Osho
- Kinh Kim Cương
Chương
9. Thiên đường mảnh đất thuần khiết
Phật
hỏi, ‘Subhuti, ông nghĩ sao, trong quá khứ Như Lai có đắc pháp nào với
Dipankara* không?’ Subhuti thưa, ‘Bạch Thế Tôn, không. Như Lai không có đắc
pháp nào cả.’
Phật
lại hỏi, ‘Vị bồ tát có nói rằng mình tạo nên phật trường hài hoà không?’*
Subhuti thưa, ‘Bạch Thế Tôn, vị bồ tát không nói rằng mình tạo nên phật trường
hài hoà. Tại sao vậy? Vì Như Lai đã dạy rằng các phật trường hài hoà là không
hài hoà, vậy mới gọi là những phật trường hài hoà.’
Phật
bảo, ‘Subhuti, ông tưởng tượng có một người đàn ông và một người đàn bà đem bố
thí tất cả tài sản của họ, nhiều như cát sông Hằng, và một người khác trích một
đoạn bốn câu nói về pháp của Kinh này, đem giảng cho nhiều người được hiểu. Do
việc này, công đức của người sau sẽ nhiều vô lượng vô biên so với người trước.’
Khi
ấy, tôn giả Subhuti xúc động rơi nước mắt, bạch Phật rằng, ‘Bạch Thế Tôn, thật
là huyền diệu, vô cùng huyền diệu, cách thức Như Lai giảng dạy nghĩa lí cao
siêu tuyệt vời của Kinh này! Nhờ vậy, tôi đã hiểu và đó không phải là một cảm
nhận. Tại sao vậy? Bởi vì các Đức Phật, những vị toàn giác, đã buông bỏ tất cả
mọi cảm nhận.’
Phật
nói, ‘Đúng vậy, Subhuti! Nếu có người nào nghe kinh này mà không nghi ngờ,
không sợ hãi, không kinh khiếp, thì người này sẽ được phước đức vô lượng, là
người thật hi hữu. Còn nữa, Subhuti, sự nhẫn nhục hoàn toàn của Như Lai thực ra
không phải là hoàn toàn. Tại sao vậy? Bởi vì, Subhuti, trong một kiếp trước của
ta, khi vua Kalinga xẻo thịt tay chân ta, lúc ấy ta không cảm nhận về cái ta, về
con người, về linh hồn, về mạng sống. Tại sao vậy? Bởi vì, Subhuti, nếu lúc ấy
ta có cảm nhận về cái ta, thì đồng thời ta cũng đã có cảm nhận về sự oán hận.’
‘Và
còn nữa, Subhuti, chính vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà vị bồ tát phải bố
thí như thế. Tại sao vậy? Bởi vì, Subhuti, sự cảm nhận của một con người, đơn
giản là sự không cảm nhận. Tất cả chúng sinh mà Như Lai đã nói đến, thực ra chẳng
có chúng sinh nào. Tại sao vậy? Bởi vì tất cả những gì có hình tướng đều là giả.
Như Lai nói đúng sự thật, không có gì khác hơn. Như Lai không nói sai.’
‘Subhuti,
Như Lai đồng nghĩa với phản ánh như thế.’
Phật
hỏi, ‘Subhuti, ông nghĩ sao, trong quá khứ Như Lai có đắc pháp nào với
Dipankara không?’ Subhuti thưa, ‘Bạch Thế Tôn, không. Như Lai không có đắc pháp
nào cả.’
Dipankara
là vị cổ Phật. Trong một kiếp trước, khi chưa chứng ngộ, Gautama có đến gặp
Dipankara. Ông ấy muốn được nhận làm đệ tử, nhưng Dipankara cười và nói,
"Chẳng có gì để học cả."
Chân
lí không thể được học. Vâng, cái gì đó cần phải được hiểu, nhưng không có gì được
học cả. Chân lí phải được nhìn nhận. Nó đã sẵn có trong bản thể bạn; nó phải được
phát hiện ra. Nhưng chẳng có gì để học cả.
Chân
lí không mới, chân lí là chính bản thể của bạn. Bạn phải trở nên nhận biết.
Không phải là bạn phải trở nên nhiều tri thức hơn; thực tế bạn càng nhiều tri
thức thì bạn sẽ càng ít nhận biết. Bạn càng tưởng mình biết nhiều, thì bạn càng
bị ngu dốt bao bọc lấy.
Tri
thức là ngu dốt. Người biết nhiều bị ngập trong những đám mây đen tối của kí ức,
thông tin, kinh sách, triết lí.
Dipankara
nói với Gautama, "Ông không cần phải nghĩ dưới dạng học. Chân lí đã có sẵn
ở ông. Chân lí không thể được truyền trao." Không chỉ có thế, khi Gautama
cúi chạm chân Dipankara thì Dipankara cúi xuống và chạm chân Gautama. Gautama
chưa chứng ngộ trong những ngày đó. Gautama rất ngạc nhiên và bối rối.
Tất
cả các tu sĩ có mặt ở đó không thể hiểu được việc gì đang xảy ra. Dipankara
chưa bao giờ làm như thế với một ai. Và Gautama hỏi, "Ngài làm gì vậy? Sao
ngài lại chạm chân con? Con là kẻ có tội, kẻ ngu dốt. Mọi người chạm chân ngài
là phải, nhưng mà ngài lại chạm chân con thì thật ngớ ngẩn. Ngài có điên
không?"
Dipankara
lại cười và nói, "Không, Gautama, ông phân vân vì ông không biết tương lai
của ông. Ta không điên đâu. Ta có thể thấy điều ấy xảy ra - chẳng bao lâu nữa
ông sẽ thành phật. Ta chạm chân ông để tỏ ý kính trọng sự kiện ấy. Và hơn nữa,
dưới con mắt của người đã chứng ngộ thì ai cũng chứng ngộ cả. Vấn đề chỉ là thời
gian. Điều đó không thành vấn đề mấy. Ngày nay ta chứng ngộ, ngày mai ông chứng
ngộ, ngày mốt người khác sẽ chứng ngộ: điều đó không thành vấn đề. Chứng ngộ sẽ
đến với mỗi người, với mỗi sinh linh. Ông có thể cứ lần lữa, đó là việc của
ông. Khoảnh khắc ông chấm dứt lần lữa, khoảng khắc ông chấp dứt trì hoãn, nó có
đấy. Nó bao giờ cũng chờ đợi để ông nhận ra nó."
Câu
chuyện Dipankara chạm chân Gautama ấy là một trong những chuyện hay nhất.
Gautama là một kẻ vô danh. Sau nhiều thế kỉ, gần ba nghìn năm sau, Gautama trở
nên chứng ngộ. Lúc ấy, việc đầu tiên ông ấy làm, là quì xuống trước Dipankara.
Thế nhưng không còn Dipankara nữa; nhưng Gautama cúi lạy, cười và nói,
"Bây giờ ta hiểu tại sao ông ấy chạm chân ta! Hôm nay ta có thể chạm chân
tất cả mọi người. Bây giờ ta biết rằng toàn bộ sự tồn tại đều sẽ chứng ngộ."
Chứng
ngộ là việc xảy ra tự nhiên. Nếu chúng ta không ngăn trở nó, nó nhất định sẽ xảy
ra. Không phải là bạn phải đạt tới nó; mọi điều bạn phải làm là đừng cản trở
nó. Bạn ngăn cản nó bằng cả nghìn lẻ một cách. Bạn không cho phép nó xảy ra.
Khi nó bắt đầu xảy ra, bạn sợ hãi. Khi nó xâm chiếm bạn, bạn không thể cho nó
xâm chiếm - bạn co lại, bạn rút lui. Bạn chui vào cái xà lim tí xíu của bản
ngã. Ở đó bạn cảm thấy được che chở, bảo vệ và an toàn.
Chứng
ngộ là bầu trời rộng mở của bất an. Nó bao la, nó là đại dương chưa khám phá. Cuộc
hành trình là từ cái chưa biết này sang cái chưa biết khác. Chẳng cái gì có thể
được biết. Tri thức, chính ý niệm về tri thức, là một phần xuẩn ngốc của loài
người. Cuộc sống là điều bí ẩn đến mức nó không thể nào được biết. Và nếu nó
không thể nào được biết thì làm sao nó có thể được dạy? Và nếu như không thể dạy
được, thì thầy và đệ tử phỏng có ích gì?
Mới
cách đây vài ngày đã có một câu hỏi, "Tại sao thầy lại tự xưng là
Osho?" Đây là vở kịch. Tôi đã quyết định đóng vai Osho còn các bạn đã quyết
định đóng vai đệ tử - nhưng đây là kịch. Cái ngày bạn trở nên nhận biết, bạn sẽ
biết không có thầy, cũng chẳng có đệ tử. Ngày đó bạn sẽ hiểu, bạn sẽ biết rằng
đó là giấc mơ - nhưng giấc mơ có thể giúp bạn thoát ra khỏi tất cả các giấc mơ
khác của bạn; một cái gai có thể dùng để nhể các gai khác ra khỏi da thịt bạn.
Nó có thể là một công cụ - nhưng dù sao cũng là một cái gai. Một độc dược có thể
giúp bạn loại trừ các chất độc khác - nhưng cũng vẫn là một thứ thuốc độc. Sử dụng
nó như chiếc đò để qua sông đi. Đó là lí do tại sao tôi nói nó là vở kịch.
Việc
bạn là đệ tử và việc tôi là thầy là đóng kịch. Đóng kịch thật hay hết sức vào.
Tôi biết, với các bạn, nó là thực tại; với tôi, nó là vở kịch. Từ phía bạn nó
là thực tại lớn, từ phía tôi nó là trò chơi. Rồi ngày nào đó, bạn cũng sẽ hiểu
rằng đây là trò chơi. Ngày ấy sẽ là ngày chứng ngộ của bạn.
Khi
chạm chân Gautama, Dipankara chỉ muốn nói đây là trò chơi. Bạn chạm chân tôi
hay tôi chạm chân bạn - chẳng có gì khác nhau cả. Tất cả chúng ta đều chứng ngộ,
tất cả chúng ta đều là thượng đế. Không phải là tôi là thượng đế còn bạn thì
không là thượng đế - tất cả đều là điều thiêng liêng. Cây cỏ là thượng đế, loài
vật cũng vậy, mọi thứ cũng vậy, ngay cả đất đá!
Thượng
đế đang ngủ say trong đất đá. Ngài đã trở nên tỉnh táo một chút nơi cây cỏ, một
chút tỉnh táo hơn nữa ở loài vật, một chút tỉnh táo hơn nữa trong bạn. Trong vị
phật, ngài đạt tới tỉnh táo hoàn hảo, tuyệt đối. Nhưng khác biệt không ở chất,
mà ở lượng. Và nếu bạn là nhận biết này, thì bạn cũng có thể trở thành nhận biết
kia nữa.
Phật
nói:
Phật
hỏi,
‘Subhuti,
ông nghĩ sao, trong quá khứ Như Lai có đắc pháp nào với Dipankara không?’
Ông
ấy đang hỏi, "Ta có học được điều gì ở Dipankara không?" Chẳng có gì
để học cả. Chân lí là sự kiện cho sẵn. Bất kì cái gì bạn học đều sẽ là dối trá.
Chân lí không cần được học. Chân lí không phải được bịa ra mà chỉ được phát hiện
ra, hay nói đúng hơn, nó chỉ được phát hiện lại.
Và
chữ ‘học’ là nguy hiểm. Học là tích luỹ thông tin. Bạn càng tích luỹ nhiều
thông tin, thực tại của bạn càng đi sâu vào vô ý thức. Bạn tự đè nặng mình, và
bạn bị nặng trĩu trên đầu. Đầu bạn âm vang những tri thức, đầy ắp tiếng ồn và
thế thì bạn không thể nghe được tiếng nói nhỏ bé tĩnh lặng của trái tim bạn.
Cái im lặng đó bị mất hút trong ồn ào của tri thức.
Đó
là lí do tại sao mà thậm chí những tội nhân cũng đạt tới chứng ngộ trong khi những
học giả lại bị lỡ - bởi vì tội nhân có thể khiêm tốn, nhưng học giả không thể
khiêm tốn được. Tội nhân có thể kêu khóc; còn học giả thì biết. Ông ta sắt đá
trong tri thức, ông ta đầy bản ngã trong tri thức của mình. Ông ta cứng rắn,
ông ta không thể mềm ra được. Ông ta không cởi mở, ông ta đóng kín. Tất cả các
cửa chính và cửa sổ của ông ấy đều bị khoá chặt bởi tri thức và những kinh sách
mà ông ta đã tích luỹ.
Đạt
đến chân lí là buông bỏ học vấn, chứ không phải là học thêm. Bạn phải buông bỏ
những gì bạn đã biết. Đấy không phải là trở thành, mà để trở về nơi bạn xuất
phát, đấy không phải là việc học mà là việc buông bỏ học vấn. Buông bỏ là cách
duy nhất. Nếu bạn có thể không trở thành, thế thì bạn sẽ có khả năng trở thành.
Nếu bạn có khả năng buông bỏ, nếu bạn có thể vứt bỏ tri thức một cách hoàn
toàn, vô điều kiện, toàn bộ, và không bám víu vào bất cứ thứ gì, bạn sẽ trở nên
hồn nhiên - và hồn nhiên đó sẽ đem bạn về nhà.
Subhuti
thưa, ‘Bạch Thế Tôn, không. Như Lai không có học được điều gì cả.’
Cái
gì đã được truyền giữa thầy và đệ tử? Không phải chân lí, không phải tri thức -
thế thì cái gì được truyền? Trên thực tế, chẳng cái gì được truyền cả. Với hiện
diện của thầy, cái gì đó xuất hiện nơi sâu thẳm của bản thể đệ tử, nhưng không
phải cái đó được truyền trao. Không cái gì lưu chuyển từ thầy qua đệ tử cả,
không cái gì hết cả, nhưng sự hiện diện của thầy, chính sự hiện diện của thầy
cũng đủ để cái gì đó trong thâm tâm bắt đầu nổi lên bề mặt. Sự hiện diện của thầy
thức tỉnh bản thể của đệ tử. Không phải cái gì đó đã được truyền hay trao,
chính sự hiện diện của thầy trở thành hiện diện của chất xúc tác, và đệ tử bắt
đầu thay đổi.
Dĩ
nhiên, đệ tử sẽ nghĩ rằng thầy đã làm điều gì đó. Chẳng cái gì được làm cả.
Không thầy thực nào đã bao giờ làm gì. Tất cả mọi việc làm của thầy chỉ là hiện
diện với bạn, có sẵn cho bạn. Tất cả công việc của thầy chỉ gồm một điều đơn giản
- rằng thầy phải có đấy, như mặt trời.
Mặt
trời mọc buổi sáng, các nụ hoa nở ra và trở thành những bông hoa. Không phải là
mặt trời cho chúng cái gì đó, không phải là mặt trời đến và mở nụ ra. Mặt trời
chẳng làm gì cả; chỉ hiện diện của ánh sáng và nụ bắt đầu mở ra. Việc mở nụ xảy
ra từ bản thân nụ hoa... và việc nở hoa cùng hương thơm - tất cả chúng đến từ bản
thân nụ hoa. Mặt trời chẳng thêm cái gì vào nó, nhưng hiện diện của nó là chất
xúc tác. Không có hiện diện của mặt trời, nụ hoa sẽ thấy gần như không thể nào
mở ra được. Nó sẽ không biết rằng việc nở là có thể. Nó sẽ chẳng bao giờ trở
nên tỉnh táo về những khả năng và tiềm năng của mình.
Thầy
đơn giản làm cho bạn nhận biết về tiềm năng của mình. Nếu thầy đã chứng ngộ,
thì bạn cũng có thể. Thầy hệt như bạn - cũng máu và xương và thân thể. Thầy hệt
như bạn. Nếu cái gì đó là có thể trong bản thể thầy, nếu cái nụ của thầy có thể
trở thành hoa, thì sao bạn không thể trở thành như thế được? Chính ý nghĩ này
thấm sâu vào trong lòng, khuấy trộn toàn bộ bản thể bạn, và các năng lượng
trong bạn trỗi dậy, nụ của bạn bắt đầu mở ra.
Điều
này được gọi là satsang ở phương Đông - ở trong hiện diện của thầy. Và đệ tử thực
là người đã đi tới biết cách hiện diện trước thầy. Thầy đang hiện diện, nhưng
làm sao hiện diện được trước thầy?
Bạn
có thấy hoa hướng dương không? Đó là biểu tượng cho đệ tử. Hoa hướng dương luôn
xoay về hướng mặt trời, dù mặt trời ở đâu; hoa hướng dương di chuyển theo cách
đó. Nó bao giờ cũng hiện diện với mặt trời. Buổi sáng nó quay mặt về hướng
đông, buổi chiều nó quay mặt về hướng tây. Nó di chuyển theo mặt trời. Dù mặt
trời ở đâu, hoa hướng dương cũng chuyển theo đó. Hoa hướng dương là biểu tượng,
biểu dụ cho đệ tử.
Phật
hỏi, "Subhuti, ông có nghĩ rằng ta học được điều gì ở Dipankara
không?" Subhuti thưa, "Bạch Thế Tôn, Không" - bởi vì chẳng có gì
để học cả. Phải chăng điều này có nghĩa là Phật không biết ơn Dipankara? Không,
hoàn toàn không. Khi ông ấy trở nên chứng ngộ, lòng biết ơn đầu tiên là hướng về
Dipankara, người đã biến mất vào vô cùng từ lâu lắm rồi, chẳng để lại dấu vết
gì đằng sau. Ông ấy chỉ còn đọng lại trong kí ức của Phật, không ở nơi nào
khác.
Không
một kinh sách nào nói về Dipankara cả. Có thể vào thời đại của ông ấy kinh sách
còn chưa được viết ra. Không có tham khảo nào khác về ngài. Phật là nguồn tham
khảo duy nhất. Ba nghìn năm đã trôi qua, chẳng ai biết gì về Dipankara; nhưng
khi Phật chứng ngộ, lòng biết ơn đầu tiên, cám ơn đầu tiên là hướng về
Dipankara. Tại sao? Bởi vì chính trước sự hiện diện của Dipankara mà niềm khao
khát thành phật của Gautama đã trở thành đam mê. Chính với sự hiện diện của
Dipankara mà ham muốn vĩ đại trở thành phật đã nảy sinh. Chính với sự hiện diện
của Dipankara mà chiếc nụ của Gautama bắt đầu mơ trở thành hoa. Chính với sự hiện
diện của Dipankara mà giấc mơ ấy đã hiển lộ ra. Phải mất ba nghìn năm để xoá bỏ
mọi cản trở, mọi chướng ngại, nhưng ba nghìn năm có nghĩa gì trong vĩnh hằng của
thời gian? Chẳng là gì cả... chỉ là vài khoảnh khắc.
Tại
sao Phật lại hỏi Subhuti? Để cho Subhuti có thể hiểu rằng chẳng có gì mà học từ
Phật cả. Bản thân Phật đã không học gì ở Dipankara, cho nên, "Subhuti, chẳng
có gì để học ở ta cả. Ở đây với ta. Đừng nghĩ đến học. Khoảnh khắc ông nghĩ đến
việc học, ông lại không cùng ta rồi."
Đây
đó có hai loại người: đệ tử và học viên. Học viên là những người đang tìm kiếm
học hỏi cái gì đó. Họ ở đây để thu nhặt cái gì đó sao cho họ có thể khoe khoang
và nói rằng họ biết điều này họ biết điều nọ. Họ chỉ làm công việc nhặt nhạnh
những viên đá cuội đủ mầu sắc, trong khi dưới chân họ là những viên kim cương.
Đệ
tử là người không ham mê tri thức, người chỉ quan tâm tới bản thể, người chỉ
quan tâm tới việc ở đây với tôi, không vì lí do nào khác, không vì động cơ nào
khác. Trái tim người đó đã xúc động, giấc mơ của người đó bắt đầu được hiển lộ,
mong ước mãnh liệt lớn lao đang dâng lên trong người đó.
Vừa
tối hôm trước, Saroj đã ở đây và cô ấy nói rằng cô ấy rất sợ chết. Tôi đã hỏi
cô ấy, "Tại sao? Tại sao bạn sợ đến thế?" Câu trả lời của cô ấy thật
tuyệt vời. Cô ấy nói, "Không phải tôi sợ chết, thưa Osho, nhưng bởi vì tôi
còn chưa biết gì, tôi chưa hiểu ra được gì. Tôi chưa cảm được gì. Tôi sợ tôi có
thể chết mà không biết chân lí. Đó là nỗi sợ của tôi."
Đệ
tử là người đã trở nên quan tâm mãnh liệt tới bản thể - đến bản thân chân lí,
không phải việc biết về nó. Cô ấy không sợ chết, cô ấy sợ rằng cái chết đến làm
xáo trộn thân thiết đang nẩy nở giữa cô ấy và tôi. Cái chết có thể tới và có thể
ngắt mất sự hiện diện mà cô ấy đang tận hưởng, sự hiện diện này xâm nhập bản thể
cô ấy và làm biến đổi cả nghìn lẻ một thứ trong linh hồn cô ấy - đó là nỗi sợ.
Đệ
tử là người không bận tâm đến việc biết nhưng quan tâm đến việc hiện hữu. Không
phải là người đó muốn biết điều gì đó về Thượng đế, mà là người đó muốn nếm trải
Thượng đế, muốn uống tại nguồn gọi là Thượng đế, muốn trở thành một phần của
năng lượng đại dương ấy.
Nhớ
lấy, nếu bạn là học viên ở đây, thì bạn không khôn ngoan lắm đâu. Là học viên ở
đây là không thông minh. Nơi này không phải là trường học. Cuộc sống có sẵn ở
đây - nhưng bạn phải là đệ tử. Là đệ tử nghĩa là có đủ can đảm để lại gần thầy,
bằng bất cứ giá nào. Đệ tử nghĩa là người có thể chấp nhận nguy cơ lại gần thầy.
Thật quả là nguy cơ - nguy cơ vì bạn sẽ chết. Nụ hoa phải chết đi chỉ thế thì
hoa mới có thể tới. Hạt mầm phải chết đi, chỉ thế thì cây mới có thể mọc lên. Bạn
phải chết đi, chỉ thế thì điều thiêng liêng mới có thể nở hoa nơi bạn.
Phật
hỏi,
‘Subhuti,
ông nghĩ sao, trong quá khứ Như Lai có đắc pháp nào với Dipankara không?’
Một
người tìm kiếm lớn đã viết: "Tôi đã đi gặp các hiền nhân để tìm những câu
trả lời. Có nhiều hiền nhân, mỗi người đều có câu trả lời riêng của mình. Chính
vì vậy mà tôi biết ngay là họ đã phản bội lại chính mình. Tuy nhiên, tôi cũng
đã gặp một vài người khác hẳn, một hay hai người thôi, họ ngồi với sự sinh động
chân thành, họ mỉm cười trước những câu hỏi của tôi, và khi tôi nài nỉ để được
câu trả lời thì họ lại hỏi tôi rất nhiều câu hỏi.
"Ngồi
với họ, nhiều lúc tôi quên tất cả về khôn ngoan và tôi cười một cách vô tư mà
chỉ người điên hay trẻ con mới có thể thế. Tôi chẳng nhận được câu trả lời nào
từ các hiền nhân chân chính. Chính cái thiếu khôn ngoan đã gửi tôi tới hiền
nhân. Vậy thì làm sao tôi có thể hiểu được điều gì là trí huệ, thậm chí khi điều
ấy có thể nói ra được, hay đã được nói ra? Những hiền nhân thực sự thì quá thực
thà không đưa ra những câu trả lời trí huệ."
Hiền
nhân thực trao cho bạn bản thể của ông ấy, trao bản thân ông ấy. Hiền nhân thực
đơn giản làm cho ông ấy thành có sẵn cho bạn và nếu bạn can đảm, bạn có thể uống
và ăn bản thể ông ta. Đó chính là điều Jesus ngụ ý khi ông ấy nói với các đệ tử:
"Ăn ta đi, uống ta đi!" Thầy phải bị ăn. Thầy phải bị hấp thu, bị
tiêu hoá, chỉ thế thì bạn mới vớ được chân lí của riêng mình. Chẳng có gì để học
cả - chẳng có pháp để học, chẳng có học thuyết để học, chẳng có triết lí để học.
Phật
nói tiếp, ‘Nếu vị bồ tát nói rằng mình tạo nên phật trường hài hoà, thì vị ấy
nói sai. Tại sao vậy?
Vì
Như Lai đã dạy rằng các phật trường hài hoà là không hài hoà, vậy mới gọi là phật
trường hài hoà.’
Từ
‘phật trường’ có tầm quan trọng mênh mông. Bạn phải hiểu nó, vì đó là những gì
tôi đang làm ở đây - tạo ra phật trường. Chính để tạo ra phật trường mà chúng
ta đang đi, xa khỏi thế giới này, xa hẳn, để cho một loại năng lượng hoàn toàn
khác có thể được làm thành có sẵn cho bạn.
Phật
trường nghĩa là một tình huống nơi vị phật đang ngủ của bạn có thể được đánh thức
dậy. Phật trường nghĩa là trường năng lượng nơi bạn có thể bắt đầu trưởng
thành, chín muồi, nơi giấc ngủ của bạn có thể bị phá vỡ, nơi mà bạn có thể được
gây sốc để trở nên nhận biết; một trường điện từ tại đó bạn sẽ không thể nào
rơi vào giấc ngủ, nơi bạn sẽ phải thức tỉnh, bởi vì luôn luôn có những cú sốc
được tạo ra mọi lúc.
Phật
trường là trường năng lượng trong đó vị phật làm cho các sinh linh thành chín
muồi, mảnh đất thuần khiết, thế giới phi phàm, thiên đường trên trái đất, nơi hội
tụ những điều kiện lí tưởng cho trưởng thành tâm linh nhanh chóng. Phật trường
là bụng mẹ (matrix).
Từ
‘matrix’ có nguồn gốc la tinh. Nó có nghĩa là bụng mẹ. Từ chữ đó chúng ta có
các từ ‘matter’ (vật chất), mother (mẹ) v.v.. Bụng mẹ cung cấp ba điều kiện cho
cuộc sống mới được hình thành: nguồn các khả năng, nguồn năng lượng để khám phá
các khả năng ấy, và nơi an toàn mà trong đó cuộc thám hiểm có thể xảy ra.
Đó
là điều chúng ta đang dự định làm. Công xã mới ở đây sẽ là một thực nghiệm lớn
về phật tính. Các năng lượng phải có sẵn cho bạn, các khả năng phải được làm rõ
cho bạn. Bạn phải được làm cho nhận biết về tiềm năng của mình, và bạn phải được
cung cấp một nơi an toàn để bạn có thể làm việc - nơi mà bạn không bị phân tán
bởi thế gian, nơi để bạn tiếp tục gắng sức mà không bị người đời quấy rầy, nơi
mà chỉ một điều là có ý nghĩa: cách trở thành vị phật... Nơi mà mọi cái khác
đơn giản biến mất khỏi tâm trí bạn - tiền bạc, quyền lực, danh vọng; nơi mà tất
cả những cái khác trở thành vô nghĩa, khi tất cả những cái khác trở thành đúng
thực chất của nó - thế giới bóng hình - và bạn không còn bị mất hút trong những
hình thức bề ngoài.
Maya
thường lẩn trong hình tướng bên ngoài. Đó là ảo tưởng lớn nhất trong thế gian.
Hình tướng đó nắm giữ quyền thống trị lên tâm trí chúng ta. Phật trường là nơi
bạn được đem xa khỏi các hình tướng đó. Trong im lặng của công xã, trong bầu
không khí không có xáo trộn, không có những điều cấm kị, thầy và đệ tử có thể
đóng kịch một cách trọn vẹn. Điều tối thượng là lúc thầy có thể chạm chân đệ tử,
lúc cả thầy và đệ tử đều mất hút vào trong cùng một thực tại.
Phật
nói tiếp,
‘Nếu
vị bồ tát nói rằng mình tạo nên phật trường hài hoà, thì vị ấy nói sai. Tại sao
vậy?
Vì
Như Lai đã dạy rằng các phật trường hài hoà là không hài hoà, vậy mới gọi là phật
trường hài hoà.’
Bây
giờ hãy hiểu: nếu ai đó nói, "Tôi sẽ tạo ra phật trường," và việc nhấn
mạnh là vào cái ‘tôi’, thế thì phát biểu ấy là giả, vì một người mà cái ‘tôi’ vẫn
sống thì không thể tạo ra được phật trường. Chỉ người nào không còn cái ‘tôi’
bên trong mới có thể tạo ra phật trường. Trên thực tế, nói người đó tạo ra thì
cũng không phải; ngôn ngữ là không thích hợp.
Từ
tiếng Phạn cho việc sáng tạo có nghĩa tốt hơn nhiều. Từ tiếng Phạn là
nirpadayati. Nó có nhiều nghĩa. Nó có thể nghĩa là sáng tạo, nó có thể nghĩa là
hoàn thành, nó có thể nghĩa là chín muồi, nó có thể có nghĩa là chín chắn, nó
có thể đơn giản nghĩa là làm phát khởi điều đó trong sự tồn tại. Đó là nghĩa
đúng của từ này.
Vị
Phật không tạo ra, ông ấy chỉ phát khởi. Ngay cả nói rằng ông ấy phát khởi vẫn
chưa hay; trong hiện diện của ông ấy, mọi sự xảy ra, trong hiện diện của ông ấy,
mọi thứ phát khởi, các tiến trình bắt đầu. Chỉ hiện diện của ông ấy là ngọn lửa,
tia lửa, và mọi việc bắt đầu chuyển động, việc này kéo theo việc kia, và một
dây chuyền lớn được tạo ra.
Đó
là cách chúng ta đang làm ở đây. Tôi đơn giản ngồi trong phòng mình chẳng làm
gì cả, và những người tìm kiếm chân lí từ khắp nơi trên thế giới đã bắt đầu đổ
dồn về đây. Thậm chí tôi cũng chẳng viết bức thư nào... chỉ hiện diện. Người
này đến, rồi người khác đến, thế là tạo thành một chuỗi. Thời điểm đã đến lúc cần
phải có một phật trường, cần phải có một bụng mẹ, bởi vì bạn không biết đấy
thôi - hàng nghìn người khác đang trên đường rồi. Họ đã đi, họ đã nghĩ tới việc
đến.
Càng
nhiều người có đó, phật trường sẽ có đó càng lớn, và nó sẽ càng mạnh. Có khả
năng là chúng ta có thể tạo ra một trong những phật trường lớn nhất và mạnh nhất,
mà thế giới chưa từng biết đến, bởi vì cho đến ngày nay chưa bao giờ loài người
lại tìm kiếm ráo riết như thế, bởi vì cho đến ngày nay chưa bao giờ loài người
đứng trước cuộc khủng hoảng như vậy.
Chúng
ta đang đứng ở ngưỡng của cái gì đó mới sắp xảy ra cho nhân loại. Hoặc là nhân
loại sẽ chết và biến mất, hoặc là chúng ta sẽ lấy bước nhảy, cú nhảy và con người
mới sẽ được hình thành. Chúng ta đang ở đúng vào thời điểm cách đây hàng triệu
năm, khi các loài khỉ, vượn từ trên cây xuống mặt đất sinh sống và loài người
được hình thành và con người mới được sinh ra. Lần nữa thời điểm ấy lại đang đến
rất gần. Nó là khoảnh khắc rất nguy hiểm, vì có mọi khả năng...
Có
thể là khỉ không thể sống sót trên mặt đất, nó có thể chết trên mặt đất, nhưng
vài con khỉ đã chấp nhận nguy cơ. Và chúng phải đã bị bọn khỉ khác cho là điên
khùng - hừ? - vì từ trước chúng vẫn sống trên cây và cảm thấy hoàn toàn hạnh
phúc. Đồng loại của chúng bảo, "Chúng mày sắp điên rồi, dại quá. Tại sao
chúng mày lại định xuống ở mặt đất? Tại sao lại tự gây phiền phức không cần thiết
cho mình? Bố mẹ chúng ta, ông bà, cụ kị chúng ta, tất cả đều chẳng đã sống trên
cây đấy sao?"
Lần
nữa tình huống như thế lại sắp xảy ra. Đã lâu rồi, con người không thay đổi
cách sống. Một bước nhảy lượng tử quyết định có thể xảy ra ở cuối thế kỉ này.
Hoặc con người sẽ chết trong cuộc chiến thế giới thứ ba, hoặc con người sẽ lấy
bước nhảy và trở thành con người mới. Trước khi điều đó xảy ra, cần phải có một
phật trường vĩ đại - một trường ở đó chúng ta có thể tạo dựng tương lai.
Nhưng
bồ tát không thể nói, "Tôi sẽ tạo ra những phật trường hài hoà." Nếu
nhấn mạnh là vào cái ‘tôi’, thì có nghĩa là người đó chưa phải là bồ tát. Ngay
cả chư phật cũng dùng chữ ‘tôi’, nhưng các ông ấy luôn luôn nhấn mạnh rằng nó
không tương ứng với một thực tại nào, rằng nó chỉ là việc dùng ngôn ngữ, rằng
nó chỉ là một tiện dụng mà thôi.
Và
Phật nói, "Các phật trường hài hoà ấy thậm chí là không hài hoà." Tại
sao? - bởi vì hài hoà ngụ ý rằng xung đột vẫn còn sống động. Hài hoà nghĩa là
những phần xung đột vẫn có đấy, nhưng không còn xung đột nữa. Phật nói, hài hoà
thực là khi nào các bộ phận xung đột đã tan biến vào thành thể thống nhất.
Nhưng thế thì bạn không thể gọi nó là hài hoà được nữa, vì hài hoà bao hàm nhiều,
hài hoà nghĩa là có nhiều mảnh trong một toàn thể hài hoà. Phật nói, hài hoà thực
là khi nhiều phần tử ấy không còn đó nữa; chúng đã trở thành một.
Cho
nên hài hoà, hài hoà thực sự, không thể thậm chí được gọi là hài hoà. Hài hoà
thực đơn giản là sự thống nhất. Không có xung đột, không có va chạm, vì tất cả
các mảnh tách biệt đã biến mất, đã tan biến.
Tại
sao vậy?
Vì
Như Lai đã dạy rằng các phật trường hài hoà là không hài hoà, vậy mới gọi là những
phật trường hài hoà.’
Nhớ
lấy, đấy là vấn đề do dùng ngôn ngữ không thích hợp. Đó là lí do tại sao Phật
không ngừng nhấn mạnh để lưu ý bạn chớ có trở thành nạn nhân của cách diễn đạt
ngôn ngữ không thích hợp.
Phật
nói:
‘Subhuti,
ông tưởng tượng có một người đàn ông và một người đàn bà đem bố thí tất cả tài
sản của họ, nhiều như cát sông Hằng, và một người khác trích một đoạn bốn câu
nói về pháp của Kinh này, đem giảng cho nhiều người được hiểu. Do việc này,
công đức của người sau sẽ nhiều vô lượng vô biên so với người trước.’
Tương
truyền rằng tổ Huệ Năng, một trong những vị tổ thiền tông vĩ đại nhất, vị tổ thứ
sáu theo truyền thống thiền, nhờ nghe bốn câu trong Kinh Kim Cương mà được chứng
ngộ. Và ông ấy đi ngang qua chợ. Ông ấy đi mua bán cái gì đó, ông ấy thậm chí
chẳng nghĩ gì tới chứng ngộ cả, tại bên đường, một người đang đọc Kinh Kim
Cương. Người này đã để cả đời để đọc Kinh Kim Cương - ông ấy chắc hẳn phải là một
loại kẻ sĩ hay một con vẹt - và có tật sính đọc kinh này đều đặn mỗi sáng, mỗi
tối.
Trời
xế chiều, chợ đã tan, mọi người về nhà mình còn Huệ Năng thì đi qua đó. Ông ấy
chỉ nghe thấy bốn dòng kinh. Ông ấy đứng lặng người. Tương truyền ông ấy đứng
đó cả đêm. Kinh Kim Cương đã hết, chợ vắng tanh, người tụng kinh đã đi mất, mà
Huệ Năng thì cứ đứng đó, đứng đó, đứng đó. Sáng hôm sau, ông ấy đã là một người
hoàn toàn khác. Ông ấy chẳng bao giờ về nhà nữa, ông ấy đi vào núi. Thế giới trở
thành chẳng còn liên quan nữa. Chỉ nghe thôi sao? - vâng, điều ấy là có thể nếu
bạn biết cách nghe. Huệ Năng là một người vô cùng chất phác hồn nhiên. Đó là một
con người tuyệt vời.
Phật
nói rằng công đức của người giảng bốn câu trong Kinh Kim Cương là vô lượng vô
biên nhiều hơn so với công đức của một người đàn ông hay đàn bà đem bố thí hết
tất cả tài sản nhiều như cát sông Hằng.
Từ
bỏ không ích gì, thấu hiểu mới có tác dụng. Từ bỏ thế gian không dẫn bạn tới
đâu cả; bạn phải hiểu biết. Từ bỏ là cố gắng ngu ngốc. Chỉ những kẻ ngu ngốc mới
đem đi cho sạch; hiền nhân tìm cách để thấu hiểu việc gì đang xảy ra. Hiền nhân
không bao giờ là kẻ trốn tránh. Chỉ những kẻ ngu mới là kẻ trốn tránh, bởi vì họ
không thể đối mặt với cuộc sống, họ không thể đương đầu với cuộc sống, và họ không
thể chấp nhận thách thức của nó. Họ không có đủ gan dạ. Họ chạy lên Himalayas,
họ trốn lên các tu viện Tây Tạng hay nơi nào đó khác. Họ trốn thế gian. Đây là
những kẻ hèn nhát.
Và
tôn giáo là có thể chỉ nếu bạn có dũng cảm - cần tới can đảm mênh mông.
Phật
nói những câu kinh này vô cùng quí báu, đến mức nếu như bạn thực sự lắng nghe một
cách toàn bộ, với tấm lòng rộng mở, nếu như bạn nhạy cảm với chúng, thì chúng
có thể biến đổi cuộc đời của bạn. Đôi khi, chỉ một lời cũng đủ sức mạnh để làm
nên biến đổi này.
Tôi
có nghe kể về một người, ông ấy phải cũng giống như Huệ Năng. Ông ấy đã rất
già, sáu mươi lăm hay bẩy mươi tuổi rồi. Một lần ông ấy đi dạo buổi sáng, và một
người đàn bà nào đó phải đã đánh thức con mình dậy, hay ai đó khác, bên trong lều.
Ông già đang trên đường và người đàn bà này nói, "Dậy đi! Sáng rồi, đêm đã
hết!"
Ông
già nghe những lời ấy. Hừ? - đấy thậm chí chẳng phải là Kinh Kim Cương, đấy chỉ
là tiếng của một người đàn bà nói với ai đó, "Dậy đi! Đủ rồi! Con đã ngủ
lâu rồi. Đêm đã hết, mặt trời đã lên rồi, sáng rồi!" và ông già đã nghe.
Có lẽ ông ấy đang trong trạng thái tâm thức dễ tiếp nhận - buổi sáng sớm, chim
hót cùng mặt trời, gió mát - và những lời nói ấy chạm vào tim ông ấy như một
mũi tên: "Sáng rồi, con đã ngủ quá nhiều rồi, đêm đã hết rồi!" Ông
già không trở về nhà nữa. Ông ấy rời thành phố, ngồi thiền trong một ngôi đền.
Nhiều
người biết tin, gia đình ông ấy xô đến và họ hỏi, "Ông làm gì ở đây?"
Ông
ấy nói, "Sáng rồi, đêm đã hết, và tôi đã ngủ đủ rồi. Thế là đủ! Tôi xin lỗi.
Xin mọi người để tôi một mình. Tôi phải thức tỉnh. Cái chết sắp tới - tôi phải
thức tỉnh."
Và
bất kì khi nào ông ấy đi qua cánh cửa của người đàn bà ấy - ông ấy chưa bao giờ
gặp người đàn bà ấy - ông ấy đều tới và cúi đầu trước cửa. Đấy là ngôi đền của
ông ấy và người đàn bà kia là thầy của ông ấy. Đó là một người phụ nữ bình thường,
ông ấy chưa gặp bao giờ.
Đôi
khi, chỉ vài lời, thậm chí do những người bình thường thốt ra, có thể rơi vào mảnh
đất tốt là trái tim của bạn và chúng gây nên những biến đổi thật lớn. Vậy còn
nói gì đến những lời của vị phật?...
Khi
ấy, tôn giả Subhuti xúc động rơi nước mắt,
bạch
Phật rằng, ‘Bạch Thế Tôn, thật là huyền diệu, vô cùng huyền diệu, hỡi Diệt Độ,
cách thức Như Lai giảng dạy nghĩa lí cao siêu tuyệt vời của Kinh này!
Nhờ
vậy, tôi đã hiểu và đó không phải là một cảm nhận.
Tại
sao vậy?
Bởi
vì các vị phật, những vị toàn giác, đã buông bỏ tất cả mọi cảm nhận.’
Rất
hiếm khi một người với những phẩm chất như ông Subhuti lại khóc hay rơi nước mắt.
Nhưng khi lòng từ bi ấy, khi tình yêu bao la ấy từ Phật đang mưa rào lên ông ấy,
khi những lời như kim cương ấy đang trút lên ông ấy như cơn mưa... ông ấy đã
xúc động.
Khi
ấy, tôn giả Subhuti xúc động rơi nước mắt,
Nhớ
lấy, không còn gì sâu sắc hơn những giọt nước mắt để biểu thị lòng biết ơn,
không có gì cao hơn những giọt nước mắt để cầu nguyện. Mới vài ngày trước đây,
Geet Govind đã tới từ Esalen. Anh ta không thể nói với tôi được một lời nào -
chỉ nước mắt và nước mắt. Anh ta hơi xấu hổ. Anh ta muốn nói một điều gì đó,
nhưng chẳng nói được gì.
Những
giọt nước mắt ấy thật đẹp. Từ khi trở về đây, anh ta cứ khóc luôn. Trong cả hai
hay ba tuần lễ anh ta ở đây, anh ta đã khóc, và anh ta đã viết cho tôi:
"Thưa Osho, làm thế nào đây? Làm sao hết khóc được? Nước mắt cứ chảy
mãi." Tác động... Anh ta đã tiếp xúc với tôi, do đó có nước mắt. Anh ta đã
thấy tôi, do đó có nước mắt. Đôi mắt anh ta tràn ngập lòng biết ơn, do đó có nước
mắt. Đôi mắt được mãn nguyện, do đó có nước mắt.
Bạn
đừng bao giờ sợ khóc. Cái gọi là nền văn minh đã làm cho bạn rất sợ khóc. Nó đã
tạo ra một loại mặc cảm trong bạn. Khi nước mắt tới, bạn cảm thấy bối rối. Bạn
bắt đầu cảm thấy, "Người khác sẽ nghĩ gì đây? Mình là đàn ông mà lại khóc
à! Có vẻ đàn bà và trẻ con quá! Mình không nên khóc." Và bạn dừng những giọt
nước mắt đó - thế là bạn đã giết chết cái gì đó đang lớn lên trong bạn.
Nước
mắt vượt xa tất cả những gì tốt đẹp nhất mà bạn có được, bởi vì chúng đến từ sự
tràn ngập của bản thể bạn. Và nước mắt không nhất thiết biểu hiện nỗi buồn; đôi
khi chúng đến từ niềm vui lớn, đôi khi chúng đến từ an bình sâu xa và đôi khi
chúng đến từ cực lạc và tình yêu. Trên thực tế, chúng chẳng liên quan gì tới nỗi
buồn hay niềm hạnh phúc. Bất kì cái gì làm khuấy động trái tim bạn quá nhiều, bất
kì cái gì tràn ngập bạn, bao quanh bạn, chiếm hữu bạn, bất kì cái gì quá nhiều,
khiến bạn không chứa đựng được nữa và nó bắt đầu tràn ra - điều đó đem lại nước
mắt.
Vui
vẻ chấp nhận chúng đi, thưởng thức chúng, nuôi dưỡng chúng, chào đón chúng, và
qua nước mắt bạn sẽ biết cách cầu nguyện. Qua nước mắt bạn sẽ biết cách nhìn.
Những đôi mắt tràn trề nước mắt có khả năng thấy được chân lí. Những đôi mắt
tràn trề nước mắt có khả năng thấy được vẻ đẹp cuộc đời và những phúc lành của
nó.
Khi
ấy, tôn giả Subhuti xúc động rơi nước mắt, bạch Phật rằng,‘Bạch Thế Tôn, thật
là huyền diệu, vô cùng huyền diệu, hỡi Diệt Độ, cách thức Như Lai giảng dạy
nghĩa lí cao siêu tuyệt vời của Kinh này! Nhờ vậy, tôi đã hiểu...’
Subhuti
nói, "Sự hiện diện của Thế Tôn, những lời tràn đầy từ bi, tình yêu và ân
huệ của thầy đã đem đến cho tôi trí huệ. Nó đã cho tôi sáng suốt, tầm nhìn về
chân lí là gì, và đó thực sự không phải là một cảm nhận." Subhuti nói rõ
thêm, "Nhưng tôi xin nhắc thầy, đó không phải là cảm nhận, bởi vì không có
người nào để cảm nhận cả. Đó là trí huệ thuần khiết."
Việc
biết đã nảy sinh, nhưng không có người biết và không có cái gì được biết cả; chỉ
việc biết nảy sinh. Nó là việc biết thuần khiết. Không có phân chia giữa người
biết và cái được biết và việc biết. Nó chỉ là việc biết.
‘Tại
sao vậy?
Bởi
vì các Đức Phật, những vị toàn giác, đã buông bỏ tất cả mọi cảm nhận.’
"Giờ
đây tôi biết tại sao lại nói rằng chư Phật đã buông bỏ hết thảy cảm nhận, bởi
vì cảm nhận cần có người cảm nhận và cái được cảm nhận, việc quan sát cần có
người quan sát và cái được quan sát. Tất cả những cặp nhị nguyên ấy đã bị vứt bỏ.
Chỉ còn lại cái một."
Điều
đó rất khó giải thích.
Những
lời của Michael Adams sẽ giúp bạn,
"Cần
tất cả những lời này để nói lên điều ấy, nhưng có gì để nói? Tại đây và bây giờ,
có cái gì? Gió thổi qua rặng cây; gió thổi và cây oằn xuống. Ta đã nói quá nhiều.
Giờ đây điều ấy thật buồn cười, vì chân lí chỉ có một chữ. Cuộc sống là một từ;
cái chết là một từ, hạnh phúc là một từ, Thượng đế là một từ. Gió và cây, con
chim cổ đỏ và con hải cẩu, em bé và mặt trời là có thực. Cái còn lại chỉ là từ
ngữ.
"Những
từ ngữ mô tả mặt trời thậm chí còn không thực bằng những cái bóng, và còn lạnh
lẽo hơn nhiều. Mặt trời là gì, tâm trí ồn ào và trái tim tham vọng không thể biết
được, vì mặt trời thuộc loại khác, nó không làm ồn và không ham muốn gì cả.
Nhưng mặt đất yên tĩnh và lặng lẽ dường như có thể hiểu được mà không cần một cố
gắng nhỏ nào, nó biết mặt trời là gì. Dưới cái vẻ bề ngoài như đã chết, dưới lớp
tuyết phủ như tấm vải liệm, giữa mùa đông rét buốt, mặt đất trống trải và yên
tĩnh biết rõ mặt trời là gì."
Đệ
tử phải giống như mảnh đất khô nẻ - đất khô nẻ biết rõ đám mây là gì. Đệ tử phải
giống như đất mong manh, cởi mở. Đất mong manh biết rõ mặt trời là gì. Nó không
thể nói điều đó, nó không thể diễn tả điều đó, nhưng nó biết.
Đó
là điều ông Subhuti muốn nói qua những lời này, "Trí huệ đã nảy sinh trong
tôi. Tôi không thể nói được, tôi không có đó để thâu tóm nó, tôi không có đó để
nắm bắt nó, tôi chỉ là trống rỗng - nhưng cảm nhận đã nảy sinh, trí huệ đã nảy
sinh, darshan đã nảy sinh. Tôi đã thấy nhưng chẳng có người thấy."
Phật
nói:
‘Đúng
vậy, Subhuti! Nếu có người nào nghe kinh này mà không nghi ngờ, không sợ hãi,
không kinh khiếp...
Những
lời kinh này giống như cái chết, như đóng đinh lên cây thập tự - bạn sẽ phải chết
đi. Chỉ qua chết thì bạn mới hiểu sống là gì. Phục sinh là có thể nhưng chỉ sau
khi bị đóng đinh lên cây thập tự. Chính vì vậy Phật đã nói kinh này là nguy hiểm,
và
Nếu
có người nào nghe kinh này mà không nghi ngờ, không sợ hãi, không kinh khiếp,
thì người này sẽ được phước đức vô lượng, là người thật hi hữu.
Còn
nữa, Subhuti, sự nhẫn nhục hoàn toàn của Như Lai thực ra không phải là hoàn
toàn.
Tại
sao vậy? Bởi vì, Subhuti, trong một kiếp trước của ta, khi vua Kalinga xẻo thịt
tay chân ta, lúc ấy ta không cảm nhận về cái ta, về con người, về linh hồn, về
mạng sống. Tại sao vậy? Bởi vì, Subhuti, nếu lúc ấy ta có cảm nhận về cái ta,
thì đồng thời ta cũng đã có cảm nhận về sự oán hận.’
Phật
nhắc lại cho Subhuti một cực hình ông ấy đã chịu đựng trong một kiếp trước, khi
vua Kalinga đã cho chặt tay chân ông ấy. Phật nói, "Khi tay chân ta bị chặt,
lưỡi ta bị cắt, mắt ta bị móc ra, ta vẫn quan sát và không thấy trong ta xuất
hiện cái ‘tôi’ nào. Chẳng có ai để trông thấy, chẳng có ai để đau đớn về việc ấy.
Nếu có một cảm nhận về cái ‘tôi’ xảy ra lúc ấy, có thể sẽ kèm theo oán giận. Thế
thì ta sẽ tức giận ông vua đã giết ta và huỷ hoại ta, tuy nhiên ta đã không tức
giận. Đã không có nổi giận."
Bản
ngã đem đến giận dữ. Giận dữ là cái bóng của bản ngã. Bản ngã đem đến hung
hăng, bạo hành. Một khi bản ngã biến mất, mọi bạo hành cũng biến mất. Một người
trở thành tình yêu chỉ khi bản ngã đã hoàn toàn biến mất.
‘Và
còn nữa, Subhuti, chính vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà vị bồ tát phải bố
thí như thế.
Tại
sao vậy?
Bởi
vì, Subhuti, sự cảm nhận của một con người, đơn giản là sự không cảm nhận.
Tất
cả chúng sinh mà Như Lai đã nói đến, thực ra chẳng có chúng sinh nào.
Tại
sao vậy? Bởi vì tất cả những gì có hình tướng đều là giả.
Như
Lai nói đúng sự thật, không có gì khác hơn. Như Lai không nói sai.’
‘Subhuti,
Như Lai đồng nghĩa với phản ánh như thế.’
Phật
nói, "Ta chỉ nói những gì có đó - yatha bhutam. Ta không nói gì khác. Đó
là lí do tại sao những tuyên bố của ta thật ngược đời, thật phi logic, bởi vì
chân lí là phi logic. Muốn hiểu chân lí, các ông phải buông bỏ logic."


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment