Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 3)
Chương
9. Cây nến nhỏ
Tốt
hơn nghìn lời trống rỗng
Là
một lời đem tới an bình.
Tốt
hơn nghìn bài thơ trống rỗng
Là
một bài thơ đem tới an bình.
Tốt
hơn trăm dòng trống rỗng
Là
một dòng của luật, đem tới an bình.
Chinh
phục bản thân mình tốt hơn
Thắng
nghìn trận chiến.
Vậy
thì chiến thắng là của ông.
Nó
không thể bị lấy đi khỏi ông,
Dù
bởi thiên thần hay bởi quỉ,
Cõi
trời hay địa ngục.
Tốt
hơn hàng trăm năm tôn thờ,
Tốt
hơn hàng nghìn đồ cúng dường,
Tốt
hơn việc từ bỏ hàng nghìn cách thức trần tục
Để
có được công đức,
Thậm
chí tốt hơn việc trông nom trong rừng
Giữ
cho ngọn lửa thiêng trong hàng trăm năm
Là
sự sùng kính của một khoảnh khắc
Đối
với người đã chinh phục bản thân mình.
Tôn
kính người như vậy,
Thầy
cổ đại trong đức hạnh và tính thiêng liêng,
Là
có thắng lợi với bản thân cuộc sống,
Và
cái đẹp, sức mạnh và hạnh phúc
Một
câu chuyện nổi tiếng:
Một
đêm triết gia Đức vĩ đại, Giáo sư Von Kochenbach, thấy hai cánh cửa trong giấc
mơ, một dẫn trực tiếp tới tình yêu và thiên đường, còn cánh cửa kia dẫn tới
thính phòng nơi bài giảng đang được giảng về tình yêu và thiên đường. Không
chút ngần ngại về phần Von Kochenbach - ông ta đi nghe bài giảng.
Câu
chuyện này có ý nghĩa. Nó là hư cấu, nhưng cũng không thực sự hư cấu thế. Nó đại
diện cho tâm trí con người: nó quan tâm nhiều tới tri thức hơn là tới trí huệ,
nó quan tâm nhiều tới thông tin hơn là tới biến đổi. Nó quan tâm nhiều tới biết
về Thượng đế, cái đẹp, chân lí, tình yêu hơn là kinh nghiệm Thượng đế, cái đẹp,
chân lí, tình yêu.
Tâm
trí con người bị ám ảnh bởi từ ngữ, lí thuyết, hệ thống ý nghĩ, nhưng hoàn toàn
quên lãng về sự tồn tại bao quanh bạn. Và chính sự tồn tại mới có thể giải
thoát, không phải là tri thức về nó.
Câu
chuyện này đại diện cho tâm trí của mọi người. Nhưng hôm qua tôi thấy ngạc
nhiên. Tôi đọc cuốn sách của Silvano Arieti, M.D., và James Silvano Arieti,
PhD. Trong cuốn sách của họ, Tình yêu có thể được tìm thấy, họ trích dẫn câu
chuyện này. Tôi cứ hi vọng, hiển nhiên, rằng họ sẽ cười câu chuyện này và phê
bình toàn thể quan điểm này. Nhưng tôi phải ngạc nhiên: họ bảo vệ cho câu chuyện
này; họ nói vị giáo sư này đã làm điều đúng. Thay vì đi thẳng vào cánh cửa của
tình yêu và thiên đường, thì đi vào trong thính phòng nơi đang có giảng bài về
tình yêu và thiên đường - tất nhiên do một giáo sư khác nào đó trình bày - họ
nói vị giáo sư này đã làm điều đúng. Tại sao? lập luận của họ là ở chỗ chừng nào
bạn còn chưa biết về tình yêu, làm sao bạn có thể biết yêu được? Chừng nào bạn
còn chưa biết về thiên đường trước, làm sao bạn có thể lập tức đi vào thiên đường
được?
Trên
bề mặt thì nó có vẻ logic đấy: trước hết người ta phải trở nên quen thuộc thiên
đường là gì, chỉ thế thì họ mới có thể vào được thiên đường. Trước hết bạn phải
có bản đồ đã. Logic đấy nhưng mà vẫn ngu xuẩn; logic chỉ ở bề ngoài, nhưng sâu
bên dưới hoàn toàn không thông minh.
Tình
yêu không cần thông tin về nó, bởi vì nó không phải là cái gì đó ở bên ngoài bạn,
nó là chính cốt lõi của bản thể bạn. Bạn đã có nó rồi, bạn chỉ phải cho phép nó
tuôn chảy. Thiên đường không phải ở đâu đó khác để cho bạn cần bản đồ đi tới
đó. Bạn đang trong thiên đường rồi, bạn chỉ rơi vào giấc ngủ thôi. Mọi điều cần
thiết là việc thức tỉnh.
Thức
tỉnh có thể là ngay lập tức, thức tỉnh có thể là bất thần - thực ra, thức tỉnh
chỉ có thể là bất thần thôi. Khi bạn đánh thức ai đó dậy, điều đó không phải là
dần dần theo từng phần, từ từ, người đó thức dậy. Không phải là bây giờ người
đó thức dậy mười phần trăm, bây giờ hai mươi phần trăm, bây giờ ba mươi, bây giờ
bốn mươi, bây giờ chín mươi chín, bây giờ chín mươi chín phẩy chín, và rồi một
trăm phần trăm - không. Khi bạn lay một người đang ngủ, người đó thức ngay lập
tức. Hoặc người ta ngủ hoặc người ta thức; không có chỗ ở giữa. Do đó Phật nói
chứng ngộ là kinh nghiệm bất thần; nó không dần dần, không phải là bạn tới theo
các bước. Chứng ngộ không thể được phân chia thành các bộ phận; nó là đơn vị hữu
cơ, không phân chia được. Hoặc bạn có nó hoặc bạn không có nó.
Nhưng
con người vẫn còn níu bám lấy lời - những lời trống rỗng, những lời không mang
nghĩa, những lời không có ý nghĩa, những lời được thốt ra từ miệng những người
dốt nát như bạn vậy. Có thể họ được giáo dục, nhưng giáo dục không xua đi dốt
nát. Việc biết về ánh sáng sẽ không xua đi được bóng tối. Bạn có thể biết mọi
điều có sẵn trên thế giới về ánh sáng; bạn có thể có một thư viện trong phòng
mình chỉ toàn sách về ánh sáng, vậy mà toàn thể thư viện sẽ không có khả năng
xua đi bóng tối. Để xua tan bóng tối bạn cần cây nến nhỏ - cái đó sẽ làm phép
màu.
Nhìn
vào cuốn Bách khoa toàn thư tôi sung sướng để ý rằng nó không có mục nào về
tình yêu. Đó là sáng suốt lớn lao đấy! Thực ra, không thể viết được gì về tình yêu.
Người ta có thể yêu, người ta có thể trong tình yêu, người ta thậm chí có thể
trở thành tình yêu, nhưng không cái gì có thể được viết tình yêu. Kinh nghiệm
này tinh tế thế và lời thô thiển thế.
Chính
bởi vì lời mà nhân loại đã bị phân chia. Vài người tin vào vài lời trống rỗng -
họ tự gọi mình là người Hindu giáo; những người khác tin vào vài lời trống rỗng
khác - họ tự gọi mình là người Do Thái; rồi có những người khác tự gọi mình là
người Ki tô giáo và người Mô ha mét giáo, và vân vân, cứ thế. Và họ tất cả đều
tin vào những lời trống rỗng. Không phải là bạn đã kinh nghiệm được cái gì. Việc
là người Hindu giáo hay người Do Thái giáo hay người Mô ha mét giáo của bạn
không dựa trên kinh nghiệm riêng của bạn - nó được vay mượn thôi. Và bất kì cái
gì được vay mượn đều vô tích sự.
Nhưng
con người đã đau khổ nhiều bởi vì lời. Vài người tin vào Talmud, vài người tin
vào Đạo Đức Kinh, vài người tin vào Kinh Pháp cú Dhammapada... và họ đã từng
đánh nhau, cãi nhau, chỉ trích - không chỉ thế, mà còn giết hại lẫn nhau. Toàn
thể lịch sử đẫm máu - nhân danh Thượng đế, nhân danh tình yêu, nhân danh tình
huynh đệ, nhân danh nhân loại.
Bà
chủ Rosenbaum một tối lâm vào tình huống khó khăn tại chính nơi nghỉ "dành
riêng" ở Cape Cod. "Dành riêng" nghĩa là người Do Thái bị loại
ra. Bà ta đi vào khách sạn thành phố và nói với nhân viên đứng quầy, "Tôi
cần một phòng."
"Rất
tiếc," ông ta đáp. "Khách sạn hết phòng rồi." "Thế thì sao
bảng hiệu này nói 'Còn phòng'?" "Chúng tôi không nhận người Do
Thái."
"Nhưng
bản thân Jesus là người Do Thái."
"Làm
sao bà biết rằng Jesus Christ là người Do Thái?"
"Ông
ấy theo nghề của bố ông ấy. Và hơn nữa, chuyện xảy ra là tôi đã cải đạo sang Cơ
đốc giáo rồi. Cứ hỏi tôi bất kì câu hỏi nào về tôi sẽ chứng tỏ điều đó."
"Thôi
được," viên thư kí đứng quầy nói. "Jesus được sinh ra như thế
nào?"
"Bằng
việc sinh đồng trinh. Tên của mẹ là Mary và tên của bố là Thánh thần thiêng
liêng."
"Được,
Jesus sinh ra ở đâu?" "Ở chuồng ngựa."
"Đúng
rồi. Và tại sao ông ấy lại được sinh ra ở chuồng ngựa?"
"Bởi
vì," Bà Rosenbaum cắn cảu, "đồ con hoang như ông sẽ không cho người
đàn bà Do Thái thuê một căn phòng qua đêm!"
Nhưng
những kẻ con hoang này có ở mọi nơi. Họ đã trở thành tu sĩ và giáo sĩ và bác học
và shankaracharyas và giáo hoàng. Những người này đều láu cá, tinh ranh - bằng
lời. Họ là những kẻ bắt bẻ logic, họ có thể chẻ sợi tóc ra; họ có thể tranh cãi
vô tận về những thứ vô dụng, về những điều ngu xuẩn mà về sau nhiều thế kỉ bạn
vẫn còn cười vào toàn bộ sự việc.
Vào
thời Trung cổ, các linh mục Ki tô giáo - Cơ đốc giáo, Tin lành và những phái
khác - đã trong một cuộc tranh luận lớn, thảo luận lớn diễn ra hàng thế kỉ về
bao nhiêu thiên thần có thể đứng trên đầu ngọn kim. Đó đã là cuộc tranh cãi thần
học lớn, nó đã khuấy động toàn thể châu Âu, cứ dường như cái gì đó cực kì quan
trọng đã được tham gia vào trong nó. Làm sao nó thành vấn đề được? Nhưng những
điều ngu xuẩn như vậy đã từng chi phối nhân loại hàng thế kỉ.
Vào
thời Phật đã có một trong những vấn đề lớn lao nhất ở Ấn Độ, được thảo luận bởi
mọi giáo phái, liệu có một địa ngục hay ba hay bẩy hay bẩy trăm. Người Hindu
tin vào một địa ngục, người Jaina nói tới bẩy địa ngục; và một đệ tử của
Mahavira, Goshalak, người đã phản bội lại thầy, bắt đầu nói về bẩy trăm địa ngục.
Ai
đó hỏi Goshalak, "Sao ông lại nói rằng triết lí của ông cao siêu hơn, cao
hơn triết lí của Mahavira?"
Ông
ta nói, "Ông có thể thấy: ông ấy chỉ biết có bẩy địa ngục còn tôi biết tới
bẩy trăm. Ông ấy đã đi tới bẩy còn tôi đã đi cả con đường. Và cũng như có bẩy
trăm địa ngục, cũng có đích xác bẩy trăm cõi trời. Tri thức của ông ấy rất giới
hạn, ông ấy không biết chân lí toàn thể."
Bây
giờ, bạn có thể cứ nói về những điều như vậy. Kẻ ngu khác nào đó có thể nói rằng
có bẩy trăm linh một...
Một
giáo sư Pháp và một người Mĩ đang nói chuyện. Vị giáo sư Pháp nói, "Có một
trăm tư thế có thể làm tình được."
Người
Mĩ nói, "Có một trăm linh một."
Bây
giờ cuộc trang cãi lớn nổ ra. Người Mĩ hỏi, "Ông kể ra một trăm tư thế của
ông, thế rồi tôi sẽ kể tư thế một trăm lẻ một của tôi."
Vị
giáo sư Pháp mô tả chi tiết về một trăm tư thế. Tư thế thứ một trăm là treo lên
chiếc đèn treo và làm nó vào tai của người đàn bà!
Bây
giờ đến lượt người Mĩ. Ông ta nói, "Tư thế thứ nhất là: đàn bà nằm ngửa với
đàn ông nằm lên trên cô ấy."
Vị
giáo sư Pháp nói, "Lạy chúa tôi! Tôi chưa bao giờ nghĩ về nó cả! Cho nên
ông đúng rồi - có một trăm linh một tư thế. Bây giờ ông không cần kể toàn bộ
các tư thế nữa; có một trăm linh một tư thế. Cái một này tôi chưa bao giờ nghe
nói tới, thậm chí chưa bao giờ nghĩ tới nữa, chưa bao giờ có thể hình dung ra.
Người Mĩ các ông là cái gì đó thật!"
Những
giáo sư này, những học giả này, họ đã chi phối nhân loại, và họ đã làm phân tán
nhân loại khỏi sự tồn tại đơn giản, khỏi cuộc sống đơn giản. Họ đã làm cho tâm
trí bạn rất phức tạp, láu cá, tinh ranh, thông thái, nhưng họ đã phá huỷ hồn
nhiên và ngạc nhiên của bạn. Và chính hồn nhiên và ngạc nhiên đó trở thành cây
cầu nối tới cái tức khắc - và cái tức khắc cũng là cái tối thượng.
Phật
nói:
Tốt
hơn nghìn lời trống rỗng
Là
một lời đem tới an bình.
Tốt
hơn cả nghìn lời trống rỗng... Kinh sách của bạn đầy những lời trống rỗng, tâm
trí bạn đầy những lời trống rỗng. Bạn cứ thế mà nói, thậm chí không trở nên nhận
biết về điều mình đang nói. Khi bạn dùng từ 'Thượng đế', bạn có biết nó có
nghĩa gì không? Làm sao bạn có thể biết được nếu bạn còn chưa biết Thượng đế? Từ
là trống rỗng, bản thân từ không thể có ý nghĩa gì cả; ý nghĩa phải tới kinh
nghiệm của bạn.
Khi
bạn biết Thượng đế và bạn thốt ra từ 'Thượng đế', nó chói sáng, nó tràn đầy ánh
sáng, nó là kim cương. Nhưng khi bạn không biết gì về Thượng đế, mà chỉ biết mỗi
từ 'Thượng đế' do người khác dạy, nó là hòn đá thường không mầu sắc, không chói
sáng, không ánh sáng trong nó. Bạn có thể cứ mang nó; nó đơn giản là trọng lượng,
gánh nặng. Bạn có thể kéo lê nó. Nó sẽ không trở thành đôi cánh của bạn, nó sẽ
không làm cho bạn sáng lên, và nó sẽ không giúp gì cho bạn theo bất kì cách nào
để tới gần Thượng đế hơn. Thực ra nó sẽ cản trở bạn, gây vướng víu cho bạn, bởi
vì bạn càng nghĩ mình biết về Thượng đế, chỉ bởi việc biết từ 'Thượng đế', bạn
sẽ càng ít truy tìm vào thực tại của Thượng đế. Bạn càng trở nên thông thái,
càng ít có khả năng cho bạn đi vào cuộc phiêu lưu tìm kiếm chân lí của Thượng đế.
Khi bạn đã biết, phỏng có ích gì mà truy tìm, phỏng có ích gì mà điều tra? Bạn
đã giết chết câu hỏi rồi. Bạn đã không giải nó, bạn đã không có được câu trả lời;
bạn đã lấy nó từ người khác. Nhưng câu trả lời của người khác không thể là câu
trả lời của bạn được.
Phật
biết, nhưng khi ông ấy nói, lời của ông ấy không thể mang được kinh nghiệm của
ông ấy. Khi chúng rời khỏi trái tim ông ấy chúng còn tràn đầy ánh sáng, chúng
tràn đầy điệu vũ. Khi chúng đạt tới bạn chúng đờ đẫn, chết rồi. Bạn có thể tích
luỹ những lời đó, bạn có thể cho rằng bạn có kho báu lớn, nhưng bạn chẳng có chút
nào. Mọi thứ bạn có đều là những từ trống rỗng.
Phật
muốn bạn trở nên nhận biết về hiện tượng này, bởi vì điều này có tầm quan trọng
lớn lao. Chừng nào bạn còn chưa được tự do với những lời trống rỗng, hổng hoác,
bạn sẽ không bắt đầu cuộc hành trình truy tìm. Chừng nào bạn còn chưa vứt bỏ
cái gọi là tri thức của mình, chừng nào bạn còn chưa loại bỏ tất cả thông tin của
mình, chừng nào bạn còn chưa lại trở thành hồn nhiên như đứa trẻ, dốt nát như đứa
trẻ, cuộc truy tìm của bạn sẽ vô tích sự, hời hợt.
Tốt
hơn nghìn lời trống rỗng là một lời đem tới an bình. Và tiêu chí là gì? Lời nào
là chói sáng? Lời nào thực sự tràn đầy hương thơm? Lời đem tới an bình. Và lời
đó chưa bao giờ tới từ bên ngoài cả - nó là tiếng nói tĩnh lặng, nhỏ bé của
trái tim riêng của bạn. Nó được nghe thấy ở chỗ thầm kín sâu nhất của bản thể bạn:
nó là âm thanh của bản thể riêng của bạn, nó là bài ca của cuộc sống riêng của
bạn.
Nó
không được tìm thấy trong kinh sách và nó không được tìm thấy ở các bài giảng
được học. Nó được tìm thấy chỉ nếu bạn đi vào trong; nó được tìm thấy chỉ trong
thiền, trong im lặng sâu sắc. Khi mọi tri thức vay mượn đã rời bỏ bạn và bạn là
một mình, khi tất cả kinh sách đã bị thiêu cháy và bạn được bỏ lại một mình,
khi bạn không biết cái gì, khi bạn vận hành từ trạng thái không biết, thế thì
nó được nghe thấy, bởi vì thế thì mọi tiếng la ó phản đối của tri thức và tiếng
ồn bị mất đi... bạn có thể nghe thấy tiếng nói nhỏ bé tĩnh lặng ấy. Và thế thì
chỉ một lời thôi... nó là một lời: nó là âm thanh của om.
Khoảnh
khắc bạn đi vào trong bản thể riêng của mình bạn sẽ ngạc nhiên tìm thấy rằng có
âm thanh thường xuyên có vẻ như là 'om'. Người Mô ha mét giáo đã nghe nó thành
'amin' - nó là om; người Ki tô giáo đã nghe nó thành 'amen'; nó là cùng âm đó
thôi. Do đó người Ki tô giáo, người Mô ha mét giáo, người Hindu giáo, người
Jaina, Phật tử, họ tất cả đều chấm dứt lời cầu nguyện của mình bằng om. Lời cầu
nguyện nhất định kết thúc trong om; lời cầu nguyện làm bạn ngày một im lặng
hơn... chung cuộc không có gì ngoài om. Mọi kinh sách Hindu đều kết thúc với
om, shantih shantih shantih - om, an bình, an bình, an bình. Đây là lời 'om'.
Và
tiêu chí để đánh giá xem liệu bạn có thực nghe thấy nó hay bạn đã giả vờ nghe
thấy nó hay bạn đã tưởng tượng nghe thấy nó là ở chỗ nó đem tới an bình. Bỗng
nhiên bạn tràn đầy an bình - an bình mà bạn chưa bao giờ biết trước đây.
An
bình là cái gì đó cao siêu hơn nhiều so với hạnh phúc, bởi vì hạnh phúc bao giờ
cũng được tiếp nối bởi bất hạnh; nó bao giờ cũng là sự trộn lẫn của các cực đối
lập: hạnh phúc/bất hạnh. Chúng giống như ngày và đêm, chúng theo nhau.
Nếu
bạn là người bi quan bạn có thể đếm đêm, nếu bạn là người lạc quan bạn có thể đếm
ngày; đó là khác biệt duy nhất trong mọi người. Có vài người nói, "Có hai
ngày và một đêm giữa hai ngày" - đấy là những người lạc quan. Và thế rồi
có những người nói, "Có hai đêm và chỉ một ngày chen vào giữa" - họ
là người bi quan.
Nhưng
trong thực tế cả hai đều sai. Mỗi đêm đều có ngày của nó và mỗi ngày đều có đêm
của nó; chúng là bình đẳng. Mọi cực đối lập đều bình đẳng; đó là cách sự tồn tại
vẫn còn được cân bằng. Nếu bạn có hạnh phúc hôm nay, đợi đấy - ngày mai bất hạnh
sẽ tới. Nếu bạn bất hạnh hôm nay, đừng lo nghĩ - hạnh phúc sẽ ở ngay góc kia rồi.
Trong
các thôn làng Ấn Độ các bà mẹ không cho phép con họ cười quá nhiều, bởi vì, họ
nói, "Nếu con cười quá nhiều thì con sẽ phải khóc, con sẽ phải chảy nước mắt."
Và có trí huệ lớn lao trong điều đó - trí huệ nguyên thuỷ, không phức tạp,
nhưng nó có chân lí nào đó trong nó. Các bà mẹ trong các thôn làng Ấn Độ sẽ dừng
đứa trẻ lại nếu nó khúc khích cười quá nhiều và cười to quá nhiều. Họ sẽ nói,
"Dừng lại, dừng lại ngay bây giờ! Bằng không con sẽ khóc ngay đấy và nước
mắt sẽ tới."
Nó
nhất định phải như vậy bởi vì tự nhiên cân bằng.
An
bình là cái gì đó cao hơn hạnh phúc nhiều. Phật không gọi nó là phúc lạc bởi lí
do này: nếu bạn gọi nó là phúc lạc, cái đang đấy... nhưng ông ấy tránh từ 'phúc
lạc' bởi vì khoảnh khắc bạn gọi nó là phúc lạc mọi người sẽ hiểu ngay lập tức
là 'hạnh phúc'. Phúc lạc cho họ ý tưởng về hạnh phúc tuyệt đối, hạnh phúc vĩ đại,
hạnh phúc vô cùng, hạnh phúc không thể tin được, nhưng sự khác biệt giữa hạnh
phúc và phúc lạc trong tâm trí mọi người chỉ là về lượng, cứ dường như phúc lạc
là đại dương và hạnh phúc chỉ là giọt sương. Nhưng khác biệt chỉ là về lượng -
và khác biệt về lượng không phải là khác nhau thật, không phải là khác biệt tạo
ra khác biệt. Chỉ khác biệt về chất mới là khác biệt thực.
Do
đó Phật đã chọn từ 'an bình' thay cho 'phúc lạc'. Ông ấy nói an bình - an bình
cho bạn chiều hướng hoàn toàn khác để truy tìm, tìm kiếm. An bình nghĩa là
không hạnh phúc, không bất hạnh.
Hạnh
phúc cũng là trạng thái của tiếng ồn, trạng thái của căng thẳng, kích động. Bạn
có quan sát không? - bạn không thể vẫn còn hạnh phúc trong thời gian dài, lâu bởi
vì nó bắt đầu làm cho bạn bồn chồn; bạn bắt đầu cảm thấy mệt với nó, chán với
nó. Vâng, tới mức độ nào đó bạn có thể dung thứ nó được; bên ngoài điều đó nó
trở thành không thể được. Bạn có thể cứ ôm ghì người đàn bà của mình được bao
lâu? Vâng, trong vài khoảnh khắc nó là đẹp, cực lạc, nhưng được bao lâu? Một
phút, hai phút, ba mươi phút, sáu mươi phút, một ngày, hai ngày? Bao lâu? Bạn
thử lần sau mà xem, và bạn sẽ có khả năng chú ý tới điểm mà hạnh phúc biến
thành bất hạnh.
Khi
bạn muốn nắm giữ người đàn bà, bạn quyến rũ, hấp dẫn thế. Và đàn bà biết điều
đó một cách trực giác, do đó họ làm đủ mọi thứ để thoát khỏi bàn tay bạn. Họ vẫn
còn lảng tránh, họ không trở nên quá sẵn sàng có đấy. Họ nhận biết chứ - nhận
biết một cách trực giác, không trí tuệ - nhận biết trực giác về hiện tượng rằng
mọi hấp dẫn này sẽ sớm qua đi và tất cả tình yêu lớn lao này sẽ chóng chết đi.
Mọi thứ đều chết; mọi thứ được sinh ra đều nhất định chết đi. Họ thông minh hơn
nhiều theo cách đó - họ né tránh, họ trốn chạy. Họ cho phép bạn chỉ tới mức
thân mật nào đó thôi, và thế rồi họ lại xa xôi. Điều đó giữ cho trò chơi tiếp
diễn; bằng không thì mọi trò chơi sẽ kết thúc quá chóng vánh. Bất kì hạnh phúc
nào cũng chỉ cho một thời gian hiện hữu. Bên ngoài điều đó nó biến thành cái đối
lập; nó trở thành chua ra, đắng ra.
An
bình nghĩa là vượt ra ngoài kích động của hạnh phúc và bất hạnh cả hai. Có những
người bị hấp dẫn tới bất hạnh nữa; tâm lí hiện đại gọi họ là kẻ tự bạo. Họ tận
hưởng việc hành hạ bản thân họ. Trong quá khứ cùng những người tự bạo này đã trở
thành các mahatmas lớn, các học giả lớn, các thánh nhân. Được hiểu về mặt tâm
lí, với cái nhìn thấu suốt hiện đại vào tâm trí con người, cái gọi là thánh
nhân của bạn sẽ có vẻ - gần như chín mươi phần trăm trong số họ - là tự bạo, hay
thậm chí có thể chín mươi chín phần trăm. Nếu được nhìn thật sâu, bạn sẽ thấy
đây là những người tận hưởng việc tự hành hạ bản thân họ. Đây là những người cứ
nhịn ăn dài dài, nằm trên giường gai, đứng trong mặt trời nóng hay trong giá lạnh,
ngồi trần trong tuyết Himalaya. Đây là những kẻ tự bạo.
Và
ở phía bên kia của nó là tàn bạo. Có những người tận hưởng việc hành hạ người
khác. Và thực ra toàn thể nhân loại - gần như toàn thể nhân loại, ngoại trừ chư
phật - có thể được chia thành hai phe này. Đây là hai tôn giáo thực của thế giới:
tự bạo và tàn bạo. Người tự bạo trở thành người tôn giáo và người tàn bạo trở
thành chính khách. Alexander Đại đế, Tamerlane, Nadirshah, Genghis Khan, Adolf
Hitler, Mussolini, Joseph Stalin, Mao Trạch Đông, mọi người này, họ tận hưởng
việc hành hạ người khác. Hành hạ người khác cũng bệnh hoạn như tự hành hạ mình.
Người
muốn hạnh phúc nhất định có tính tàn bạo. Phân tích hạnh phúc của bạn, xem nó
phụ thuộc vào cái gì. Nếu bạn có ngôi nhà lớn hơn nhà của người hàng xóm bạn hạnh
phúc. Thực ra, bạn đang hành hạ người hàng xóm bằng việc có ngôi nhà lớn hơn:
nó chính là việc hành hạ rất tinh vi.
Tôi
thường ở trong một trong những lâu đài đẹp nhất ở Calcutta. Nó là lâu đài thuộc
địa Victoria rất cổ, rất đẹp, và nó là ngôi nhà đẹp nhất ở Calcutta. Người đàn
ông này rất tự hào về nó, và bất kì khi nào tôi ở cùng ông ta thì ông ta cứ
liên tục nói về ngôi nhà này, và khu vườn, và thế này thế nọ - nhưng đó toàn là
quanh ngôi nhà, toàn thể việc nói của ông ta.
Một
lần chuyện xảy ra, tôi ở với ông ta trong ba ngày và ông ấy không đả động gì tới
ngôi nhà chút nào.
Tôi
nói, "Có chuyện gì xảy ra vậy? Ông đã trở thành sannyasin hay cái gì đó
sao? Ông đã từ bỏ thế giới rồi sao? Ông không nói về ngôi nhà!"
Ông
ta nhìn tôi với đôi mắt buồn bã và nói, "Thầy không thể thấy ngôi nhà mới
đang mọc lên ở nhà hàng xóm sao?"
Tôi
đã thấy ngôi nhà này. Ngôi nhà đá cẩm thạch đã mọc lên, và chắc chắn nó to hơn
và đẹp hơn nhiều. Và ông ta nói, "Từ khi ngôi nhà này mọc lên mọi vui vẻ của
tôi bị mất. Tôi đang sống trong khổ thế, thầy không thể quan niệm nổi."
Tôi
nói, "Nhưng ông đang sống trong cùng ngôi nhà đó thôi! Nó là cùng ngôi nhà
đấy, và ông đã hạnh phúc thế. Và ông vẫn ở trong cùng ngôi nhà đó thôi. Sao ông
phải khổ thế? Nó có gì liên quan gì tới hàng xóm? Và nếu chính vì hàng xóm mà
ông cảm thấy khổ thế, thế thì nhớ cho một điều: khi ông quen cảm thấy hạnh phúc
thế về ngôi nhà này, đấy không phải là về ngôi nhà đâu - đấy là vì hàng xóm chứ,
bởi vì họ đang sống trong những ngôi nhà nhỏ. Và nếu ông bị hành hạ bởi nhà của
hàng xóm nhiều thế, nhớ lấy, hàng xóm phải đã từng bị hành hạ lâu rồi vì ngôi
nhà của ông đấy. Chỉ để báo thù mà ông ta đã làm ngôi nhà mới này."
Ông
chủ nhà mới mời tôi sang ăn tối. Ông ấy cũng mời ông chủ nhà của tôi tới, nhưng
ông chủ nhà tôi đơn giản nói, "Không, tôi không thể sang được - tôi quá bận."
Và ông ấy lại không bận chút nào! Và khi người này đi rồi tôi nói với ông ấy,
"Ông đâu có bận."
Ông
ấy nói, "Tôi không bận, nhưng tôi không thể sang nhà đó được - trừ phi tôi
làm cái nhà to hơn cái nhà đó. Được rồi, cứ đợi đấy! Tôi phải mất hai, ba năm để
làm cái nhà to hơn, nhưng đây là vấn đề danh tiếng. Một khi tôi đã làm ra cái
nhà to hơn tôi sẽ mời người đó tới ăn tối."
Đây
là cách mọi người đang sống.
Nếu
bạn quan sát tâm trí riêng của mình, bạn tận hưởng mọi thứ bởi vì người khác
không có chúng. Bạn tận hưởng chúng không phải vì có chúng, bạn không tận hưởng
việc bạn có chúng.
Điều
như thế là bệnh hoạn của con người: người này là kẻ tàn bạo, người đó tận hưởng
việc người khác đang trong tình trạng khổ; và người kia biến thành kẻ tự bạo.
Việc thấy ra rằng tận hưởng khổ của người khác là không tốt, thấy ra rằng đó là
tội lỗi, thấy ra rằng người khác sẽ phải chịu địa ngục vì điều đó, trở nên nhận
biết rằng đây không phải là đức hạnh, người đó biến thành kẻ tự bạo, người đó bắt
đầu tự hành hạ mình. Nhưng việc hành hạ vẫn tiếp tục.
An
bình nghĩa là trạng thái của mạnh khoẻ bên trong, trạng thái của tính toàn thể
bên trong, nơi bạn không hành hạ người khác, không hành hạ bản than mình, nơi bạn
không quan tâm tới hạnh phúc lẫn bất hạnh. Bạn đơn giản quan tâm tới hiện hữu
trong tuyệt đối im lặng, bình thản, yên tĩnh, bình tĩnh, hoà hợp.
Vâng,
khi tâm trí bị vứt bỏ... và tâm trí nghĩa là toàn thể quá khứ của bạn và mọi điều
bạn biết và mọi điều bạn đã tích luỹ. Tâm trí là kho báu tinh vi của bạn, sở hữu
tinh tế của bạn. Khi mọi tâm trí đó đã bị vứt bỏ và bạn đã đi vào trong trạng
thái của vô trí, niềm an bình lớn lao giáng xuống. Nó là im lặng, nó tràn đầy
phúc lạc, nhưng Phật tránh từ này. Tôi không tránh nó.
Phật
phải tránh nó, bởi vì vào thời của Phật phúc lạc đã được nói quá nhiều.
Upanishad đã nói về nó, Mahavira đã nói về nó, toàn thể truyền thống Hindu đã
nói về nó. Sat-chit-anand - Thượng đế là chân lí, tâm thức, phúc lạc, nhưng phẩm
chất tối thượng là phúc lạc. Quá nhiều việc nói về phúc lạc. Phật phải đã cảm
thấy rằng tốt hơn cả là không dùng từ đó. Từ đó đã trở thành quá chính thống,
quá qui ước, quá tuân thủ. Và bởi vì nó đã được dùng quá nhiều nên nó đã mất
nghĩa của nó, hương vị của nó, vị mặn của nó, nó đã mất đi cái đẹp của nó.
Nhưng bây giờ nó có thể được làm sống lại lần nữa; bây giờ không ai nói về phúc
lạc .
Nhưng
dù bạn gọi nó là an bình hay phúc lạc đều không liên quan. Hiểu một điều: rằng
nó đưa bạn ra ngoài mọi nhị nguyên. Ngày và đêm, mùa hè và mùa đông, sống và chết,
đau đớn và hoan lạc - nó đưa bạn ra ngoài mọi nhị nguyên - yêu và ghét. Nó đưa
bạn ra ngoài mọi hiện tượng hai mặt. Nó đưa bạn tới cái một.
Do
đó Phật nói: một lời. Nó là trạng thái đơn giản, mang tính giai điệu, hài hoà của
mạnh khoẻ bên trong của bạn, lành mạnh bên trong. Một lời là đủ, còn nhiều ý
nghĩa hơn. Tốt hơn nghìn lời trống rỗng...
Tốt
hơn nghìn lời trống rỗng Là một lời đem tới an bình.
Có
các nhà thơ và nhà thơ. Có hai loại nhà thơ trên thế giới. Một loại là nhà thơ
kiểu người mơ, người rất khéo trong tưởng tượng, trong hư cấu. Người đó tạo ra
công trình nghệ thuật, người đó tạo ra điêu khắc, âm nhạc, thơ ca, nhưng tất cả
vẫn còn trong chất liệu mơ. Nó có thể giải trí cho bạn trong lúc này, nhưng nó
không thể cho bạn cái nhìn thấu nào vào trong thực tại. Nó có thể là việc an ủi,
việc khuây khoả, ru ngủ; nó có thể có tác dụng làm an tâm bạn. Vâng, đó đích
xác là điều nó làm. Mọi cái được gọi là thẩm mĩ, nghệ thuật... đều có tác dụng
làm an tâm bạn.
Nghe
nhạc cổ điển bạn rơi vào trong một loại trạng thái hoàn toàn khác. Mọi thứ trở
nên yên ả, tĩnh lặng, nhưng nó là tạm thời; nó chỉ là thế giới mơ mà nhạc sĩ tạo
ra quanh bạn. Nghe bài thơ hay nhìn bức điêu khắc vĩ đại, trong một chốc bạn
ngây người ra, thừ người ra. Tâm trí dừng lại cứ dường như bạn được mang tới thế
giới khác nào đó trong một chốc, nhưng bạn lại quay về trong cùng thế giới cũ,
theo cùng con đường cũ.
Nhưng
có loại thi sĩ, hoạ sĩ, nhà điêu khắc khác nữa: chư phật. Riêng một bài thơ từ
họ có thể biến đổi bạn vĩnh viễn. Nghe vị phật là nghe âm nhạc thiêng liêng.
Nghe vị phật là nghe bản thân Thượng đế. Vị phật là Thượng đế thấy được, vị phật
là Thượng đế sẵn có. Vị phật là cửa sổ mở vào Thượng đế, là lời mời từ cõi bên
kia. Shakespeare, Milton, Kalidas, Bhavabhuti, và hàng nghìn người khác - đây
là những người mơ, những người mơ vĩ đại; giấc mơ của họ thực đẹp, nhưng họ
không phải là nhà thơ có thể biến đổi bản thể bạn. Mohammed có thể làm điều đó,
Christ có thể làm điều đó, Krishna có thể làm điều đó, Phật có thể làm điều đó,
Kabir, Nanak, Farid, vâng, những người này có thể làm điều đó.
Cái
gì là khác biệt giữa thơ ca của Kabir và của Shakespeare? Khi liên quan tới thơ
ca, Shakespeare mang tính thơ ca hơn nhiều hơn, nhớ lấy, so với Kabir. Kabir
không biết gì về nghệ thuật cả. Shakespeare là rất tinh tế; nhưng dầu vậy một
bài thơ từ Kabir có giá trị hơn rất nhiều so với tất cả tuyển tập công trình của
Shakespeare - bởi vì một lời từ Kabir tới từ việc nhìn thấu, không từ tưởng tượng.
Đó là khác biệt.
Kabir
có sáng tỏ, ông ấy có đôi mắt có thể nhìn vào cõi bên kia. Shakespeare là người
mù như bạn. Tất nhiên, ông ấy rất hiệu quả trong việc đem tưởng tượng của ông ấy
vào lời. Đó là nghệ thuật, đáng kính trọng, nhưng nhiều nhất nó có thể giải trí
cho bạn thôi. Nó có thể giữ bạn bận rộn thú vị, nhưng không có khả năng của biến
đổi xảy ra qua nó. Ngay cả Shakespeare không phải là người được biến đổi, làm
sao ông ấy có thể biến đổi được bạn?
Chỉ
vị phật, chỉ người đã thức tỉnh, mới có thể đánh thức được bạn. Shakespeare ngủ
say cũng như bạn, hay thậm chí có thể ngủ say hơn bạn, bởi vì ông ấy có những
giấc mơ đẹp thế. Giấc ngủ của ông ấy nhất định là sâu, bởi vì ông ấy không chỉ
mơ, ông ấy hát trong mơ. Ông ấy đem giấc mơ của mình ra diễn đạt - và dầu vậy
giấc ngủ của ông ấy vẫn không bị phá.
Phật
là người đã thức tỉnh. Chỉ người thức tỉnh mới có thể đánh thức được bạn. Tốt
hơn nghìn bài thơ trống rỗng là một bài thơ đem tới an bình. Và làm sao bạn sẽ
biết rằng bạn đang ở quanh vị phật? Chính sự hiện diện của ông ấy sẽ đem an
bình siêu việt tới cho bạn.
Cho
nên vị phật từ quá khứ không thể có ích nhiều được, bởi vì lời của ông ấy sẽ lại
là lời trống rỗng; ông ấy sẽ không hiện diện trong chúng. Nó sẽ chỉ là cái lồng
đẹp, cái lồng vàng nạm kim cương, nhưng chim đã rời khỏi lồng từ lâu trước đây.
Vị
phật là có ý nghĩa chỉ khi ông ấy còn sống động, bởi vì chỉ tính sống động của
ông ấy mới có thể khởi động quá trình trong bạn mà sẽ dẫn bạn chung cuộc đi tới
thức tỉnh.
Tốt
hơn trăm dòng trống rỗng
Là
một dòng của luật, đem tới an bình.
Với
luật, Phật không ngụ ý luật về đạo đức, xã hội, chính trị. Với luật Phật ngụ ý
pháp dhamma: Aes dhammo sanantano - luật tối thượng, luật vĩnh hằng, luật làm
cho vũ trụ này thành hài hoà thay vì hỗn độn, luật cai quản toàn thể vũ trụ
trong sự hoài hoà vô cùng như vậy.
Tốt
hơn trăm dòng trống rỗng... "Dòng" không thực là việc dịch tốt. Từ
nguyên gốc là sutra: sutra về mặt từ có nghĩa là sợi chỉ, dòng, mạch. Và ở
phương Đông những phát biểu vĩ đại nhất của các thầy đều được gọi là sutra, sợi
chỉ, mạch, kinh bởi lí do nào đó. Con người được sinh ra như một đống hoa, chỉ
là một đống. Chừng nào sợi chỉ còn chưa được dùng và sợi chỉ còn chưa chạy qua
hoa, đống hoa sẽ vẫn còn là đống hoa và sẽ không bao giờ trở thành vòng hoa.
Và
bạn có thể cúng dường cho Thượng đế chỉ khi bạn đã trở thành vòng hoa. Đống hoa
là hỗn loạn, vòng hoa là hài hoà - mặc dầu trong vòng hoa bạn cũng chỉ thấy
hoa, sợi chỉ, mạch là vô hình.
Lời
của thầy được gọi là sutra, sợi chỉ, mạch, bởi vì chúng có thể làm bạn thành
vòng hoa. Và chỉ khi bạn là vòng hoa bạn mới có thể trở thành việc cúng dường
cho Thượng đế, chỉ khi bạn đã trở thành sự hài hoà, sự hoà hợp, bài ca.
Ngay
bây giờ bạn chỉ là việc nói lắp bắp. Bạn có thể viết ra... ngồi trong phòng,
đóng cửa lại và bắt đầu viết ra bất kì cái gì tới trong tâm trí bạn. Đừng sửa
nó, đừng xoá cái gì đi, đừng thêm cái gì vào, bởi vì bạn sẽ không đưa nó cho ai
xem cả. Để hộp diêm ngay bên cạnh để cho một khi bạn đã viết nó ra rồi bạn có
thể đốt nó ngay lập tức, để cho bạn có thể đích thực. Cứ viết ra bất kì cái gì
tới tâm trí bạn và bạn sẽ ngạc nhiên: chỉ luyện tập mười phút và bạn sẽ hiểu điều
tôi ngụ ý khi tôi nói rằng bạn chỉ là nói lắp bắp.
Nó
thực sự là một khải lộ lớn lao để thấy cách tâm trí bạn cứ nhảy hết chỗ nọ tới
chỗ kia, từ vật này sang vật khác, một cách ngẫu nhiên, không có lí do chút
nào. Các ý nghĩ vô nghĩa làm sao cứ chạy bên trong bạn, không liên quan, không
nhất quán. Chỉ là phí hoài vô cùng, việc rò rỉ năng lượng!
Những
lời của chư Phật được gọi là sutra. Ở đây người dịch đã dùng từ 'dòng' thay cho
sutra. Về mặt ngôn ngữ thì thế là được, nhưng đây không phải là vấn đề ngôn ngữ.
Đó là một trong những vấn đề lớn: dịch các phát biểu của Phật, Christ, Krishna,
thực sự là việc không thể được. Và những người dịch chúng bản thân họ là những
người chưa thức tỉnh; họ là những nhà phương đông học lớn, các nhà ngôn ngữ,
nhà ngữ pháp. Họ biết ngôn ngữ nguồn, nhưng họ chỉ biết ngôn ngữ thôi - và ngôn
ngữ không phải là vấn đề thực, nó chỉ là lớp vỏ ngoài.
Cho
nên nhớ: Tốt hơn trăm dòng trống rỗng nghĩa là Tốt hơn trăm bài kinh trống rỗng
- mang tính logic, triết lí, được các triết gia và nhà tư tưởng đề nghị, nhưng
chúng là trống rỗng bởi vì chúng không chứa kinh nghiệm.
...
Là một dòng về luật - một lời kinh về luật. Ai có thể xác nhận kinh về luật? Chỉ
người đã trở nên thức tỉnh, chỉ người đã trở thành một với luật tối thượng, chỉ
người có bản thân mình trở thành pháp dhamma. Không phải là người tôn giáo mà
là người có bản thân mình đã trở thành bản thân tôn giáo. Và bạn sẽ phán xử thế
nào? - cùng tiêu chuẩn đó tiếp tục: nó đem tới an bình.
Tại
sao bạn ở đây với tôi? Hãy ở đây chỉ nếu sự hiện diện của tôi đem tới an bình
cho bạn. Ở đây chỉ nếu với việc nghe tôi một hợp âm bắt đầu rung động trong bạn
điều đem tới an bình. Ở đây chỉ nếu tình yêu của bạn với tôi giúp cho bạn siêu
việt lên trên thế giới của các nhị nguyên; bằng không thì việc ở đây là vô dụng.
Sự
hiện diện của tôi không thể dành cho tất cả được; nó chỉ có thể dành cho vài
người được chọn, chỉ dành cho vài người đã thực sự tới khát khao, truy tìm, người
thực sự muốn mạo hiểm tất cả để biết Thượng đế, người sẵn sàng chết đi vì chân
lí, người sẵn sàng trở thành việc hi sinh.
Chinh
phục bản thân mình tốt hơn Thắng nghìn trận chiến.
Và
trong an bình là chiến thắng. Khi an bình bao quanh bạn bên trong và bên ngoài,
bạn tràn ngập với an bình, bạn đã về nhà, bạn đã chinh phục bản thân mình, bạn
là người chủ.
Chinh
phục bản thân mình tốt hơn thắng nghìn trận chiến. Vị phật có ý nghĩa và giá trị
hơn hàng triệu Adolf Hitlers. Và thắng lợi này là cái gì đó thực sự là thắng lợi,
bởi vì mọi chiến thắng khác sẽ bị lấy đi khỏi bạn. Alexander Đại đế chết giống
như bất kì kẻ ăn xin nào chết; ông ta không thể đem cái gì đi theo mình. Ông ta
đã chinh phục toàn thể thế giới, và bây giờ đi như kẻ ăn xin...
Chuyện
kể rằng: có ba khoảnh khắc trong cuộc đời của Alexander là có ý nghĩa. Một là
cuộc gặp gỡ với nhà huyền môn vĩ đại, Diogenes. Diogenes đang nằm trần trên bờ
sông tắm nắng. Lúc đó là sáng sớm... và mặt trời sớm và bờ sông đẹp và cát mát
mẻ. Và Alexander đi ngang qua; ông ta tới Ấn Độ.
Ai
đó bảo ông ta, "Diogenes đang ở ngay cạnh đây và bệ hạ bao giờ cũng truy
tìm Diogenes" - bởi vì ông ta đã nghe nhiều câu chuyện về con người này.
Người đó thực sự là người đáng gọi là con người! Ngay cả Alexander, sâu bên dưới,
cũng ghen tị với Diogenes.
Ông
ta tới gặp ông này. Ông ta bị ấn tượng bởi cái đẹp của ông này - trần trụi,
không trang điểm, không đồ trang sức nào. Còn bản thân ông ta đầy đồ trang sức,
được trang điểm theo mọi cách có thể, nhưng ông ta trông rất nghèo nàn trước
Diogenes. Và ông ta nói với Diogenes, "Ta cảm thấy ghen tị với ông. Ta
trông nghèo nàn khi so với ông - mà ông không có gì cả! Giầu có của ông là
gì?"
Và
Diogenes nói, "Ta không ham muốn cái gì cả - vô ham muốn là kho báu của
ta. Ta là người chủ bởi vì ta không sở hữu cái gì - vô sở hữu là quyền làm chủ
của ta, và ta đã chinh phục được thế giới bởi vì ta đã chinh phục được bản thân
ta. Và thắng lợi của ta sẽ đi cùng ta, còn thắng lợi của ông sẽ bị cái chết lấy
đi."
Và
câu chuyện thứ hai: Khi ông ta sắp quay về từ Ấn Độ... Thầy giáo của ông ta đã
bảo ông ta, "Khi bệ hạ quay về từ Ấn Độ, xin đem về một sannyasin, bởi vì
đó là đóng góp lớn nhất của Ấn Độ cho thế giới."
Hiện
tượng sannyasin là duy nhất của Ấn Độ. Không nơi đâu khác đã có ý tưởng về siêu
việt lên trên cái thế giới đã hoàn toàn bị tâm trí của mọi người nắm giữ như nó
có ở nước này.
Aristotle
là thầy của Alexander. Aristotle đã yêu cầu ông ta, "đem một sannyasin về
khi bệ hạ quay về. Ta muốn thấy sannyasin giống cái gì, nó tất cả là gì."
Sau
khi chinh phục Ấn Độ, khi ông ta quay về ông ta nhớ ra. Ông ta đã truy tìm nơi
để thấy một sannyasin. Mọi người nói, "Sannyasins thì có nhiều nhưng
sannyasin thực là rất ít. Chúng tôi biết một người."
Trong
báo cáo của Alexander tên người đó được viết là Dandamesh - nó có thể là cái
tên Hi Lạp của cái tên Ấn Độ nào đó. Alexander tới gặp người này - lại cùng cái
đẹp như Diogenes, cùng sự an bình. Bất kì khi nào việc thức tỉnh xảy ra thì nó
đều đem lại cái gì đó tương tự. Bao quanh mọi vị phật bạn sẽ thấy cùng mùa
xuân, cùng hương thơm, cùng an bình.
Lần
nữa, khi ông ta đi vào trường năng lượng của Dandamesh, ông ta bị ảnh hưởng vô cùng,
cứ dường như ông ta đã đi vào trong khu vườn đầy hương. Ông ta lập tức nhớ tới
Diogenes. Ông ta hỏi Dandamesh, "Ta phải tới mời ông - đi cùng ta. Ông sẽ
là vị khách hoàng gia, mọi tiện nghi sẽ được cung cấp cho ông, nhưng ông phải
đi cùng ta tới Athens."
Dandamesh
nói, "Ta đã vứt bỏ mọi việc tới, mọi việc đi rồi." Ông ta đã nói điều
gì đó khác; Alexander không thể hiểu ngay được. Ông ta đã nói rằng, "Bây
giờ không còn việc đi vào thế giới này và không còn việc đi ra thế giới này nữa.
Ta đã siêu việt lên trên mọi việc tới và đi." Điều ở phương Đông chúng ta
gọi là avagaman - tới và đi; tới trong bụng mẹ và rồi đi vào cái chết.
Alexander
nói, "Nhưng đây là chỉ lệnh - ta ra lệnh cho ông! Ông phải tuân theo. Đây
là mệnh lệnh từ Alexander Đại đế!"
Dandamesh
cười to. Lại cùng tiếng cười đó - Alexander lại nhớ tới Diogenes - cùng tiếng
cười ấy. Dandamesh nói, "Không ai có thể ra lệnh cho ta, ngay cả cái chết."
Alexander
nói, "Ông không hiểu - Ta là con người nguy hiểm!" Ông ta tuốt kiếm
ra và ông ta nói, "Hoặc ông sẽ đi cùng ta hoặc ta sẽ chặt đầu ông."
Dandamesh
nói, "Thì cứ làm đi, chặt đầu đi - bởi vì điều ông định làm bây giờ, ta đã
làm nhiều năm trước đây rồi. Khi cái đầu rơi xuống, ông sẽ thấy nó lăn trên đất
và ta cũng sẽ thấy nó lăn trên đất."
Alexander
nói, "Làm sao ông thấy được nó? Ông sẽ chết!"
Dandamesh
nói, "Đấy mới là vấn đề: Ta không thể chết thêm được nữa, ta đã trở thành
nhân chứng. Ta sẽ chứng kiến cái chết của ta cũng như ông sẽ chứng kiến. Điều
đó sẽ xảy ra giữa hai chúng ta - ông sẽ thấy, ta sẽ thấy. Và mục đích của ta
trong thân thể được hoàn thành: ta đã đạt tới. Không có nhu cầu về thân thể
thêm nữa. Chặt đầu đi!"
Alexander
phải cất kiếm vào bao - bạn không thể giết một người như vậy.
Và
câu chuyện thứ ba là:
Khi
Alexander sắp chết ông ta nhớ tới cả Diogenes và Dandamesh, và ông ta nhớ tiếng
cười của họ, sự an bình của họ, vui vẻ của họ.
Và
ông ta nhớ rằng họ có cái gì đó vượt ra ngoài cái chết, "Còn ta không có
gì ."
Ông
ta khóc, nước mắt trào khoé mắt, và ông ta nói với các trợ thủ của mình,
"Khi ta chết và các ông mang xác ta ra nghĩa địa, để tay ta thò ra ngoài
quan tài."
Các
trợ thủ hỏi, "Nhưng điều này không phải là truyền thống! Tại sao? Sao lại
có yêu cầu kì lạ thế?"
Alexander
nói, "Ta muốn mọi người thấy rằng ta tới với bàn tay trống rỗng và ta đi với
bàn tay trống rỗng, và cả đời ta đã là sự phí hoài. Để bàn tay ta thò ra ngoài
quan tài để cho mọi người có thể nhìn thấy - ngay cả Alexander Đại đế cũng ra
đi với bàn tay trống rỗng."
Những
câu chuyện này cũng xứng đáng để thiền.
Phật
nói:
Chinh
phục bản thân mình tốt hơn thắng nghìn trận chiến.
Thế
thì chiến thắng là của ông.
Không
thắng lợi nào khác là của bạn. Nó không thể bị lấy đi khỏi bạn được - đó là lí
do tại sao nó lại là của bạn.
Điều
đó không thể bị lấy đi khỏi ông, dù bởi thiên thần hay bởi quỉ, cõi trời hay địa
ngục.
Không
ai có thể lấy nó đi khỏi bạn được. Nhớ lấy, duy nhất cái không thể bị lấy đi khỏi
bạn mới là của bạn. Bất kì cái gì có thể bị lấy đi từ bạn đều không phải là của
bạn. Đừng níu bám lấy nó, bởi vì việc níu bám sẽ đem khổ tới cho bạn. Đừng sở hữu
bất kì cái gì mà có thể bị lấy đi khỏi bạn bởi vì việc sở hữu của bạn sẽ tạo ra
đau khổ cho bạn. Ở với cái thực sự là của bạn, cái mà không ai có thể lấy đi được
khỏi bạn. Nó không thể bị đánh cắp, bạn không thể bị cướp nó đi, bạn không thể
phá sản khi có liên quan tới nó. Ngay cả cái chết cũng không thể lấy được nó.
Krishna
nói: Nainam chhindanti shastrani - bạn không thể cắt nó bằng vũ khí, gươm kiếm
không thể xuyên thấu được vào nó, mũi tên không thể đạt được tới nó, viên đạn
tuyệt đối bất lực khi có liên quan tới nó. Nainam dahati pavakah - lửa cũng
không thể đốt cháy được nó.
Khi
trên dàn hoả thiêu thân thể bạn sẽ bị thiêu, bạn sẽ không bị thiêu - nếu bạn đã
biết tới bản thân mình, nếu bạn đã hiểu tâm thức này là gì bên trong bạn. Nếu bạn
đã chinh phục tâm thức mình, thế thì thân thể sẽ bị thiêu, biến thành tro,
nhưng bạn sẽ không bị thiêu, thậm chí bạn sẽ không bị động chạm tới. Bạn sẽ vẫn
còn mãi mãi - bạn là vĩnh hằng. Nhưng cái vĩnh hằng này chỉ có thể được biết tới
khi bạn trở thành người chủ theo cách riêng của mình.
Đừng
phí thời gian của bạn trong việc làm chủ người khác, trong việc chinh phục quyền
lực, danh tiếng, trong việc chinh phục thế giới. Chinh phục bản thân bạn đi. Điều
duy nhất xứng đáng để chinh phục là bản thể riêng của bạn.
Tốt
hơn hàng trăm năm tôn thờ,
Tốt
hơn hàng nghìn đồ cúng dường,
Tốt
hơn việc từ bỏ hàng nghìn cách thức trần tục
Để
có được công đức,
Tốt
hơn việc trông nom trong rừng
Giữ
cho ngọn lửa thiêng trong hàng trăm năm
Là
sự sùng kính của một khoảnh khắc
Đối
với người đã chinh phục bản thân mình.
Lời
kinh cực kì có ý nghĩa. Suy ngẫm về nó thật chậm vào. Tốt hơn hàng trăm năm tôn
thờ... là sự sùng kính của một khoảnh khắc đối với người đã chinh phục bản thân
mình. Tại sao? - bởi vì trong đền chùa bạn sẽ tôn thờ chỉ đá thôi. Và bằng tôn
thờ đá - hoặc trong đền chùa hay ở Kaaba - bằng việc tôn thờ các tượng và
tranh, bằng việc tôn thờ kinh sách chết, tuân theo các nghi lễ và nghi thức, bạn
sẽ không có bất kì hương vị nào của phật tính.
Nhưng
sùng kính của một khoảnh khắc đối với người đã chinh phục bản thân mình còn giá
trị hơn nhiều. Tại sao? - bởi vì khoảnh khắc bạn cúi mình trước người đã chinh
phục được bản thân mình, khoảnh khắc bạn cúi mình trước vị phật, cái gì đó của
vị phật, cái gì đó của rung động thấm vào bạn, khuấy động trái tim đang ngủ của
bạn, thấm vào bản thể bạn như tia sáng đi vào trong bóng tối của linh hồn bạn,
đem bạn tới thoáng nhìn đầu tiên về điều thiêng liêng.
Điều
đó là không thể có được trong đền chùa, trong nhà thờ hồi giáo, trong nhà thờ,
trong giáo đường Do Thái, trong gurudwaras. Điều đó là có thể nếu bạn đang
trong vùng lân cận của một Nanak, nhưng không có trong gurudwara. Nó là có thể
nếu bạn đang trong chuyện tình với Jesus, nhưng không trong nhà thờ. Nó là có
thể nếu bạn đã buông xuôi theo vị phật, nếu bạn đã nói với vị phật,
"Buddhism sharanam gachchhami - Tôi đi tới chân Phật, tôi buông xuôi bản
thân mình." Nhưng điều đó là không thể có trong chùa chiền Phật giáo; trước
tượng Phật điều đó là không thể được. Bạn sẽ phải tìm vị phật sống - không có
cách nào khác. Không có lối tắt.
Tốt
hơn hàng nghìn đồ cúng dường, tốt hơn việc từ bỏ hàng nghìn cách thức trần tục...
là sự sùng kính của một khoảnh khắc đối với người đã chinh phục bản thân
mình.
Sao
bạn tôn thờ ngay chỗ đầu tiên? Sao bạn cúng dường hoa, thức ăn cho tượng? Sao bạn
từ bỏ hàng nghìn cách thức trần tục? - bởi vì tham và sợ. Hoặc đó là sợ hoặc đó
là tham, hay có thể là cả hai, bởi vì tham và sợ là không khác nhau - hai mặt của
cùng một đồng tiền. Tham là sợ giấu mình, sợ là tham giấu mình.
Và
không chỉ phàm nhân mới tham, cái gọi là người thế giới bên kia cũng tham hay
có thể họ thậm chí còn tham hơn. Tham của họ lên đến mức nó không thể được thoả
mãn bởi thế giới này. Tham lam của họ tới mức họ ham muốn những hoan lạc cõi trời:
chỉ thiên đường mới có thể thoả mãn cho họ, thế giới này là không đủ. Và đó là
điều cái gọi là thánh nhân của bạn cứ dạy bạn. Họ nói, "Sao các ông phí
hoài thời gian của mình vào những hoan lạc nhất thời thế? Đi theo chúng tôi đi!
Chúng tôi sẽ chỉ cho các ông cách tìm ra các hoan lạc kéo dài vĩnh viễn."
Nhưng
đây là thuần tham đấy! Phàm nhân dường như ít tham hơn bởi vì người đó được thoả
mãn với cái tạm thời, còn người thế giới bên kia thì tham tới mức người đó muốn
cái gì đó vĩnh viễn kéo dài mãi mãi. Phàm nhân tham, người thế giới bên kia
cũng tham.
Các
tu sĩ của bạn là người rất tham, các sư của bạn là người rất tham.
Một
hôm một mục sư Tin lành vào hiệu cắt tóc của Bonatelli và cắt tóc. Khi
Bonatelli được cắt xong, ông mục sư rờ tay lấy cái ví nhưng thợ cắt tóc lắc đầu
và mỉm cười. "Xin-a ông cất-a ví đi, thưa-a tôn ông," người Italia
nói. "Tôi không bao giờ lấy tiền của giới tu sĩ."
Ông
mục sư cám ơn anh ta rồi đi, nhưng ông ta nhanh chóng quay lại và tặng cho anh
thợ cắt tóc ngoan đạo cuốn Kinh Thánh.
Vài
giờ sau, Cha Rourke cũng đi vào hiệu của người Italia này để cắt tóc. Lại lần nữa
người thợ cắt tóc từ chối nhận thanh toán. "Quên chuyện đó đi thưa
cha," anh ta nói. "Tôi không-a nhận tiền-a từ linh mục đâu."
Cha
Rourke đi nhưng ngay sau đó quay trở lại với một cây thánh giá mà ông ta tặng
cho Bonatelli như một vật kỉ niệm sự ca ngợi của ông ấy.
Đến
tối một giáo sĩ vào cửa hiệu. Ông ấy cũng vào cắt tóc. Khi giáo sĩ rờ tay vào
chiếc ví, thợ cắt tóc đẩy tiền sang bên. "Thế được rồi, thưa giáo
sĩ," Bonatelli nói. "Tôi không lấy-a tiền của những người-a làm-a
công việc của Trời-a."
Thế
là giáo sĩ ra đi, và quay lại với một giáo sĩ khác!
Mọi
người sống qua tham hay qua sợ. Vài người sợ địa ngục, do đó họ tôn thờ; và vài
người tham cõi trời, do đó họ tôn thờ.
Một
câu chuyện Sufi story kể:
Jesus
vào một thị trấn. Ông ấy thấy vài người đang ngồi rất buồn, trong thống khổ sâu
sắc; ông ấy chưa bao giờ thấy nhiều người buồn thế. Ông ấy hỏi, "Có chuyện
gì xảy ra cho các ông vậy? Thảm hoạ nào đã rơi xuống các ông?"
Và
họ nói, "Chúng tôi sợ địa ngục, chúng tôi run rẩy. Chúng tôi không biết
làm sao chúng tôi có thể tự cứu mình khỏi địa ngục - đó là nỗi sợ của chúng
tôi, đó là nỗi thống khổ thường xuyên của chúng tôi. Chúng tôi không thể ngủ được,
chúng tôi không thể nghỉ được, trừ phi chúng tôi tìm ra cách thức."
Jesus
bước ra khỏi những người đó. Đi thêm chút nữa ông ấy thấy một nhóm khác đang ngồi
dưới gốc cây, rất buồn, trong lo âu sâu sắc, cũng như nhóm thứ nhất. Jesus rất
phân vân. Ông ấy hỏi, "Có chuyện gì vậy? Điều gì xảy ra trong thị trấn này
thế? Sao các ông trông buồn thế? Sao các ông trông căng thẳng thế? Các ông sẽ
phát điên nếu các ông vẫn còn trong trạng thái này lâu hơn nữa! Chuyện gì xảy
ra với các ông vậy?"
Họ
nói, "Không có điều gì xảy ra với chúng tôi. Chúng tôi sợ rằng chúng tôi
có thể lỡ mất cõi trời, chúng tôi có thể không có khả năng vào được nó. Và
chúng tôi phải có được nó, bằng bất kì giá nào. Đó là nỗi niềm lo âu của chúng
tôi và đó là căng thẳng của chúng tôi."
Jesus
cũng rời bỏ những người đó. Người Sufi nói: Tại sao Jesus bỏ những người này? -
bởi vì đây là những người tôn giáo! Ông ấy phải đã dạy cho họ cách tránh địa ngục,
và cách vào thiên đường, nhưng ông ấy đơn giản quay lưng với họ.
Ông
ấy thấy nhóm thứ ba trong khu vườn, một nhóm nhỏ những người đang nhảy múa, ca
hát, hân hoan. Ông ấy hỏi, "Lễ hội gì đang diễn ra vậy? Các ông đang có
liên hoan gì thế?"
Họ
nói, "Không lễ hội gì đặc biệt đâu - chỉ là lòng biết ơn của chúng tôi với
Thượng đế thôi, biết ơn về điều ngài đã cho chúng tôi. Chúng tôi không xứng
đáng với nó."
Jesus
nói, "Với các ông ta sẽ nói, với các ông ta sẽ ở lại. Các ông là người của
ta."
Câu
chuyện này không được kể cho người Ki tô giáo, nhưng người Sufi có vài câu chuyện
hay về Jesus. Thực ra, họ hiểu Jesus còn sâu sắc hơn cái gọi là nhà thờ chính
thống. Đây là câu chuyện hay. Nó không nói về những người đang sống qua sợ,
không nói về những người đang sống qua tham đi vào vương quốc của Thượng đế, mà
chỉ những người đang sống trong vui vẻ vô cùng, biết ơn và cám ơn vô cùng.
Và
bạn sẽ học biết ơn ở đâu? Nếu bạn không thấy vị phật, bạn sẽ không biết biết ơn
là gì. Bạn sẽ học mở hội ở đâu nếu bạn không bắt gặp vị phật? Vị phật là lễ hội,
vị phật là liên hoan, liên hoan tiếp diễn, là điệu vũ cứ diễn ra mãi, không biết
tới chấm dứt, là bài ca cứ tiếp diễn mãi mãi.
Nếu
bạn đã bắt gặp vị phật, thế thì sự sùng kính của khoảnh khắc đó, Phật nói, là đủ.
Bỏ
mọi sợ của bạn đi, bỏ mọi tham của bạn đi. Học cách là đệ tử. Học cách thấm đẫm
tinh thần của ai đó đã đạt tới trung tâm bên trong nhất của người đó, người
không sống thêm nữa ở chu vi, người đã trở nên chứng ngộ, người có bản thể là
ánh sáng.
Học
mở mắt bạn hướng tới ánh sáng đó. Học nói: Buddham sharanam gachchhami, sangham
sharanam gachchhami, dhammam sharanam gachchhami. Ba buông xuôi: một buông xuôi
theo người đã trở nên thức tỉnh; buông xuôi thứ hai là theo nhóm người sống
trong đoàn người đã thức tỉnh - bởi vì hương thơm của người đã thức tỉnh bắt đầu
thấm vào nhóm này, nhóm được ân huệ sống cùng người đã thức tỉnh; và buông xuôi
thứ ba là theo luật, luật tối thượng, qua đó người ngủ đã trở nên thức tỉnh và
người ngủ khác đang trở nên được thức tỉnh.
Ba
buông xuôi này... và sự sùng kính của một khoảnh khắc còn có giá trị hơn cả
trăm năm tôn thờ, hơn cả nghìn cúng dường....
Tốt
hơn việc từ bỏ hàng nghìn cách thức trần tục để có được công đức, thậm chí tốt
hơn việc trông nom trong rừng - giữ cho ngọn lửa thiêng trong hàng trăm năm -
là sự sùng kính của một khoảnh khắc đối với người đã chinh phục bản thân mình.
Tôn
kính người như vậy,
Thầy
cổ đại trong đức hạnh và tính thiêng liêng,
Là
có thắng lợi với bản thân cuộc sống,
Và
cái đẹp, sức mạnh và hạnh phúc.
Tôn
kính người như vậy là biết hiện tượng bí mật nhất trong sự tồn tại. Cúi mình
trước vị phật phép màu xảy ra: cái gì đó bắt đầu tuôn chảy từ vị phật vào tim của
đệ tử, dòng sông vô hình, dòng sông ánh sáng.
Thầy
cổ đại trong đức hạnh và tính thiêng liêng... Lời kinh này ngụ ý gì: cổ đại
trong đức hạnh và tính thiêng liêng? Có điều ngược đời: tính thiêng liêng là mới
như giọt sương trong ánh mặt trời buổi sáng sớm trên lá sen, và tính thiêng
liêng là cổ đại như Himalayas. Nó là cả hai, bởi vì nó là vĩnh hằng. Nó là từ
lúc bắt đầu tới lúc kết thúc, nhưng nó là mới nữa, mọi khoảnh khắc đều mới, làm
mới lại bản thân nó. Nó không phải là thứ chết chỉ ngồi đó; nó là quá trình sống.
Nó không phải là cái ao tù đọng, nó là dòng sông xô về đại dương. Cho nên nó là
mới mọi khoảnh khắc; do đó mọi vị phật đều trẻ mãi mãi.
Bạn
đã bao giờ thấy bức tượng Phật nào là ông già tám mươi hai tuổi không? Không. Bạn
đã bao giờ thấy bức tượng nào của Mahavira già, hay Rama, hay Krishna già
không? Không có tượng Phật, Krishna, hay Mahavira già, mặc dầu họ tất cả đều sống
tới tuổi rất già, tất cả đều qua đời ở độ tuổi tám mươi. Sao chúng ta không có
tượng của họ như người già? Để biểu diễn tính trẻ trung vĩnh hằng của chân lí,
tính tươi mát vĩnh hằng của chân lí.
Và
dầu vậy điều họ nói vẫn là cổ đại nhất: Aes dhammo sanantano... cổ đại tới mức
thực ra chưa bao giờ có bắt đầu. Sanantano nghĩa là vô thuỷ - nó hiện hữu mãi
mãi.
Để
biểu diễn điều này người ta còn nói về hiện tượng khác: Lão Tử tương truyền đã
được sinh ra già rồi. Phật chết khi ông ấy tám mươi hai tuổi và Lão Tử được
sinh ra khi ông ấy tám mươi hai tuổi. Ông ấy sinh ra đã tám mươi hai tuổi; ông ấy
đã sống trong bụng mẹ ông ấy tám mươi hai năm. Một câu chuyện hay. Không phải
là ông ấy thực sự sống thế đâu - bởi vì người ta phải nghĩ về người đàn bà nữa
chứ! - nhưng điều đó nói lên cái gì đó. Nó nói rằng chân lí là cổ đại thế, nó
bao giờ cũng cổ. Những câu chuyện này là hay.
Tương
truyền rằng khi Zarathustra được sinh ra... ông ấy là đứa trẻ duy nhất trong
toàn thể lịch sử nhân loại mà có câu chuyện sau được kể lại. Khi ông ấy được
sinh ra - mọi đứa trẻ đều khóc khi nó được sinh ra - Zarathustra lại cười. Thật
hay! Không phải là ông ấy có thể đã thực làm điều đó đâu. Không đứa trẻ nào có
thể làm được điều đó - điều đó là không thể được về mặt sinh lí - đứa trẻ phải
khóc chứ. Qua việc khóc nó làm thông ngực và hệ thống thở. Nó không thể cười được,
nó thậm chí không thể thở được; đầu tiên nó phải khóc.
Nếu
đứa trẻ không khóc trong vài giây, vài phút, điều đó nghĩa là nó sẽ không sống
chút nào. Thế thì nó phải bị bắt buộc. Bác sĩ treo ngược nó lên và phát vào đít
nó để giúp nó khóc. Nếu nó khóc, điều đó nghĩa là nó sẽ sống. Nếu nó khóc, điều
đó làm thông ngực - bởi vì nhiều nước nhầy tụ tập trong ngực khi nó ở trong bụng
mẹ. Nó không thở trong bụng mẹ cho nên toàn thể hệ thống thở vẫn còn bị tắc với
nước nhầy. Cho nên từng đứa trẻ về mặt sinh lí đều phải khóc; qua việc khóc nó
loại bỏ nước nhầy. Tiếng cười là không thể được.
Nhưng
điều rất biểu tượng là Zarathustra cười. Nó biểu tượng nó cho cái gì? Nó biểu
tượng hoá rằng toàn thể cuộc sống này chỉ là ảo tưởng, chỉ đáng cười thôi. Nó
buồn cười! Ông ấy biết ngay từ ban đầu nó buồn cười. Cuộc sống thực là cái gì
đó hoàn toàn khác.
Tôn
kính người như vậy, bậc thầy cổ đại trong đức hạnh và tính thiêng liêng, là có
thắng lợi với bản thân cuộc sống... Bằng việc tôn kính vị phật, bằng việc kính
trọng vị phật, bằng việc tin cậy vị phật, bạn đang chinh phục bản thân cuộc sống.
Và bạn sẽ đạt tới cái đẹp, sức mạnh và hạnh phúc. Trong buông xuôi đó bạn sẽ trở
nên đẹp đẽ, bởi vì bản ngã mất đi và bản ngã là xấu. Và bạn sẽ trở nên mạnh mẽ,
bởi vì bản ngã mất rồi - bản ngã bao giờ cũng yếu đuối và bất lực. Và bạn sẽ trở
nên hạnh phúc lần đầu tiên, bởi vì lần đầu tiên bạn đã thấy một thoáng nhìn về
chân lí, lần đầu tiên bạn đã thấy một thoáng nhìn về bản thể riêng của mình. Vị
phật là tấm gương: khi bạn cúi mình bạn thấy khuôn mặt nguyên thuỷ của mình được
phản xạ trong vị phật.
Để
trái tim bạn tràn đầy lời cầu nguyện:
Buddham
sharanam gachchhami, Sangham sharanam gachchhami, Dhammam sharanam gachchhami.
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment