Osho
- Đạo: Ba Kho Báu (Tập 1)
Chương
9. Người trí huệ thời cổ
Người
trí huệ thời cổ
Bậc
toàn thiện xưa nay tinh tế, nhiệm mầu,
Siêu
huyền, thông suốt, sâu chẳng khá dò.
Bởi
chẳng khá dò, tạm hình dung Đó.
Thận
trọng như qua suối mùa đông.
Do
dự như sợ nguy hiểm bốn bên.
Nghiêm
kính như khách lạ,
Khiêm
nhường như băng tan,
Chân
chất như gỗ chưa đẽo gọt,
Phóng
khoáng như thung lũng,
Pha
lẫn như nước đục.
Ai
có thể tìm sự hài hoà trong thế giới đục ngầu?
nhờ
nằm tĩnh lặng mà đục hoá trong,
Ai
có thể giữ bình thản được lâu?
nhờ
động mà nó quay cuộc sống
Kẻ
giữ Đạo, không muốn đầy,
Chỉ
vì không muốn đầy,
Mà
vượt ra ngoài cũ và mới.
Người
trí huệ thời cổ
Socrates
sắp chết.
Một đệ
tử hỏi, "Sao thầy không sợ chết?"
Cái chết
là chắc chắn, trong vòng vài phút nữa ông ấy sẽ chết. Chất độc để giết ông ấy
đang được chuẩn bị. Nhưng Socrates nói, "Làm sao ta có thể sợ cái gì đó
không biết? Ta sẽ phải thấy. Khi ta chết, chỉ thế thì ta mới có thể thấy. Hai
khả năng có đó. Một là ở chỗ ta sẽ chết hoàn toàn, không dấu vết nào của ta còn
lại. Cho nên sẽ không có ai còn lại để biết nó, không ai chịu đựng nó. Cho nên
không có vấn đề về việc ta lo nghĩ về nó - nếu khả năng thứ nhất này sẽ xảy ra.
Và khả năng thứ hai là ở chỗ ta có thể tiếp tục, chỉ thân thể mới chết nhưng
linh hồn sẽ vẫn còn. Thế nữa ta cũng không thấy có điều gì để mà lo nghĩ. Nếu
ta còn tiếp tục, thế thì cái chết là không liên quan. Và chỉ hai khả năng này tồn
tại. Ta không thể nói điều gì ngay bây giờ về cái gì sẽ xảy ra. Ta không biết.
Ta chưa biết gì."
Socrates
là một người trí huệ, không phải là người của tri thức. Con người của tri thức
sẽ cho câu trả lời chắc chắn. Con người của tri thức có câu trả lời nào đó, tuyệt
đối chắc chắn - đó là một phần của cái ngu xuẩn của họ. Trong thực tế, chỉ tâm
trí ngu xuẩn mới có thể chắc chắn. Cuộc sống là bí ẩn bao la thế, không thể dò
được, không biết được; nếu bạn trí huệ thì bạn không thể chắc chắn được.
Trí huệ
là thận trọng. Trí huệ do dự. Trí huệ chưa bao giờ chắc chắn. Đó là lí do tại
sao trí huệ không bao giờ bị giới hạn trong lí thuyết. Mọi lí thuyết đều kém
hơn cuộc sống, mọi lí thuyết đều chật hẹp, còn cuộc sống thì không thể đi vào
trong nó được - cuộc sống bao la thế, bao la và vô cùng cực kì. Người trí huệ
chỉ biết mỗi một điều: rằng người đó không biết. Con người của tri thức biết cả
nghìn lẻ một thứ và biết rằng mình biết - và tại đó là cái ngu xuẩn của người
tri thức. Người đó cứ tích luỹ các sự kiện không do mình sống qua: các lí thuyết,
lời nói, triết lí - không chạm tới sự hiện hữu riêng của mình. Người đó cứ tích
luỹ chúng trong kí ức của mình. Người đó trở thành cái kho tri thức bao la, người
đó trở thành cuốn Bách khoa toàn thư - nhưng là một thứ chết.
Kí ức
người đó càng trở nên được chất đầy với tri thức thì người đó càng ít sống
trong sự hiện hữu của mình. Người đó càng đi vào cái đầu, càng trở thành một phần,
một mảnh, thì người đó càng ít được gắn với sự hiện hữu bao la và với vũ trụ và
sự tồn tại. Theo một cách nào đó người đó trở thành vô tồn tại. Người đó không
còn là một phần của sự tồn tại này, sống động, toả sáng, rực chiếu, rung động.
Người đó là hiện tượng đông cứng; người đó không còn tuôn chảy với cuộc sống.
Người đó giống như tảng băng, đông cứng và mắc kẹt ở đâu đó - mắc kẹt trong cái
đầu.
Tâm thức,
khi nó trở thành tri thức, trở nên đông cứng; khi tâm thức trở thành trí huệ,
nó trở thành luồng chảy. Người trí huệ sống, sống một cách toàn bộ, nhưng chỉ
biết một điều - rằng người đó không biết. Học từ người trí huệ là rất khó, học
từ người tri thức là rất dễ. Người đó có thể cho bạn cái người đó biết, người
đó có thể truyền nó rất dễ dàng, ngôn ngữ là phương tiện đủ. Tất cả những gì
người đó đã thu thập, người đó đã thu thập qua tâm trí, qua ngôn ngữ; nó có thể
dễ dàng được trao đổi. Con người của tri thức trở thành thầy giáo. Người đó có
thể dạy bạn. Và người đó có thể dạy hay, về những điều người đó còn không biết
chút nào. Có thể đó là lí do tại sao người đó lại không lưỡng lự như người biết.
Bởi vì khi một người biết, người đó cũng biết cực đối lập của cuộc sống. Khi một
người thực sự hiểu và biết, người đó cũng biết rằng mọi thứ đều được gắn với
cái đối lập của nó, mọi thứ đều gặp gỡ và tan chảy vào trong cái đối lập của
nó. Không cái gì có thể được nói một cách dứt khoát bởi vì khoảnh khắc bạn nói
bất kì cái gì một cách dứt khoát, bạn đã dừng luồng chảy của nó, bạn đã làm cho
nó thành sự kiện đông cứng. Nó không còn là một phần của dòng sông nữa, nó là tảng
băng. Bây giờ bạn có thể tích luỹ nó trong nhà kho của tâm trí.
Người
trí huệ không phải là thầy giáo - người đó có thể là thầy nhưng không là thầy
giáo. Đâu là khác biệt giữa hai người này? Thầy giáo sẵn sàng dạy - thầy không
bao giờ sẵn sàng dạy cả. Thầy giáo năng nổ, hoạt động - thầy thì không năng nổ,
không hoạt động. Thầy giáo sẽ đi và theo bạn và ép buộc bạn, để cho bạn có thể
mang tri thức của ông ấy trên vai mình. Thầy thì đợi. Bạn phải tranh thủ lấy thầy,
bạn phải tham dự cùng thầy. Thầy sẽ không theo bạn, thầy sẽ không ép buộc bạn.
Thầy thậm chí sẽ không gõ cửa bạn - thầy sẽ đơn giản chờ đợi. Bạn có thể chia sẻ
sự hiện hữu của thầy. Bạn có thể đi vào cái trống rỗng bên trong của thầy, lâu
đài bên trong của sự hiện hữu của thầy, vương quốc bên trong của thầy, nhưng điều
đó là tuỳ ở bạn. Bạn sẽ phải làm mọi công việc. Thầy chỉ là sự hiện diện. Nếu bạn
bị hấp dẫn, thì bạn rơi vào sự hiện diện đó.
Thầy
giáo kêu gọi, thầy giáo cố gắng, thầy giáo làm đủ mọi nỗ lực để cho bạn có thể
hiểu. Thầy đơn giản có đó - cởi mở tất nhiên, không đóng, hoàn toàn cởi mở cho
bạn bước vào. Nhưng thầy không làm cho dù một cử chỉ, bởi vì cử chỉ đó có thể
là hùng hổ, cử chỉ đó có thể buộc bạn tới mà không có ý chí riêng của bạn. Và
thế thì điều đó sẽ là xấu, thế thì bạn đã bị đặt vào con đường sai.
Thầy là
sự hiện diện im lặng. Bạn có thể học từ thầy, nhưng thầy sẽ không dạy. Với thầy
giáo bạn sẽ là học sinh. Có mối quan hệ, mối quan hệ hai chiều. Với thầy bạn chỉ
có thể là đệ tử, nó là một chiều - bạn phải học. Nếu bạn không học thì bạn
không học, nếu bạn học thì bạn học. Thầy hạnh phúc với sự hiện hữu riêng của
mình đến mức thầy không bận tâm. Nếu bạn học thì thầy sẽ ban phúc cho bạn; nếu
bạn không học thì thầy cũng ban phúc cho bạn - thầy là phúc lành, việc ban phúc
lành.
Không
có kiểm tra ở gần thầy bởi vì với cuộc sống, việc kiểm tra là không thể có được.
Thật là ngu xuẩn mà nghĩ dưới dạng kiểm tra. Đó là lí do tại sao các đại học cứ
tạo ra những người ngu si. Có lí do cho nó - bởi vì thông minh không thể bị kiểm
tra. Không có tiêu chuẩn nào để đánh giá nó. Nhiều nhất bạn có thể đánh giá kí ức,
nhiều nhất bạn có thể đánh giá khả năng nhớ nhưng không đánh giá được khả năng
biết. Thầy không có kiểm tra. Bạn tới, bạn học, bạn chia sẻ. Thầy là lối mở tới
điều bao la và vô tận.
Con người
của tri thức trở thành thầy giáo và hàng triệu người bị hấp dẫn về người đó, bởi
vì khi bạn học điều gì đó thì bản ngã của bạn được làm mạnh thêm. Rất hiếm linh
hồn bị hấp dẫn tới thầy bởi vì trong thực tế với thầy bạn sẽ phải quên đi những
điều đã học, với thầy bạn sẽ phải chết. Bản ngã của bạn sẽ bị tan tành hoàn
toàn - bởi vì chỉ thế thì bạn mới có thể đi vào trong ngôi đền, vào trong điện
thờ bên trong nhất của sự hiện hữu của thầy.
Thầy là
người trí huệ nhưng hiểu biết của thầy sâu sắc đến mức bạn không thể hiểu được
nó. Bạn chỉ có thể sống nó. Thầy biết, nhưng thầy biết sâu sắc thế - nơi các
cái đối lập gặp nhau, nơi sống và chết trở thành đồng nghĩa, nơi sự tồn tại và
vô tồn tại không có nghĩa đối lập, nơi tất cả mọi dòng sông đều đổ vào biển cả
- trong chiều sâu đó thầy tồn tại.
Khó hiểu
thầy bởi vì việc hiểu sẽ là nông cạn và tất cả mọi việc hiểu sẽ ít nhiều là hiểu
lầm. Với thầy, đừng cố hiểu thầy. Làm sao bạn có thể hiểu được thầy? Làm sao bạn
có thể hiểu được hiện tượng vô hạn? Bạn có thể sống nó, bạn có thể tan biến vào
trong nó, bạn có thể cho phép nó tan biến vào trong bạn, điều đó là có thể. Nó
giống như tình yêu: bạn không thể hiểu được tình yêu, bí ẩn là cách thức của
nó. Bạn không thể hiểu được nó, bạn không thể bắt buộc nó là gì. Hàng nghìn định
nghĩa tồn tại nhưng tình yêu vẫn chưa hề được định nghĩa và sẽ chẳng bao giờ được
định nghĩa. Bất kì khi nào bạn định nghĩa, ngay lập tức bạn cảm thấy điều gì đó
bị bỏ lỡ. Và cái gì đó bao giờ cũng sẽ bị bỏ lỡ, bởi vì cái gì đó là chiều sâu.
Định nghĩa không thể mang được chiều sâu, nó chỉ có thể ở trên bề mặt.
Người
trí huệ sống trong chiều sâu. Người của tri thức sống tại chu vi; người trí huệ
sống tại trung tâm. Chỉ có một cách để đạt tới người trí huệ - bạn sẽ phải đi tới
trung tâm của riêng mình. Trung tâm tới trung tâm, có sự giao cảm với người trí
huệ. Đầu tới đầu, tâm trí tới tâm trí, có sự giao cảm với thầy giáo, con người
của tri thức.
Người
trí huệ dần dần biến mất khỏi thế giới. Tại phương Tây bạn không tìm thấy triết
gia, bạn chỉ tìm thấy các giáo sư về triết học. Đây là cái gì đó ngớ ngẩn. Giáo
sư triết học lại không phải là triết gia, giáo sư triết học chỉ là thầy giáo -
con người của tri thức nhưng không phải là người trí huệ - không giống
Socrates, không giống Lão Tử, không giống Phật. Họ không phải là giáo sư. Họ
không dạy điều gì cho bất kì ai. Họ chỉ có đó - giống như mặt trời có đó, bạn mở
mắt ra và bóng tối biến mất; giống như hoa bên lề đường, bạn chỉ cùng nó trong
vài giây và hương thơm tràn ngập bạn tới chính chiều sâu của bạn; giống như
dòng sông tuôn chảy, bạn tới nó trong khi khát và cơn khát của bạn được dịu đi.
Họ không phải là giáo sư, họ là những người sống động. Họ còn sống động hơn bất
kì ai khác, và thế thì họ trở thành ngày một bí ẩn hơn.
Thêm
vài điều nữa trước khi chúng ta đi vào những lời kinh này của Lão Tử. Tại
phương Đông quá khứ bao giờ cũng được tôn kính; với kính trọng sâu sắc chúng ta
nhớ tới quá khứ. Tại phương Tây việc kính trọng quá khứ đã hoàn toàn biến mất;
thay vì thế, ngược lại, sự kính trọng nào đó về tương lai đi vào hiện hữu. Song
song với nó, người già không được kính trọng ở phương Tây - nếu quá khứ không
được kính trọng thì làm sao bạn có thể kính trọng người già được? Bằng cách nào
đó bạn chỉ khoan dung với họ; thậm chí bố mẹ cũng chỉ được dung thứ. Khi họ
già, sâu bên dưới một ham muốn nảy sinh trong bạn: giá mà họ chết đi thì tốt
hơn. Bởi vì bây giờ họ còn tác dụng gì nữa? Phương Tây nghĩ dưới dạng công dụng;
tất nhiên người trẻ thì công dụng hơn người già.
Nếu bạn
nghĩ về tiện dụng, thì người trẻ là hữu dụng hơn người già. Người già đã mất
năng lượng của mình, thân thể người đó què quặt, người đó ốm yếu, người đó sắp
chết bất kì ngày nào. Người đó không hữu dụng - người đó chỉ là gánh nặng. Mọi
kính trọng với người già đã biến mất. Nó là hệ quả: khi bạn không kính trọng
quá khứ thì bạn không thể kính trọng được bố mình, ông mình, và bạn thậm chí
không nhớ đến tên của ông tổ mình. Cứ dường như là ông ấy chưa bao giờ tồn tại
cả. Bạn bắt đầu nghĩ và cảm nhiều hơn về con bạn - chúng là tương lai. Và chúng
sẽ nghĩ về con chúng, nhớ lấy. Chúng sẽ không nghĩ về bạn. Cho nên đừng đau khổ
và đừng cảm thấy đau đớn và tổn thương về điều đó. Tại phương Tây, tương lai đã
trở thành có ý nghĩa; tại phương Đông nó bao giờ cũng là quá khứ.
Có nhiều
điều cần được hiểu. Tại sao ở phương Tây tương lai đã trở thành có ý nghĩa nhiều
hơn? Phương Tây bị chi phối bởi con người của tri thức: giáo sư, nhà khoa học,
tiểu thuyết gia, nhà thượng đế học, kẻ lừa mị chính trị. Phương Tây bị chi phối
bởi con người của tri thức - và tất nhiên có khả năng cho người trẻ biết nhiều
hơn người già, bởi vì người đó bao giờ cũng đứng trên vai của người già - người
đó có thể trông được xa hơn chút ít.
Bố bạn
đã học đại học từ ba mươi tới bốn mươi năm trước. Trong bốn mươi năm này mọi thứ
đã thay đổi. Bất kì cái gì bố bạn biết thì gần như đã lạc hậu rồi. Bản quyền
trên những cuốn sách mà ông ấy đọc tại đại học không còn có đó nữa. Chẳng ai bận
tâm tới những cuốn sách đó nữa, bạn có thể tìm thấy chúng chỉ ở các quầy sách
cũ. Chúng vô dụng. Bất kì cái gì ông ấy đã tích luỹ trong bốn mươi năm qua cũng
đều thành vô dụng, bởi vì trong bốn mươi năm sự bùng nổ tri thức đã xảy ra. Và
nó cứ còn tiếp diễn, tiếp diễn mãi. Con bạn sẽ biết nhiều hơn bạn - trong thực
tế, chúng đã biết nhiều hơn rồi.
Tôi mới
đọc một giai thoại nhỏ. Hai đứa trẻ đi tới vườn bách thú với bà ngoại chúng. Bà
ngoại đang giải thích cái gì là cái gì cho chúng. Thế rồi họ đi tới từ
"con cò" và bà già nói, "Đây là con chim thường đem trẻ con từ
trên trời xuống, con chim đem các cháu tới, con chim bao giờ cũng đem trẻ con tới."
Hai đứa
trẻ nhỏ bắt đầu cười khúc khích, và chúng thì thào vào tai nhau, "Chúng
mình có phải nói cho cái đồ cũ kĩ này về chân lí không nhỉ?"
Nhưng một
trong chúng nói, "Sao quấy rầy bà làm gì? Cứ để cho bà còn lại với niềm
tin của bà."
Mulla
Nasruddin gọi cậu con trai tới bởi vì bây giờ thời điểm đã chín muồi và mọi sự
về cuộc sống phải được kể cho nó. Cho nên anh ta bảo con, "Con đi với bố
vào phòng bố, bố muốn thảo luận vài sự kiện về cuộc sống với con. Bây giờ con
đã chín chắn và đôi điều cần được nói với con." Mulla cảm thấy chút ít bồn
chồn - như mọi người bố vẫn cảm thấy khi các sự kiện của cuộc sống cần phải được
nói cho con cái. Như các tâm trí già cỗi, lạc hậu vẫn làm, anh ta cảm thấy chút
ít bồn chồn.
Khi họ
đi vào trong phòng và anh ta đóng cửa thì đứa bé nói, "Bố đừng bồn chồn.
Bây giờ, bố muốn biết gì nào? Con có thể nói cho bố, đừng bồn chồn thế."
Trẻ con
bây giờ có thể nói cho bạn nhiều điều hơn - và trẻ con bằng cách nào đó cảm thấy
rằng bạn có chút ít dốt nát, vô học vấn. Mọi đứa trẻ ở phương Tây đều cảm thấy
rằng bố mẹ là vô học vấn. Sự kính trọng đã biến mất. Nếu con người của tri thức
mà chi phối xã hội thì điều này sẽ là như vậy, bởi vì tri thức phát triển hàng
ngày, thay đổi mọi ngày, tích luỹ ngày một nhiều - tất nhiên trẻ con cập nhật
nhiều hơn bố mẹ chúng. Nó phải là như vậy. Chúng biết những cái mới nhất.
Tại
phương Đông con người của trí huệ đã là trung tâm của cuộc sống, không phải là
con người của tri thức. Tri thức tăng trưởng, thay đổi, di chuyển - trí huệ thì
vĩnh hằng, nó bao giờ cũng vẫn thế. Bất kì khi nào bạn đạt tới nó, thì nó cũng
vẫn như thế. Nó giống như bầu trời vẫn còn vĩnh hằng như vậy. Mùa tới rồi đi:
bây giờ là mùa đông, bây giờ là mùa hè, bây giờ trời mưa, bây giờ mưa đã tạnh.
Cây cối tới rồi chết, các thế hệ tới rồi qua đi và vở kịch cuộc sống cứ diễn ra
mãi, nhưng bầu trời vẫn còn lại như nó vẫn thế, vĩnh hằng như cũ, mới vĩnh hằng,
tươi tắn và bao giờ cũng như cũ. Trí huệ giống như bầu trời.
Tất
nhiên tri thức có thể được dạy trong các đại học, cao đẳng, trường học. Trí huệ
không bao giờ có thể được dạy. Chẳng ở đâu nó có thể được dạy. Trí huệ phải được
hấp thu qua cuộc sống, không có cách khác. Cho nên chỉ người già mới có thể là
người trí huệ. Trong trí huệ người trẻ không bao giờ có thể đánh bại được người
già, nhưng trong tri thức thì người trẻ bao giờ cũng đánh bại người già.
Làm sao
bạn có thể đánh bại được người già trong trí huệ? Trí huệ tới qua kinh nghiệm;
tri thức tới không qua kinh nghiệm mà qua học hành. Bạn có thể nhồi nhét nó
vào, và nếu bạn có chút ít thông minh hơn người trung bình, thì bạn có thể biết
nhiều hơn thầy giáo của mình. Bạn có thể biết nhiều hơn bố mình, chẳng có vấn đề
gì về nó cả. Chỉ một chút ít nỗ lực về phần bạn là cần tới. Nhưng trí huệ -
không có cách nào. Nó tới dần dần qua cuộc sống. Nếu bạn sống và nếu bạn sống một
cách toàn bộ, nếu bạn sống và bạn sống với nhận biết, chỉ thế thì từng tí một,
trí huệ mới đi vào hiện hữu. Nó là hiện tượng tinh tế thế! Không có con đường
trực tiếp để đạt tới nó. Chỉ người già mới có thể trí huệ. Đó là lí do tại sao
bất kì khi nào có ai đó mà là trí huệ và trẻ, ở phương Đông chúng ta biết rằng
người đó là già, thì người đó là cổ đại.
Có một
câu chuyện hay về Lão Tử rằng ông ấy sinh ra đã già rồi; khi ông ấy sinh ra ông
ấy đã tám mươi tư tuổi - ông ấy đã ở trong bụng mẹ tám mươi tư năm. Ngớ ngẩn,
không thể tin được, nhưng lại là một câu chuyện hay - nói lên điều gì đó rất có
ý nghĩa. Nó nói rằng từ chính thời thơ ấu của mình ông ấy đã giống như một ông
già, trí huệ đến mức ông ấy không thể là đứa trẻ được. Nó nói lên điều gì đó.
Nó là biểu tượng. Nó nói rằng khi ông ấy còn là đứa trẻ thì ông ấy đã có nhiều
trí huệ như thông thường một người tám mươi tư tuổi có. Ông ấy phải đã cực kì tỉnh
táo.
Nếu bạn
rất rất tỉnh táo thế thì riêng một kinh nghiệm cũng có thể cho bạn nhiều lắm. Nếu
bạn không tỉnh táo thì bạn sẽ cứ lặp lại cùng kinh nghiệm mà chẳng thu được cái
gì.
Người
trí huệ chỉ rơi vào tình yêu một lần, thế rồi người đó biết mọi điều về nó. Người
đó thấm nhuần vào toàn bộ bí ẩn, người đó sống toàn bộ bí ẩn về nó, người đó đi
vào thế giới của nó, nhưng toàn bộ tới mức thậm chí không một xó xỉnh nào bị bỏ
lại mà không được sống qua. Thế rồi người đó đi ra khỏi nó. Thế thì không có vấn
đề về việc rơi vào tình yêu lần nữa - người đó đã sống và người đó đã biết. Người
đó đã trở thành trí huệ qua kinh nghiệm.
Người
ngu sẽ lặp cùng điều, lặp đi lặp lại mãi, và sẽ chẳng bao giờ có khả năng học
được điều gì từ nó cả.
Nhận biết
và dũng cảm để sống phải có đó, cho nên điều sẽ xảy ra là hiếm khi một đứa trẻ
hay thanh niên sẽ là trí huệ. Thông thường người ta sẽ trở nên trí huệ khi người
đó già, khi người đó đã sống tất cả mùa vụ của cuộc sống, khi người đó đã biết
tất cả mọi khí hậu, tất cả mọi tâm trạng - khi người đó đã biết dòng sông của
cuộc sống trong mùa hè, khi nó chỉ là một cái lòng sông khô cạn và chẳng có gì
còn ngoại trừ cơn khát, cơn đói, một cái lòng sông khô kiệt, một ham muốn cháy
bỏng, và không gì khác; và người đó đã biết dòng sông của cuộc sống trong cơn lụt
khi dòng sông trở thành mênh mông, mêng mang nguy hiểm và nó giả vờ là đại
dương.
Người
đó đã biết mọi tâm trạng, người đó đã đi qua mọi ngả đường mà cuộc sống cho
phép. Người đó đã sống như tội nhân, người đó đã sống như thánh nhân, người đó
được làm giầu có bởi mọi kinh nghiệm. Khi tất cả tóc trên đầu đã bạc trắng, cái
đẹp tới trên khuôn mặt chỉ có thể tới với người già, chưa bao giờ tới với người
trẻ. Người trẻ có thể đẹp khi có liên quan tới thể chất. Hình dáng, sự cân đối,
sức mạnh - vâng, thanh niên có thể rất đẹp. Nhưng khi có liên quan tới linh hồn,
tiến hoá, trưởng thành chỉ qua nhiều kinh nghiệm, thì chỉ người già mới có thể
đẹp.
Hiếm
khi điều này xảy ra, bởi vì hiếm khi mọi người nhận biết; hiếm khi mọi người sống
qua cuộc sống bằng thiền. Bằng không thì chẳng thanh niên nào có thể đua tranh
được cái đẹp của người già. Cái đẹp của người già có sự duyên dáng của nó, chiều
sâu; cái đẹp của người trẻ vốn dĩ nông cạn, trên bề mặt, chỉ sâu như làn da.
Cái đẹp của người già có chiều sâu trong nó - bạn đi vào và đi vào và đi vào
mãi và bạn chẳng bao giờ đi tới đáy của nó..
Người
già giống như đỉnh núi phủ tuyết của Himalayas, im lặng. Bão tố đã qua. Tất cả
những gì cần biết, người đó đã biết, chẳng còn gì thêm nữa để mà biết. Bản ngã
đã bị loại bỏ trên đường ở đâu đó bởi vì nó đã là gánh nặng, và với bản ngã và
gánh nặng đó bạn không thể nào đạt tới đỉnh cao thế. Khi người ta đi hướng tới
tột đỉnh thì người ta phải bỏ đi mọi thứ dần dần, chút một; đỉnh cuối cùng là
khi bạn phải bỏ cả bản thân mình nữa. Bạn đạt tới đỉnh như sự vô hiện hữu bởi
vì ngay cả hiện hữu cũng trở thành gánh nặng trong giai đoạn cuối cùng của cuộc
sống.
Phương
Đông kính trọng người già. Và nếu bạn kính trọng người già thì bạn kính trọng
quá khứ. Và phương Đông có nỗi nuối tiếc về quá khứ.
Bây giờ
lời kinh này:
Bậc
toàn thiện xưa nay tinh tế, nhiệm mầu,
Siêu
huyền, thông suốt, sâu chẳng khá dò.
Người
trí huệ thời cổ...
Tại
phương Đông bao giờ cũng là người già, người cổ mới trí huệ. Có khiêm tốn về bản
thân người ta và về hiện tại. Làm sao bạn có thể trí huệ hơn bố bạn được? Làm
sao bạn có thể trí huệ hơn ông bạn được, ông tổ bạn được? Không, bạn có thể biết
được nhiều hơn. Bạn có thể biết nhiều hơn Phật - nhưng bạn không thể trí huệ
hơn được. Trong thực tế, trong trí huệ nhiều hơn không tồn tại. Người ta trí huệ
hoặc không - không có nhiều hơn cho nó, không có ít hơn cho nó. Trong tri thức
nhiều và ít là tồn tại. Tri thức là tương đối, trí huệ là tuyệt đối. Bạn không
thể trí huệ hơn, và trong thực tế nếu bạn trí huệ thì bạn sẽ cảm thấy rất rất
khiêm tốn.
Lão Tử
cảm thấy khiêm tốn về bản thân mình và về tuổi mình đến mức ông ấy bao giờ cũng
nói về người trí huệ của thời cổ. Và nếu bạn đi tới người già trí huệ thì bạn sẽ
thấy họ nói về người trí huệ của những thời cổ hơn.
Nếu bạn
cố hiểu kinh sách phương Đông thì chúng bao giờ cũng nói rằng bất kì điều gì họ
nói đều không phải là mới, điều đó đã được nói cho họ, họ đã nghe thấy nó. Đó
là lí do tại sao người Hindus đặt hai tên cho kinh sách của mình: shruti và
smriti. shruti nghĩa là "Chúng tôi đã nghe thấy nó, chúng tôi đã nghe những
người đã biết." smriti nghĩa là "Chúng tôi đã ghi nhớ nó từ những người
đã biết." Không có lời công bố nào về phần của bất kì ai rằng họ đã biết,
bởi vì chính việc công bố "tôi đã biết" là lời công bố của dốt nát,
cái "tôi" là sự dốt nát cô đọng. Họ đi ngược lại, ngược lại và ngược
lại mãi. Trong Upanishad, nếu bạn đi ngược lại, họ sẽ nói: Tôi đã học từ thầy
giáo của tôi. Thầy giáo tôi đã học từ thầy giáo của thầy, người đó lại học từ
thầy của người đó... Và họ cứ tiếp diễn thế mãi, và ngay lúc bắt đầu: brahma, đấng
sáng tạo của thế giới, đã học từ bản thân sự tồn tại vũ trụ, từ brahman.
Người
đó đã học từ brahman; brahman là điều thiêng liêng vô hình còn brahma là điều
thiêng liêng hữu hình. Điều thiêng liêng hữu hình đã học nó từ điều thiêng
liêng vô hình, và từ brahma sông Hằng bắt đầu. Và thế rồi thầy giáo và thầy
giáo và thầy giáo, một đoàn người dài - và "tôi đã nghe về nó."
Đây là
một hiện tượng đẹp. Nó đơn giản nói rằng không người nào là hòn đảo cả, và có
tương thuộc. Toàn bộ quá khứ được bao hàm trong bạn - đây là ý nghĩa của nó. Bạn
không một mình ở đây, bạn đã không bỗng nhiên mà bật ra. Toàn bộ quá khứ đã được
bạn mang theo - tâm thức bạn là trong một dây chuyền, có quan hệ với toàn bộ
quá khứ. Từ ngay chính ban đầu cho tới giờ mọi thứ mà đã xảy ra thì đều đã xảy
ra cho bạn và bạn là người mang toàn bộ quá khứ. Theo cách này, trong thời
gian, mối quan hệ, cảm giác về mối quan hệ, nảy sinh.
Có thể
có hai kiểu tương thuộc. Một là tương thuộc không gian - bạn có quan hệ với cái
cây này, cái cây này có quan hệ với mặt trời của hôm nay. Mặt trời có quan hệ với
các ngôi sao lớn hơn, mọi thứ đều có quan hệ trong không gian - đây là một kiểu
tương thuộc. Có một kiểu tương thuộc khác chuyển theo thời gian: toàn bộ quá khứ
được bao hàm trong bạn. Bạn đã tới như kết quả của toàn bộ quá khứ, và toàn bộ
tương lai sẽ tới từ bạn. Bạn là kết quả của toàn bộ quá khứ và bạn sẽ trở thành
hạt mầm của toàn bộ tương lai. Thế thì thời gian và không gian cả hai là tương
thuộc, trong cả hai chiều bạn đều có tương thuộc.
Bậc
toàn thiện xưa nay tinh tế, nhiệm mầu,
Siêu
huyền, thông suốt, sâu chẳng khá dò.
Trí huệ
tinh tế nhiệm mầu là gì? Họ biết trực tiếp, họ biết ngay tức khắc. Họ biết chân
lí mặt đối mặt, đấy không phải là tri thức vay mượn. Và khi trí huệ là trực tiếp,
chỉ thế thì nó mới là trí huệ. Bằng không thì nó chẳng là gì ngoài cái mặt nạ
cho dốt nát, bạn cứ che giấu cái dốt nát của mình bằng tri thức của mình. Và tại
sao gọi là trí huệ tinh tế? Tại sao không chỉ gọi nó là trí huệ? Phỏng có ích
gì mà gọi nó là tinh tế?
Có vấn
đề đấy. Trí huệ là trực tiếp nhưng tinh tế. Nó là trực tiếp theo nghĩa rằng người
ta đối diện với cuộc sống ngay lập tức, nhưng nó là tinh tế theo nghĩa rằng
trong cuộc sống bạn chưa bao giờ đạt tới bất kì cái gì một cách trực tiếp cả. Bạn
phải đi vào nó theo cách gián tiếp.
Cố hiểu
đi. Ngay chỗ đầu tiên, trí huệ là trực tiếp theo nghĩa rằng nó không được vay
mượn. Không phải là bạn đơn giản vay mượn cái biết làm của ai đó khác, và tích
luỹ nó trong tâm trí. Không, bản thân bạn phải đi tới đương đầu với nó. Theo
nghĩa này nó là trực tiếp, còn trực tiếp hơn tri thức. Nhưng dầu vậy nó vẫn là
tinh tế, bởi vì nó có con đường gián tiếp riêng của nó. Con đường gián tiếp đó
là gì vậy?
Nếu bạn
muốn hạnh phúc, bạn không thể đi trực tiếp như mũi tên lao thẳng tới mục tiêu hạnh
phúc được. Nếu bạn làm như thế thì bạn sẽ lỡ. Chẳng hạn, ai đó nói với bạn,
"Khi tôi đi bơi ở sông, trời đẹp thế và tôi cảm thấy hạnh phúc và thảnh
thơi thế, chỉ nổi trên mặt nước dưới mặt trời. Tôi quên hết mọi lo nghĩ, tôi
quên hết mọi căng thẳng và tôi thảnh thơi tới mức thế giới không tồn tại. Và
tôi cảm thấy hạnh phúc thế, phúc lạc sâu sắc tới với tôi qua nó." Và lòng
tham của bạn phát sinh, và bạn nói, "Thế thì tôi cũng thử xem sao."
Thế là bạn đi, nhưng bạn đi rất trực tiếp. Tâm trí bạn không trong việc bơi,
tâm trí bạn không ở cùng với dòng sông, tâm trí bạn không ở cùng với mặt trời,
tâm trí bạn không ở cùng với gió. Tâm trí bạn giống như mũi tên đi thẳng tới
cái đích của hạnh phúc - bạn sẽ bỏ lỡ nó.
Bởi vì
cuộc sống rất rụt rè, nó lẩn trốn những người hùng hổ. Nó chỉ tự lộ mình cho những
người thuyết phục nó theo cách rất tinh tế và gián tiếp. Cuộc sống phải được
thuyết phục và dụ dỗ. Cuộc sống là phụ nữ. Đừng hùng hổ với nó. Bạn không thể
cưỡng bách nó được. Và nếu bạn cố cưỡng bách nó thì bạn sẽ tay không, bạn sẽ chẳng
thu được gì từ nó cả. Bạn có thể cưỡng bách nó. Đó là điều gần như mọi người đều
làm - cố gắng cưỡng bách cuộc sống. Bởi vì rơi vào tình yêu dường như là mạo hiểm,
cưỡng bách dường như ít mạo hiểm hơn - không có cam kết nào trong nó. Nhưng
không cam kết gì thì bạn không thể học được gì cả. Chừng nào bạn còn chưa tham
dự thì bạn sẽ không được biến đổi.
Bạn đi
ra sông mà tâm trí bạn cứ liên tục nghĩ và khao khát về hạnh phúc. Bạn không
nhìn vào dòng sông. Bạn không nhạy cảm, bạn chỉ tham lam. Bạn đi vào dòng sông
nhưng bạn đơn giản cảm thấy mệt mỏi và không thảnh thơi. Bạn bơi, nhưng thường
xuyên hỏi, "Cái hạnh phúc mà anh nói tới nó ở đâu vậy? Tôi thấy mặt trời,
tôi thấy dòng sông, tôi thấy gió chuyển nhưng cái hạnh phúc mà anh nói tới đó
nó ở đâu?"
Đây là
cuộc tấn công trực diện. Không ai có thể đạt tới hạnh phúc theo cách đó được. Bạn
phải quên đi bản thân mình trong việc bơi và quên đi rằng bạn ở đây để đạt tới
hạnh phúc. Quên bản thân mình đi và quên cái tham lam của mình và quên mục tiêu
đi - và khi mục tiêu bị quên đi thì cái đích được đạt tới. Tôi có thể dường như
nghịch lí nhưng tôi không thể là cái gì khác được; tôi bất lực, bởi vì đây là
cách cuộc sống hiện hữu. Quên mục tiêu đi và mũi tên trúng vào nó; nhìn mục
tiêu, nhìn nó nhiều nữa - và mũi tên sẽ bị trệch. Bạn không thể đạt tới được. Bạn
sẽ về nhà và bạn sẽ nói, "Nó là vô dụng, tôi đã thử."
Ai đó
thiền và cảm thấy cực lạc và bạn cảm thấy bị tiêm nhiễm. Bất kì khi nào người
đó tới quanh bạn, bạn đều cảm thấy người đó có cái gì đó mà bạn không có. Và bạn
hỏi, "Chuyện gì xảy ra vậy?" Người đó nói người đó thiền và nó là hiện
tượng phúc lạc thế - bạn tới và thử. Bạn tới và thử nhưng bạn thất bại, bởi vì
bạn bao giờ cũng trực tiếp. Bạn không hiểu rằng cuộc sống mang nữ tính, nó thực
sự là đàn bà. Bạn sẽ phải khuyên nhủ nó, gián tiếp, tinh tế.
Đừng đi
và hỏi trực tiếp người đàn bà, "Em có muốn lên giường với anh không?"
Cô ấy sẽ gọi cảnh sát. Thi vị chút ít đi. Viết những bức thư tình hay cho cuộc
sống. Đó là điều thiền tất cả là gì - viết những bức thư tình cho cuộc sống, gửi
các thông điệp có gài bẫy nhưng rất gián tiếp. Khi cuộc sống nghiêng ngày một
nhiều về bạn, lấy ngày một nhiều dũng cảm hơn - nhưng đi rất thận trọng; bạn có
thể bỏ lỡ nó. Một chút ít hùng hổ và bạn sẽ bỏ lỡ nó. Yêu, hạnh phúc, thiền,
chân lí - hay cái gì bạn đặt tên cho nó - bất kì cái gì đẹp thì đều có thể được
đạt tới chỉ theo cách tinh tế. Đó là lí do tại sao Lão Tử nói:
Bậc
toàn thiện xưa nay tinh tế, nhiệm mầu,
Siêu
huyền, thông suốt, sâu chẳng khá dò.
Siêu
huyền thông suốt là gì? Siêu huyền thông suốt là khi bạn có thể đứng trong giầy
của người khác, khi bạn có thể thấy từ mắt của người khác, khi bạn có thể cảm
thấy từ tay của người khác, khi bạn có thể đứng trong sự hiện hữu của người
khác, tại trung tâm của người khác, và nhìn qua người đó - người đó cảm thấy thế
nào, người đó cảm thấy cái gì, người đó nói gì.
Con người
của tri thức bao giờ cũng mù quáng, biện luận; người đó bao giờ cũng đúng còn
người khác bao giờ cũng sai. Người đó bao giờ cũng thảo luận; việc thảo luận của
người đó trở thành việc làm chán ghét. Người đó bao giờ cũng kiêu ngạo và bao
giờ cũng phòng thủ. Người đó không thể hiểu được bất kì ai. Bất kì điều gì bạn
nói người đó sẽ phủ nhận - người đó sẽ nói không, bởi vì trong cái không người
đó biết có quyền lực. Nhớ điều này: người chưa học được quyền lực của việc nói
có thì chưa phải là trí huệ. Người đó cứ nói không bởi vì bất kì khi nào người
đó nói không thì người đó đều cảm thấy quyền lực. Bạn có cảm thấy điều đó
không? Chỉ nói không và bạn cảm thấy có quyền lực. Nói có và bạn cảm thấy bị
khuất phục. Có trở thành khó khăn, cho nên bạn cứ mâu thuẫn với bất kì ai nói bất
kì cái gì. Bạn bao giờ cũng đúng.
Làm sao
điều này có thể được? Toàn thể thế giới này - biết bao nhiêu là tâm thức, biết
bao nhiêu là cách nhìn vào cuộc sống - tất cả đều sai, chỉ bạn là đúng sao? Điều
này dường như là cái nhìn rất rất kiêu ngạo và bạo hành. Con người của hiểu biết
thì hiểu rằng bằng cách nào đó mọi người đều phải theo nghĩa này hay nghĩa
khác.
Chuyện
xảy ra:
Một nhà
huyền môn Sufi được bổ làm kazi; ông ấy được bổ nhiệm làm quan toà, chánh án.
Ông ấy là một người trí huệ, con người của hiểu biết - điều Lão Tử gọi là siêu
huyền thông suốt.
Vụ án đầu
tiên được đem tới trước ông ấy. Người thứ nhất biện minh. Ông ấy nghe chăm chú,
và thế rồi ông ấy nói, "Phải, hoàn toàn phải."
Viên
thư kí của toà lo nghĩ bởi vì ông ta còn chưa nghe người kia, và làm sao một
quan toà nói điều này được khi không nghe người kia? Cho nên ông ta nghiêng người
về phía quan toà và thì thào vào tai ông này: "Tôi cho là ông chưa biết về
cung cách của toà án. Ông không nên nói điều này bởi vì nó là một phán quyết, vụ
kiện kết thúc. Nhưng ông chưa nghe người kia! Làm sao ông có thể nói với người
kia rằng họ là phải được?"
Viên
quan toà nói, "Ông phải đấy. Để tôi nghe nốt bên kia."
Ông ta
nghe bên kia nói, lắng nghe chăm chú và rồi nói, "Phải, hoàn toàn phải."
Bây giờ
viên thư kí cho rằng con người này điên rồi. Làm sao cả hai đều có thể cùng phải
được? Ông ta nghiêng người lần nữa và nói, "Ông làm cái gì thế? Ông say
hay là ông điên đấy? Làm sao cả hai đều phải được?"
Viên
quan toà nói, "Tất nhiên, ông cũng phải. Làm sao cả hai đều phải được?"
Đây là
con người của hiểu biết sâu sắc, từ mọi người đều phải cả - bởi vì người đó có
thể xuyên thấu vào chính chiều sâu của sự hiện hữu của bạn và có thể thấy quan
điểm của bạn nữa. Người đó không bị đóng kín trong quan điểm của riêng mình,
trong triết lí của riêng mình, trong học thuyết của riêng mình. Trong thực tế
người đó không có gì - người đó là hiện tượng mở. Người đó có thể tới vào trong
bạn và nhìn qua bạn và có thể thấy tại sao, tại sao bạn lại khăng khăng; người
đó có thể cảm thấy tại sao bạn lại đúng.
Nhưng
thế thì kiểu người này sẽ là bí ẩn. Hoặc bạn sẽ gọi người đó là điên hoặc bạn sẽ
gọi người đó là hiền nhân, người vượt ra ngoài thế giới này và không việc nào của
người đó can thiệp vào cuộc sống chúng ta.
Đây là
điều xảy ra cho Mahavira. Ông ấy đã tạo ra một logic; một logic như vậy chưa hề
tồn tại trước đây. Ông ấy đã tạo ra một logic được gọi là syatvad, logic của
cái có thể. Bất kì điều gì bạn nói thì ông ấy sẽ nói, "Có thể anh
đúng." Nếu ai đó tới và nói, "Tôi tin vào Thượng đế," thì ông ấy
sẽ nói, "Có thể Thượng đế hiện hữu." Bao giờ cũng có thể. Làm sao bạn
có thể tuyệt đối sai được? Với một lực sống, một Thượng đế trong bạn, làm sao bạn
có thể tuyệt đối sai được? Cái gì đó phải đúng. Có thể chúng ta không thể hiểu
được điều đó, có thể chúng ta không thể cảm thấy điều đó, nhưng cái gì đó phải
đúng trong bạn. Nếu Thượng đế tồn tại trong mọi người, thế thì mọi người có cái
đúng là đúng ở đâu đó.
Mahavira
thấm nhuần sâu sắc. Con người này đang ngồi đó, người khác tới và nói,
"Tôi không tin vào Thượng đế, Thượng đế không tồn tại." Và Mahavira
nói, "Có thể anh cũng phải. Có một nghĩa mà theo đó Thượng đế tồn tại và
có một nghĩa mà theo đó Thượng đế không tồn tại." Thế rồi ông ấy đã tạo ra
một logic mới, một chiều hướng mới cho logic.
Chỉ có
hai logic: một logic là của Aristotle và logic kia là của Mahavira. Aristotle
nói A chỉ có thể là A và A không bao giờ có thể là B. Còn Mahavira nói A là A
và cũng có thể là B, cũng có thể là C, cũng có thể là D - mãi cho tới Z. Với
nhiều góc thế, nhiều góc nhìn sự vật thế - ông ấy nói rằng có bẩy quan điểm.
Nhưng khó mà hiểu được Mahavira, đó là lí do tại sao việc theo ông ấy đã không
thể phát triển nhiều. Điều đó là không thể được. Ngay cả những người theo ông ấy,
họ theo ông ấy bởi vì họ ngẫu nhiên sinh vào trong nhóm của ông ấy; bằng không
thì điều đó là không thể được. Tôi chưa bắt gặp một người Jaina nào có thể thực
sự theo Mahavira.
Tôi đã
nói chuyện với một người Jaina muni, một trong những lãnh tụ vĩ đại của Jaina
munis, và tôi đã hỏi ông ta, "Ông nghĩ gì về syatvad?"
Ông ấy
nói, "Điều đó là tuyệt đối đúng."
Tôi
nói, "Thế thì ông không phải là syatvad, ông phải nói có thể chứ."
Ngay cả về Mahavira bạn cũng phải nói, 'Có thể ông ấy là đúng.'"
Nhưng
không người Jaina nào có thể nói được điều đó. "Có thể sao? Mahavira là
tuyệt đối đúng" - tại đó họ lỡ. Họ nói rằng Jaina giáo là tuyệt đối đúng,
và toàn bộ quan điểm của Jaina giáo là ở chỗ không cái gì là tuyệt đối đúng cả.
Mới hôm
nọ chuyện xảy ra: vợ Mulla Nasruddin tới gặp Sona - bạn biết Sona, người đoán
bài tây chứ? - và cô ấy trở về rất rối loạn.
Tương
lai làm rối loạn. Bất kì cái gì về tương lai cũng gây rối loạn. Không biết về
tương lai cũng là điều tốt bởi vì một khi bạn biết cái gì đó về tương lai thì
nó bắt đầu làm thay đổi hiện tại của bạn, và rối loạn nảy sinh.
Cô ấy rất
lo nghĩ. Mulla Nasruddin hỏi cô ấy, "Có chuyện gì vậy?"
Cô ấy
nói, "Em đã tới người đoán bài tây, một phụ nữ rất tốt, và bà ấy đã nói
đôi điều và em rất lo nghĩ."
Mulla
Nasruddin nói, "Đừng lo nghĩ. Chẳng cái gì là chắc chắn trong cuộc sống cả
cho nên không dự đoán nào có thể được đưa ra. Anh bảo em rằng chỉ người ngu mới
chắc chắn."
Cô vợ
nói, "Anh có thực chắc chắn về điều đó không?"
Anh ta
nói, "Tuyệt đối chắc chắn!"
Chỉ người
ngu mới chắc chắn. Nếu một người tuyệt đối chắc chắn về điều đó thì người đó trở
thành kẻ ngu tuyệt đối. Không người Jaina nào có dũng cảm để nói, "Có thể
Mahavira đúng. Có thể những người phủ nhận Mahavira cũng đúng." Không người
Jaina nào có dũng cảm đó - đó là lí do tại sao tôi nói không người Jaina nào có
hiểu biết về Mahavira. Điều đó là khó khăn.
Bậc
toàn thiện xưa nay tinh tế, nhiệm mầu,
Siêu
huyền, thông suốt, sâu chẳng khá dò.
Bạn
càng đi vào bên trong mình, bạn càng uyên thâm hơn, bạn càng trở nên thấu hiểu
người khác hơn, bởi vì họ sống trên bề mặt. Nếu bạn sống trên bề mặt, mọi sự đều
tốt - họ hiểu bạn. Bề mặt thì họ hiểu. Nhưng nếu bạn bắt đầu đi xuống sâu, sâu
hơn vào trong uyên thâm của mình, thì một khoảnh khắc tới khi bạn trở thành
không thể nào hiểu nổi. Bạn đã đi vượt ra ngoài họ; họ không thể hiểu được bạn.
Mới
hai, ba ngày trước đây một sannyasin tới tôi, và anh ta nói, "Tôi không thể
tới bài nói của thầy được thêm nữa, bởi vì tôi cảm thấy chán." Tôi nói,
"Bạn đừng tới nữa! Đừng tới nữa!" Anh ta nghĩ anh ta đang nói điều gì
đó về bài nói của tôi khi anh ta nói anh ta cảm thấy chán. Anh ta đang nói điều
gì đó về bản thân anh ta, rằng điều đó đi vượt ra ngoài hiểu biết của anh ta, rằng
anh ta không thể đi vào trong uyên thâm như vậy, rằng điều đó vượt ra ngoài anh
ta. Thế thì anh ta cảm thấy chán.
Con người
có thể cảm thấy chán theo hai cách. Hoặc là cái gì đó thường xuyên lặp lại, chỉ
một nốt nhạc cứ lặp lại mãi liên tục, một âm thanh đơn điệu - thế thì bạn cảm
thấy chán... Và đó là cách mà bài hát ru con được tạo ra. Người mẹ cứ lặp lại một
câu nào đó, và đứa trẻ cảm thấy chán và đi vào giấc ngủ. Đó là lí do tại sao những
người chịu chứng mất ngủ nên làm như vậy với chính mình. Đó là cách câu mật chú
có ích, thiền siêu việt TM của Maharishi Mahesh Yogi giúp cho những người bị mất
khả năng ngủ. Với họ TM là hoàn hảo, bởi vì nó tạo ra chán ngán. Bạn lặp câu mật
chú bên trong - cứ lặp mãi, lặp mãi - tâm trí cảm thấy chán bởi vì chẳng có gì
mới để biết, không có kích động, cùng từ lặp đi lặp và lặp và lặp mãi... Bạn
rơi vào giấc ngủ.
Hay bạn
cảm thấy chán khi cái gì đó vượt ra ngoài bạn. Bạn cảm thấy chán khi cái gì đó
uyên thâm đến mức nó thành không thể hiểu nổi với bạn.
Siêu
huyền, thông suốt, sâu chẳng khá dò.
Bạn có
thể hiểu chỉ tới mức độ mà bạn nhận biết. Bạn không thể hiểu được nhiều hơn nhận
biết của mình; hiểu biết của bạn nhất định bị giới hạn vào tỉnh táo của bạn. Nếu
bạn muốn hiểu người trí huệ, bạn sẽ phải trưởng thành trong nhận biết. Bạn càng
nhận biết nhiều, bạn càng thấm nhuần vào nó nhiều. Khi bạn đã hoàn toàn nhận biết,
chỉ thế thì Lão Tử mới hoàn toàn mở cho bạn. Không phải là ông ấy đóng, ông ấy
bao giờ cũng mở - nhưng bạn vẫn không thể vào được ông ấy. Bạn vẫn chưa có khả
năng của điều đó.
Bởi chẳng
khá dò, tạm hình dung Đó.
Bởi vì
bạn không thể hiểu được người trí huệ thực sự nên bạn phân vân về họ. Những điều
mâu thuẫn, tin đồn lan rộng về họ, khắp xung quanh. Ai đó nói Gurdjieff là Thượng
đế và ai đó nói rằng ông ấy là quỉ Satan, và cả hai tin đồn đều đúng - bởi vì một
người có sự uyên thâm thì là cả hai.
Tạm
hình dung đó...
Cho nên
mọi người mô tả họ theo những cách này: thận trọng - người trí huệ sẽ trông rất
thận trọng với bạn. Người đó không thận trọng, người đó chỉ tỉnh táo. Có khác
biệt, khác biệt bao la. Khi một người thận trọng thì người đó sợ. Chẳng hạn,
trong đêm tối, bạn lạc đường trong rừng sâu; bạn đi thận trọng. Tại mọi bước đều
có nguy hiểm, cái chết. Trong thận trọng đó, tỉnh táo nào đó tới với bạn - bạn
có thể đã cảm thấy nó. Bất kì khi nào có nguy hiểm thì tỉnh táo nào đó lại tới
với bạn, bất kì khi nào có nguy hiểm thì bạn lại trở nên chút ít tỉnh táo hơn -
không đích xác là tỉnh táo, đơn giản là thận trọng. Nhưng để thận trọng thì người
ta phải có chút ít tỉnh táo. Nó tới một cách tự động; tỉnh táo đó là cái bóng tự
động của thận trọng. Nhưng chúng ta không biết tỉnh táo là gì, cho nên khi
chúng ta thấy một người trí huệ, vị phật, bước qua, chúng ta nghĩ ông ấy rất thận
trọng. Đó là cách hiểu của chúng ta về nhận biết của ông ấy.
Thận
trọng như qua suối mùa đông.
Do
dự như sợ nguy hiểm bốn bên.
Nghiêm
kính như khách lạ,
Khiêm
nhường như băng tan,
...
người đó dường như bao giờ cũng thận trọng.
Do
dự như sợ nguy hiểm bốn bên.
Không,
người trí huệ không do dự, nhưng người đó không chắc chắn như kẻ ngu. Người đó
không mang giải pháp làm sẵn về cuộc sống, đó là lí do tại sao người đó có vẻ
do dự. Người đó không sống với các kết luận. Người đó sống cởi mở, cởi mở với bất
kì cái gì đang sắp xảy ra. Người đó không có kết luận trong tâm trí mình. Người
đó không ép buộc kết luận của mình lên cuộc sống, người đó vẫn còn tỉnh táo và
giúp đỡ cuộc sống để đạt tới kết luận của riêng nó. Người đó hợp tác, người đó
không áp đặt - có khác biệt.
Chúng
ta sống với các kết luận. Chẳng hạn, bạn đã tới nghe tôi. Ai đó nói với bạn về
tôi. Người đó là một người bạn và người đó nói về tôi. Người đó ca ngợi tôi;
người đó gây ấn tượng cho bạn. Người đó đã tới nghe tôi với một kết luận: tôi
là người tốt. Bây giờ bạn sẽ nghe qua kết luận này và kết luận của bạn sẽ được
làm mạnh thêm. Bạn sẽ trở về nhà và nói rằng người đó là đúng, người bạn đó là
đúng. Thế rồi ai đó khác đã tới vào cùng buổi sáng này. Người đó đã gặp kẻ thù
của tôi, người đã nói với người đó nhiều điều về tôi. Người kia đã thuyết phục
người đó rằng tôi là con người sai trái, nhưng tính tò mò của người đó đã bị
đánh thức - người ta muốn tới xem cho dù là một con người sai trái thế. Người
đó cũng tới vào sáng nay để nghe tôi với một kết luận, và người đó sẽ đi với kết
luận của mình được làm mạnh thêm.
Chỉ những
người đã tới tôi mà không có kết luận nào, cởi mở, tựa tấm gương, mới thấy
khuôn mặt thật của tôi. Bằng không thì kết luận của bạn sẽ trở thành khuôn mặt
tôi, bạn sẽ áp đặt nó lên khuôn mặt tôi.
Người
trí huệ thì không do dự nhưng người đó dường như do dự bởi vì người đó sống
không có kết luận, người đó chuyển từ khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia. Người
đó chưa bao giờ mang bất kì kết luận nào từ quá khứ. Bất kì cái gì cuộc sống
đem tới, thì người đó đều đương đầu với nó bằng tâm thức tươi tắn, không với
tâm thức bị nặng gánh bởi kết luận. Thế thì mọi sự là chết. Bạn nhìn qua kết luận
- điều đó nghĩa là bạn nhìn qua quá khứ, điều đó nghĩa là bạn nhìn qua kinh
nghiệm của mình, qua tâm trí. Bạn chưa bao giờ tới trực tiếp vào mối tiếp xúc với
cuộc sống. Có một bộ đệm giữa bạn và cuộc sống - kết luận của bạn vận hành như
bộ đệm. Bạn sợ chạm vào cuộc sống.
Thận
trọng như qua suối mùa đông.
-
và người đó không thận trọng, người đó nhận biết.
Do
dự như sợ nguy hiểm bốn bên.
-
không, người đó không do dự, người đó không có kết luận gì.
Nghiêm
kính như khách lạ...
-
không, người đó không trang nghiêm mà người đó dường như vậy thôi bởi vì người
đó không phải là cái bóng. Người đó không cười, cái cười của người đó không phải
là cái cười của người nông cạn. Nhiều nhất thì người đó mỉm cười - ngay cả thế
cũng là quá nhiều. Trong thực tế người đó thậm chí không cần mỉm cười bởi vì
toàn bộ sự hiện hữu của người đó đã tràn ngập với biết bao nhiêu là cái đẹp, với
biết bao nhiêu là vẻ đẹp, với biết bao nhiêu là hạnh phúc, đến mức người đó
không cần.
Bạn sẽ
ngạc nhiên rằng người cười nhiều nhất lại thực sự buồn rầu bên trong; bằng việc
cười họ che giấu cái buồn của mình, bằng cái cười họ cố gắng lừa bản thân mình
rằng họ hạnh phúc. Những người cười to gần như bao giờ cũng có vết thương sâu
bên trong họ. Họ không muốn đi vào bên trong những vết thương đó.
Ai đó
đã hỏi Friedrich Nietzsche sao ông ấy cười nhiều thế. Nietzsche nghe nói đã nói
- và ông ấy thực sự là một con người rất chân thực, trung thực, vì sự trung thực
mà ông ấy đã phát điên. Trong thế giới điên này, nếu bạn thực sự trung thực thì
bạn sẽ khó khăn - ông ấy nói: tôi cứ cười bởi vì tôi sợ rằng nếu tôi không cười
thì tôi sẽ bắt đầu la khóc, tôi sẽ bắt đầu khóc lóc. Và điều đó sẽ gây bối rối.
Tôi che giấu nước mắt của mình trong tiếng cười của mình.
Bạn thấy
người trí huệ như trang nghiêm - đấy là diễn giải của bạn thôi. Người đó không
trang nghiêm. Người đó không nông cạn, điều đó là đúng... quan sát dòng sông
nông cạn, nó tạo nhiều tiếng động thế. Dòng sông sâu di chuyển cứ như là nó
không di chuyển - không tiếng động - không phải bởi vì nó không di chuyển. Nó
di chuyển, nhưng nó sâu đến mức tiếng động không đạt tới bạn. Người trí huệ cười
trong cốt lõi sâu xa nhất của sự hiện hữu của người đó. Nó không đạt tới đôi
môi người đó. Để biết tiếng cười của người đó bạn sẽ phải trở thành giống như
người đó.
Khiêm
nhường như băng tan,
Bạn
nghĩ rằng người trí huệ là khiêm tốn, khiêm nhường, như băng bắt đầu tan; bạn
nghĩ trí huệ là khiêm tốn - không. Người trí huệ đơn giản là vô ngã, có vậy
thôi. Tôi sẽ không nói rằng người trí huệ là khiêm tốn, bởi vì tính khiêm tốn
cũng là một loại bản ngã. Mang tính khiêm tốn nghĩa là một bản ngã rất được
trau chuốt. Mang tính khiêm tốn nghĩa là một bản ngã rất có văn hoá. Nếu không
có bản ngã thì làm sao bạn có thể khiêm tốn được? Nếu bạn không thể kiêu ngạo
thì bạn cũng không thể khiêm tốn được. Chúng cả hai đi cùng nhau, chúng là hai
mặt của cùng một hiện tượng. Bạn đi và nhìn người khiêm tốn ấy, kẻ đầy tớ của
nhân dân, thế này thế nọ, và nhìn vào mắt họ mà xem. Họ giả vờ họ khiêm tốn, họ
thậm chí tin họ khiêm tốn nhưng bạn có thể thấy những bản ngã tinh vi của họ
loé lên trong mắt họ.
Chuyện
xảy ra: một người tới gặp Socrates. Người này là một nhà tu khổ hạnh, fakir, một
người rất khiêm tốn. Ông ấy khiêm tốn tới mức ông ấy sẽ không dùng quần áo mới.
Ông ấy khiêm tốn đến mức nếu quần áo mới được đem cho ông ấy thì trước hết ông ấy
phải làm cho chúng mòn cũ đi, bẩn thỉu đi, thế thì ông ấy mới dùng chúng. Ông ấy
tới gặp Socrates và có nhiều lỗ thủng trong quần áo ông ấy. Socrates nhìn vào
ông ấy và nói, "Ông nghĩ rằng ông khiêm tốn sao? Qua những lỗ hổng của của
ông tôi có thể thấy bản ngã của ông."
Bản ngã
có thể giả vờ khiêm tốn. Người khiêm nhường không thực là khiêm tốn, người
khiêm nhường đơn giản là rất thủ đoạn và tinh ranh. Không, với những người
không thể đi vào uyên thâm của người trí huệ thì dường như là người đó là khiêm
nhường. Người đó không biết tới cái ta, làm sao người đó có thể khiêm nhường được?
Người đó đơn giản sống không có bản ngã nào, không có bất kì kiêu ngạo nào và
không có bất kì nhún nhường nào.
Chân
chất như gỗ chưa đẽo gọt,
Với bạn
thì dường như là người trí huệ là mẩu gỗ thô thiển, chưa được xử lí, bởi vì văn
hoá của người đó là rất rất sâu xa, tinh tế của người đó là rất rất uyên thâm.
Chỉ trên bề mặt bạn mới thể chạm vào người đó được; cái xù sì đó chỉ là trên bề
mặt. Về Gurdjieff người ta nói rằng ông ấy thô thiển đến mức mọi người sẽ trốn
khỏi ông ấy. Khó mà đứng cạnh ông ấy nhưng những người có thể đứng cạnh ông ấy
trong vài tuần sẽ đi tới biết từ bi sâu sắc của ông ấy.
Trong tự
nhiên bạn có thể quan sát một điều: bất kì khi nào bạn thấy cái gì đó rất mềm mại
thì bao giờ bạn cũng sẽ tìm ra nó được bao che bởi cái gì đó cứng rắn. Hạt mầm
được bao che bởi vỏ cứng, được bao che bởi lớp vỏ cứng. Hạt mầm được bao bọc bởi
lớp vỏ cứng. Điều đó là tự nhiên.
Trong
con người bạn sẽ thấy chính hiện tượng đối lập : bên ngoài thì mềm, lớp vỏ mềm
và cái hạt mầm cứng, bên trong rất cứng. Đây là sự suy đồi. Trong tự nhiên điều
tự nhiên là cứng bên ngoài bởi vì nếu bạn không cứng bên ngoài thì bạn không thể
mềm bên trong được. Cái mềm bên trong phải được che đậy bởi cái cứng. Nó bảo vệ.
Nhưng trong con người bạn sẽ thấy chính cái đối lập. Đây là điều thói đạo đức
giả là gì - mềm bên ngoài, mềm như bơ, và bên trong, bạn càng biết nhiều về một
người thì người đó càng cứng rắn. Một sự suy đồi. Điều này không nên như vậy.
Đây là điều người phong lưu của bạn là gì, người có văn hoá của bạn là gì, cái
gọi là người văn minh của bạn là gì - con người đạo đức, con người tôn giáo: mềm
bên ngoài và cứng bên trong thế. Điều này đáng ra không thể thế được - nó là có
thể chỉ bởi vì chỉ con người mới có thể giả vờ, không ai khác có thể giả vờ.
Con người
của trí huệ là một phần của tự nhiên; tất cả mọi suy đồi đã biến mất. Người đó
sẽ thô thiển ở bên ngoài và mềm mại ở bên trong. Bạn sẽ phải kiên nhẫn với con
người của trí huệ - bạn sẽ muốn thoát khỏi người đó bởi vì nhiều lần bạn sẽ cảm
thấy người đó cứng rắn thế, người đó sẽ giết bạn. Hay bạn tới để nhận an ủi nào
đó còn người đó cứ gây choáng váng cho bạn. Bạn tới để nhận tình yêu nào đó, bạn
đang tìm kiếm tình yêu nào đó, còn người đó lại chẳng bao giờ nhìn vào bạn, chẳng
bao giờ chú ý nhiều tới bạn. Bạn tới vì từ bi còn người đó thì cứng rắn thế. Bạn
sẽ muốn trốn thoát. Nhưng con người của trí huệ thì bao giờ cũng theo cách đó bởi
vì người đó là tự nhiên, và tự nhiên có cách này, đây là sự sắp xếp: bên trong
mềm mại, bên ngoài cứng rắn.
Nhìn vỏ
cây xem, nó cứng rắn ở bên ngoài thế. Đi vào bên trong và bạn sẽ thấy các tầng
cứ ngày một mềm hơn. Ngay tại trung tâm là cuộc sống, hoàn toàn mềm mại. Nó phải
được bảo vệ.
Phóng
khoáng như thung lũng,
Pha
lẫn như nước đục.
Người
trí huệ sẽ có vẻ phóng khoáng với bạn; trong thực tế người đó không có tâm trí,
không phóng khoáng. Bạn có thể là người phóng khoáng và khép kín; người trí huệ
là người vô trí. Nhưng vô trí với bạn dường như là phóng khoáng, nhiều nhất. Nó
uyên thâm đến mức bạn không thể hiểu được. Nhiều nhất bạn có thể hiểu rằng con
người này là rất mở, tâm trí người đó không đóng, nhưng bạn không biết rằng người
này không có tâm trí để đóng. Người đó không phải là phóng khoáng, người đó đơn
giản là vô trí. Không phải là cánh cửa của ngôi nhà của người đó để mở. Trong
thực tế không có ngôi nhà. Người đó chỉ ở dưới bầu trời mở, người đó không có
nhà và không có cửa. Người đó không mở, thay vì thế người đó là tính mở.
Nhưng với
chúng ta, từ bên ngoài, nếu chúng ta cố hiểu người trí huệ, thì những điều này
sẽ xảy ra. Đó là lí do tại sao bất kì cái gì được viết ra về Phật đều thành
sai, bất kì cái gì được viết ra về Lão Tử đều thành sai, bất kì cái gì được viết
ra về Mahavira hay Jesus đều thành sai. Bởi vì những người viết, thì đã viết
qua hiểu biết của họ, còn người như Jesus hay Lão Tử uyên thâm tới mức bất kì
điều gì bạn hiểu về người đó... tỉnh táo và do dự chút ít đi, có mọi khả năng bạn
sẽ hiểu lầm người đó. Yêu người đó, nhưng đừng cố hiểu người đó. Thế thì một
ngày nào đó bạn có thể hiểu được người đó. Gần gũi, ở gần, thân mật, nhưng đừng
cố hiểu. Thế thì một ngày nào đó có khả năng rằng bí ẩn này có thể được lộ ra
cho bạn.
Nhưng nếu
bạn cố gắng để hiểu thì bạn sẽ lỡ. Và những người cố hiểu và viết sách và luận
án thì sẽ trở thành các giáo sư về học thuyết của mình. Họ tạo ra tôn giáo trên
thế giới - những người đã hiểu lầm ngay từ ban đầu, họ tạo ra tôn giáo.
Phóng
khoáng như thung lũng...
Không,
bởi vì thung lũng được bao bọc bởi núi non. Nó trông thì mở nhưng nó bị đóng.
Người đó là mở như bầu trời, không bị đóng bởi bất kì cái gì. Thung lũng sẽ biến
mất nếu núi non xung quanh nó biến mất; cho nên núi non là một phần của thung
lũng. Một tâm trí cởi mở... cái mở của người đó sẽ biến mất nếu tâm trí biến mất;
cái mở của người đó chỉ là một phần trong tâm trí. Người trí huệ thì mở như bầu
trời. Người đó là tính mở cực kì.
Pha
lẫn như nước đục.
Và với
bạn sẽ dường như là người trí huệ cứ làm lộn xộn tuỳ ý như nước đục. Jesus ở trọ
trong một ngôi nhà cùng với gái mãi dâm bởi vì cô ấy mời ông ấy; ở với người đã
từng nổi tiếng là kẻ tội phạm bởi vì họ đã mời ông ấy. Tất nhiên ông ấy phải đã
trông như nước đục, không phải là nước thuần khiết như một Brahmin, người khắt
khe về đạo đức, người nói, "Chớ có chạm vào ta bởi vì ta thuần khiết."
Tương
truyền rằng Shankara, triết gia Hindu vĩ đại nhất từ trước tới nay, đã được thức
tỉnh bởi một tiện dân. Tiện dân này đã trở thành guru của ông ấy. Mãi cho tới
lúc đó ông ấy còn là một thầy giáo vĩ đại, con người của tri thức; ông ấy đã viết
chuyên luận lớn về Upanishads, Brahma Sutras, Bhagavadgita, và ông ấy đã đề xuất
một triết lí nào đó: vedanta, advait vedant - thực tại là bất nhị, một.
Thế rồi
một hôm chuyện xảy ra là ông ấy ra sông Hằng vào một sáng sớm; ông ấy đã tắm rửa
và ông ấy đang trên bước quay lui về lều của mình thì một Sudra, một tiện dân,
chạm vào ông ấy.
Ông ấy
trở nên giận dữ và ông ấy nói, "Ông đã phá huỷ việc tắm của ta. Ta sẽ phải
đi tắm lần nữa và làm thuần khiết bản thân."
Tiện
dân nói, "Đợi một phút thôi. Tôi muốn hỏi ông - nếu chỉ có một, nếu toàn
thể sự tồn tại này là một, thì làm sao tôi và ông có thể tồn tại được? Làm sao
ông có thể trở thành ô uế bởi việc chạm của tôi? Ai đã chạm vào ông? Ai đã chạm
vào ai?"
Dường
như từ giấc ngủ say, giấc ngủ của con người của tri thức - và nó là một trong
những giấc ngủ lớn nhất, nó gần như là cơn mê - Shankara đã được thức tỉnh.
Và người
này hỏi, "Ông nghĩ gì? Thân thể tôi chạm vào ông hay linh hồn tôi chạm vào
ông? Thân thể tôi có chạm vào thân thể ông không? Hay thân thể tôi chạm vào
linh hồn ông? Ông có cho rằng thân thể là khác nhau - thân thể ông, thân thể của
một brahmin, là thuần khiết, và thân thể tôi, thân thể của sudra, là ô uế? Ông
có cho rằng năm yếu tố mà từ đó thân thể được cấu thành lên là khác nhau cho
brahmins và sudras, tiện dân không? Ông có cho rằng nếu thân thể tôi đã chạm
vào thân thể ông, thì nó chạm vào linh hồn ông và làm cho nó thành ô uế không?
Hay nếu linh hồn tôi đã chạm vào ông, thì ông có thể nói rằng linh hồn cũng có
thể là tiện dân, một sudra chăng?"
Một cuộc
đối thoại - toàn bộ cuộc sống của ông ấy quay lật ngược xuống... Shankara không
bao giờ đi lại chỗ tắm đó nữa.
Ông ấy
tỏ ý kính trọng người Sudra này và nói, "Thầy là guru của tôi và thầy đã
thức tỉnh tôi khỏi giấc ngủ của tôi. Tôi đã nói về cái là một nhưng tôi đã
không biết nó."
Nếu một
người thực sự trí huệ mà tồn tại thì người đó sẽ nhìn bạn như nước đục bị khuấy
lộn tự do, bởi vì với người đó không có ai thuần khiết và không có ai ô uế cả.
Con người của trí huệ chưa bao giờ nghĩ rằng mình thuần khiết còn bạn ô uế.
Chuyện
kể về Liệt Tử, một tín đồ lớn của Lão Tử, rằng ông ấy có nhiều đệ tử trong
trang trại của mình. Một đệ tử nào đó bị bắt vì đã ăn cắp nhiều lần và anh ta tạo
ra phiền toái, nhưng anh ta bao giờ cũng được thầy tha thứ cho. Nhưng rồi đến một
điểm khi sự việc trở thành quá lắm và tất cả năm trăm đệ tử đều tới Liệt Tử và
nói, "Bây giờ thế là đủ rồi. Phải có giới hạn cho mọi thứ. Thầy đã tha thứ
cho con người này nhiều lần thế, nhưng anh ta dường như không thể cải tạo được.
Bây giờ là lúc đủ rồi, xin đuổi anh ta đi!"
Liệt Tử
nói, "Đợi đã, các anh em. Các anh tất cả đều là người tốt, có tính cách tốt.
Dù các anh đi đâu thì các anh cũng sẽ được những người khác chấp nhận, kính trọng,
yêu mến, phục vụ. Và cho dù không có ta thì các anh cũng vẫn đủ tinh thần tới mức
các anh sẽ đạt tới chân lí. Nhưng người anh em này sẽ đi đâu? Anh ta chẳng có
ai khác hơn Liệt Tử bởi vì không ai sẽ chấp nhận anh ta. Cho nên tất cả những
ai nghĩ rằng các anh không thể sống được với người anh em này, thì các anh đi
đi. Nhưng ta phải sống với anh ta, bởi vì anh ta sẽ đi đâu? Ai sẽ chấp nhận anh
ta? Nếu Liệt Tử mà bác bỏ anh ta thế thì anh ta bị bác bỏ, thế thì không ai có
thể chấp nhận được anh ta."
Đây là
cách thức con người của trí huệ hiện hữu. Người đó sẽ nhìn dường như người đó
đang hoà lẫn tuỳ ý như nước đục ngầu. Nhưng người đó hoà lẫn tuỳ ý bởi vì với
người đó thuần khiết và ô uế, tốt và xấu - mọi phân chia đều đã biến mất. Với
người đó chỉ có một tâm thức dại dương tồn tại, đó là lí do tại sao người đó
hoà lẫn tuỳ ý. Jesus ở cùng nhà của gái mãi dâm hay ở cùng nhà của bà xơ - điều
đó là như nhau với Jesus, ông ấy cứ ngủ. Điều đó là như nhau với ông ấy bởi vì
gái mãi dâm là một dạng của cái như nhau và bà xơ cũng là một dạng của cái như
nhau. Và không ai là thuần khiết và không ai là ô uế - tất cả mọi nhị nguyên đều
mất, đều được siêu việt lên. Con người của trí huệ sống trong cái một, đó là lí
do tại sao người đó hoà lẫn tuỳ ý. Không có rào chắn cho người đó.
Ai
có thể tìm sự hài hoà trong thế giới đục ngầu?
nhờ
nằm tĩnh lặng mà đục hoá trong,
Lão Tử
nói:
Ai
có thể tìm sự hài hoà trong thế giới đục ngầu?
Thế giới
là đục ngầu. Làm sao bạn sẽ tìm được cách nghỉ ngơi trong nó? Làm sao bạn sẽ
tìm thấy an bình trong nó? Bởi việc nằm tĩnh lặng. Bạn không làm gì cả, không cố
gắng làm thuần khiết nó, bằng không thì bạn sẽ làm cho nó đục ngầu thêm. Chỉ nằm
xuống bên bờ, chờ đợi. Bằng việc nằm tĩnh lặng nó trở nên trong theo cách của
nó. Đừng lo nghĩ về biến đổi thế giới; đừng lo nghĩ về thay đổi người khác. Bạn
là ai? Và ai đã phái bạn theo sứ mệnh này để thay đổi người khác? Mọi người đều
được quan hệ trực tiếp với điều thiêng liêng. Sao bạn lại có đó để mà can thiệp
vào? Ngồi im lặng đi.
Ai
có thể giữ bình thản được lâu?
Bình
thản tới, im lặng tới, nhưng ai có thể duy trì nó được lâu?
nhờ
động mà nó quay cuộc sống
Bằng hoạt
động bạn có thể duy trì nó. Nếu bạn cố gắng duy trì nó bằng cách liên tục không
hoạt động thì điều đó sẽ là không thể được; người ta phải đi vào trong các cái
đối lập để bao giờ cũng vẫn còn siêu việt. Ban ngày bạn làm việc, ban đêm bạn
ngủ. Nếu bạn liên tục làm việc cả hai mươi bốn giờ một ngày thì đó sẽ là cái chết;
nếu bạn ngủ liên tục hai mươi bốn giờ một ngày, đó cũng sẽ là cái chết.
Ban
ngày làm việc hết sức tích cực - và trong làm việc tích cực bạn thu được khả
năng ngủ. Ban đêm ngủ hoàn toàn - trong ngủ hoàn toàn bạn phục hồi lại, làm
tươi lại, làm khoẻ năng lượng của mình để làm việc tích cực. Đi vào trong nhịp
điệu. Nghiêng sang phải, nghiêng sang trái và bao giờ cũng giữa quân bình. Việc
nghỉ ngơi có thể được duy trì, bình thản có thể được duy trì, chỉ bởi việc
không còn bất hoạt mãi mãi. Sai lầm đó đã bị phạm phải ở Ấn Độ. sannyasins duy
trì bất hoạt liên tục thì không thể vẫn còn im lặng được. Là người chủ gia đình
và đồng thời là sannyasin; trong thế giới và ở ngoài nó nữa, cùng nhau. Bao giờ
cũng nhớ rằng cuộc sống là sự cùng nhau của các cái đối lập - sự hài hoà sâu sắc.
Kẻ
giữ Đạo, không muốn đầy,
Bất kì
ai đi tới biết rằng đạo là quân bình, tôn giáo là quân bình, Thượng đế là quân
bình, thì đều không muốn đầy. Đừng đi quá nhiều về một phía, bằng không thì
quân bình sẽ bị mất, và mất quân bình là tội lỗi duy nhất đối với Lão Tử. Được
quân bình là đức hạnh, mất quân bình là trong tội lỗi.
Chỉ
vì không muốn đầy,
Mà
vượt ra ngoài cũ và mới.
Người
đó bao giờ cũng tươi tắn và trẻ trung; người đó không bao giờ mệt lử, người đó
không bao giờ mệt mỏi. Quân bình cho người đó cuộc sống vĩnh hằng. Quân bình là
sinh lực. Quân bình là cuộc sống.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment