Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 2)
Chương
9. Gieo mầm phúc lạc
Thỉnh
thoảng người ngu láu lỉnh nếm đồ ngọt, ngọt như mật.
nhưng
đến cuối nó biến thành đắng. Và người đó chịu đắng làm sao!
Người
ngu có thể nhịn ăn vài tháng,
ăn
từ đầu nhành cỏ.
Dầu
vậy người đó không đáng một xu bên cạnh thầy có thức ăn là con đường.
Sữa
tươi cần thời gian để chua. Láu lỉnh của người ngu cũng vậy cần thời gian để bắt
vào người đó.
Giống
như than hồng của lửa
nó
cháy âm ỉ bên trong người đó.
Bất
kì điều gì người ngu học,
điều
đó chỉ làm cho người đó mụ mị hơn. Tri thức dính đầu người đó.
Với
điều đó người ấy muốn thừa nhận. vị trí trước mọi người khác.
vị
trí trên mọi người khác.
"Để
họ biết công việc của ta,
để
mọi người nhìn ta xin chỉ dẫn." Ham muốn của người đó là vậy,
tự
hào thổi phồng của người đó là vậy.
Một
đường đưa tới giàu có và tiếng tăm,
Đường
kia đi tới chấm dứt con đường này.
Đừng
tìm thừa nhận
mà
đi theo người đã thức tỉnh
và
làm cho bản thân ông được tự do.
Lời
cuối cùng của Phật Gautama trên thế gian là: Là ánh sáng lên bản thân ông đi. Đừng
đi theo người khác, đừng bắt chước, bởi vì bắt chước, đi theo, tạo ra ngu xuẩn.
Bạn được sinh ra với khả năng vô cùng về thông minh. Bạn được sinh cùng với ánh
sáng bên trong bạn. Lắng nghe tiếng nói tĩnh lặng, nhỏ bé ở bên trong, và cái
đó sẽ hướng dẫn bạn. Không ai khác có thể hướng dẫn được bạn, không ai khác có
thể trở thành mô hình cho cuộc sống của bạn, bởi vì bạn là duy nhất. Không ai
đã từng hiện hữu đích xác giống như bạn, và không ai sẽ lại đích xác giống bạn.
Đây là vinh quang của bạn, vĩ đại của bạn - rằng bạn là hoàn toàn không thể
thay thế được, rằng bạn chỉ là bản thân bạn và không là ai khác.
Người
đi theo người khác trở thành giả, người đó trở thành rởm, người đó trở thành
máy móc. Người đó có thể là thánh nhân lớn trong mắt người khác, nhưng sâu bên
dưới, người đó đơn giản không thông minh và chẳng có gì khác. Người đó có thể
có tính cách rất đáng kính nhưng đó chỉ là bề mặt, nó thậm chí không sâu hơn
làn da. Cào vào người đó một chút và bạn sẽ ngạc nhiên rằng bên trong người đó
là một người hoàn toàn khác, chính cái đối lập với vẻ ngoài của người đó.
Bằng
việc theo người khác bạn có thể trau dồi một tính cách đẹp, nhưng bạn không thể
có tâm thức đẹp, và chừng nào bạn chưa có tâm thức đẹp bạn chẳng thể nào tự do.
Bạn có thể cứ thay đổi các nhà tù của mình, bạn có thể cứ thay đổi tù túng của
mình, cảnh nô lệ của mình. Bạn có thể là người Hindu giáo hay người Mô ha mét
giáo hay người Ki tô giáo hay người Jaina giáo - điều đó sẽ không giúp được bạn.
Là người Jaina giáo nghĩa là đi theo Mahavira như mô hình. Bây giờ, không có ai
giống Mahavira hay có thể bao giờ giống thế. Đi theo Mahavira bạn sẽ trở thành
thực thể giả. Bạn sẽ làm mất đi mọi thực tại, bạn sẽ mất đi mọi chân thực, bạn
sẽ không thực là bản thân bạn. Bạn sẽ trở thành nhân tạo, phi tự nhiên và là
nhân tạo, là phi tự nhiên là con đường của người tầm thường, kẻ ngu, kẻ khờ.
Phật
định nghĩa trí huệ là sống theo ánh sáng của tâm thức riêng của bạn, và ngu xuẩn
là đi theo người khác, bắt chước người khác, trở thành cái bóng của ai đó khác.
Thầy
thực tạo ra thầy, không tạo ra tín đồ. Thầy thực ném bạn trở lại bản thân bạn.
Toàn thể nỗ lực của thầy là để làm cho bạn độc lập với thầy, bởi vì bạn đã phụ
thuộc từ nhiều thế kỉ rồi, và điều đó chẳng dẫn bạn tới đâu. Bạn vẫn tiếp tục
dò dẫm trong đêm tối của linh hồn.
Chỉ
ánh sáng bên trong của bạn mới có thể trở thành bình minh. Thầy giả thuyết phục
bạn đi theo ông ta, bắt chước ông ta, chỉ là bản sao của ông ta. Thầy thực sẽ
không cho phép bạn được là bản sao, thầy muốn bạn là nguyên bản. Thầy yêu bạn!
Làm sao thầy có thể làm bạn thành người bắt chước được? Thầy có từ bi với bạn,
thầy muốn bạn hoàn toàn tự do - tự do với mọi phụ thuộc bên ngoài.
Nhưng
người thường không muốn được tự do. Người đó muốn phụ thuộc. Người đó muốn ai
đó khác hướng dẫn mình. Tại sao? - bởi vì thế thì người đó có thể đổ toàn bộ
trách nhiệm lên vai ai đó khác. Và bạn càng đổ trách nhiệm lên vai ai đó khác,
càng ít khả năng cho bạn trở nên thông minh. Chính trách nhiệm, thách thức của
trách nhiệm, cái đó tạo ra trí huệ.
Người
ta phải chấp nhận cuộc sống với mọi vấn đề của nó. Người ta phải đi qua cuộc sống
không được bảo vệ; người ta phải tìm và kiếm con đường của mình. Cuộc sống là
cơ hội, là thách thức để tìm ra bản thân bạn. Nhưng người ngu không muốn đi con
đường gian khó, người ngu chọn lối tắt. Người đó tự nhủ mình, "Phật đã đạt
tới - sao mình phải bận tâm? Mình sẽ chỉ quan sát hành vi của ông ấy rồi bắt
chước. Jesus đã đạt tới, sao mình phải tìm và kiếm? Mình có thể đơn giản trở
thành cái bóng của Jesus. Mình có thể đơn giản cứ đi theo ông ấy tới mọi nơi
ông ấy đi."
Nhưng
đi theo ai đó khác, làm sao bạn sẽ trở nên thông minh? Bạn sẽ không trao bất kì
cơ hội nào cho thông minh của bạn bùng nổ. Nó cần cuộc sống thách thức, cuộc sống
phiêu lưu, cuộc sống biết cách mạo hiểm và cách đi vào cái không biết, để thông
minh nảy sinh. Và chỉ thông minh mới có thể cứu được bạn - không ai khác -
thông minh của riêng bạn, lưu ý vào, nhận biết riêng của bạn, có thể trở thành
niết bàn của bạn.
Là
ánh sáng lên bản thân mình và bạn sẽ trí huệ; để người khác trở thành người
lãnh đạo bạn, người hướng dẫn bạn, và bạn sẽ vẫn còn ngu xuẩn, và bạn sẽ cứ bỏ
lỡ mọi kho báu của cuộc sống - cái vốn là của bạn! Và làm sao bạn có thể quyết
định được rằng tính cách của người khác là tính cách đúng để bạn theo?
Một
Phật sống theo cách riêng của mình, một Mahavira theo cách riêng của mình, một
Jesus lại khác. Một Mohammed là Mohammed, ông ấy không phải là Mahavira.
Bạn sẽ theo ai? Chỉ bởi ngẫu nhiên của việc sinh thành mà bạn quyết định cuộc sống
của mình, định mệnh của mình sao? Thế thì bạn sẽ vẫn còn ngẫu nhiên. Và người
ngu là có tính ngẫu nhiên. Người trí huệ không bao giờ sống theo ngẫu nhiên.
Người đó không trở thành người Hindu bởi vì được sinh ra trong gia đình Hindu;
người đó không trở thành người Ki tô giáo bởi vì bố mẹ người đó là người Ki tô
giáo; người đó không trở thành người cộng sản bởi vì người đó được sinh ra ở
Nga. Người đó tìm kiếm, người đó truy tìm.
Cuộc
sống là cuộc hành hương cực kì đẹp đẽ, nhưng chỉ dành cho những người sẵn sàng
tìm và kiếm.
Jesus
nói: Tìm và ông sẽ thấy; hỏi và điều đó sẽ được trao cho ông; gõ cửa và cửa sẽ
mở ra cho ông.
Ông
ấy không nói: Đi theo, bắt chước. Ông ấy không nói: Là người Ki tô giáo và cửa
sẽ mở ra cho ông. Ông ấy không nói: Ta đã gõ cửa và đã mở chúng cho ông. Ông ấy
nói: Gõ cửa và cửa sẽ mở ra cho ông. Và mọi người đều phải gõ cửa, bởi vì mọi
người đều phải đi vào bằng các cánh cửa khác nhau. Mọi người duy nhất thế, mọi
người là các cá nhân.
Đây
là vinh quang của bạn. Đừng phủ nhận nó; bằng không bạn sẽ vẫn còn là kẻ ngu.
Điều đó không có nghĩa là không học từ chư phật, những người đã thức tỉnh - học
chứ! Thấm đẫm tinh thần này! Uống dòng suối của họ, dòng suối tươi mát của vui
vẻ. Ở trong cùng nhóm của họ, trở nên hoà đồng với âm nhạc bên trong của họ, lắng
nghe hài hoà của họ, và được tràn ngập với vui vẻ lớn lao rằng một người như bạn,
hệt như bạn, đã đạt tới, cho nên bạn cũng có thể đạt tới. Trở nên được xúc động
rằng một người như bạn, làm bằng xương bằng máu, đã trở nên chứng ngộ, cho nên
bạn cũng có thể trở nên chứng ngộ.
Vị
phật phải không được theo sau mà phải được hiểu. Vị phật phải không bị bắt chước
mà được lắng nghe - lắng nghe cái im lặng, tình yêu, tin cậy vô cùng. Và bạn
càng hiểu nhiều về vị phật, bạn sẽ càng cảm thấy ông ấy đang nói không từ bên
ngoài mà từ bên trong, từ chính cốt lõi của bản thể bạn. Ông ấy là tấm gương phản
xạ khuôn mặt nguyên bản của bạn - nhưng ông ấy chỉ là gương. Mọi thầy vĩ đại đều
là những tấm gương, họ phản xạ khuôn mặt nguyên thuỷ của bạn. Nhưng đừng níu
bám lấy gương. Gương không phải là khuôn mặt bạn!
Những
lời kinh này của Phật có giá trị mênh mông. Đi vào chúng theo cách có tính thiền.
Và khi tôi nói đi vào chúng có tính thiền, tôi ngụ ý không ở trong tâm trạng
tranh cãi - đó không phải là cách lắng nghe. Trong tâm trạng cảm nhận, mang nữ
tính. Đừng đề phòng, đừng có tính phòng thủ. Đừng ẩn giấu đằng sau áo giáp. Đừng
đem tâm trí của bạn vào để diễn giải điều được nói. Gạt tâm trí sang bên và để
cho trái tim nhảy múa với những lời kinh này. Đó là điều tôi ngụ ý khi tôi nói
lắng nghe có tính thiền. Để cho trái tim hân hoan. Và trong việc hân hoan đó là
một loại hiểu biết khác toàn bộ - không từ trí tuệ mà từ thông minh.
Bạn
sẽ không trở thành thông thái nếu bạn lắng nghe từ trái tim; bạn sẽ trở thành
ngày một trí huệ hơn. Nếu bạn lắng nghe từ cái đầu, ngay chỗ đầu tiên việc nghe
của bạn sẽ bị bóp méo bởi vì mọi định kiến của bạn sẽ trở nên bị xoắn xuýt với
nó, và tất cả những kết luận suy diễn của bạn sẽ là sao lãng, và tâm trí bạn sẽ
cho màu sắc của nó vào điều được nói với bạn. Ngay chỗ đầu tiên bạn sẽ không lắng
nghe điều được nói; tâm trí bạn sẽ gây ra nhiều tiếng ồn và bạn sẽ nghe theo tiếng
ồn của riêng mình. Điều thứ hai, bất kì điều gì bạn thu thập sẽ trở thành tri
thức, không phải trí huệ. Tri thức là nông cạn, nó không đi sâu, nó không thể
đi sâu được. Tri thức là cách thức che giấu dốt nát của bạn, nó không phá huỷ dốt
nát. Trí huệ là ánh sáng, nó xua tan bóng tối.
Nhưng
trí huệ bao giờ cũng là của trái tim, nhớ lấy, nó không bao giờ là của cái đầu.
Khi bạn tới vị phật, quên tất cả về cái đầu của bạn đi. Đó là cách tiếp cận
hoàn toàn khác tới bản thể bạn - qua trái tim. Lắng nghe nhịp đập của trái tim,
trở nên đồng điệu - dường như bạn đang lắng nghe âm nhạc vĩ đại. Nó là âm nhạc
vĩ đại; thực ra còn có thể có âm nhạc nào vĩ đại hơn?
Những
lời kinh này là thơ ca vĩ đại nhất, thơ ca của bản thể tối thượng. Những lời
kinh này là hoa sen, được sinh ra trong hồ tâm thức của người đã thức tỉnh. Lắng
nghe chăm chú, có tính thiền, yêu mến, trong tin cậy sâu sắc, và bạn sẽ được
phúc lành mênh mông, được ân huệ.
Lời
kinh thứ nhất:
Thỉnh
thoảng người ngu láu lỉnh nếm đồ ngọt, ngọt như mật.
nhưng
đến cuối nó biến thành đắng. Và người đó chịu đắng làm sao!
Có
một câu chuyện cách ngôn Phật giáo nổi tiếng.
Phật
thích kể đi kể lại nó mãi:
Một
người bị kẻ thù của mình săn đuổi. Họ tới ngày một gần hơn; anh ta có thể nghe
thấy âm thanh của vó ngựa mỗi lúc một tới gần hơn mọi khoảnh khắc. Đó là cái chết!
Và dường như không có cách nào để trốn thoát cả, bởi vì anh ta đã tới đường cụt,
đường hết. Anh ta đang đối diện với một vực thẳm lớn. Nếu nhảy xuống anh ta nhất
định chết. Anh ta không thể quay lại bởi vì kẻ thù sẽ giết chết anh ta. Anh
đang hi vọng rằng có thể có cơ hội nếu anh ta nhảy - anh ta có thể bị què,
nhưng có thể, nhờ phép mầu, anh ta có thể sống sót - nhưng điều đó nữa dường
như cũng là không thể được bởi vì anh ta thấy sâu dưới vực thẳm hai con
sư tử đang nhìn lên anh ta, sẵn sàng ăn sống nuốt tươi anh ta.
Chẳng
tìm thấy đường nào khác - không thể quay lại, không thể tiến lên trước - anh ta
treo mình trên rễ của một cái cây, ở ngay chính giữa. Đó là buổi sáng lạnh lẽo,
tay anh ta trở nên lạnh cóng. Anh ta biết trong vòng vài phút nữa mình sẽ không
thể có khả năng giữ chiếc rễ chút nào nữa; tay anh ta đang tuột dần ra, anh ta
đang mất dần việc nắm giữ. Anh ta biết cái chết đang trở nên chắc chắn hơn mọi
khoảnh khắc.
Và
thế rồi anh ta thấy rằng hai con chuột, một trắng một đen, đang ăn chiếc rễ, gặm
mòn chiếc rễ. Hai con chuột đó đại diện cho ngày và đêm - chúng đại diện cho thời
gian, cái đang cắt đi gốc rễ cuộc sống của mọi người. Ngày và đêm, cái chết
đang tới gần hơn. Cho nên bây giờ sự việc trở thành tuyệt đối rõ ràng hơn rằng
vấn đề chỉ là vài khoảnh khắc nữa thôi và anh ta sẽ đi đời. Cái rễ đang trở nên
yếu hơn mỗi khoảnh khắc, mỏng hơn mọi khoảnh khắc. Chuột vẫn cần mẫn làm việc;
tay anh ta ngày một cóng dại hơn và anh ta có thể nghe thấy tiếng sư tử gầm sâu
trong thung lũng và anh ta có thể nghe thấy kẻ thù đang mỗi lúc một gần hơn. Bạn
có thể hiểu hoàn cảnh tuyệt vọng của người đó.
Và
thế rồi đột nhiên anh ta thấy rằng ngay trên ngọn cây có một tổ ong, và một giọt
mật tuột xuống từ chiếc tổ này. Anh ta quên phắt tất cả về kẻ thù, tất cả về sư
tử gầm, chuột trắng và chuột đen, đôi bàn tay anh ta đang tê cóng - trong một
khoảnh khắc, anh ta hoàn toàn quên mất mọi thứ. Toàn thể tâm trí anh ta bị hội
tụ vào giọt mật đó. Anh ta há mồm, giọt mật rơi vào lưỡi anh ta... và nó ngọt
thế.
Đây
là tình huống của người ngu. Đây là tình huống của mọi người trên trái đất.
Vị nó ngọt làm sao! Nhưng vị này có thể còn được bao lâu? Chẳng mấy chốc cái chết
sẽ tới từ mọi hướng. Nhưng đó là cách chúng ta cứ sống - sống cho những thú vui
nhất thời, những mê đắm, thức ăn, dục, tiền, quyền, danh... toàn những giọt mật
ong. Vị nó ngọt làm sao, và trong khoảnh khắc đó chúng ta hoàn toàn quên mất điều
sắp xảy ra. Khoảnh khắc này chiếm lĩnh chúng ta và chúng ta trở nên quên lãng
thực tại của cuộc sống: rằng nó được bắt rễ vào cái chết, rằng nó sắp sửa biến
mất.
Phật
nói: Thỉnh thoảng người ngu láu lỉnh nếm đồ ngọt, ngọt như mật. Nhưng đến cuối
nó biến thành đắng. Và người đó phải chịu đắng làm sao!
Quan
sát bản thân bạn đi. Bạn đang làm gì ở đây trên thế gian này? Bạn đã làm gì mãi
cho tới nay? Cuộc sống của bạn bao gồm những cái gì? Bạn đã làm gì thực sự là thật,
hay bạn chỉ sống trong mơ? Bạn đã tiếp cận tới cái vĩnh hằng theo cách nào
chưa? Hay bạn quá bận tâm với cái nhất thời? Bạn đã làm kế hoạch nào, dự án
nào, cho chân lí tối thượng? Hay bạn vẫn còn say sưa với cái trần tục, với cái
bình thường, đi vào cùng đường mòn mọi ngày, chuyển vào cùng đường mọi ngày?
Sáng đến và bạn xô ra bãi chợ, và tối đến và bạn mệt lử và bạn về nhà... và
cùng cái vòng đó cứ chuyển động, cùng cái bánh xe ấy. Và điều này đã tiếp diễn
và tiếp diễn trong nhiều kiếp rồi. Khi nào bạn sẽ trở nên chán nó? Khi nào bạn
sẽ trở nên tỉnh táo hơn một chút về điều bạn đang làm cho cuộc sống của mình?
Đây là lãng phí cực kì.
Nhưng
Phật nói: Chắc chắn, có vị ngọt nào đó, nhất thời, và người ta chịu khổ cho vị
ngọt đó. Điều không tránh khỏi là nó biến thành đắng. Quan sát cuộc sống của bạn
đi. Bạn có thể kiếm nhiều tiền, và trong khi bạn kiếm tiền nó có vị ngọt. Nhưng
bạn không nhận biết rằng bạn đang đánh mất đi cuộc sống của mình trong việc kiếm
những thứ rác rưởi, rằng cuộc sống đang tuột khỏi tay bạn, rằng nó là chuyện rất
tốn kém mà bạn theo đuổi, hoàn toàn ngu xuẩn, đần độn.
Cuộc
sống không thể được mang trở lại; ngay cả một khoảnh khắc cũng không thể được
mang lại, bằng mọi của cải của bạn, bạn có thể mua lại được không? Nó không thể
được đòi lại. Thời gian quí giá như vậy đang bị phí hoài! Bạn đang chất đống của
cải mà sẽ bị cái chết lấy đi, và bạn sẽ ra đi tay trắng... tay trắng như khi bạn
đã tới thế gian. Thế rồi bạn sẽ cảm thấy cay đắng về nó, rằng bạn đã phí hoài
toàn thể cuộc sống của mình vì cái gì đó sẽ không đi cùng bạn. Bạn đã phí hoài
toàn thể cuộc sống của mình vì cái gì đó sẽ không là của bạn. Bạn đã phí hoài
toàn thể cuộc sống trong quyền lực, chính trị; bạn đã phí hoài toàn thể cuộc sống
của mình trong việc trở nên đáng kính, và bây giờ cái chết đã tới và tất cả sẽ
bị lấy đi. Và bạn đã không nếm trải được một khoảnh khắc của thực tại vĩnh hằng
của bạn - bạn đã không nếm trải cái gì bất tử.
Đây
là điều Phật gọi là cách tiếp cận của người ngu tới cuộc sống. Mọi thứ đều biến
thành đắng: tình yêu của bạn, tình bạn của bạn, gia đình bạn, công việc của bạn,
chính trị của bạn... mọi thứ, chung cuộc, đều chứng tỏ là độc, biến thành đắng.
Người trí huệ sẽ trở nên nhận biết trong khi vẫn còn thời gian và cái gì đó có
thể được làm.
Người
ngu có thể nhịn ăn vài tháng,
ăn
từ đầu nhành cỏ.
Dầu
vậy người đó không đáng một xu bên cạnh thầy có thức ăn là con đường.
Phật
không nói trở thành người khổ hạnh. Phật không nói từ bỏ thế giới, từ bỏ thức
ăn, bỏ đói bản thân bạn, nhịn ăn, hành hạ thân thể bạn - ông ấy không nói điều
đó. Ông ấy không thể nói điều đó được. Ông ấy đã học được bài học, một bài học
lớn bằng việc tự mình thực hiện tất cả những điều này.
Khi
ông ấy rời bỏ cung điện của mình ông ấy đã theo con đường truyền thống trong
sáu năm, hành hạ bản thân mình, nhịn ăn, phá huỷ thân thể mình. Ông ấy đã đi tới
điểm ông ấy ở ngay bên bờ vực cái chết - ông ấy đã tự hành hạ bản thân mình quá
nhiều. Trong khoảnh khắc đó ông ấy đã trở nên nhận biết, "Mình đang làm
gì? Trước hết mình đã mê đắm, cả ngày và đêm đều dành cho mê đắm: đàn bà, rượu,
đồ ăn ngon, quần áo, cung điện, xe vàng, đi săn... Đó đã là cuộc sống của mình,
cuộc sống của hoàng tử. Mình đã làm cái gì đó được chứng tỏ là vô tích sự."
Ông
ấy chỉ mới hai mươi chín tuổi khi ông ấy rời bỏ cung điện - phải đã là một con
người có thông minh lớn lao. Có những người đến bẩy mươi tuổi hay bẩy mươi chín
tuổi và họ vẫn chưa trở nên nhận biết về cái ngu xuẩn của các kiếp sống của họ.
Ông ấy chỉ mới hai mươi chín. Phải là một con người của sáng suốt hiếm hoi. Phải
đã quan sát, nhìn vào điều mình đã làm, thiền về mọi thứ. Đột nhiên ông ấy trở
nên nhận biết, "Toàn thể điều này đều là rác rưởi - mọi đàn bà này, mọi rượu
này, đi săn này, tất cả những thứ mê đắm này đều không cho ta cái gì vĩnh hằng."
Phương
Đông bao giờ cũng đi tìm cái vĩnh hằng. Định nghĩa về chân lí ở phương Đông là:
cái có tính vĩnh hằng. Và định nghĩa về phi chân lí? - cái có tính nhất thời.
Khi các nhà huyền môn phương Đông nói rằng cái gì đó là ảo tưởng, họ ngụ ý nó
là nhất thời. Họ không ngụ ý rằng nó không có, họ biết nó có, nhưng chỉ trong một
khoảnh khắc thôi, như bong bóng xà phòng. Nó có! Và đôi khi bong bóng xà phòng
có thể trông thực sự đẹp. Nếu ánh mặt trời xuyên qua nó, nó có thể được bao
quanh bởi cầu vồng, đủ mọi mầu sắc. Bong bóng xà phòng có đó, nhưng hiện hữu của
nó nhất thời, lừa dối đến mức tốt hơn cả là nói rằng nó không có; do đó các nhà
huyền môn phương Đông nói thế giới là maya - ảo vọng. Không phải là nó không có
đó, nhưng nó nhất thời tới mức gần như vô nghĩa dù nó có hay không. Tốt hơn cả
là gọi nó là ảo tưởng, bởi vì điều đó sẽ làm cho bạn tỉnh táo, thức tỉnh.
Hai
mươi chín năm đó là đủ để làm cho ông ấy nhận biết rằng ông ấy đã chơi với bong
bóng xà phòng. Ông ấy đã trốn đi, ông ấy đã từ bỏ vương quốc. Nhưng như điều đó
gần như bao giờ cũng xảy ra, tâm trí đi vào cái đối lập. Tâm trí giống như quả
lắc đồng hồ cổ: đi từ phải qua trái, từ trái qua phải - sang cái đối lập. Nó
không bao giờ dừng ở giữa. Và ở giữa là bí mật. Nếu con lắc dừng ở giữa, đồng hồ
dừng lại, thời gian dừng lại, thế giới dừng lại. Nhưng quả lắc cứ đi từ trái
qua phải, từ phải qua trái, và nó giữ cho đồng hồ chạy - nó giữ cho thời gian sống.
Và thời gian là thế giới.
Vượt
ra ngoài thời gian là biết cái gì đó bất tử; do đó, ở Ấn Độ, với thời gian và
cái chết chúng ta dùng cùng một từ, kal - cùng một từ cho thời gian và cùng một
từ cho cái chết. Điều đó không phải là trùng hợp ngẫu nhiên, nó có ý nghĩa. Thời
gian là cái chết, bởi vì trong thời gian mọi thứ đều nhất thời, mọi thứ đều sẽ
chết. Một khoảnh khắc nó có đó, khoảnh khắc khác nó qua rồi, và qua mãi mãi.
Khoảnh khắc bạn vượt ra ngoài thời gian, bạn vượt ra ngoài cả cái chết.
Nhưng
cũng như tâm trí vận hành - nó chuyển sang cái đối lập - tâm trí của Phật cũng
đi sang cái đối lập. Ông ấy đã trốn khỏi cung điện. Mãi cho tới nay ông ấy đã
chăm nom thân thể mình; bây giờ ông ấy bắt đầu hành hạ thân thể. Mãi cho tới
nay ông ấy đã quá bị ám ảnh với thức ăn ngon; bây giờ ông ấy bắt đầu nhịn ăn,
nhịn dài ngày. Ông ấy trở thành nhà khổ hạnh nổi tiếng. Mọi người bắt đầu kính
trọng ông ấy, mọi người bắt đầu theo ông ấy. Ông ấy là một người đẹp, một trong
những người đẹp nhất đã từng bước đi trên trái đất này, nhưng sáu năm tự hành hạ
mình và tự bạo này đã phá huỷ thân thể ông ấy. Ông ấy đã trở nên ngăm đen, ông ấy
đã trở nên gầy còm, ông ấy đã trở nên xấu xí.
Nhưng
rồi một hôm một sáng suốt lớn lao đã nảy sinh trong ông ấy, "Mình đang làm
gì? Trước hết mình đã bị ám ảnh bởi thức ăn, bây giờ mình bị ám ảnh bởi nhịn ăn
- về cơ bản mình vẫn bị ám ảnh bởi thức ăn. Trước hết nó là ám ảnh tích cực,
bây giờ nó là ám ảnh tiêu cực. Nhưng mình đã không thay đổi lấy tí ti nào. Trước
hết mình đã bị ám ảnh với đàn bà, bây giờ mình bị ám ảnh bởi brahmacharya - vô
dục. Về cơ bản mình đã không thay đổi - mình vẫn bị ám ảnh với dục. Trước hết
mình đã chạy tới dục, bây giờ mình chạy xa khỏi dục, nhưng dục vẫn còn là trung
tâm của con người mình."
Khải
lộ này thật lớn lao. Chính khải lộ đó đã tạo ra hoàn cảnh trong đó ông ấy đã trở
nên chứng ngộ. Buổi tối ông ấy hiểu ra điều này, cái gì đó cực kì quan trọng đã
xảy ra cho ông ấy. Ông ấy đã cười vào toàn bộ cái lố bịch của tâm trí mình. Ông
ấy đã cười vào cái tâm trí thủ đoạn đó - điều ông ấy nghĩ rằng ông ấy đã chống
tâm trí, nhưng ông ấy không chống tâm trí – tâm trí đã giở thủ đoạn. Tâm trí đã
phỉnh ông ấy, tâm trí đã lừa ông ấy. Tâm trí đã tới theo lối cửa sau. Trước
tiên nó tới theo lối cửa trước, bây giờ nó tới từ cửa sau, và khi nó tới từ cửa
sau thì còn nguy hiểm hơn. Theo đường cửa trước ít nhất bạn cũng nhận biết về
điều mình đang làm. Khi nó tới từ cửa sau, một cách gián tiếp, theo cách tinh
vi, ẩn giấu, nó tới ẩn sau cái mẽ ngoài.
Tâm
trí tinh ranh tới mức nó có thể ẩn nấp trong cái vỏ ngoài của chính cái đối lập
của nó. Từ mê đắm nó có thể trở thành khổ hạnh, từ việc là người duy vật nó có
thể trở thành người tâm linh, từ việc trong thế giới này nó có thể trở thành thế
giới khác. Nhưng tâm trí là tâm trí - dù bạn ủng hộ thế giới hay chống thế giới
bạn vẫn còn bị giam hãm trong tâm trí. Ủng hộ hay chống đối, cả hai đều là những
bộ phận của tâm trí.
Khi
tâm trí biến mất, tâm trí biến mất trong nhận biết vô chọn lựa, khi bạn dừng việc
chọn lựa, khi bạn không ủng hộ không chống đối - điều đó là dừng ở giữa. Chọn lựa
này dẫn sang trái, cực đoan này; chọn lựa kia dẫn sang phải, cực đoan kia. Nếu
bạn không chọn lựa, bạn đích xác ở giữa. Đó là thảnh thơi, đó là nghỉ ngơi. Đó
là từ bỏ đúng. Nó không đối lập với thế giới, nó không đối lập với thân thể, nó
chẳng liên quan gì tới thân thể. Nó là việc thức tỉnh cực kì của tâm thức. Bạn
trở thành vô chọn lựa, không bị ám ảnh, và trong trạng thái không bị ám ảnh đó,
tâm thức vô chọn lựa, thông minh nảy sinh, cái đã từng nằm sâu, ngủ bên trong bản
thể bạn. Bạn trở thành ánh sáng lên bản thân mình. Bạn không còn là người ngu nữa.
Từ
mê đắm bạn có thể đi vào kìm nén; điều đó chẳng có ích gì. Đó là nơi mọi tôn
giáo đã móc vào.
Xơ
trưởng bị cướp vào buổi tối khi từ ngân hàng trở về, nơi bà ấy vừa gửi số tiền
từ thiện quyên góp được trong tuần. "Cậu chỉ làm phí thời gian của mình
thôi, anh bạn trẻ," bà ấy nói với tên cướp. "Tôi chẳng có tiền. Tôi
đã để tất cả tiền ở chỗ gửi đêm trong ngân hàng rồi."
"Chúng
ta sẽ xem về điều đó," nó nói một cách dứt khoát, và bắt đầu sờ soạng xuống
dưới áo choàng của bà ta để tìm tiền.
"Ô!
Cậu làm gì thế?" bà ta kêu lên. "Ô! Ô! Ô Jesus, Mary! Đừng dừng bây
giờ - tôi sẽ viết cho cậu séc!"
Kìm
nén không phải là con đường, không thể là con đường được. Tất cả những điều bạn
đã kìm nén đều chờ đợi cơ hội của nó. Nó đơn giản đi vào trong vô thức - nó có
thể quay lại vào bất kì khoảnh khắc nào. Bất kì khêu gợi nào và nó sẽ trồi lên
bề mặt. Bạn không tự do với nó. Kìm nén không phải là con đường tới tự do. Kìm
nén là loại tù túng còn tồi tệ hơn mê đắm, bởi vì qua mê đắm người ta trở nên mệt
mỏi sớm hay muộn, nhưng qua kìm nén người ta chưa bao giờ trở nên mệt mỏi.
Thấy
ra vấn đề đi: đam mê nhất định làm bạn mệt mỏi và làm bạn chán. Sớm hay muộn bạn
sẽ bắt đầu nghĩ tới cách gạt bỏ tất cả nó. Nhưng kìm nén sẽ giữ mọi thứ sống động.
Bởi vì bạn đã không sống, làm sao bạn có thể chán được? Bạn đã không sống, làm
sao bạn có thể ngán được? Bởi vì bạn đã không sống, sức hấp dẫn vẫn tiếp tục,
thôi miên vẫn tiếp tục; sâu bên dưới, nó chờ đợi.
Và
những người mê đắm là bình thường theo cách nào đó nếu so với người kìm nén;
người kìm nén trở thành bệnh hoạn. Người mê đắm ít nhất là tự nhiên - đó là
cách tự nhiên đã làm ra bạn - nhưng kìm nén là trở thành phi tự nhiên. Dễ dàng
đi từ tự nhiên thấp hơn lên tự nhiên cao hơn. Rất khó đi từ phi tự nhiên lên tự
nhiên cao hơn. Phật gọi chân lí tối thượng là "tự nhiên tối thượng" -
aes dhammo sanantano. Đây là tự nhiên tối thượng, luật tối thượng, ông ấy tuyên
bố. Luật tối thượng là gì? Cái vĩnh hằng, cái không chết, tâm thức thuần khiết.
Dễ
dàng đạt tới luật tối thượng này từ tự nhiên, bởi vì tự nhiên là thấp hơn nhưng
dầu vậy nó vẫn là tự nhiên. Và từ chỗ thấp hơn lên chỗ cao hơn bạn có thể bước
đi; chỗ thấp hơn có thể trở thành bàn đạp. Nhưng khoảnh khắc bạn trở thành phi
tự nhiên điều đó trở thành rất khó. Từ phi tự nhiên, không có đường đi tới tự
nhiên tối cao.
Do
đó, gợi ý của tôi là: nếu bạn định chọn lựa, chọn mê đắm thay vì kìm nén. Điều
tốt nhất là không chọn lựa, vẫn còn vô chọn lựa, hiện hữu chỉ là nhân chứng, để
nhìn bản năng của bạn, các ham muốn, và không bị đồng nhất với chúng, ủng hộ
hay chống đối. Điều tốt nhất chỉ là nhân chứng bởi vì trong việc chứng kiến,
trong ngọn lửa của việc chứng kiến, mọi ham muốn đều bị thiêu cháy - không chỉ
ham muốn, mà chính hạt mầm của ham muốn bị thiêu cháy. Người ta trở thành
nirbeej - vô hạt mầm.
Nhưng
đừng chọn cái tiêu cực. Một khi bạn trở nên kìm nén, bạn trở thành bệnh hoạn, bạn
ốm bệnh. Thực ra, chỉ những người bệnh hoạn mới trở nên quan tâm tới hệ thống
kìm nén các ý nghĩ.
Mọi
xơ trừ một xơ ở nữ tu viện Bỉ đều được phát hiện có thai ngay sau chiến tranh.
Hồng y giáo chủ tiến hành một cuộc điều tra cá nhân và biết rằng các ni cô này
tất cả đều đã bị lính Đức hiếp.
"Nhưng
sao họ không hiếp xơ?" ông ta hỏi một người gầy còm, nhỏ bé, xấu xí và
trông kinh tởm, người không có thai.
"Ai,
tôi á?" cô ấy nói. "Tôi đã cưỡng lại!"
Bệnh
hoạn cũng có thể tìm cách hợp lí hoá. Bạn biết chuyện ngụ ngôn cổ của Aesop chứ?
Cáo
nói, "Nho chua lắm," bởi vì cáo không thể với tới chùm nho được -
chúng quá cao. Cáo nhìn quanh, nó cố gắng vất vả để với lên, nhưng nho ở quá
cao, bên ngoài tầm với của nó. Nó nhìn quanh, chẳng có ai cả. Nó bỏ đi, nhưng một
con thỏ đã quan sát, ẩn nấp sau bụi cây. Và thỏ nói, "Chị cáo ơi, có chuyện
gì vậy? Chị không lấy được nho sao?"
Cáo
nói, "Không, vấn đề không phải là lấy nho - chúng chưa chín, chúng rất
chua."
Những
người không thể lấy được nho có thể hợp lí hoá rằng nho còn chua. Việc hợp lí
hoá này có thể lừa họ, nhưng làm sao chúng có thể lừa bạn được? Cáo biết hoàn
toàn rõ rằng nó không có khả năng với tới. Bây giờ, đó là việc hợp lí hoá, và
tâm trí rất láu lỉnh trong việc hợp lí hoá.
Jake
về nhà vào giữa chiều. Anh ta gặp vợ và con ngay tại cửa. Con anh ta kêu lên,
"Bố ơi, có ông ba bị trong buồng xép!"
Jake
chạy xô vào buồng nhỏ và đẩy tung cửa mở ra. Ở đó, lộn xộn trong đống áo choàng
là anh bạn đối tác của mình, Sam. "Sam," Jake gầm lên, "sao cậu
tới đây vào buổi chiều và làm cái quỉ gì doạ con tớ thế?"
Tâm
trí rất tinh ranh và láu lỉnh trong việc hợp lí hoá mọi thứ, trong việc tìm ra
cách thức và phương tiện. Tâm trí có thể gợi ý kìm nén với bạn rất dễ dàng, bởi
vì nếu bạn kìm nén thì bạn sẽ tiến xa trong quyền lực của tâm trí hơn nhiều khi
bạn trong cuộc sống của mê đắm. Và tâm trí sẽ có nắm giữ lên bạn mạnh hơn nhiều.
Phật
đã học điều đó qua kinh nghiệm riêng của mình - sáu năm của việc hành hạ lớn
lao. Với Phật thế giới đã đi vào một pha mới của tính tôn giáo. Trước Phật
không ai đã nói điều này: rằng kìm nén, khổ hạnh, nhịn ăn, hành hạ thân thể
mình, sẽ không ích lợi gì. Với Phật, nhân loại đã đi vào một pha mới, pha cao
hơn.
Phật
là cột mốc rất, rất có ý nghĩa trong tiến hoá của tâm thức con người, nhưng ông
ấy đã không được hiểu đúng, bởi vì lại những người diễn giải là những học giả
cũ, các bác học, tu sĩ. Họ diễn giải Phật theo cách mà... họ bắt đầu diễn giải
Phật gần như hoàn toàn chống kinh nghiệm riêng của ông ấy. Họ bắt đầu nói nhiều
về sáu năm này; kinh sách Phật giáo đầy những mô tả về sáu năm này. Và nếu bạn
đọc kinh sách Phật giáo bạn sẽ thấy rằng dường như là chính bởi vì sáu năm khổ
hạnh đó mà ông ấy đã đạt tới chứng ngộ. Nó không phải vậy. Không phải bởi sáu
năm khổ hạnh này mà ông ấy đã đạt tới chứng ngộ; ông ấy đã đạt tới chứng ngộ
vào ngày ông ấy vứt bỏ đi tất cả những khổ hạnh đó. Chính bởi việc vứt bỏ chúng
mà ông ấy mới đạt tới chứng ngộ, không phải bởi hoặc qua chúng.
Nhưng
nếu bạn đọc kinh sách, đặc biệt là kinh sách được viết ở Ấn Độ, bạn sẽ được cho
ấn tượng hoàn toàn sai. Họ làm cứ dường như Phật đã không đóng góp gì mới cho
tâm thức con người, cứ dường như ông ấy chỉ là một kiểu khổ hạnh cổ - có thể thông
minh hơn nhiều trong diễn đạt, thuyết phục hơn nhiều, logic, đi sâu hơn nhiều
vào sáng suốt của ông ấy, nhưng không cái gì mới cả. Đấy vẫn là cùng tôn giáo
cũ mà ông ấy đã đưa vào những từ mới, với logic mới; vẫn rượu cũ trong bình mới,
có vậy thôi. Đó là điều người Ấn Độ đã làm cho Phật giống vậy. Đó là xuyên tạc.
Phật không đại diện cho cái cũ. Ông ấy là bước đi ra ngoài cái cũ. Ông ấy là một
pha mới. Và cũng vì ông ấy đã lấy bước đi mới, một bước nữa là cần thiết. Hai
mươi nhăm thế kỉ đã qua rồi.
Công
xã mới của tôi sẽ là bước mới đó - một bước tiến thêm nữa trong tiến hoá nhân
loại, trong tâm thức con người.
Mặc
dầu Phật đã vứt bỏ khổ hạnh, ông ấy đã không nói nhiều để chống lại nó; ông ấy
không thể nói chống được, bởi vì ông ấy phải trao đổi với những người còn đầy
những học vấn cổ và ý thức hệ cổ điển.
Ông
ấy phải nói cho những người đã từng tuyệt đối không có khả năng hiểu nếu ông ấy
đã nói như tôi. Ngay cả tôi cũng không phải là hiểu được đối với mọi người. Hai
mươi nhăm thế kỉ đã qua và mọi người vẫn còn bị mắc kẹt. Rất hãn hữu tìm thấy một
người đương đại. Mọi người đều trong thế kỉ hai mươi, nhưng chỉ về mặt vật lí
thôi; về mặt tâm linh họ còn ở sau hàng nghìn năm. Phật thậm chí không thể làm
nỗ lực được. Ông ấy đã nói với những đệ tử gần gũi nhất, "Không phải là
qua khổ hạnh mà ta đã đạt tới. Ta đã đạt tới bằng việc vứt bỏ khổ hạnh - đó tất
cả đều là ngu xuẩn." Những lời kinh này được trao cho các đệ tử gần gũi nhất.
Ông
ấy nói: Người ngu có thể nhịn ăn vài tháng, ăn từ đầu nhành cỏ. Người đó không
đáng một xu bên cạnh thầy mà thức ăn là con đường.
Nếu
bạn thực sự muốn việc biến đổi, làm pháp thành thức ăn của bạn đi - để chính
con đường tới Thượng đế là thức ăn của bạn. Tự nuôi dưỡng bản thân bạn theo điều
đó đi! Jesus nói điều đó theo cách khác: Ăn ta đi! Ông ấy nói với các đệ tử của
mình: Uống ta đi! Hấp thu ta, tiêu hoá ta!
Phật
nói: ...thức ăn là con đường. Con đường nghĩa là pháp - dhamma, tôn giáo, luật
tối thượng, cái giữ cho toàn thể thế giới trong hài hoà. Người mà bắt đầu ăn từ
sự hài hoà này, người đó đạt tới - không phải bởi việc nhịn ăn. Không phải là bằng
việc nhịn ăn thức ăn thô, mà bằng việc ăn thức ăn tinh tế mà người ta đạt tới.
Vâng,
có thức ăn tinh tế sẵn có. Khi bạn nhìn vào bông hồng, quan sát đi. Để cái đẹp
của bông hồng được hấp thu vào trong bạn, và bạn sẽ cảm thấy được nuôi dưỡng. Bạn
đã không ăn bông hồng mà ăn cái gì đó tinh tế bao quanh bông hồng, hào quang của
bông hồng, điệu vũ của bông hồng trong gió, hương thơm vô hình. Bạn không cảm
thấy điều đó sao? Nhìn đoá hoa đẹp, bỗng nhiên bạn cảm thấy được bão hoà, được
mãn nguyện. Nhìn lên bầu trời đầy sao, bạn không cảm thấy được nuôi dưỡng sao?
Ngắm bình minh hay hoàng hôn, hay chỉ lắng nghe tiếng văng vẳng của chim cu cu,
một bài ca xa xôi, bạn không cảm thấy bản thân mình trở nên được tràn đầy cái
gì đó không biết sao...?
Thân
thể bạn cần thức ăn, linh hồn bạn cũng cần thức ăn. Thức ăn cho thân thể là
thô, hiển nhiên; thân thể là một phần của thế giới thô. Thức ăn tâm linh là vô
hình - trong âm nhạc, trong thơ ca, trong cái đẹp, trong điệu vũ, trong bài ca,
trong lời cầu nguyện, trong thiền... và bạn đi ngày một sâu hơn hướng tới việc
nuôi dưỡng tâm linh.
Phật
nói: Không phải bởi việc vứt bỏ thức ăn thô, bằng việc nhịn ăn, mà người ta đạt
tới, nhưng bằng việc ăn con đường. Một cách diễn đạt kì lạ - bằng việc ăn pháp.
Pháp là gì? Mới hôm nọ ai đó đã hỏi, "Thưa thầy kính yêu, tôi thích điều
đó khi thầy nói: Aes dhammo sanantano, nhưng điều đó đích xác nghĩa là
gì?" Nó nghĩa là hài hoà của sự tồn tại, nó nghĩa là giai điệu của sự tồn
tại, nó nghĩa là điệu vũ tối thượng đang diễn ra mãi. Nó nghĩa là lễ hội ở mọi
nơi. Cây cối đang mở hội và chim chóc và con vật và các dòng sống và núi non...
toàn thể vũ trụ này được tạo nên từ chất liệu gọi là phúc lạc.
Đó
là điều Phật ngụ ý khi ông ấy nói: Aes dhammo sanantano - đây là luật tối thượng,
không cạn.
Bạn
có thể cứ ăn mãi từ nó, nhưng bạn không thể làm cạn kiệt nó được. Và bạn càng
ăn nhiều, bạn sẽ càng có nhiều linh hồn. Bạn càng ăn nó nhiều, bạn càng trở
thành thiêng liêng hơn. Phật đang nói: ta không dạy nhịn ăn - ta dạy các ông
cách mê đắm mới, loại mê đắm cao hơn. Ông ấy không nói điều đó đích xác theo
cách đó, nhưng tôi đang nói điều đó. Tôi đang dạy bạn cách yêu cao hơn, cách
hân hoan cao hơn, cách nhảy múa cao hơn, cách hấp thu cao hơn năng lượng của
Thượng đế vào bản thân bạn - trở thành ngày một cảm nhận và nữ tính hơn để cho
bạn có thể thai nghén với Thượng đế.
Ông
ấy gọi người cứ nhịn ăn là ngu. Nhưng những người ngu đó được tôn thờ ở Ấn Độ,
và không chỉ ở Ấn Độ - gần như khắp trên thế giới. Thực ra, đại đa số đám đông
bao gồm những người ngu; do đó, bất kì khi nào người ngu bắt đầu đi theo con đường
mòn vết, vô giá trị, con đường truyền thống của đám đông, đám đông xúc động lắm.
Bản ngã của họ được thoả mãn lắm. Người này chứng minh rằng họ đã đúng, bố mẹ họ
đã đúng, di sản kế thừa của họ được chứng minh là đúng: "Nhìn đây, người
này đang nhịn ăn đấy!" Và người tâm linh bao giờ cũng nhịn ăn - đó là ý tưởng
của họ.
Vâng,
đôi khi chuyện xảy ra là người tâm linh đã nhịn ăn, nhưng lí do khác toàn bộ với
điều bạn nghĩ. Mahavira đã nhịn ăn, và đã nhịn trong mười hai năm, và nhịn những
thời kì lâu, dài. Người ta nói rằng trong mười hai năm đó ông ấy đã ăn chỉ
trong ba trăm sáu mươi lăm ngày - điều đó nghĩa là chỉ một năm. Một tháng ông ấy
nhịn ăn và ông ấy sẽ ăn trong một ngày; trong mười hai năm, một năm nghĩa là cứ
sau mười hai ngày ông ấy mới ăn một ngày - trung bình. Đó là cách nhịn ăn của
ông ấy.
Nhưng
Mahavira chưa bao giờ trở nên mệt mỏi và Phật đã trở nên mệt mỏi sau sáu năm. Vấn
đề là gì? Và ông ấy đã đạt tới cũng như Phật đã đạt tới. Phật đạt tới bởi việc
vứt bỏ nhịn ăn và khổ hạnh; Mahavira chưa bao giờ vứt bỏ nó. Bây giờ, cả hai
không thể đúng - và tôi nói với bạn cả hai đều đúng. Nhưng lí do khác biệt thế,
gần như không thể quan niệm nổi.
Việc
nhịn ăn của Mahavira có phẩm chất hoàn toàn khác. Ông ấy không phải là nhà khổ
hạnh, ông ấy không nhịn ăn - thực ra, ông ấy ăn nhiều Thượng đế tới mức ông ấy
không cảm thấy cần ăn. Linh hồn của ông ấy tràn đầy với năng lượng tinh tế đến
mức thân thể ông ấy cảm thấy được thoả mãn. Ông ấy không cảm thấy cần ăn. Thực
ra, nói rằng ông ấy nhịn ăn là không đúng. Nếu tôi được phép thì tôi sẽ nói:
ông ấy không thể ăn được. Và bạn đôi khi cũng đã quan sát điều đó.
Khi
tôi tới Pune, tôi hay ở chỗ Sohan, và cô ấy rất phân vân. Một hôm cô ấy hỏi
tôi, "Có chuyện gì vậy? Một hay hai lần một năm thầy mới tới Pune. Tôi đợi
cả năm trường - thầy sẽ tới, thầy sẽ tới - và thế rồi trong ba hay bốn ngày thầy
tới. Trong ba hay bốn ngày này tôi không thể ăn được chút nào. Cái gì là lí do
tại sao tôi không thể ăn được? Tôi không nhịn ăn," cô ấy bảo tôi.
"Tôi muốn ăn, nhưng tôi đơn giản không thể ăn được. Tôi cảm thấy no thế."
Tôi
bảo cô ấy, "Bất kì khi nào bạn cực kì hạnh phúc, bạn sẽ không có khả năng
ăn. Phúc lạc của bạn tràn đầy tới mức nó không để chỗ cho cảm giác thèm ăn, nó
không để chỗ trống trong bạn. Không chỉ linh hồn bạn tràn đầy, thân thể bạn bắt
đầu bị ảnh hưởng bởi linh hồn. Thân thể bạn là cái bóng của linh hồn bạn."
Bạn
sẽ ngạc nhiên: người khổ ăn nhiều hơn, người hạnh phúc ăn ít hơn. Người khổ cảm
thấy trống rỗng đến mức người đó muốn rót đầy bản thân mình, tống vào mình cái
gì đó này nọ. Người khổ cứ ăn mãi, người đó cứ tống vào bên trong cái này cái nọ.
Người đó cảm thấy hoàn toàn trống rỗng và thiếu đến mức người đó không biết phải
làm gì. Dường như dễ dàng đi tới tủ lạnh và ăn cái gì đó thêm nữa; có thể cái
đó sẽ cho bạn cảm giác no. Và chắc chắn điều đó cho cảm giác no, ở mức độ rất
thô.
Bây
giờ, nước Mĩ đang chịu đựng nhiều nhất việc ăn quá nhiều, và lí do là đơn giản:
Mĩ bây giờ đang chịu trống rỗng bên trong lớn lao. Lí do là tâm linh, do đó
không chế độ ăn kiêng nào có thể có ích. Và bạn có thể ăn kiêng được bao lâu? Bạn
có thể ăn kiêng trong vài ngày với sức mạnh ý chí lớn lao; bạn phải ép buộc bản
thân mình. Thế rồi sau vài ngày bạn trở nên mệt mỏi do phải nỗ lực và rồi bạn
nhảy trở về thức ăn với sự báo thù; và bạn sẽ tăng cân hơn là bạn đã làm mất
cân bằng ăn kiêng.
Ở
Mĩ đây là vấn đề. Ở mọi nước giầu điều này đang là vấn đề, bởi vì bạn có thức
ăn và bạn có sự trống rỗng cả hai đều sẵn đấy. Chỉ thức ăn là còn lại để rót đầy
vào bản thân bạn, dục còn lại để rót đầy vào bản thân bạn. Cứ mua đồ dùng mới,
đồ vật mới; nếu bạn không thể có gì khác ít nhất bạn có thể tích trữ đồ đạc. Bạn
có thể chất đầy nhà nếu bạn không thể chất đầy bản thân mình. Hệt như cách thay
thế cảm giác no đủ. Chính cái đối lập xảy ra khi bạn thực sự hạnh phúc, vui vẻ,
khi bạn đang bay, khi bạn cảm thấy vô trọng lượng.
Tôi
bảo Sohan, "Điều này hoàn toàn logic. Đây là nhịn ăn thực sự!"
Trong
tiếng Phạn, từ cho 'nhịn ăn' có cái đẹp của riêng nó. Từ tiếng Anh không có phẩm
chất đó. Từ tiếng Anh 'nhịn ăn' đơn giản nghĩa là để đói bằng ý chí. Từ tiếng
Phạn là upawas - nó nghĩa là 'ở gần với Thượng đế'. Theo từng chữ nó có nghĩa
là ở gần với Thượng đế; nó chẳng liên quan gì tới nhịn ăn. Nó ngụ ý ở gần Thượng
đế, tràn đầy Thượng đế, tới mức bạn quên mất tất cả về thân thể mình, tới mức bạn
quên mất tất cả về việc nuôi dưỡng thân thể mình. Bạn được nuôi dưỡng bằng thức
ăn vi tế, năng lượng vi tế tới mức nó cứ mưa rào lên bạn.
Mahavira
không nhịn ăn theo cùng cách như Phật đã nhịn; Mahavira đã ăn Thượng đế, và
Buddha đơn giản đã nhịn ăn. Việc nhịn ăn của Mahavira là upawas - ở gần Thượng
đế. Việc nhịn ăn của ông ấy là điều nó ngụ ý trong tiếng Phạn; việc nhịn ăn của
Phật là điều nó ngụ ý trong tiếng Anh - chỉ là bỏ đói. Do đó Mahavira đã đạt tới
mà không vứt bỏ nhịn ăn của mình. Đó không phải là nhịn ăn ngay chỗ đầu tiên -
không cần vứt bỏ nó. Phật đã phải vứt bỏ nó, đó chính là cái đối lập của mê đắm.
Ông ấy đơn giản bỏ đói bản thân mình với động cơ rằng bằng việc bỏ đói người ta
có thể đạt tới.
Làm
sao bạn có thể đạt tới Thượng đế bằng việc bỏ đói thân thể được? Logic của điều
này là gì? Có lập luận khoa học nào trong điều đó không? Bạn có cho rằng Thượng
đế là ai đó như Adolf Hitler người thích thú việc hành hạ của bạn không? Ai
thích xem con mình đói và mơ về thức ăn? Ai thích xem mọi người trở thành xấu, ốm
bệnh? Thượng đế là từ bi, Thượng đế là tình yêu. Ngài muốn bạn tràn đầy ngài.
Và khi bạn tràn đầy ngài, bạn có thể không cảm thấy nhu cầu ăn. Mahavira không
nhịn ăn, ông ấy đơn giản không cảm thấy thích ăn, có vậy thôi. Và đó là khác biệt
lớn lao.
Phật
nói: Người ngu có thể nhịn ăn vài tháng, ăn từ đầu nhành cỏ. Người đó không
đáng một xu bên cạnh thầy mà thức ăn là con đường.
Một
hôm ông ấy phát hiện ra rằng có loại thức ăn khác: người ta có thể ăn từ sự hài
hoà của sự tồn tại, người ta có thể trở thành một phần của sự hài hoà, người ta
có thể trở thành một phần của lễ hội, của ngày hội đang diễn ra mãi, không bắt
đầu và không kết thúc. Thế thì bạn no và được hoàn thành.
Sữa
tươi cần thời gian để chua. Láu lỉnh của người ngu cũng vậy cần thời gian để bắt
vào người đó.
Giống
như than hồng của lửa
nó
cháy âm ỉ bên trong người đó.
Nếu
bạn làm điều gì đó, sẽ cần thời gian để kết quả của nó tới. Và bạn thậm chí
không có khả năng kết nối được hai điều này, nguyên nhân và hậu quả.
Bạn
có biết rằng ở châu Phi, vẫn còn có các bộ lạc nguyên thuỷ chẳng có khái niệm rằng
việc sinh con có liên hệ tới giao hợp - bởi vì lỗ hổng quá lớn, những chín
tháng. Và không chỉ lỗ hổng lớn thế... và họ không có cách nào tính thời gian,
cho nên với họ chín tháng thực sự là thời gian dài; họ không thể giữ dấu vết thời
gian. Họ không có lịch, không có đồng hồ, không ý tưởng về thời gian chút nào.
Họ sống trong thế giới nguyên thuỷ thực sự nơi thời gian chưa được phát minh
ra, cho nên làm sao họ có thể quan niệm được rằng giao hợp giữa đàn ông và đàn
bà có thể là nguyên nhân của việc sinh ra đứa bé?
Và
thế rồi có các nguyên nhân khác nữa: điều đó không phải bao giờ cũng xảy ra. Bạn
có thể làm tình với người đàn bà và có thể không có con, cho nên đó không phải
là điều chắc chắn xảy ra. Thế thì làm sao đứa trẻ được sinh ra? Đứa trẻ được
sinh ra không phải bởi giao hợp, không phải bởi quan hệ dục, nó không có sinh học
đằng sau nó - nó tới như món quà từ Thượng đế, bất kì ai ngài chọn. Nếu bạn
theo tôn giáo của bộ lạc này, bạn sẽ được ân huệ với trẻ con; bằng không thì
không có khả năng nào.
Khi
các nhà truyền giáo Ki tô giáo lần đầu tiên phát hiện ra bộ lạc này, họ không
thể tin được rằng những người này trong hàng thế kỉ đã sống, cho sinh ra trẻ
con, và chẳng có ý tưởng chút nào về nguyên nhân và hậu quả. Và đó là cách tất
cả chúng ta đang có tính nguyên thuỷ, theo nhiều cách thức.
Hôm
nay bỗng nhiên bạn bắt đầu cảm thấy buồn mà chẳng nguyên nhân nào cả; bạn không
thể tìm thấy bất kì nguyên nhân nào ở gần đó - chẳng cái gì đã xảy ra. Trong
đêm khi bạn đã lên giường, mọi thứ đều tốt; bạn thanh thoát, sinh động, và đến
sáng bạn đột nhiên buồn. Không ai xúc phạm bạn, không cái gì xảy ra cả, không
tin xấu nào tới... tại sao? Từ đâu mà nỗi buồn này tới? Bạn phải đã làm điều gì
đó; có thể có lỗ hổng thời gian, có thể lỗ hổng ba tháng hay ba năm. Và những
người đã đi sâu vào trong hiện tượng này, họ nói thậm chí có thể trong kiếp quá
khứ... đôi khi vài hạt mầm lấy thời gian rất lâu để mọc ra.
Và
bởi vì điều này, người ngu cứ sống theo cùng cách, theo cùng cách ngu xuẩn, bởi
vì người đó không thể thấy được rằng khổ của cuộc sống của mình bị gây ra bởi
chọn lựa riêng của mình. Những chọn lựa đó có thể đã được làm lâu từ trước rồi.
Bạn có thể đã tung ra hạt mầm một năm trước đây, và thế rồi bạn đã hoàn toàn
quên mất về những hạt mầm đó. Mưa tới, hạt mầm bắt đầu mọc lên, và bạn ngạc
nhiên - từ đâu vậy? Từ đâu mà những cây này tới? Và tất nhiên, những hạt mầm
này mà chúng ta cứ gieo vào linh hồn mình đều rất, rất vô hình. Bạn có thể đã
giận dữ, bạo hành, ghen tị, và nó vẫn còn bên trong bạn.
Phật
nói: Giống như than hồng của lửa nó cháy âm ỉ bên trong người đó. Nó diễn ra
bên trong bạn, trở nên sẵn sàng, chờ đợi mùa xuân tới, và thế rồi nó đột nhiên
bùng nổ. Con người chịu trách nhiệm cho bất kì điều gì xảy ra với mình. Người
trí huệ trở nên nhận biết về nó và dừng gieo hạt mầm khổ và bắt đầu gieo hạt mầm
của vui. Sớm hay muộn bạn sẽ sẵn sàng để thu hoạch mùa màng.
Đó
là điều cõi trời là gì: người trí huệ gieo hạt mầm của phúc lạc, tình yêu, từ
bi. Và một ngày nào đó khu vườn sẵn sàng. Bạn có biết không? - từ 'thiên đường
- paradise' bắt nguồn từ tiếng Persian, có một nghĩa hay. Trong tiếng Persian
nó là firdaus; từ 'firdaus' nó đã trở thành 'paradise' trong tiếng Anh.
'Firdaus' nghĩa là khu vườn chân lí có tường bao quanh. Nếu bạn cứ gieo hạt mầm
của vui vẻ, cái đẹp, điệu vũ, bài ca, thiền, lời cầu nguyện, chẳng mấy chốc bạn
sẽ tạo ra một khu vườn chân lí có tường bao quanh - đó là paradise thiên đường.
Bằng không, bạn nhất định tạo ra địa ngục. Sống vô ý thức, sống máy móc, sống
ngu xuẩn, và địa ngục sẽ là kết quả của nó.
Bất
kì điều gì người ngu học,
điều
đó chỉ làm cho người đó mụ mị hơn. Tri thức dính đầu người đó.
Người
ngu không quan tâm mấy tới việc trở nên thông minh, bởi vì thông minh là nguy
hiểm. Thông minh có tính nổi dậy, do đó nó nguy hiểm. Thông minh đem tới tính
cá nhân cho bạn, và khoảnh khắc bạn trở thành cá nhân tích hợp đám đông bắt đầu
quay sang chống bạn; họ không thể dung thứ được một cá nhân. Họ không thể tha
thứ cho một Jesus hay một Phật. Họ rất sung sướng với những người ngu, bởi vì
người ngu cũng hệt như họ - thực ra, có chút ít được khuếch đại hơn, chút ít được
trang hoàng hơn, chút ít được làm phức tạp hơn. Họ rất sung sướng với người
ngu. Họ sung sướng với chính khách, họ sung sướng với các giáo sư, họ sung sướng
với các bác học nhưng họ không sung sướng với một Jesus hay một Socrates hay một
Phật. Tại sao? - bởi vì sự hiện diện của vị phật làm cho họ có vẻ ngu xuẩn.
Chính sự hiện diện của vị phật và họ bắt đầu cảm thấy đần độn. Làm sao họ có thể
tha thứ cho ông ấy được?
Và
họ không muốn bản thân mình thông minh, bởi vì đó là cuộc hành trình dài và
không có lối tắt cho nó. Điều đó là vất vả, khó nhọc. Trở nên thông minh nghĩa
là làm sắc bén tâm thức bạn liên tục; trở nên thông minh nghĩa là tràn đầy tình
yêu. Yêu là trung tâm của thông minh, logic của trung tâm trí thức.
Người
ngu trở thành trí thức; thế thì người đó có thể ba hoa rằng mình biết. Người đó
quan tâm tới tri thức. Người đó sẽ đọc Kinh Thánh và Vedas và Koran, người đó sẽ
nhồi nhét thông tin. Người đó biến tâm trí mình thành cái máy tính, người đó trở
thành cuốn Bách khoa toàn thư biết đi. Điều đó là dễ dàng, điều đó là đơn giản,
điều đó có thể được thực hiện bằng cái máy; nó không cần thông minh nào. Và các
trường học của bạn, các cao đẳng và đại học chỉ làm cho mọi người thành máy
tính.
Chúng
ta phải tạo ra các đại học nơi thông minh được mài sắc. Các đại học của chúng
ta chỉ làm cùn lụt thông minh bởi vì họ chuẩn bị các nô lệ cho xã hội. Các đại
học đang phục vụ cho các quyền lợi được đầu tư; họ là tác nhân của nguyên trạng
đã được thiết lập. Họ không phục vụ cho tương lai của nhân loại, họ phục vụ cho
quá khứ, họ phục vụ cho người chết. Họ không quan tâm tới việc tạo ra những người
thông minh, sáng tạo, tỉnh táo, nhận biết; họ quan tâm tới những người mụ mị,
ngu xuẩn, nhưng hiệu quả. Các thư kí, người thu thuế, trưởng ga - thật hiệu quả!
Họ có thể làm việc của họ rất hiệu quả. Và nhớ lấy, máy là hiệu quả hơn con người,
cho nên họ không quan tâm tới con người; họ quan tâm tới việc thu con người
thành máy.
Phật
nói: Bất kì điều gì người ngu học, điều đó chỉ làm cho người đó mụ mị hơn. Người
đó càng thu thập nhiều tri thức, người đó càng trở nên mụ mị hơn, người đó càng
trở nên ngu xuẩn hơn. Và đó cũng là quan sát của tôi nữa. Tôi đã thấy những dân
làng dốt nát còn thông minh hơn nhiều so với cái gọi là các tiến sĩ khoa học và
tiến sĩ văn chương và các giáo sư đại học, các chủ nhiệm khoa, phó hiệu trưởng
và hiệu trưởng. Họ dường như là những người mụ mị nhất trên thế giới.
Một
dân làng, người tiều phu, dường như còn thông minh hơn nhiều. Người đó không có
thông tin, tất nhiên; người đó không thông thái - nhưng người đó hồn nhiên, và
hồn nhiên là một phần của thông minh. Thông thái là tựa máy móc - và máy móc
thì đờ đẫn. Bạn đã bao giờ thấy cái máy nào thông minh chưa? Cứ nhìn vào máy mà
xem, và nhìn vào vào ông chủ nhiệm khoa hay ông hiệu phó...!
Thực
ra, bạn càng đờ đẫn, càng có khả năng lớn hơn để bạn trở thành phó hiệu trưởng
- bởi vì các chính khách sẽ không thích một Phật trở thành phó hiệu trưởng, họ
sẽ không cho phép Socrates trở thành phó hiệu trưởng. Đây là tội người ta buộc
lên Socrates: rằng ông ấy làm hư hỏng thanh niên. Socrates, và làm hư hỏng
thanh niên sao? Và những người ngu này - các quan toà và phó hiệu trưởng và thủ
tướng và tổng thống - những kẻ ngu này không làm hư hỏng sao? Socrates đang làm
hư hỏng thanh niên - bạn ngụ ý điều đó là gì?
Theo
một cách nào đó, họ cũng phải: ông ấy đang làm hư hỏng thanh niên bởi vì ông ấy
đang chuẩn bị họ cho tương lai. Ông ấy phải phá huỷ quá khứ, ông ấy phải tạo ra
hoài nghi, truy tìm, ông ấy phải tạo ra người tìm kiếm, không phải là người
tin. Và xã hội muốn có những người tin, và những người đờ đẫn là những người
tin tốt. Người Mô ha mét giáo, người Ki tô giáo, người Hindu giáo, người Jaina
giáo - họ càng là những người đờ đẫn, họ càng tin nhiều hơn, họ tin càng tốt
hơn... bởi vì người đờ đẫn không thể truy tìm, người đó không thể mạo hiểm. Người
đó sợ; người đó biết rằng mình không có khả năng biết tới chân lí của riêng
mình, người đó phải tin vào ai đó khác.
Tri
thức dính đầu người đó, Phật nói. Tri thức không ích gì cho người đó mà trở
thành gánh nặng, một trọng lượng Himalaya đè lên bản thể người đó.
Với
điều đó người ấy muốn thừa nhận. vị trí trước mọi người khác.
vị
trí trên mọi người khác.
Toàn
thể tri thức của người đó trở thành trò chơi bản ngã, và bản ngã là tù túng lớn
nhất có đó. Được tự do với bản ngã là được cứu thoát. Nhưng người ngu học chỉ để
trở nên nổi tiếng, để được thừa nhận là người có thẩm quyền, là chuyên gia. Người
ngu tích luỹ tri thức để cho người đó có thể ba hoa và khoe khoang, để cho người
đó có thể bầy tỏ cho mọi người mình thông minh thế nào. Và thông minh không phải
là từ bản ngã; thông minh chỉ tới khi bạn ở trong trạng thái vô ngã sâu sắc.
Thông minh là biến mất của bản ngã, gặp gỡ và hội nhập với cái toàn thể, quên
đi sự tách bạch của bạn, trở thành con sóng trong đại dương của Thượng đế - thế
thì bạn thông minh.
"Để
họ biết công việc của ta,
để
mọi người nhìn ta xin chỉ dẫn." Ham muốn của người đó là vậy,tự hào thổi
phồng của người đó là vậy. Một đường đưa tới giàu có và tiếng tăm,
Phật
nói: Nhưng để ta làm cho ông nhận biết rằng nếu ông muốn của cải và danh vọng,
thế thì theo con đường của người ngu - bởi vì người ngu có khả năng trở thành nổi
tiếng dễ dàng hơn người thông minh. Nếu người thông minh trở nên nổi tiếng, điều
đó chỉ là ngẫu nhiên - người đó chưa bao giờ cố gắng cả. Nếu người thông minh nổi
tiếng, điều đó không phải bởi vì nỗ lực của người đó. Hương thơm của người đó
có thể đã đạt tới mọi người, nhưng không có nỗ lực tích cực về phần người đó để
được thừa nhận. Người đó biết bản thể mình, người đó không phụ thuộc vào thừa
nhận của người khác. Người đó biết mình là ai, người đó không cần xác nhận của
bất kì ai khác.
Khi
tôi ra khỏi trường đại học tôi tới gặp ông bộ trưởng giáo dục. Tôi bảo ông ấy,
"Đây là văn bằng của tôi. Ông có thể bố trí cho tôi chỗ nào đó ở bất kì
đâu, chỗ nào cũng được." Ông ấy nhìn vào tấm văn bằng của tôi, rất bị ấn
tượng - mọi người đều bị ấn tượng bởi những điều vô nghĩa - bởi vì tôi được
huân chương vàng, hạng nhất, thứ nhất. Ông ấy rất bị ấn tượng. Ông ấy nói,
"Lập tức tôi sẽ bổ nhiệm anh làm giảng viên. Nhưng một điều anh sẽ phải
làm: anh đã có chứng chỉ tính cách chưa?"
Tôi
nói, "Tôi đã có tính cách, nhưng không có chứng chỉ tính cách. Nhìn vào mắt
tôi, cầm tay tôi đi! Tôi có thể ôm ghì ông...!"
Ông
ấy nói, "Nhưng cái đó... cái đó không phải là vấn đề. Chứng chỉ tính cách
của anh đâu?" Tôi nói, "Tôi không có chứng chỉ tính cách."
Ông
ấy nói, "Anh có thể tới ông phó hiệu trưởng, hay ông trưởng bộ môn của anh
- chỉ một cái chứng chỉ tính cách thôi. Thế mới đúng thủ tục."
Tôi
nói, "Tôi không thể yêu cầu ông phó hiệu trưởng được, bởi vì tôi không tin
rằng ông ấy có tính cách chút nào! Xác nhận của ông ấy mang trọng lượng gì? Và
ông trưởng bộ môn của tôi sao? - tôi biết ông ấy còn rõ hơn là ông ấy biết bản
thân mình. Tôi không thể cho ông ấy chứng chỉ tính cách được!"
Ông
ấy rất phân vân. Ông ấy thực sự muốn giúp đỡ. Thực ra, ông ấy cũng đã trở nên
thực sự quan tâm tới tôi. Ông ấy chưa bao giờ bắt gặp một người như vậy - biết
bao nhiêu người phải đã tiếp cận ông ấy, nhưng chẳng ai đã nói, "Nhìn vào
mắt tôi, hay cầm lấy tay tôi và cảm nhận đi! Hay tôi có thể tới và sống cùng
ông trong một tuần, trong nhà ông. Nhìn tính cách của tôi theo mọi cách có thể.
Tôi thậm chí sẽ không khoá cửa nhà tắm của mình. Tôi sẽ để mọi thứ mở, cho nên
ông có thể cứ quan sát...!"
Ông
ấy nói, "Những điều này không cần chút nào!
Chỉ
cần mỗi chứng chỉ tính cách đơn giản thôi."
Thế
là tôi nói, "Thế thì tôi có thể viết tờ chứng chỉ tính cách cho bản thân
tôi được " - và đó là điều tôi đã làm. Tôi viết tờ chứng chỉ, ngay trước
ông ấy, và ông ấy nói, "Anh làm gì vậy? Nhưng điều này chưa bao giờ được
làm cả: bản thân anh trao chứng chỉ tính cách cho anh sao? Cần có chữ kí của ai
đó khác chứ!"
Thế
là tôi nói, "Thôi được, thế thì tôi sẽ kí thay cho ông trưởng bộ môn vậy,
nhân danh ông ấy. Đây là bản sao đúng," tôi bảo ông ấy, "và bản gốc
tôi sẽ lấy từ ông trưởng bộ môn của tôi."
Thế
là tôi đi tới ông trưởng bộ môn mình. Tôi nói, "Tôi đã đưa tờ chứng chỉ
này nhân danh ông - xin ông cho bản gốc."
Ông
ấy nói, "Điều này thực lạ! Bản gốc cần có trước chứ. " Nhưng ông ấy
thích ý tưởng này và ông ấy đã cho tôi bản gốc.
Một
đường đưa tới giàu có và tiếng tăm... Nếu bạn theo con đường của người ngu, bạn
có thể trở thành rất giàu có, bạn có thể trở nên nổi tiếng. Bạn có thể trở
thành tổng thống của đất nước, thủ tướng của đất nước - bạn có thể trở thành bất
kì cái gì. Bạn có thể có nhiều của cải tuỳ ý - chỉ cần theo con đường của kẻ
ngu. Đừng thông minh, vẫn cứ còn là ngu đi, bởi vì thực ra, ngoại trừ người ngu
ai muốn chạy theo tiền? Vâng, đôi khi điều đó xảy ra, tiền chạy tới người thông
minh, nhưng nó tới chạy theo người đó, người đó không đi theo... Danh tiếng
cũng đôi khi tới với người thông minh. Nó tới theo cách riêng của nó; người đó
không quan tâm chút nào.
...Đường
kia đi tới chấm dứt con đường này.
Nhưng
nếu bạn muốn chấm dứt toàn thể cái vô nghĩa này mà đã từng dai dẳng qua nhiều
thời đại trong nhiều kiếp thế, cùng cái bánh xe sinh tử lặp lại cứ chuyển động
mãi; nếu bạn muốn dừng nó lại, thế thì con đường kia, con đường của người thông
minh, con đường của người trí huệ... là ánh sáng lên bản thân bạn.
Đừng
tìm thừa nhận
mà
đi theo người đã thức tỉnh
và
làm cho bản thân ông được tự do.
Đừng
bị bận tâm, đừng ham muốn sự thừa nhận. Nếu hàng triệu người ngu thừa nhận bạn,
điều đó thành vấn đề gì? hàng triệu người ngu thừa nhận bạn đơn giản chứng
tỏ rằng bạn là kẻ ngu vĩ đại hơn họ. Chẳng cái gì khác được chứng minh .
Mà
đi theo người đã thức tỉnh... Phật ngụ ý gì khi ông ấy nói đi theo người đã thức
tỉnh? Ông ấy không ngụ ý bắt chước. Ông ấy đơn giản ngụ ý trở nên thức tỉnh như
người thức tỉnh đã trở nên thức tỉnh. Thức dậy đi - đó là đi theo người đã thức
tỉnh. Đừng đi theo các chi tiết: cách người đó sống, cái người đó ăn, lúc người
đó đi ngủ - điều đó là ngu xuẩn. theo người thức tỉnh trong việc trở nên thức tỉnh.
Và
làm cho bản thân mình được tự do - bởi vì đó là nhận biết duy nhất, trạng thái
của tâm thức thức tỉnh đem tới tự do. Thông minh là tự do. Thiền là tự do. Nhận
biết là tự do. Và những người sống một cách máy móc, vô ý thức, không thông
minh, họ sống trong tù. Và sống trong tù là đau khổ.
Tự
do là giá trị tối thượng của cuộc sống.
đi
theo người đã thức tỉnh
và
làm cho bản thân mình được tự do.
Aes
dhammo sanantano...
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment