Yoga:
Alpha và Omega (Tập 7)
Bài
nói về Kinh Yoga của Patanjali
Chương
7. Trong vũ trụ lạnh lẽo
15. Biến thiên trong biến đổi được gây ra bởi sự đa dạng trong các quá trình bên dưới.
16.
bằng việc thực hiện sanyama trên ba loại biến đổi - nirodh, samadhi và ekagrata
- tri thức về quá khứ và tương lai.
17.
Âm thanh và chủ định và ý tưởng đằng sau nó có cùng nhau trong tâm trí ở trạng
thái lẫn lộn. Bằng việc thực hiện sanyama trên âm thanh, tách rời xảy ra và có
nảy sinh hiểu thấu về nghĩa của âm thanh do bất kì sinh linh sống nào tạo ra.
18.
Bằng việc quan sát dấu vết quá khứ, tri thức về những lần sinh trước được biết
tới.
Có chuyện
ngụ ngôn trong cuốn The Gay Science của Friedrich Nietzche.
Một người
điên đi vào bãi chợ với chiếc đèn xách, vừa rao. "Tôi thấy Thượng đế! Tôi
thấy Thượng đế!" nhưng đám đông nhộn nhịp không quan tâm tới lời rao của
anh ta và cười về trò hề vui nhộn của anh ta. Đột nhiên quay về phía họ anh ta
hỏi, "Thượng đế ở đâu? Tôi sẽ nói cho các ông, chúng ta đã giết ngài - các
ông và tôi." Nhưng họ bỏ qua tầm cỡ của công bố của anh ta, anh ta chung
cuộc quăng chiếc đèn lồng xuống đất và khóc. "Ta tới sớm quá rồi. Thời của
ta còn chưa tới. Biến cố vô cùng này vẫn còn đang trên đường của nó."
Chuyện
ngụ ngôn này cực kì có ý nghĩa. Khi con người trưởng thành, Thượng đế của con
người thay đổi. Phải vậy thôi vì con người tạo ra Thượng đế riêng của mình theo
hình ảnh của mình. Không có chuyện ngược lại. Không phải là như được nói trong
Kinh Thánh rằng Thượng đế tạo ra con người theo hình ảnh riêng của ngài. Con
người tạo ra Thượng đế theo hình ảnh riêng của mình. Khi hình ảnh của con người
thay đổi, Thượng đế của con người hiển nhiên thay đổi. Và đi tới điểm trong sự
trưởng thành của con người mà Thượng đế biến mất hoàn toàn. Thượng đế như một
Thượng đế nhân tính xuất phát từ tâm trí chưa trưởng thành của nhân loại.
Sự tồn
tại như điều thiêng liêng là một khái niệm khác toàn bộ. Thế thì Thượng đế
không phải là người ở đâu đó trên cõi trời cai quản thế giới, thao túng, kiểm
soát, quản lí. Không, tất cả những cái vô nghĩa đó biến mất khi con người trở
nên trưởng thành. Đó là khái niệm trẻ con về Thượng đế, khái niệm ngây thơ về
Thượng đế. Nếu trẻ nhỏ mà hiểu Thượng đế, nó phải hiểu như một người thôi. Khi
nhân loại lớn lên và trở nên trưởng thành, Thượng đế đó sẽ chết đi. Thế thì một
sự tồn tại khác toàn bộ nảy sinh. Bây giờ toàn thể sự tồn tại là thiêng liêng -
không phải là có Thượng đế.
Với bản
thân Nietzsche, việc nhận ra này rằng không có Thượng đế nhân tính là quá nhiều.
Ông ấy không thể chịu đựng được điều đó: ông ấy phát điên. Bản thân ông ấy
không hiểu được sáng suốt nào đã xảy ra cho ông ấy. Bản thân ông ấy vẫn còn
ngây thơ; ông ấy cần một Thượng đế nhân tính. Nhưng ông ấy đã suy tư về điều
đó, và khi ông ấy suy tư, ông ấy càng trở nên nhận biết rằng Thượng đế không
còn có đó trên các tầng trời. Ngài chết. Và ông ấy cũng trở nên nhận biết rằng
ngài đã bị chúng ta giết.
Tất
nhiên, nếu ngài được chúng ta tạo ra, ngài phải bị chúng ta giết đi. Khái niệm
này đã được con người tạo ra trong thời thơ ấu của mình. Trong trưởng thành của
con người khái niệm này bị vứt bỏ - như khi bạn còn là trẻ con bạn chơi các đồ
chơi, thế rồi bạn trở nên trưởng thành, và bạn quên tất cả về những đồ chơi đó.
Đột nhiên một hôm nào đó bạn bắt gặp ở góc nhà, trong đống rác, một đồ chơi cũ.
Thế rồi bạn nhớ bạn đã từng yêu mến nó bao nhiêu, nhưng bây giờ nó là vô nghĩa.
Nó phải bị vứt đi; bạn đã thay đổi.
Con người
tạo ra Thượng đế nhân tính, thế rồi con người phá huỷ nó. Việc nhận ra này là
quá nhiều cho bản thân Nietzsche; ông ấy trở nên bị điên. Cái điên của ông ấy
là một chỉ dẫn rằng ông ấy đã không được chuẩn bị cho sáng suốt đã xảy ra cho
ông ấy.
Nhưng, ở
phương Đông, Patanjali là tuyệt đối vô thượng đế. Bạn không thể tìm được người
vô thần nào lớn hơn Patanjali, nhưng điều đó không quấy rối ông ấy bởi vì thực
sự ông ấy là con người đã trưởng thành, thực sự trưởng thành trong tâm thức,
chín chắn, được hoà hợp. Với Phật, Thượng đế không tồn tại...
Nếu có
Thượng đế nhân tính, ngài có thể tha thứ cho Friedrich Nietzsche bởi vì ngài sẽ
hiểu rằng người này vẫn cần tới ngài. Người đó Nietzsche vẫn bị phân chia, lẫn
lộn - một nửa bản thể ông ấy đang nói có và một nửa đang nói không. Nếu có một
Thượng đế nhân tính, ngài thậm chí có thể tha thứ cho Phật Gautam bởi vì ít nhất
ông ấy đã phủ nhận ngài. Ông ấy nói. "Không có Thượng đế." Điều đó nữa
là lôi kéo sự chú ý. Nhưng ngài sẽ không thể tha thứ cho Patanjali được. Ông ấy
đã dùng ngài. Ông ấy không chỉ phủ nhận ngài, rằng ngài không có, ông ấy đã
dùng chính khái niệm này như một phương cách. Ông ấy nói, "Với trưởng
thành tối thượng của con người, ngay cả khái niệm về Thượng đế cũng có thể được
dùng như một giả thuyết." Patanjali tuyệt đối lạnh lùng về Thượng đế, còn
lạnh lùng hơn Phật Gautam, bởi vì khi bạn nói không thì có đam mê nào đó, khi bạn
nói có thì có đam mê nào đó - trong yêu, trong ghét, đều có đam mê. Patanjali
is tuyệt đối dửng dưng. Ông ấy nói, "Vâng, khái niệm về Thượng đế có thể
được dùng." Ông ấy là người vô thần lớn nhất mà thế giới đã từng biết tới.
Nhưng ở
phương Tây khái niệm về vô thần là khác toàn bộ. Nó chưa chín chắn. Nó là ở
trên cùng bình diện như người hữu thần. Người hữu thần cứ nói "có Thượng đế"
theo thuật ngữ ấu trĩ, như người bố, và người vô thần cứ phủ nhận, rằng không
có Thượng đế như vậy. Họ cả hai đều tồn tại trên cùng một bình diện. Patanjali
là người vô thần thực, nhưng điều đó không có nghĩa là ông ấy là phi tôn giáo.
Ông ấy là người tôn giáo thực sự. Người tôn giáo thực không thể tin vào Thượng
đế. Điều đó sẽ có vẻ ngược đời.
Người
tôn giáo thực không thể tin được vào Thượng đế vì để tin vào Thượng đế, người
đó phải chia sự tồn tại ra làm đôi - Thượng đế và không Thượng đế, đấng sáng tạo
và việc sáng tạo, thế giới này và thế giới kia, vật chất và tâm trí. Người đó
phải phân chia, và làm sao người tôn giáo có thể phân chia được? Người đó không
tin vào Thượng đế; người đó đi tới hiểu chính tính thiêng liêng của sự tồn tại.
Thế thì toàn thể sự tồn tại là thiêng liêng; thế thì mọi thứ có đó đều thiêng
liêng. Thế thì mọi chỗ đều là ngôi đền, và bất kì chỗ nào bạn đi và bất kì cái
gì bạn làm bạn đều đang đi trong Thượng đế và bạn đang làm cho Thượng đế. Cái
toàn bộ - kể cả bạn - trở thành thiêng liêng. Điều này phải được hiểu.
Yoga là
khoa học hoàn hảo. Nó không dạy tin tưởng; nó dạy biết. Nó không bảo bạn,
"Trở thành tín đồ mù quáng đi"; nó nói, "Mở mắt ra," và nó
cho bạn phương pháp, cách thức để mở mắt bạn. Nó không nói cái gì về chân lí.
Nó đơn giản nói mọi thứ về cái nhìn của bạn, làm sao để đạt tới viễn kiến này,
năng lực để nhìn, đôi mắt, để cho bất kì cái gì có đó đều được lộ ra cho bạn.
Nó còn nhiều hơn là bạn có thể quan niệm tới; nó còn nhiều hơn mọi thượng đế của
bạn được gắn lại với nhau. Nó là tính thiêng liêng vô hạn.
Thêm một
điều nữa về chuyện ngụ ngôn này. Người điên này nói. "Ta tới sớm quá rồi.
Thời của ta còn chưa tới." Patanjali thực sự tới quá sớm. Thời của ông ấy
còn chưa tới. Ông ấy vẫn chờ đợi thời của ông ấy. Điều đó bao giờ cũng xảy ra,
những người nhận ra chân lí bao giờ cũng đi trước thời đại của họ - đôi khi cả
nghìn năm trước. Patanjali vẫn ở trước thời đại. Năm nghìn năm đã qua rồi; dầu
vậy thời của ông ấy vẫn còn chưa tới. Thế giới bên trong của con người vẫn còn
chưa trở thành khoa học. Ông ấy đã cho mọi nền tảng; ông ấy đã cho toàn thể cấu
trúc. Cấu trúc này đang chờ đợi nhân loại tới gần và hiểu nó.
Tôn
giáo của chúng ta, cái gọi là tôn giáo, vẫn còn chưa tới tuổi trưởng thành.
Patanjali là người khổng lồ, cực đỉnh của con người. Chiều cao của ông ấy cao tới
mức bạn không thể thấy được đỉnh; nó bị ẩn kín đâu đó trong mây. Nhưng mọi thứ
về ông ấy là tuyệt đối rõ ràng. Nếu bạn sẵn sàng không níu bám vào lẫn lộn của
bạn, nếu bạn sẵn sàng đi theo con đường mà ông ấy chỉ ra, mọi thứ là tuyệt đối
rõ ràng. Về người này Patanjali chẳng có gì giống như huyền môn cả. Ông ấy là
nhà toán học của điều huyền bí; ông ấy là nhà logic của điều phi logic; ông ấy
là nhà khoa học của cái không biết. Và thậm chí điều lớn lao vô cùng là quan niệm
rằng một người đã gắn toàn thể khoa học lại với nhau. Không cái gì thiếu, nhưng
khoa học đang chờ đợi nhân loại tới gần để cho khoa học có thể được hiểu.
Con người
chỉ hiểu cái mà con người muốn hiểu. Việc hiểu biết của con người bị chi phối bởi
ham muốn của người đó. Đó là lí do tại sao Patanjali, Phật, Zarathustra, Lão Tử,
họ bao giờ cũng cảm thấy họ đã tới quá sớm. Bởi vì con người vẫn đang hỏi về đồ
chơi để chơi. Con người không sẵn sàng để trưởng thành. Con người không muốn
trưởng thành. Con người níu bám lấy những cái ngu xuẩn. Con người đã đầu tư quá
nhiều vào dốt nát của mình và con người cứ tự lừa bản thân mình.
Cứ quan
sát bản thân bạn mà xem. Khi bạn nói về Thượng đế - bạn không nói về Thượng đế
đâu bạn đang nói về Thượng đế của bạn đấy. Và Thượng đế của bạn có thể là loại
Thượng đế gì? Nó không thể nhiều hơn bạn được; nó chỉ có thể ít hơn bạn thôi.
Nó không thể đẹp hơn bạn được; nó chỉ có thể là xấu hơn bạn. Nó không thể là sự
sáng tỏ được. Nó nhất định là lẫn lộn, bởi vì trong khái niệm về Thượng đế của
bạn, bạn sẽ được bao hàm. Nó không thể lên cao hơn bạn được. Chiều cao của bạn
- nhiều nhất - có thể là chiều cao của Thượng đế của bạn.
Mọi người
nghĩ theo ham muốn của họ, tham vọng, bản ngã và mọi thứ trở nên được tô mầu bởi
điều đó.
Chuyện
xảy ra là Mulla Nasruddin ra tranh cử cuộc bầu cử.
Anh ta
nhận được chỉ ba phiếu bầu. Vợ anh ta, khi cô ấy đi tới biết, quay sang anh ta
và cắn cảu, "Đấy thấy chưa! Em bao giờ cũng biết anh đã bao người đàn bà
khác!"
Một phiếu
của Nasruddin, bản thân anh ta, một phiếu của vợ anh ta, và phiếu kia là từ
đâu? Tâm trí ghen tuông nghĩ dưới dạng ghen tuông. Tâm trí sở hữu nghĩ dưới dạng
sở hữu. Tâm trí giận dữ nghĩ dưới dạng giận dữ.
Nhìn
vào Thượng đế của người Do Thái. Ông ấy có tính sở hữu như bất kì người nào có
thể vậy. Ông ấy bản ngã như bất kì người nào có thể vậy. Ông ấy trả thù như bất
kì người nào có thể vậy. Ông ấy chẳng có vẻ gì thiêng liêng chút nào. Ông ấy có
vẻ giống như quỉ hơn giống thượng đế. Toàn thể huyền thoại về Adam bị đuổi ra
khỏi vườn địa đàng Eden chả nói gì mấy về Adam, nhưng nó chỉ ra nhiều thứ về
Thượng đế. "Vì Adam không vâng lời" - kiểu Thượng đế gì mà không thể
dung thứ được một việc không vâng lời nhỏ bé thế, rất cố chấp, người không thể
dung thứ được chút ít tự do sao? Thượng đế đó có thể là người chủ nô, nhưng người
đó không là thượng đế.
Thực ra
tội của Adam là gì? Tò mò, không gì khác. Bởi vì Thượng đế đã nói, "Không
ăn quả của cây này. Đây là cây tri thức," và Adam trở nên tò mò. Đơn giản,
rất con người. Nghĩ khác đi là không thể được. Và với điều nhỏ nhặt đó - làm
sao bạn có thể gọi nó là tội được? Đó là toàn thể cơ sở của mọi tò mò và điều
tra khoa học. Mọi nhà khoa học đều là tội nhân. Patanjali, Phật, Zarathustra -
toàn là tội nhân vì họ tò mò vô cùng để biết chân lí là gì, cuộc sống là gì. Họ
toàn là các Adams. Nhưng Thượng đế của người Do Thái không thể dung thứ được;
ông ấy phát điên. Ông ấy đã tống Adam ra khỏi vườn, tội lỗi lớn nhất đã bị phạm
phải. Tò mò là tội sao? Nỗ lực để biết cái không biết là tội sao? Thế thì tìm
kiếm chân lí là tội rồi. Không vâng lời, có tính nổi dậy là tội sao? Thế thì mọi
người tôn giáo vĩ đại đều là tội nhân vì tất cả họ đều là người nổi dậy.
Không,
điều đó chẳng liên quan gì tới Thượng đế. Nó có cái gì đó liên quan tới tâm trí
Do Thái, tâm trí nhỏ bé nghĩ về Thượng đế, tạo ra Thượng đế theo hình ảnh riêng
của họ.
Mulla
Nasruddin một lần loạng choạng về từ tầu hoả, da mặt tái nhợt. Tôi đã ra ga đón
anh ta.
"Đáp
tầu trở về trong mười tiếng," anh ta giải thích, "tôi chưa bao giờ có
thể đứng như thế."
"Sao
vậy," tôi hỏi, "anh không đề nghị người ngồi đối diện đổi chỗ cho anh
sao?"
"Tôi
không thể làm điều đó được." Mulla nói. "Chẳng có ai ở đó cả."
Không
có ai trên trời để nghe lời cầu nguyện của bạn. Bất kì cái gì bạn muốn làm, làm
đi. Không có ai sẽ cho bạn phép để làm nó. Bất kì cái gì bạn muốn là, là nó đi.
Không có ai bạn phải tìm để xin phép. Sự tồn tại là tự do và sẵn có. Đây là hiểu
biết của yoga: rằng sự tồn tại là sẵn có cho mọi người. Bất kì cái gì bạn muốn
là, bạn đều có thể là. Mọi thứ đều sẵn sàng. Đừng đợi có phép của bất kì ai bởi
vì không có ai cả. Chỗ đối diện đang bỏ trống - nếu bạn muốn ngồi, bạn có thể
ngồi vào nó.
Mulla
có vẻ ngớ ngẩn, tức cười, nhưng chính toàn thể nhân loại đã từng làm trong hàng
thế kỉ, nhìn lên trời, hỏi xin phép, cầu nguyện - với ai đó mà không có đó. Lời
cầu nguyện không phải là điều đúng; điều đúng là thiền. Và khác biệt là gì? Khi
bạn cầu nguyện bạn phải tin vào ai đó người đang nghe lời cầu nguyện của bạn.
Khi bạn thiền bạn thiền một mình. Trong lời cầu nguyện người khác được cần tới;
trong thiền, bạn một mình là đủ.
Yoga là
có tính thiền. Nó không có chỗ cho lời cầu nguyện, bởi vì nó không có chỗ cho
Thượng đế. Nó không có chỗ cho bất kì khái niệm trẻ con nào về Thượng đế.
Để điều
này trở thành việc nhớ thường xuyên trong bạn: nếu bạn thực sự muốn có tính tôn
giáo, bạn sẽ phải trải qua trạng thái của vô thần. Nếu bạn thực sự muốn có tính
tôn giáo đích thực, thế thì đừng bắt đầu bằng việc là người hữu thần. Bắt đầu bằng
việc là người vô thần đi. Bắt đầu bằng việc là một Adam. Adam là bắt đầu của
Christ. Adam bắt đầu vòng tròn và Christ kết thúc vòng tròn. Bắt đầu bằng việc
nói không để cho có của bạn có thể ngụ ý cái gì đó. Đừng sợ và đừng tin do sợ.
Nếu bạn phải tin một ngày nào đó, chỉ tin từ việc biết và tình yêu - đừng bao
giờ từ sợ.
Đó là
lí do tại sao Ki tô giáo không thể phát triển được yoga, Do Thái giáo không thể
phát triển được yoga, Mô ha mét giáo không thể phát triển được yoga. Yoga đã được
phát triển bởi những người đủ dũng cảm để nói không với mọi niềm tin, với mọi đức
tin mù quáng, người có khả năng phủ nhận sự thuận tiện của niềm tin với bản
thân họ và người đã sẵn sàng để truy tìm và đi vào trong cõi hoang vu của bản
thể riêng của họ.
Đó là
trách nhiệm vô cùng. Là người vô thần là có trách nhiệm rất sâu sắc bởi vì khi
không có Thượng đế bạn bị bỏ lại một mình trong thế giới lạnh lẽo. Khi không có
Thượng đế bạn bị bỏ lại một mình không có gì để mắc vào, không có gì để bám
vào. Dũng cảm lớn lao được cần tới, và bạn phải tạo ra hơi ấm từ bản thể riêng
của bạn. Đây là toàn thể nghĩa của yoga: tạo ra hơi ấm từ bản thể riêng của bạn.
Sự tồn tại lạnh lẽo. Không Thượng đế giả thuyết nào có thể cho bạn hơi ấm. Bạn
đơn giản mơ. Nó có thể là việc hoàn thành ước muốn, nhưng nó không thực. Là lạnh
nhưng vẫn còn sống cùng chân lí là tốt hơn sống nhưng bị bao quanh bởi dối trá
và cảm thấy ấm.
Yoga
nói nhận ra chân lí rằng bạn là một mình đi. Bạn được trao cho sự tồn tại; bây
giờ bạn phải tạo ra nghĩa từ nó. Nghĩa không được cho sẵn.
Người
hiện sinh ở phương Tây nói cái gì đó mà Patanjali sẽ đồng ý toàn bộ. Người hiện
sinh nói sự tồn tại đi trước điều bản chất. Để tôi giải thích nó cho bạn.
Tảng đá
có đó. Bản chất của tảng đá được cho; nó đã được cho. Sự tồn tại của nó cũng là
bản chất của nó. Tảng đá sẽ không trưởng thành: nó đã là cái mà nó có thể là.
Nhưng con người là khác, con người được sinh ra - con người mang sự tồn tại của
mình, nhưng điều bản chất chưa được cho. Con người tới như một sự trống rỗng.
Bây giờ con người phải rót đầy cái trống rỗng đó bằng nỗ lực riêng của mình.
Con người phải tạo ra nghĩa: con người phải dò dẫm trong bóng tối; con người phải
làm ra từ nó, cuộc sống nghĩa là gì. Con người phải khám phá; con người phải có
tính sáng tạo. Sự tồn tại được cho, điều bản chất phải được tạo ra - và mọi khoảnh
khắc từ cách bạn sống, bạn tạo ra điều bản chất của bạn. Nếu bạn không tạo ra
nó bạn sẽ không có nó.
Mọi người
tới tôi và họ hỏi, "Xin thầy nói cho chúng tôi nghĩa của cuộc sống là
gì." Cứ dường như nghĩa được cho ở đâu đó. Nghĩa không được cho, bạn phải
tạo ra nó.
Và điều
này là hay. Nếu nghĩa mà đã được cho, con người chắc đã là tảng đá. Thế thì
không có khả năng nào để trưởng thành, không có khả năng nào để khám phá, không
có khả năng nào để phiêu lưu - không có khả năng nào. Thực ra, mọi thứ bị đóng
lại - tảng đá bị đóng từ mọi chiều. Nó đã là cái mà nó có thể là, nhưng con người
không là... chỉ một khả năng, khả năng run rẩy, với tương lai vô hạn, với cả
nghìn lẻ một phương án. Điều đó sẽ tuỳ thuộc vào bạn, bạn trở thành ai và cái
gì.
Bạn chịu
trách nhiệm. Khi không có Thượng đế, trách nhiệm rơi toàn bộ vào bạn. Đó là lí
do tại sao những người yếu đuối cứ tin vào Thượng đế. Chỉ những người rất mạnh
mới có thể đứng một mình. Nhưng đây là sự cần thiết cơ sở - với yoga đây là yêu
cầu cơ sở rằng bạn đứng một mình và rằng bạn đi tới nhận ra là nghĩa không được
trao cho; bạn phải tìm nó. Bạn phải sáng tạo ra nó. Bạn sẽ đi tới một nghĩa -
cuộc sống có thể đi tới một nghĩa - nhưng nghĩa đó sẽ phải được khám phá ra bởi
nỗ lực riêng của bạn. Bất kì cái gì bạn làm sẽ cứ làm lộ ra bạn. Mọi hành động
sẽ làm cho cuộc sống của bạn, sự tồn tại của bạn, ngày một nhiều nghĩa hơn.
Chỉ nếu
điều này là chân lí thế thì yoga mới là có thể. Bằng không, cứ cầu nguyện mãi;
bằng không cứ quì dưới đất, cứ cầu nguyện với các ý tưởng riêng của bạn và cứ
diễn giải lời cầu nguyện riêng của bạn, và sống trong ảo giác, sống trong ảo tưởng.
Sigmund
Freud đã viết một cuốn sách. Tên cuốn sách là rất có ý nghĩa Tương lai của ảo
tưởng. Cuốn sách này là về tôn giáo. Điều không may là ông ấy chưa bao giờ trở
nên nhận biết về Patanjali; bằng không ông ấy chắc đã không viết cuốn sách đó -
bởi vì tôn giáo có thể tồn tại mà không có ảo tưởng. Với Sigmund Freud tôn giáo
nghĩa là Ki tô giáo và Do Thái giáo. Ông ấy không nhận biết về chiều sâu của
các tôn giáo phương Đông. Các tôn giáo phương Tây ít nhiều đều có tính chất
chính trị. Phần nhiều trong chúng không phải là tôn giáo chút nào; chúng là hời
hợt. Các tôn giáo phương Đông đã đi tới chính chiều sâu, và đây là chiều sâu
nơi bạn phủ nhận Thượng đế và bạn nói bây giờ không cần phải phụ thuộc. Bất kì
khi nào bạn nghĩ bạn cần ai đó để phụ thuộc vào, bạn sẽ tạo ra ảo tưởng.
Nhận ra
rằng người ta một mình trong vũ trụ lạnh lẽo - và không có ai để cầu nguyện, và
không có ai để phàn nàn, và không có ai sẽ giúp bạn - duy nhất bạn - đó là
trách nhiệm vô cùng. Người ta chới với, người ta cảm thấy sợ, người ta bắt đầu
run rẩy. Phiền não nảy sinh, lo âu lớn được tạo ra bởi chính sự kiện là bạn bị
bỏ lại một mình.
"Thượng
đế chết" Nietzsche đã nói điều đó chỉ mới một trăm năm trước; Patanjali đã
biết điều đó năm nghìn năm trước. Tất cả những người đã tới gần chân lí hơn đều
biết rằng Thượng đế là tưởng tượng của con người. Đó là diễn giải của con người,
sự dối trá, để cho bản thân bạn hơi ấm.
Mọi người
cứ diễn giải theo cách riêng của họ. Toàn thể mối quan tâm của yoga là ở chỗ bạn
vứt bỏ mọi diễn giải, để cho mắt bạn không bị che mờ bởi bất kì giả thuyết và
niềm tin nào, nhìn thẳng, nhìn không bị che mờ, nhìn không có khói. Để cho ngọn
lửa của bạn cháy không có khói và thấy bất kì cái gì đang có đó.
Nghe lỏm
được trong công viên: hai người đàn ông đang kể về vợ của họ cho nhau: "Vợ
tớ giống như Venus de Milo."
"Cậu
ngụ ý cô ấy có hình dáng quyến rũ và đứng truồng chứ gì?" người kia hỏi.
"Không,
cô ấy là di vật cổ và cô ấy không có mọi thứ ở đó."
"Vợ
tớ làm cho tớ nghĩ tới Mona Lisa."
"Cậu
ngụ ý cô ấy là người Pháp và có nụ cười bí ẩn à?"
"Không,
cô ấy phẳng như tranh vẽ và cô ấy nên được để trong bảo tàng."
Mọi người
cứ diễn giải.
Bao giờ
cũng lắng nghe nghĩa của họ, không nghe lời của họ. Bao giờ cũng lắng nghe bản
thể bên trong của họ, không nghe âm thanh họ tạo ra bên ngoài. Điều họ nói là
không ý nghĩa... bằng điều họ đang là.
Thượng
đế của bạn, lời cầu nguyện của bạn, là không có ý nghĩa. Nhà thờ, đền chùa là
không có ý nghĩa. Duy nhất bạn có nghĩa. Khi bạn cầu nguyện, tôi không lắng
nghe lời cầu nguyện của bạn đâu. Tôi lắng nghe bạn. Khi bạn quì xuống dưới đất,
tôi không nhìn cử chỉ của bạn, tôi nhìn bạn. Nó là từ sợ hãi - và tôn giáo từ sợ
hãi là không thể được. Tôn giáo là có thể chỉ từ hiểu biết. Đó là nỗ lực của
Patanjali.
Nhưng với
Patanjali, hơn nữa, mọi người vẫn cứ diễn giải. Họ đem tâm trí của họ vào và thế
thì Patanjali ở đó không còn nữa. Họ lắng nghe nhịp tim riêng của họ trong ông ấy.
Trong một
trường nhỏ cô giáo hỏi một học sinh đến chậm, "Sao con tới chậm?"
"Dạ,
một biển báo trên phố nói - ."
Cô giáo
ngắt lời, "Bây giờ biển báo có thể là gì, có liên quan gì tới nó?"
"Cái
biển nói," cậu học sinh nói, "'Trường ở phía trước. Đi chậm lại."
Điều đó
là tuỳ bạn, bạn sẽ hiểu gì khi bạn đọc Patanjali. Chừng nào bạn chưa thể bỏ bản
thân bạn lại đằng sau, bạn sẽ hiểu lầm. Việc hiểu là có thể chỉ khi bạn tuyệt đối
vắng bóng - bạn không can thiệp, bạn không ngắt quãng, bạn không cho mầu sắc,
hình dáng và hình dạng. Bạn đơn giản nhìn, không có ý tưởng nào, không định kiến.
Bây giờ
là lời kinh.
Biến
thiên trong biến đổi được gây ra bởi sự đa dạng trong các quá trình bên dưới.
Bạn đã
nghe nói về nhiều phép màu thế, nhiều siddhis thế. Patanjali nói không có phép
màu nào là có thể, mọi phép màu đều tuân theo luật nào đó. Luật có thể không được
biết tới. Khi luật không được biết tới, mọi người nghĩ từ dốt nát của họ rằng
đó là phép màu. Patanjali không tin vào phép màu. Ông ấy hoàn toàn khoa học
trong hiểu biết của ông ấy. Ông ấy nói nếu cái gì đó xảy ra phải có một luật
nào đó. Luật có thể không được biết tới, bạn có thể dốt nát về nó - ngay cả người
đang làm phép màu cũng có thể không nhận biết về luật này, nhưng người đó đã đi
tới, loạng choạng vớ phải cách dùng nó và người đó đang dùng nó.
Đây là
lời kinh cơ sở cho mọi phép màu "Biến thiên trong biến đổi được gây ra bởi
sự đa dạng trong các quá trình bên dưới." Nếu bạn thay đổi quá trình bên
dưới, cái biểu lộ thay đổi. Bạn có thể không nhận biết về quá trình bên dưới; bạn
chỉ thấy cái biểu lộ. Bởi vì bạn chỉ thấy cái biểu lộ và bạn không thể đi sâu
hơn và bạn không thể thấy được quá trình bên dưới, dòng chảy ngầm của luật cơ bản,
bạn nghĩ có phép màu. Không có phép màu đâu.
Chẳng hạn,
các nhà giả kim thuật ở phương Tây cố gắng vất vả trong hàng thế kỉ để biến đổi
kim loại cơ sở thành vàng. Có các báo cáo rằng vài người trong số họ đã thành
công. Các nhà khoa học bao giờ cũng phủ nhận điều đó, nhưng bây giờ bản thân
khoa học đã thành công trong điều đó. Bây giờ bạn không thể phủ nhận được - bây
giờ chúng ta biết quá trình bên dưới. Bây giờ vật lí nói rằng toàn thế giới bao
gồm các nguyên tử, và nguyên tử bao gồm các điện tử. Thế thì khác biệt gì giữa
vàng và thép? Khác biệt không phải là thực tại cơ sở; cả hai đều bao gồm các điện
tử, các hạt điện tử. Thế thì khác biệt là gì? Thế thì sao chúng là khác nhau?
Vàng, sắt, chúng là khác nhau. Và khác biệt là gì? Khác biệt chỉ là ở trong cấu
trúc, không ở chất liệu cơ sở.
Thỉnh
thoảng các điện tử có nhiều, thỉnh thoảng có ít - điều đó tạo ra khác biệt. Số
lượng tạo ra khác biệt, nhưng chất liệu là như nhau. Cấu trúc là khác nhau. Bạn
có thể làm ra nhiều kiểu nhà bằng cùng loại gạch. Gạch là như nhau. Bạn có thể
làm ra lều của người nghèo và bạn có thể làm ra cung điện của nhà vua - gạch là
như nhau.
Thực tại
cơ sở là như nhau. Nếu bạn muốn, lều có thể được biến đổi thành cung điện và
cung điện có thể được biến đổi thành lều.
Đây là
lời kinh cơ sở của Patanjali "Biến thiên trong biến đổi được gây ra bởi sự
đa dạng trong các quá trình bên dưới." Cho nên nếu bạn hiểu quá trình bên
dưới bạn trở nên có khả năng về những điều mà người thường không có khả năng
làm.
bằng việc
thực hiện sanyama trên ba loại biến đổi - nirodh, samadhi và ekagrata - tri thức
về quá khứ và tương lai.
Nếu bạn
tập trung vào nirodh, lỗ hổng giữa hai ý nghĩ, và bạn liên tục chất đầy những lỗ
hổng đó, bạn liên tục tích luỹ những lỗ hổng đó, tức là điều Patanjali gọi là
samadhi - và thế rồi nảy sinh trong bạn một tình huống mà bạn trở thành một và
nhất tâm - Ekagrata - nếu có điều này tri thức về quá khứ và tương lai xảy ra.
Sẽ là
phép màu nếu bạn có thể biết được tương lai. Nó không phải là phép màu.
Có một
ghi chép khoa học về một người rất hiếm hoi ở phương Tây, Swedenborg. Ông ấy đã
viết một bức thư cho Wesley, một linh mục nổi tiếng, và bảo ông này,
"Trong thế giới của các linh hồn, tôi đã nghe tin đồn rằng ông muốn gặp
tôi." Wesley ngạc nhiên vì ông này đã nghĩ tới gặp ông ấy, nhưng ông này đã
không nói thế với ai cả. Ông này không thể tin được vào điều đó. Ông này viết một
lá thư nói. "Tôi cực kì ngạc nhiên. Tôi không biết ông ngụ ý gì bằng thế
giới các linh hồn, tôi không biết ông ngụ ý gì rằng ông đã nghe tin đồn, nhưng
điều chắc chắn là tôi đã từng nghĩ tới việc gặp ông - và tôi đã không nói điều
này cho bất kì ai tôi sẽ tới vào ngày như vậy như vậy, bởi vì tôi dự định một
chuyến đi, và ba, bốn tháng sau tôi sẽ tới gặp ông." Swedenborg viết cho
ông này, "Điều đó là không thể được bởi vì, đích xác vào ngày đó, tôi đã
nghe tin đồn trong thế giới các linh hồn rằng tôi sẽ chết." Và đích xác
vào ngày đó ông ấy chết.
Swedenborg
đang ở cùng vài người bạn tại khu nghỉ dưỡng ngày lễ, và đột nhiên ông ấy bắt đầu
kêu ầm lên, "Cháy! Cháy!" Họ không thể tin được điều ông ấy nói. Họ
chạy ra ngoài. Chẳng có cháy gì cả - không có gì trong làng nhỏ, làng ven biển.
Họ hỏi ông ấy điều ông ấy ngụ ý - và ông ấy vã mồ hôi cứ dường như có cháy, và
ông ấy run bắn lên. Thế rồi ông ấy nói. "Xa quãng ba trăm dặm một thị trấn
đang cháy." Một người cưỡi ngựa được phái đi ngay. Ông ấy đúng. Thị trấn
đó đang bị cháy, và vào khoảnh khắc đó mọi người của thị trấn đó trở nên nhận
biết, khi ông ấy nói, "Cháy! Cháy!"
Hoàng hậu
Thuỵ Điển trở nên quan tâm tới người này. Bà ấy nói, "Ông có thể nói cái
gì đó cho ta mà có thể cho ta bằng chứng rằng ông di chuyển trong thế giới các
linh hồn không?" Ông ấy nhắm mắt và ông ấy nói, "Trong cung điện của
hoàng hậu," nơi ông ấy chưa bao giờ tới vì ông ấy chưa bao giờ được triệu
tới cung điện này trước đó và đó không phải là chỗ công cộng nơi bất kì ai cũng
có thể tới... Ông ấy nói, "Trong phòng nào đó," số của phòng,
"trong ngăn kéo nào đó, bị khoá lại, và chìa khoá sẽ được tìm thấy ở phòng
khác, mở nó ra. Chồng bà đã để lại một bức thư cho bà." Người chồng đã chết
gần mười hai năm. "Và đây là thông điệp trên bức thư..." Ông ấy viết
ra thông điệp. Căn phòng được tìm thấy, chìa khoá được tìm và thấy, ngăn kéo được
mở ra, và có bức thư và đích xác đó là những từ mà Swedenborg đã viết ra trên mẩu
giấy.
Patanjali
nói nếu nirodh được hoàn thành, nó trở thành samadhi. Nếu samadhi được đạt tới,
người ta trở thành nhất tâm, tâm thức trở thành lưỡi gươm, mũi nhọn sắc, tri thức
nhất tâm về quá khứ và tương lai. Bởi vì thế thì với bạn thời gian biến mất và
bạn trở thành một phần của vĩnh hằng. Thế thì quá khứ không là quá khứ cho bạn
và tương lai không là tương lai cho bạn. Thế thì với bạn cả ba thời đều sẵn có
đồng thời.
Nhưng
đây không phải là phép màu. Đây là Luật hoàn toàn, Luật cơ sở. Người ta phải hiểu
và dùng nó.
Âm
thanh và chủ định và ý tưởng đằng sau nó có cùng nhau trong tâm trí ở trạng
thái lẫn lộn. Bằng việc thực hiện sanyama trên âm thanh, tách rời xảy ra và có
nảy sinh hiểu thấu về nghĩa của âm thanh do bất kì sinh linh sống nào tạo ra.
Và Patanjali
nói nếu bạn mang sanyama của bạn - tức là dharana của bạn, sự tập trung; suy tư
của bạn dhyan; và samadhi của bạn, nếu bạn mang cả ba điều này - nhất tâm - vào
bất kì âm thanh nào được thốt ra bởi bất kì sinh linh sống nào - con vật, chim
chóc - bạn sẽ hiểu nghĩa của nó.
Ở
phương Tây có câu chuyện về thánh Francis rằng ông ấy nói chuyện với con vật.
Ông ấy thậm chí nói với con lừa và nói, "Anh Lừa ơi." Ông ấy sẽ đi
vào trong rừng và nói chuyện với chim chóc, và chim chóc sẽ tới ông ấy. Một lần,
ông ấy gọi từ bờ sông, "Các chị ơi," vì ông ấy thường gọi cá như vậy,
và hàng nghìn cá ngoi đầu lên khắp sông để nghe ông ấy. Những điều này là những
bản ghi đã đươc chứng kiến bởi nhiều người.
Người
ta nói về Lukman, người đã tạo ra hệ thống y tế Hi Lạp, rằng ông ấy đi tới cây
cối và hỏi các thuộc tính của chúng - "Cây có thể được dùng cho bệnh nào,
thưa cây?" - và cây sẽ trả lời. Thực ra ông ấy đã tường trình về nhiều thuốc
tới mức các nhà khoa học hiện đại đơn giản bị hoangmang bởi vì các phương pháp
không có đó: thực nghiệm là không thể được. Chỉ mãi bây giờ chúng ta mới trở
nên có khả năng đi vào trong những thuộc tính ẩn kín của mọi thứ, nhưng Lukman
đã nói về chúng rồi.
Patanjali
nói điều này nữa không phải là phép màu. Nếu bạn tập trung - bạn trở thành một
và bạn lắng nghe âm thanh mà không có ý nghĩ nào - chính âm thanh đó sẽ tiết lộ
cho bạn chân lí đằng sau nó. Vấn đề không phải là hiểu ngôn ngữ; vấn đề là hiểu
im lặng. Nếu bạn ở trong im lặng bạn có thể hiểu im lặng. Bình thường, nếu bạn
biết tiếng Anh bạn có thể hiểu tiếng Anh, nếu bạn biết tiếng Pháp, bạn có thể
hiểu tiếng Pháp. Cùng điều đó là đúng nếu bạn im lặng bạn có thể hiểu được im lặng.
Đó là ngôn ngữ của cái toàn thể.
Trong
nhất tâm người ta trở thành tuyệt đối im lặng. Trong im lặng tuyệt đối đó mọi
thứ được lộ ra - nhưng không phải là phép màu. Patanjali không thích từ
"phép màu." Ông ấy là con người của khoa học. Không có cái gì như
phép thần trong nó; nó là đơn giản.
Tôi ở
nhà Mulla Nasruddin một ngày. Mulla Nasruddin và vợ anh ta ở trong bếp rửa bát.
Tôi và con trai nhỏ của Nasruddin Fajalu ở trong phòng khách xem ti vi. Đột
nhiên có tiếng bát đĩa rơi vỡ loảng xoảng. Tôi và Fajalu lắng nghe nhưng không
nghe thấy gì thêm.
"Đấy
là mẹ ném bát đĩa," cuối cung bé Fajalu tuyên bố. Tôi ngạc nhiên.
"Sao cháu biết?" tôi hỏi nó. "Vì mẹ chẳng nói gì cả."
Có cách
hiểu khi không cái gì được nói - bởi vì điều đó nói cái gì đó. Im lặng không chỉ
là im lặng. Im lặng có thông điệp riêng của nó. Bởi vì bạn bị chất đầy quá nhiều
với ý nghĩ, bạn không thể hiểu được, bạn không thể nghe được, tiếng nói tĩnh lặng
nhỏ bé đó ở bên trong.
Lắng
nghe tiếng con chim cúc cu, tiếng hót của con chim cúc cu mà xem. Patanjali nói
lắng nghe có tính thiền tới mức ý nghĩ của bạn biến mất - nirodh tới. Không
trong các lỗ hổng, mưa rào lên bạn như samadhi. Không ý nghĩ can nhiễu, không
sao lãng, tính nhất tâm nảy sinh. Đột nhiên bạn là một với con chim cúc cu, bạn
hiểu tại sao nó hót, bởi vì chúng ta là một phần của một toàn thể. Đằng sau âm
thanh đó có nghĩa ẩn kín trong trái tim con chim cúc cu: nếu bạn im lặng bạn sẽ
có khả năng hiểu nó.
Patanjali
nói "Âm thanh và chủ định và ý tưởng đằng sau nó có cùng nhau trong tâm
trí ở trạng thái lẫn lộn. Bằng việc thực hiện sanyama trên âm thanh, tách rời xảy
ra và có nảy sinh hiểu thấu về nghĩa của âm thanh do bất kì sinh linh sống nào
tạo ra."
Mulla
Nasruddin đứng trong phòng đấu giá suốt chiều chờ đợi lô 455 mà là một con vẹt
Nam Mĩ trong chiếc chuồng crôm. Cuối cùng cơ hội của anh ta tới và con vẹt được
đưa ra bán. Mulla mua nó, nhưng nó tốn của anh ta khá nhiều tiền hơn là anh ta
định chi tiêu cho nó. Dầu vậy, vợ anh ta chả muốn một con như nó.
Khi người
trợ lí bước xuống anh ta để lấy tên và địa chỉ anh này nói, "Ông đã có được
cho bản thân ông một con chim đẹp đấy, thưa ông."
Mulla nói,
"Tôi biết. Nó là con đẹp. Chỉ một điều này, tôi quên mất không hỏi liệu
con vẹt đó có biết nói không."
Lông
mày của người trợ lí dướn hẳn lên. "Nói à?" anh này nói, "Đồ chết
tiệt, nó đã đấu giá với ông trong năm phút cuối đó!"
Nhưng
chúng ta bận rộn thế trong ý nghĩ riêng của mình, ai lắng nghe? Ai lắng nghe
con vẹt? Mọi người không lắng nghe người yêu của mình. Ai lắng nghe vợ? Ai lắng
nghe chồng? Ai lắng nghe bố, hay ai lắng nghe con? Mọi người bận rộn thế, bận bịu
trong đầu họ - bị treo lên - không có khả năng nào cho lắng nghe. Lắng nghe cần
im lặng. Lắng nghe cần chăm chú. Lắng nghe cần thụ động sâu sắc, sự cảm nhận.
Nó không phải là lãng trí - nó là đầy chăm chú, đầy nhận biết, đầy ánh sáng:
nhưng thụ động.
Bằng việc
quan sát dấu vết quá khứ, tri thức về những lần sinh trước được biết tới.
Và khi
bạn trở nên im lặng - điều Patanjali gọi là Ekagrata parinam, biến đổi mà đem bạn
tới nhất tâm của tâm thức - khi điều đó nảy sinh bạn có thể nhìn vào trong những
dấu ấn quá khứ của bạn. Bạn có thể đi lùi lại và bạn có thể đi tới các kiếp quá
khứ của bạn. Và điều đó là rất, rất có ý nghĩa, bởi vì một khi bạn có thể nhìn
vào trong các kiếp quá khứ của bạn, bạn sẽ lập tức trở nên khác. Chính bởi vì bạn
đã quên mọi điều bạn đã sống trước đây, bạn cứ lặp đi lặp lại cái vô nghĩa cũ
mãi.
Nếu bạn
có thể nhìn lại và bạn có thể thấy lại cùng hình mẫu, lại cùng hình mẫu... rằng
bạn đã ghen tuông, rằng bạn đã sở hữu, rằng bạn đã đầy ghét và giận, rằng bạn
đã tham, rằng bạn đã cố gắng trở thành quyền thế trong thế giới, cố đạt tới giầu
có, thành công, tham vọng, rằng bạn đã là kẻ bản ngã lặp đi lặp lại và bao giờ
bạn cũng thất bại và bao giờ cái chết cũng tới và mọi điều bạn làm bị ngắt
quãng, và bạn lại bắt đầu cùng trò chơi đó lần nữa... Nếu bạn quay lại và bạn
có thể thấy hàng triệu kiếp sống trải khắp vĩnh hằng, bạn có thể còn như cũ được
không? Bạn có thể vẫn đi vào tham lam khi bạn thấy thất vọng mà nó đã từng đem
tới cho bạn không?
Nhưng
chúng ta quên. Quá khứ bị hấp thu bởi dốt nát; nó đi vào trong đêm tối. Quên lãng
rơi xuống, bức màn, và bạn không thể đi ngược lại.
Người
chủ sở hữu một phòng tranh nghệ thuật ở Bombay đang chỉ cho một khách hàng, người
không biết mình thích cái gì, thử tranh phong cảnh, tranh tĩnh vật, tranh chân
dung, và tranh cây cỏ, mọi thứ chả có kết quả gì.
"Ông
có quan tâm tới tranh khoả thân không?" ông chủ phòng tranh hỏi trong niềm
thất vọng. "Ông có quan tâm tới tranh khoả thân không?"
"Trời
đất, không," vị khách nói. "Tôi là bác sĩ sản khoa.
Xin đừng
nghi ngờ cái gì về bác sĩ Phadnis! Ông ấy đã bảo tôi đừng nói với các bạn.
Nếu bạn
là bác sĩ sản khoa, làm sao bạn có thể quan tâm tới ảnh khoả thân được? Thực ra
không thể nào quan tâm tới thân thể được. Bạn càng biết nhiều, sự quyến rũ càng
ít. Bạn càng biết nhiều, ám ảnh càng ít. Bạn càng biết nhiều, phù phiếm càng
nhiều.
Nếu người
ta có thể đi lùi lại trong các dấu ấn quá khứ của các kiếp trước... Và điều đó
là đơn giản, chỉ cần nhất tâm. Phật đã kể lại câu chuyện các kiếp quá khứ của
ông ấy, Các chuyện Jataka; chúng là kho báu. Chưa bao giờ trước đây có bất kì
ai đã làm điều đó. Từng câu chuyện đều có ý nghĩa - bởi vì đó là câu chuyện của
cả nhân loại, mọi tính người, cái ngu xuẩn của con người, tham lam, ghen tuông,
giận dữ, từ bi, tình yêu. Nếu bạn có thể nhìn lại, chính linh ảnh đó sẽ thay đổi
tương lai của bạn. Bạn sẽ không là như cũ lần nữa.
Một quí
ông ở độ tuổi bẩy mươi gom toàn bộ dũng khí và lấy chuyến bay trong máy bay.
Khi ông ấy trèo ra sau chuyến bay ông ấy quay sang phi công và nói, "Thưa
ngài, tôi muốn cám ơn ngài về cả hai chuyến bay đó."
"Ông
nói gì vậy?" viên phi công nói. "Ông chỉ đáp mỗi chuyến bay."
"Không,
thưa ngài," hành khách này nói, "Tôi đáp hai chuyến - chuyến đầu tiên
và chuyến cuối cùng đấy."
Kinh
nghiệm làm biến đổi, nhưng để biến đổi bạn, kinh nghiệm cần có ý thức. Kinh
nghiệm vô ý thức không thể làm thay đổi bạn được. Bạn đã sống cùng hình mẫu mà
bạn đang sống bây giờ - nhiều lần - nhưng bạn cứ quên về nó. Thế thì bạn lại bắt
đầu cùng đường mòn, dường như cái gì đó mới được bắt đầu. Nhiều lần bạn đã rơi
vào tình yêu và nhiều lần bạn đã bị thất vọng. Lần nữa bạn đang tìm các cách
cũ.
Thân thể
bạn có thể mới; tâm trí bạn không mới. Thân thể bạn cũng giống như cái chai mới,
và tâm trí bạn là rượu rất cổ. Cái chai cứ thay đổi và rượu cứ còn như cũ.
Patanjali
nói rằng nếu bạn trở thành nhất tâm - và bạn có thể trở thành được vì không có
bí mật nào trong nó cả; chỉ nỗ lực, kiên nhẫn, kiên trì là được cần - bạn sẽ có
khả năng thấy mọi điều bạn đã từng là trước đây. Chỉ cái nhìn về nó, và hình mẫu
của bạn sẽ sụp đổ. Không phép màu nào trong nó; nó là luật tự nhiên, đơn giản.
Vấn đề
nảy sinh bởi vì bạn vô ý thức. Vấn đề nảy sinh bởi vì bạn đã từng chết và được
sinh ra lặp đi lặp lại, nhưng mỗi lần, bằng cách nào đó, tấm màn rủ xuống và
quá khứ riêng của bạn bị che kín với bạn. Bạn như tảng băng, chỉ một phần nhỏ
trên bề mặt và phần chính ở dưới bề mặt. Nhân cách của bạn ngay bây giờ chỉ là
một phần nhỏ nhô ra khỏi bề mặt. Mọi phần của bạn ở dưới bề mặt. Một khi bạn trở
nên nhận biết về nó, không cái gì khác được cần. Chính nhận biết đó trở thành
cách mạng.
Kiểm
tra một toán tân binh, trung sĩ lính thuỷ đánh bộ hỏi. "Jones, khi anh lau
súng trường, điều đầu tiên anh làm là gì?" "Nhìn vào con số,"
người này đáp lại mau lẹ.
"Bây
giờ, cái khỉ gì phải làm với việc lau súng?" trung sĩ hỏi.
"Chỉ
muốn chắc," Jones đáp, "rằng tôi đang lau súng của riêng tôi."
Đó là vấn
đề nơi mọi người cứ bỏ lỡ. Bạn không biết bạn là ai; bạn không biết số của bạn
là gì; bạn không biết bạn đã làm gì. Bạn đã trở thành rất láu lỉnh trong việc
quên mọi thứ. Bây giờ các nhà phân tâm nói rằng bất kì cái gì đau đớn, con người
có xu hướng quên nó đi. Không phải là bạn thực sự quên đâu - nó vẫn còn là một
phần của vô thức của bạn. Trong thôi miên sâu nó trồi ra, bật ra. Trong thôi
miên sâu mọi thứ quay lại.
Chẳng hạn,
nếu tôi hỏi bạn đã làm gì vào ngày đầu tiên của tháng giêng năm 1961, bạn không
thể nhớ được. Bạn tất nhiên có đó rồi. Ngày đầu tiên của tháng giêng năm 1961,
bạn đã sống, tất cả các bạn đều ở đó, nhưng bạn đã làm gì từ sáng tới tối bạn
không nhớ. Thế rồi đi tới nhà thôi miên và cho phép bản thân bạn bị thôi miên.
Trong thôi miên sâu, người đó sẽ hỏi, "Bạn đã làm gì vào ngay đầu tiên của
tháng giêng năm 1961?" Và bạn sẽ kể vanh vách lại mọi thứ, ngay cả các chi
tiết nhỏ nhặt - rằng bạn đi dạo buổi sáng và trời đẹp, và có sương trên cỏ, và
bạn có thể vẫn nhớ cái mát mẻ của buổi sáng, và hàng rào bị xén trong vườn và bạn
vẫn có thể nhớ, bạn gần như có thể ngửi lại hương thơm của hàng rào mới bị xén,
và mặt trời lên... Và những chi tiết nhỏ bé, chi li, và cả ngày dường như bạn sống
lại nó. Khi bạn được mang ra khỏi thôi miên bạn đã lại quên rồi.
Dường
như là nhớ mọi điều sẽ là quá nhiều với bạn, nó sẽ trở thành gánh nặng quá nhiều,
cho nên bạn cứ ném nó vào trong tầng ngầm của tâm thức. Tầng ngầm phải được tìm
kiếm bởi vì có kho báu giấu kín nữa, và tầng ngầm phải được tìm vì chỉ tìm qua
nó bạn mới trở nên nhận biết về cái ngu xuẩn của bạn rằng bạn đã từng lặp lại
liên tục. Bạn có thể đi ra ngoài nó chỉ khi bạn đã hiểu nó. Tầng ngầm được hiểu
trở thành lối đi sang tầng cao hơn của bản thể bạn.
Tâm lí
học hiện đại nói có hai phân chia của tâm thức: ý thức và vô thức. Tâm lí học
Yoga nói có một phân chia nữa: siêu thức. Bạn sống trên tầng đất, đó là ý thức.
Bên dưới nó là tầng ngầm lớn, vô thức - toàn thể quá khứ được tích luỹ. Và khi
tôi nói toàn thể quá khứ được tích luỹ tôi ngụ ý mọi kiếp sống của bạn như con
người, mọi kiếp sống của bạn như con vật, mọi kiếp sống của bạn như chim, mọi
kiếp sống của bạn như cây, thực vật, mọi kiếp sống của bạn như tảng đá, kim loại
- từ chính lúc bắt đầu, nếu có bắt đầu nào, hay từ chính lúc bắt đầu vô thuỷ. Mọi
thứ đã xảy ra cho bạn, mọi biến đổi, chúng tất cả đều được tích luỹ trong tầng
ngầm. Người ta phải đi qua nó.
Chính
hiểu biết sẽ cho bạn chìa khoá của cầu thang từ đó bạn có thể đi vào siêu thức.
Patanjali
nói nó xảy ra tương ứng theo một luật đơn giản. Mọi phép màu xảy ra đều tương ứng
theo một luật đơn giản khi bạn trở thành nhất tâm. Chỉ có một phép màu, và đó
là phép màu của việc trở thành nhất tâm.
Những lời
kinh này là rất cơ sở cho khoa học tương lai phát triển, ngày này hay ngày
khác. Bây giờ công việc cơ bản đã bắt đầu ở phương Tây. Nhiều điều đang được
làm khi có liên quan tới siêu cảm giác; nhiều điều đang được làm cho điều siêu
linh. Nhưng dầu vậy mọi thứ vẫn còn trong bóng tối; mọi người đang dò dẫm. Khi
mọi sự trở nên rõ ràng hơn, Patanjali sẽ lấy chỗ đúng của ông ấy trong lịch sử
tâm thức con người. Ông ấy là vô song - nhà khoa học đầu tiên không tin vào bất
kì mê tín nào, vào bất kì phép màu nào, và là người qui mọi sự vào luật khoa học.
"Bằng
quan sát dấu ấn quá khứ, tri thức về việc sinh trước được thu lấy." Trong
Trị liệu Nguyên thuỷ bạn làm chút ít công việc trên những tuyến này; bạn đi lùi
lại chút ít, tới việc sinh của bạn trong kiếp này. Đó là việc chuẩn bị. Nếu bạn
thành công trong việc đó thế thì bạn có thể được giúp đỡ sâu hơn, bạn có thể được
giúp đỡ để nhớ lại những ngày trong bụng mẹ. Tôi đang bắt đầu một trị liệu mới,
Trị liệu thôi miên. Chẳng mấy chốc, khi bạn đã làm xong Nguyên thuỷ và bạn đã
thành công trong nó, thế thì Trị liệu thôi miên có thể giúp bạn đi sâu hơn, nhớ
lại những ngày trong bụng mẹ; thế rồi còn đi sâu hơn và nhớ lại kiếp sống trước
của bạn, khi bạn chết; thế rồi còn đi sâu hơn vào trong các chi tiết của kiếp sống
trước của bạn.
Nếu bạn
có thể đi vào trong chi tiết một kiếp sống thế thì bạn có chìa khoá, thế thì bạn
có thể mở mọi cánh cửa quá khứ.
Nhưng tại
sao mở cánh cửa quá khứ? Bởi vì trong quá khứ, tương lai được giấu kín. Nếu bạn
biết quá khứ của bạn, bạn sẽ không lặp lại nó trong tương lai. Nếu bạn không biết
nó bạn sẽ cứ lặp lại nó, lặp đi lặp lại mãi. Chính tri thức về quá khứ trở
thành việc đảm bảo rằng bây giờ bạn sẽ không lặp lại nó trong tương lai; trong
tương lai bạn sẽ là một người mới toàn bộ. Yoga là khoa học về con người mới.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment