Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 3)
Chương
7. Người đó là người đánh xe
Người
đó là người đánh xe.
Người
đó đã thuần hoá các con ngựa,
Lòng
tự hào và các giác quan.
Ngay
cả Thượng đế cũng ngưỡng mộ người đó.
Nhường
nhịn như đất,
Vui
và trong như hồ,
Tĩnh
lặng như tảng đá tại cửa,
Người
đó tự do với sống và chết.
Ý
nghĩ của người đó tĩnh lặng.
Lời
của người đó tĩnh lặng.
Việc
của người đó tĩnh lặng.
Người
đó thấy tự do của mình và được tự do.
Người
chủ buông xuôi niềm tin của mình.
Người
đó thấy bên ngoài cái kết thúc và cái bắt đầu.
Người
đó cắt đi mọi trói buộc.
Người
đó từ bỏ mọi ham muốn.
Người
đó chống lại mọi cám dỗ.
Và
người đó vươn lên.
Và
bất kì đâu người đó sống,
Ở
thành thị hay thôn quê,
Trong
thung lũng hay trên núi,
Đều
có vui vẻ lớn lao.
Ngay
cả trong rừng trống rỗng
Người
đó tìm thấy vui vẻ
Bởi
vì người đó không muốn gì.
Con
người là hạt mầm của tiền năng vĩ đại: con người là hạt mầm của phật tính. Từng
người được sinh ra đều là vị phật. Con người không được sinh ra là nô lệ mà là
người chủ. Nhưng có rất ít người thực tại hoá tiềm năng của mình. Và lí do tại
sao hàng triệu người không thể nhận ra được tiềm năng của mình là ở chỗ họ coi
nó như đương nhiên rằng họ đã có nó.
Cuộc
sống là cơ hội duy nhất để trưởng thành, để hiện hữu, để nở hoa. Cuộc sống
trong bản thân nó là trống rỗng; chừng nào bạn còn chưa mang tính sáng tạo bạn
sẽ không có khả năng rót đầy nó bằng sự hoàn thành. Bạn có bài ca trong trái
tim mình để được hát lên và bạn có điệu vũ để được múa, nhưng điệu vũ đó là vô
hình, và bài ca nữa - thậm chí bạn cũng chưa từng nghe thấy nó. Nó ở sâu bên dưới
ẩn trong cốt lõi bên trong nhất của bản thể bạn; nó phải được đem lên bề mặt,
nó phải được diễn đạt ra.
Đó
là điều được ngụ ý bởi 'tự thực hiện'. Hiếm người là người biến đổi cuộc sống của
mình thành sự trưởng thành, người biến đổi cuộc sống của mình thành cuộc hành
trình lâu dài của tự thực hiện, người trở thành điều mình được ngụ ý là vậy. Ở
phương Đông chúng ta đã gọi người đó là vị phật, ở phương Tây chúng ta đã gọi
người đó là christ. Từ 'christ' đích xác có nghĩa như điều từ 'phật' ngụ ý: người
đã trở về nhà.
Chúng
ta tất cả đều là những người lang thang trong việc tìm kiếm nhà, nhưng việc tìm
kiếm này là rất vô ý thức - dò dẫm trong bóng tối, không nhận biết đích xác
mình dò dẫm về cái gì, mình là ai, mình đi đâu. Chúng ta cứ đi như mẩu gỗ trôi
dạt, chúng ta cứ còn là sự ngẫu nhiên.
Và
điều đó trở thành có thể bởi vì hàng triệu người quanh bạn đang trong cùng một
con thuyền, và khi bạn thấy rằng hàng triệu người đang làm cùng những điều bạn
làm, thế thì bạn phải đúng rồi - bởi vì hàng triệu người không thể sai được. Đó
là logic của bạn, và logic đó sai từ nền tảng: hàng triệu người không thể đúng.
Rất
hiếm khi một người là đúng; rất hiếm khi một người nhận ra chân lí. Hàng triệu
người sống điều dối trá, sống giả vờ. Sự tồn tại của họ chỉ là trên bề mặt; họ
sống ở chu vi, hoàn toàn không nhận biết gì về trung tâm. Và trung tâm này chứa
tất cả: trung tâm là vương quốc của Thượng đế.
Bước
đầu tiên hướng tới phật tính, hướng tới việc nhận ra tiềm năng vô hạn của bạn,
là nhận ra rằng mãi cho tới nay bạn đã làm phí hoài cuộc sống của mình, rằng
mãi cho tới nay bạn vẫn còn hoàn toàn vô ý thức.
Bắt
đầu trở nên có ý thức đi; đó là cách duy nhất để đạt tới. Điều đó là gian
truân, điều đó là gian nan. Vẫn còn ngẫu nhiên là dễ dàng; nó không cần thông
minh, do đó nó dễ dàng. Bất kì kẻ ngu nào cũng có thể làm điều đó - mọi kẻ ngu
đều đã làm điều đó rồi. Dễ dàng để mà mang tính ngẫu nhiên bởi vì bạn không bao
giờ cảm thấy có trách nhiệm với bất kì cái gì xảy ra. Bạn bao giờ cũng có thể đổ
trách nhiệm lên cái gì đó khác: số phận, Thượng đế, xã hội, cấu trúc kinh tế,
quốc gia, nhà thờ, mẹ, bố, các bậc phụ huynh... Bạn có thể cứ đổ trách nhiệm
lên ai đó khác; do đó nó là dễ dàng.
Sống
có ý thức nghĩa là nhận lấy toàn thể trách nhiệm lên vai riêng của bạn. Sống có
trách nhiệm là bắt đầu của phật tính. Khi tôi dùng từ 'trách nhiệm' tôi không
dùng nó theo cách hiểu thông thường của việc mang tính nghĩa vụ đâu. Tôi đang
dùng nó theo nghĩa thực, bản chất của nó: năng lực đáp ứng - đó là nghĩa của
tôi. Và năng lực đáp ứng là có thể chỉ nếu bạn có ý thức. Nếu bạn ngủ say, làm
sao bạn có thể đáp ứng được? Nếu bạn ngủ say, chim chóc sẽ cứ hót nhưng bạn sẽ
không nghe thấy, và hoa sẽ cứ nở và bạn sẽ không bao giờ có khả năng cảm thấy
cái đẹp, hương thơm, vui vẻ, mà chúng vẫn đang mưa rào lên sự tồn tại.
Có
trách nhiệm nghĩa là tỉnh táo, có ý thức. Có trách nhiệm nghĩa là luôn chăm
chú, để tâm. Hành động với nhiều nhận biết nhất bạn có thể tìm thấy được. Ngay
cả với những điều nhỏ bé - đi trên phố, ăn thức ăn, tắm - bước đi trên phố, ăn
thức ăn, tắm táp - không nên được làm một cách máy móc. Làm chúng với đầy nhận
biết vào.
Dần
dần, dần dần những hành động nhỏ bé đó trở nên chói sáng, và từ từ những hành động
chói sáng này cứ tụ tập bên trong bạn, và cuối cùng là sự bùng nổ. Hạt mầm đã nổ
ra, tiềm năng đã trở thành thực tại. Bạn không còn là hạt mầm mà là hoa sen,
hoa sen vàng, hoa sen một nghìn cánh. Và đó là khoảnh khắc của phúc lành lớn
lao; Phật gọi điều đó là niết bàn. Người ta đã đạt tới. Bây giờ không còn gì
thêm để đạt tới nữa, không đâu để đi. Bạn có thể nghỉ ngơi, bạn có thể thảnh
thơi - cuộc hành trình đã kết thúc. Vui vẻ vô cùng nảy sinh trong khoảnh khắc
đó, cực lạc lớn lao được sinh ra. Nhưng người ta phải bắt đầu từ chỗ bắt đầu.
Sau
chầu uống rượu ba ngày, Tooley và Bragan đăng kí vào khách sạn và yêu cầu cho
hai giường đôi. Tuy nhiên, trong bóng tối họ cả hai lại leo lên cùng một giường.
"Này!"
Tooley kêu lên. "Tớ nghĩ một thằng cha homo đã lẻn vào giường với tớ."
"Cũng
có một cha đồng tính trong giường tớ," Bragan kêu.
"Tống
những kẻ đồng dâm này ra đi," người thứ nhất kêu lên.
Một
trận vật lộn khủng khiếp xảy ra và cuối cùng Tooley bay ra khỏi giường. "Đằng
ấy làm thế nào rồi?" anh ta kêu lên từ trên sàn.
"Tớ
đã tống thằng cha ở giường tớ ra rồi," người Airơlen kia nói. "Đằng ấy
thì sao?"
"Nó
tống tớ ra rồi."
"Được,
điều đó làm cho chúng ta bằng nhau. Vào giường với tớ đi."
Đây
là cách con người hiện hữu: trong bóng tối, hoàn toàn vô ý thức; làm mọi sự, chẳng
biết tại sao; đơn giản làm bởi vì có sự thôi thúc vô ý thức để làm. Bây giờ,
đây không chỉ là giả thuyết huyền môn về con người đâu. Sigmund Freud, Gustav
Jung, Alfred Adler và những người khác, các nhà nghiên cứu hiện đại về tâm thần
con người, đã bắt gặp cùng hiện tượng này.
Freud
nói con người sống một cách vô ý thức, mặc dầu tâm trí tinh ranh tới mức nó có
thể tìm ra lí do, động cơ. Ít nhất nó cũng có thể tạo ra cái mẽ ngoài cứ dường
như bạn đang sống cuộc sống có ý thức - và điều đó là rất nguy hiểm bởi vì bạn
có thể bắt đầu tin vào mẽ ngoài riêng của mình. Thế thì cuộc sống của bạn bị mất
đi, thế thì bạn sẽ không có khả năng dùng cơ hội cực kì có giá trị này.
Mọi
người cứ làm những điều vô ý thức - mặc dầu họ đau khổ, mặc dầu họ khổ vô cùng,
dầu vậy họ cứ làm cùng một điều đem khổ tới cho họ. Họ không biết cái gì khác để
làm. Họ không có đó, họ không hiện diện; do đó họ không thể làm được gì. Họ bị mắc
bẫy trong bản năng vô ý thức.
Hennessy,
đổ đầy các chai, đang ẩn nấp ở góc phố tối tăm và hoang vắng. Chẳng mấy chốc một
người bước qua, và Hennessy nhảy xổ ra khỏi bóng tối, súng lăm lăm trong tay.
"Đứng
yên tại chỗ!" anh ta nhỏ dãi. Thế rồi anh ta rút cái chai ra khỏi túi
mình. "Đây," Hennessy ra lệnh, "uống cái này đi."
Quá
khiếp hãi không dám kháng cự, anh chàng đáng thương nắm lấy cái chai và tu hết.
"Ôi chào!" anh ta kêu lên. "Nước này có vị kinh quá!"
"Tôi
biết," người Airơlen cười khùng khục. "Bây giờ cầm lấy súng đây và bắt
tôi uống thứ nước đó."
Cái
nước bạn đang uống, cái nước đó bạn gọi là cuộc sống của mình, là thực sự kinh
khủng! Nhưng bạn cứ buộc bản thân mình, làm cùng những hành động lặp đi lại lại
- chẳng biết cái gì khác để làm, chẳng chỗ nào khác để đi, chẳng biết rằng có
những phương án khác có thể có đó, rằng có những phong cách sống khác. Và
phương án lớn nhất là chiều hướng tôn giáo.
Chiều
hướng tôn giáo đơn giản có nghĩa là chiều hướng của việc ý thức, của việc tỉnh
táo, của việc sống cuộc sống luôn tự nhớ về bản thân mình. Để tôi nói thêm rằng
với tự nhớ bản thân tôi không ngụ ý tự ý thức. Tự ý thức là hiện tượng giả; nó
là cái tên khác của bản ngã. Tự nhớ bản thân là hiện tượng hoàn toàn khác; nó
là việc chấm dứt của bản ngã. Trong tự ý thức không có tâm thức, chỉ có cái ta;
trong tự nhớ bản thân không có cái ta, chỉ có việc nhớ lấy.
Toàn
thể phương pháp luận của Phật là ở chỗ tự nhớ bản thân: sammasati. Nó đã được dịch
thành chân tâm hay chân nhận biết. Chân nhận biết là gì? Nhận biết cũng có thể
sai sao? Vâng, có khả năng đấy: nếu nhận biết trở thành quá tập trung vào đối
thể thì nó là nhận biết sai. Nhận biết phải là nhận biết về bản thân nó, thế
thì nó là chân nhận biết.
Khi
bạn nhìn cây, nhìn núi, nhìn sao, bạn có thể có ý thức - ý thức về cây, ý thức
về núi, ý thức về sao - nhưng bạn lại không ý thức về người đang ý thức tới mọi
điều này. Đây là nhận biết sai, bị hội tụ vào đối thể. Bạn phải đừng hội tụ nó
vào đối thể, bạn phải giúp nó quay vào nội tâm. Bạn phải đem nó vào lãnh thổ
riêng của mình, bạn phải rót đầy tính chủ thể của mình bằng ánh sáng của nó.
Khi
người ta tràn đầy ánh sáng, không chiếu các thứ khác trong ánh sáng này và chỉ
chiếu vào bản thân ánh sáng, thế thì đó là chân nhận biết và đó là cánh cửa tới
niết bàn, tới Thượng đế - tới tự nhớ bản thân.
Với
việc sinh bạn chỉ được trao cho một cơ hội. Không có sự cần thiết bên trong rằng
bạn sẽ thực sự trở thành, rằng tiềm năng của bạn sẽ được thực hiện, rằng bạn sẽ
thực sự đạt tới tính hiện hữu. Chỉ mỗi cơ hội được trao cho bạn, thế rồi mọi sự
là tuỳ ở bạn. Bạn sẽ phải tìm ra con đường, bạn sẽ phải tìm ra thầy, bạn sẽ phải
tìm ra tình huống đúng. Đó là thách thức lớn lao.
Cuộc
sống là thách thức lớn để biết bản thân mình. Nếu thách thức này được chấp nhận,
bạn thực sự trở thành con người lần đầu tiên; bằng không bạn cứ tồn tại ở mức độ
dưới con người.
Và
không chỉ phàm nhân đang sống cuộc sống vô ý thức đâu. Cái gọi là người tôn
giáo cũng không khác biệt gì.
Cha
Duffy được phái tới một làng Eskimo nhỏ ở phần lạnh nhất của Alaska. Nhiều
tháng sau đó, giám mục tới thăm ông ta. "Giữa những người Eskimo này ông
thấy thích thế nào ở đây?"
"Cũng
được đấy," linh mục đáp. "Thế thời tiết thì sao?" giám mục hỏi.
"À,
chừng nào tôi còn có Rosary* và rượu vốt ka thì tôi chẳng quan tâm tới trời lạnh
thế nào."
"Tôi
mừng khi nghe điều đó. Vậy, tôi có thể gọi chút ít rượu vốt ka ngay bây giờ được
không."
"Được
chứ," Cha Duffy nói.
"Rosary!
Cô đem lên cho chúng tôi hai cốc vốt ka nhé?"
Người
thế giới này, người thế giới khác, không thực khác nhau lắm đâu. Chỉ có một
khác biệt tạo ra sự khác nhau và đó là nhận biết, tỉnh táo. Và nhận biết có thể
được thực hành ở bất kì đâu: bạn không cần đi lên núi, bạn không cần vào tu viện,
bạn không cần từ bỏ thế giới.
Thực
ra, trong thế giới này còn dễ thực hành nhận biết hơn bất kì chỗ nào khác. Đây
là kinh nghiệm riêng của tôi, và không chỉ là kinh nghiệm cá nhân của tôi mà
quan sát của tôi về hàng nghìn sannyasins nữa. Cách dễ dàng nhất để trở nên nhận
biết là sống trong thế giới này và thực hành nó, bởi vì thế giới cho bạn biết
bao nhiêu cơ hội. Tu viện không thể cho bạn nhiều kinh nghiệm được. Sống trong
hang núi, bạn có cơ hội nào để mà tỉnh táo? Bạn sẽ ngày một ngủ nhiều hơn ở đó,
ngày một đờ đẫn hơn. Thông minh sẽ không được cần tới, do đó bạn sẽ mất mọi sắc
bén của thông minh. Và nhận biết sẽ không được cần tới; sẽ không có thách thức
cho nó. Chỉ trong thách thức mà cuộc sống mới phát triển; thách thức càng lớn,
cơ hội càng lớn. Và thế giới này thực sự đầy những thách thức. Do đó với các
sannyasin của mình tôi nói: đừng bao giờ từ bỏ.
Hân
hoan trong thế giới đi! Trong quá khứ chúng ta đã từ bỏ quá nhiều và kết quả đã
là không. Chúng ta đã tạo ra bao nhiêu vị phật trong quá khứ? Họ có thể được đếm
trên đầu ngón tay. Chỉ hiếm khi, rất hiếm khi một người mới trở thành Phật,
Christ hay Krishna. Trong số hàng triệu và hàng triệu hạt mầm chỉ một hạt nẩy mầm
thôi sao? Điều đó chẳng được mấy. Điều đó là sự lãng phí cực kì tiềm năng con
người lớn lao, và lí do là ở thái độ trốn tránh của các tôn giáo.
Tôi
khẳng định cuộc sống, tôi hân hoan trong cuộc sống. Và tôi muốn tất cả các bạn
đều sống sâu sắc, mãnh liệt, đam mê trong cuộc sống, chỉ với một điều kiện: tỉnh
táo, quan sát, chứng kiến. Và tôi biết khó khăn nảy sinh, bởi vì bạn sẽ sống
cùng hàng triệu người ngủ - và ngủ có tính lây nhiễm; cũng như nhận biết. Nhận
biết nữa, cũng có tính lây nhiễm; do đó mới có ý nghĩa của việc sống cùng thầy.
Thầy
không thể cho bạn chân lí được. Không ai có thể đem chân lí cho bất kì ai khác
được, nó là không truyền trao được. Thầy không thể đem bạn tới mục đích tối thượng
được, bởi vì ở đó bạn sẽ phải đạt tới một mình, không ai có thể đi cùng bạn được.
Bạn không thể đạt tới đó bằng việc bắt chước thầy, bởi vì bạn càng bắt chước ai
đó, bạn càng trở nên giả hơn. Làm sao bạn có thể đạt tới chân lí bằng việc trở
thành giả được?
Thế
thì chức năng của thầy là gì? Thế thì hữu dụng của việc tìm thầy là gì? Thế thì
sao là đệ tử? Dầu vậy vẫn có lí do, và lí do là ở chỗ nhận biết lây nhiễm như
buồn ngủ. Nếu bạn ngồi với vài người mà tất cả đều đang ngủ thì bạn sẽ bắt đầu
cảm thấy buồn ngủ.
Một
câu chuyện Sufi nổi tiếng kể:
Có
người bán trái cây. Anh ta có con cáo rất tinh ranh thường hay trông cửa hàng
cho anh ta. Bất kì khi nào anh ta phải đi ra ngoài anh ta đều bảo con cáo,
"Tỉnh táo đấy. Ngồi vào chỗ của ta và quan sát. Quan sát mọi hoạt động diễn
ra quanh đây. Không cho phép người nào ăn cắp cái gì. Nếu ai đó cố ăn cắp, gây
ra tiếng động - ta sẽ chạy từ nhà tới ngay lập tức."
Một
hôm Mulla Nasruddin đi qua. Anh ta nghe thấy chủ cửa hàng nói chuyện với con
cáo, nói mọi điều này, "Tỉnh táo, quan sát mọi hoạt động đang diễn ra xung
quanh, và nếu mày thấy cái gì đó chống lại chúng ta hay ai đó định đánh cắp
trái cây, làm tiếng động và ta sẽ ra."
Mulla
Nasruddin bị cám dỗ lắm. Người chủ cửa hàng đi vào. Nasruddin ngồi ngay trước cửa
hàng và bắt đầu giả vờ ngủ lơ mơ; mắt nhắm nghiền anh ta bắt đầu ngủ gà ngủ gật.
Trong
một chốc con cáo đáng thương nghĩ, "Phải làm gì nhỉ? Mình có cần gây tiếng
động không? Nhưng ngủ thì không phải là hoạt động - thực ra nó chính là điều đối
lập - và ông chủ đã nói rằng nếu hoạt động nào đó diễn ra xung quanh... Đây
không phải là hoạt động: người này đang rơi vào giấc ngủ, và một người ngủ có
thể làm được gì, có hại gì đâu?" Nhưng con cáo không nhận biết rằng Mulla
đang thử một chiến lược Sufi! Bằng việc giả vờ rơi vào giấc ngủ, bằng việc mơ
màng nhắm mắt, dần dần, dần dần anh ta xoay xở làm cho con cáo rơi vào giấc ngủ.
Thế rồi anh ta đánh cắp trái cây.
Khi
người chủ quay lại, trái cây mất rồi... và cáo ta đang ngáy! Ông ta lay cáo dậy
và hỏi, "Có chuyện gì vậy? Ta chẳng bảo mi nếu có bất kì hoạt động nào xảy
ra thì mi phải gây tiếng động để cho ta có thể tới đó sao? Nhưng ta có nghe thấy
tiếng động nào đâu."
Cáo
nói, "Nhưng không có hoạt động xảy ra. Chỉ mỗi một người tới; anh ta ngồi
ngay trước cửa hàng và bắt đầu ngủ lơ mơ. Bây giờ, ngủ không phải là hoạt động,
đúng không? Ngủ là bất hoạt."
Logic
đơn giản! Con cáo đáng thương và logic đơn giản.
"Thế
thì điều gì xảy ra cho mày?" ông chủ hỏi.
Cáo
nói, "Điều đó tôi không biết, chả biết điều gì đã xảy ra cho tôi. Nhưng
tôi càng quan sát người ngủ, bằng cách nào đó tôi bắt đầu làm cho bản thân mình
cũng lơ mơ ngủ và không thể nào mà còn thức được. Tôi không biết khi nào tôi
rơi vào giấc ngủ."
Nếu
vài người lơ mơ ngủ và bạn đang ngồi với họ, bạn có thể thấy vấn đề: rung động
của việc ngủ đạt tới bạn. Và tương tự là trường hợp này... mặc dầu hơi chút khó
khăn bởi vì ngủ là xuống dốc còn thức tỉnh là lên dốc. Nó là nhiệm vụ hơi chút
khó hơn. Nhưng ở cùng với một người thức tỉnh, người là vị phật, thì nhất định
làm bạn tỉnh táo - chỉ ở với thầy thôi.
Chúng
ta bị ảnh hưởng liên tục bởi những người quanh ta. Chúng ta có thể hoàn toàn
quên lãng sự kiện rằng bất kì cái gì chúng ta nghĩ đều do người khác trao cho
chúng ta; bất kì điều gì chúng ta cảm thấy, ngay cả điều đó nữa, cũng đã do người
khác trao cho chúng ta. Đứa trẻ học bằng bắt chước. Ngay cả xúc động của chúng
ta cũng có thể được vay mượn, không chỉ ý nghĩ của chúng ta đâu; tình cảm của
chúng ta có thể cũng có thể được vay mượn.
Mọi
người thậm chí có thể chết chỉ bởi vì ý tưởng vay mượn. Đất mẹ là gì? - một ý
tưởng mà chúng cứ nhồi nhét vào trong đầu trẻ nhỏ. Và chúng ta cứ nói với chúng
rằng chết vì đất mẹ sẽ là người vĩ đại, là liệt sĩ; chết vì đất mẹ là đức hạnh
lớn lao nhất.
Trong
quá khứ họ thường nói cùng điều đó về các tôn giáo, nhà thờ: "Chết vì nhà
thờ, chết vì tôn giáo của bạn là cách chắc chắn để đi vào thiên đường. Ngay lập
tức bạn được nâng lên vào thiên đường nếu bạn chết cho tôn giáo của mình."
Giết người khác vì tôn giáo của bạn và đó không phải là tội lỗi; chết vì tôn
giáo của riêng bạn và đó không phải là tự tử. Việc giết người không phải là sát
nhân, tự tử không phải là tự tử! Một khi những ý tưởng này được cấy vào con người
bạn, được cấy vào bản thể bạn, chúng bắt đầu vận hành từ đó.
Ba
đứa trai, một Cơ đốc giáo, một Do Thái và một da đen, đang ngồi trên lề đường.
Một linh mục và một giáo sĩ thấy lũ trẻ này.
Linh
mục Cơ đốc giáo nhận ra một trong ba đứa trẻ là thành viên giáo xứ của mình,
cho nên ông ta nói, "Sonny, hai điều lớn nhất trong cuộc đời con là
gì?"
Nó
nói, "Thưa cha, hai điều lớn nhất trong cuộc đời con là nhà thờ Cơ đốc
giáo và linh mục của con."
Giáo
sĩ nhìn xuống và nhận ra đứa trẻ Do Thái trong giáo đoàn của mình. Ông ta nói,
"Con trai, hai điều lớn nhất trong cuộc sống của con là gì?"
"Thưa
giáo sĩ, hai điều lớn nhất trong cuộc đời con là giáo đoàn của con và giáo sĩ của
con."
Cả
hai thành viên giới tăng lữ ra đi một cách thoả mãn, tự mãn. Thế rồi đứa trẻ nhỏ
da mầu nhìn vào hai bạn thân và nói, "Này, không ai trong các cậu là những
đứa con trai của mẹ nhỏ không bao giờ có con gái hay dưa hấu sao?"
Chúng
ta học từ người khác. Đó có thể là ý tưởng của bạn về Thượng đế, đó có thể là
tu sĩ, giáo sĩ - hay dưa hấu! Nó tất cả đều như nhau: chúng ta học từ người
khác.
Trong
sự thân mật gần gũi với thầy, hai điều xảy ra: một điều là nhận biết lây nhiễm
của thầy, tình yêu lây nhiễm của thầy; và điều thứ hai, việc dỡ bỏ lớn lao. Bất
kì điều gì bạn đã học từ những người ngủ, dù đó là về dưa hấu hay về giáo sĩ -
cũng chẳng có khác biệt gì nhiều giữa dưa hấu và giáo sĩ đâu! Điều bạn đã học từ
nhà thờ chính thức và từ quốc gia và hệ thống giáo dục, tất cả đều phục vụ cho
các quyền lợi được đầu tư, tất cả đều phục vụ cho quá khứ, quá khứ chết, không
phục vụ cho bạn... Nhớ lấy, họ định khai thác bạn, họ định thu bạn thành máy -
hiệu quả, nhưng máy là máy, dù hiệu quả hay không hiệu quả. Chức năng của họ là
làm cho bạn thành nô lệ của xã hội - và xã hội ốm yếu, xã hội điên khùng, xã hội
bệnh hoạn.
Hai
điều xảy ra trong sự thân thuộc với thầy: thứ nhất, nhận biết hay tiêm nhiễm của
thầy; và thứ hai: quá trình dỡ bỏ. Thầy bắt đầu phá huỷ mọi cái bạn đã học. Thầy
không thể cho bạn chân lí được, tôi nhắc lại, nhưng thầy có thể lấy đi những dối
trá. Và đó là một trong những điều bản chất nhất; không có nó, chân lí không
bao giờ có thể xảy ra cho bạn. Chân lí sẽ xảy ra cho bạn trong sự một mình của
bạn, nhưng trước khi nó có thể xảy ra, mọi khối chắn phải bị loại bỏ đi: các khối
chắn của dối trá đã từng được đặt vào con đường của chân lí.
Thầy
có thể lấy đi dối trá của bạn. Chức năng của thầy là phủ định theo cách đó, và
khẳng định trong tính lây nhiễm. Rung động của thầy có thể chạm tới và đánh thức
bạn dậy. Thầy có thể là tia nắng mặt trời lọt qua cửa sổ trong phòng ngủ của bạn,
đậu lên mặt bạn, và bảo bạn rằng, "Sáng rồi, bây giờ dậy đi!" làm cho
bạn rất khó ngủ. Vâng, thầy có thể làm cho bạn khó ngủ và cũng khó cho bạn bắt
chước và khó cho bạn bắt chước và khó cho bạn học từ những người đã thực sự là
kẻ thù của bạn và không phải là người bạn của bạn.
Nếu
hai điều này là có thể, cuộc sống của bạn bắt đầu chuyển động, bạn không còn bị
mắc kẹt nữa. Hạt mầm của bạn đã rơi vào mảnh đất đúng: bây giờ vào đúng lúc việc
nảy mầm sẽ tới. Chẳng mấy chốc sẽ có mùa xuân và bạn sẽ thấy hoa riêng của
mình. Và hoa của tâm thức là hoa vĩ đại nhất có đó.
Lời
kinh:
Người
đó là người đánh xe.
Người
đó đã thuần hoá các con ngựa, Lòng tự hào và các giác quan.
Ngay
cả Thượng đế cũng ngưỡng mộ người đó.
Khoảnh
khắc tiềm năng của bạn trở thành thực tại, khoảnh khắc bạn là linh hồn đã nhận
ra, ngay cả các thần cũng ngưỡng mộ bạn. Ngay cả thần còn ở xa đằng sau, bởi vì
ngay cả thần cũng chưa trở thành chư phật. Họ cũng sống cuộc sống vô ý thức -
có thể sống trên trời đấy. Điều bạn gọi là thiên thần trong Ki tô giáo được gọi
là thần trong Phật giáo. Các thiên thần sống trên trời, ngay cả họ cũng chưa là
chư phật; họ vẫn ngủ như bạn vậy. Khác biệt duy nhất là trong tình huống của họ:
họ ở trên thiên đường và bạn ở trên đất. Nhưng khác biệt không có trong tâm lí
của họ; khi có liên quan tới bản thể bên trong của họ nó cũng tối như bản thể
bên trong của bạn vậy.
Người
Hindu không bao giờ có khả năng tha thứ cho Phật, bởi vì ông ấy nói rằng ngay cả
thần cũng ngưỡng mộ vị phật, ngay cả thần cũng tôn thờ vị phật.
Chuyện
được kể là khi Phật trở thành vị phật, khi Gautama Siddhartha trở nên được chứng
ngộ, trở thành vị phật, các thần từ thiên đường xuống tôn thờ ông ấy. Họ chạm
chân ông ấy và họ làm mưa rào hoa tinh tú và họ chơi bản nhạc tinh tú. Người
Hindu chưa bao giờ có khả năng tha thứ cho Phật tử bởi vì câu chuyện này - thần
mà tôn thờ con người à? Nhưng thấy ra điểm này đi: các thần không tôn thờ con
người, các thần tôn thờ nhận biết, các thần tôn thờ phật tính. Các thần không
tôn thờ Gautama Siddhartha con người đâu, mà tôn thờ ngọn lửa đã xảy ra trong
trái tim ông ấy. Ngọn lửa đó là ánh sáng vĩnh hằng, ngọn lửa đó là điều thiêng
liêng. Và ngay cả các thần cũng còn xa, xa nó lắm; họ phải đạt tới nó.
Ý
tưởng về vị phật cao hơn ý tưởng về các thần. Phật giáo là tôn giáo duy nhất của
thế giới đã cho con người chân giá trị như thế; không tôn giáo nào khác đã đề
cao con người như thế. Phật giáo là tôn giáo của con người.
Một
nhà thơ Phật giáo, Chandidas, đã nói: Sabar upar manus satya, tahar upar nahin
- chân lí của con người là chân lí cao nhất, không có chân lí nào cao hơn cái
đó.
Nhưng
chân lí của con người không có nghĩa là thân thể con người, xương và máu và tuỷ,
không. Chân lí của con người nghĩa là ngọn lửa còn chưa được thắp sáng trong bạn.
Một khi nó được thắp sáng lên bạn được mang vào một thế giới hoàn toàn khác. Bạn
đã trở thành một phần của cái toàn thể, bạn không còn tách rời. Cách để đạt tới
việc hiện thực hoá này là: Người đó là người đánh xe. Người đó trở thành người
chủ có ý thức. Thân thể người đó là chiếc xe, người đó lái nó đi tới nơi người
đó muốn, không có chuyện ngược lại. Người vô ý thức bị thân thể mình lái đi.
Quan
sát bản thân bạn mà xem: thân thể bạn cứ lái bạn đi. Mới khoảnh khắc trước bạn
không đói, và bạn đi qua bên cạnh tiệm ăn, và mùi thức ăn... và đột nhiên bạn bắt
đầu cảm thấy đói. Thân thể đang lừa bạn, bởi vì mới khoảnh khắc trước bạn đã
không đói chút nào, không có cơn đói. Cơn đói này là thân thể đang lái bạn hướng
tới thức ăn. Bạn thậm chí không nghĩ tới thức ăn mới khoảnh khắc trước, và mùi
vị bốc lên từ hiệu bánh - và đột nhiên một ham muốn lớn, một cơn đói lớn, đã nảy
sinh trong bạn. Chính thân thể đang lái bạn đi; bạn không là người đánh xe. Cái
xe đã trở thành người chủ. Đây là tình huống thông thường.
Người
đó đã thuần hoá ngựa của mình... Các giác quan được gọi là ngựa. Vào thời cổ đại
ở Ấn Độ đã có xe với năm ngựa kéo. Các vua lớn thường hay đi trong xe có năm ngựa
kéo. Những người vĩ đại nhất, những người được gọi là chakravartins - người cai
trị thế giới - họ thường di chuyển trong xe với bẩy ngựa kéo. Năm ngựa đại diện
cho năm giác quan... và năm giác quan của bạn liên tục ảnh hưởng lên bạn. Người
muốn thực sự có ý thức phải bắt đầu bằng việc trở nên tỉnh táo về những điều
này.
Nếu
bạn ăn tối vào một giờ đặc biệt mọi ngày, và bạn nhìn đồng hồ thấy đến giờ rồi...
Đồng hồ có thể đã chết, đồng hồ có thể không đúng, đồng hồ có thể chạy nhanh một
giờ, nhưng nếu đến lúc ăn, lập tức có cơn đói. Bây giờ, cơn đói này là giả, do
các giác quan tạo ra, do thân thể tạo ra - và bạn sẽ bị các giác quan này lái
đi cả đời mình sao?
Trên
khắp thế giới, những người tìm kiếm chân lí đều đã trở nên nhận biết về hiện tượng
này và họ đã phản ứng theo hai cách; một cách đúng và cách kia sai. Cách sai là
bắt đầu tranh đấu với giác quan của bạn và thân thể bạn. Bằng tranh đấu bạn sẽ
không bao giờ thắng được. Bằng tranh đấu bạn sẽ trở nên yếu hơn, bạn sẽ làm
tiêu tán năng lượng. Bằng tranh đấu bạn sẽ trở nên kìm nén - và cái bị kìm nén
sẽ báo thù sớm hay muộn. Bất kì khi nào nó tìm ra bất kì cơ hội nào để chiếm
quyền sở hữu bạn, nó nhất định sẽ sở hữu bạn đấy - và với sự trả thù!
Bạn
có thể nhịn ăn trong ba ngày, bạn có thể buộc thân thể phải nhịn ăn, nhưng nếu
nó là kìm nén, ngày thứ tư thân thể sẽ báo thù - bạn sẽ ăn quá nhiều, trong vài
ngày bạn sẽ ăn quá nhiều. Thực ra, nếu bạn đã mất cân trong ba ngày kia, bạn sẽ
thu được nhiều cân hơn trong vòng một tuần. Thân thể đã báo thù, thân thể đã dạy
cho bạn một bài học.
Tranh
đấu không phải là con đường - không phải là con đường của chư phật. Tranh đấu
là ngu xuẩn; nó là thân thể riêng của bạn, bạn không cần tranh đấu với nó, bạn
chỉ cần nhiều quan sát hơn về nó. Nếu tính quan sát nào đó bắt đầu kết tinh
trong bạn, bạn sẽ ngạc nhiên rằng thân thể bắt đầu theo bạn. Nó không còn chỉ đạo
bạn, nó không còn ra lệnh cho bạn: nó trở nên vâng lời bạn.
Khi
người chủ đã tới, kẻ hầu lập tức đứng vào hàng. Nhưng người chủ ngủ, đó là lí
do tại sao kẻ hầu giả vờ là người chủ.
Người
đó là người đánh xe. Người đó đã thuần hoá ngựa của mình... Chúng đã không bị
giết hay bị phá huỷ mà được thuần hoá. Chúng là những con vật hay! Nếu được thuần
hoá, chúng có thể có giá trị vô cùng, chúng có thể phục vụ rất nhiều cho bạn.
Vị
phật không phải là người phá huỷ các giác quan của mình, nhưng là người làm cho
giác quan của mình trở nên trong trẻo hơn, rõ ràng hơn, nhạy cảm hơn - nhưng
người đó vẫn còn là người chủ. Vị phật thấy xa hơn bạn thấy, mắt của ông ấy nhạy
cảm hơn nhiều, bởi vì không có khói bụi trong mắt ông ấy, không có mây mù trong
tâm thức ông ấy.
Ông
ấy thấy cùng cây cối xanh tươi đó, nhưng cây ông ấy thấy còn xanh hơn chúng
xanh đối với bạn. Ông ấy ngửi cùng hương thơm nhưng với ông ấy nó thơm hơn là với
bạn. Ông ấy thấy cùng cái đẹp, nhưng nó cho ông ấy cực lạc lớn lao. Nó có thể
không cho bạn cực lạc nào cả; bạn có thể bỏ qua nó. Bạn có thể thậm chí không
thấy được hoa cỏ bên cạnh đường. Nói gì tới hoa cỏ - bạn có thể không thấy thậm
chí cả hoa hồng. Bạn quá bận bịu rồi, các giác quan của bạn đầy những thông
tin; chúng không trống rỗng và sẵn có. Các giác quan của bạn không rất nhạy cảm.
Vị
phật không giết chúng, nhưng nhiều thánh nhân đã từng làm điều ngu xuẩn đó. Đã
có các thánh nhân Ki tô giáo ở Nga - một truyền thống lâu đời - những người hay
cắt cơ quan sinh dục của họ; các ni cô hay cắt vú. Lố bịch, ngu xuẩn! Bạn còn
có thể trông đợi ngu xuẩn nào hơn thế này nữa? Làm sao bạn có thể là người chủ
bằng cách cắt đi cơ quan sinh dục? - bởi vì dâm dục không có ở đó, dâm dục là ở
trong đầu kia. Và, tất nhiên, bạn không thể cắt đầu mình được. Và cho dù bạn có
cắt nó, điều đó sẽ không tạo ra khác biệt gì cả; bạn sẽ được sinh ra lần nữa với
cái đầu thô tục hơn nhiều!
Bây
giờ chúng ta biết - nghiên cứu khoa học đã chứng minh điều đó ngoài mọi hoài
nghi - rằng dâm dục chẳng liên quan gì tới cơ quan sinh dục cả; nó không ở đó.
Cơ quan sinh dục được khởi động bởi cái đầu; trong não có các trung tâm. Công
trình của Pavlov và B.F. Skinner đã cực kì có giá trị trong lĩnh vực này. Tôi
không đồng ý với cách tiếp cận hành vi chủ nghĩa của họ, nhưng điều họ đã
nghiên cứu có thể được các nhà huyền môn sử dụng, có thể được những người tìm
kiếm chân lí sử dụng, có thể được các nhà thám hiểm bản thể bên trong của họ sử
dụng, theo cách rất có giá trị.
Skinner
đã thấy rằng trong não có các trung tâm - trung tâm về thức ăn, trung tâm về dục,
trung tâm về mọi thứ. Bạn chạm một điện cực vào trung tâm dục trong não, và lập
tức bạn có cực thích. Vui vẻ lớn lao nảy sinh trong bạn dường như bạn đã làm
tình với người đàn bà. Skinner đã thực nghiệm với chuột; ông ta gắn một điện cực
vào trung tâm dục trong não của chuột và ông ta dạy con chuột cách nhấn nút nếu
nó muốn cực thích. Ông ấy ngạc nhiên về điều con chuột đã làm; ông ấy chưa bao
giờ nghĩ rằng con chuột lại nhiều dục thế. Con chuột hoàn toàn quên mất về thức
ăn, về mọi thứ. Ngay cả nếu có nguy hiểm, ngày cả nếu mèo được đem tới, chuột vẫn
không sợ. Ai quan tâm? Nó liên tục nhấn nút, liên tục... sáu nghìn lần! Cho tới
khi con chuột lăn ra hoàn toàn kiệt sức, gần chết, nó vẫn cứ nhấn, bởi vì mỗi lần
nhấn và có cực thích.
Bây
giờ sớm hay muộn điều này cũng sẽ xảy ra cho bạn nữa! Nó sẽ dễ dàng hơn nhiều,
thuận tiện hơn nhiều - bởi vì có đàn bà hay có đàn ông là trong xung đột thế. Bạn
có thể có một máy tính nhỏ, cỡ hộp diêm để trong túi mình - chẳng ai sẽ biết bạn
đang làm gì! Bạn có thế lần tràng hạt và với ngón tay kia bạn có thể nhấn nút,
và mọi người sẽ nghĩ rằng cực lạc đang xảy ra bởi vì tràng hạt. Và mặt bạn sẽ rạng
ngời... Nhưng nếu điều đó trở thành có thể bạn sẽ ở trong cùng tình huống như
con chuột thôi: bạn sẽ chết bởi việc nhấn nút quá nhiều, bạn sẽ quên hết mọi thứ
khác.
Cơ
quan sinh dục chẳng có liên quan gì tới dục cả; mọi thứ đều được chứa trong
não. Cơn đói của bạn chẳng liên quan gì tới dạ dầy của bạn; cái đó nữa cũng được
chứa trong não. Đó là lí do tại sao vào đúng lúc, nhìn lên đồng hồ, đột nhiên
có cơn đói. Và mùi của hiệu bánh không đi vào trong dạ dầy, nhớ lấy, nó đi vào
trong não. Nó khởi động một trung tâm nào đó trong não bạn, nó nhấn nút trong
não bạn, và đột nhiên bạn đói. Bây giờ, phá huỷ thân thể bạn sẽ chẳng ích gì, bỏ
đói thân thể bạn sẽ chẳng ích gì. Ngay cả tự tử cũng chẳng ích gì. Mỗi một điều
có thể có ích, và đó là nhận biết.
Nếu
bạn trở nên nhận biết... nhận biết không phải là một phần của não. Nhận biết ở
đằng sau não, nhận biết là khả năng thấy bộ não.
Bạn
sẽ ngạc nhiên mà biết rằng bất kì cái gì mà tâm lí học hiện đại đã có khả năng
khám phá ra thì đều đã được khám phá ra từ hàng nghìn năm trước bởi các nhà huyền
môn ở phương Đông. Phật đã hoàn toàn nhận biết về các trung tâm não, Patanjali
đã hoàn toàn nhận biết về các trung tâm não. Và cách duy nhất là tìm ra cái gì
đó ở bên ngoài não và di chuyển tới cái bên ngoài đó và vẫn còn ở đó. Có quyền
làm chủ của bạn; từ đó bạn là người đánh xe, từ đó mọi con ngựa đều ở trong tay
bạn. Và thế thì chúng là đẹp! Các giác quan không xấu đâu - không cái gì xấu cả.
Ngay cả dục cũng có cái đẹp riêng của nó, sự thiêng liêng riêng của nó, tính thần
thánh riêng của nó. Nhưng nếu bạn được bắt rễ và định tâm ở cõi bên kia của
mình, trong tâm thức mình, thế thì mọi thứ có nghĩa khác, hoàn cảnh khác. Thế
thì ăn có tính tâm linh riêng của nó.
Upanishad
nói: Annam brahma - thức ăn là Thượng đế. Người đã nói điều này phải đã nếm Thượng
đế trong thức ăn. Và những người mật tông ở phương Đông đã từng nói điều đó
hàng thế kỉ, rằng dục có tiềm năng lớn nhất để nhận ra samadhi. Nó là điểm gần
nhất - cực thích dục là gần nhất với cực thích tâm linh, do đó bạn có thể học
nhiều từ nó. Trong cực thích dục thời gian biến mất, bản ngã biến mất, tâm trí
biến mất. Trong cực thích dục, trong một khoảnh khắc, tâm trí biến mất. Trong cực
thích dục, trong một khoảnh khắc toàn thế giới dừng lại.
Cùng
điều đó xảy ra trong cực thích tâm linh trên qui mô lớn hơn nhiều. Dục là tạm
thời và tâm linh là vĩnh hằng, nhưng dục cho bạn một thoáng nhìn về tâm linh.
Các
giác quan phải được thuần hoá, không bị phá huỷ, nhớ lấy.... Lòng tự hào và các
giác quan. Ngay cả Thượng đế cũng ngưỡng mộ người đó. Thuần hoá các giác quan,
thuần hoá lòng tự hào. Nếu lòng tự hào làm chủ bạn, nó là bản ngã; nếu bạn là
người chủ, thế thì nó chỉ là sự tự kính trọng. Và mọi người có tính toàn vẹn đều
có tự kính trọng. Tự kính trọng không có tính bản ngã, không chút nào. Tự kính
trọng đơn giản nghĩa là, "Tôi yêu bản thân tôi, tôi kính trọng bản thân
tôi, và tôi sẽ không cho phép bất kì ai làm bẽ mặt tôi. Tôi sẽ không làm bẽ mặt
bất kì ai và tôi sẽ không cho phép ai làm bẽ mặt tôi. Tôi sẽ không tạo ra sự nô
lệ cho bất kì ai và tôi sẽ không là nô lệ cho bất kì ai."
Đó
là lòng tự hào đã được thuần hoá. Thế thì nó đã trở thành người phục vụ và nó đẹp.
Nhường
nhịn như đất,
Vui
và trong như hồ,
Tĩnh
lặng như tảng đá tại cửa,
Người
đó tự do với sống và chết.
Người
đã trở nên thức tỉnh trở thành nhường nhịn như đất. Người đó mất đi mọi sự cứng
nhắc. Người đó không còn giống như tảng đá; người đó giống như đất tơi xốp. Và
chỉ đất tơi xốp mới có thể màu mỡ, mới có thể mang tính sáng tạo. Tảng đá vẫn
còn bất lực; nó không tạo ra cái gì cả; không cái gì phát triển trên nó, không
cái gì có thể phát triển trong nó. Tảng đá vẫn còn hoàn toàn trống rỗng, Nhưng
đất nhường nhịn - mềm mại, khiêm tốn, buông xuôi, cảm nhận, tựa bụng mẹ - có thể
cho sinh thành ra những kinh nghiệm mới, có thể cho sinh thành những cách nhìn
mới, bài ca mới, thơ ca mới. Người thức tỉnh không cứng nhắc. Theo lời của Lão
Tử, ông ấy không giống như đá mà giống như nước. Cách thức của ông ấy là cách
thức của nước - con đường nước chảy.
Vui
và trong như hồ... Người đã thức tỉnh, người tỉnh táo, trở thành rõ ràng; mọi lẫn
lộn của người đó đã mất đi. Không phải là người đó đã có khả năng tìm ra lời giải,
không, nhưng bởi vì mọi câu hỏi của người đó đã biến mất. Không phải là người
đó đã tìm ra câu trả lời - không câu trả lời nào được tìm ra. Cuộc sống là bí ẩn
và vẫn còn là bí ẩn; cuộc sống không thể bị hoá giải bí ẩn. Và bởi vì người đó
biết bí ẩn của cuộc sống và bây giờ không còn có câu hỏi nào nữa, không còn câu
trả lời xung đột nào nữa, người đó rất rõ ràng, người đó là bản thân sự rõ
ràng, và người đó là vui vẻ.
Tại
sao người đó vui vẻ? - bởi vì bây giờ người đó biết rằng toàn thể vương quốc của
Thượng đế là của người đó. Bây giờ người đó biết rằng người đó không phải là
người ngoài ở đây, rằng người đó thuộc vào sự tồn tại và sự tồn tại thuộc vào
người đó. Người đó đã trở thành một phần của việc mở hội vô hạn này mà cứ diễn ra
mãi. Người đó là bài ca trong lễ hội này, điệu vũ trong lễ hội này.
Tĩnh
lặng như tảng đá tại cửa... Nhường nhịn như đất và vẫn giống như đá, im lặng, bất
động... Người đó tự do với sống và chết. Và người đó không chỉ tự do với cái chết,
nhớ lấy: khoảnh khắc bạn tự do với cái chết bạn cũng tự do với cuộc sống này -
cái được gọi là cuộc sống. Thế thì có cuộc sống khác... Phật không đặt tên cho
nó, ông ấy sẽ không cho nó định nghĩa nào; ông ấy đơn giản bỏ nó đấy. Ông ấy để
câu này không hoàn chỉnh, bởi vì ông ấy biết bất kì điều gì được nói cũng sẽ
phá huỷ cái đẹp của nó. Bất kì cái gì được nói ra đều sẽ cho nó giới hạn, và nó
là vô giới hạn. Bất kì cái gì được nói nhất định là không thích hợp.
Cho
nên ông ấy chỉ nói một điều: người đó tự do với sống này và chết này. Cuộc sống
mà bạn đã biết và cái chết vẫn xảy ra hàng ngày - sống này và chết này cả hai đều
biến mất đối với người đã thức tỉnh. Thời gian biến mất, và sống và chết là hai
mặt của thời gian. Thế thì người đó là vĩnh hằng. Người đó trở thành một với
cái toàn thể; bạn không thể tìm thấy người đó như một thực thể tách rời ở đâu cả.
Phật
Gautama bây giờ ở đâu? Bây giờ ông ấy đang ở trong không khí bạn thở và trong
nước bạn uống và trong chim chóc cứ hót mãi và trong cây cối và trong đám mây.
Phật bây giờ ở đâu? Ông ấy đã trở thành vũ trụ! Giọt sương đã trở thành đại
dương, nhưng giọt sương đã biến mất như giọt sương. Bây giờ không có sống và chết
cho giọt sương; nó không tồn tại nữa - làm sao có thể có cuộc sống cho nó được?
Nó không tồn tại nữa, cho nên làm sao nó có thể chết được? Nó đã vượt ra ngoài
nhị nguyên của sống và chết.
Ý
nghĩ của người đó tĩnh lặng. Lời của người đó tĩnh lặng.
Đây
là phát biểu cực kì quan trọng. Ý nghĩ của người đó tĩnh lặng. Điều đó đơn giản
và có thể hiểu được, bởi vì người tỉnh táo không cần nghĩ.
Suy
nghĩ là cần thiết bởi vì chúng ta không thể thấy được. Nếu người mù muốn đi ra
khỏi phòng này người đó sẽ phải nghĩ; người đó sẽ phải hỏi ai đó; người đó sẽ
phải lập kế hoạch di chuyển tới đâu, bước tiếp ở đâu, cửa ở đâu, và người đó sẽ
dò dẫm với cái gậy. Nhưng nếu một người có mắt, người đó không cần hỏi, người
đó không cần nghĩ. Người đó đơn giản đứng dậy, người đó đơn giản bắt đầu đi ra
cửa. Người đó đi ra khỏi cửa, không nghĩ về nó chút nào. Nhưng người mù không
thể không nghĩ được. Và đây là cách người ngủ phải nghĩ - người ngủ là người
mù.
Người
với nhận biết có con mắt bên trong, có sự sáng suốt. Người đó có thể thấy, và bởi
vì người đó có thể thấy, người đó không cần nghĩ. Thấy là đủ. Suy nghĩ là thứ
thay thế nghèo nàn cho việc thấy. Ý nghĩ của người đó tĩnh lặng.... Nhưng thậm
chí điều quan trọng hơn là ở phát biểt: Lời của người đó tĩnh lặng. Đó là mâu
thuẫn trong ngôn từ: "Lời của người đó" nghĩa là người đó nói. Phật
đã nói; bằng không thì chúng ta sẽ không có những lời kinh cực kì có ý nghĩa
này. Trong bốn mươi hai năm ông ấy đã nói liên tục - hết ngày nọ tới ngày kia,
năm nọ tới năm kia; sáng, chiều, tối ông ấy đều nói. Nhưng ông ấy nói: Lời của
người đó tĩnh lặng.
Nếu
bạn thực sự được hoà điệu, nếu bạn thực sự im lặng trong sự hiện diện của thầy,
bạn sẽ thấy: Lời của người đó tĩnh lặng. Lời thầy mang im lặng quanh chúng, lời
thầy không phải là tiếng động. Lời thầy có giai điệu, nhịp điệu, âm nhạc, và tại
chính cốt lõi của lời thầy là im lặng hoàn toàn. Nếu bạn có thể thấm vào lời thầy
thì bạn sẽ bắt gặp im lặng vô hạn.
Nhưng
để thấm vào lời của vị phật, cách thức không phải là phân tích, cách thức không
phải là biện luận, cách thức không phải là thảo luận. Cách thức là rơi vào hoà
hợp với thầy, trở thành hoà điệu với thầy, ở trong sự đồng bộ với thầy. Điều đó
xảy ra: một khoảnh khắc tới giữa đệ tử và thầy khi chính trái tim của thầy và
trái tim của đệ tử đập theo cùng nhịp, khi việc thở của thầy và việc thở của đệ
tử theo cùng nhịp điệu. Khi thầy thở ra, đệ tử thở ra; khi thầy hít vào, đệ tử
hít vào. Mọi thứ đều trở nên hoà điệu thế.
Trong
sự hoà điệu đó, trong cái là một đó, người ta đi vào trong chính cốt lõi lời của
thầy. Và tại đó bạn sẽ không tìm thấy âm thanh nào, tiếng động nào; tại đó bạn
sẽ thấy tuyệt đối im lặng. Và nếm trải nó là hiểu thầy. Nghĩa của lời là không
quan trọng, nhớ lấy, nhưng im lặng của lời mới quan trọng. Nghĩa có thể được hiểu
bởi bất kì ai hiểu ngôn ngữ, điều đó không khó; nhưng im lặng có thể được hiểu
chỉ bởi đệ tử, không bởi học trò.
Học
trò nghe theo lời, hiểu nghĩa của nó, và vậy thôi. Người đó sẽ hiểu triết lí của
Phật, nhưng người đó sẽ không hiểu bản thân Phật. Người đó sẽ hiểu lí thuyết của
ông ấy, nhưng người đó sẽ bỏ lỡ bản thể của ông ấy.
Đệ
tử có thể không có khả năng nói giáo huấn của thầy là gì, người đó có thể không
có khả năng tái tạo lại được triết lí của thầy, người đó có thể lúng túng. Nếu
bạn hỏi người đó, "Giáo huấn của thầy bạn là gì?" người đó có thể trở
thành câm tịt. Nhưng người đó hiểu thầy - không phải điều thầy nói mà điều thầy
hiện hữu.
Có
một câu chuyện rất hay:
Khi
Phật chết, mọi đệ tử đã chứng ngộ đều tụ tập lại để viết ra thông điệp của Phật,
bởi vì bây giờ thầy qua đời rồi và vì những thế hệ sắp tới, kho báu cần phải được
tuyển tập lại.
Có
những đại đệ tử đã chứng ngộ, nhưng không ai có thể tái tạo đích xác được nó.
Vài người trong họ tuyệt đối im lặng; khi được hỏi họ chỉ nhún vai. Vài người
nói, "Điều đó là không thể được, điều đó không thể làm được." Vài người
khác nói, "Chúng tôi không muốn phạm phải sai lầm nào, và sai lầm nhất định
xảy ra, bởi vì điều chúng tôi đã thấy trong con người này là không thể diễn đạt
được trong ngôn ngữ." Thực ra, không người chứng ngộ nào đã thực sự biên
soạn ra triết lí của Phật.
Thế
rồi Ananda tới. Ông ấy là người duy nhất đã sống cùng Phật trong bốn mươi hai
năm và vẫn chưa chứng ngộ. Ông ấy đã nhớ tất cả, mọi thứ; ông ấy có toàn thể
tuyển tập, từng lời một. Trí nhớ của ông ấy phải là phi thường. Nhưng vẫn có vấn
đề. Vấn đề là: bạn có thể tin vào lời của người chưa chứng ngộ nói về người đã
chứng ngộ được không?
Những
người đã chứng ngộ không sẵn sàng nói điều gì cả; người sẵn sàng tái tạo lại
toàn thể triết lí, từng lời một, từ đầu tới cuối, từ phát biểu đầu tiên mà Phật
đã đưa ra cho tới phát biểu cuối cùng... nhưng người đó không chứng ngộ. Bạn có
thể tin được vào trí nhớ của người đó không? Bạn có thể tin được vào diễn giải
của người đó không? Bây giờ, đây thực sự là vấn đề không giải được: những người
biết, những người có thể tin được, không sẵn sàng nói điều gì cả, còn những người
sẵn sàng nói thì lại không thể tin được - bản thân người đó không chứng ngộ.
Thế
rồi toàn thể hội chúng bảo Ananda, "Ông làm một điều - đừng phí một khoảnh
khắc nào. Đem toàn bộ năng lượng của ông ra và trở nên tỉnh táo nhất có thể được.
Nếu ông có thể trở nên chứng ngộ trước cái chết của ông, thế thì điều gì đó là
có thể. Chúng tôi sẽ không thu thập các phát biểu của ông chừng nào ông còn
chưa chứng ngộ. Ông nhớ cho - ông là người duy nhất nhớ được tuyệt đối - nhưng
chúng tôi không thể tin cậy vào điều đó được."
Làm
sao bạn có thể tin cậy vào báo cáo của người mù về ai đó có mắt và đang nói về
màu sắc, ánh sáng, cầu vồng, hoa? Làm sao bạn có thể tin được vào báo cáo của
người mù? Điều đó là ngớ ngẩn, điều đó không thể nào tin được!
Cho
nên tăng đoàn đã cầu xin Ananda, "Ông là niềm hi vọng duy nhất. Nếu ông có
thể trở nên chứng ngộ chúng tôi có thể chấp nhận được bất kì điều gì ông nói,
nhưng chúng tôi sẽ không thể nào chấp nhận được nó chừng nào ông còn chưa trở
nên chứng ngộ."
Ananda
đã sống bốn mươi hai năm cùng Phật, nhưng bởi vì Phật quá gần gũi với ông ấy
nên ông ấy đã bắt đầu coi ông ấy như đương nhiên có. Điều đó xảy ra. Nó xảy ra ở
đây nữa. Nhiều người trong các bạn gần tôi có thể bắt đầu coi tôi như đương
nhiên có sẵn. Ananda đã rất gần gũi, là người gần gũi nhất; ông ấy không quan
tâm nhiều tới chứng ngộ của mình. Bất kì khi nào được nhắc ông ấy đều nói,
"Tôi không lo nghĩ về điều đó. Phật sẽ chăm nom cho tôi. Tôi đã từng phục
vụ ông ấy trong bốn mươi hai năm - ông ấy không đủ từ bi để giúp lôi tôi ra khỏi
bóng tối sao? Ông ấy sẽ làm điều đó. Và vội gì? Sao lại cứ phải tất bật thế? Nó
có thể xảy ra ngày mai, nó có thể xảy ra ngày kia. Phật đang có đó mà."
Và
trong bốn mươi hai năm ông ấy đã trì hoãn và cứ tin sâu trong tim rằng,
"Phật sẽ làm điều đó. Mặc dầu ông ấy nói không ai có thể làm cho bất kì ai
khác chứng ngộ, mình biết ông ấy có thể làm điều đó được. Mình biết phép màu đã
từng xảy ra quanh ông ấy. Và ít nhất, nếu không có điều đó cho bất kì ai khác,
thì với mình ông ấy sẽ làm một ngoại lệ. Mình đã phục vụ ông ấy nhiều thế. Và
thế rồi ông ấy bao giờ cũng có đó; nếu hôm nay mình lỡ, thì mai; nếu mai mình lỡ,
thì ngày kia. Ông ấy sẽ đi đâu? Ông ấy bao giờ cũng ở đây."
Cái
ngày Phật chết, ông ấy nói với Ananda, "Ananda, bây giờ ta sẽ không ở đây
ngày mai nữa đâu. Cho nên khẩn trương lên, nhanh lên! Bây giờ không trì hoãn
thêm được nữa đâu."
Và
điều đó đã xảy ra là sau cái chết của Phật, khi tăng đoàn cầu xin Ananda, trong
hai mươi bốn giờ ông ấy ngồi với mắt nhắm. Đây là lần đầu tiên trong cả đời ông
ấy. Thực ra, có nhiều việc xảy ra quanh Phật tới mức không thể nào mà nhắm mắt
được. Cả ngày biết bao nhiêu điều đã xảy ra và Ananda quá bận rộn. Bây giờ Phật
đã đi và chẳng cái gì xảy ra thêm nữa, không có gì để nhìn. Ông ấy nhắm mắt và trong
hai mươi bốn giờ, lần đầu tiên, ông ấy đã ngồi trong im lặng.
Ông
ấy đã trở nên chứng ngộ trong vòng hai mươi bốn giờ. Điều này đã không xảy ra
trong bốn mươi hai năm; nó đã xảy ra trong hai mươi bốn giờ. Khi ông ấy trở nên
chứng ngộ, khi mọi đệ tử đã chứng ngộ nhận ra hào quang của ông ấy, ánh sáng của
ông ấy, sự chói sáng của ông ấy, thế thì họ nói, "Bây giờ Ananda có thể được
phép vào trong hội chúng. Ông ấy có thể kể lại và chúng ta sẽ biên soạn."
Đó
là cách mọi kinh Phật đã được soạn ra.
Nhưng
chỉ người chứng ngộ mới có thể được tin cậy. Tại sao? - bởi vì ông ấy có thể thấy.
Và ông ấy có thể nhìn trong lời và tìm thấy cái im lặng - chính là thông điệp
thực. Nếu bạn nghe nghĩa, bạn là học sinh; nếu bạn nghe im lặng, bạn là đệ tử.
Và nếu bạn hoàn toàn quên ai đang nói và ai đang nghe, bạn trở thành một với thầy
- bạn là người sùng kính.
Đây
là ba giai đoạn: học sinh, đệ tử và người sùng kính. Học sinh hiểu nghĩa của lời,
đệ tử hiểu im lặng của lời, còn người sùng kính trở thành bản thân im lặng. Ý
nghĩ của người đó tĩnh lặng. Lời của người đó tĩnh lặng.
Việc
của người đó tĩnh lặng.
Toàn
thể công việc của người đó là tĩnh lặng, người đó tạo ra tĩnh lặng. Người đó tạo
ra phương cách để tạo ra tĩnh lặng.
Người
đó thấy tự do của mình và được tự do. Người chủ buông xuôi niềm tin của mình.
Một
khi bạn trở nên chứng ngộ mọi điều bạn đã từng tin trước đây trở thành buồn cười,
không liên quan, ngớ ngẩn, vô nghĩa. Nó cũng giống như niềm tin của người mù
vào ánh sáng vậy. Bất kì cái gì người đó đã tin trước đây, bất kì cái gì người
đó đã nghĩ trong sự mù loà của mình rằng ánh sáng là... một khi mắt của người
đó mở ra người đó sẽ phải vứt bỏ mọi niềm tin của mình về ánh sáng. Không một lời
nào từ những niềm tin đó sẽ đúng. Với người mù không thể nào quan niệm được ánh
sáng là gì. Nói gì về ánh sáng? - người mù thậm chí không thể quan niệm được
cái gì về bóng tối nữa, bởi vì để thấy bóng tối bạn cần mắt cũng như để thấy
ánh sáng. Người mù không biết gì về bóng tối và không biết gì về ánh sáng.
Một
khi bạn trở nên thức tỉnh mọi niềm tin của bạn vào các thần, cõi trời, địa ngục,
nghiệp, tái sinh, thế này thế nọ, chúng tất cả đều đơn giản trở thành rác rưởi.
Người chủ buông xuôi niềm tin của mình...
Người
đó thấy bên ngoài cái kết thúc và cái bắt đầu.
Bây
giờ không cần phải tin - người đó có thể thấy bên ngoài cái bắt đầu và cái kết
thúc. Người đó có thể thấy cái toàn thể thấu suốt. Thấy là mục đích.
Ở Ấn
Độ chúng ta không có từ tương đương với triết học. Chúng ta có một từ hoàn toàn
khác cho nó, đó là darshan - ái kiến. Thông thường nó được địch thành 'triết học';
nó không phải vậy. Triết học nghĩa là cái gì đó của tâm trí; darshan đơn giản
có nghĩa là sáng suốt, việc nhìn, việc thấy. Ở phương Đông chúng ta đã gọi những
người vĩ đại nhất là người thấy. Chúng ta đã không gọi họ là nhà tiên tri,
chúng ta đã không gọi họ là triết gia, chúng ta gọi họ là người thấy - họ đã thấy.
Phương Đông bao giờ cũng tin vào việc thấy, không vào việc nghĩ.
Dịch
'darshan' sang tiếng Anh là rất khó. Gọi nó là triết học là không đúng; nó phá
huỷ toàn thể cái đẹp của từ 'darshan'. Cho nên tôi dịch nó bằng 'philosia' - ái
kiến. Philosophy nghĩa là yêu tri thức: 'sophia' nghĩa là tri thức, 'philo'
nghĩa là yêu. Philosia nghĩa là yêu việc thấy - 'sia' nghĩa là thấy. Một khi bạn
đã thấy, mọi niềm tin tàn lụi đi như lá vàng rụng khỏi cây.
Người
đó cắt đi mọi trói buộc. Người đó từ bỏ mọi ham muốn. Người đó chống lại mọi
cám dỗ. Và người đó vươn lên.
Bây
giờ một luật mới hoàn toàn bắt đầu vận hành: luật vươn lên. Thông thường mọi thứ
rơi xuống, nhưng con người của thức tỉnh vươn lên. Mọi thứ trong người đó bắt đầu
vươn lên cao, soải cánh bay lên. Người đó phải cắt bỏ mọi trói buộc, bởi vì những
trói buộc đó là gắn với đất. Người đó phải vứt bỏ mọi ham muốn, bởi vì những
ham muốn đó là dây buộc giữ người đó bị buộc vào đất.
Người
đó chống lại mọi cám dỗ. Nhiều lần tâm trí cũ sẽ cố gắng khẳng định bản thân
nó. Nhiều, nhiều lần tâm trí sẽ cố gắng đem bạn trở lại với đất.
Kahlil
Gibran nói: Khi sông tới gần biển hơn, nó chờ đợi một khoảnh khắc, nhìn lại sau
- mọi vui vẻ kia, những núi non, tuyết trắng muốt nơi nó khởi nguồn, những khu
rừng, sự một mình của rừng thẳm, chim chóc, điệu hót của chúng, con người, đồng
bằng, cả nghìn kinh nghiệm, cuộc hành trình dài... Và bây giờ khoảnh khắc đã tới
để biến mất vào đại dương. Toàn thể quá khứ kéo trở lại. Toàn thể quá khứ nói,
"Đợi đã! Bạn sẽ mất đi vĩnh viễn đấy. Bạn sẽ không bao giờ còn như cũ nữa
đâu. Không còn đôi bờ, làm sao bạn có thể hiện hữu? Bạn sẽ mất định nghĩa của
mình."
Đích
xác cùng điều đó xảy ra khi bạn đi tới gần với phật tính hơn: khi tất cả đang sắp
mất đi, mọi dây buộc, mọi ham muốn, cám dỗ lớn nảy sinh. Không có quỉ nào cám dỗ
bạn cả; đó là tâm trí riêng của bạn thôi, kinh nghiệm quá khứ riêng của bạn.
Toàn thể quá khứ trĩu nặng cố gắng kéo bạn lại, nhưng bây giờ chẳng cái gì có
thể kéo bạn lại được. Lời gọi đã được nghe thấy, lời mời đã tới.
Người
đó cắt đi mọi trói buộc. Người đó từ bỏ mọi ham muốn. Người đó chống lại mọi
cám dỗ. Và người đó vươn lên.
Và
bất kì đâu người đó sống, Ở thành thị hay thôn quê, Trong thung lũng hay trên
núi, Đều có vui vẻ lớn lao.
Và
không chỉ việc người đó vui vẻ: bất kì nơi nào người đó ở, người đó đều đem lại
bầu không khí vui vẻ. Vui vẻ bao quanh người đó.
Tương
truyền rằng bất kì chỗ nào Phật đi tới, cây cối đều nở hoa trái vụ, sông bắt đầu
tuôn chảy ngay trong mùa hè không có nước. Bất kì chỗ nào Phật đi tới đều sẽ có
an bình, im lặng, tình yêu, từ bi, tất cả xung quanh. Điều này thực sự là vậy;
không phải là cây cối sẽ nở hoa trái vụ đâu - đây là biểu dụ thôi - nhưng bất
kì khi nào có vị phật cái gì đó bí ẩn bắt đầu xảy ra. Mọi người bắt đầu nở hoa
trái vụ, vui vẻ lan toả, những con sóng lớn của vui vẻ.
Khi
bạn đi vào trong phật trường bạn đi vào trong một thế giới hoàn toàn khác: thế
giới của ân huệ, thế giới của phúc lành.
Ngay
cả trong rừng trống rỗng Người đó tìm thấy vui vẻ
Bởi
vì người đó không muốn gì.
Và
người đó vui vẻ ở mọi nơi, bởi vì điều duy nhất phá huỷ năng lực vui vẻ tự
nhiên của bạn là tâm trí ham muốn của bạn. Tâm trí ham muốn làm cho bạn thành kẻ
ăn xin. Một khi mọi ham muốn đã bị vứt bỏ bạn là hoàng đế. Vui vẻ là trạng thái
tự nhiên của bản thể bạn.
Cứ
để không có ham muốn và rồi xem. Khi không có ham muốn không có tâm trí. Khi
không có ham muốn không có rối loạn. Khi không có ham muốn không có quá khứ,
không có tương lai. Khi không có ham muốn bạn hoàn toàn mãn nguyện ở đây bây giờ.
Và được mãn nguyện ở đây bây giờ là vui vẻ.
Và
bất kì khi nào một người như vậy di chuyển, bất kì chỗ nào người đó đi tới, người
đó đều mang theo bầu khí hậu của mình theo mình. Vị phật ở trong mùa xuân trọn
cả năm. Và những người tới gần ông ấy theo cách nào đó là may mắn, những người
trở nên được liên kết với ông ấy là được ân huệ, bởi vì họ cũng chia sẻ vui vẻ
của ông ấy, phúc lành của ông ấy, trí huệ của ông ấy, tình yêu của ông ấy, ánh
sáng của ông ấy.
Đủ
cho hôm nay.
* Rosary là tên bài kinh lần tràng hạt nhưng cũng có thể là tên cô gái.
Xem Chương 8 – Quay về Mục Lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment