Osho
Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 4)
Chương
9. Thức tỉnh với luật
Người
đi trần trụi, với tóc rối, bùn bắn,
người
nhịn ăn và ngủ trên đất và bôi bẩn thân mình bằng tro và ngồi trong thiền vô tận
-
chừng
nào người đó chưa tự do với hoài nghi, người đó sẽ không tìm thấy tự do.
Nhưng
người sống thuần khiết và tự tin trong tĩnh lặng và đức hạnh,
người
không gây hại hay tổn thương hay trách móc, cho dù người đó mặc quần áo đẹp,
chừng
nào người đó cũng có niềm tin người đó là người tìm kiếm đúng.
Ngựa
quí hiếm khi cảm thấy cái chạm của roi.
Ai
có đó trong thế giới này mà không chê được?
Thì
giống như ngựa quí khéo léo dưới roi,
bùng
cháy và nhanh nhẹn. tin tưởng, thiền, thấy.
vô
hại, vô chê trách. thức tỉnh theo luật.
và
từ mọi buồn rầu tự giải phóng mình.
Nông
dân đào kênh dẫn nước cho đất.
Người
gài tên chuốt mũi tên.
Thợ
mộc chỉnh gỗ.
Và
người trí huệ làm chủ bản thân mình.
Phật
Gautama không có triết lí sống. Ông ấy không phải là triết gia chút nào. Ông ấy
là con người của sáng suốt, ông ấy trí huệ; ông ấy biết cách nhìn vào cuộc sống,
vào thực tại. Ông ấy có cách nhìn nhưng không phải là triết lí sống. Ông ấy có
cách sống nhưng không có triết lí sống.
Triết
lí sống là cái thay thế giả tạo - nó đang né tránh biến đổi của bản thể bạn. Bạn
có thể học những từ hay, hệ thống tư tưởng, ý thức hệ, và bạn có thể trở thành
bị choán nhiều trong chúng tới mức bạn có thể quên toàn bộ rằng bạn thậm chí
không biết tới bản thân mình, rằng bạn không biết cách nhìn thấy bạn mù, rằng bạn
đã không có khả năng tạo ra ánh sáng trong tim mình, rằng ngọn lửa bị thiếu, rằng
bạn đang sống trong bóng tối sâu sắc; rằng cuộc sống của bạn có thể rất tinh
vi, có văn hoá, nhưng nó không phải là cuộc sống thực. Bạn sống trên bề mặt; bạn
không biết chiều sâu của nó và chiều cao của nó. Nó có cả thung lũng sâu và những
đỉnh cao, nhưng để đạt tới những chiều sâu đó và chiều cao đó bạn sẽ phải đi
qua quá trình giả kim thuật.
Phật là nhà giả kim thuật. Ông ấy chỉ cho bạn
cách biến đổi năng lượng của bạn từ
trung tâm thấp nhất tới trung tâm cao nhất của việc vận hành, từ bùn tới hoa
sen, từ kim loại cơ sở hơn thành vàng, từ đá thành kim cương. Ông ấy là nhà
khoa học của bên trong. Cách tiếp cận của ông ấy hoàn toàn khoa học, không triết
lí chút nào.
Đó
là lí do tại sao ông ấy lại không khớp với tâm trí Ấn Độ; tâm trí Ấn Độ quá triết
lí. Tâm trí Ấn Độ đã học quá nhiều biệt ngữ, nó đã trở thành rất khéo trong việc
chẻ sợi tóc. Phật không quan tâm tới mọi cái vô nghĩa đó. Ông ấy đi thẳng vào vấn
đề.
Vấn
đề là ở chỗ chúng ta đang sống với bóng tối trong trái tim - làm sao biến đổi
bóng tối này thành sự chói sáng? Chúng ta có tiềm năng, nhưng chúng ta không biết
cách thay đổi nó trong thực tại. Phật rất thực dụng, rất thực tế, người đầu
tiên thực sự thực chứng về thế giới bên trong, về tính chủ thể, về tính nội
tâm. Mọi người rất quan tâm tới triết lí sống. Nếu họ không có một triết lí họ
cảm thấy dường như họ bị mất cái gì đó. Mọi người quan tâm tới những từ rởm bởi
vì chúng chẳng tốn kém gì cả. Bạn có thể là người Hindu, bạn có thể đọc Vedas
và Gita và Upanishads, và bạn có thể trở thành rất hiểu biết. Bạn có thể trở
thành con vẹt lớn, bạn có thể trở thành bác học, học giả lớn, bạn có thể nói về
những điều lớn lao trong hàng giờ, nhưng cuộc sống của bạn sẽ vẫn còn bình thường
- nó sẽ không có việc động chạm nào của cõi bên kia.
Bạn
có thể là người Mô ha mét giáo hay Ki tô giáo - có hàng trăm ý thức hệ trên thế
giới - bạn có thể là người Cơ đốc giáo hay người cộng sản. Không thành vấn đề
điều bạn tin vào. Điều thực sự thành vấn đề là: bạn có khả năng thấy không? Bạn
có mắt để thấy bí ẩn của sự tồn tại không? Bạn có trái tim để cảm thấy điều kì
diệu của nó không? Bạn có cởi mở, sẵn có, mong manh cho cái không biết không?
Và khi cái không biết vẫy gọi, bạn có đủ dũng cảm để đi vào trong biển chưa
thám hiểm không, không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp? Bạn có kiểu dũng cảm đó
không?
Goldberg
có cảm giác mơ hồ rằng cái gì đó bị thiếu trong cuộc sống của mình. Một đêm anh
ta đặc biết chán nản và nói với vợ mình về khao khát của mình về cái gì đó.
"Nhưng
Sam này," cô vợ anh ta tái đảm bảo, "anh có mọi thứ rồi!"
"Anh
biết, anh biết! Nhưng anh không có triết lí sống - anh muốn cái đó."
"Anh
Sam này, anh muốn cái đó để làm gì? Chẳng hàng xóm nào có một cái."
Nhưng
đó thực sự là vấn đề - hàng xóm có. Ai đó là người Hindu, ai đó là người Mô ha
mét giáo, ai đó là người Ki tô giáo, ai đó là người Do Thái, ai đó là người cộng
sản; ai đó nói về Das Kapital và ai đó nói về Gita và ai đó nói về Koran, và bạn
bắt đầu cảm thấy dường như bạn thiếu cái gì đó bởi vì bạn không thể nói về những
điều lớn lao. Bạn bắt đầu cảm thấy những người này phải biết mọi điều họ đang
nói tới. Họ chẳng biết gì. Họ mù như bạn, hay có thể họ còn mù hơn bạn. Ít nhất
bạn còn tự do với các triết lí - đó là một trong những cản trở cơ bản cho việc
thấy.
Điều
đầu tiên cần hiểu về Phật và cách tiếp cận của ông ấy là ở chỗ ông ấy không cho
bạn giáo lí. Ông ấy chắc chắn muốn cho bạn khoa học - ông ấy không quan tâm
chút nào tới việc làm cho tâm trí bạn phức tạp hơn. Ông ấy muốn bạn vứt bỏ tâm
trí. Phức tạp hay không phức tạp, tâm trí là khối chắn, nó cản trở. Vô trí là
khả năng để thấy; tâm trí là khả năng để tin, nhưng nó không phải là khả năng để
thấy.
Do
đó Phật đã cho thiền một nghĩa hoàn toàn mới. Trước ông ấy, thiền là tập trung
lúc ban đầu và suy tư vào lúc cuối. Nhưng tập trung và suy tư cả hai đều là một
phần của tâm trí; tâm trí có thể chơi những trò chơi này giỏi một cách hoàn hảo.
Tâm trí rất quan tâm tới tập trung bởi vì qua đó, nó trở nên mạnh hơn. Tập
trung là việc nuôi dưỡng. Và tâm trí quan tâm vô cùng tới suy tư nữa, bởi vì
qua suy tư, thức ăn tinh hơn, chất nuôi dưỡng tinh hơn, trở thành sẵn có.
Nếu
bạn tập trung bạn có thể trở thành nhà khoa học của thế giới khách quan; nếu bạn
suy tư bạn trở thành triết gia lớn. Nhưng chừng nào bạn còn chưa biết thiền là
gì thì bạn sẽ không bao giờ là nhà huyền môn; và không là nhà huyền môn, bạn sẽ
bỏ lỡ tất cả - toàn thể cuộc sống của bạn sẽ là sự cực kì phí hoài.
Những
lời kinh này cực kì quan trọng. Ở vài chỗ lời dịch không chính xác, nhưng về
toàn thể nó cho bạn điều bản chất. Bất kì khi nào tôi thấy nó không chính xác
tôi sẽ nhắc bạn. Những chỗ không chính xác này nhất định xảy ra - bởi vì ở
phương Tây không ai đã nói như Phật; do đó không ngôn ngữ phương Tây nào có khả
năng dịch Phật chính xác, thích hợp.
Jesus
là vị phật, nhưng cách nói của ông ấy không phải là cách nói của Phật. Jesus
nói cứ dường như ông ấy nói cho trẻ con trường tiểu học - và đó đích xác là
hoàn cảnh. Những người ông ấy nói tới đều thực sự là ở giai đoạn của những người
mới, mới bắt đầu. Ông ấy phải dùng ngụ ngôn, biểu dụ. Ông ấy phải dùng các câu
lấy con người làm trung tâm: vương quốc của Thượng đế - không có Thượng đế và
không có vương quốc. Và Jesus biết điều đó chứ! - nhưng ông ấy phải nói bằng những
lời mà mọi người có thể hiểu được.
Mọi
người có thể hiểu vua - thế thì Thượng đế là vua vĩ đại nhất. Nhưng khác biệt
là về lượng, không về chất. Vua có vương quốc; do đó Thượng đế, vị vua vĩ đại
nhất, phải có vương quốc vĩ đại nhất. Nhưng lần nữa khác biệt là về lượng,
không về chất. Và bởi vì nó không phải về chất nên nó làm lỡ toàn thể vấn đề,
nó làm lỡ mục tiêu.
Thượng
đế không phải là người mà là sự hiện diện. Và Thượng đế không có vương quốc bởi
vì Thượng đế là sự hiện diện bao trùm của cuộc sống, của cái đẹp, của âm nhạc,
của thơ ca. Ngài lan toả khắp mọi không gian; ngài không tách rời khỏi nó. Ngài
không là đấng sáng tạo, ngài là chính hiện tượng bản thân việc sáng tạo. Nhưng
Jesus không thể nói được theo cách đó - Phật có thể.
Phật
đang nói cho những người rất cổ đại, cho những người rất quen thuộc với những tầm
với cao hơn - ngay cả họ cũng không có khả năng hiểu. Jesus phải dùng ngôn ngữ
có thể được hiểu. Và Jesus là con ông thợ mộc; bản thân ông ấy biết ngôn ngữ của
thường dân. Phật xuất thân từ gia đình hoàng gia, là con của vua - rất phức tạp
- biết tất cả về triết học và chán ngán với nó; biết mọi chuyện ngụ ngôn hay,
chuyện kể, huyền thoại hay và đã được kết thúc với mọi cái đó. Ông ấy đã thấy
qua chúng, rằng chúng giữ mọi người bận bịu nhưng chúng không làm biến đổi họ.
Ông ấy đã vứt bỏ tất cả nhưng cái không bản chất; ông ấy nói chỉ về cái rất bản
chất. Ông ấy là người rất vắn tắt nữa: ông ấy sẽ không dùng một từ quá mức được
cần tới. Trừ phi nó tuyệt đối được cần tới - chỉ thế thì ông ấy mới dùng nó.
Và
tất nhiên, ông ấy đã đổi nghĩa của từ; điều đó bao giờ cũng xảy ra khi vị phật,
người đã thức tỉnh, dùng từ. Ông ấy cho mầu sắc mới, sắc thái mới, nghĩa mới
cho những từ cổ. Phật đã biến đổi từ 'thiền'. Thiền bao giờ cũng đã là cái gì
đó của tâm trí, và Phật đã đem tới phẩm chất mới, hoàn toàn mới thế, đối lập hẳn
với nghĩa cũ: ông ấy nói, thiền nghĩa là trạng thái của vô trí. Nó không phải
là tập trung, nó không phải là suy tư. Nó không phải là suy nghĩ, nó không phải
là nghĩ về Thượng đế. Nó thậm chí không phải là lời cầu nguyện - bởi vì suy
nghĩ là của cái đầu, trí tuệ; lời cầu nguyện là xúc cảm. Đó là mặt kia của cái
đầu, không thật xa xôi khỏi nó; ngôn ngữ khác được dùng bởi phần khác của cái đầu.
Bây
giờ các nhà khoa học đồng ý về điều đó, rằng cái đầu có hai bán cầu. Bán cầu
trái nói ngôn ngữ của trí tuệ, logic, số học; còn bán cầu phải nói ngôn ngữ của
xúc động, tình cảm, cảm giác. Nhưng cả hai đều là hai bên của cùng một cái đầu.
Phật
là người đầu tiên chỉ ra điều này: rằng tập trung, suy tư, thuộc vào một bên của
đầu, bán cầu trái; và cầu nguyện, thành tâm, chúng thuộc về bán cầu phải. Nhưng
cả hai đều là một bên của đầu, và người tìm kiếm đúng phải vượt ra ngoài đầu;
người đó phải siêu việt lên trên nhị nguyên của đầu, sự phân chia của đầu. Chỉ
khi bạn siêu việt lên trên việc phân chia thì bạn mới có thể đi tới cái một.
Do
đó, ông ấy đem một nghĩa hoàn toàn mới cho thiền, cho dhyana. Ông ấy làm nó ngụ
ý trạng thái vô trí. Bạn sẽ thường xuyên phải nhớ tới điều đó. Bất kì chỗ nào từ
‘thiền’ được dùng, nhớ lấy, Phật ngụ ý vô trí.
Điều
thứ hai: bất kì chỗ nào bạn bắt gặp từ 'tin tưởng', thận trọng vào. Phật chưa
bao giờ ngụ ý điều bạn ngụ ý bởi từ 'tin tưởng'. Từ của ông ấy là shraddha.
Shraddha không có nghĩa tin tưởng, nó thậm chí không có nghĩa đức tin; nó ngụ ý
tin cậy, điều là hiện tượng hoàn toàn khác.
Shraddha
nghĩa là trạng thái của tin cậy toàn bộ. Tin tưởng không phải là tin cậy toàn bộ;
hoài nghi vẫn còn trong nó, bị kìm nén. Tin tưởng là cái vỏ che đậy. Bạn hoài
nghi nhưng bạn đã che đậy nó bằng cái chăn, bằng tin tưởng. Bạn sợ hoài nghi.
Hoài nghi quấy rối, cho nên bạn níu bám lấy tin tưởng, nhưng tin tưởng không
bao giờ có thể đưa bạn vượt ra ngoài hoài nghi.
Tin
tưởng là hoài nghi đứng trên đầu nó, đứng lộn ngược, có vậy thôi. Người hoài
nghi hoài nghi, người tin tưởng tin tưởng, nhưng cả hai đều mù quáng. Họ ở
trong cùng một con thuyền, có thể ngồi xoay lưng lại nhau, nhưng trong cùng một
con thuyền. Do đó người tin tưởng bao giờ cũng sợ ai đó khêu gợi cái hoài nghi
của mình ra, còn người hoài nghi bao giờ cũng cảnh giác để không ai thuyết phục
được mình về bất kì tin tưởng nào. Họ cả hai đều vướng víu vào nhau.
Tin
cậy là gì? Tin cậy là đi vượt ra ngoài hoài nghi và tin tưởng. Tin tưởng bao giờ
cũng ở trong một ý niệm nào đó; tin cậy bao giờ cũng ở trong cái đang hiện hữu
- không ở trong ý niệm mà trong bản thân sự tồn tại, bên trong và bên ngoài. Và
giữa tin tưởng và tin cậy có từ khác, 'đức tin' - cảnh giác với từ đó nữa. Phật
chưa bao giờ ngụ ý đức tin khi ông ấy dùng shraddha, và ông ấy bao giờ cũng
dùng shraddha. Đức tin là ở giữa: tin tưởng vào một ý niệm, đức tin vào một người,
còn tin cậy vào bản thân sự tồn tại. Phật chưa bao giờ muốn bạn mang đức tin bởi
vì đức tin tạo ra cuồng tín, đức tin tạo ra thần kinh.
Mới
đêm hôm nọ, một thanh nữ tới để nhận tính chất sannyas. Cách thức cô ấy tiếp cận
tới tôi làm tôi trở nên nhận biết rằng cô ấy thần kinh. Nhưng tôi không bao giờ
nói không với bất kì ai. Ai mà biết được, bao giờ cũng có khả năng - người ta
không bao giờ có thể nói được - rằng người thần kinh có thể trở nên bình thường.
Và ít nhất, nếu cô ấy sẵn lòng nhận tính chất sannyas, cô ấy vẫn có tri giác
nào đó còn lại; có thể cô ấy được giúp đỡ.
Tôi
có thể thấy điều đó sẽ là khó khăn - cách cô ấy tới, cách cô ấy ngồi... Và cuối
cùng, khi tôi gọi cô ấy tới gần tôi, cô ấy từ chối tới gần. Cô ấy đứng dậy hai
tay giơ lên và nói, "Tôi là Jesus Christ!" Tôi chẳng nói gì với cô ấy
cả, mặc dầu tôi muốn nói, "Vậy, anh già, anh quay lại rồi! Anh đã quên điều
đã xảy ra lần trước rồi sao? Có thể đó là lí do tại sao anh đã tới dưới dạng
đàn bà lần này." Và với việc công bố rằng cô ấy là Jesus Christ, cô ấy đi
mất.
Đức
tin tạo ra những kiểu thần kinh này. Ki tô giáo có nhiều người thần kinh, bởi
vì toàn thể ý niệm lệ thuộc vào đức tin: "Tin vào Jesus Christ, có đức tin
vào ngài! Ngài sẽ cứu ông!" - cứ dường như ông ấy chịu trách nhiệm cho cảnh
nô lệ của bạn! Ông ấy có thể cứu bạn chỉ nếu ông ấy đã đưa bạn vào tù; bằng không,
làm sao ông ấy có thể cứu bạn được? Ông ấy là cứu tinh và bạn là kẻ được cứu;
ông ấy là người chăn chiên và bạn là con chiên. Bạn không thấy cái vô nhân phẩm
được bao hàm trong đó sao? Bạn trở thành cừu. Mọi tôn giáo, ít hay nhiều, đều
đã làm điều này. Nếu bạn tin vào người, bạn sẽ bị thu thành cừu - bạn sẽ không
là con người. Tính người của bạn bị phá huỷ. Bạn bị cầm tù trong những nhà tù rất
tinh vi, vô hình. Bạn không thể thấy được chúng, chúng trong suốt.
Phật
nói: Là ánh sáng lên chính mình. Đừng tin vào người, đừng tin vào ý thức hệ. Và
khi bạn không tin vào bất kì ý thức hệ nào, và bạn không tin vào bất kì người
nào, tin cậy lớn lao bùng nổ, tin cậy vào bản thân sự tồn tại - vào cây cối,
vào tảng đá, vào mọi người, vào các vì sao, dòng sông, núi non, vào mọi thứ
đang hiện hữu. Tất nhiên, chư phật là một phần của nó, nhưng bạn không tin vào
Phật nói riêng. Bạn đơn giản tin vào sự tồn tại. Bạn tin vào hương thơm của
Jesus. Nhưng tin tưởng này không bắt rễ vào bất kì quan niệm nào. Thực ra, nó
là cái gì đó chủ thể, nó chẳng có liên quan gì tới bất kì đối thể nào.
Nếu
bạn tin vào Jesus bạn không thể tin được vào Krishna. Nếu bạn tin vào Krishna bạn
không thể tin được vào Mahavira. Một cách tự nhiên, nếu bạn tin vào người này bạn
phải không tin vào mọi người khác. Đó là cách tin tưởng chia rẽ mọi người. Và
toàn thể lịch sử đầy những tắm máu, sát hại, tàn sát. Nó đầy máu và bạo hành
nhân danh tôn giáo, bởi vì bạn đã được bảo tin vào người này chống lại mọi người
khác.
Tin
cậy là hoàn toàn khác. Nếu bạn tin cậy sự tồn tại... sự tồn tại ngụ ý Jesus
cũng nhiều như Krishna, như Phật, như Zarathustra. Họ tất cả đều là một phần của
nó. Và bạn không chỉ tin cậy vào chư phật, bạn tin cậy vào người thường bao
quanh bạn nữa; không chỉ vào người mà cả con vật, cây cối, đất đá. Vấn đề không
phải là điều bạn tin cậy - đối thể trở thành không liên quan. Bạn đơn giản có
trái tim tin cậy, tin cậy lớn lao rằng chúng ta thuộc vào sự tồn tại này, chúng
ta là một phần của sự tồn tại huyền bí này, rằng sự tồn tại không thể không
thân thiện với chúng ta được. Nó đã cho sinh thành ra chúng ta, và làm sao người
mẹ có thể không thân thiện được?
Đây
là nghĩa hoàn toàn khác của tin cậy. Nó không tin tưởng cũng không đức tin. Nhớ
hai từ này bởi vì chúng cứ bị dịch sai hoài.
Lời
kinh:
Người
đi trần trụi, với tóc rối, bùn bắn,
người
nhịn ăn và ngủ trên đất và bôi bẩn thân mình bằng tro và ngồi trong thiền vô tận
-
chừng
nào người đó chưa tự do với hoài nghi, người đó sẽ không tìm thấy tự do.
Những
người này - người đi trần trụi, với tóc rối, bùn bắn, người cứ nhịn ăn dài, người
ngủ trên đất lồi lõm, hay thậm chí trên gai nhọn, người bôi tro lên thân mình -
những người này trong nhiều thời đại đã từng được coi dường như họ là thánh
nhân. Họ đơn giản là kẻ tự bạo, họ tận hưởng việc tự hành hạ mình. Họ là những
người rất bạo hành.
Khác
biệt giữa họ và Adolf Hitler và Genghis Khan và Nadirshah chỉ là ở một điều:
Genghis Khan, Nadirshah, Adolf Hitler, họ tận hưởng việc hành hạ
người khác, và cái gọi là các thánh nhân tận hưởng việc tự hành hạ mình - nhưng
cả hai đều thích hành hạ. Bây giờ, nếu bạn hành hạ người khác điều đó bị kết
án, hiển nhiên, bởi vì "người khác" bao gồm bạn và bạn sợ bị hành hạ.
Nhưng nếu ai đó tự hành hạ mình điều đó lại được ca ngợi - nó chẳng liên quan
gì tới bạn; người đó tự hành hạ mình.
Thực
ra, những người tôn thờ những kẻ tự bạo đều là kẻ tàn bạo. Bạn muốn hành hạ họ,
nhưng họ là những người tốt thế, họ đang làm việc của bạn. Điều bạn đã muốn
làm, chính họ đang làm. Bạn có thể đi và tôn thờ họ.
Chủ
nghĩa tự bạo là bệnh tật: tự hành hạ mình. Và chủ nghĩa tàn bạo cũng là bệnh tật:
tận hưởng hành hạ người khác. Nếu bạn đủ dũng cảm, nếu bạn có thể mạo hiểm... bởi
vì mạo hiểm lớn có đó; nếu bạn hành hạ người khác, họ sẽ trả thù. Adolf Hitler
chung cuộc đã phải tự tử, và Nadirshah đã sống cả đời trong sợ hãi thường xuyên
và run rẩy, bởi vì ông ta đã giết nhiều người thế. Ông ta đã tạo ra nhiều kẻ
thù thế, ông ta không thể tin cậy vào bất kì ai được. Ông ta thậm chí không có
khả năng ngủ ngon; hơi chút tiếng động và ông ta sẽ bật dậy - và đó là cách ông
ta chết.
Một
đêm một con lạc đà lạc đi vào trong trại nơi Nadirshah hạ trại. Con lạc đà lạc
đó đi tới gần trại của Nadirshah; ông ta nghe thấy tiếng động. Trời thì tối...
Ông ta nhảy ra khỏi giường, cứ tưởng rằng kẻ thù đã tới, bắt đầu chạy, bị vướng
phải dây buộc lều, lên cơn đau tim và chết.
Những
người này, người hành hạ người khác, không thể sống một cách an bình được - điều
đó là không thể được, bởi vì họ tạo ra nhiều kẻ thù thế. Nhưng họ tận hưởng
hành hạ.
Bây
giờ, cách tốt nhất để hành hạ là tự hành hạ mình; thế thì không có sợ hãi.
Không ai chống lại bạn cả; ngược lại, mọi người tôn thờ bạn như người linh
thiêng. Bây giờ, nhìn vào cái ngu ngốc này đi! Nếu một người đi trần, thiêng
liêng gì trong đó? Bạn có thể đi tới nơi mà cuộc tụ tập tôn giáo lớn xảy ra ở Ấn
Độ, đặc biệt Kumbh Melas, và bạn có thể thấy những thánh nhân trần trụi, và bạn
sẽ ngạc nhiên! - bạn không thấy tính linh thiêng nào cả. Ngược lại, bạn sẽ thấy
trong mắt họ loại tội phạm tồi tệ nhất. Bạn có thể đi vào nhà tù và nhìn vào mắt
của kẻ giết người, và bạn sẽ thấy họ hồn nhiên hơn. Những người phô bầy
thân mình trần trụi trên đường thực sự là ốm yếu tâm lí. Theo thuật ngữ
tâm lí họ là người phô bầy.
Và
đây là điều kì lạ, rằng người Hindus đã tôn thờ những kẻ phô bầy này trong hàng
thế kỉ. Và cùng những người Hindu đó đang chống lại các sannyasin của tôi bởi
vì họ cho rằng các sannyasin của tôi đang chống lại văn hoá Hindu bởi vì họ
không mặc quần áo đúng. Bạn đang đi ngược lại văn hoá Hindu thì có! Văn hoá của
bạn bao giờ cũng tôn thờ kẻ phô bầy, văn hoá của bạn bao giờ cũng tôn thờ người
đồi bại.
Bây
giờ, người rải gai và đá cuội trước khi người đó đi ngủ - đó là việc dọn giường
- bạn tôn thờ người đó là linh thiêng sao? Người đó phải được cho sốc điện,
không phải hoa, không phải được đeo vòng hoa; người đó cần trị liệu tâm lí. Người
đó bị hư hỏng. Điều này là không tự nhiên! Không con vật nào đã từng làm điều
đó; ngay cả con vật cũng còn bình thường hơn nhiều. Trước khi chúng đi ngủ
chúng sẽ vứt đá và gai đi và chúng sẽ chuẩn bị giường êm cho mình, đất mềm, và
thế rồi chúng sẽ đi ngủ. Ngay cả con vật cũng dường như thông minh hơn nhiều, tự
nhiên hơn nhiều so với cái gọi là thánh nhân của bạn.
Người
bôi tro thân mình đơn giản là ngu xuẩn, hay có thể người đó chỉ là một kẻ bản
ngã, bởi vì loại hành vi này được tôn thờ trên đất nước này. Bây giờ, cùng kiểu
người này đang nêu câu hỏi chống lại tôi: Tại sao tôi chống lại các thánh nhân?
Tôi không chống lại thánh nhân. Tôi không chống lại Phật và tôi không chống lại
Nanak và tôi không chống lại Kabir và tôi không chống lại Raidas, nhưng tôi chắc
chắn chống lại những kẻ ốm yếu này, kẻ phô bầy, kẻ tự bạo, kẻ bất thường, kẻ thần
kinh... Tôi không gọi họ là thánh nhân, họ không phải vậy! Nhưng trong một trăm
người, có tới chín mươi chín phần trăm thuộc vào những loại này.
Chính
bởi vì bạn đã tôn thờ họ hàng thế kỉ tới mức bạn không hỏi: Các ông đang làm gì
vậy? Và bạn giận tôi bởi vì tôi đang nêu ra những câu hỏi đó lần đầu tiên - những
câu hỏi quấy rối bạn. Nhưng Phật cũng đã làm cùng điều đó, và bạn cũng đã giận
ông ấy nữa.
Ông
ấy nói: Người đi trần trụi, với tóc rối, bùn bắn, nhịn ăn và ngủ trên đất và
bôi tro thân mình và ngồi trong thiền vô tận - chừng nào người đó chưa tự do với
hoài nghi, người đó sẽ không tìm thấy tự do. Bạn có thể cứ làm những điều này
trong nhiều năm, cả đời bạn - bạn sẽ không đạt tới chỗ nào cả. Mọi điều này chỉ
là nghi lễ trống rỗng bạn đang theo bởi vì bạn đã được bảo rằng đây là điều
tính linh thiêng là gì. Bạn không thông minh tới mức bạn thậm chí không thể thấy
được rằng:
Đây
là cái loại linh thiêng gì vậy? Làm sao điều này có thể là linh thiêng được?
Làm
sao bôi bụi cát hay tro lên thân thể có thể là linh thiêng được? Điều đó đơn giản
là tự hành hạ mình, bởi vì thân thể thở... Bạn có biết rằng không chỉ mũi giữ
cho bạn sống, mà có cả triệu cánh cửa nhỏ trên thân thể mà từ đó bạn thở không?
Bạn thậm chí không thể thấy được chúng bằng mắt trần. Thử mà xem: sơn toàn thân
một người, chừa mũi người đó, sơn toàn bộ để cho mọi lỗ và chân lông của thân
thể bị bít kín. Người đó sẽ chết trong vòng ba giờ. Người đó có thể thở từ mũi
- điều đó sẽ không giữ cho người đó sống quá ba giờ.
Nếu
mọi lỗ chân lông đều bị bít lại... và đó là điều đang được thực hiện bởi việc
bôi tro lên thân mình. Bạn đang bít các lỗ chân lông của thân thể. Đây là cách
tự hành hạ mình, đây là việc để cho bạn đói ô xi. Và bạn càng nhận được ít ô
xi, bạn càng trở nên ngu xuẩn hơn, bởi vì ô xi là một trong những chất nuôi dưỡng
bản chất nhất cho thông minh.
Không
có ô xi tâm trí bắt đầu trở thành đờ đẫn. Đó là lí do tại sao ban đêm bạn cảm
thấy giấc ngủ tới với bạn dễ dàng hơn ban ngày, bởi vì ban ngày không khí có
nhiều ô xi hơn trong nó và bạn thở nhiều ô xi hơn. Ô xi đó giữ cho bạn tỉnh
táo, thức tỉnh. Trong đêm lượng ô xi trong không khí tụt xuống thấp, khí các bô
nic nhiều hơn - điều đó làm cho bạn cảm thấy buồn ngủ. Bằng việc bôi tro lên
thân mình bạn đang cố làm giảm khối lượng ô xi tới các tế bào não, bạn đang bỏ
đói não. Bạn sẽ trở nên đờ đẫn, xuẩn ngốc. Và đó là lí do tại sao bạn hiếm khi
thấy bất kì sự sắc bén nào, nhận biết nào.
Họ
sống như rô bốt. Tất nhiên, họ tuân theo luật nào đó được viết trong kinh sách
và được chuyển cho họ bởi cùng một loại người ngu xuẩn. Họ tuân theo một luật
nào đó mà không hiểu gì cả, tại sao họ đang làm nó. Tôi đã hỏi nhiều người bôi
tro thân mình, "Sao ông làm điều đó?" Và họ nói, "Bởi vì điều đó
đã được làm từ lúc ban đầu - các thánh nhân bao giờ cũng làm điều
đó."
Tôi
đã hỏi họ, "Khoa học đằng sau điều đó là gì?" Họ có vẻ phân vân. Họ
nói, "Khoa học sao...?" Họ không nhận biết về điều họ đang làm. Họ
không nhận biết rằng họ đang bỏ đói ô xi cho não họ.
Và
họ có nhiều chiến lược giống như điều đó: đứng lộn đầu xuống đất hàng giờ - bởi
vì sức hút mà nhiều máu dồn vào não tới mức nó phá huỷ những thần kinh tinh tế
của não. Toàn thể thông minh của bạn phụ thuộc vào những thần kinh tinh tế hơn
đó. Hay bỏ đói bản thân bạn - gọi điều đó là nhịn ăn, thế thì nó trở thành điều
tôn giáo. Khi bạn bỏ đói thân thể mình bạn cũng bỏ đói não bạn, bởi vì não là
phần tinh tế nhất của thân thể.
Bây
giờ người ta đã chứng minh về mặt khoa học rằng nếu vài chất vitamins bị thiếu
trong thân thể bạn sẽ mất thông minh. Sớm hay muộn mọi đứa trẻ đều phải được
cung cấp cho những vitamin nào đó, những hoá chất nào đó, và thông minh của nó
có thể được nâng lên rất cao. Ở nước Nga xô viết họ đã làm điều đó. Nếu bạn bỏ
đói thân thể mình, thế thì một cách tự nhiên não bạn bị bỏ đói. Bạn không cho
phép não có thức ăn đúng, bạn không cho phép não có khối lượng ô xi đúng... và
bạn cho rằng bạn sẽ có khả năng trở thành thiền nhân lớn, thành vị phật sao? Bạn
đang cố lừa ai vậy? Nhưng bạn đang theo một luật nào đó, nghi lễ nào đó, mà
không hiểu biết về nó.
Ngài
Reginald Farthington bị đưa ra xử trước Toà Thượng thẩm của Australia về tội quấy
nhiễu chim đà điểu. "Trước khi chuyển qua phán quyết," quan toà công
bố, "ông có điều gì cần nói không?"
"Thưa
quí toà," vị người Anh nói, "nếu tôi mà biết các ông làm nhặng sị lên
về nó, thì tôi đã cưới con chim chết tiệt đó rồi!"
Đây
là tâm trí pháp lí. Đây là cách tâm trí pháp lí vận hành: "Tôi đã cưới con
chim chết tiệt đó rồi!" Nó đi từ ngu xuẩn này sang ngu xuẩn khác.
Nếu
bạn bỏ đói thân thể mình về thức ăn đúng, về khối lượng ô xi đúng, vấn đề sẽ nảy
sinh. Và bạn sẽ đi tới cùng những người đang tạo ra vấn đề cho bạn, và họ có
đơn thuốc viết sẵn.
Một
người tới tôi, một thanh niên; anh ta bị bùa của Swami Shivananda ở Rishikesh.
Shivananda
đã bảo anh ta, "Sống chỉ bằng sữa thôi, bởi vì đó là thức ăn thuần khiết
nhất."
Bây
giờ, nếu bạn đã thấy bức tranh về Shivananda... Người ta có thể thấy người này
đã không sống chỉ bằng sữa. Ông ta béo tới mức ngay cả giơ tay mình lên cũng
khó cho ông ta, chúng nặng nề thế. Cho nên ông ta phải bước đi nhờ có hai người,
hai tay ông ta tựa lên vai họ. Người này phải bị ám ảnh bởi thức ăn, phải ăn
quá nhiều. Ông ta phải đã là một trong những người béo nhất ở Ấn Độ, và ông ta
gợi ý cho chàng thanh niên này sống chỉ bằng sữa.
Và
vấn đề là gì? Tại sao người thanh niên này đã đi tới ông ấy? Người thanh niên
này đã đi tới ông ấy để đạt tới brahmacharya - vô dục. Anh ta đã đọc trong kinh
sách rằng chừng nào bạn còn chưa tuyệt đối vô dục bạn không thể đạt tới Thượng
đế được. Cho nên anh ta đã hỏi cách để trở thành tuyệt đối vô dục; bây giờ lời
gợi ý là, "sống chỉ bằng sữa."
Bây
giờ điều này hoàn toàn vô nghĩa! Nếu bạn sống chỉ bằng sữa bạn sẽ nhiều dục hơn
trước đây, bởi vì bạn sẽ lấy sữa từ đâu? Từ bò hay trâu. Sữa đó không được tạo
ra cho người; sữa bò được tạo ra cho bò đực, và bò đực là con vật dâm dục nhất
trên thế giới. Sữa bò có nhiều hoá chất để làm cho bạn có tính dục hơn bất kì
cái gì khác trên thế giới. Nó là thức ăn không linh thiêng nhất.
Nhưng
ai quan tâm? Ai nghĩ về điều đó?
Chỉ
bởi vì kinh sách nói điều đó, Shivananda đã bảo anh ta, "Anh sống bằng sữa."
Bây giờ, đó là duy nhất con người, duy nhất con người sống bằng sữa khi người
ta còn nhỏ và chỉ trong vài tháng. Một khi người đó đã trở nên có thể ăn và
tiêu hoá thức ăn cứng người đó bỏ sữa và chuyển sang thức ăn cứng. Sữa được ngụ
ý cho trẻ con.
Và
một trong những điều quan trọng nhất đang phát triển trong trẻ con là tính dục
của nó. Nó đang trở nên ngày một chín muồi và mang tính dục, bởi vì toàn thể
sinh học phụ thuộc vào dục. Và sau một thời gian đứa trẻ phải chuyển sang thức
ăn cứng. Chỉ con người mới tiếp tục uống sữa. Nó là được trong cà phê hay trong
trà, nhưng chỉ sống bằng sữa - điều đó sẽ là nguy hiểm.
Anh
thanh niên này trở nên ngày một nhiều dục hơn, và yếu hơn. Thân thể trở nên yếu
còn tâm trí trở nên ngày một bị ám ảnh bởi dục. Anh ta lại đi tới cùng vị thánh
đó. Vị thánh đó nói, "Đấy là vì anh đang bị tamas - anh đang bị chính loại
năng lượng thấp nhất có tên là tamas, kéo anh xuống."
"Thế
cần phải làm gì?" anh thanh niên hỏi.
Vị
thánh này, cái gọi là thánh nhân này, nói, "Anh không nên ngủ nhiều như
anh vẫn ngủ, bởi vì ngủ tạo ra tamas" - điều đó nữa cũng được viết trong
cùng kinh sách: ngủ tạo ra tamas - "cho nên ngủ năm tiếng thôi."
Đầu
tiên thức ăn bị lấy đi. Anh ta bị đói, bởi vì với người đã lớn thì sữa là không
đủ. Anh ta cần thức ăn cứng; anh ta không phải là đứa trẻ. Và thế rồi sữa lại bắt
nguồn từ bò - điều được ngụ ý dành cho bò đực, không cho người - cho nên anh ta
trở nên nhiều dục hơn. Bây giờ giấc ngủ bị giảm đi. Năm giờ ngủ cho thanh niên
là không đúng. Vâng, với ông già điều đó là hoàn toàn được; khi bạn trở nên già
hơn, giấc ngủ ngày càng được cần ít hơn, bởi vì thân thể sắp chết, nó không cần
phục hồi nữa. Bằng không, thân thể của thanh niên tự khôi phục nó mọi ngày.
Để
khôi phục, để lấy lại sức mạnh đã mất, để tái tạo lại tế bào đã chết ngày hôm
qua, bạn cần giấc ngủ dài - bẩy hay tám giờ, không ít hơn thế. Năm là không đủ.
Bây giờ anh ta bắt đầu chịu chứng buồn ngủ; cả ngày anh ta ngáp và cảm thấy buồn
ngủ.
Bố
anh ta đem anh ta tới tôi và ông ấy nói, "Phải làm gì đây? Bây giờ nó lại
định đi tới Rishikesh, và mỗi lần nó đi nó đều đem về một vấn đề. Nó hoàn toàn ổn
thoả; đọc những cuốn sách vô nghĩa này nó trở nên quan tâm tới việc trở thành
brahmachari - người vô dục - và thế rồi toàn thể rắc rối bắt đầu. Bây giờ nó
không thể đọc được, mất quan tâm vào mọi thứ, đang trở nên bị ám ảnh bởi dục và
thức ăn và ngủ. Bây giờ ba điều này là những thứ nó bị ám ảnh. Nó đang làm cho
bản thân nó phát rồ và cả gia đình nữa."
Tôi
nhìn vào cậu thanh niên này - anh ta thực sự là một đống lộn xộn. Nhưng anh ta
nói, "Tôi đang theo một thánh nhân vĩ đại."
Tôi
hỏi anh ta, "Làm sao bạn biết rằng ông ấy là thánh nhân vĩ đại? Tiêu chí của
bạn là gì? Bởi vì ông ấy lặp lại kinh sách sao? Làm sao bạn biết rằng kinh sách
được viết bởi những người biết?"
Anh
ta nói với tôi, "Xin đừng tạo ra hoài nghi trong tôi! Tôi muốn vẫn còn là
người tin, bởi vì không có đức tin, không có tin tưởng, không có giải
thoát."
Tôi
nói với anh ta, "Bạn không cần giải thoát nào cả. Không cần bất kì giải
thoát nào. Bạn đã được giải thoát rồi! Bạn đã trong Thượng đế rồi! Không cần
tìm ngài đâu. Bạn là một phần của chân lí. Cứ sống một cách tự nhiên, lành mạnh
vào, và bạn sẽ có khả năng hiểu bí ẩn của cuộc sống. Không có nhu cầu trở nên
điên rồ. Mọi cách thức này đều đưa bạn tới điên rồ."
Và
thế thì người ta tìm cách này nọ để thoả mãn cho nhu cầu tự nhiên - người ta trở
thành đạo đức giả. Toàn thể việc huấn luyện tôn giáo của bạn chỉ giúp cho bạn
trở thành đạo đức giả. Nó không làm cho bạn thành linh thiêng; nó đơn giản làm
cho bạn thành rởm, giả dối.
Bạn
kìm nén cái gì đó từ phía này và nó bắt đầu khẳng định từ phía khác.
Fogarty
bắt đầu đều đặn xuống xe ở quán rượu Barney, và đơn hàng của anh ta
bao giờ cũng là một: hai cốc martinis. Sau vài tuần với điều này, Barney hỏi
anh ta tại sao anh ta lại không đặt cốc đúp.
"Đấy
là chuyện tình cảm," Fogarty nói. "Một người bạn rất thân của tôi chết
vài tuần trước, và trước khi chết anh ta đã hỏi rằng khi tôi uống rượu tôi có
dành cho anh ta một cốc không."
Một
tuần sau Fogarty tới và đặt một cốc martini. "Thế với anh bạn thân đã chết
của anh thì sao? Sao hôm nay chỉ một cốc martini thôi?"
"Đây
là cốc của anh bạn thân của tôi đấy," câu trả lời đưa tới. "Tôi đang
trên xe kia."
Bạn
bao giờ cũng có thể tìm ra cách thức. Tâm trí rất tinh ranh, cực kì tinh ranh.
Bạn không thể gạt bỏ được tinh ranh của tâm trí bằng những điều ngu xuẩn thế.
Và nếu bạn đang làm những điều ngu xuẩn thế, bạn có thể ngồi lâu, vô tận, trong
thiền... chẳng cái gì sẽ xảy ra, bởi vì yêu cầu đầu tiên của thiền là thông
minh: nhận biết về tình huống của bạn và về điều bạn đang làm cho bản thân mình
và tại sao - không chỉ tuân theo các kinh sách chết, không chỉ tuân theo cái gọi
là các thánh nhân bởi vì quần chúng gọi họ là thánh nhân.
Chừng
nào người đó chưa tự do với hoài nghi, người đó sẽ không tìm thấy tự do.
Phật ngụ ý gì bởi điều này? - Chừng nào người đó chưa tự do với hoài nghi...
Làm sao người ta trở thành tự do với hoài nghi? Bạn sẽ ngạc nhiên: chừng nào bạn
còn chưa trở nên tự do với tin tưởng bạn không thể trở nên tự do với hoài nghi
được. Chính tin tưởng tạo ra hoài nghi. Chẳng hạn, nếu bạn tin vào Thượng đế thế
thì vấn đề nảy sinh liệu Thượng đế có thực tồn tại hay không. Hoài nghi này
không thể tới trước được; tin tưởng tới trước.
Bạn
được bố mẹ bạn, xã hội bạn bảo rằng có Thượng đế. Bởi vì bạn được bảo có Thượng
đế, ngày này ngày nọ thông minh của bạn khẳng định và bắt đầu hỏi, "Bằng
chứng là gì? Làm sao chúng ta biết chắc chắn, để đảm bảo, rằng Thượng đế thực sự
có?" Bây giờ hoài nghi đang tới...
Ở
nước Nga xô viết, nơi họ không dạy trẻ con rằng có Thượng đế, chẳng ai hoài
nghi về sự tồn tại của Thượng đế cả - không có vấn đề hoài nghi. Chẳng ai tin
ngay chỗ đầu tiên - sao họ phải hoài nghi? Ở Ấn Độ nữa, nếu bạn được sinh ra
trong một gia đình Jaina bạn chẳng bao giờ hoài nghi sự tồn tại của Thượng đế.
Tại sao? - bởi vì trong tín ngưỡng Jaina không có Thượng đế, không có tin tưởng.
Nhưng người Jaina hoài nghi về sự tồn tại của linh hồn, bởi vì người đó được bảo
rằng có linh hồn, vô hình - thân thể sẽ chết nhưng linh hồn sẽ tiếp tục cuộc
hành trình của nó.
Bây
giờ hoài nghi nảy sinh: "Linh hồn này ở đâu? Linh hồn này là gì? Có ai đã
bao giờ thấy nó không? Có ai quay lại thế giới sau cái chết và nói rằng, 'Tôi vẫn
sống! Anh không thể thấy được tôi, nhưng tôi vẫn đây'?" Người Jaina hoài
nghi về linh hồn, không về Thượng đế.
Người
Hindu hoài nghi về Thượng đế, người Mô ha mét giáo hoài nghi về Thượng đế, người
Ki tô giáo, người Do Thái, họ tất cả đều hoài nghi về Thượng đế - bởi vì Thượng
đế là tin tưởng của họ. Người Jaina và Phật tử không bao giờ hoài nghi về Thượng
đế bởi vì đó không phải là tin tưởng của họ, nhưng người Jaina hoài nghi về
linh hồn. Phật tử không bao giờ hoài nghi về linh hồn, bởi vì đó không phải là
tin tưởng của người đó.
Phật
đã lấy đi mọi tin tưởng, để cho bạn không hoài nghi: không Thượng đế, không
linh hồn, không địa ngục, không cõi trời, không moksha. Phật đã lấy đi mọi tin
tưởng! Nhìn cách tiếp cận khoa học của ông ấy về việc phá huỷ hoài nghi - rất
ngược đời.
Chính
điều đối lập lại đã được những người khác làm. Người khác cũng đã cố gắng lấy
hoài nghi của bạn đi, nhưng phương pháp của họ đã là áp đặt tin tưởng lên bạn để
cho hoài nghi đi sâu hơn vào trong vô thức, trở nên bị kìm nén - bạn không thấy
nó thêm nữa. Nó bị che phủ bởi tin tưởng, nhưng nó không bao giờ chết; ngược lại,
nó đi sâu hơn vào trong bản thể bạn và càng ngày càng trở thành một phần của bản
thể bạn. Mọi người tin của bạn đều biết nó rất rõ, rằng có hoài nghi trong trái
tim họ. Tại chính cốt lõi có hoài nghi; chỉ ở chu vi mới có tin tưởng.
Phật
là người đầu tiên trên thế giới đã thực sự thử phá huỷ hoài nghi. Nhưng cách thức
của ông ấy là kì lạ: cách thức của ông ấy là lấy đi mọi tin tưởng; thế thì bạn
đã lấy đi chính mảnh đất mà hoài nghi phát triển ở đó. Không có tin tưởng và bạn
sẽ không có hoài nghi. Không có tin tưởng, không có hoài nghi, tâm trí có thể vẫn
còn ở đâu được? Tâm trí cần hai cây cột trụ chống đỡ cho nó. Đây là hai cánh của
tâm trí: hoài nghi và tin tưởng. Đây là nhị nguyên mà trên đó tâm trí được nuôi
dưỡng và sống. Một khi tin tưởng và hoài nghi cả hai đã mất rồi, bạn đã phá huỷ
chính nền tảng của tâm trí.
Và
là vô trí là thiền. Không bằng việc ngủ trên gai, không bằng việc đi trần trụi,
không bằng việc nhịn ăn, không bằng việc tự hành hạ mình, nhưng bằng hiểu biết
lớn lao về mọi thứ. Hoài nghi này từ đâu tới? Đi vào trong nó, tìm kiếm, và bạn
sẽ thấy nó bao giờ cũng tới bởi vì tin tưởng nào đó.
Bây
giờ tâm trí hiện đại có thể đạt tới thiền dễ dàng hơn nhân loại đã từng có khả
năng, bởi một lí do đơn giản: rằng tâm trí hiện đại không còn bị nặng gánh quá
nhiều bởi tin tưởng. Do đó không có quá nhiều hoài nghi nữa. Ngày nay bạn hiếm
khi bắt gặp những người đa nghi, những người đầy hoài nghi, những người vô thần
- bạn hiếm khi bắt gặp những như thế ngày nay. Vào thời xưa họ có nhiều. Và lí
do là đơn giản: bây giờ không ai tin cả! Cho nên nếu ai đó nói, "Tôi không
tin Thượng đế," bạn sẽ nói, "Vậy sao? Ai tin? Yên đi cho rồi!"
Bây giờ không ai có thể biện luận chống Thượng đế bởi vì không ai biện luận ủng
hộ người đáng thương này!
Đây
là tình huống rất mới. Và truyền thống cũ của bạn không thể chấp nhận được
thách thức của tình huống mới này. Nếu bạn tuyên bố rằng, "Tôi là kẻ vô thần,"
mọi người sẽ nói, "Thì cứ cho là vậy đi. Sao ba hoa về nó làm gì? Sao lại
làm nhặng sị lên về nó? Hoàn toàn tốt, chúng tôi sung sướng - anh là kẻ vô thần."
Ai bận tâm về nhà thờ và ai bận tâm về đền chùa? Ngay cả những người đi, họ
cũng đi như một nghi lễ xã hội; ngay cả họ cũng không tin.
Đây
là cơ hội hiếm hoi cho tìm kiếm; nó chưa bao giờ thoáng đãng như ngày nay. Tất
nhiên, những người theo truyền thống cổ của bạn lo lắng nhiều lắm; họ nghĩ đây
là loại thời đại tồi tệ nhất đã từng xảy ra. Đây không phải là loại thời đại tồi
tệ nhất - đây là tốt nhất, đỉnh cao nhất. Đây là thời, đúng thời, thời gian
chín muồi đấy. Chúng ta có thể hỏi với toàn bộ trái tim trong thực tại, bởi vì
không tin tưởng nào cản trở, và bởi vì không có tin tưởng, không có hoài nghi.
Đây
là tự do. Phật gọi nó là tự do. Chừng nào người đó chưa tự do với hoài nghi,
người đó sẽ không tìm thấy tự do. "Tự do" nghĩa là tự do với tâm trí.
Thế thì bạn đơn giản trong im lặng, và trong im lặng đó bạn tan chảy, bạn hội
nhập với cái toàn thể. Và tan chảy và hội nhập với cái toàn thể là linh thiêng.
Không bằng nhịn ăn, không bằng hành hạ, mà bằng việc trở thành một với cái toàn
thể, người ta trở thành linh thiêng.
Nhưng
người sống thuần khiết và tự tin trong tĩnh lặng và đức hạnh,
người
không gây hại hay tổn thương hay trách móc, cho dù người đó mặc quần áo đẹp,
chừng
nào người đó cũng có đức tin người đó là người tìm kiếm đúng.
Nhưng
người sống thuần khiết... Phật ngụ ý gì bởi "sống thuần khiết"? Ông ấy
ngụ ý sống một cách hồn nhiên, không tin tưởng, không hoài nghi, sống không từ
tâm trí mà từ thiền. Ông ấy có nghĩa riêng của mình về thuần khiết. Ông ấy
không ngụ ý bởi "sống trong thuần khiết" là những ý niệm cũ kĩ, mục
nát. Thuần khiết không ngụ ý rằng bạn phải ăn thức ăn chỉ do người brahmin chuẩn
bị; thuần khiết không ngụ ý rằng bạn phải ăn chỉ khi mặt trời còn trên trời;
thuần khiết không ngụ ý rằng bạn chỉ phải mặc cái này và bạn không được mặc cái
kia.
Thuần
khiết nghĩa là sống từ vô trí, sống tự phát, khoảnh khắc sang khoảnh khắc như đứa
trẻ, hồn nhiên - sống từ trạng thái của không biết. Mọi tri thức đều tinh ranh,
và mọi tri thức đều làm biến chất. Sống từ trạng thái của không biết - đó là
thuần khiết.
Socrates
nói: Tôi chỉ biết mỗi một điều là tôi không biết gì cả - đây là thuần khiết.
Phật
hay nói với các đệ tử của mình, "Xin đừng bao giờ hỏi ta các câu hỏi siêu
hình, bởi vì ta không biết. Đừng hỏi ta về Thượng đế và đừng hỏi ta về linh hồn,
và đừng hỏi về cõi trời và địa ngục." Ông ấy có một danh sách được chuẩn bị
về mười một câu hỏi; mười một câu hỏi đó chứa mọi câu hỏi đầy những triết lí.
Bất
kì khi nào ông ấy vào một thị trấn mới, đệ tử của ông ấy sẽ đi quanh thị trấn
và nói với mọi người, "Xin đừng hỏi mười một câu hỏi này, bởi vì Phật sẽ
không trả lời những câu hỏi này. Phật chỉ quan tâm tới những câu hỏi thực hành.
Hỏi về tham và cách gạt bỏ nó; hỏi về giận và cách vượt ra ngoài nó. Hỏi về sở
hữu và cách vứt bỏ nó, hỏi về biến đổi. Hỏi về cách các ông có thể vứt bỏ tâm
trí và đạt tới thiền. Nhưng đừng hỏi câu hỏi siêu hình bởi vì chúng sẽ không
giúp cho các ông chút nào. Chúng tạo ra tin tưởng, và cùng với tin tưởng hoài
nghi tới. Và bị phân chia thành tin tưởng và hoài nghi các ông trở thành tinh
thần phân liệt, các ông trở thành số không. Các ông mất tính toàn vẹn của
mình."
Nhưng
người sống thuần khiết và tự tin... Bây giờ, từ này 'tự tin' cũng không phải là
từ được dịch đúng. Điều Phật ngụ ý là người tin cậy vào bản thể riêng của mình
- nó không phải là "tự tin." "Tự tin" cho cảm giác của bản
ngã; Phật ngụ ý tin cậy vô ngã. Người tin cậy vào toàn thể sự tồn tại cũng tin
cậy vào bản thân mình, bởi vì người đó là một phần của cái toàn thể. Người đó
nghe tiếng nói của trái tim mình và tuân theo nó. Không sợ hãi người đó đi cùng
trái tim mình. Người đó tin cậy vào trực giác của mình. Và một khi bạn đã biết
nghệ thuật của cách nghe theo trực giác của mình, bạn sẽ ngạc nhiên: trí tuệ có
thể sai, trực giác không bao giờ sai - nó là không thể nào sai được. Nó bao giờ
cũng hướng bạn theo tiến trình hành động đúng.
Trong
tĩnh lặng và đức hạnh... "Tĩnh lặng" nghĩa là thiền, vô ý nghĩ, không
ý nghĩ quấy rối, cái hồ tâm thức tuyệt không có sóng và gợn sóng nào. Và hậu quả
của im lặng như vậy là đức hạnh. Đức hạnh không phải là cái gì đó do bạn thực
hành; bạn không thể thực hành đức hạnh được. Nếu bạn thực hành đức hạnh, trên bề
mặt bạn sẽ đeo mặt nạ, nhưng đằng sau bề mặt bạn sẽ cứ sống theo cách luẩn quẩn
cũ rích của mình. Tất nhiên, bạn có thể che giấu người khác, nhưng làm sao bạn
có thể che giấu bản thân mình được?
Đó
là điều xảy ra cho các tu sĩ của bạn, cái gọi là các thánh nhân của bạn; toàn
thể cuộc đời họ trở thành rất tinh ranh - họ nói một đằng, họ sống cuộc sống
hoàn toàn khác. Họ nhất định là như vậy bởi vì đức hạnh là được trau dồi.
Một
nhà xã hội học đang làm cuộc điều tra dựa trên khuynh hướng dục của các nhóm quốc
gia và dân tộc đa dạng. Ông ấy tới một quí ông người Italia già cả trong bộ com
lê đen, sau những thăm hỏi thông thường mới hỏi ông này ông ấy
có giao hợp dục thường xuyên không.
"Ồ,
có thể mười, mười hai lần trong một năm," ông già nói.
"Nhưng
ông là người Italia và người Italian được cho là rất dâm dục," lời đáp đưa
tới.
"Nghe
đây, tôi cho rằng điều đó là không quá tệ đối với một tu sĩ sáu mươi tuổi mà
không sở hữu một chiếc xe!"
Tu
sĩ của bạn, các thánh nhân của bạn, cái gọi là người đức hạnh của bạn, người
đáng kính, họ đều có cuộc sống kép: trên bề mặt là thứ này, dưới chiều sâu lại
đối lập toàn bộ với nó.
Xơ
Semolina về muộn trong chuyến đi vào rừng rậm. Xơ đang nhận chỉ dẫn của Mẹ
Maria, người đã triệu xơ vào văn phòng mình cuối chiều.
"Ta
phải đi lên thủ đô và ta sẽ đi qua đêm," Mẹ Maria nói. "Ta muốn cảnh
báo xơ: nếu Cha Dominique tới phòng xơ đêm nay đừng cho ông ấy vào, dù ông ấy
có nói gì với xơ."
Ngày
hôm sau, Mẹ Maria quay về thấy xơ Semolina đang đợi trong văn phòng của mình.
"Con ở đây để thú tội," xơ nói đầy nước mắt. "Đêm hôm trước con
đã không tuân theo lệnh của Mẹ. Cha Dominique tới cửa phòng con, và, ôi Mẹ, cha
sao mà thuyết phục thế! Cha nói với con rằng con là lối cổng vào cõi trời và rằng
cha có chìa khoá vào cõi trời và rằng nếu con để cha đặt chìa khoá vào cổng bị
khoá của con thì chúng con sẽ ở trên cõi trời cùng nhau."
"Đồ
con hoang đó!" Mẹ Maria kêu lên. "Nó đã bảo ta đó là sừng của
Gabriel, và ta đã thổi nó trong mười lăm năm!"
Nhưng
điều này là tự nhiên, nó phải như vậy. Những chuyện cười này không chỉ là chuyện
cười, chúng có chân lí lớn lao trong chúng. Điều đó là không tránh khỏi bởi vì
toàn thể ý niệm của bạn về đạo đức là áp đặt lên bản thân mình những phẩm chất
tốt, đã được ca ngợi từ nhiều thế kỉ. Nhưng nếu bạn áp đặt điều gì đó lên bản
thân mình, bạn đang làm gì với bản tính của mình? Bạn sẽ trở thành hai người,
và bản tính chắc chắn còn mạnh hơn bất kì cái gì bị áp đặt.
Bản
tính phải được biến đổi. Cá tính phải không bị trau dồi; nó phải là sản phẩm phụ
của tâm thức. Đó là đóng góp vĩ đại của Phật cho thế giới.
Trong
tĩnh lặng và đức hạnh.... Đức hạnh tới ở số hai. Tĩnh lặng tới đầu tiên, tính
thiền, thuần khiết, hồn nhiên, tin cậy.
Người
không gây hại hay tổn thương hay trách móc, cho dù người đó mặc quần áo đẹp, chừng
nào người đó có đức tin người đó là người tìm kiếm đúng. Lại đọc thay vì
"đức tin," thì là "tin cậy." Người có tin cậy, người đó là
người tìm kiếm đúng. Người tin không phải là người tìm kiếm đúng - người đó đã
tin rồi! Người đó là rởm từ chính ban đầu. Nếu bạn đã tin vào Thượng đế, làm
sao bạn có thể tìm và kiếm được? Bạn đã giết chết việc truy tìm từ chính lúc đầu,
bạn đã bỏ việc truy tìm.
Người
ta có thể đi vào cuộc truy tìm chỉ khi người ta không có tin tưởng và không có
hoài nghi. Khi người ta đơn giản cởi mở, không định kiến, không kết luận, không
câu trả lời làm sẵn do người khác trao, khi người ta đơn giản đi như tấm bảng sạch,
như tấm gương, thế thì người ta bắt gặp chân lí.
Chân
lí có thể được biết chỉ bởi tâm trí tựa tấm gương. Tâm trí tựa tấm gương là vô
trí. Nhưng nếu bạn đã là người tin thì bạn sẽ không bao giờ biết tới chân lí.
Người Ki tô giáo không thể biết được, người Mô ha mét giáo không thể biết được,
người Hindu không thể biết được, Phật tử không thể biết được. Chừng nào bạn còn
chưa vứt bỏ mọi ý thức hệ này, chừng nào bạn còn chưa gạt chúng sang bên và đi
vào trong cuộc hành trình tuyệt đối cởi mở, thậm chí không chút định kiến nhỏ lẩn
khuất đâu đó trong tâm trí bạn...
Có
lần một giáo sư rất nổi tiếng, Tiến sĩ Bannerji, tới gặp tôi. Ông ấy nói rằng
ông ấy muốn chứng minh một cách khoa học lí thuyết về đầu thai, lí thuyết về
tái sinh. Ông ấy muốn chứng minh rằng người Ki tô giáo và người Mô ha mét giáo
và người Do Thái đều sai, và ông ấy muốn chứng minh điều đó một cách khoa học.
Ông ấy đã tới để lấy sự ủng hộ của tôi.
Tôi
nói, "Cách ông đang nói nó, việc tìm kiếm là không khoa học ngay từ đầu!"
Ông
ta hỏi, "Tại sao?"
Tôi
nói, "Ông đã quyết định rồi rằng người Mô ha mét giáo, người Ki tô giáo,
người Do Thái là sai. Ông đã không đi vào trong việc tìm kiếm vậy mà quyết định
đã có đó rằng người Hindus và người Jainas và Phật tử là đúng. Và làm sao ông
có thể nói ông muốn chứng minh nó một cách khoa học được? - làm sao nó có thể
là khoa học được?
"Yêu
cầu đầu tiên của tâm trí khoa học là không bắt đầu bằng kết luận. Ông vứt bỏ kết
luận của ông đi. Ông sẽ phải tỉnh táo hoàn toàn rằng ông không biết thực tại là
gì - thế rồi đi vào trong nó. Và thế rồi hỏi, vẫn còn rất vô tư. Cho dù nó có
đi ngược lại lí thuyết của ông, cứ để nó đi ngược; cho dù nó đi ngược lại Hindu
giáo, cứ để nó đi. Chân lí phải được khải lộ, không phải là Hindu giáo được chứng
minh. Ông mang quá nhiều tính Hindu," Tôi bảo ông ta; "ông không thể
là nhà khoa học được."
Ông
ấy đã tới với tôi trong hai giờ - trong vòng hai mươi phút ông ấy đi. Ông ấy
nói, "Tôi đang vội, tôi phải đi đâu đó."
Tôi
nói, "Ông không vội đâu và ông chẳng đi đâu cả! Ông đã yêu cầu hai giờ và
tôi đã cho ông hai giờ - và ông không thể rời chỗ này trước khi hết hai giờ!
Ông sẽ phải trả lời tôi trước: Đây là loại cách tiếp cận khoa học nào vậy?"
Tất
nhiên ông ấy không thể trả lời được. Nó rõ ràng, hiển nhiên tới mức trong khoa
học bạn không bắt đầu bằng kết luận - bạn bắt đầu chỉ bằng giả thuyết: có thể
thế, có thể không thế... có lẽ. Bạn bắt đầu bằng "có lẽ"; cái
"có lẽ" giữ bạn cởi mở.
Phật
không thể ngụ ý đức tin được, Phật không thể ngụ ý tin tưởng được. Ông ấy ngụ ý
tin cậy - tin cậy rằng nếu bạn đi mà không có kết luận nào bạn sẽ thấy. Bởi vì
chân lí có đó rồi! Nó không phải là cái gì đó phải được tạo ra, nó đã có đó rồi!
Chân lí không ngụ ý cái gì đó trên trời; chân lí ngụ ý thực tại ở đây bây giờ.
Dù nó là bất kì cái gì, XYZ, bắt đầu bằng "có lẽ" đi, là người truy hỏi
đi.
Và
thế rồi Phật nói: cho dù người đó mặc quần áo đẹp... Không cần ở trần, không cần
từ bỏ, không cần nhịn ăn. Điều thực cần từ bỏ là kết luận của bạn, tin tưởng của
bạn, định kiến của bạn.
Ngựa
quí hiếm khi cảm thấy cái chạm của roi. Ai có đó trong thế giới này mà không
chê được?
Phật
là hoàng tử trước khi ông ấy trở nên chứng ngộ, và khi ông ấy là hoàng tử ông ấy
thực sự yêu ngựa. Ông ấy là người yêu ngựa. Vào thời đó, ngựa là sự hỗ trợ lớn
lao nhất trong chiến tranh. Và đã có những người yêu ngựa: trong tiếng Anh, tên
Philip đơn giản nghĩa là người yêu ngựa - Phật là một Philip.
Khi
ông ấy trở nên chứng ngộ ông ấy nhớ tới ngựa nhiều lần. Ông ấy nói về ngựa theo
nhiều cách. Ông ấy nói có bốn loại ngựa. Thứ nhất, loại tồi nhất: cho dù bạn
đánh chúng, bạn càng đánh, chúng càng trở nên bướng bỉnh hơn. Chúng không có
tính quí tộc, không duyên dáng, không chân giá trị. Bạn có thể xúc phạm chúng,
bạn có thể quất roi vào chúng, bạn có thể đánh chúng - chúng là loại có da rất
dầy. Nếu chúng không muốn đi, chúng sẽ không đi.
Thế
rồi loại thứ hai: nếu bạn đánh chúng chúng sẽ đi; chúng có chút ít chân giá trị,
cảm giác tự trọng. Thế rồi đến loại thứ ba, cao hơn chút ít: bạn không đánh
chúng - chỉ tiếng động của roi là đủ. Và loại cao nhất, loại thứ tư: thậm chí
tiếng động của roi cũng không cần - chỉ cái bóng của roi là đủ.
Phật
nói con người cũng có bốn loại. Loại cao nhất, người thông minh nhất, người tìm
kiếm chân lí thực, chỉ cần cái bóng của roi thôi; chỉ chút ít hướng dẫn từ thầy
là đủ. Họ không cần bị đánh, họ không cần bị ép buộc. Ngựa quí hiếm khi cảm thấy
cái chạm của roi. Không cần cho ngựa quí cảm thấy cái chạm của roi - chỉ cái
bóng roi thôi là đủ. Cho nên có bốn loại đệ tử nữa. Loại cao nhất đơn giản nhận
hướng dẫn. Thỉnh thoảng thậm chí không một lời được thốt ra; thầy chỉ nhìn vào
trong mắt bạn, và điều đó là đủ.
Đó
là điều đã xảy ra vài ngày trước đây... Một nhà trị liệu nổi tiếng tới từ Mĩ,
Naomi, đã nhận tính chất sannyas - một bà già. Tôi có thể nói bà ấy thuộc vào
loại thứ tư: chỉ cái bóng của roi là đủ - tôi mới nhìn vào mắt bà ấy - và điều
đó là đủ. Và bà ấy đã trở thành của tôi và tôi đã trở thành của bà ấy. Ngay lập
tức mối liên hệ đã xảy ra, mối nối. Bây giờ nó không thể bị phá vỡ.
Hôm
qua bà ấy đã viết một lá thư, bởi vì bà ấy ra đi hôm nay và bà ấy sợ. Trong vài
ngày bà ấy đã ở đây bà ấy đã biết chiều sâu mới của bản thể - bà ấy đã không ở
đây lâu, chỉ vài ngày. Bà ấy đã nhìn tôi chỉ một lần, chỉ trong hai phút thôi.
Bà ấy nói bà ấy đã biết những chiều sâu lớn lao, những kinh nghiệm tinh tế đã xảy
ra; chúng là rất tinh tế, và bà ấy có chút ít sợ hãi. "Đi về phương Tây sớm
thế, trong bãi chợ thô của phương Tây, tôi liệu có khả năng tiếp tục trưởng
thành không?" Bà ấy hỏi tôi, "Tôi sẽ ở gần thầy ở đó như tôi ở đây chứ?
Tôi sẽ là một phần của công xã của thầy cho dù tôi ở xa cả nghìn dặm chứ?"
Naomi,
tình yêu không biết tới khoảnh cách. Bạn có thể ở xa nghìn dặm - nếu trái tim bạn
tràn đầy tình yêu, nếu trái tim bạn nhớ tới tôi, bạn đang ở gần như bất kì ai
cũng đều có thể ở gần.
Công
xã của tôi sẽ lan toả trên khắp quả đất. Ở bất kì chỗ nào bạn thấy một
sannyasin, công xã của tôi tồn tại ở đó. Bất kì chỗ nào bạn tìm thấy một
sannyasin, tôi đều ở đó cùng người đó. Bất kì chỗ nào một sannyasin nhớ tới
tôi, tôi đều hiện diện cho người đó, còn sâu sắc hơn là tôi có thể hiện diện về
mặt vật lí - bởi vì tôi không còn trong thân thể mình nữa, chỉ bằng cách nào đó
còn treo quanh thân thể thôi. Tôi không còn thân thể nữa. Nếu bạn yêu tôi bạn sẽ
biết rằng tôi là cái gì đó hoàn toàn khác với thân thể; nó là hiện tượng phi vật
lí.
Và,
Naomi này, bạn có thể ở trong liên hệ bất kì chỗ nào bạn ở. Khoảnh khắc bạn nhắm
mắt lại bạn sẽ thấy tôi bên trong bạn. Thầy trở thành một phần của đệ tử. Dần dần,
dần dần thầy không còn ở bên ngoài nữa, thầy ngày càng ở bên trong nhiều hơn.
Và điều đó đã bắt đầu xảy ra - quá trình này được lẩy cò, và nó là quá trình
không thể nào dừng lại được; ngay cả thế giới vật chất thô của phương Tây cũng
không thể dừng nó lại được. Và bạn sẽ không ở đó lâu đâu; chẳng mấy chốc bạn sẽ
bị kéo tới đây. Bây giờ đây là nhà của bạn. Bất kì chỗ nào bạn ở bạn đều sẽ thấy
bản thân mình là người ngoài.
Ngựa
quí hiếm khi cảm thấy cái chạm của roi. Ai có trong thế giới này là người không
chê được? Phật hỏi. Ai có trong thế giới này là người không chê được? - người
đó có khả năng trở thành vị phật. Người đó có khả năng trước hết trở thành đệ tử,
thế rồi trở thành thầy.
Thì
giống như ngựa quí khéo léo dưới roi,
bùng
cháy và nhanh nhẹn.
Giống
như ngựa quí - khéo léo, nhận biết, quan sát.
Bùng
cháy và nhanh nhẹn. Nếu bạn nhận biết... Nhận biết là lửa; nó thiêu cháy mọi
cái sai trong bạn. Nó thiêu cháy bản ngã bạn. Nó thiêu cháy tham lam của bạn,
nó thiêu cháy tính sở hữu của bạn, nó thiêu cháy ghen tị của bạn - nó thiêu
cháy mọi cái sai và tiêu cực, và nó nâng cao mọi cái đẹp, duyên dáng, thiêng
liêng.
Và
khi cái thô và cái xấu bị thiêu cháy, sắc bén lớn lao xảy ra cho bản thể bạn,
nhanh nhẹn lớn lao tới cho cuộc sống của bạn, mãnh liệt và đam mê lớn lao, tính
toàn bộ và tính toàn thể vĩ đại. tin tưởng, thiền, thấy.
Để
tôi nhắc lại cho bạn: đừng đọc "tin tưởng," đọc "tin cậy":
Tin cậy, thiền, thấy.
Đây
là ba bước, đơn giản, rất đơn giản. Điều thứ nhất là tin cậy: có tin cậy yêu
thương với mọi cái đang đó, thế thì thiền trở thành dễ dàng bởi vì bạn có thể
thảnh thơi. Người tin cậy có thể thảnh thơi trong sự tồn tại. Người không thể
tin cậy được vẫn còn căng thẳng, vẫn còn lo âu, sợ hãi. Người tin cậy có thể
tan chảy, có thể biến mất, bay hơi. Người đó biết rằng, "Cho dù tôi có rơi
vào đại dương, tôi chỉ là giọt sương..." nhưng người đó cũng biết rằng,
"Như giọt sương tôi sẽ biến mất, nhưng tôi sẽ tồn tại như đại dương. Tôi sẽ
không mất cái gì cả; tôi sẽ được mọi thứ." Thiền là giọt sương biến mất
trong đại dương.
Và
thế thì có việc thấy. Đó là lí do tại sao Phật không có triết lí nào ngoài ái
kiến philosia - ông ấy không có hệ thống ý nghĩ nào ngoài cách thức, phương
pháp để thấy.
vô
hại, vô chê trách.
thức
tỉnh theo luật.
Vẫn
còn hài hoà với luật đó của sự tồn tại đi. Tuôn chảy cùng dòng sông; đừng cố đi
ngược dòng. Để buông bỏ là lời kinh nền tảng của bạn, và thế thì bạn sẽ là vô hại
và bạn sẽ vô chê trách.
Thức
tỉnh theo luật - aes dhammo sanantano - thức tỉnh với luật vĩnh hằng.
và
từ mọi buồn khổ tự giải phóng mình.
Buồn
khổ nảy sinh bất kì khi nào bạn đi ngược lại luật của sự tồn tại, và phúc lạc nảy
sinh bất kì khi nào bạn đi cùng nhịp với nó, nhảy múa cùng nó tay trong tay.
Nông
dân đào kênh dẫn nước cho đất. Người gài tên chuốt mũi tên.
Thợ
mộc chỉnh gỗ.
Và
người trí huệ làm chủ bản thân mình.
Đây
là cách thức để là trí huệ và là chủ của bản thân mình. Không có việc làm chủ của
bản thân mình, cuộc sống là trống rỗng, phù phiếm, vô nghĩa. Nó không thể có chất
thơ nào, nó không thể có vui vẻ nào, nó không thể có cực lạc nào. Và cực lạc,
vui vẻ, là quyền tập ấm của bạn - nhưng bạn có thể có nó chỉ khi bạn đạt tới sự
xứng đáng này, tới sự đáng trọng này.
Trở
nên nhận biết, tin cậy, bắt đầu thấy đi - vứt bỏ mọi tin tưởng và mọi hoài
nghi, và mục đích không còn xa xôi gì. Bạn không cần đi đâu cả. Nếu bạn có thể
tin cậy, thiền, thấy, nếu bạn có thể thức tỉnh tới luật vĩnh hằng, bạn là chủ -
không phải là chủ của bất kì ai khác ngoài chủ của bản thân mình. Và đó là việc
làm chủ đúng. Jesus gọi điều đó là Vương quốc của Thượng đế.
Nhưng
bạn sẽ phải được tái sinh, bạn sẽ phải học cách sống mới - cách mới, để tôi nhắc
bạn, không phải triết lí mới. Và Phật đang cho bạn hướng dẫn. Những hướng dẫn
này có thể được dùng nếu bạn nghe một cách chăm chú, thông minh, có tính thiền.
Đủ
cho hôm nay.
Xem Chương 10 – Quay về Mục Lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment