Yoga:
Alpha và Omega (Tập 9)
Bài
nói về Kinh Yoga của Patanjali
Chương
9. Một mình tuyệt đối: giải thoát
Giải
thoát được đạt tới khi có cân bằng của thuần khiết giữa purusha và sattva.
Chhandogya
Upanishad có một câu chuyện hay. Chúng ta hãy bắt đầu với nó. Satyakam hỏi mẹ cậu
ta, Jabala, "Mẹ ơi, con muốn sống cuộc sống của học trò của tri thức tối
cao. Tên gia đình ta là gì? Ai là bố con?"
"Con
trai ơi," người mẹ đáp, "Mẹ không biết. Trong tuổi thanh niên của mẹ
khi mẹ bắt đầu một chuyện làm ăn lớn như người hầu gái mẹ đã thụ thai con. Mẹ
không biết ai là bố con. Mẹ là Jabala và con là Satyakam, cho nên gọi bản thân
con là Satyakam Jabal đi."
Thế rồi
cậu bé đi tới Gautama, một nhà tiên tri lớn của thời đó, và hỏi xin được nhận
làm học trò. "Con xuất thân từ gia đình nào, con yêu quí?" hiền nhân
hỏi.
Satyakam
đáp, "Con đã hỏi mẹ con tên của gia đình con là gì, và mẹ trả lời, 'Mẹ
không biết. Trong thời thanh niên của mẹ khi mẹ làm một chuyện kinh doanh lớn
như người hầu gái mẹ đã thụ thai con. Mẹ không biết bố con là ai. Mẹ là Jabala
và con là Satyakam, cho nên gọi bản thân con là Satyakam Jabal đi.' Thưa thầy,
do đó con là Satyakam Jabal." Thế rồi hiền nhân này nói, "Không người
nào ngoài một brahmin thực thụ, người tìm kiếm chân lí thực thụ, nói được như vậy.
Con đã không đi trệch khỏi chân lí, con yêu quí. Ta sẽ dạy con tri thức tối cao
đó."
Phẩm chất
đầu tiên của người tìm kiếm là phải đích thực, không đi trệch khỏi chân lí,
không lừa dối theo bất kì cách nào. Bởi vì nếu bạn lừa người khác, cuối cùng bạn
bị lừa bởi sự lừa dối riêng của bạn. Nếu bạn nói dối quá nhiều lần, nó gần như
bắt đầu có vẻ giống như là chân lí với bạn. Khi những người khác bắt đầu tin
vào dối trá của bạn, bạn cũng bắt đầu tin vào chúng. Niềm tin có tính tiêm nhiễm.
Đó là cách chúng ta đã lâm vào trong đống lộn xộn mà chúng ta đang ở.
Dối trá
đầu tiên mà chúng ta đã chấp nhận như chân lí là ở chỗ "Mình là thân thể."
Mọi người đều tin vào điều đó. Bạn được sinh ra trong xã hội tin rằng chúng ta
là thân thể. Mọi người phản ứng như thân thể, không ai đáp ứng như linh hồn.
Và nhớ
khác biệt giữa phản ứng và đáp ứng: phản ứng là máy móc, đáp ứng là tỉnh táo,
nhận biết, ý thức. Khi bạn nhấn nút và quạt bắt đầu quay, đó là phản ứng. Khi bạn
nhấn nút, quạt không bắt đầu nghĩ, "Mình có quay hay không?" Khi bạn
bật đèn, điện không đáp ứng, nó phản ứng. Nó là máy móc. Không có lỗ hổng nào
giữa việc nhấn nút của bạn và vận hành của điện. Không có lỗ hổng nhỏ của ý
nghĩ, của nhận biết, của tâm thức.
Nếu bạn
liên tục phản ứng trong cuộc sống của bạn - ai đó xúc phạm bạn và bạn trở nên
giận dữ, ai đó nói cái gì đó và bạn trở nên buồn, ai đó nói cái gì đó, bạn trở
nên rất hạnh phúc - nếu nó là phản ứng, phản ứng nhấn nút, thế thì dần dần bạn
sẽ bắt đầu tin rằng bạn là thân thể.
Thân thể
là cái máy. Nó không phải là bạn. Bạn sống trong nó, nó là chỗ trú ngụ của bạn,
nhưng bạn không là nó. Bạn là khác toàn bộ.
Đây là
dối trá đầu tiên làm què quặt cuộc sống. Thế rồi có dối trá khác: rằng mình là
tâm trí. Và điều này là sâu sắc hơn điều thứ nhất, hiển nhiên, bởi vì tâm trí ở
gần bạn hơn thân thể. Bạn liên tục nghĩ các ý nghĩ, mơ các giấc mơ, và chúng di
chuyển gần bạn thế, gần như chạm vào bản thể bạn, bao quanh bạn; bạn bắt đầu
tin vào chúng nữa. Thế thì bạn trở thành tâm trí. Tâm trí cũng phản ứng.
Bạn trở
thành linh hồn vào khoảnh khắc bạn bắt đầu đáp ứng. Đáp ứng nghĩa là bây giờ bạn
không phản ứng một cách máy móc. Bạn suy tư, bạn suy ngẫm, bạn tạo lỗ hổng cho
tâm thức bạn quyết định. Bạn là nhân tố quyết định. Ai đó xúc phạm bạn: trong
phản ứng người đó là nhân tố quyết định. Bạn đơn giản phản ứng; người đó thao
túng bạn. Trong đáp ứng bạn là nhân tố quyết định: ai đó xúc phạm bạn - điều đó
không phải là chính, điều đó là phụ. Bạn nghĩ về nó. Bạn quyết định liệu có làm
cái này hay cái nọ. Bạn không bị nó tràn ngập. Bạn vẫn còn không bị động chạm,
bạn vẫn còn tách rời, bạn vẫn còn là người quan sát.
Hai dối
trá này phải bị đập tan. Đây là những dối trá nền tảng. Tôi không tính tới hàng
triệu dối trá mà không là nền tảng. Bạn cứ đồng nhất bản thân bạn với cái tên.
Cái tên chỉ là cái nhãn, tiện dụng. Bạn không tới cùng cái tên, và bạn không đi
cùng cái tên. Cái tên chỉ được xã hội dùng, sẽ khó tồn tại trong xã hội mà
không có tên. Bằng không bạn là vô danh. Thế rồi bạn nghĩ bạn thuộc vào tôn
giáo nào đó, vào đẳng cấp nào đó. Bạn nghĩ rằng bạn thuộc và người đàn ông nào
đó, người là bố bạn, người đàn bà nào đó, người là mẹ bạn. Vâng, bạn tới qua họ,
nhưng bạn không thuộc vào họ. Họ đã là bước chuyển, bạn đã du hành qua họ,
nhưng bạn là khác.
Trong
kiệt tác của Kahlil Gibran, Nhà tiên tri, một người đàn bà hỏi nhà tiên tri
Almustafa, "Nói cho chúng tôi về con của chúng tôi," và Almustafa
nói, "Chúng tới qua bà, nhưng chúng không thuộc vào bà. Yêu chúng, nhưng đừng
cho chúng các ý nghĩ của bà. Yêu chúng, bởi vì tình yêu cho tự do, nhưng đừng sở
hữu chúng."
Cốt lõi
bên trong nhất không thuộc vào ai cả; nó không phải là sở hữu của bất kì ai. Nó
không phải là vật, nó không thể bị sở hữu. Thân thể bạn có thể bị sở hữu, tâm
trí bạn cũng có thể bị sở hữu.
Khi bạn
trở thành người Mô ha mét giáo, tâm trí bạn bị sở hữu bởi những người gọi bản
thân họ là người Mô ha mét giáo. Khi bạn trở thành người Hindu, tâm trí bạn bị
sở hữu bởi những người gọi bản thân họ là người Hindu. Khi bạn trở thành người
cộng sản, bạn bị sở hữu bởi Das Kapital. Khi bạn trở thành người Ki tô giáo, bạn
bị sở hữu bởi Kinh Thánh. Khi bạn nghĩ bản thân bạn là thân thể, bạn nghĩ bản
thân bạn dưới dạng da trắng, da đen.
Cốt lõi
bên trong nhất của bạn không là Ki tô giáo không là Hindu giáo, cốt lõi bên
trong nhất của bạn không là đen, cốt lõi bên trong nhất của bạn không là cộng sản
không là chống cộng sản. Cốt lõi bên trong nhất của bạn vẫn còn tuyệt đối tách
rời khỏi thân thể và tâm trí. Nó là cao hơn thân thể và cao hơn tâm trí. Tâm
trí không thể chạm được tới nó; thân thể không thể với được tới nó.
Tại sao
Gautama hiền nhân vĩ đại này chấp nhận Satyakam Jabal? Anh ta là thực. Anh ta
có thể lừa dối được chứ, cám dỗ là dễ dàng. Đi trong thế giới, nói với mọi người,
"Tôi không biết ai là bố tôi," là rất mất mặt. Và người mẹ cũng là thực.
Dễ dàng lừa con bởi vì đứa con không có cách nào để khám phá ra liệu bạn có lừa
dối hay không. Khi đứa con hỏi mẹ nó, "Ai tạo ra thế giới?" có mọi
cám dỗ cho người mẹ nói, "Thượng đế đã tạo ra thế giới " - chẳng biết
chút gì điều cô ấy nói.
Đây là
lí do cơ sở tại sao khi con cái lớn lên chúng gần như trở thành đối kháng với bố
mẹ chúng; chúng không bao giờ có thể tha thứ được cho họ bởi vì họ dối trá quá
nhiều. Chúng mất mọi kính trọng với họ. Bố mẹ cứ nói, "Tại sao? Bố mẹ yêu
con. Bố mẹ đã nuôi con lớn lên. Điều tốt nhất bố mẹ có thể làm, bố mẹ đã làm rồi.
Tại sao các con không kính trọng bố mẹ?" Bạn đã đánh mất cơ hội này bởi vì
dối trá của bạn. Một khi đứa con khám phá ra rằng người mẹ và người bố đã từng
dối trá, mọi kính trọng biến mất. Lừa dối một đứa trẻ bất lực sao? Nói những điều
họ đã không biết gì về chúng sao?
Jabala
đó là người mẹ hiếm hoi. Cô ấy nói, "Mẹ không biết ai là bố con." Cô ấy
đã chấp nhận rằng khi cô ấy còn trẻ cô ấy đã đi với nhiều đàn ông. Cô ấy đã yêu
nhiều đàn ông và đã được nhiều đàn ông yêu, cho nên cô ấy không biết ai là bố.
Một người mẹ thực. Và đứa con cũng bạo dạn. Nó kể điều đó cho thầy, nó lặp lại
đích xác những lời mà người mẹ đã nói.
Sự thật
này hấp dẫn Gautama và ông ấy nói, "Con là người brahmin chân thực."
Đây là định nghĩa về việc là một brahmin; người chân thực là brahmin. Brahmin
không liên quan gì tới bất kì đẳng cấp nào. Chính từ này bắt nguồn từ
"Brahman"; nó nghĩa là "người tìm kiếm Thượng đế," người
tìm kiến đích thực.
Nhớ lấy,
bạn càng tham gia vào trong dối trá, dù chúng có vẻ trả giá tốt cho bạn thế nào
lúc ban đầu, đến cuối bạn sẽ thấy rằng chúng đã đầu độc toàn thể bản thể bạn.
Là đích
thực đi. Nếu bạn là đích thực, sớm hay muộn bạn sẽ khám phá ra bạn không phải
là thân thể. Bởi vì tính đích thực không thể cứ tin vào dối trá được. Sáng tỏ bừng
lên, mắt trở nên ngày càng nhạy cảm hơn, và bạn có thể thấy: bạn ở trong thân
thể, chắc chắn, nhưng bạn không là thân thể. Khi tay bị gẫy, bạn không bị gẫy.
Khi bạn bị gẫy chân, bạn không bị gẫy. Khi có đau đầu, bạn biết đau đầu, bạn
không là bản thân việc đau đầu. Khi bạn cảm thấy đói, bạn biết cơn đói, nhưng bạn
không là cơn đói. Dần dần dối trá cơ sở bị phá hoại. Thế thì bạn có thể đi vào
sâu hơn và có thể bắt đầu thấy ý nghĩ của bạn, các giấc mơ nổi trong tâm thức.
Thế thì bạn có thể phân biệt, khu biệt - điều Patanjali gọi là vivek - thế thì
bạn có thể phân biệt cái gì là mây và cái gì là trời.
Ý nghĩ
giống như mây bay trong không gian trống rỗng. Không gian trống rỗng đó là bầu
trời thực, không phải mây - chúng tới và đi. Không phải ý nghĩ, mà không gian
trống rỗng mà trong đó các ý nghĩ nào xuất hiện và biến mất.
Bây giờ
để tôi kể cho bạn một cấu trúc yoga rất cơ sở của bản thể bạn.
Cũng
như các nhà vật lí nghĩ rằng cái toàn thể bao gồm từ không cái gì khác ngoài điện
tử, năng lượng điện, yoga nghĩ rằng cái toàn thể bao gồm không cái gì khác
ngoài điện tử âm thanh. Phần tử cơ sở của sự tồn tại với yoga là âm thanh bởi
vì cuộc sống không là gì ngoài sự rung động. Cuộc sống không là gì ngoài cách
diễn đạt của im lặng. Từ im lặng chúng ta tới và trong im lặng chúng ta lại tan
biến đi. Im lặng, không gian, tính không, vô hiện hữu, là cốt lõi bên trong nhất
của bạn, cái trục của bánh xe. Chừng nào bạn còn chưa đi tới im lặng đó, tới
không gian đó nơi không cái gì khác còn lại ngoại trừ bản thể thuần khiết của bạn,
giải thoát là không được đạt tới. Đây là khuôn khổ yoga.
Họ phân
chia bản thể bạn thành bốn tầng. Tôi đang nói cho bạn; đây là tầng cuối cùng.
Yoga gọi nó là vaikhari; từ này nghĩa là "khai hoa kết quả," việc nở
hoa. Nhưng trước khi tôi nói cho bạn, trước khi tôi thốt ra cái gì đó, nó trở
thành hiển lộ với tôi như một cảm giác, như một kinh nghiệm; đó là giai đoạn thứ
ba. Yoga gọi nó là madhyama, "tầng giữa." Nhưng trước khi cái gì đó
được kinh nghiệm bên trong, nó di chuyển vào trong dạng hạt mầm. Bạn không thể
kinh nghiệm được nó một cách bình thường chừng nào bạn chưa rất có tính thiền,
chừng nào bạn chưa trở thành bình thản toản bộ tới mức ngay cả sự khuấy động
trong hạt mầm mà còn chưa nhú ra, vậy mà có thể được cảm nhận thấy; nó rất tinh
tế. Yoga gọi điều đó là pashyanti; từ pashyanti nghĩa là "nhìn lại
sau," nhìn tới cội nguồn. Và bên ngoài điều đó là bản thể nền tảng của bạn
mà từ đó mọi thứ nảy sinh. Điều đó được gọi là para; para nghĩa là "sự
siêu việt."
Bây giờ
cố gắng hiểu bốn tầng này. Para là cái gì đó bên ngoài mọi biểu hiện. Pashyanti
giống như hạt mầm.
Madhyama
giống như cây. Vaikhari giống như khai hoa kết quả, việc nở hoa.
Để tôi
kể cho bạn một câu chuyện nữa, lại là từ Chhandogya Upanishad.
"Lấy
cho bố từ chỗ kia một quả của cây nyagrodh," người bố, hiền nhân vĩ đại
Uddalak, yêu cầu con trai mình. "Quả đây bố," Svetketu nói. "Đập
nó ra." "Nó vỡ rồi bố." "Con thấy gì ở đó?" "Toàn
hạt thôi, gần như rất nhỏ." "Đập chúng ra đi." "Nó vỡ rồi bố."
"Con thấy gì?" "Chẳng cái gì cả bố ạ. Tuyệt đối không cái
gì." Người bố nói, "Con ơi, cái bản chất tinh tế đó, cái mà con không
cảm nhận được ở đó, từ cái rất bản chất đó mà cây nyagrodh lớn này tồn tại đấy.
Tin điều đó đi, con ta, rằng có bản chất tinh tế trong mọi thứ có sự tồn tại.
Cái đó là chân lí. Cái đó là cái ta. Và cái đó, Svetketu này, cái đó là ngươi -
tatvamasi, Svetketu."
Cây
nyagrodh, một cây lớn. Người bố hỏi về quả, Svetketu đem nó tới. Quả là
vaikhari - thứ đã nở hoa, kết quả đã xảy ra. Quả là thứ ngoại vi nhất, tuyệt đối
được biểu lộ. Người bố nói, "Đập nó ra." Svetketu đập nó - cả triệu hạt
mầm. Người bố nói, "Chọn một hạt. Đập nó ra nữa." Cậu ta đập hạt mầm
đó nữa. Bây giờ chẳng có gì trong tay. Bây giờ bên trong hạt mầm chẳng có gì cả.
Uddalak nói, "Từ cái không này mà hạt mầm tới. Từ hạt mầm mà cây tới. Từ
cây mà quả tới. Nhưng cơ sở là cái không, im lặng, không gian, cái vô hình dạng,
cái không biểu lộ, cõi bên kia, cái siêu việt."
Tại điểm
vaikhari, bạn rất bị lẫn lộn bởi vì bạn ở xa nhất khỏi bản thể bạn. Nếu bạn đi
sâu hơn vào trong bản thể bạn, khi bạn tới gần hơn với madhyama, điểm thứ ba, bạn
sẽ ở gần hơn chút ít với bản thể bạn. Đó là lí do tại sao nó được gọi là ở giữa,
chiếc cầu. Đó là cách thiền nhân đi vào trong bản thể của người đó. Đó là cách
mật chú được dùng...
Khi bạn
dùng mật chú và bạn lặp lại một cách có nhịp điệu "aum, aum, aum..."
đầu tiên nó được nói to: vaikhari. Thế rồi bạn phải ngậm môi lại và bạn phải lẩm
nhẩm nó bên trong - "aum, aum, aum..." - không cái gì phát ra ngoài:
madhyama. Thế rồi bạn phải vứt bỏ ngay cả việc lặp lại bên trong; nó tự lặp lại
bản thân nó. Bạn vào hoà điệu với nó tới mức bạn vứt bỏ việc lặp lại và nó vẫn
tiếp diễn, theo cách riêng của nó - "aum, aum, aum..." Bây giờ bạn đã
trở thành người lắng nghe thay vì lặp lại nó. Bạn có thể lắng nghe và quan sát
và nhìn: nó đã trở thành pashyanti. Pashyanti nghĩa là nhìn lại tới cội nguồn;
bây giờ mắt bạn được hoà điệu hướng tới cội nguồn. Thế rồi dần dần aum đó cũng
biến mất trong cái vô hình dạng: đột nhiên có trống rỗng và không cái gì khác.
Bạn không nghe thấy "aum, aum, aum..."; bạn không nghe thấy cái gì cả.
Không có cái gì được nghe mà cũng chẳng có người nghe. Mọi thứ đã biến mất.
"Tatvamasi,
Svetketu" - Uddalak nói với con mình, "Cái đó là ngươi." Cái đó
là cái không, khi người tụng và việc tụng đã biến mất.
Bây giờ
nếu bạn bị gắn bó với mọi thứ quá nhiều, bạn sẽ vẫn còn ở điểm vaikhari. Nếu bạn
bị gắn bó với thân thể bạn quá nhiều, bạn sẽ vẫn còn ở điểm madhyama. Nếu bạn bị
gắn bó với tâm trí bạn quá nhiều, bạn sẽ vẫn còn ở điểm pashyanti. Và nếu bạn
không bị gắn bó chút nào, đột nhiên bạn tan biến vào trong para, cái siêu việt,
cõi bên kia. Đó là giải thoát.
Được giải
thoát nghĩa là quay về nhà. Chúng ta đã đi xa xăm rồi. Hmm ?... nhìn mà xem. Từ
cái không hạt mầm tới, thế rồi từ hạt mầm chồi tới, rồi cây lớn, rồi quả và
hoa. Mọi sự đi xa làm sao. Nhưng quả rơi xuống trở lại trong, vòng tròn được đầy
đủ. Im lặng là bắt đầu, im lặng là kết thúc. Từ không gian thuần khiết chúng ta
tới và trong không gian thuần khiết chúng ta đi. Nếu vòng tròn không đầy đủ, thế
thì bạn sẽ có bản thể bị mắc kẹt ở điểm nào đó nơi bạn đã trở thành gần đông cứng
và bạn không thể di chuyển được và bạn đã mất tính năng động, năng lượng, cuộc
sống.
Yoga muốn
làm cho bạn sống động tới mức bạn có thể làm đầy đủ toàn thể vòng tròn, bánh xe
cuộc sống, và bạn có thể đi tới chính chỗ bắt đầu lần nữa. Chỗ kết thúc không
là gì ngoài chính chỗ bắt đầu. Đích không là gì ngoài cội nguồn. Không phải là
chúng ta đang sắp đạt tới Thượng đế lần đầu tiên. Chúng ta có ngài ngay chỗ đầu
tiên. Chúng ta làm mất ngài. Chúng ta sẽ giành lại nó, đoạt lại nó. Thượng đế
chưa bao giờ là việc khám phá, nó bao giờ cũng là việc khám phá lại. Chúng ta
đã từng ở trong ngài, trong bụng mẹ đó của an bình và im lặng và phúc lạc,
nhưng chúng ta đã đi ra xa xôi.
Đi ra
xa xôi cũng là một phần của sự trưởng thành bởi vì nếu bạn chưa bao giờ đi ra
khỏi nhà bạn, bạn sẽ không bao giờ biết nhà là gì. Nếu bạn chưa bao giờ đi xa
khỏi nhà, bạn sẽ không bao giờ biết cái đẹp, an bình, thoải mái, nghỉ ngơi của
nhà bạn. Để đi tới nhà riêng của mình, người ta phải gõ lên nhiều cánh cửa. Để
quay lại bản thân mình, người ta phải loạng choạng va vào nhiều thứ. Để đi tới
đường đúng người ta phải đi lạc lối.
Điều
này là cần thiết, tuyệt đối cần thiết cho sự trưởng thành, nhưng đừng bị mắc kẹt
ở đâu đó. Mọi người bị mắc kẹt. Vài người bị mắc kẹt với thân thể họ, với thói
quen thân thể của họ. Vài người bị mắc kẹt với tâm trí họ, ý thức hệ, ý nghĩ,
hình mẫu mơ.
Katha
Upanishad nói, "Bên ngoài các đối thể là giác quan. Bên ngoài các giác
quan là tâm trí. Bên ngoài tâm trí là thông minh. Bên ngoài thông minh là linh
hồn. Bên ngoài linh hồn là cái không biểu lộ. Bên ngoài cái không biểu lộ là
Brahman. Và bên ngoài bản thân Brahman là cái không." Đây là chỗ kết thúc,
tâm thức thuần khiết.
Và tâm
thức thuần khiết này có thể được đạt tới qua nhiều con đường. Điều thực không
phải là con đường. Điều thực là sự chân thực của người tìm kiếm. Để tôi nhấn mạnh
điều này.
Bạn có
thể du hành trên bất kì con đường nào. Nếu bạn chân thành và đích thực, bạn sẽ
đạt tới mục đích. Một số con đường có thể là khó, một số có thể dễ dàng hơn, một
số có thể có mầu xanh ở hai bên, một số có thể đi qua sa mạc, một số có thể có
cảnh quan đẹp quanh chúng, một số có thể không có cảnh quan nào quanh chúng, đó
là chuyện khác; nhưng nếu bạn chân thành và trung thực và đích thực và thực, thế
thì từng con đường đều dẫn tới mục đích. Krishna đã nói trong Shrimad
Bhagavadgita, "Bất kì con đường nào con người đi đều là con đường của ta.
Không thành vấn đề họ bước đi chỗ nào, nó đều dẫn tới ta."
Cho nên
điều đó đơn giản có thể thu lại một điều: rằng tính đích thực là con đường.
Không thành vấn đề bạn theo con đường nào, nếu bạn đích thực, mọi con đường đều
dẫn tới ông ấy. Và điều đối lập cũng đúng: không thành vấn đề bạn theo con đường
nào, nếu bạn không đích thực, bạn sẽ không đạt tới đâu cả. Tính đích thực của bạn
đem bạn về nhà, không gì khác. Mọi con đường đều chỉ là phụ. Điều cơ sở là phải
đích thực, phải thực. Có câu chuyện Sufi:
Một người
nghe nói rằng nếu anh ta đi tới chỗ nào đó trong sa mạc vào lúc bình minh và đứng
đối diện với núi phía xa, cái bóng của người đó sẽ trỏ tới kho báu lớn được
chôn vùi. Người này bỏ lại chiếc lều của mình trước khi tia sáng đầu tiên của
ngày tới và lúc bình minh đã đứng ở chỗ được chỉ rõ. Cái bóng của người đó trải
ra dài và mảnh trên mặt cát. "May mắn làm sao," anh ta nghĩ khi anh
ta mường tượng bản thân mình với của cải lớn. Anh ta bắt đầu đào tìm kho báu.
Anh ta mê mải với công việc tới mức anh ta không để ý là mặt trời đã lên trên
trời và làm ngắn cái bóng của mình lại, và thế rồi anh ta để ý tới điều đó. Nó
bây giờ gần bằng nửa kích cỡ trước đây. Anh ta trở nên lo nghĩ và bắt đầu đào lại
ở chỗ mới. Nhiều giờ sau, vào trưa, người này lại đứng ở chỗ đã được chỉ. Anh
ta nhìn chả thấy bóng đâu. Anh ta trở nên rất lo nghĩ. Anh ta bắt đầu kêu và
khóc - toàn thể công sức mất toi. Bây giờ chỗ đó là đâu?
Thế rồi
một thầy Sufi đi qua, ông này bắt đầu cười anh ta và nói, "Bây giờ đích
xác cái bóng đang trỏ vào kho báu. Nó ở bên trong anh."
Mọi con
đường đều có thể dẫn tới nó bởi vì theo một cách nào đó nó đã được đạt tới. Nó
là ở bên trong bạn. Bạn không tìm cái gì đó mới. Bạn đang tìm cái gì đó mà bạn
đã quên mất. Và làm sao bạn có thể thực sự quên được nó? Đó là lí do tại sao
chúng ta liên tục tìm phúc lạc, bởi vì chúng ta không thể quên được nó. Nó cứ
vang vọng bên trong chúng ta. Tìm kiếm phúc lạc, tìm kiếm vui vẻ, tìm kiếm hạnh
phúc không là gì ngoài việc tìm Thượng đế. Bạn có thể đã không dùng từ
"Thượng đế," điều đó không thành vấn đề, nhưng mọi việc tìm kiếm phúc
lạc đều là việc tìm Thượng đế - là việc tìm cái gì đó bạn đã biết, cái một ngày
nào đó đã từng là của bạn và bạn đã đánh mất.
Đó là
lí do tại sao mọi thánh nhân vĩ đại đều đã nói "nhớ lấy." Phật gọi nó
là samyak smriti (nhớ đúng), "chính niệm." Nanak gọi nó là nam
smaran, "nhớ tới tên " - nhớ địa chỉ. Bạn không quan sát nhiều lần điều
đó xảy ra sao? Bạn biết cái gì đó, bạn nói, "Nó ở ngay đầu lưỡi tôi,"
nhưng dầu vậy nó không tới. Thượng đế ở đầu lưỡi bạn.
Trong một
trường nhỏ thầy giáo hoá học viết một công thức lên bảng đen, và ông ấy yêu cầu
một cậu nhỏ đứng lên và nói cho ông ấy công thức này biểu thị cho cái gì. Cậu
bé nhìn, và cậu bé nói, "Thưa thầy, nó ở ngay đầu lưỡi con, nhưng con
không thể nhớ được."
Thầy
nói, "Nhổ nó ra! Nhổ nó ra! Nó là xia nua kali đấy!"
Thượng
đế cũng ở trên đầu lưỡi, và tôi sẽ bảo bạn, "Nuốt nó đi! Nuốt nó đi! Đừng
nhổ nó ra! Nó là Thượng đế đấy!" Để cho ngài luân chuyển trong máu của bạn.
Để cho ngài trở thành một phần của rung động bên trong nhất của bạn. Để cho
ngài trở thành bài ca bên trong bản thể bạn, điệu vũ.
Sự đồng
nhất với thân thể không là gì ngoài thói quen. Đứa trẻ được sinh ra, nó không
biết nó là ai, và bố mẹ phải tạo ra sự đồng nhất nào đó, bằng không nó sẽ bị lạc
trong thế giới. Họ phải nói cho nó, nó là ai. Họ cũng không biết. Họ phải tạo
ra cái nhãn giả. Họ cho nó cái tên, họ đưa cho nó tấm gương, và họ bảo nó,
"Nhìn xem. Đây là mặt con. Nhìn xem. Đây là tên con. Nhìn xem.
Đây là
nhà con. Nhìn xem. Đây là đẳng cấp của con, tôn giáo của con, đất nước của con."
Những đồng nhất này giữ cho nó cảm thấy nó là ai - mà chẳng biết nó là ai. Đây
là thói quen.
Thế rồi
dần dần tâm trí nó bắt đầu phát triển. Nếu nó được sinh ra trong gia đình
Hindu, nó đọc Gita, nghe Gita. Nếu trong gia đình Ki tô giáo, nó được mang tới
nhà thờ. Một đồng nhất mới bắt đầu, đồng nhất bên trong nhất - nó trở thành người
Ki tô giáo, người Hindu, người Mô ha mét giáo. Nó được sinh ra ở Ấn Độ, nó trở
thành người Ấn Độ. Ở Trung Quốc, nó trở thành người Trung Quốc. Và nó bắt đầu
việc đồng nhất bản thân nó với truyền thống của đất nước. Người Trung Quốc đồng
nhất bản thân mình với truyền thống và lịch sử Trung Quốc, quá khứ của Trung Quốc.
Thế rồi người ta cảm thấy ở nhà, người ta có gốc rễ - toàn thể truyền thống. Nếu
người ta là người Ấn Độ, người ta có gốc rễ, người ta không là kẻ lang thang.
Người ta đã tạo ra một nhà nào đó: trong truyền thống, trong đất nước, trong lịch
sử, trong những anh hùng - Ram, Krishna - bây giờ người ta cảm thấy như ở nhà.
Người ta đã tìm thấy chỗ của mình, nhưng đó không phải là chỗ thực. Sự đồng nhất
này là tiện dụng.
Và thế
rồi thói quen này trở thành vững chắc tới mức cho dù một ngày nào đó bạn trở
nên biết vô nghĩa làm sao điều bạn nghĩ bạn là người Ấn Độ, Hindu, Mô ha mét
giáo, Ki tô giáo, người Trung Quốc - vô nghĩa làm sao - nhưng thế nữa thói quen
cũ vẫn còn dai dẳng.
Bertrand
Russell đã viết rằng ông ấy biết là ông ấy không còn là người Ki tô giáo, nhưng
bằng cách nào đó ông ấy cứ quên điều đó lặp đi lặp lại. Toàn thể ước định... Bạn
có thể đi ngược lại truyền thống, nhưng dầu vậy bạn sẽ bám lấy nó. Ngay cả những
người trở thành nhà cách mạng vẫn còn bị gắn bó với truyền thống của họ; có thể
theo cách phủ định. Nếu một người Hindu đi ngược lại với Hindu giáo, người đó vẫn
sẽ nói về Krishna - chống lại ông ấy; người đó sẽ vẫn nói về Rama - chống lại
ông ấy. Nếu một người Mô ha mét giáo chống lại truyền thống của người đó, người
đó sẽ vẫn phê phán Koran; tất nhiên phê bình bây giờ, phê bình Mohammed, nhưng
người đó vẫn còn bị gắn bó với truyền thống.
Người nổi
dậy thực là người vứt bỏ truyền thống sâu sắc, hoàn toàn tới mức người đó thậm
chí không chống lại nó. Người đó không ủng hộ không chống đối, thế thì người ta
tự do. Nếu bạn chống, bạn vẫn không tự do. Nếu bạn chống bất kì cái gì, bạn sẽ
thấy bạn bị gắn với cái đó, có ràng buộc.
Và thói
quen trở thành vô thức. Tôi biết một người rất, rất có học, rất học giả, rất nổi
tiếng, và thực sự là một nhà trí thức lớn. Ông ấy đã là một tín đồ của J.
Krishnamurti trong thời gian lâu, gần bốn mươi năm. Và bất kì khi nào ông ấy tới
gặp tôi, ông ấy luôn nói đi nói lại, "Không có thiền. Ông dạy mọi người
cái gì? Krishnamurti nói không có thiền, mọi mật chú chỉ là lặp lại, và mọi thiền,
mọi phương pháp, đều ước định tâm trí. Và tôi không thiền."
Tôi đợi
cho đúng khoảnh khắc để nện búa chân lí ở nhà. Thế rồi ông ấy ngã bệnh, bị đau
tim. Tôi chạy xô tới gặp ông ấy, và ông ấy đang lặp lại, "Ram, Ram,
Ram..." Tôi không thể tin được vào điều đó. Tôi lay đầu ông ấy và tôi nói,
"Ông đang làm gì vậy? - Ram, Ram, Ram... Ông là tín đồ của Krishnamurti.
Ông đã quên rồi sao?"
Ông ấy
nói, "Quên mọi thứ về điều đó đi. Tôi sắp chết đây. Và ai biết được? Có thể
Krishnamurti sai. Và chẳng mất gì nếu cứ lặp lại Ram, Ram, Ram; và điều đó rất
an ủi."
Điều gì
đã xảy ra cho người này? Bốn mươi năm nghe Krishnamurti, nhưng tính Hindu của
ông ấy vẫn đó. Vào khoảnh khắc cuối tâm trí sẽ bắt đầu phản ứng. Không, ông ấy
không phải là người nổi dậy. Ông ấy tưởng ông ấy là người nổi dậy. Ông ấy đã từng
tranh đấu với mọi thứ, ông ấy đã từng chống lại mọi điều người Hindu nói, và
trong khoảnh khắc cuối toàn thể dinh thự sụp đổ.
Cuộc sống
xét bình thường không là gì ngoài thói quen, thói quen máy móc. Chừng nào bạn
chưa trở nên nhận biết, chừng nào bạn chưa thực sự nhận biết, sẽ khó thoát ra
khỏi nó. Tôi đã nghe nói về một người đánh bạc.
Một kẻ
đánh bạc thâm căn cố đế chết đi, và hồn ma của anh ta lang thang quanh quẩn một
cách thất vọng trong vài tuần. Mặc dầu anh ta được quyền được nhận vào cõi trời,
anh ta thấy bản thân mình chán chỗ đó. Không đánh bạc, không người đánh bạc -
phỏng có ích gì mà đi lên thiên đường hay cõi trời?
Cuối
cùng anh ta hỏi thánh Peter liệu anh ta có có thể đi và nhòm ngó chỗ khác được
không.
"Ta
e điều đó là không thể được," thánh Peter nói. "Nếu anh đi xuống chỗ
kia, anh sẽ không được phép quay lại."
"Nhưng
tôi chỉ muốn ngó quanh thôi," hồn ma của kẻ đánh bạc nói.
Thế là
thánh Peter đồng ý ban cho anh ta giấy phép đặc biệt cho phép anh ta đi trong
chỉ hai mươi bốn giờ.
Chàng
đánh bạc ra đi để ngó quanh địa ngục, và điều đầu tiên anh ta thấy khi tới là một
nhóm những người quen cũ đang chơi bài poker. Tuy nhiên, họ từ chối cho anh ta
chơi vì anh ta không có tiền.
"Tôi
sẽ sửa ngay điều đó," anh ta nói, và anh ta đi xuống một trong các hành
lang. Mười phút sau anh ta quay lại, huơ huơ một cuộn to các tờ tiền mười
pound.
"Anh
kiếm đâu ra tất cả số tiền đó?" một người trong những người khác hỏi.
"Tôi bán giấy phép của tôi đấy," kẻ đánh bạc trả lời.
Thói
quen có thể quá nhiều; bạn thậm chí có thể từ chối cõi trời. Trong nắm giữ của
thói quen bạn gần như vô ý thức và bất lực. Đó là lí do tại sao nhấn mạnh của
yoga là mang nhiều nhận biết hơn vào ràng buộc của bạn. Nhớ nhiều nhất có thể
được rằng bạn không là thân thể. Và nhớ một điều nữa, rằng khó phá vỡ thói
quen, nhưng không khó nếu bạn tạo ra thói quen khác thay thế cho nó. Và đó là
cách nó xảy ra; mọi người cứ thay thế các thói quen. Nếu bạn bảo họ, "Anh
không phải là thân thể," họ sẽ bắt đầu nghĩ họ là tâm trí. Thế thì chẳng
cái gì đã thay đổi, chỉ cái tên của thói quen thay đổi.
Điều
này tôi thấy. Nếu tôi bảo ai đó, "Dừng hút thuốc," người đó bắt đầu
nhai trầu. Nếu tôi bảo người đó dừng nhai trầu, người đó bắt đầu nhai kẹo cao
su. Hay nếu bạn dừng người đó từ điều đó nữa, người đó bắt đầu nói quá nhiều;
điều đó nữa là cùng một chuyện. Lúc bắt đầu người đó chỉ hút thuốc, ít nhất người
đó đang làm hại chỉ bản thân người đó, không ai khác. Bây giờ người đó không thể
hút, cho nên người đó nói quá nhiều; bây giờ người đó đang phá huỷ an bình của
người khác nữa. Người hút thuốc là tốt theo cách nào đó, người đó vẫn còn bị giới
hạn vào bản thân mình. Đàn bà nói quá nhiều, một khi họ bắt đầu hút thuốc, việc
nói của họ trở nên ít dần.
Thực ra
bạn phải đã quan sát: bất kì khi nào bạn cảm thấy bồn chồn, bạn bắt đầu hút thuốc.
Việc hút đó chỉ là để thoát khỏi sự bồn chồn. Và cùng điều này xảy ra bất kì
khi nào bạn bắt đầu nói. Bạn cảm thấy bồn chồn, bạn muốn làm sao lãng bản thân
bạn bằng cái gì đó. Tôi đã nghe một giai thoại hay.
Bệnh
nhân, mới chỉ mười tám tuổi, gây rất nhiều lo âu cho bố mẹ cậu ta vì cậu ta sẽ
để hàng giờ đồng hồ trong phòng mình mặc quần áo cho mình rất chi li trong bộ
quần áo diện đúng mốt. Cậu ta sẽ để thời gian rất lâu chải đầu tóc, đánh bóng
giầy, thế rồi cậu ta sẽ vào bếp, cắm củ cà rốt vào tai trái và đi nhảy ở câu lạc
bộ khiêu vũ. Một cách tự nhiên bố mẹ cậu ta rất lo lắng về mọi điều này và họ
đã thuyết phục cậu ta tới gặp nhà tâm thần. Cậu ta tới văn phòng nhà tâm thần,
ăn mặc đẹp và cài cọng cần tây ở tai trái. Bác sĩ từ tốn để ý rằng bố mẹ cậu ta
có chút ít lo lắng về cậu ta và thế rồi ông ấy hỏi, "Nhân tiện, có lí do
nào cho anh để cọng cần tây thò ra từ tai trái của của anh không?"
Cậu
chàng có vẻ ngạc nhiên và nói, "Tất nhiên có chứ. Mẹ đã không thấy củ cà rốt
nào."
Bây giờ
nếu cà rót bị bỏ đi, thế thì cần tây... Nhưng mọi người liên tục thay đổi thói
quen.
Thỉnh
thoảng chuyện xảy ra bạn có thể đổi một thói quen xấu thành thói quen tốt, và mọi
người sẽ hạnh phúc và mọi người sẽ được thoả mãn. Nhưng yoga sẽ không được thoả
mãn. Bạn có thể dừng hút thuốc và bạn có thể bắt đầu nhẩm mật chú. Bây giờ nếu
bạn không nhẩm mật chú một hôm, bạn cảm thấy không thoải mái theo cùng cách như
bạn đã cảm thấy khi bạn hút thuốc và nếu bạn không hút một ngày - cùng ham muốn
đi theo thường lệ, làm bất kì cái gì bạn vẫn đang làm, một cách máy móc. Bạn có
thể đổi thói quen xấu thành thói quen tốt, nhưng thói quen vẫn cứ là thói quen.
Nó có thể tốt trong con mắt của xã hội, nhưng cho trưởng thành bên trong của bạn
nó không có nghĩa.
Mọi
thói quen đều phải bị bỏ. Tôi không nói trở thành hỗn độn. Tôi không nói sống
cuộc sống tuyệt đối cuồng nhiệt và bừa bãi, ngoằn nghèo, không. Nhưng để cho cuộc
sống của bạn được quyết định bởi nhận biết của bạn.
Có thể
bạn dậy lúc năm giờ, sớm buổi sáng, như một thói quen; và cũng có thể dậy sớm,
năm giờ sáng, không như thói quen mà như nhận biết. Và cả hai là khác thế, phẩm
chất của chúng là tuyệt đối khác. Khi một người dậy lúc năm giờ chỉ như một
thói quen, thế thì người đó gần như là máy móc, cũng như người khác dậy lúc
chín giờ như thói quen. Cả hai đều ở trong cùng một thuyền. Và người dậy lúc
năm giờ sẽ đờ đẫn như người dậy lúc chín giờ vì sự đờ đẫn không phải là vấn đề
bạn dậy khi nào. Sự đờ đẫn là vấn đề của liệu bạn dậy qua thói quen hay nhận biết.
Nếu bạn
dậy qua nhận biết, bạn sẽ tỉnh táo. Nó có thể là chín giờ sáng, nhưng nếu bạn dậy
có nhận biết, bạn sẽ nhạy cảm, bạn sẽ thấy mọi thứ với sự trong trẻo, và mọi thứ
sẽ là đẹp. Sau việc nghỉ ngơi dài, sau khi mọi giác quan đã được nghỉ ngơi,
chúng trở nên sống động lại, sống động hơn. Bụi đã biến mất, mọi thứ sáng tỏ
hơn. Được nghỉ ngơi, sâu bên dưới trong para của bạn, cõi bên kia của bạn, bạn
đã rơi vào trong giấc ngủ của bạn - mọi ý nghĩ, thân thể bị quên đi, bị bỏ lại
nơi xa xôi - bạn đã đi về nhà bạn. Bạn quay lại từ đó được sảng khoái, tươi tắn.
Nhưng nếu nó chỉ là thói quen, thế thì nó là vô dụng như bất kì thói quen nào
khác.
Tôn
giáo không phải là vấn đề về thói quen. Nếu bạn đi tới nhà thờ hay đền chùa chỉ
như một thói quen, một nghi thức, một thường lệ trong đó bạn phải đi vào, bạn
đã được huấn luyện đi vào, thế thì nó là vô dụng. Nếu bạn đi tới đền chùa tỉnh
táo, thế thì chuông chùa sẽ có nghĩa khác toàn bộ với bạn, ý nghĩa khác. Những
chuông chùa đó sẽ rung lên cái gì đó bên trong tim bạn. Thế thì im lặng của nhà
thờ sẽ bao quanh bạn trong một cách mới toàn bộ.
Cho nên
nhớ lấy, vấn đề không phải là thói quen. Tôn giáo không phải là vấn đề của thực
hành. Bạn phải hiểu, và đây là cách Patanjali đã đem tới cho bạn, dần dần, cho
bạn ngày càng nhiều hiểu biết hơn, để lộ ra cho bạn ngày càng nhiều về con đường.
Bạn
càng trở nên trong trẻo, bạn càng có thể đọc được thông điệp được viết ở mọi
nơi, trên mọi chiếc lá, trên mọi bông hoa. Thông điệp là của Thượng đế. Chữ kí
của ngài ở mọi nơi. Bạn không cần đi vào trong Bhagavadgita, bạn không cần đi
vào trong Kinh Thánh và Koran. Koran và Bhagavadgita và Kinh Thánh được viết khắp
trong sự tồn tại. Bạn chỉ cần đôi mắt xuyên thấu. Tôi đã nghe:
Một
thanh nữ, lấy chồng ở London, tin cô ấy mang thai và tới bác sĩ để thẩm tra điều
đó. Bác sĩ tiến hành khám xét qua loa cho cô ấy và đảm bảo với cô ấy rằng nghi
ngờ của cô ấy là không đúng. Thế rồi, với sự ngỡ ngàng của cô ấy, ông ta đơn giản
lấy ra con dấu cao su, dùng nó in cái gì đó lên bụng cô ấy, và nói, "Có vậy
thôi."
Người vợ
kể lại biến cố kì lạ này cho chồng mình, và anh ta hỏi, "Nó nói cái gì vậy?"
"Nào, anh đọc nó đi," cô ấy đáp.
Anh ta
thấy rằng dấu in là quá nhỏ không đọc được, nhưng kính lúp làm cho mọi thứ
thành rõ ràng. Nó viết: "Khi anh có thể đọc được điều này mà không cần
kính lúp, đưa ngay vợ vào bệnh viện."
Ngay
bây giờ bạn cần kính lúp - của một Phật, của một Jesus, của một Krishna, của một
Patanjali. Và thế nữa bạn vẫn không thể đọc được bởi vì mắt bạn gần như mù. Một
khi mắt bạn trong trẻo, thông điệp của ông ấy có ở mọi nơi. Và thông điệp là rõ
ràng tới mức bạn sẽ đơn giản bị ngạc nhiên làm sao bạn đã bỏ lỡ lâu thế, làm
sao bạn đã không thể nhìn được nó. Nó có ở mọi nơi, khắp xung quanh; từ mọi hướng
và chiều ngài đang gõ cửa bạn.
Nhưng nếu
bạn sống trong thân thể, bạn sẽ không nghe thấy nó. Nếu bạn sống trong tâm trí,
bạn sẽ nghe thấy nó một ít, nhưng bạn sẽ lí thuyết hoá về nó và bạn sẽ bỏ lỡ. Nếu
bạn đi sâu hơn tâm trí vào trong pashyanti, nơi thiền dẫn bạn tới, bạn sẽ có khả
năng đọc thông điệp này và bạn sẽ không trở thành nạn nhân của việc lí thuyết hoá,
bạn sẽ không lí thuyết hoá. Và một khi bạn không lí thuyết hoá về nó, một khi bạn
không nghĩ về Thượng đế mà bạn thấy ngài và bạn không đi lòng vòng lòng vòng, về
và về, và bạn xuyên thấu trực tiếp; bạn biến mất khỏi pashyanti, hạt mầm bị phá
vỡ. Bạn rơi vào trong vực thẳm của para, cõi bên kia.
Vòng
tròn là đầy đủ: từ im lặng tới im lặng, từ không gian tới không gian, từ Thượng
đế tới Thượng đế.
Bắt đầu
là Thượng đế, kết thúc là Thượng đế. Alpha và omega - ngài là cả hai. Bây giờ
là lời kinh:
Sattva-purushayoh
shuddhi-samye kaivalyam.
Giải
thoát được đạt tới khi có cân bằng của thuần khiết giữa purusha và sattva.
Yoga
phân chia sự tồn tại làm đôi. Cái không biểu lộ là một, nhưng cái biểu lộ là
hai bởi vì trong chính quá trình của biểu lộ mọi thứ trở thành hai. Chẳng hạn,
bạn nhìn vào bụi hồng, hoa đẹp. Bạn chỉ nhìn, bạn không nói một lời. Bạn đơn giản
nhìn hoa hồng, thậm chí không thốt ra một lời bên trong. Kinh nghiệm này là một.
Bây giờ nếu bạn muốn nói với ai đó, "Hoa này đẹp," khoảnh khắc bạn
nói, "Hoa này đẹp," bạn đã nói cái gì đó về cái xấu nữa. Hoa này
"không xấu." Với đẹp, xấu đi vào. Nếu ai đó hỏi, "Đẹp là
gì?" bạn sẽ phải dùng xấu để giải thích nó.
Nếu bạn
nhìn người đàn bà và không lời nào nảy sinh trong bạn, thế thì kinh nghiệm này
là một, bất nhị. Khoảnh khắc bạn nói, "Anh yêu em," bạn đã mang ghét
vào. Bởi vì yêu không thể được giải thích nếu không có ghét. Ngày không thể được
giải thích mà không có đêm và sống không thể được giải thích mà không có chết.
Cái đối lập phải được mang vào.
Tại điểm
của vaikhari, mọi thứ là rõ ràng, nhị nguyên; đêm tách rời khỏi ngày, chết tách
rời khỏi sống, đẹp tách rời khỏi xấu, sáng tách rời khỏi tối - mọi thứ đều bị
chia ra theo cách Aristotel, rõ ràng, không cầu nối. Đi sâu hơn một chút đi. Tại
điểm của madhyama, phân chia bắt đầu nhưng không còn rõ ràng thế, đêm và ngày gặp
gỡ, trộn lẫn, như trong buổi chiều tối hay trong buổi sáng. Đi sâu hơn nữa đi.
Tại điểm của pashyanti, chúng là ở trong hạt mầm, nhị nguyên còn chưa nảy sinh,
bạn không thể nói cái gì là cái gì, mọi thứ là không khác biệt. Vẫn đi sâu hơn
nữa. Tại điểm của para, không có phân chia - thấy được, không thấy được.
Tại điểm
diễn đạt, yoga phân chia thực tại ra làm đôi: purusha và prakriti. Prakriti
nghĩa là "vật chất"; purusha nghĩa là "tâm thức." Bây giờ
khi bạn bị đồng nhất với thân tâm, với prakriti, với tự nhiên, với vật chất; cả
hai đều bị ô nhiễm. Ô nhiễm bao giờ cũng là gấp đôi.
Chẳng hạn,
nếu bạn trộn nước với sữa, bạn nói, "Sữa không còn thuần khiết nữa,"
nhưng bạn đã không quan sát cái gì: nước cũng không còn thuần khiết. Bởi vì nước
là tự do cho nên không ai lo nghĩ, đó là một điều; nhưng khi bạn trộn nước và sữa,
cả hai đều trở thành không thuần khiết. Đây là cái gì đó, bởi vì cả hai đã là
thuần khiết - nước đã là nước, sữa đã là sữa - cả hai đã là thuần khiết. Đây là
phép màu. Hai cái thuần khiết gặp gỡ, và cả hai trở thành không thuần khiết.
Không
thuần khiết chẳng có gì phải kết án trong nó. Nó đơn giản nói phần tử ngoại đã
đi vào. Nó đơn giản nói cái gì đó mà không không phải là bản tính bên trong nhất
của nó đã đi vào, có vậy thôi.
Lời
kinh này là rất hay. "Vibhuti Pada" kết thúc với lời kinh này; nó là
cao trào. Lời kinh này nói khi bạn bị đồng nhất với thân thể, bạn là không thuần
khiết, thân thể là không thuần khiết. Khi bạn bị đồng nhất với tâm trí, bạn là
không thuần khiết, tâm trí là không thuần khiết. Khi bạn không bị đồng nhất, cả
hai trở thành thuần khiết.
Bây giờ
điều này trông có vẻ ngược đời. Một siddha, hay vị Phật, người đã đạt tới, tâm
trí người đó vận hành trong thuần khiết. Thiên tài của người đó vận hành trong
thuần khiết; mọi tài năng của người đó trở thành thuần khiết. Và tâm thức của
người đó vận hành trong thuần khiết. Cả hai là tách rời - sữa là sữa, nước là
nước. Cả hai đã lại trở thành thuần khiết.
Lời
kinh nói, "Giải thoát được đạt tới khi có cân bằng của thuần khiết giữa
purusha và sattva." Sattva là điểm cao nhất của prakriti, tự nhiên, vật chất.
Sattva nghĩa là "thông minh"; và purusha nghĩa là "nhận biết."
Đó là ràng buộc tinh vi nhất bên trong bạn bởi vì chúng là giống nhau thế.
Thông minh và nhận biết là tương tự nhau tới mức nhiều lần bạn có thể bắt đầu
nghĩ rằng người thông minh là người nhận biết. Nó không phải vậy.
Einstein
là thông minh, cực kì thông minh, nhưng ông ấy không phải là vị phật, ông ấy không
nhận biết. Ông ấy thậm chí có thể không nhận biết hơn người thường bởi vì ông ấy
sẽ ở bên trong thông minh của ông ấy nhiều thế.
Chuyện
xảy ra là Einstein đi tới chỗ nào đó trong xe bus, và người soát vé tới và hỏi
tiền. Ông ấy đưa tiền cho người này. Người soát vé trả lại cho Einstein tiền thừa.
Einstein đếm tiền nhưng đếm sai - nhà toán học vĩ đại nhất thế giới - và ông ta
nói, "Ông đã không trả lại đúng tiền thừa; đưa tôi thêm vài xu nữa
đi."
Người
soát vé đếm lại, ông ấy nói, "Ông không biết tính số à?"
Ông ấy
không nhận biết rằng đây là Albert Einstein. Chưa bao giờ có một thiên tài toán
học vĩ đại thế... và người soát vé nói, "Ông không biết tính số à?"
Không ai đã biết được gì nhiều hơn con người này về tính số, nhưng điều gì đã xảy
ra?
Những
người rất thông minh bao giờ cũng trở nên đãng trí. Họ bị khuấy động và bị gắn
bó với thông minh của họ nhiều tới mức họ trở nên quên lãng nhiều thứ ở thế giới
bên ngoài.
Tôi đã
nghe nói về một nhà phân tâm lớn, người rất thông minh. Ông ấy bị cuốn hút nhiều
thế vào thực nghiệm của mình tới mức trong hai hay ba ngày ông ấy không ló mặt
về nhà. Vợ lo lắng. Ngày thứ ba cô ấy không thể đợi được thêm nữa, cho nên cô ấy
gọi điện thoại và cô ấy nói, "Anh đang làm gì vậy? Về đi, em đợi anh. Và bữa
tối đã sẵn sàng." Ông ấy nói, "Được rồi, anh sẽ tới. Địa chỉ là
gì?"
Ông ấy
đã quên hoàn toàn - vợ và nhà và địa chỉ nữa.
Thông
minh không nhất thiết là nhận biết. Nhận biết tất yếu là thông minh! Người nhận
biết là thông minh, nhưng người thông minh không nhất thiết là nhận biết, không
có tất yếu trong nó. Nhưng cả hai là rất gần gũi. Thông minh là một phần của
thân-tâm, và nhận biết là một phần của purusha, điều tối thượng, cõi bên kia.
Trời gặp
đất. Điểm đó, chân trời đó nơi trời gặp đất là điểm trở thành không bị đồng nhất
hoàn hảo - ở đó là nơi thông minh gặp nhận biết. Cả hai rất giống nhau. Thông
minh là vật chất được thuần khiết, thuần khiết tới mức người ta có thể đi vào
trong nó và người ta có thể nghĩ, "Mình đã trở thành nhận biết." Đó
là cách nhiều triết gia phí hoài kiếp sống của họ: họ tưởng thông minh của họ
là nhận biết. Tôn giáo là việc tìm nhận biết; triết học là việc tìm thông minh.
"Giải
thoát được đạt tới khi có cân bằng của thuần khiết giữa purusha và
sattva." Nhưng làm sao đạt tới giải thoát? Đầu tiên bạn phải đạt tới thuần
khiết của sattva, thông minh. Thế rồi đi sâu hơn. Vaikhari là biểu lộ thông
minh; madhyama là biểu lộ thông minh chỉ cho bạn chứ không cho thế giới;
pashyanti là thông minh dưới dạng hạt mầm; và para là nhận biết. Dần dần gỡ bản
thân bạn ra, biện biệt, bắt đầu nhìn vào thân thể như một công cụ, một phương
tiện, nơi trú ngụ; và nhớ điều đó nhiều nhất có thể được. Dần dần việc nhớ lại
này lắng đọng. Thế rồi bắt đầu làm việc trên tâm trí. Nhớ bạn không là tâm trí.
Việc ghi nhớ này sẽ giúp bạn trở nên tách rời.
Một khi
bạn tách rời khỏi thân-tâm, sattva của bạn sẽ là thuần khiết. Và purusha của bạn
bao giờ cũng là thuần khiết; chỉ sự đồng nhất với vật chất đã giúp cho nó có vẻ
như không thuần khiết. Một khi cả hai tấm gương đều thuần khiết, không cái gì
được soi gương. Hai tấm gương đối diện nhau: không cái gì được soi gương, chúng
vẫn còn trống rỗng.
Điểm
này của trống rỗng tuyệt đối là giải thoát. Giải thoát không phải từ thế giới.
Giải thoát là từ sự đồng nhất. Đừng bị đồng nhất, không bao giờ bị đồng nhất với
bất kì cái gì. Bao giờ cũng nhớ bạn là nhân chứng, không bao giờ mất điểm đó của
việc chứng kiến; thế thì một ngày nào đó nhận biết bên trong vươn dậy như cả
nghìn mặt trời mọc cùng nhau.
Đây là
điều Patanjali gọi là kaivalya, giải thoát. Từ kaivalya phải được hiểu.
Ở Ấn Độ
các nhà tiên tri khác nhau đã dùng các từ khác nhau cho điều tối thượng đó.
Mahavira gọi nó là moksha. Moksha có thể được dịch đúng là "tự do tuyệt đối,"
không tù túng, mọi giam cầm đều đã sụp đổ. Phật đã dùng từ niết bàn; niết bàn
nghĩa là "việc dừng của bản ngã." Như bạn tắt ánh sáng đi và ngọn lửa
đơn giản biến mất, chính là theo cùng cách đó mà ánh sáng của bản ngã biến mất:
bạn không còn là một thực thể. Giọt nước đã tan biến trong đại dương, hay đại
dương đã tan biến trong giọt nước. Nó là việc tan biến, triệt tiêu.
Patanjali
dùng kaivalya; từ này nghĩa là "một mình tuyệt đối." Nó không là
moksha không là niết bàn. Nó có nghĩa tính một mình tuyệt đối: bạn đã đi tới điểm
không ai khác tồn tại cho bạn. Không cái gì khác tồn tại, duy nhất bạn, duy nhất
bạn, duy nhất bạn. Thực ra không thể gọi bản thân bạn là "tôi," bởi
vì "tôi" có tham chiếu tới "người", và "người" đã
biến mất. Không còn có thể nói bạn ở trong moksha, tự do, bởi vì khi mọi tù
túng đã biến mất, nghĩa của tự do là gì? Tự do là có thể nếu giam cầm là có thể.
Bạn là tự do bởi vì nhà tù tồn tại ở gần ngay lân cận. Bạn không ở bên trong
nhà tù, có những người khác ở bên trong nhà tù, nhưng về tiềm năng, về lí thuyết,
bạn có thể bị bỏ vào tù bất kì ngày nào. Đó là lí do tại sao bạn tự do. Nhưng nếu
nhà tù đã biến mất một cách tuyệt đối, hoàn toàn, thế thì phỏng có ích gì mà gọi
người ta là tự do?
Kaivalya,
chỉ một mình. Nhưng nhớ lấy, một mình này chẳng liên quan gì tới cô đơn của bạn.
Trong cô đơn "người khác" tồn tại, được cảm thấy, việc thiếu vắng của
người khác được cảm thấy. Đó là lí do tại sao cô đơn là việc buồn. Bạn là
"đơn độc": điều đó nghĩa là bạn cảm thấy nhu cầu về người khác.
"Một mình": khi nhu cầu về người khác đã biến mất. Bạn là đủ cho bản
thân bạn, tuyệt đối lên bản thân bạn, không nhu cầu, không ham muốn, không đâu
mà đi: đây là điều Patanjali gọi là "bạn đã về nhà." Đây là giải
thoát trong mô tả của ông ấy, đây là niết bàn hay moksha của ông ấy.
Những
thoáng nhìn có thể tới với bạn nữa. Nếu bạn ngồi im lặng và tách rời bản thân bạn...
Đâu tiên tách rời bản thân bạn khỏi các đối thể. Nhắm mắt lại, quên thế giới
đi, cho dù nó tồn tại chỉ coi nó là mơ. Thế rồi nhìn vào các ý tưởng và nhớ rằng
bạn không là chúng, chúng đang trôi nổi như mây. Tách rời bản thân bạn khỏi
chúng, chúng đã biến mất. Thế thì một ý tưởng nảy sinh: rằng bạn là tách rời.
Đó là pashyanti. Bây giờ bỏ cả cái đó nữa vì bằng không bạn sẽ treo ở đó. Bỏ
cái đó nữa; đơn giản là nhân chứng cho ý tưởng này nữa. Đột nhiên bạn bùng nổ
vào trong tính không. Nó có thể chỉ cho một mảnh khoảnh khắc, nhưng bạn sẽ có
hương vị của Đạo, hương vị của yoga và mật tông, bạn sẽ có hương vị của chân
lí. Và một khi bạn đã có nó, sự việc trở thành ngày càng dễ dàng hơn để tiếp cận
nó, cho phép nó, trở thành mong manh với nó, trở thành sẵn có cho nó. Mọi ngày
nó đều trở nên dễ dàng hơn. Bạn càng du hành nhiều trên đường, con đường càng
rõ ràng hơn.
Một
ngày nào đó bạn đi vào và không bao giờ đi ra... Kaivalyam. Đây là điều
Patanjali gọi là giải thoát tuyệt đối. Đây là mục đích ở phương Đông.
Mục
đích phương Đông vươn tới cao hơn rất nhiều so với mục đích phương Tây. Ở
phương Tây cõi trời dường như là điều cuối cùng, không phải là như vậy ở phương
Đông. Người Ki tô giáo, người Mô ha mét giáo, người Do Thái, với họ cõi trời là
điều cuối cùng, không có gì bên ngoài nó. Nhưng ở phương Đông chúng ta đã làm
việc nhiều, chúng ta đã khoan vào thực tại sâu hơn. Chúng ta đã khoan vào chính
tận cùng, khi đột nhiên máy khoan đi tới đối diện với cái trống rỗng và không
cái gì có thể được khoan thêm nữa.
Cõi trời
là ham muốn, ham muốn về việc là hạnh phúc; địa ngục là nỗi sợ, sợ việc bị bất
hạnh. Địa ngục là đau đớn được tích luỹ; cõi trời là hoan lạc được tích luỹ.
Nhưng chúng không là tự do. Tự do là khi bạn không đau đớn không hoan lạc. Tự
do là khi nhị nguyên đã bị bỏ đi.
Tự do
là khi không có địa ngục và không có cõi trời: kaivalya. Thế thì người ta đạt tới
sự thuần khiết cao nhất.
Đây đã
từng là mục đích ở phương Đông, và tôi nghĩ đây phải là mục đích của tất cả
nhân loại.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment