không ai làm
thuần khiết người khác.
Đừng
bao giờ bỏ quên việc của ông
Do
đó, đừng phụ thuộc vào bất kì ai khác cứu bạn - chỉ công việc riêng của bạn lên
bản thân mình mới có thể cứu được bạn.
Đừng
bao giờ bỏ quên việc của ông.... Điều gian nan là biến đổi bản thân bạn từ hình
mẫu sai sang hình mẫu đúng, và từ hình mẫu đúng tới siêu việt. Điều đó là cuộc
hành hương gian nan, vĩ đại, đó là nhiệm vụ lên dốc. Đừng cứ tin tưởng và lừa dối
bản thân mình rằng ai đó sắp tới rồi: vị cứu tinh sẽ tới và sẽ cứu bạn khỏi tội
lỗi của bạn và khỏi tù túng của bạn. Điều này chỉ là hi vọng, là sự thoả ước muốn.
Và mọi người đã từng chờ đợi vị cứu tinh và cứu tinh chẳng bao giờ tới cả.
Không
phải là đã không có cứu tinh - đã từng có rồi: một Phật, một Krishna, một
Zarathustra, một Jesus, một Mohammed, một Moses. Đây tất cả đều là các christs,
tất cả chư phật! Nhưng không ai có thể làm thuần khiết bạn được - chừng nào bạn
còn chưa lấy quyết định, chừng nào bạn còn chưa trở nên cam kết biến đổi bản
thân mình.
Đừng
chờ đợi bất kì lối tắt nào - bạn không thể ăn gian với sự tồn tại được. Không
ai có thể cõng bạn trên vai người đó; bạn phải đi tới đỉnh tối thượng theo cách
riêng của mình.
Đừng
bao giờ bỏ quên việc của ông Vì việc
của người khác,
Dù
nhu cầu người đó lớn thế nào.
Và
Phật nói: Cõ những người nghèo túng khắp xung quanh. Có những người ốm yếu, có
những người bần cùng, có những người bại liệt người mù và người điếc và người
què. Nếu bạn bắt đầu phục vụ tất cả những người này bạn sẽ quên mất công việc
thực. Đó là điều đã xảy ra cho người truyền giáo Ki tô giáo. Người đó cai quản
trường học, bệnh viện, người đó phục vụ người nghèo, và tất nhiên người đó được
kính trọng lắm vì điều đó, nhưng người đó quên mất công việc thực.
Phật
không nói đừng phục vụ bất kì ai; ông ấy nói đừng phục vụ với giá của công việc
của bạn. Nếu bạn có thể phục vụ mọi người mà không quấy rối công việc thực của
bạn với bản thân mình, điều đó là được; bên cạnh điều đó bạn có thể làm nó.
Nhưng thực ra điều đó là không thể được - bạn không có nhiều năng lượng đâu.
Trước hết bạn phải rót toàn thể năng lượng của bạn, toàn bộ năng lượng, vào tự
trưởng thành.
Một
khi bạn đã trở nên lớn, chín chắn, tỉnh táo, nhận biết, thế thì bạn có thể phục
vụ mọi người và chỉ thế - bởi vì bạn sẽ có cái gì đó để chia sẻ: tình yêu, từ
bi. Thế thì bạn sẽ có cái gì đó để thực sự giúp họ: hiểu biết, trí huệ. Ngay
bây giờ bạn có thể làm được gì? Ngay bây giờ bản thân bạn còn trong lộn xộn tới
mức bạn mà phục vụ ai đó thì bạn nhất định tạo ra nhiều lộn xộn hơn cho người
đó.
Và
đó là điều các nhà truyền giáo đã từng làm cho thế giới - họ tạo ra nhiều điều
hại hơn, nhiều lộn xộn hơn. Họ nghĩ họ đang làm công việc vĩ đại, công việc
thiêng liêng - điều đó là không thể được! Chừng nào bạn còn chưa thiêng liêng
công việc của bạn không thể thiêng liêng được. Hành động không được quyết định
bởi bản thân hành động mà bởi cội nguồn từ đó chúng nảy sinh.
Phật
nói: Đừng bao giờ bỏ quên việc của ông... Phật đang nói đích xác điều tôi nói với
bạn. Tôi nói với bạn: Trước hết hãy vị kỉ đã, hoàn toàn vị kỉ. Đó là một trong
những chỉ trích về công việc của tôi: mọi người chỉ trích tôi bởi vì tôi làm
cho mọi người vị kỉ. Tôi đang bảo họ thiền, trưởng thành, và quên hết về thế giới
đi. Và thế giới đang trong rắc rối: có người nghèo và có người khổ, và đang cần
những công bộc lớn. Và tôi đang dạy mọi người chỉ ngồi im lặng và thiền, hay nhảy
múa và hân hoan.
Nhưng
đó là điều Phật đang nói. Đó là điều người thức tỉnh bao giờ cũng nói cho thế
giới. Trước hết trở nên chứng ngộ đi, tràn đầy ánh sáng, thế rồi làm bất kì cái
gì xảy ra qua ánh sáng đó. Nếu việc phục vụ tới dễ dàng cho bạn, tốt. Nếu bạn
muốn dạy mọi người, tốt. Nếu bạn muốn giúp người ốm, người già, tốt. Nhưng ngay
bây giờ bản thân bạn đang mù, bản thân bạn đang trong đêm tối của linh hồn. Bạn
có thể làm gì với việc phục vụ của bạn? Bạn sẽ cho mọi người cái gì? Bạn chẳng
có gì cả - bạn trống rỗng, hổng hoác.
Đừng
bao giờ bỏ quên việc của ông vì việc của người khác, dù nhu cầu người đó lớn thế
nào. Lắng nghe lời của Phật: Dù nhu cầu của người đó lớn thế nào, đừng bao giờ
quên công việc riêng của bạn. Có cái gì đó rất nền tảng tham gia vào trong nó:
bạn có thể giúp người khác chỉ nếu bạn đã giúp cho bản thân mình trước hết.
Có
lần tôi ngồi trên bờ sông và một người bắt đầu chìm. Anh ta kêu lên cầu cứu.
Tôi chạy tới, nhưng lúc tôi tới gần dòng sông để nhảy, một người khác ở gần
hơn, ngay bên bờ, đã nhảy xuống rồi. Thế là tôi dừng mình lại; không cần nữa.
Nhưng thế rồi người kia bắt đầu chìm - tôi phải cứu cả hai!
Tôi
hỏi người thứ hai, "Sao anh nhảy nếu anh không biết bơi?"
Anh
ta nói, "Tôi hoàn toàn quên mất! Lúc tôi nghe anh ta kêu, 'Cứu tôi với!' -
tôi hoàn toàn quên mất rằng tôi không biết bơi. Tôi đơn giản nhảy, đấy là đáp ứng
máy móc."
Đây
không phải là cách giúp đỡ! Tôi nói, "Nếu mà tôi không ở đây, cả hai anh
chắc đã chết đuối rồi! Có mọi khả năng người kia lần tới bờ một mình, không có
anh... Bởi vì anh không biết bơi và anh sẽ bắt giữ lấy người kia và cả hai anh
sẽ phụ thuộc vào nhau, có nhiều khả năng là cả hai anh sẽ chết đuối. Và anh tạo
ra rắc rối không cần thiết cho tôi - trước hết tôi phải cứu anh, bởi vì anh ở gần
bờ hơn, và người kia phải đợi lâu thêm chút nữa."
Nhưng
điều này xảy ra trong cuộc sống mọi ngày: bạn bắt đầu giúp người khác mà không
trở nên nhận biết rằng bản thân bạn đang cần giúp.
Hãy
vị tha chỉ khi cái ta riêng của bạn được hoàn thành. Vị kỉ và không vị kỉ không
đối lập nhau. Người thực sự vị kỉ nhất định trở nên không vị kỉ một ngày nào
đó, bởi vì người thực sự vị kỉ là người đi tới khám phá ra cái ta bên trong của
mình. Người thực sự vị kỉ không thể quan tâm tới tiền, không thể quan tâm tới
quyền, không thể quan tâm tới danh. Nếu người đó thực sự vị kỉ, mối quan tâm đầu
tiên của người đó sẽ là: "Ta là ai?" Những người quan tâm tới tiền và
quyền và danh không biết vị kỉ thực.
Tôi
cũng dạy bạn vị kỉ thực, đích thực, bởi vì quan sát của riêng tôi là: từ nó nảy
sinh ra tình yêu vị tha. Chúng không đối lập. Khi người ta được hoàn thành, người
ta bắt đầu tuôn trào với từ bi.
Việc
của ông là khám phá việc của ông
Và
điều đầu tiên là - bước đầu tiên của công việc của bạn là - khám phá ra công việc
của bạn.
Và
thế rồi với cả trái tim mình
Để
trao bản thân mình cho nó.
Phật
ngụ ý gì khi ông ấy nói: Việc của ông là khám phá việc của ông...? Một phát biểu
rất huyền bí, nhưng duy nhất rõ ràng như vậy; bằng không thì đơn giản, logic.
Có
hai kiểu người trên thế giới. Cũng như về mặt sinh học có nam và nữ, về mặt tâm
linh cũng có nam và nữ. Nam sinh học có thể không có tính tâm linh nam, nhớ lấy.
Không có tất yếu về sự trùng hợp của chúng; lúc thì chúng trùng, lúc thì không.
Nữ sinh học cũng nhất thiết là nữ tâm linh.
Đàn
ông có thể thấy rằng sâu bên trong bản thân mình anh ta có nữ tính nhiều hơn
nam tính: mềm mại hơn, mong manh hơn, nhạy cảm hơn, giống bụng mẹ hơn: ít hùng
hổ hơn, ít tích cực hơn. Đàn bà có thể thấy sâu bên dưới rằng cô ấy không nhạy
cảm, cô ấy hùng hổ.
Cũng
như có nam và nữ về sinh học và tâm linh, vậy thì con đường tâm linh có thể được
chia làm đôi: con đường nam và con đường nữ, âm và dương. Đây là phân chia căn
bản. Toàn thể tự nhiên được phân chia thành hai: tiêu cực và tích cực, vật chất
và tâm trí, đất và trời. Toàn thể tự nhiên phụ thuộc vào biện chứng này, vào nhị
nguyên này - và chúng ta là một phần của nó ngay bây giờ. Khi bạn trở nên chứng
ngộ bạn sẽ đi ra ngoài nó - thế thì không có biện chứng, thế thì không có nhị
nguyên, thế thì bạn đạt tới cái một - nhưng trước khi bạn đạt tới cái một bạn sẽ
phải tìm ra công việc gì sẽ phù hợp với bạn.
Tôi
gọi hai kiểu công việc này là: yêu và thiền. Yêu là con đường nữ và thiền là
con đường nam. Thiền ngụ ý năng lực để ở một mình tuyệt đối, và yêu ngụ ý năng
lực ở cùng nhau tuyệt đối. Yêu nghĩa là hân hoan trong tính quan hệ; thiền
nghĩa là hân hoan trong đơn độc, một mình. Cả hai đều làm cùng một việc, bởi vì
trên cả hai con đường bản ngã đều biến mất. Nếu bạn thực sự trong yêu bạn phải
vứt bỏ bản ngã của mình; bằng không yêu sẽ không thể được. Nếu bạn muốn đi sâu
vào thiền bạn sẽ phải bỏ lại bản ngã đằng sau; bằng không bạn sẽ không một mình
được. Bản ngã sẽ có đó và nhị nguyên sẽ còn lại: bản thể và bản ngã, tâm thức
và tâm trí.
Bạn
sẽ phải vứt bỏ tâm trí nếu bạn muốn đi vào thiền, và bạn sẽ phải vứt bỏ tâm trí
nếu bạn muốn đi vào trong yêu.
Cho
nên cơ chế căn bản là như nhau, nhưng chiều hướng là khác nhau. Thiền nhân đi
vào trong; người đó hướng nội, người đó tìm kiếm nội tâm. Và người yêu đi ra
ngoài; người đó hướng ngoại, người đó tìm kiếm bản thể của người khác. Trong
yêu, người khác trở thành tấm gương trong đó bạn thấy khuôn mặt của mình, khuôn
mặt nguyên thuỷ của mình. Trong thiền, bạn không cần có tấm gương nào; bạn đơn
giản đi vào bản thân mình và bạn tìm thấy bản thân mình, sự phản xạ của bạn là
không cần thiết. Đây là hai kiểu công việc cơ bản.
Phật
nói: Việc của ông là khám phá việc của ông. Điều đầu tiên là khám phá ra đích
xác bạn thuộc kiểu người nào. Mahavira, Phật, Lão Tử, đây là người kiểu thiền,
người có tính thiền. Nhưng Jesus, Chaitanya, Kabir, những người này thuộc kiểu
yêu; họ cần đối thoại với sự tồn tại. Trong thiền không có lời cầu nguyện bởi
vì không có người khác; trong lời cầu nguyện có đối thoại của ta và người.
Liệu
Thượng đế có tồn tại hay không là không liên quan. Patanjali đã nói Thượng đế
chỉ là một phương cách cho kiểu yêu, người không thể tìm thấy bản thân mình nếu
không tạo ra tấm gương; thế thì Thượng đế là tấm gương lớn nhất mà bạn có thể tạo
ra. Liệu Thượng đế có tồn tại hay không không phải là vấn đề chút nào.
Patanjali nói đó là phương cách thôi: phương cách cho lời cầu nguyện. Điều thực
là lời cầu nguyện, không phải Thượng đế, nhớ điều đó: điều thực là lời cầu nguyện,
không phải Thượng đế. Điều thực là tình yêu, không phải người được yêu.
Nếu
bạn có thể yêu, nếu bạn có thể cầu nguyện, chẳng thành vấn đề liệu Thượng đế có
tồn tại hay không, liệu lời cầu nguyện của bạn có được nghe hay không. Bản thân
lời cầu nguyện đang biến đổi; nghe, không nghe, là vấn đề bên lề. Trong lời cầu
nguyện sâu bạn làm tan biến bản ngã của mình. Nhưng với lời cầu nguyện bạn cần
cái cớ: cầu nguyện với ai? Bạn cần cái cớ; do đó mới có Thượng đế, giả thuyết về
Thượng đế. Nó là giả thuyết, nhớ lấy; nó không thực có đó.
Không
có người nào như Thượng đế ngồi đâu đó trên trời nghe lời cầu nguyện của mọi
người. Nếu có người như vậy ông ấy chắc đã phát điên từ lâu rồi - nhiều, nhiều
người thế, hàng triệu người trên thế gian... Và bây giờ các nhà khoa học nói có
ít nhất năm mươi nghìn trái đất trong vũ trụ, tất cả đều đầy dân chúng. Bây giờ
hàng triệu và hàng triệu lời cầu nguyện đang phát sinh hàng ngày, và Thượng đế
chỉ có một. Thượng đế đáng thương! Và nhiều người tôn thờ thế!
Khi
tôi thường du hành trong đất nước này - trong mười lăm năm tôi đã du hành, hai
mươi mốt ngày du hành trong một tháng - tôi gặp khó khăn. Khó khăn lớn nhất là
thái đội của người Ấn Độ với thánh nhân. Họ sẽ tới và họ sẽ cọ chân bạn, và tôi
phát mệt bởi những kì cọ đó!
Có
lần chuyện xảy ra tôi tới từ Udaipur. Tầu hoả dừng lại ở ga nào đó; lúc đó phải
đã mười hai giờ đêm rồi. Sau một trại bẩy ngày tôi đã cảm thấy rất mệt mỏi, và
một người bước vào khoang của tôi và bắt đầu cọ chân tôi. Tôi nói, "Ông sẽ
làm việc phục vụ lớn lao cho tôi nếu ông chấm dứt tất cả những thứ vô nghĩa này
đi. Đơn giản ra khỏi khoang!"
Ông
ta nói, "Thầy đi ngủ đi, đừng ngăn cản tôi! Tôi đã chờ đợi cả năm để cho
khi tầu hoả tới đây tới ga của tôi và thầy trở về từ trại Udaipur, tôi có thể cọ
chân thầy, tôi có thể phục vụ thầy."
Tôi
nói, "Tầu này sẽ dừng ở đây bao lâu?"
Ông
ta nói, "Đừng lo! Nó dừng lại ở đây độ hai tiếng, bởi vì từ đây đầu máy đổi
và đường đổi, cho nên thầy có thể ngủ được."
Tôi
nói, "Làm sao tôi có thể đi ngủ được?"
Và
ông ta thực sự làm công việc vất vả thế - cái gì đó tựa như Rolfing! Tôi hỏi
ông ta, "Ông học Rolfing ở đâu thế?"
Ông
ấy nói, "Tôi đã chờ đợi cả năm!"
Tôi
nói, "Điều đó tôi hiểu." Thế là ông ấy trả thù!
Cuối
cùng tôi phát mệt, mệt tới mức tôi phải gọi cảnh sát tới để loại người đó ra.
Bây giờ người đó rất giận dữ. Người đó nói, "Không thánh nhân nào đã từng
làm điều này!"
Tôi
nói, "Tôi không phải là thánh nhân!"
Nhưng
đó không phải là vấn đề: đầu tiên ông ta phóng chiếu thánh nhân, thế rồi ông ta
có thể phục vụ thánh nhân. Ông ta thực sự muốn phục vụ người linh thiêng nào
đó; liệu người linh thiêng đó có linh thiêng hay không không phải là vấn đề.
Tôi
nói, "Tôi thậm chí sẵn sàng là tội nhân nếu ông để tôi một mình!"
Nghĩ
về Thượng đế đi! Ngày đó tôi bắt đầu nghĩ về Thượng đế, điều gì phải xảy ra cho
ông ấy. Việc cầu nguyện... cả triệu người cầu nguyện. Và có hàng triệu người đã
trên trời - họ phải làm Rolfing lên ông ấy! Ông ấy phải thường xuyên chạy trốn,
chạy xa.
Tôi
đã nghe:
Ban
đầu Thượng đế thường sống ở đường M.G. ở Pune, nhưng thế rồi mọi người bắt đầu
gây phiền phức cho ngài quá nhiều. Suốt ngày đêm họ gõ cửa nhà ngài - toàn phàn
nàn với phàn nàn: "Làm cái này, làm cái nọ. Ngày mai chúng tôi cần
mưa," ai đó sẽ nói. Và thế rồi ai đó khác sẽ tới; người đó sẽ nói,
"Mai không mưa đâu, bởi vì tôi định giặt giũ phơi phóng ngày mai."
Ngài
bắt đầu cảm thấy rằng mình sẽ phát rồ! Ngài hỏi các cố vấn. Họ nói, "Ngài
có thể đi lên Himalayas."
Ngài
nói, "Điều đó sẽ chẳng ích gì mấy đâu, bởi vì ta có thể nhìn vào tương lai:
chẳng mấy chốc..." bởi vì trong thế giới của Thượng đế thời gian đi nhanh
lắm. Với chúng ta nó là hàng thế kỉ, với Thượng đế nó là khoảnh khắc.
Mới
hôm nọ tôi đã đọc một câu chuyện. Một con khủng long đực đang trong tình yêu lớn
lao với một con khủng long cái. Trong mười nghìn năm nó đã chờ đợi để nói với
con cái, "Anh yêu em." Thế rồi trong mười nghìn năm nó tán tỉnh con
cái. Thế rồi trong mười nghìn năm nói nói tất cả những điều dịu ngọt mà những
người yêu nói với nhau. Theo cách này ba mươi nghìn năm trôi qua. Và thế rồi một
hôm nó nói, "Em yêu, đến lúc rồi: chúng ta làm tình chứ?"
Và
bạn có biết con khủng long cái nói gì không?
Nó
nói, "Em đang có thập kỉ của em!"
Nếu
điều này là như vậy trong thế giới của khủng long, còn nói gì về Thượng đế?
Thang thời gian là khác.
Thượng
đế nói, "Ông không biết đấy thôi - chẳng mấy chốc một người có tên
Hillary, được một người khác giúp đỡ, Tenzing, sẽ lên tới đỉnh Everest. Và một
khi một người lên tới đó, thế thì chuyện xong rồi! Thế thì xe bus chẳng bao lâu
sẽ tới và trực thăng và máy bay, và khách sạn sẽ mở ra và nhà hàng và ta sẽ lại
ở trên đường M.G. thôi! Điều đó chẳng ích gì."
Ai
đó gợi ý, "Thế thì sao ngài không lên mặt trăng?"
Ông
ấy nói, "Điều đó sẽ chẳng ích gì đâu. Chỉ thêm vài năm nữa " - điều
đó nghĩa là thêm vài khoảnh khắc nữa - "và người khác sẽ bước đi trên mặt
trăng. Và nếu họ tìm thấy dấu vết nào của ta ở bất kì đâu, toàn thể thế giới sẽ
xô về ta ngay."
Thế
rồi một cố vấn tới gần ngài, thì thào cái gì đó vào tai ngài, và Thượng đế trở
nên thực sự sung sướng và nói, "Điều này đúng rồi"
Người
này thì thào, "Thế thì sao ngài không trốn vào trong bản thân con người?"
Thượng
đế nói, "Ờ đúng rồi! Ở đó, chính đó rất hiếm người nhìn vào. Thỉnh thoảng,
vài người và khoảnh cách xa ở giữa - một Phật, một Jesus sẽ nhìn vào. Bằng
không chẳng ai nhìn vào cả. Và những người nhìn vào là không nguy hiểm. Họ
càng đi sâu hơn vào bên trong, họ càng trở nên an bình hơn. Đến lúc họ đạt tới
trung tâm họ đã đánh mất mọi ngôn ngữ, cho nên họ không thể phàn nàn và họ
không thể cầu nguyện được! Đến lúc họ đạt tới ta họ sẽ tan chảy vào trong ta và
ta sẽ tan chảy vào trong họ."
Và
kể từ đó Thượng đế đã cư ngụ trong con người.
Đây
là bí mật đáng ra tôi không nên nói với bạn. Ít nhất cho tôi một ân huệ - đừng
kể nó cho bất kì ai khác nhé!
Việc
của ông là khám phá việc của ông. Điều đầu tiên là quyết định xem liệu bạn có cảm
thấy vui vẻ khi một mình không. Chẳng hạn, Chetana đang ngồi đây. Vivek bao giờ
cũng hỏi tôi, "Chetana vẫn còn một mình và cô ấy trông hạnh phúc thế. Bí mật
là gì?" Cô ấy thuộc kiểu thiền đấy! Vivek không thể nào hiểu được rằng người
ta có thể sống một mình toàn bộ. Bây giờ toàn thể công việc của Chetana là làm
việc giặt giũ cho tôi; đó là thiền của cô ấy. Cô ấy không bao giờ đi ra, thậm
chí không đi ăn trong căng tin. Cô ấy mang theo thức ăn của mình... dường như
không quan tâm tới bất kì người nào hết cả.
Nếu
bạn có thể tận hưởng sự một mình này, thế thì con đường của bạn là thiền. Nhưng
nếu bạn cảm thấy rằng bất kì khi nào bạn có quan hệ với mọi người, khi bạn ở
cùng với mọi người, bạn cảm thấy vui vẻ, phấn khởi, phấn chấn, bạn cảm thấy sống
động hơn, thế thì chắc chắn yêu là con đường của bạn.
Quan
sát đi, và bạn sẽ thấy không khó để quyết định con đường của bạn là gì. Một khi
bạn đã tìm ra công việc của mình, thế thì Phật nói: với cả trái tim mình để
trao bản thân mình cho nó. Thế thì đừng chờ đợi một khoảnh khắc nào và đừng giữ
lại bất kì năng lượng nào khỏi nó. Được tham dự một cách toàn bộ, tuyệt đối - bởi
vì biến đổi là có thể chỉ khi bạn đang sôi lên tới điểm một trăm độ, không âm ấm.
Chỉ âm ấm sẽ không có tác dụng; bạn phải sôi tại một trăm độ. Bạn phải toàn bộ
trong công việc của mình. Đầu tiên khám phá ra, để thời gian.
Chức
năng của thầy là để giúp bạn tìm ra công việc thực của bạn là gì, kiểu của bạn
là gì. Nếu bạn không thể tìm ra được, hãy nhận sự giúp đỡ của thầy. Nhận sự
giúp đỡ của thầy để tìm ra đích xác thiền và yêu là gì. Thầy sẽ chỉ cho bạn con
đường, nhưng thế rồi bạn phải đi theo và bạn phải theo một cách toàn bộ. Bạn
không thể theo điều đó trong từng mảnh mẩu, từng phần được; bạn phải đi hoàn
toàn vào trong nó. Thế thì biến đổi là có thể ngay tức khắc. Trong một khoảnh
khắc người ta có thể trở thành vị phật hay một christ.
Và
nhớ lấy, duy nhất bạn có thể làm phép màu này, không ai khác có thể làm điều đó
cho bạn được.
Đủ
cho hôm nay


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment