Osho - Đạo: Đường vô lộ (Tập 1)
Chương 9. Chỉ được quên đi
Ai đó hỏi Liệt Tử
"Tại sao thầy coi trống rỗng là có giá
trị?"
"Trong trống rỗng không có đánh giá
trị."
Liệt Tử nói
"Giá trị không phải là cái tên cho nó.
Tốt nhất là tĩnh lặng, tốt nhất là trống
rỗng.
Trong tĩnh lặng và trống rỗng,
Chúng ta thấy nơi trú ngụ;
Lấy và cho,
Chúng ta mất chỗ đó."
Chân lí là một - không thể khác được bởi vì
sự tồn tại là một vũ trụ, nó không phải là 'đa vũ trụ'. Nó là một. Nó được dính
lại với nhau. Nó là tính cùng nhau. Nó là hài hoà. Cái giữ cho vũ trụ gắn với
nhau là điều chúng ta gọi là chân lí, hay Đạo, hay Thượng đế. Đạo không phải là
người, không là thượng đế người, nhưng là sự hài hoà chạy qua mọi thứ, như sợi
chỉ chạy qua vòng hoa. Vũ trụ không phải là một đống các thứ, tách rời, cá
nhân, như hòn đảo.
Không, vũ trụ là một, cùng nhau, và thỉnh
thoảng giữ nó cùng nhau... nó không rời ra. Cái mà giữ nó gắn cùng nhau là
Thượng đế, Đạo. Nhưng con người có thể tiếp cận qua hai cách tới chân lí này.
Hai cách này phải được hiểu. Chân lí là một nhưng con đường là hai. Con đường
thứ nhất là qua khẳng định, con đường khẳng định, con đường của 'người nói có'.
Con đường của người sùng kính. Jesus, Mohammed, Krishnahọ đã theo con đường của
khẳng định. Con đường của khẳng định dường như là con đường của nỗ lực, nỗ lực
lớn lao: người ta cố gắng đạt tới Thượng đế, người ta phải làm mọi nỗ lực có
thể, người ta phải làm nỗ lực tối đa, người ta phải đưa bản thân mình vào lâm
nguy. Trong thời hiện đại, Gurdjieff, Ramakrishna - họ đã theo con đường của
khẳng định, qua khẳng định.
Con đường kia là qua phủ định, qua phủ nhận,
qua cái 'không'. Lão Tử, Phật, Nagarjuna - họ đã theo con đường của phủ định.
Trong thời hiện đại, Ramana Maharshi, J. Krishnamurti - họ theo con đường của
cái 'không'. Hai con đường này phải được hiểu rõ ràng nhất có thể được bởi vì
nhiều điều sẽ phụ thuộc vào nó; bạn sẽ phải chọn ngày này hay ngày khác. Chúng
đi theo các chiều hướng khác nhau; chúng đạt tới cùng đích, nhưng chúng đi theo
các hướng khác nhau. Con đường khẳng định là cách tiếp cận khẳng định tới
Thượng đế, việc đạt tới Thượng đế, việc tìm kiếm, cuộc truy hỏi. Con đường phủ
định là chờ đợi Thượng đế, không tìm kiếm. Con đường phủ định chỉ giữ cửa để
mở, không đi, không tìm; không truy hỏi, chỉ cảm nhận, như bụng mẹ. Con đường
thứ nhất là dương, con đường thứ hai là âm.
Con đường thứ nhất là con đường hướng nam
tính, con đường thứ hai là con đường hướng nữ tính. Người ta chỉ phải trong
buông bỏ ở con đường thứ hai: không ý chí, nhưng buông xuôi. Người ta chỉ phải
cho phép Thượng đế hiện hữu; không đạt tới ngài, để ngài đạt tới bạn. Đơn giản
im lặng, trống rỗng. Cho không gian để cho nếu ngài tới bạn sẵn có; bạn vẫn còn
sẵn có. Trên con đường của ý chí bạn có nhiều điều để làm; trên con đường của
buông xuôi bạn không có gì làm cả, đích xác không cái gì để làm, chỉ không cái
gì làm. Những con đường này có thể được đặt tên theo cách khác nữa. Con đường
thứ nhất có thể được nói là con đường của khổ hạnh. Từ 'ascetic-khổ hạnh' bắt
nguồn từ gốc Hi Lạp ascesis có nghĩa là tập luyện. Nhiều phương pháp, nhiều tập
luyện, Yoga, phương pháp luận, kĩ thuật, là có thể. Con đường thứ hai có thể
được gọi là con đường của huyền môn: không luyện tập, không phương pháp, không
công nghệ.
Trên con đường thứ nhất thời gian là phải có.
Bạn không thể ngay lập tức chứng ngộ được - phương pháp cần thời gian, luyện
tập cần thời gian, chuẩn bị cần thời gian, và bạn sẽ phải đợi trong nhiều kiếp.
Chứng ngộ sẽ là dần dần, nó không thể bất thần được. Trên con đường phủ định nó
có thể tuyệt đối bất thần, nó có thể xảy ra chính khoảnh khắc này. Thời gian
không được cần bởi vì luyện tập không được cần. Bạn không đi đâu cả; bạn chỉ
ngồi im lặng, bạn chỉ ở trong buông bỏ. Người ta không cần chờ đợi.
Con đường của huyền môn là huyền bí - không
thể được giải thích. Con đường của khổ hạnh là giải thích được: nó rất khoa
học, rất logic. Từng bước một nó có thể được giải thích; nó có thể được phân
tích, phân chia thành các bước dễ dàng. Các bước có thể được làm nhỏ tới mức
mọi người có thể lấy chúng, ngay cả đứa trẻ nhỏ; do đó, các mức độ là có thể.
Nhưng con đường của huyền môn là rất huyền bí, do đó nó được gọi là con đường
huyền môn. Không mức độ nào là có thể, không bước nhỏ nào - nhưng bước nhảy
lượng tử, nhảy vào cái không biết, đột nhiên, như sét. Một cách tự nhiên nó
không thể được giải thích một cách logic. Tâm trí logic sẽ bị lúng túng. Nó cần
hiểu biết lớn, không dựa trên logic mà dựa trên trực giác, không dựa trên trí
tuệ mà dựa trên trực giác. Nó cần tâm trí phi logic, phiêu lưu: người có thể đi
trước mọi bước, người sẵn sàng đi vào trong cái không biết, người đủ dũng cảm
lấy cú nhảy.
Trên con đường thứ nhất bạn đi từng bước một,
đi lên. Trên con đường thứ hai bạn đơn giản lấy cú nhảy vào vực thẳm. Nó là vực
thẳm không đáy, nó là trống rỗng, nó là tính không tuyệt đối. Bạn biến mất. Hai
con đường này là những con đường duy nhất, và mọi người đều phải quyết định
trong cốt lõi bên trong nhất của bản thể mình cái gì hấp dẫn người đó. Khó mà
quyết định nhưng nó phải được quyết định, bằng không bạn có thể cứ làm những
điều mà sẽ không chứng tỏ nghĩa nào cả.
Nếu bạn có thể lấy cú nhảy thế thì không có
nhu cầu huấn luyện bản thân bạn theo Yoga. Nếu bạn không thể lấy cú nhảy, thế
thì chẳng ích gì mà ngồi và đợi. Trên con đường thứ nhất, nguy hiểm lớn nhất là
của bản ngã bởi vì bạn phải làm nhiều, và nếu bạn quá bản ngã, bạn sẽ trở thành
người làm và thế thì bản ngã sẽ trở thành rào chắn của bạn. Người ta phải làm, vậy
mà không làm mạnh cho bản ngã. Trên con đường thứ hai, lờ phờ là vấn đề. Bạn
không định làm cái gì; người ta có thể trở thành lờ phờ, người ta có thể trở
nên đờ đẫn và chết. Đó là nguy hiểm - rất tự nhiên: ngồi im lặng, không làm gì,
dần dần bạn lại rơi vào đờ đẫn, trong một loại không thông minh; bạn mất sắc
bén, bạn mất tính sống động, bạn trở nên xuẩn ngốc. Điều đó là có thể; người ta
phải rất tỉnh táo về điều này.
Trên con đường thứ nhất, người ta phải quan
sát rằng bản ngã không nảy sinh. Trên con đường thứ hai, người ta phải quan sát
rằng lờ phờ không lắng đọng. Nếu hai cạm bẫy này được tránh, thế thì bạn có thể
đạt tới từ hoặc khẳng định hoặc phủ định. Mọi người đã đạt tới từ cả hai con
đường. Cho nên không có vấn đề về đạt tới, câu hỏi là cái gì sẽ dễ dàng hơn,
trong hoà điệu hơn với bản tính tự nhiên của bạn - chọn cái đó.
Vài điều phải được hiểu về con đường của cái
không, bởi vì Liệt Tử là tín đồ của con đường đó - con đường của qua phủ định,
con đường huyền môn. Trên con đường huyền môn bạn phải một mình - không có khả
năng 'ở cùng nhau'. Nó là bất hoạt sâu sắc, sâu tới mức chính ý tưởng về hành
động phải bị vứt bỏ và từ bỏ. Không ham muốn, không hành động; người ta chỉ
phải có đó. Tính một mình phải được kinh nghiệm. Việc ở một mình phải được kinh
nghiệm.
Trên con đường của khẳng định, Thượng đế bao
giờ cũng cùng bạn, bạn không bao giờ một mình. Bạn bao giờ cũng có thể nói với
Thượng đế, bao giờ cũng cầu nguyện Thượng đế, bạn bao giờ cũng có thể hi vọng
rằng ngài đang cùng bạn. Ngài bao quanh bạn, ngài cầm tay bạn. Và ngài là rất
nhiều trên con đường của khẳng định. Tay ngài gần như trong tay bạn. Điều đó
không chỉ là tưởng tượng - nhớ điều đó, nó không phải là ảo giác; nó là vậy.
Khi bạn đã làm mọi điều bạn có thể làm đột nhiên ngài trở thành sẵn có. Nhiều
hơn bạn không thể làm được: bạn đã không ngăn cản, bạn đã làm mọi điều bạn có
thể làm, bạn đã đưa bản thân bạn một cách toàn bộ vào trong công việc, bạn đã
đi tới tối đa của bạn - từ khoảnh khắc đó ngài tiếp quản. Nhưng người ta phải
là điều tối đa, kém hơn điều đó sẽ không có tác dụng. Người ta phải sôi lên một
trăm độ, thế rồi đột nhiên - việc bay hơi.
Trên con đường của khổ hạnh Thượng đế là cùng
với bạn; bạn chưa bao giờ một mình, bạn bao giờ cũng có thể cầu nguyện. Nhưng
trên con đường phủ định lời cầu nguyện là không thể được, lời cầu nguyện là
không được phép - lời cầu nguyện là cản trở. Nhớ điều này nữa: một điều có thể
là giúp đỡ cho người trên con đường này và có thể trở thành cản trở trên con
đường khác. Lời cầu nguyện là cản trở. Nếu bạn hỏi tín đồ của con đường phủ
định người đó sẽ nói: Lời cầu nguyện nghĩa là bạn vẫn không có khả năng ở một
mình; bạn vẫn bị gắn bó với người khác.
Bạn có thể đã vứt bỏ gắn bó của bạn với vợ,
với chồng, với con, với bạn bè, với xã hội, nhưng bây giờ bạn đã phóng chiếu
một Thượng đế và bây giờ bạn giữ đồng hành với ngài; nhưng bạn không thể một
mình được. Lời cầu nguyện nghĩa là bạn vẫn sợ một mình, cho nên bạn tạo ra cây
cầu với người khác, bạn tìm kiếm người khác. Lời cầu nguyện đơn giản nghĩa là
bất kì khi nào bạn một mình, bạn không một mình mà cô đơn: bạn thiếu người
khác. Trên con đường của phủ định, một mình đơn giản là niềm huy hoàng vĩ đại
nhất có đó.
Nếu bạn hỏi nhà huyền môn ông ấy sẽ nói: Cô
đơn chỉ là tạm nghỉ. Một mình là điều kiện tối thượng. Cô đơn hay cùng nhau là
ngẫu nhiên. Một mình là bản chất. Cô đơn ngụ ý sự tiến hoá hay liên tục của
kinh nghiệm, trong khi một mình nghĩa là thay đổi triệt để, toàn bộ, một trăm
tám mươi độ, sự chuyển hoá, một metanoia - thay đổi căn bản.
Cô đơn là cách quay về phía người khác: bất
kì khi nào bạn cảm thấy cô đơn bạn đều tìm kiếm người khác dưới dạng này hay
dạng khác. Cô đơn là cách quay về với người khác. Một mình là cách quay về với
bản thân người ta. Điều này phải được nhớ. Đó là lí do tại sao trên con đường
phủ định, thiền là có nhiều ý nghĩa hơn lời cầu nguyện. Thiền là sự giúp đỡ,
lời cầu nguyện là cản trở.
Trên con đường của khẳng định, lời cầu nguyện
là sự giúp đỡ, thiền không được nói tới chút nào. Đó là lí do tại sao trong Ki
tô giáo, trong Hồi giáo, trong Do Thái giáo, trong Hindu giáo, thiền đã không
được phát triển. Thiền đã được phát triển hoàn toàn bởi Phật tử và Đạo nhân -
đó là chìa khoá bí mật của họ. Bạn có thể chia mọi tôn giáo thành hai: Hindu
giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo, Ki tô giáo - tất cả đều trên con đường của qua
khẳng định. Phật giáo và Đạo - họ về căn bản là phủ định, trên con đường qua
phủ định. Hindu giáo và Hồi giáo đã nở hoa điều tối đa của họ trong Sufi
giáo. Đó là gặp gỡ của tính Hindu và tính Mô ha mét giáo và đoá hoa thực
sự đẹp đã tới từ sự gặp gỡ này - nó là lai - Sufi giáo. Nó là cao hơn bất kì
cái gì có trong Hindu giáo và cao hơn bất kì cái gì có trong Mô ha mét giáo; nó
là cao hơn cả hai, nó đã siêu việt lên trên cả bố mẹ. Đứa con là đẹp hơn mẹ và
bố - phải vậy, bởi vì cả mẹ và bố đã tan biến vào trong nó. Cho nên Sufi giáo
là đỉnh cao của khẳng định. Và Phật giáo và Đạo giáo gặp gỡ và đã cho sinh ra
Zen (Thiền): đó là điều tốt nhất trên con đường của thiền. Lại đẹp hơn Phật
giáo và Đạo giáo, tốt hơn cả hai bố mẹ: lại là việc lai.
Gặp gỡ của Hồi giáo và Hindu giáo đã xảy ra ở
Ấn Độ. Hồi giáo tới Ấn Độ, gặp gỡ với Hindu giáo và đứa con đẹp được sinh ra.
Gặp gỡ của Đạo giáo và Phật giáo đã xảy ra ở Trung Quốc. Phật giáo đi tới Trung
Quốc, gặp gỡ với Đạo giáo và đứa con đẹp, Zen, được sinh ra. Nếu mọi thứ biến
mất khỏi thế giới và chỉ hai điều có thể được duy trì, Sufi giáo và Zen-Thiền,
không cái gì sẽ bị mất. Chúng là cao trào cao nhất, nhưng của hai con đường
khác nhau.
Sufi giáo không là gì ngoài lời cầu nguyện
thuần tuý, zikr, việc nhớ tới Thượng đế, và Zen không là gì ngoài thiền. Từ zen
bắt nguồn từ gốc tiếng Phạn dhyana. Đầu tiên từ dhyana trở thành jhana, bởi vì
Phật thường nó trong tiếng Pali - dhyana là jhana trong tiếng Pali. Thế rồi từ
jhana nó trở thành ch'an trong tiếng Trung Quốc. Thế rồi nó trở thành zen khi
nó đạt tới Nhật Bản. Nhưng nó là dhyana, nó là dhyana bản chất: chỉ là một
mình, tuyệt đối một mình, thậm chí không một ý nghĩ về bầu bạn. Trong tính một
mình đó mọi thứ biến mất. Người ta chỉ là tính thoáng đãng, người ta chỉ là
không gian, thuần khiết, trong suốt. Trong thuần khiết đó người ta đạt tới,
Thượng đế tới. Khi bạn đã sẵn sàng là trống rỗng thế, Thượng đế vào. Người Sufi
tìm kiếm Thượng đế. Đệ tử Thiền chờ đợi, Thượng đế tới.
Bây giờ đến chuyện ngụ ngôn hay này:
Ai đó hỏi Liệt Tử
"Tại sao thầy coi trống rỗng là có giá
trị?"
"Trong trống rỗng không có đánh giá
trị."
Một cách tự nhiên, trống rỗng có thể có giá
trị gì? Nó bị kết án trên khắp thế giới. Ngoại trừ Đạo nhân và Phật tử, không
ai hiểu trống rỗng là gì - nó bị kết án. Ở phương Tây bạn nói 'Tâm trí trống
rỗng là xưởng thợ của quỉ.' Bây giờ còn kết án nào hơn có thể có? Xưởng thợ của
quỉ sao? - tâm trí trống rỗng sao? Và Đạo nhân và Phật tử nói rằng tâm trí
trống rỗng là mục đích.
Khi bạn trống rỗng toàn bộ, Thượng đế tới.
Quỉ chỉ có thể tồn tại với tâm trí hoạt động, chưa bao giờ với tâm trí bất
hoạt. Quỉ có thể tồn tại chỉ với tâm trí bận rộn, không với tâm trí không bận
rộn. Quỉ có thể cưỡi lên các ý nghĩ, nó có thể dùng ý nghĩ và ham muốn. Làm sao
nó có thể dùng trống rỗng được? Và họ dường như đúng. Hitler là không trống
rỗng, Genghis Khan không trống rỗng, Tamburlaine không trống rỗng; họ là những
người rất hoạt động. Quỉ đã đi qua họ để vào thế giới. Bồ đề đạt ma là trống
rỗng, Liệt Tử là trống rỗng, Nagarjuna là trống rỗng - quỉ thậm chí đã không
tới gần họ. Không gì sai đã từng đi ra từ những người trống rỗng này, chỉ cái
tốt; và chỉ cái tốt đã nở hoa. Hương thơm của họ là lớn lao. Hàng thế kỉ đã
trôi qua, nhưng hương thơm của họ vẫn tươi mát như bao giờ.
Bình thường, trống rỗng chưa bao giờ được coi
là có giá trị, cho nên người hỏi này dường như đúng. Người đó nói `Tại sao thầy
coi trống rỗng là có giá trị'? `Trong trống rỗng không có đánh giá trị.' Giá
trị kiểu gì? Bạn có thể làm gì với trống rỗng? Giá trị tới với việc dùng. Cố
hiểu điều đó: giá trị tới khi cái gì đó là hữu dụng. Làm sao bạn có thể coi cái
gì mà không có là có giá trị? Không chỉ nó không hữu dụng, nó là không có - làm
sao bạn có thể đánh giá trị nó được? Nhưng đó là cách tiếp cận của phủ định.
Lão Tử nói: Phòng có giá trị không phải vì
tường, mà vì cái trống rỗng bên trong. Bạn dùng phòng chứ không dùng tường. Tất
nhiên, khi bạn làm nhà bạn làm tường, không làm cái trống rỗng; không ai có thể
làm cái trống rỗng được. Trống rỗng là vĩnh hằng, nó là từ Thượng đế; nó không
do con người làm. Nhà được người làm, không trống rỗng. Nhưng bạn dùng cái gì?
Bạn dùng tường hay bạn dùng không gian bên trong? Từ 'phòng' là tốt: 'phòng'
nghĩa là không gian. Bạn dùng phòng, không gian, 'chỗ rộng rãi'. Trong tường,
bạn đi qua cái gì, đi vào và đi ra?
Cửa. Cửa là trống rỗng. 'Cửa' nghĩa là cái
trống rỗng, cái không có - do đó bạn có thể đi vào đi ra. Bạn dùng cửa, bạn
không dùng tường. Và bạn dùng phòng, bạn không dùng tường. Bạn dùng gì khi bạn
dùng bình đất nung? Vỏ đất nung hay cái trống rỗng bên trong? Khi bạn đi tới
giếng để lấy nước và bạn đem nước về nhà, bạn dùng gì? Cái trống rỗng của bình
đất. Cái trống rỗng đó là có giá trị và cái trống rỗng đó không được bạn tạo
ra. Đạo nhân nói: Cái không do con người tạo ra là có giá trị. Cái được tạo ra
có thể có giá trị tương đối, giá trị thị trường, nhưng thực sự nó không giá
trị: nó không có giá trị nào. Thứ con người làm ra là hàng hoá. Tất nhiên nếu
bạn đi vào trong bãi chợ và bạn bắt đầu bán cái trống rỗng, chẳng ai sẽ mua nó.
Không có giá trị trong nó và mọi người sẽ cười.
Lão Tử đi qua một khu rừng, và khu rừng đang
bị chặt. Hàng nghìn thợ mộc đang chặt cây. Thế rồi ông ấy tới gần một cây lớn -
một cây rất lớn, một nghìn xe bò kéo có thể nghỉ ngơi dưới nó - và nó xanh và
đẹp thế. Ông ấy phái đệ tử tới hỏi các thợ mộc tại sao cây này đã không bị
chặt. Và họ nói 'Nó là vô dụng. Ông không thể làm được cái gì từ nó: đồ đạc
không thể được làm, nó không thể được dùng như chất đốt - nó cho quá nhiều
khói. Nó là vô dụng, đó là lí do tại sao chúng tôi đã không chặt nó.' Và Lão Tử
nói với các đệ tử của ông ấy 'Học từ cây này đi. Trở thành vô dụng như cây này
thế thì không ai sẽ chặt ông.' Vô dụng có giá trị lớn. Ông ấy nói: Trông đấy,
và quan sát cây này. Học cái gì đó từ cây này. Cây này lớn. Nhìn đấy, mọi cây
đều đã mất tiêu. Chúng hữu dụng, do đó chúng bị mất tiêu. Cây nào đó rất thẳng,
đó là lí do tại sao nó bị mất đi. Nó phải đã rất bản ngã, thẳng, tự hào là ai
đó - nó tiêu rồi. Cây này không thẳng, không một cành nào thẳng cả. Nó không tự
hào chút nào, do đó nó tồn tại.
Lão Tử nói với đệ tử của ông ấy: Nếu các ông
muốn sống lâu, trở nên vô dụng đi. Nhưng nhớ, nghĩa của ông ấy về từ 'vô dụng'
là: không trở thành hàng hoá, không trở thành đồ vật. Nếu bạn trở thành đồ vật
bạn sẽ bị bán và mua ở chợ, và bạn sẽ trở thành nô lệ. Nếu bạn không phải là đồ
vật, ai có thể mua bạn và ai có thể bán bạn? Vẫn còn là sáng tạo của Thượng đế
đi. Đừng trở thành hàng hoá con người và không ai sẽ có khả năng dùng bạn. Và
nếu không ai có khả năng dùng bạn, bạn sẽ có cuộc sống đẹp của riêng bạn, độc
lập, tự do, vui vẻ. Nếu không ai có thể dùng bạn, không ai có thể qui giản bạn
thành phương tiện. Bạn sẽ không bao giờ bị xúc phạm, bởi vì trong cuộc sống này
không có xúc phạm nào lớn hơn là trở thành phương tiện: ai đó hay người khác sẽ
dùng bạn - thân thể bạn, tâm trí bạn, con người bạn.
Lão Tử nói: Trở thành vô thực thể để cho
không ai nhìn vào ông và ông có thể sống cuộc sống của ông như ông muốn sống
nó. Không ai tới để can thiệp vào bạn. Chuyện xảy ra là đệ tử của Lão Tử, Trang
Tử, trở nên rất nổi tiếng và Hoàng đế phái thượng thư của ông ấy tới mời Trang
Tử ra làm thừa tướng. Lão Tử giận lắm. Ông ấy nói 'Ông phải đã làm cái gì đó
sai rồi, bằng không sao Hoàng đế trở nên quan tâm tới ông? Ông phải đã chứng tỏ
bản thân ông có cái dụng nào đó. Ông phải đã bỏ lỡ giáo huấn của ta, bằng không
làm sao có chuyện Hoàng đế đã trở nên quan tâm tới ông? Bây giờ ông sẽ không
bao giờ được thanh thản đâu.'
Và vô thực thể để không ai thậm chí nghĩ rằng
bạn có thể có cái dụng nào. Có cái vô dụng mà cực kì hữu dụng. Lão Tử gọi nó là
'cái dụng của vô dụng'. Nhưng chắc chắn không có giá trị trong nó, ít nhất
không giá trị thị trường. Thông thường, bạn muốn trở thành giá trị nào đó - bác
sĩ, kĩ sư, hoạ sĩ, nhà thơ, mahatma - bạn muốn trở thành ai đó người có giá
trị, người trở thành không thể thiếu được cho thế giới. Bạn cảm thấy rất hạnh
phúc nếu mọi người tới và nói 'Khi ông đi chúng tôi sẽ không bao giờ có khả
năng thay thế được ông.' Bạn cảm thấy cực kì hạnh phúc, nhưng họ đang nói gì?
Họ đang nói 'Ông là thứ chúng tôi đang dùng.' Bạn càng trở nên không thể thiếu
được, bạn càng bị qui giản thành một vật, tự do của bạn càng bị mất đi. Nếu bạn
có thể chết cứ dường như không cái gì đã xảy ra, nếu bạn biến mất khỏi thế giới
và thậm chí không một dấu vết được bỏ lại, thế thì....
Chuyện xảy ra là một Đạo nhân chết và Liệt Tử
tới để bày tỏ kính trọng của ông ấy, nhưng đã có hàng nghìn người tụ tập rồi.
Ông ấy phân vân, và không chú ý tới kính trọng của ông ấy với người chết và xác
chết của ông này, ông ấy quay về. Vài người theo ông ấy và họ nói 'Sao vậy? Ông
đã tới để bày tỏ kính trọng - sao ông quay về?' Ông ấy nói 'Người này không thể
đã là con người của Đạo được. Nhiều người thế kêu và khóc, bằng cách nào đó ông
ấy phải đã trở thành không thể thiếu được cho cuộc sống của họ. Ông ấy phải đã
chứng tỏ có hữu dụng nào đó, bằng không tại sao những người này kêu khóc cứ
dường như bố họ đã chết hay mẹ họ đã chết hay con họ đã chết? Tại sao những người
này kêu khóc vậy? Ông ấy phải đã không hoàn toàn vô dụng. Hữu dụng nào đó phải
đã có đó - đó là lí do tại sao ta quay về. Ông ấy đã không theo Thầy một cách
đúng đắn.'
Cách tiếp cận của họ là ở chỗ có giá trị, giá
trị tối thượng, trong việc là không ai cả, trong việc là trống rỗng, trong việc
không hữu dụng. Khi bạn không hữu dụng cho nhân loại, bạn trở thành cực kì hữu
dụng cho Thượng đế. Thế thì ngài bắt đầu tuôn chảy qua bạn: thế thì bạn trở
thành phương tiện - bởi vì bạn trống rỗng thế ngài có thể chảy qua bạn. Bạn trở
thành cây trúc hổng, ngài có thể hát bài ca của ngài qua bạn. Khi bạn cho phép
môi con người hát bài ca qua bạn, Thượng đối bị phủ nhận. 'Trong trống rỗng
không có đánh giá trị' người này nói, 'Tại sao thầy coi trống rỗng là có giá trị?'
Liệt Tử nói 'Giá trị không phải là cái tên cho nó.' Nó giá trị tới mức bạn chỉ
có thể gọi nó là vô giá trị. Giá trị không phải là cái tên cho nó: giá trị
nghĩa là hàng hoá, giá trị nghĩa là cái có thể được xác định dưới dạng sử dụng
con người, cái có thể trở thành phương tiện và không phải là mục đích. Mục đích
không thể có giá trị theo nghĩa thường của thuật ngữ này. Chẳng hạn, nếu ai đó
hỏi bạn 'Bạn yêu, nhưng giá trị của yêu là gì?' bạn sẽ nói gì? Bạn sẽ nói 'Giá
trị không phải là cái tên cho nó.' Yêu không phải là giá trị theo cùng nghĩa mà
xe có giá trị, nhà có giá trị. Tiền có giá trị, sức khoẻ có giá trị, nhưng yêu
sao? Yêu là điều tối thượng, mục đích. Bạn yêu chỉ vì yêu thôi. Nó không phải
là phương tiện cho bất kì cái gì khác, nó là mục đích riêng của nó. Giá trị của
nó là bản chất, giá trị của nó là trong bản thân nó; nó không phải là đi ra
ngoài.
Nếu ai đó hỏi 'Giá trị của sống là gì?' Chắc
chắn bạn sẽ nói 'Giá trị không phải là tên cho nó.' 'Tại sao bạn sống?' Bạn sẽ
nói 'Vì tôi tận hưởng việc sống.' 'Nhưng giá trị của nó là gì?' 'Giá trị... làm
gì có.' Tất cả những cái đó là vô giá trị theo nghĩa bình thường của từ này,
nhưng bởi vì điều tối thượng, mọi thứ khác đều có giá trị. Cho nên giá trị
không phải là cái tên cho nó, mặc dầu mọi giá trị đều tồn tại bởi nó. Bạn đi
tới văn phòng, bạn làm việc, điều đó có giá trị: bạn sẽ được một nghìn ru pi
mỗi tháng. Và thế rồi bạn về và đưa một nghìn ru pi cho vợ bạn vì bạn yêu người
đàn bà này. Bạn làm việc cho cô ấy, bạn làm việc cho con bạn - bạn yêu họ. Tình
yêu không có giá trị. Công việc của bạn có giá trị, nhưng chung cuộc mọi thứ có
giá trị đều tới dưới chân của cái vô giá trị, hay vô giá.
Nhớ lấy, mục đích không thể có giá trị nào.
Đó là lí do tại sao Đạo nhân nói rằng cuộc sống không có chủ định. Điều đó làm
mọi người choáng. Một hôm một người tới tôi và người đó nói 'Chủ định của cuộc
sống là gì'? Và tôi nói 'Không có chủ định. Cuộc sống đơn giản hiện hữu.' Người
đó không thoả mãn. Người đó nói 'Tôi đã tới từ rất xa.' Người đó đã tới từ
Nepal, và người đó nói 'Tôi là một người già, một giáo sư về hưu. Đừng để tôi
đi với hai bàn tay trắng. Tôi đã tới để hỏi chỉ một điều: Chủ định của cuộc
sống là gì?' Và tôi nói 'Nếu tôi có thể để ông đi với hai bàn tay trắng thế thì
cuộc hành trình của ông đã là có chủ định rồi, bởi vì tay trắng là mục đích.'
Người đó nói 'Đừng nói điều thách đố. Cứ bảo tôi, trong ngôn ngữ rõ ràng, chủ
định của cuộc sống là gì?'
Bây giờ người này không thể hiểu được rằng
người đó đang hỏi câu hỏi ngớ ngẩn. Cuộc sống không thể có bất kì chủ định nào,
bởi vì nếu cuộc sống có bất kì chủ định nào thế thì cái gì đó sẽ trở thành có
giá trị hơn cuộc sống, và lần nữa câu hỏi sẽ nảy sinh: Chủ định của điều đó là
gì? Nếu chúng ta nói: Cuộc sống là để đạt tới chân lí, thế thì chân lí trở thành
chủ định thực. Nhưng thế thì chủ định của chân lí là gì? Nếu chúng ta nói: Cuộc
sống là để tìm kiếm Thượng đế, thế thì câu hỏi nảy sinh: 'Chủ định của Thượng
đế là gì'? Hay về việc đạt tới Thượng đế? Hay về việc nhận ra Thượng đế? Đến
cuối cùng bạn phải vứt bỏ từ 'chủ định', chung cuộc bạn phải vứt bỏ nó.
Vâng, giá trị không phải là cái tên cho nó,
chủ định không phải là cái tên cho nó; và nếu bạn hiểu sáng suốt này, ánh sáng
lớn lao sẽ nảy sinh trong bạn. Cuộc sống không có chủ định và không có giá trị.
Yêu không có chủ định và không có giá trị. Thượng đế không có chủ định và không
có giá trị. Chân lí không có chủ định và không có giá trị. Điều đó nghĩa là
Thượng đế, cuộc sống, chân lí, tình yêu, đều chỉ là bốn cái tên cho cùng một
điều. Chúng là không khác, bởi vì chỉ có thể có một điều mà không có chủ định
nào - mọi thứ khác đều có chủ định bởi vì nó. Nó là cao nhất, chính đỉnh cao.
Mới đêm hôm nọ, một phụ nữ đã nói 'Rất khó
cho tôi hiểu điều thầy ngụ ý khi thầy nói "Thượng đế" bởi vì tôi
không tin vào Thượng đế. Tôi chưa bao giờ tin vào Thượng đế. Tôi muốn hiểu,
nhưng khoảnh khắc tôi dùng từ "Thượng đế" cái gì đó đi sai trong đầu
tôi - tôi trở nên bị đóng.' Tôi nói với cô ấy 'Bạn làm một điều đơn giản: bất
kì khi nào tôi nói "Thượng đế", đọc nó là "cuộc sống" -
điều đó sẽ có tác dụng. Bất kì khi nào tôi nói "Thượng đế", nghe nó
là "cuộc sống" - lập tức dịch nó thành "cuộc sống". Cô ấy
rất sung sướng.
Chúng ta bị cố định vào lời làm sao! Nếu tôi
nói 'Thượng đế' điều đó tạo ra sự phủ định trong ai đó, nếu tôi nói 'cuộc sống'
nó sẽ tạo ra sự phủ định trong ai đó khác. Và tôi đang chỉ đổi tên... và, 'hoa
hồng là hoa hồng là hoa hồng' bởi bất kì cái tên nào nó được gọi. Bạn có thể
gọi nó là 'hoa nhài' - hoa hồng vẫn còn là hoa hồng. Chỉ có một cái là điều tối
thượng. Những người khác nhau có những cái tên khác nhau cho nó. Cái một đó là
vô giá trị bởi vì nó là giá trị tối thượng. Bên ngoài nó không cái gì tồn tại,
cho nên nó không thể có giá trị cho cái gì đó khác. Bạn không thể dùng được nó
như bàn đạp vì không có gì bên ngoài nó; nó là cõi bên kia.
Liệt Tử nói
"Giá trị không phải là cái tên cho nó.
Tốt nhất là tĩnh lặng, tốt nhất là trống
rỗng.
Trong tĩnh lặng và trống rỗng,
Chúng ta thấy nơi trú ngụ;
Lấy và cho,
Chúng ta mất chỗ đó."
"Tốt nhất là tĩnh lặng..."
Bây giờ, thay vì trả lời giá trị là gì hay
tại sao trống rỗng có giá trị, nhấn mạnh của Liệt Tử là vào kinh nghiệm. Cách
tiếp cận của Đạo nhân về căn bản mang tính tồn tại. Họ không tin vào suy đoán
và khái niệm trừu tượng. Họ nói: Ông có thể kinh nghiệm nó, cho nên tại sao vay
mượn tri thức gián tiếp? Thực ra, Thượng đế không bao giờ có thể là gián tiếp;
ngài phải là trực tiếp. Bạn không thể vay mượn Thượng đế của tôi - Thượng đế
của tôi là Thượng đế của tôi. Bạn sẽ phải đi về Thượng đế riêng của bạn. Tất
nhiên khi bạn đã về, bạn sẽ thấy rằng Thượng đế của tôi và Thượng đế của bạn là
như nhau, nhưng bạn sẽ phải về tới nó theo cách riêng của bạn; nó phải nở hoa
trong bản thể riêng của bạn.
Có câu chuyện Đạo:
Vương tử Hoảng, ngồi phía trên trong phòng
của mình đang đọc sách, và người sửa xe Bình đang làm bánh xe phía dưới phòng.
Để búa và đục sang bên, Bình đi lên và nói 'Tôi cả gan hỏi điện hạ, điện hạ
đang đọc lời gì ạ?' Vương tử nói 'Lời của hiền nhân.' 'Những hiền nhân đó còn
sống không?' Bình tiếp tục. 'Họ chết cả rồi' là lời đáp. 'Thế thì' Bình nói
'điều điện hạ, người cai trị, đang đọc chỉ là cặn và bã của những người già
đó.' Vương tử nói 'Làm sao ngươi, kẻ làm bánh xe, có gì mà nói về sách ta đang
đọc? Nếu ngươi có thể tự giải thích cho ngươi, rất tốt; nếu ngươi không thể
giải thích được, ngươi sẽ phải chết. Ta sẽ giết ngươi.' Ông ta rất bực. Điều
này là quá thể! Người làm bánh xe đi tới hoàng tử và nói 'Bất kì điều gì điện
hạ đang đọc cũng không là gì ngoài cặn và bã của những người già đã chết đó!' Người
làm bánh xe nói 'Người hầu của bệ hạ sẽ nhìn vào sự việc từ quan điểm của nghệ
thuật riêng của anh ta.
Trong khi làm bánh xe, nếu tôi bắt đầu một
cách mềm yếu, điều đó là đủ hài lòng nhưng tay nghề không mạnh; nếu tôi bắt đầu
mạnh bạo, điều đó là cực nhọc và chỗ nối không khớp. Nếu chuyển động của tay
tôi không quá mềm yếu không quá mạnh bạo, ý tưởng trong tâm trí tôi được thực
hiện. Nhưng tôi không thể nói được làm sao làm điều này bằng miệng.' Không quá
mạnh bạo, không quá mềm yếu - chỉ ở giữa, được cân bằng... Và người sửa
xe nói ' Nhưng tôi không thể nói được làm sao làm điều này bằng miệng, làm sao
đạt tới điểm giữa tuyệt đối này, giữa nỗ lực và vô nỗ lực, giữa làm và vô làm.
Tôi không thể nói làm sao làm điều này bằng miệng; có mẹo cho nó, nhưng dầu vậy
tôi không thể nói nó ra được. Tôi biết nó, dầu vậy tôi không thể nói ra được
nó.
Tôi có thể dạy mẹo này cho con tôi, ngay cả
với con tôi - con tôi không học được nó từ tôi. Không có cách nào để dạy nó và
không có cách nào để học nó. Học và dạy, dạy và học, chỉ có thể của cái bên
ngoài - nó là cảm giác bên trong. Do vậy vấn đề là tôi đang ở độ tuổi bẩy mươi,
và vẫn làm bánh xe trong tuổi già của tôi. Nhưng những người cổ đại này, và cái
điều không thể được cho họ truyền đạt, là đã chết và qua rồi. Cho nên điều điện
hạ, người cai trị, đang đọc chỉ là cặn và bã của họ thôi!' Ông ấy đang nói 'Tôi
còn sống, tôi biết mẹo về nó, dầu vậy tôi không thể truyền đạt được nó, tôi
không thể truyền được tri thức của tôi. Và tôi đang sống và tôi biết, và tôi
yêu con tôi và tôi muốn.... Và tôi già thế, trong độ tuổi bẩy mươi rồi, và dầu
vậy tôi vẫn phải làm việc. Nếu tôi có thể dạy được cho con tôi, tôi sẽ về hưu.
Nhưng nếu trong khi tôi còn sống tôi không thể truyền đạt được nó, làm sao
những hiền nhân già này những người đã chết truyền đạt được cái gì đó mà chỉ có
thể được kinh nghiệm? Nó không thể được truyền đạt khi hiền nhân còn sống, vậy
làm sao nó được truyền đạt khi hiền nhân này đã qua đời từ nhiều thế kỉ rồi?
Điện hạ chỉ phí thời gian của mình, thưa điện hạ' ông ấy nói. 'Đây toàn là rác
rưởi.' Ông già này là con người của Đạo. Đạo nhân có chuyện ngụ ngôn hay như
thế này: một người thường, người nghèo, người làm bánh xe - không ai biết về
người đó, nhưng người đó có sáng suốt. Toàn thể cách tiếp cận của Đạo giáo là ở
chỗ chỉ kinh nghiệm mới có thể cho bạn manh mối. Câu hỏi có thể được hỏi, câu
hỏi có thể được trả lời, nhưng chúng không có giá trị tối thượng. Bạn phải ăn
để biết hương vị, bạn phải yêu để biết tình yêu là gì. Không có cách nào truyền
đạt nó, đó là tại sao, thay vì trả lời, Liệt Tử nói 'Tốt nhất là tĩnh lặng...'.
Vâng, giá trị không phải là cái tên cho nó.
Tĩnh lặng đi. Và ông ấy ngụ ý gì bởi "Tĩnh lặng đi"? Bạn liên tục vẩn
vơ, bạn chưa bao giờ tĩnh lặng. Ngay cả khi bạn ngồi như tượng bạn vẫn đang vẩn
vơ. Tâm trí bạn liên tục chạy theo mọi hướng, ngọn lửa bên trong của bạn chưa
bao giờ không chập chờn. Nó liên tục đi sang bên này, bên kia; qua ham muốn này
hay ham muốn khác, bạn đang bị kéo và đẩy. Khi không có ham muốn - thậm chí
không muốn đạt tới Thượng đế, thế thì người ta tĩnh lặng. Khi mọi ham muốn bị
phủ định, đó là nghĩa của qua phủ định. Khi tất cả ham muốn bị phủ định, đột
nhiên bạn tĩnh lặng. Không đâu mà đi, không đâu mà chuyển. Không gió thổi. Ham
muốn là gió cứ thổi bên trong bạn và giữ ngọn lửa bên trong bạn chập chờn, đó
là lí do tại sao bạn không tĩnh lặng. Ngay cả trong giấc ngủ bạn cũng không
tĩnh lặng. Ngay cả khi bạn ngồi trong thiền, im lặng đấy, bạn không tĩnh lặng.
Mới hôm nọ ai đó đã hỏi: 'Trong thiền ý nghĩ
không dừng lại, chúng tiếp tục - thực ra, chúng tới nhiều hơn.' Khi bạn bị dính
líu vào cuộc sống bình thường, thường ngày, chúng không tới nhiều thế - bạn bị
dính líu, tham gia. Nhưng khi bạn ngồi, không làm gì, thế thì toàn thể năng
lượng của bạn đi vào trong ý nghĩ. Thế thì cơn bão lớn nảy sinh trong bản thể
bạn: ý nghĩ và ý nghĩ, và thỉnh thoảng bạn thậm chí không thể tin được cái kiểu
ý nghĩ gì! Kí ức của quá khứ: ba mươi năm trước cái gì đó đã xảy ra, đột nhiên
nó bật ra. Hay ý nghĩ về tương lai: vợ bạn có thể thậm chí không mang thai và
bạn bắt đầu nghĩ 'Khi nào con được sinh ra, chúng ta cho nó tới đại học nào?'
Những điều không thể được cứ kéo bạn, đẩy bạn, và bạn biết rằng điều này là vô
nghĩa. Nhiều lần bạn nhận ra và muốn vứt bỏ nó, nhưng bạn đơn giản cảm thấy bất
lực.
Ý nghĩ không thể bị dừng lại một cách trực
tiếp - để điều đó được hiểu rất sâu sắc. Để điều đó chìm vào trong bản thể bạn:
Ý nghĩ không thể được dừng lại một cách trực tiếp bởi vì ý nghĩ không là gì
ngoài kẻ hầu của ham muốn. Khi ham muốn có đó, bạn không thể dừng được ý nghĩ.
Người chủ có đó kẻ hầu nhất định phải theo sau. Bạn muốn dừng ý nghĩ này. Điều
này là ngu xuẩn, đần độn: vợ bạn thậm chí không mang thai, và bạn đang nghĩ về
đứa con đã trở nên lớn và sắp vào đại học - cho nó tới đại học nào - Cambridge
hay Oxford? Và bạn phân vân thế - cho nó đi đâu? Trường nào sẽ là tốt nhất? Và
đột nhiên bạn nhận ra: Vô nghĩa làm sao! Thật là đần độn. Thế thì sao nó nảy
sinh?
Vấn đề không phải là bản thân ý nghĩ. Bạn có
ham muốn, bạn có tham vọng; nhiều điều vẫn còn không được hoàn thành trong bạn
- bạn muốn hoàn thành chúng qua con bạn. Đứa con không là gì ngoài việc nhân
cách hoá cho tham vọng của bạn. Bạn muốn tới Oxford và bạn không thể đi được;
bạn muốn đi dưới dạng của con bạn - đó là lí do tại sao ý tưởng này đã nảy
sinh, ý nghĩ này đã nảy sinh. Ba mươi năm đã trôi qua và cái gì đó đột nhiên
trồi lên bề mặt. Không cái gì đột nhiên cả, không cái gì là vô nguyên nhân
trong tâm trí. Nếu nó nảy sinh, điều đó nghĩa là cái gì đó có đó trong nó; bạn
không thể đơn giản gọi nó là ngu xuẩn và vứt nó đi được. Ba mươi năm trước ai
đó đã xúc phạm bạn và nó vẫn còn xanh; vết thương vẫn còn đau. Ngồi im lặng,
vết thương đi lên bề mặt. Bị bận bịu trong cả nghìn lẻ một thứ của thế giới bạn
quên mất về nó. Nhưng khi bạn không bận, vết thương mở ra; vết thương bắt đầu
cho bạn thông điệp: 'Làm cái gì đó về tôi đi. Tôi vẫn còn xanh đây. Tôi còn
chưa được lành. Làm cái gì đó về tôi!' Bao nhiêu lần vết thương này đã tự lộ nó
ra cho bạn, và bao nhiêu lần bạn đã quyết định báo thù hay làm cái gì đó? Và nó
cứ tới lặp đi lặp lại, và dầu vậy bạn có ham muốn để báo thù kẻ thù đã xúc phạm
bạn.
Vấn đề không phải là ý nghĩ, vấn đề là ham
muốn. Cứ phân tích ý nghĩ của bạn và bạn bao giờ cũng thấy rằng ý nghĩ là kẻ
hầu, và ẩn đâu đó là ông chủ, được bảo vệ bởi kẻ hầu. Giết chết ông chủ và kẻ
hầu biến mất. Cứ giết kẻ hầu và chẳng cái gì sẽ xảy ra - ông chủ sẽ cứ đem kẻ
hầu mới tới. Khi ông chủ còn sống, ông ta sẽ cứ đem kẻ hầu mới tới; bạn có thể
cứ giết kẻ cũ, ông ta sẽ cung cấp kẻ mới. Ý nghĩ không bao giờ dừng theo cách
riêng của nó. Chúng dừng lại chỉ khi tâm trí ham muốn biến mất. Đó là nghĩa của
'Tốt nhất là tĩnh lặng...'. Đó là cách nói của Đạo nhân: Vô ham muốn đi. Do đó
họ nói: Ngay cả ham muốn biết Thượng đế, đạt tới Thượng đế, là rào chắn. Chỉ
tĩnh lặng, không ham muốn, cứ dường như không cái gì phải được làm, cứ dường
như không cái gì sẽ xảy ra. Tuyệt đối vô vọng, bởi vì hi vọng không là gì ngoài
cái tên mới cho ham muốn. Hi vọng là cái tên đẹp cho ham muốn. Ham muốn như cái
tên có chút ít xấu, ham muốn có chút ít trần truồng, loã lồ. Hi vọng là ham
muốn được mặc quần áo.
Vô hi vọng đi. Chẳng cái gì sẽ xảy ra đâu.
Chẳng cái gì đã bao giờ xảy ra. Không có tương lai, cho nên vứt mọi tham vọng.
Chỉ khoảnh khắc này tồn tại, cho nên đừng chạy xô đi đây đó; điều đó là vô
nghĩa, nó là thần kinh, nó là điên khùng. Chỉ thảnh thơi trong khoảnh khắc này,
chỉ hiện hữu. Đó là nghĩa của 'Tốt nhất là tĩnh lặng...'. Và khác biệt này phải
được hiểu. Nếu bạn đi tới thầy Yoga ông ấy sẽ bảo bạn cách tĩnh lặng. Ông ấy sẽ
bảo bạn tư thế nào sẽ giúp bạn tĩnh lặng, cách thở, theo nhịp điệu nào tĩnh
lặng sẽ dễ dàng hơn, liệu nhắm mắt hoàn toàn hay chỉ nhìn vào chỏm mũi bạn. Ông
ấy sẽ cho bạn chỉ dẫn, hướng dẫn, ông ấy sẽ cung cấp cho bạn bản đồ. Đạo nhân
không có bản đồ nào. Họ nói: Nếu ông thử tư thế đặc thù và ông nhìn vào mũi ông
và ông thở theo cách nào đó, ông sẽ áp đặt tĩnh lặng nào đó mà không thực. Nó
được luyện tập, nó là thứ được thực hành, nó là giả.
Tĩnh lặng thực chẳng liên quan gì tới bất kì
thực hành nào. Tĩnh lặng thực không tới từ bài tập. Tĩnh lặng thực tới từ hiểu
biết rằng ham muốn là vô tích sự. Cố hiểu điều này. Trong Đạo không có bài tập.
Họ không có gì giống như Yoga sutras của Patanjali Họ không có 'tám bờ của
Yoga'. Họ không bảo bạn tư thế nào, kỉ luật nào, kiểu đạo đức nào... ăn gì,
không ăn gì, khi nào đi ngủ và thức dậy buổi sáng. Họ không bảo bạn cái gì, bởi
vì họ nói tất cả những điều này có thể cho bạn kinh nghiệm sai về tĩnh lặng;
chúng có thể áp đặt nó. Và điều này phải được hiểu. Khi bạn ngồi theo tư thế
nào đó bạn có thể giúp cho tâm trí trở nên tĩnh lặng thêm chút ít. Nếu thân thể
là hoàn toàn tĩnh lặng, tâm trí trở nên tĩnh lặng chút ít bởi vì tâm trí và
thân thể không phải là hai thứ; phân chia là không rõ ràng. Tâm trí và thân thể
được nối với nhau. Thay vì nói bạn là tâm trí và thân thể, bạn là tâm-thân: một
từ thôi. Từ 'và' là không đúng - bỏ nó đi: 'tâm-thân', 'tâm thân'. Tâm trí là
thân thể bên trong nhất của bạn và thân thể là tâm trí bên ngoài nhất của bạn.
Cho nên khi thân thể tĩnh lặng, một cách tự nhiên rung động nào đó của tĩnh
lặng đạt tới tâm trí bên trong nhất: nó tạo ra cơ sở vật lí và bạn cảm thấy
tĩnh lặng chút ít.
Thử nó theo cách khác nào đó. Khi bạn giận
bạn làm gì? Bạn nghiến răng, bạn siết chặt nắm đấm. Tại sao? Bạn không thể chỉ
giận mà không nghiến răng và siết nắm đấm sao? Một hôm này đó thử: cứ giận mà
không siết nắm đấm, không nghiến răng. Vẫn còn được thảnh thơi trong thân thể
và thử giận xem, và bạn sẽ thấy điều đó là không thể được. Làm sao bạn có thể
giận được nếu bạn không có sự giúp đỡ của thân thể? Và thế rồi một ngày nào đó
bạn thử: không giận gì, siết nắm đấm và nghiến răng - chỉ biểu lộ cử chỉ của
giận, và đột nhiên bạn sẽ thấy một loại giận dữ nào đó nảy sinh trong bạn. Bạn
có thể trở nên giận dữ chỉ bởi việc tạo ra - đó là điều diễn viên làm. Diễn
viên phải hành động trong khoảnh khắc khi người đó có thể không cảm thấy giận
dữ và người đó phải giận dữ. Người đó được giả định làm gì? Người đó sẽ làm
phần thân thể, và phần tâm trí nấn ná với nó. Người đó không cảm thấy hạnh
phúc, nhưng người đó phải làm về phần thân thể; người đó biểu lộ hạnh phúc, và
một loại hạnh phúc đi theo sau lưng nó.
Thân thể và tâm trí đi cùng nhau. Đạo nhân
nói điều này phải được hiểu, bằng không bạn sẽ tạo ra tĩnh lặng giả. Tĩnh lặng
được tạo ra bởi tư thế thân thể không phải là tĩnh lặng thực; nó là thủ đoạn.
Nó gần như hoá chất như khi bạn uống thuốc an thần; nó là thuốc. Nếu bạn cứ
nhịn ăn bạn sẽ cảm thấy rất yên tĩnh bởi vì hoá chất của thân thể thay đổi:
thân thể có ít việc phải làm, được nhiều thảnh thơi hơn; dạ dầy không có gì để
làm, được nhiều thảnh thơi hơn. Và khi dạ dầy không có gì để làm, nhiều năng
lượng hơn được thoát ra từ dạ dầy hướng tới đầu. Điều đó bạn biết. Khi bạn ăn
quá nhiều, đột nhiên bạn bắt đầu cảm thấy buồn ngủ bởi vì dạ dầy lấy mọi năng
lượng có thể để tiêu hoá thức ăn. Cái đầu không rất quan trọng - nó là thứ xa
hoa - cho nên khi dạ dầy cần năng lượng, năng lượng đi tới dạ dầy và lập tức
phải rời khỏi đầu. Đó là lí do tại sao bạn bắt đầu cảm thấy buồn ngủ và mắt bắt
đầu nhắm lại và bạn bắt đầu ngáp: điều đó đơn giản nói rằng năng lượng đã bị
lấy khỏi đầu tới dạ dầy. Bạn rơi vào giấc ngủ. Bạn có quan sát không? Khi bạn
không ăn ngon, ngủ tới khó, bởi vì khi dạ dầy không có gì để làm, năng lượng
được thoát ra. Lập tức năng lượng đi lên đầu và ở đó nó bắt đầu làm việc và
tưởng tượng và suy nghĩ.
Cho nên khi một người nhịn ăn, sau ba, bốn
ngày người đó cảm thấy rất yên tĩnh. Nhưng đây là thay đổi hoá học, nó không
phải là yên tĩnh thực. Cho người đó thức ăn và nó sẽ biến mất. Cho nên đây là
kiểu thay đổi gì vậy? Nếu một người cứ nhịn ăn trong nhiều ngày người đó sẽ cảm
thấy không dâm dục nào đó nổi lên trong người đó, brahmacharya. Cái đó là giả
bởi vì thức ăn phải cung cấp năng lượng dục. Nếu thức ăn không được cho thân
thể, năng lượng dục không được tạo ra, năng lượng dục biến mất. Sau ba tuần
nhịn ăn, đàn ông sẽ không quan tâm tới đàn bà và đàn bà sẽ không quan tâm tới
đàn ông. Đó là điều đã lừa nhiều người tôn giáo. Thế thì họ nghĩ họ đã đạt tới
brahmacharya. Đây không phải là brahmacharya - nó là một loại bất lực. Họ đã
mất khí lực, họ đã mất sinh khí.
Và khi họ trở nên sợ thức ăn, thế thì họ
không thể ăn tốt, bởi vì khoảnh khắc họ ăn tốt, lập tức năng lượng được cung
cấp cho cơ quan dục và dâm dục lại nảy sinh. Đạo là cách tiếp cận khác toàn bộ.
Nó không nói trau dồi, nó nói hiểu biết. ' Tốt nhất là tĩnh lặng...' Qua hiểu
biết. Qua nhận biết. '…Tốt nhất là trống rỗng. Trong tĩnh lặng và trống rỗng,
Chúng ta thấy nơi trú ngụ...' Trong trống rỗng và tĩnh lặng.... Trống rỗng là
gì? Trống rỗng nghĩa là bạn không có. Bình thường ý tưởng rằng bạn không là gì
ngoài tích luỹ của mọi hành động của bạn. Bạn đã làm điều này, bạn đã làm điều
kia, bạn đã được giải thưởng, bạn đã trở nên thành công trong kinh doanh, bạn
có số dư ngân hàng lớn, bạn nổi tiếng, bạn là tác giả của nhiều sách; bạn đã
làm nhiều thứ. Những thứ đó gắn cùng nhau làm cho bạn thành ai đó. Trống rỗng
nghĩa là: Vứt bỏ mọi cái bạn đã làm, quên mọi cái bạn đã làm. Quên quá khứ,
chính bởi vì quá khức mà bạn cảm thấy rằng bạn là ai đó. Nghĩ mà xem. Nếu quá
khứ của bạn có thể đơn giản bị tẩy đi chính khoảnh khắc này, bạn sẽ là ai? Nếu
chính khoảnh khắc này, bằng phép màu nào đó, quá khứ của bạn có thể bị bỏ đi,
bạn sẽ là ai? Bạn sẽ không biết bạn là ai. Cho nên bất kì cái gì là bạn, đều là
quá khứ của bạn. Và bởi trống rỗng Đạo nhân ngụ ý: vứt bỏ quá khứ. Đó là điều
tôi ngụ ý khi tôi cho bạn tính chất sannyas.
Bạn hỏi tôi 'Tính chất sannyas là gì?' Nó có
cả nghìn lẻ một nghĩa. Một trong các nghĩa quan trọng nhất là vứt bỏ quá khứ,
thoát ra khỏi quá khứ riêng của bạn như con rắn tuồn ra khỏi bộ da cũ. Quên quá
khứ, bắt đầu mới, được tái sinh - do đó có cái tên mới, bởi vì với cái tên cũ
quá khứ được liên kết; do đó có mầu sắc mới, vì với quần áo cũ quá khứ được
liên kết. Bạn đã không quan sát sao? Khi bạn mặc quần áo theo cách nào đó, bạn
cư xử theo cách nào đó; khi bạn mặc quần áo nào đó bạn bước đi theo cách nào
đó.
Không nước nào đã cho phép quân lính của mình
được dùng quần áo chùng bởi vì mặc quần áo chùng và đánh nhau là mâu thuẫn. Chỉ
các sannyasins, fakirs, đã dùng quần áo chùng vì họ không đánh nhau. Người lính
phải mặc quần áo chật, chật tới mức anh ta muốn nhảy ra khỏi nó, chật tới mức
anh tra trở nên giận tới mức anh ta sẽ muốn nghiền nát đầu ai đó; chật tới mức
anh ta không thể thoải mái - bất ổn. Điều đó tạo ra bạo hành. Bạn có thể thấy,
bạn có thể đi - Poona là doanh trại quân sự - bạn có thể đi. Họ không cho phép
lính tráng của họ tới đây; họ có lệnh: Không bao giờ tới gặp Đạo tràng Rajneesh.
Vài người tới - họ tới như kẻ trộm. Và tôi hiểu. Họ là đúng, bởi vì nếu bạn tới
đây bạn sẽ không là lính, bạn sẽ trở thành sannyasin và đây là mâu thuẫn. Họ là
đúng, những người đã ra lệnh từ Delhi là đúng, bởi vì đây là thế giới khác toàn
bộ. Tôi đang dạy bạn chùng lỏng và họ đang dạy bạn phải chặt. Bạn càng bồn chồn
căng thẳng, bạn càng sẽ là người lính tốt hơn - nguy hiểm hơn, tất nhiên, bởi
vì bạn sẵn sàng bùng nổ bất kì lúc nào. Bạn có thể tới doanh trại quân sự, bạn
có thể thấy họ ăn vận trong quần áo không thoải mái thế nào. Điều đó là cần
thiết. Nếu họ mà thoải mái họ sẽ thảnh thơi và đi ngủ. Họ phải bị giữ trong dồn
nén, và dồn nén bên trong của họ đưa tới trạng thái rối loạn mà họ sẽ muốn ném
nó lên bất kì ai.
Đổi quần áo của bạn, đổi tên của bạn, chỉ là
một cử chỉ: rằng bạn bị ngắt ra khỏi quá khứ của bạn. Một khi bạn được ngắt ra
khỏi quá khứ của bạn, bạn là trống rỗng. Thế thì bạn không biết bạn là ai, bởi
vì mọi ý tưởng rằng bạn có bản thân bạn tới từ quá khứ, do quá khứ tạo ra.
Thiền về sự kiện này đi. Nếu quá khứ không có đó, bạn là ai? Shree Ramana hay
bảo đệ tử của ông ấy thiền chỉ một điều: Tôi là ai? Nếu bạn cứ thiền về câu mật
chú đơn giản này: Tôi là ai? sớm hay muộn bạn sẽ hiểu rằng bạn không là thân
thể. Bạn không là thân thể, bạn không là tâm trí; không phải là con ai đó,
không là bố ai đó; không giầu, không nghèo. Bạn là không ai cả. Ngày bạn trở
thành cái không bạn đã đi tới biết bạn là ai. Bạn là cái không đó. '... tốt
nhất là trống rỗng. Trong tĩnh lặng và trống rỗng, Chúng ta thấy nơi trú ngụ;
Trong trống rỗng là nhà bạn. Bạn trở thành ngôi đền, điện thờ. Trong trống rỗng
đó bùng cháy ngọn lửa của tâm thức bạn, và ngọn lửa đó là của Thượng đế, của
Đạo. Đây là qua phủ định. Lấy và cho, Chúng ta mất chỗ đó.'
Khoảnh khắc bạn bắt đầu nghĩ tới lấy và cho -
làm cái này, không làm cái nọ, quan hệ, kết nối, với mọi người - bạn làm mất
chỗ của bạn, bạn làm mất ngọn lửa bên trong của bạn, bạn làm mất tiếp xúc bên
trong của bạn. Điều này chỉ là vậy lúc ban đầu. Liệt Tử đang nói tới người hỏi
mới vì người đó nói điều này. Ban đầu điều đó sẽ xảy ra. Bất kì khi nào bạn một
mình, tĩnh lặng, im lặng, đột nhiên bạn sẽ được định tâm, tiếp đất; bạn sẽ cảm
thấy vui vẻ vô cùng của việc không hiện hữu, của việc là không ai cả. Cái không
của bạn sẽ chói sáng, nó sẽ đầy ánh sáng, hương thơm, phúc lành và cái đẹp.
Nhưng lúc ban đầu nó sẽ xảy ra lặp đi lặp lại rằng khoảnh khắc bạn có quan hệ
với ai đó nó sẽ bị mất; bạn sẽ làm mất không gian bên trong của bạn. Nguy hiểm
là ở chỗ bạn có thể trở nên sợ đặt quan hệ. Lúc ban đầu sợ là đúng, nhưng nếu
nó trở thành thói quen và sợ trở nên ăn sâu, thế thì nó là nguy hiểm. Nguy hiểm
đó xảy ra trong quá khứ ở phương Đông. Nhiều người trở nên sợ quan hệ: Phật tử
trốn khỏi cuộc sống, Đạo nhân trốn lên Himalayas hay lên núi để cho không ở
trong tiếp xúc bởi vì, Lấy và cho, Chúng ta mất chỗ đó.'
Nhưng điều đó không phải là nghĩa của Liệt
Tử. Ông ấy nói: Vâng, lấy và cho, khi chúng ta đi tới bãi chợ, thiền bị mất.
Thế thì, đầu tiên đạt tới thiền, thế rồi đi lại nữa và trở nên ngày một tỉnh
táo hơn, để cho bạn có thể có khả năng một ngày nào đó có quan hệ và vẫn còn
một mình cùng nhau; ở trong bãi chợ và vậy mà không ở đó; ở trong đám đông và
vậy mà vẫn một mình. Điều đó là cao nhất. Điều đó không thể được nói cho đệ tử.
Điều đó xảy ra chỉ khi người ta đã trở thành Thầy.
Với đệ tử này, Liệt Tử nói: Thế thì ông sẽ
biết ông là ai, và thế thì đột nhiên ông sẽ thấy rằng cứ lấy và cho ông mất đi
mất lại. Ông được, thế rồi khoảnh khắc đó ông kết nối, quan hệ - trong mối quan
hệ với vợ, với chồng, với con, chợ, khách hàng, ông chủ - bạn làm mất nó. Điều
đó lặp đi lặp lại; bất kì khi nào bạn thấy có thời gian, lại nối bản thân bạn
với bản thân bạn. Dần dần, dần dần... chậm rãi, một ngày nào đó bạn sẽ thấy bạn
có thể đứng ở bãi chợ và bạn vẫn còn một mình và im lặng như ở bất kì chỗ nào
khác. Thế thì bạn đã trở thành hoa sen: bạn ở trong nước và nước không chạm vào
bạn.
Đầu tiên phát triển, tiến hoá sunya - số
không, cái trống rỗng và thế rồi đem nó vào thế giới. Bạn sẽ mất đi mất lại nó,
điều đó đúng, nhưng bởi vì điều đó đừng cố chạy trốn khỏi thế giới, đừng trở
thành kẻ trốn chạy. Điều đó là thách thức. Và đỉnh cao nhất được đạt tới chỉ
khi không ai có thể quấy rầy không gian bên trong của bạn - không người nào,
không tình huống nào, có thể quấy rối nó. Thế thì lần đầu tiên bạn đã trở thành
người sở hữu nó. Thế thì bạn là người sở hữu và bạn bị nó sở hữu. Thế thì nó là
của bạn, thực sự của bạn. Nhưng nếu cái gì đó có thể lấy nó đi, thế thì nó vẫn
không là của bạn một cách toàn bộ. Bạn đã chạm tới nó, nhưng bạn còn chưa là
người sở hữu. Tôi muốn kể cho bạn một giai thoại:
Ở một nước xa, có một nhà phát minh tài tình
sống, người đã hơi gàn gàn chuyên sửa vụng ti vi. Trong quá trình thực nghiệm
của mình anh ta đã làm ra một loại gương tâm trí, mà anh ta gọi là kính tâm lí,
qua đó một người có thể nhìn thấy cái ta tâm trí của mình rõ ràng như người đó
có thể thấy thân thể vật lí của mình nhìn trong gương. Sau khi công cụ này được
làm hoàn hảo, một công ti đã tổ chức chế tạo nó, và cả nước tràn ngập với quảng
cáo về nó. Nhà máy này sớm bị ngập với đơn đặt hàng. Vợ mua chúng về cho chồng
họ - xin nhớ cho, vợ mua chúng cho chồng họ, và chồng mua chúng cho vợ họ và bố
mẹ vợ chồng. Bố mẹ mua chúng cho con cái họ, và ngay cả trẻ con cũng mua chúng
cho bố mẹ chúng. Người chủ đặt chúng với số lượng lớn cho nhân viên của họ.
Người ta biết, hay có thể đấy chỉ là tin đồn, rằng duy nhất một cá nhân rất chu
đáo trong cả nước, chuyện nói là vậy, đã thú nhận mua một chiếc cho việc dùng
riêng của ông ấy. Nhà phát minh hãnh diện thấy bản thân mình có nhiều; hàng
triệu thiết bị này đã được bán.
Thế rồi, với sự đột nhiên tương đương, số bán
sụt xuống, và hiện tại rớt xuống số không. Các nhà nghiên cứu được phái đi để
sục sạo cả nước đã báo cáo rằng các hiệu cầm đồ bị tràn ngập với kính tâm lí,
trong khi hàng nghìn chiếc bị vỡ, hay được tìm thấy một cách huyền bí trong các
thùng rác. Trong tuyệt vọng nhà phát minh tự đặt cho mình một nhiệm vụ mới. Ông
ta đảo ngược nguyên lí của thiết bị này theo cách nó sẽ lí tưởng hoá cái ta
được phản xạ. Trong nó cá nhân thấy bản thân người đó không như người đó vậy,
nà như người đó muốn dường như lỗi của người đó được mạ vàng và nhuộm màu hoa
hồng, và cái xấu của họ được đánh bóng bằng hồn nhiên. Đến cuối năm, người ta
nói vậy, công ti tuyên bố tiền lãi năm mươi phần trăm.
Phần lớn trong chúng ta không muốn thấy bản
thân mình như chúng ta vậy, không muốn lấy cái nhìn thứ hai vào trong gương tâm
trí. Nhưng người sẽ xác nhận cho chúng ta trong ảo tưởng yêu thích chúng ta ấp
ủ trong bản thân mình, có thể có bất kì cái gì chúng ta có. Nhớ lấy, là trống
rỗng là đi vào trong không gian nơi bạn sẽ thấy bản thân mình như bạn vậy. Đó
là lí do tại sao mọi người sợ: họ không muốn đi vào trong không gian bên trong
đó. Họ có hình ảnh lí tưởng của họ, tự nhận thức về bản thân của họ, cái đẹp,
được trang điểm. Họ sợ rằng nếu họ đi vào, những hình ảnh đó sẽ rơi mất - chúng
nhất định rơi và biến mất bởi vì chúng là giả và chúng không thể là thực tại
được. Do đó không ai đi vào trong. Mọi Thầy của thế gian, dù trên con đường của
qua khẳng định hay trên con đường của qua phủ định, mọi Thầy đều nhấn mạnh vào
một điều: rằng bạn phải đi tới thực tại của bạn như bạn vậy. Nhưng không ai
nghe theo họ. Ngay cả khi mọi người muốn biết họ là ai, họ thực sự hi vọng rằng
họ sẽ là cùng cái ta đó mà họ phóng chiếu. Một khi họ bắt đầu làm việc điều đó
trở thành khó - cái xấu nảy sinh; cái bẩn thỉu, giận dữ kinh khủng, hận thù,
ghen tị, được cảm thấy. Toàn thể địa ngục phá vỡ mở ra và người ta trở nên sợ
và người ta xô ra và lại níu bám vào cái ta lí tưởng. Điều đó là rẻ.
Nhớ lấy, người ta phải biết bản thân mình như
cái một vậy. Vứt mọi lí tưởng của bạn đi. Chúng là đẹp, nhưng chúng độc hại;
chúng là ảo tưởng. Chừng nào bạn còn chưa bỏ các lí tưởng của bạn về bản thân
bạn, những hình ảnh bạn đã tạo ra từ sự bất lực của bạn để che giấu, để đeo mặt
nạ, cho thực tại của bạn.... Vứt những mặt nạ đó đi, tĩnh lặng, trống rỗng, và
nhìn vào trong bản thể của bạn - dù nó là bất kì cái gì. Lúc ban đầu nó sẽ gần
như là một kinh nghiệm về địa ngục, nhưng điều đó là cái giá chúng ta phải trả.
Nếu bạn đủ dũng cảm và nếu bạn có thể gìn giữ, chẳng mấy chốc địa ngục biến
mất, mây qua đi, và ánh mặt trời chiếu sáng trên trời không mây. Thế thì bạn đã
đi tới thiên đường bên trong của bạn.
Địa ngục và cõi trời cả hai đều ở bên trong.
Địa ngục là chu vi của bạn, cõi trời là chính trung tâm của bạn. Bạn là trung
tâm của cơn xoáy lốc. Đạo nói rằng không cái gì thực sự phải được làm. Người ta
chỉ phải xuyên thấu vào bản thể riêng của người ta. Tôi đã bắt gặp một chuyện
ngụ ngôn rất hay. Chuyện ngụ ngôn này là của Ken Reed. Lắng nghe nó rất chăm
chú và thiền về nó.
Ngày xưa có một hiền nhân rất đáng tôn kính
và trí huệ. Từ đầu này của đất nước tới đầu kia, những người có học bắt đầu
nghe nói về hiền nhân già này và chẳng mấy chốc nhiều người tìm tới xem nét mặt
của trí huệ của ông ấy. Nhưng im lặng vẫn còn với hiền nhân đó dù mọi người tới
với những câu hỏi. Thay vì thế, với chiếc quyền trượng trúc ông ấy vẽ ra trên
đất những lời này: 'Người có mãn nguyện trong tim thấy điều tốt ở mọi nơi và
mọi lúc.' Hay thỉnh thoảng ông ấy viết: 'Nơi bất mãn tồn tại, mọi nỗ lực là
rỗng tuếch.' Hay đôi khi: 'Im lặng, tĩnh lặng và ông sẽ biết.'
Nhưng những người tới thăm dường như không
được thoả mãn bởi những câu trả lời này. Chúng quá khó hiểu và không hướng dẫn
nào được cho - không bản đồ nào được chuyển giao. Và họ không thể nào hiểu nổi
tại sao hiền nhân này từ chối trả lời họ một cách trực tiếp. Và tại sao? Chắc
chắn ông ấy biết câu trả lời, nhưng tại sao ông ấy đã chọn việc vạch lên cát
những tiếng bi bô như thế? Các hiền nhân khác cho lời khuyên và con đường được
định sẵn, và nói về khổ hạnh cần được gìn giữ, tại sao người này không thế?
Buổi thuyết giảng ông ấy không thể nghe được bằng tai, hay thấy được bằng mắt.
Ông ấy là nhà huyền môn thực sự. Ông ấy không
phải là nhà khổ hạnh, ông ấy không có bài tập cho bạn, nhưng duy nhất hiểu biết
- hiểu biết im lặng, việc truyền trao bên ngoài kinh sách. Vậy mà nó được viết
ra như trong bữa tiệc của Christ, một thanh niên xuất hiện. Anh ta không mang
cây quyền trượng nào, không cuộn giấy trí huệ nào, không câu hỏi nào trên lưỡi
anh ta. Duy nhất, trong mắt anh ta có chủ định và đam mê lớn lao. Anh ta bước
thẳng tới hiền nhân này. Không ngồi, dừng lại, không phủ phục bản thân mình như
những người khác đã làm, anh ta nhìn chằm chằm vào khuôn mặt cổ đại và lặng lẽ
không một lời. Và ngay lúc đó, trước sự ngỡ ngàng của những người khác anh ta
lấy chiếc quyền trượng từ tay của hiền nhân và vẽ lên đất bụi những lời này: 'Làm
sao sự sáng ngời của ông xua tan đi bóng tối?'
Một cách kiên nhẫn hiền nhân này lấy lại
chiếc quyền trượng và vạch dưới câu hỏi của anh thanh niên: 'Bóng tối nào? Ông
có bị lạc trong bóng tối không?' Với điều đó người hành hương trẻ phản đối lại:
'Bị lạc, lạc đường sao? Bị lạc thực sự là bị lạc sao?' Hiền nhân im lặng suy tư
về khuôn mặt của người hành hương trẻ một lúc và rồi ông ta vẽ ra trên đất
những lời này: 'Chỉ bị quên mất.' Tiếng cười ầm ĩ lan ra từ những người đã tụ
tập, và hiền nhân này xoá đi điều ông ấy đã viết và viết lại: 'Ham muốn nào đem
anh tới đây?' Những con mắt háo hức quan sát những bàn tay trao đổi quyền
trượng: 'Ham muốn...? Tôi không có.' Quan sát người hành hương kĩ lưỡng, hiền
nhân lấy chiếc quyền trượng, dướn chân lên, duỗi thẳng chân phải ra, gõ vào nó
ba lần, rồi trở nên tĩnh lặng như tiếng thì thào của những người xem. Và rồi
thì vị khách thăm trẻ phá vỡ im lặng của mình và hỏi 'Sao ông làm điều đó?'
Hiền nhân nhanh chóng vạch ra: 'Tò mò là một dạng của ham muốn.' Chiếc quyền trượng
được trao đi đổi lại liên tục cho tới khi người hành hương thất vọng kêu lên
với đầu nhọn của cây quyền trượng: 'Người ta nói rằng có câu mật chú thiêng mà
người ta có thể đọc sẽ nối người đó với vũ trụ thành một.' Hiền nhân nhanh
chóng lại vạch ra: 'Anh đã bao giờ ở ngoài vũ trụ chưa?' Và với điều đó, hiền
nhân già nhanh chóng nâng chiếc quyền trượng lên và thọc xuống đầu người tìm
kiếm, đưa anh ta vào cơn mê phúc lạc sâu. Nhiều ngày trôi qua. Và vào thời đó
người hành hương trẻ thực sự bắt đầu thưởng thức vị ngọt ngào của hiền nhân vĩ
đại, khi anh ta buông xuôi trước ông ấy. Không một lần nào anh ta hỏi trong sự
hiện diện này, và tình yêu không thể dò được đã lớn lên giữa họ. Nhưng vào ngày
thứ ba, hiền nhân phá vỡ nhiều năm im lặng của ông ấy. 'Vậy là ông cuối cùng đã
tới!' giọng nói khàn khàn vang lên.
Anh thanh niên không đáp lại, nhưng nhìn sâu
vào trong mắt hiền nhân một lúc, rồi lần nữa lại lấy cây quyền trượng khỏi bàn
tay xương xẩu già lão, viết: 'Chỉ được nhớ.' Không cái gì khác có đó để được làm.
Bạn đã quên bạn là ai. Điều duy nhất phải được làm là ở chỗ bạn phải nhớ bạn là
ai. Quên lãng là thế giới, nhớ lại là Thượng đế. Quên là bị lạc. Nhớ là trở về
nhà.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment