Osho
– Từ Dục tới Siêu tâm thức
Chương
4. Dục là bí ẩn sâu sắc nhất trong thế giới này
Đây
là một câu chuyện. Trong một trường làng nhỏ, thầy giáo đang dạy về câu chuyện
về Rama. Gần như tất cả tụi trẻ đều ngủ gà ngủ gật. Việc này chẳng phải là bất
thường khi nghe kể lại về Ramayana; thậm chí người lớn cũng ngủ chợp đi vào
những lúc như thế. Câu chuyện này đã được kể đi kể lại biết bao nhiêu lần nên
nó mất ý nghĩa; tính mới lạ mất rồi.
Thầy
giáo kể một cách máy móc, thậm chí cũng chẳng thèm liếc nhìn vào cuốn sách để
mở trước mình, và thậm chí người ngoài còn có thể thấy rằng ông ấy cũng ngủ lơ
mơ nốt. Ông ấy đã thuộc lòng câu chuyện và đang thuật lại các tình tiết như một
con vẹt. Ông ấy chẳng nhận biết điều mình đang nói. Người thuộc điều gì đó
không bao giờ biết ý nghĩa của điều mình đang nói.
Bỗng
nhiên có xúc động mạnh trong lớp: viên thanh tra bước vào. Học sinh trở nên
chăm chú, còn thầy giáo cũng trở nên tỉnh ra. Thầy giáo tiếp tục bài giảng.
Viên
thanh tra nói, “Tôi lấy làm sung sướng được thấy thầy đang dạy về Ramayana. Tôi
sẽ hỏi tụi trẻ đôi điều về Rama.” Cứ cho là tụi trẻ dễ dàng nhớ được câu chuyện
về mọi sự tan vỡ hay về chiến trận, ông ta hỏi một câu hỏi đơn giản: “Nói cho
tôi, ai đã bẻ gẫy cung của Shankara?”
Một
cậu bé giơ tay, đứng dậy và nói: “Em xin lỗi, thưa thầy. Em đã không bẻ gẫy nó.
Em nghỉ học nửa tháng nay. Và em không biết ai đã bẻ gẫy nó cả. Em muốn làm
sáng tỏ điều này ngay bây giờ, bởi vì bất kì khi nào bất kì cái gì xảy ra trong
trường thì em cũng là người đầu tiên bị khiển trách về điều đó.”
Điều
này giáng cho viên thanh tra như một cú sét trên trời xanh. Ông ta quay sang
phía thầy giáo, người vừa định giơ roi lên, và nghe thấy thầy giáo nói, “Thằng
ranh con này chắc chắn là thủ phạm. Nó là đứa tồi tệ nhất trong tất cả lũ trẻ.”
Ông ta gầm lên với cậu bé, “Nếu em không làm điều đó thế thì tại sao em lại
đứng lên và nói rằng em không làm điều đó?” Ông ta nói với viên thanh tra, “Ông
đừng có bị lừa bởi lời nói dịu ngọt của thằng bé này.”
Viên
thanh tra nghĩ tốt hơn cả là đừng nói gì, cho nên ông ta đơn giản quay đi và
rời khỏi lớp. Nhưng ông ta cũng điên tiết, và đi thẳng tới văn phòng hiệu
trưởng để thuật lại đầy đủ sự vụ. Ông ấy hỏi để biết ông hiệu trưởng định làm
gì về vụ này.
Ông
hiệu trưởng cố thuyết phục ông thanh tra đừng theo đuổi vấn đề này thêm nữa.
Ông ta giải thích rằng tạm thời trong những ngày đó không nên nói bất kì điều
gì với học sinh. “Ai làm gẫy nó thì có vấn đề gì,” ông ấy nói, “cứ để cho vấn
đề chìm đi. Trường mới yên được hai tháng qua. Trước đó, học sinh đã đập phá và
đốt cháy nhiều đồ đạc. Tốt hơn cả là hãy nín thing đi. Nói bất kì cái gì với
chúng trong những ngày này sẽ chỉ vời thêm rắc rối nghiêm trọng. Có thể có bãi
khoá, dharna, nhịn ăn đến chết vào bất kì lúc nào!”
Viên
thanh tra lặng người vì sửng sốt; ông ta hoàn toàn sững sờ. Ông ta tới ông chủ tịch
hội đồng các nhà trường và kể cho ông này về tất cả những điều đã xảy ra - rằng
Ramayana đã được dạy trong lớp, rằng một đứa nhỏ đã nói nó không làm gẫy cung
của Shankara, rằng thầy giáo đã nói rằng đứa trẻ này phải là thủ phạm, rằng ông
hiệu trưởng đã cầu xin bỏ qua vấn đề này dù ai chịu trách nhiệm, nói rằng sẽ
không khôn ngoan mà theo đuổi điều này, rằng thường xuyên có mối lo sợ về bãi
khoá, vân vân và vân vân. Viên thanh tra hỏi quan điểm của ông chủ tịch.
Ông
chủ tịch nói ông ấy cảm thấy ông hiệu trưởng cũng khôn ngoan trong đường lối xử
lí. “Hơn nữa,” ông ấy thêm, “đừng bận tâm về thủ phạm. Ai làm gẫy cung thì có
là vấn đề gì, hội đồng sẽ cho sửa chữa lại nó. Sửa lại nó còn hơn là đào bới
vào nguyên nhân.”
Viên
thanh tra, người đã hoàn toàn phẫn nộ bởi tình huống này, kể lại kinh nghiệm đó
cho tôi. Tôi bảo anh ta về cơ bản chẳng có gì mới trong câu chuyện của anh ta
cả. Đấy là nhược điểm thông thường của con người cứ khoác lác về những điều
chúng ta chẳng biết gì hết cả.
Không
ai nhớ được phần trong Ramayana về việc làm gẫy cung của Shankara. Chẳng tốt
hơn đối với họ là hỏi, “Shankara nào” sao? Nhưng không ai được chuẩn bị để thừa
nhận dốt nát của riêng mình. Không người nào có được dũng cảm đó. Đây đã là cạm
bẫy lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Nhược điểm này đã chứng tỏ là mang tính
tự tử. Chúng ta hành động cứ dường như là chúng ta đã biết hết mọi thứ và kết
quả là làm lẫn lộn các kiếp sống của mình. Tất cả các câu trả lời của chúng ta
cho tất cả các vấn đề của chúng ta đều giống như câu trả lời do cậu bé, do thầy
giáo, do ông hiệu trưởng và ông chủ tịch đưa ra. Cố gắng trả lời mà không hiểu
câu hỏi làm cho con người thành ngu xuẩn. Đây là việc hoàn toàn tự lừa dối
mình.
Bên
cạnh điều này, hãy có thái độ dửng dưng. Người dửng dưng sẽ hỏi, ‘Bây giờ, thực
sự, việc gì phải làm ồn ào lên nếu chúng ta không biết ai làm gẫy cây cung của
Shankara?”
Tương
phản với vấn đề của câu chuyện đần độn này, còn có điều bí ẩn sâu lắng hơn
trong cuộc sống, và giải pháp đúng của chúng lại tuỳ thuộc vào liệu cuộc sống
có thể tử tế hay không, liệu cuộc sống có thể hài hoà hay không, liệu xu hướng
hiện tại của chúng ta có là hướng đúng cho tiến bộ hay không, và vân vân. Chúng
ta nghĩ là chúng ta biết các câu trả lời, nhưng hậu quả chứng tỏ cảm nhận của
chúng ta về cuộc sống thực sự không thích hợp làm sao. Cuộc sống của mỗi một
trong chúng ta chứng tỏ rằng chúng ta không biết gì về cuộc sống hết cả. Nếu
không thì làm sao lại có biết bao nhiêu thất vọng, bao nhiêu khổ, bao nhiêu lo
âu thế?
Tôi
nói cùng điều này khi có liên quan cả tới tri thức chúng ta về dục. Chúng ta
không biết gì về nó cả. Có lẽ bạn sẽ không đồng ý. Bạn sẽ biện minh, “Hoàn toàn
có thể là chúng tôi không biết gì về linh hồn hay Thượng đế, nhưng làm sao thầy
có thể nói chúng tôi không biết gì về dục cả?” Bạn có lẽ sẽ đáp lại rằng bạn có
vợ và rằng bạn đã có con. Và vậy mà tôi lại dám bảo với bạn rằng bạn không biết
gì về dục, mặc dầu có thể rất khó cho bạn để đồng ý với điều tôi nói. Bạn có
thể đã trải qua kinh nghiệm dục, nhưng bạn không biết về dục nhiều hơn con vật.
Việc trải qua một quá trình một cách máy móc thì không đủ để biết nó.
Một
người đã lái chiếc xe ô tô hàng nghìn cây số, nhưng điều đó không nhất thiết
ngụ ý rằng người đó biết điều gì về động cơ. Người đó có thể chế giễu phát biểu
của tôi, nói rằng người đó đã lái xe hàng nghìn cây số, nhưng tôi vẫn đánh bạo
đưa ra lời kết tội rằng người đó chẳng biết gì về ô tô cả. Tôi nhắc lại, lái xe
là khác với việc biết máy móc bên trong.
Người
ta nhấn phím và đèn sáng. Người đó lại nhấn nó và đèn tắt. Người đó đã làm điều
ấy vô số lần. Người đó có thể nói rằng người đó biết tất cả về điện bởi vì
người đó có thể bật đèn lên hay tắt đi theo ý muốn, và chúng ta sẽ nói rằng
người đó là kẻ ngu, rằng thậm chí đến trẻ con cũng có thể bật tắt công tắc,
rằng không cần có tri thức nào về điện ở đây cả.
Ai
cũng có thể xây dựng gia đình. Ai cũng có thể tạo ra con cái. Điều đó chẳng
liên can gì với việc hiểu về dục cả. Con vật cũng sinh sản, nhưng điều đó không
có nghĩa là chúng biết điều gì về dục.
Chân
lí của vấn đề là ở chỗ dục vẫn còn chưa được nghiên cứu một cách khoa học.
Không triết lí hay khoa học nào về dục đã được phát triển bởi vì mọi người đều
tin là mình đã biết về dục. Không ai đã từng thấy nhu cầu về kinh sách về dục.
Đây chính là sai lầm nghiêm trọng của loài người.
Cái
ngày chúng ta phát triển hoàn toàn kinh sách, khoa học, hệ thống đầy đủ các tư
tưởng về dục, chúng ta sẽ tạo ra một giống người mới. Thế thì, sẽ không có việc
tạo ra những con người què quặt, yếu đuối, tẻ nhạt, xấu xí như vậy. Người ốm
đau, yếu đuối, đờ đẫn sẽ không còn thấy có trên trái đất này nữa.
Không
cần chút nào để tiếp tục tạo ra loại thế hệ hiện tại, một thế hệ sinh ra từ tội
lỗi và mặc cảm. Nhưng chúng ta không nhận biết về điều này. Chúng ta đang trong
thói quen bật tắt đèn, và đã kết luận là chúng ta biết mọi điều về điện.
Thậm
chí đến cuối đời mình, con người vẫn không đi tới biết được dục là gì. Người đó
chỉ biết “bật” và “tắt” - không gì hơn.
Chúng
ta chưa bao giờ đi sâu vào trong chủ đề dục, chưa bao giờ suy ngẫm về việc thực
hành dục, chưa bao giờ cố gắng đi tới đáy của nó, chưa bao giờ thiền về nó -
bởi vì ảo tưởng rằng chúng ta biết mọi điều có đó là biết về nó. Khi mọi người
đã biết mọi điều, cần gì phải xem xét chủ đề này nữa? Và theo cùng một nhịp,
tôi muốn nói cho bạn rằng không có bí ẩn nào sâu sắc hơn, không có bí mật nào
sâu sắc hơn, không có chủ đề nào sâu sắc hơn dục - trong thế giới này và trong
bản thân cuộc sống.
Chúng
ta chỉ biết về nguyên tử mới gần đây thôi, và thế giới đã trải qua sự thay đổi
cực kì phi thường. Nhưng khi chúng ta thành công trong việc biết về nguyên tử
của dục một cách đầy đủ, nhân loại sẽ đi vào kỉ nguyên trí huệ mới. Không thể
nào tiên đoán được tầm cỡ, mức độ lớn lao của các chiều cao chúng ta có thể đạt
tới khi chúng ta thăm dò quá trình và kĩ thuật của việc tạo ra cuộc sống. Nhưng
một điều có thể được phát biểu là chắc chắn: dục là bí ẩn nhất, sâu sắc nhất,
quí giá nhất và, đồng thời, là chủ đề hẩm hiu nhất; và chúng ta hoàn toàn trong
bóng tối về nó. Chúng ta chưa bao giờ để ý tới hiện tượng quan trọng này. Con
người trải qua quá trình giao hợp trong suốt cả đời mình, nhưng người ta chẳng
biết nó là gì cả.
Khi,
vào ngày đầu tiên, tôi nói về cái hư không, về vô ngã, về vô trí, nhiều bạn bè
đã không được thuyết phục. Sau đó, một người bạn đã nói với tôi, “Tôi chưa bao
giờ nghĩ về điều đó trước đây, nhưng điều ông nói đã xảy ra.” Một bà nào đó tới
tôi và bảo tôi, “Tôi chưa bao giờ kinh nghiệm điều này chút nào. Khi ông nói về
nó, tôi nhớ lại rằng tâm trí tôi trở nên tĩnh lặng và hài lòng, nhưng tôi chưa
bao giờ cảm thấy vô ngã hay bất kì kinh nghiệm sâu sắc hơn nào.” Có thể là
nhiều người cũng chưa từng nghĩ về điều này trước đây, cho nên chúng ta hãy xem
xét theo quan điểm mới.
Ngay
chỗ đầu tiên, con người không được sinh ra với tri thức có sẵn về khoa học dục.
Hiếm người, người còn giữ lại những ấn tượng của nhiều kiếp sống quá khứ, có
khả năng hiểu đầy đủ nghệ thuật về dục, về đường hướng dục hay tri thức về tính
phức tạp của dục. Đây là những linh hồn có thể đạt tới trạng thái vô dục thực sự.
Với người đã biết đầy đủ về thực tại dục, về quan hệ mật thiết đầy đủ của dục,
dục trở thành vô dụng. Người đó đơn giản đi qua nó; người đó siêu việt lên trên
nó. Nhưng trong truyền thống chúng ta không thảo luận về dục với những người đã
đạt tới siêu việt. Bên cạnh đó, những người đã đạt tới thuần khiết của vô dục
thì có thể nói về các lần sinh thành trước đây và các kiếp sống trước của họ
chỉ sau nỗ lực khổng lồ.
Chỉ
người vô dục hoàn hảo mới có thể tiết lộ ra chân lí hoàn hảo về dục và điều
thiêng liêng. Người theo thuyết duy cảm không hiểu gì về những cái tinh tế và,
bởi vì dốt nát của họ, các kiếp sống của họ bị nhận chìm trong dâm dục cho đến
cuối cùng. Con vật có lịch biểu cho việc giao cấu như tôi đã bảo bạn trước đây;
chúng có mùa vụ. Con vật đợi cho tới đúng tâm trạng, đúng tâm tính, nhưng con
người không có thời gian xác định cho nó. Tại sao có điều này? Đấy là vì con
vật tồn tại ở tầng dục sâu hơn con người.
Nhưng
người đã nghiên cứu về dục, người đã đi sâu vào nó, người đã thiền về những
kinh nghiệm nhiều kiếp, đều nêu ra rằng nếu giao hợp chỉ kéo dài một phút thì
con người sẽ ham muốn nó lần nữa vào ngày hôm sau, nhưng nếu nó có thể được kéo
dài trong ba phút thì người đó sẽ không nghĩ về dục trong một tuần tiếp sau.
Hơn nữa, họ đã quan sát rằng nếu giao hợp có thể được kéo dài trong bẩy phút
thì người đó sẽ tự do khỏi dục đến mức không ý nghĩ đam mê dục nào nảy sinh
trong người đó trong ba tháng. Và nếu thời kì giao hợp có thể kéo dài ba giờ
thì người đó sẽ tự do với dục mãi mãi; người đó sẽ không bao giờ ham muốn nó
lần nữa!
Nhưng
kinh nghiệm của con người nói chung chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc; thậm chí
khó mà tưởng tượng được thời kì ba giờ. Tuy nhiên, tôi lặp lại: nếu một người
có thể vẫn còn trong tư thế giao hợp, có thể vẫn còn trong samadhi đó, trong
chìm ngập ba giờ, thế thì chỉ hành động giao hợp đó cũng đủ để giải phóng người
đó khỏi dục cho phần còn lại trong cuộc đời mình. Nó để lại sau một kinh nghiệm
mãn nguyện, một kinh nghiệm phúc lạc đến mức nó kéo dài cả đời. Sau việc giao hợp
hoàn hảo đó không còn rào chắn để đạt tới vô dục thực sự.
Thậm
chí sau cả đời kinh nghiệm dục chúng ta cũng chẳng bao giờ đạt tới bất kì đâu
gần cái giai đoạn tối cao đó, gần điều thiêng liêng đó. Tại sao? Người ta đạt
tới tuổi già chín muồi, đi tới cuối cuộc sống của mình, nhưng người đó chưa bao
giờ được tự do khỏi thèm khát dục, khỏi đam mê giao hợp. Tại sao? Bởi vì người
đó chưa bao giờ hiểu mà cũng không được bảo cho về nghệ thuật dục, về khoa học
dục. Người đó chưa bao giờ xem xét nó; người đó chưa bao giờ thảo luận về nó
với người đã chứng ngộ.
Bạn
có thể ngần ngại rằng một kinh nghiệm mà thường chỉ kéo dài một khoảnh khắc lại
có thể được kéo dài trong ba giờ, cho nên tôi sẽ nêu ra cho bạn một số điểm chỉ
dẫn. Nếu bạn chú ý tới chúng, cuộc hành trình tới vô dục sẽ trở nên đơn giản
hơn.
Việc
thở của người ta càng nhanh, thời gian giao hợp càng ngắn; hơi thở người ta
càng bình thản và chậm chạp việc đó càng kéo dài hơn. Và giao hợp càng kéo dài
lâu, càng nhiều khả năng từ dục tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu
tâm thức. Như tôi đã nói trước đây, việc hiểu về vô ngã, về vô thời gian, bắt
đầu hé mở ra cho con người trong samadhi-dục đó. Việc thở phải rất chậm. Việc
làm chậm hơi thở sẽ mở ra viễn cảnh ngày càng sâu sắc hơn của nhận thức rõ.
Một
điều khác cần phải nhớ trong hành động giao hợp là ở chỗ nhận biết của bạn nên
được tập trung vào giữa hai con mắt, ở chỗ của agnichakra. Nếu sự chú ý được
tập trung vào đó, thời hạn cực đỉnh có thể được kéo dài - thậm chí tới ba giờ.
Và hành động giao hợp như vậy có thể bắt rễ chắc chắn một người vào mảnh đất
của vô dục - không chỉ cho kiếp sống này mà cho kiếp sống tiếp nữa. Một bà có
viết cho tôi, nói rằng Vinoba là vô dục, và hỏi do đó liệu tôi có đồng ý rằng
ông ấy có thể chẳng bao giờ đã kinh nghiệm về samadhi không. Bà ấy tiếp tục nói
rằng vì tôi cũng vô dục và không gia đình, rằng tôi có thể không có kinh nghiệm
về samadhi. Nếu bà ấy có mặt ở đây tôi muốn bảo với bà ấy rằng cả Vinoba lẫn
tôi lẫn bất kì ai khác cho vấn đề đó, đều có thể nhận biết cái giai đoạn đó và
ý nghĩa của vô dục mà không cần kinh nghiệm thực về dục. Tôi cũng muốn bảo với
bà ấy rằng kinh nghiệm này có thể ở kiếp sống này, hay nó có thể ở kiếp sống
quá khứ. Người đã đạt tới vô dục trong kiếp sống này thì có nó cho hợp nhất giao
hợp sâu sắc trong kiếp trước và không cho cái gì khác cả. Đây chỉ là việc giải
thích. Nếu một người đã có kinh nghiệm sâu sắc về dục trong kiếp trước, người
đó sẽ được sinh ra tự do với dục trong kiếp này; dục sẽ không quấy rối người
đó, thậm chí trong tưởng tượng của người đó. Ngược lại, người đó sẽ ngạc nhiên
làm sao mà mọi người khác lại hành xử về dục; người đó sẽ ngạc nhiên rằng mọi
người lại điên khùng về dục thế. Người như vậy thậm chí sẽ phải cố gắng để phân
biệt giữa đàn ông và đàn bà.
Nếu
một người tưởng tượng mình đơn giản là vô dục từ thời niên thiếu, rằng mình có
thể là người vô dục mà không có kinh nghiệm gì về dục, người đó sẽ trở thành
thần kinh. Những người bao giờ cũng nói lải nhải về vô dục, người hò hét về
việc tôn trọng vô dục, đang gây ra tan rã của con người. Chẳng có gì nhiều hơn
tan rã có thể tới từ điều này. Vô dục không thể nào bị áp đặt; vô dục tiến hoá
như tinh hoa của kinh nghiệm bên trong. Brahmacharya, vô dục, là kết quả của
kinh nghiệm thanh thản và sâu lắng - và kinh nghiệm đó là về dục. Nếu trong dục
người ta đã có sự khải lộ tuyệt đối, cho dù chỉ một lần, người ấy được thoát ra
khỏi dục cho cuộc hành trình các kiếp sống không có tận cùng.
Cho
tới nay, tôi đã thảo luận về hai nhân tố để đạt tới kinh nghiệm tuyệt đối đó:
việc thở của người ta phải nhẹ, nhẹ đến mức gần như không có đó chút nào, và
nhận biết của người ta nên được tập trung vào agnichakra, vào điểm giữa hai
mắt. Nhận biết của người ta càng tập trung nhiều vào trung tâm này, việc giao
hợp càng sâu sẽ tự động có đó. Và thời gian của giao hợp sẽ tỉ lệ trực tiếp với
việc chậm của hơi thở. Và thế thì, lần đầu tiên, bạn sẽ hiểu rằng sự hấp dẫn
không phải là vào việc giao hợp; lực từ hút là lực của samadhi. Nếu bạn có thể
leo lên những đỉnh cao đó, nếu bạn có thể thoáng nhìn vào cái rực rỡ đó, nó sẽ
chói sáng con đường tương lai của bạn.
Trong
một thời gian dài con người đã nằm trong căn phòng bẩn thỉu, dơ dáy, đầy những
mùi khó ngửi. Tường bị nứt nẻ và bôi bẩn. Thế rồi, người đó đứng dậy và mở cửa
sổ ra. Bây giờ người đó có thể thấy mặt trời sáng lạn trên trời; bây giờ người
đó có thể thấy chim chóc bay tự do trên trời. Bây giờ, người đó, người đột
nhiên nhận ra bầu trời bao la, về mặt trời và mặt trăng, về chim bay, về cây
cối rung rinh và hoa thơm, sẽ không còn ở trong căn phòng bẩn thỉu, hôi hám,
tối tăm thêm một khoảnh khắc nào nữa - người đó sẽ chạy xô ra dưới trời rộng
mở.
Người
đã có thoáng nhìn về samadhi trong dục, dù thoáng qua nhanh đến đâu, đều sẽ tức
khắc biết tới sự khác biệt giữa bên trong và bên ngoài, giữa tự do và cầm tù.
Nhưng, theo cách nào đó, tất cả chúng ta đều được sinh ra trong xà lim chật
khít, bao quanh bởi tường, và chúng đen tối và bẩn thỉu. Điều bản chất là nhận
ra thế giới bên ngoài đang tồn tại; tri thức này chung cuộc gây cảm hứng cho
chúng ta bay ra. Nhưng người không mở ra cánh cửa sổ và chỉ ngồi trong một góc
nói mình không muốn biết về ngôi nhà bẩn thì không thể thay đổi tình trạng của
mình được thêm một chút nào. Người đó sẽ vẫn còn trong ngôi nhà bẩn thỉu mãi
mãi.
Người
vô dục theo kiểu tự mình thì bị cầm tù rất nhiều trong xà lin của dục chứ không
phải ai khác. Khác biệt duy nhất giữa người đó và bạn là ở chỗ người đó có thái
độ đóng kín trong khi mắt bạn thì lại mở. Điều bạn làm về mặt vật lí, người ấy
làm về mặt tinh thần. Hơn nữa, hành động vật lí là tự nhiên, nhưng tưởng tượng
gián tiếp về nó lại là đồi bại. Cho nên tôi thuyết phục bạn đừng chống lại dục
mà thử, một cách thông cảm, để hiểu nó. Cho dục trạng thái thiêng liêng trong
cuộc sống của bạn. Chúng ta đã thảo luận về hai hướng dẫn. Điều quan trọng thứ
ba cần phải nhớ là thái độ với cách tiếp cận của bạn. Vào lúc giao hợp chúng ta
ở gần với Thượng đế. Thượng đế tồn tại trong chính hành động sáng tạo cho sinh
thành nên cuộc sống mới, và do vậy thái độ của người ta nên giống như thái độ
của người đi vào chùa chiền, đền đài hay nhà thờ. Vào lúc cực thích chúng ta ở
gần nhất với điều Tối cao. Chúng ta trở thành công cụ: một cuộc sống mới đang
được chuyển vận vào sự tồn tại; chúng ta tạo ra đứa trẻ. Thế nào? Trong giao
hợp chúng ta ở gần nhất với bản thân Đấng sáng tạo, và cái bóng của ngài biến
chúng ta thành người sáng tạo nữa. Nếu chúng ta tiếp cận tới dục với tâm trí
thuần khiết và với cảm giác kính trọng, chúng ta có thể dễ dàng có thoáng nhìn
về ngài.
Nhưng
hỡi ôi, chúng ta tiếp cận tới dục một cách dửng dưng. Chúng ta tiếp cận tới dục
với thái độ kết án, với cảm giác mặc cảm, và chúng ta không cảm thấy sự tồn tại
của Đấng sáng tạo. Người ta không bao giờ nên tiếp cận tới dục trong khi người
ta đang phiền não, trong thù hận, trong ghen tị, trong căm phẫn; người ta không
bao giờ nên tiếp cận tới dục mà tràn đầy với lo nghĩ hay trong bầu không khí
bẩn thỉu. Nhưng việc thực hành nói chung lại là ngược lại. Người ta càng cảm
thấy tràn đầy giận dữ, chán nản, trong đau khổ hay thất vọng, người ta càng đi
vào trong dục. Người vui vẻ không săn đuổi dục, nhưng người buồn bã lại đi vào
dục bởi vì người đó thấy nó như lối thoát hoàn hảo khỏi cái bất hạnh của mình.
Nhưng nhớ, nếu bạn tiếp cận dục với đắng cay, với hằn học, với kết án hay trong
buồn bã, bạn sẽ chẳng bao giờ đạt tới mãn nguyện đó, tới nhận biết mà toàn bộ
linh hồn bạn khao khát.
Tôi
thúc giục tiếp cận tới dục chỉ khi bạn vui vẻ, chỉ khi bạn tràn đầy tình yêu
và, điều cuối cùng nhưng không phải là ít nhất, chỉ khi bạn đang trong trạng
thái cầu nguyện. Chỉ khi bạn cảm thấy rằng trái tim bạn tràn đầy niềm vui, an
bình và biết ơn, hãy nghĩ tới giao hợp. Người tiếp cận tới giao hợp giống như
vậy thì có thể đạt tới thăng hoa, và nhận biết tối thượng, thậm chí chỉ một
lần, cũng đủ để giải phóng người ta khỏi dục mãi mãi. Với chỉ một kinh nghiệm,
bạn có thể phá vỡ rào chắn và đi vào phần ngoại vi của samadhi.
Đứa
trẻ chui ra từ bụng mẹ là nỗi buồn lớn; nó giống như cây bị bật gốc khỏi đất.
Toàn bộ bản thể nó mong mỏi được nối lại với đất; sự gắn bó của nó với đất có
nghĩa là cuộc sống của nó; sức sống của nó, cái nuôi dưỡng nó. Nó đã bị bật gốc
rễ, và nó kêu la phản đối để trở lại, vì bây giờ nó đã bị chia rẽ khỏi đường
sống. Đứa trẻ bị cắt khỏi thế giới của nó khi nó ra khỏi bụng mẹ, và bây giờ
linh hồn nó, toàn bộ bản thể nó muốn hợp nhất lại với người mẹ, với cội nguồn.
Niềm khao khát này là cơn khát về tình yêu. Chúng ta còn ngụ ý gì khác nữa về
tình yêu?
Mọi
người đều muốn say mê trong việc cho và nhận tình yêu; mọi người đều muốn hợp nhất
lại với dòng suối cuộc sống - và hợp nhất đó tới trong việc hoàn thành hành
động dục, trong giao hợp, trong việc nối liền đàn ông và đàn bà. Dục là việc
kinh nghiệm lại sự hợp nhất nguyên thuỷ.
Việc
sắp đôi đàn ông và đàn bà có ý nghĩa rất sâu sắc: bản ngã bay hơi trong sự đồng
hoá này của hai con người. Người thực sự hiểu bản chất của sự hợp nhất này, của
niềm khao khát về tình yêu và cái một này, cũng có thể hiểu ý nghĩa của loại
hợp nhất khác - nhà yoga hợp nhất; thầy tu hợp nhất; vị thánh hợp nhất; thiền
nhân hợp nhất. Người ta cũng được hợp nhất trong giao hợp: căn cước người đó
gộp với căn cước của người kia, và họ trở thành một. Trong samadhi, người ta
hợp nhất với toàn bộ vũ trụ và trở thành một với nó. Trong dục có sự gộp lại
của hai người, trong khi trong samadhi, người ta mất đi căn cước của mình và
trở thành một với vũ trụ. Cuộc gặp gỡ giữa hai người là tạm thời, nhưng hợp
nhất của người ta với vũ trụ lại là vĩnh hằng.
Bất
kì hai người nào cũng là những sinh linh hữu hạn, và do đó hợp nhất của họ
không thể vô hạn được, không thể kéo dài mãi được. Và có cọ xát; có giới hạn
của hôn nhân, và của tình yêu vật lí: chúng ta không thể hợp nhất mãi mãi.
Chúng ta tới với nhau trong một khoảnh khắc cực lạc, nhưng lần nữa chúng ta
phải tách ra. Phân tách này là đau đớn và do vậy người yêu liên tục trong trạng
thái thất vọng. Người kia dường như là nguyên nhân cho cảm giác buồn nản này,
cho cảm giác đơn độc này, và hằn học bùng phát trong mối quan hệ.
Người
có hiểu biết sẽ nói rằng hai người mang hai căn cước khác nhau căn bản và rằng
họ có thể gặp gỡ tạm thời nhưng không thể vẫn còn hợp nhất mãi mãi, thậm chí về
mặt tâm linh; rằng chính từ đam mê không thể dập tắt nổi này mà xung đột nẩy
sinh giữa những người yêu và rằng người ta bắt đầu coi khinh người kia; rằng
căng thẳng, xung đột, cảm giác ghét bỏ và thậm chí cảm giác hận thù len vào, và
rằng đấy là vì người ta hình dung người kia có lẽ là không sẵn sàng và do vậy
hội nhập không hoàn chỉnh. Nhưng không cá nhân nào có thể bị trách cứ bởi không
hoàn chỉnh này. Con người là sinh linh hữu hạn và hội nhập của họ cũng chỉ có
thể là hữu hạn được thôi. Hội nhập của họ không thể mãi mãi được.
Hợp
nhất vĩnh hằng chỉ có thể có với Thượng đế, với Brahma, với sự Tồn tại. Những
người đã hiểu ra cái tinh tế của giao hợp thì có thể tưởng tượng ra, nếu hợp
nhất của một khoảnh khắc với một cá nhân có thể ban cho niềm phúc lạc thế, thì
kết quả của việc gặp gỡ với cái Vĩnh hằng sẽ phải đến thế nào. Nhưng người
trung bình thậm chí không thể nào hình dung ra được cái đỉnh cực lạc đó. Nó là
kì diệu, thanh tao, vượt ra ngoài lời nói. Nó là phúc lạc vĩnh hằng.
Giả
sử bạn đang ngồi trước cây nến, cố gắng tưởng tượng khác biệt giữa ánh sáng của
cây nến và ánh sáng của mặt trời. Nỗ lực so sánh ấy là vô vọng. Cây nến chỉ là
vật tí hon thế còn mặt trời lại mênh mông thế, vào quãng sáu mươi nghìn lần lớn
hơn quả đất chúng ta. Mặc dầu nó ở cách xa chúng ta chín mươi ba triệu dặm nó
vẫn cấp nhiệt cho chúng ta, làm cháy sém chúng ta, cho nên làm sao chúng ta có
thể ước lượng được khác biệt giữa ánh sáng của cây nến và ánh sáng của mặt
trời?
Nhưng
dù con số thiên văn có thể là bất kì cái gì, về mặt toán học vẫn có thể tính
toán ra khác biệt bởi vì cả hai đều bên trong phạm vi nhận thúc con người; khác
biệt có thể được xác định. Nhưng không thể nào xác nhận khác biệt giữa cực lạc
của cực thích và phúc lạc vĩnh hằng của samadhi. Gặp gỡ dục của hai sinh linh
tạm thời là điên cuồng; trong hợp nhất với Vũ trụ người ta làm mất bản thân
mình giống như giọt nước trong dại dương. Không có cách nào để so sánh chúng,
không có đơn vị nào để đo độ lớn của hợp nhất này.
Người
ta có còn khao khát dục sau khi chạm tới niềm phúc lạc này không? Người ta thậm
chí có còn nghĩ về cực thích thoáng qua này không sau khi người ta đã đạt tới
đại dương vĩnh hằng? Một thoáng nhìn về cái vĩnh hằng cũng đủ thuyết phục người
ta rằng cực thích là vô nghĩa, rằng trái ngược lại nó là điên khùng. Thế thì,
những đam mê hiện tại của người ta chẳng mấy chốc trở thành khó chịu; thế thì,
chúng dường như là làm kiệt quệ, lãng phí năng lượng, nguồn gốc của phiền não.
Sau bình minh chắc chắn này lên với con người, người đó trên con đường tới mục
đích mong muốn, tới bản thân vô dục.
Con
đường từ dục tới samadhi là con đường dài. Samadhi là mục tiêu tối thượng; dục
chỉ là bước đầu tiên. Và tôi muốn chỉ ra rằng những người từ chối thừa nhận
bước đầu tiên, người chỉ trích bước đầu tiên, thì thậm chí không thể nào đạt
tới bước thứ hai được. Họ không thể nào tiến bộ được chút gì. Điều bắt buộc là
phải tiến bước thứ nhất có ý thức, hiểu biết và nhận biết. Nhưng cảnh giác: dục
không phải là mục đích tự nó; dục là cái bắt đầu. Để tiến bộ, nhiều và nhiều
bước nữa là cần thiết.
Nhưng
nhược điểm lớn nhất của nhân loại đã là không thích ngay cả việc tiến bước đầu
tiên. Và lại muốn đạt tới bước cuối cùng! Người coi thường bậc thang thứ nhất
vậy mà vẫn tham vọng nắm lấy bậc thang cao nhất của chiếc thang; người đó không
có kinh nghiệm về ánh sáng của cây nến và vậy mà người ấy lại muốn đòi cái rực
rỡ của mặt trời! Điều này là không thể được. Chúng ta phải học để hiểu ánh sáng
mờ nhạt của cây nến, sáng lên trong một chốc và ngay lập tức bị tắt ngấm bởi
một làn gió nhẹ, để hiểu thấu ý nghĩa của mặt trời. Để khuấy động lòng khao
khát, cái ham muốn, cái bất ổn về bước cuối cùng, sự thôi thúc đạt tới mặt trời,
thì bước đầu tiên phải được khởi đầu cho đúng.
Việc
thưởng thức đúng về nhạc nhẹ có thể lát đường cho âm nhạc vĩnh hằng; kinh
nghiệm về cây nến mờ nhạt có thể đưa chúng ta tới ánh sáng vô hạn; việc biết về
một giọt nước là bản dạo đầu để biết đại dương.
Tri
thức về nguyên tử có thể làm lộ ra bí ẩn của tất cả các lực vật chất, của các
lực về chất liệu, và vậy mà tự nhiên đã ban cho chúng ta một nguyên tử nhỏ về
dục, nhưng chúng ta chẳng nhận ra nó chút nào. Chúng ta thậm chí không thừa
nhận nó một cách đầy đủ. Điều này là vì chúng ta không có sáng tỏ của tâm trí,
cũng không có cảm giác về cái bí ẩn để nhận ra nó, để hiểu nó hay để kinh
nghiệm nó. Và do vậy chúng ta ở cực kì xa xôi với việc hiểu quá trình có thể
đưa chúng ta từ dục tới samadhi. Ngay khi con người hiểu ra và tôn kính quá
trình siêu việt này, người đó sẽ đưa tới trật tự mới và cao hơn của xã hội.
Đàn
ông và đàn bà là hai cực khác nhau, cực dương và cực âm của năng lượng. Gặp gỡ
đúng đắn của hai cực này làm hoàn chỉnh một mạch và tạo ra một loại điện. Và
hiểu biết trực tiếp về điện này là có thể nếu thời kì giao hợp, khi bạn đang
buông xuôi sâu sắc và đầy đủ cho lẫn nhau, có thể duy trì trong thời gian lâu
hơn. Nếu nó có thể được kéo dài trong một giờ, điện tích cao tạo ra vầng hào
quang điện sẽ tự nó tiến hoá; nếu dòng điện thân thể đi trọn toàn bộ và đầy
đặn, người ta thậm chí còn có thể thấy một đường ánh sáng trong bóng tối. Một
đôi kinh nghiệm dòng điện năng lượng này thì đang uống chiếc cốc tràn đầy nhất
của cuộc sống.
Nhưng
chúng ta không nhận biết gì về hiện tượng này. Chúng ta thấy bài nói như vậy là
rất kì lạ bởi vì chúng ta không tin vào điều chúng ta chưa kinh nghiệm. Nhưng
tôi nói, nếu bạn còn chưa gặp phải kinh nghiệm này, bạn nên nghĩ về nó và thử
lại. Bạn nên ôn lại cuộc sống mình, đặc biệt chương về dục, từ ABC. Dục không
nên chỉ là công cụ giải trí, nó cũng nên là phương tiện cho việc đi lên về tâm
linh. Dục là quá trình logic. Tôi không nghĩ việc ra đời của Christ hay của
Mahavira hay của Phật là ngẫu nhiên; mỗi sự sinh thành đều là kết quả của hợp
nhất đầy đủ nhất của hai người. Hợp nhất càng sâu sắc, kết quả càng tốt hơn.
Nhưng ngày nay, phẩm chất của nhân loại đang chìm xuống ngày một thấp hơn. Một
số người trách cứ điều đó dựa trên suy đồi của các chuẩn đạo đức, trong khi
những người khác lại coi nó là hiệu ứng của Kaliyuga, thời kì hỗn loạn đã định
sẵn, nhưng tất cả các giả thuyết này đều sai và vô giá trị.
Suy
đồi trong con người chính là do sự thô bỉ của thái độ chúng ta đối với dục,
trong cả lí thuyết cũng như thực hành. Dục đã mất đi cái thiêng liêng nguyên
thuỷ của nó. Cái cảm giác kính trọng nguyên thuỷ con người có với dục đã bị làm
lu mờ. Dục đã bị suy thoái thành cơn ác mộng máy móc. Và thái độ này với dục để
lộ ra bạo hành tinh vi, theo nghĩa đen của từ này. Dục không còn là kinh nghiệm
của tình yêu nữa. Dục không còn là phương tiện của điều thiêng liêng. Dục không
còn là hành động thiền. Và bởi vì điều này, nhân loại đang sa ngã dần vào trong
vực thẳm.
Kết
quả của bất kì điều gì chúng ta làm cũng đều phụ thuộc vào thái độ tâm trí
chúng ta làm điều đó. Nếu nhà điêu khắc say tạc tượng, bạn có trông đợi người
đó sáng tạo ra công trình nghệ thuật đẹp không? Nếu nữ diễn viên ba lê đang
nhảy múa, bạn có trông đợi từ cô ấy buổi diễn điêu luyện không nếu cô ấy đang
rối loạn, giận dữ hay tràn đầy buồn rầu? Tương tự, cách tiếp cận của chúng ta
tới dục đã bị sai.
Dục
là chuyện hay bị lãng quên nhất trong các kiếp sống của chúng ta. Chẳng phải đó
là sai lầm cực kì đó sao rằng hiện tượng mà sự sinh sản của cuộc sống phụ thuộc
vào, mà con cái mới phụ thuộc vào, mà linh hồn mới đi vào trong thế giới này
phụ thuộc vào, lại thường bị lãng quên nhiều nhất? Bạn có lẽ không nhận biết
rằng cực đỉnh trong giao hợp tạo ra tình huống trong đó linh hồn giáng xuống,
và cuộc sống mới do đó được thụ thai. Bạn chỉ tạo ra hoàn cảnh thôi; khi hoàn
cảnh cần thiết và thích hợp cho một linh hồn đặc biệt được đáp ứng, thì linh
hồn đó được sinh ra. Phẩm chất của linh hồn này có liên quan tới hoàn cảnh đó.
Con cái được thụ thai trong giận dữ, mặc cảm hay lo lắng thì bị khổ sở từ lúc
sinh.
Tiêu
chuẩn về con cháu chúng ta có thể được cải thiện, nhưng để thụ thai linh hồn
cao cấp hơn thì hoàn cảnh cũng phải mang phẩm chất cao hơn. Chỉ thế thì những
linh hồn cao siêu mới có thể được sinh ra; chỉ thế thì chuẩn cho nhân loại
chung cuộc mới được nâng cao lên. Đó là lí do tại sao tôi nói rằng khi con
người đã quen thuộc với khoa học về dục, với nghệ thuật về dục, khi người đó có
khả năng truyền đạt tri thức này cho thanh niên và người già, chúng ta sẽ có
khả năng tạo ra hoàn cảnh sẽ cho sinh thành ra điều Aurobindo và Nietzsche đã
gọi là Siêu nhân. Một hậu thế như vậy có thể được sinh ra! Một thế giới như vậy
có thể được tạo ra! Nhưng trước đó thì không thể có tiến bộ; trước đó thì không
thể có an bình trên thế giới; trước đó thì chiến tranh không thể dự kiến trước
được, hận thù không thể bị dẹp đi, vô đạo đức không thể chữa lành được, cái ác
không thể nào trừ tiệt được, truỵ lạc không thể nào bị nhổ bật gốc rễ và bóng
tối hiện tại không thể nào bị quét đi.
Cho
dù chúng ta có bắt ép tất cả các tiện nghi và canh tân vào phục vụ; cho dù các
chính khác, các nhà xã hội và các lãnh tụ tôn giáo có làm hết sức mình, chiến
tranh vẫn cứ không dừng lại, căng thẳng sẽ không bị xoá đi, và bạo hành cùng
ghen tị sẽ không biến mất. Trong mười nghìn năm qua, các tổ sư, chúa cứu thế và
các lãnh tụ đã từng thuyết giảng chống lại chiến tranh, chống lại bạo hành,
chống lại giận dữ vân vân - nhưng chẳng ai chịu nghe cả. Ngược lại, chúng ta
giết người đã thuyết giảng về cẩm nang tình yêu, người đã cố gắng dạy chúng ta
không bạo hành, người đã chỉ cho chúng ta con đường tâm linh. Gandhi dạy chúng
ta thực hành phi bạo lực, làm thuần khiết linh hồn chúng ta, để sống trong hài
hoà với nhau, và chúng ta đã thưởng cho ông ấy viên đạn. Đó là cách chúng ta
bầy tỏ lòng biết ơn của mình với phục vụ cao quí của ngài.
Tất
cả các tổ sư của nhân loại, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, đều không thành
công. Họ đã thất bại. Không một ý tưởng và giá trị nào được họ mường tượng và
khởi xướng lại đem lại kết quả. Không người nào trong họ đã có khả năng đưa ra
liều thuốc bách bệnh thực tế; tất cả các ý tưởng nghe cao siêu của họ đều thất
bại. Vĩ đại hơn điều vĩ đại nhất, vàng son hơn điều vàng son nhất - tất cả đều
không đạt tới gì cả. Họ đã tới, họ đã thuyết giảng, và họ đã qua đi. Và con
người vẫn loạng choạng trong bóng tối, vẫn chìm sâu hơn trong một loại địa ngục
trên trái đất. Điều này chẳng chứng tỏ đã có một nhận thức sai cơ bản nào đó
trong giáo huấn của họ và trong điều họ đã thuyết giảng sao?
Con
người thất vọng bởi vì người đó được thai nghén trong thất vọng. Người đó đem
mầm mống của thất vọng từ ngay chính lúc ban đầu; chính linh hồn của người đó
bị mắc bệnh. Bệnh này, bệnh ung thư khổ và buồn này, được bắt rễ trong chiều
sâu của linh hồn người ấy. Toàn bộ con người của người ấy được tạo thành vào
khoảnh khắc người ấy được thụ thai, và do vậy các Phật sẽ thất bại, các
Mahavira sẽ thất bại, các Christ sẽ thất bại, các Krishna sẽ thất bại. Họ tất
cả đều đã thất bại.
Chúng
ta có thể không thừa nhận điều đó một cách công khai, do ý thức tới lịch sự hay
xã giao, nhưng nhân loại đang trở nên ngày một vô nhân đạo hơn từng ngày một.
Mặc cho biết bao nhiêu bài nói về bất bạo lực, tình yêu và dung thứ, chúng ta
chỉ vượt lên hơn bản thân mình bằng việc tiến tới bom cô ban từ dấu chữ thập.
Tôi được biết rằng chúng ta đã giết quãng ba mươi triệu người trong cuộc chiến
tranh thế giới thứ nhất - và sau cuộc đình chiến ngắn chúng ta đã nói về hoà
bình và tình yêu. Trong chiến tranh thế giới thứ hai chúng ta đã giết bẩy mươi
lăm triệu người - và sau đó chúng ta bắt đầu thương lượng về hoà bình và cùng
tồn tại một lần nữa. Từ Bertrand Russell tới Vinoba, mọi người đều kêu rằng
phải duy trì hoà bình, và vậy mà chúng ta lại chuẩn bị cho cuộc đại chiến thứ
ba. Và theo so sánh, cuộc chiến này sẽ làm cho các cuộc chiến trước đó dường
như là trò chơi trẻ con.
Ai
đó có lần đã hỏi Einstein điều gì có thể xảy ra trong chiến tranh thế giới thứ
ba. Einstein nói ông ấy không thể nói trước điều gì về chiến tranh thứ ba cả,
nhưng điều ông ấy có thể tiên đoán cái gì đó về chiến tranh thế giới thứ tư.
Rất ngạc nhiên, người hỏi hỏi thế nào, Einstein đáp rằng một điều chắc chắn về
chiến tranh thế giới thứ tư, và đó là sẽ không có chiến tranh thế giới thứ tư,
bởi vì không có khả năng nào cho bất kì ai còn sống sót qua chiến tranh thế
giới thứ ba.
Đây
là kết quả của các giáo lí đạo đức và tôn giáo của nhân loại, nhưng nguyên nhân
nằm ở đâu đó và đang cần xem xét lại một cách khẩn thiết. Chừng nào và trừ phi
chúng ta thành công trong việc đem lại hài hoà cho hành động dục, trong việc
phổ biến cú pháp tâm linh cho dục, trong việc đi tới tôn kính dục như cánh cổng
đi tới samadhi, bằng không nhân loại tốt hơn sẽ không thể nào đi vào hiện hữu
được. Chừng nào điều này chưa xảy ra, chắc chắn rằng nhân loại sắp tới sẽ còn
tồi hơn điều tồi tệ nhất, bởi vì con cái thấp kém của ngày hôm nay sẽ trải qua
dục và sẽ tạo ra con cái còn tồi hơn bản thân chúng. Phẩm chất của từng thế hệ
mới sẽ kém đi mãi; điều này ít nhất cũng có thể tiên đoán được. Nhưng chúng ta
đã đạt tới mức độ thấp đến mức, nhiều nhất, cũng không có việc hạ thấp thêm
nữa. Toàn thế giới đã gần trở thành một nhà thương điên khổng lồ.
Theo
con số thống kê người ta đã soạn ra, các nhà tâm thần Mĩ đã suy luận ra rằng
chỉ mười tám phần trăm dân số thành phố New York có thể được coi là bình thường
về tâm thần. Nếu chỉ mười tám phần trăm là bình thường về tâm thần, thế thì
điều kiện của tám mươi hai phần trăm còn lại là gì? Họ đang trong trạng thái
tan rã thực sự. Và bản thân bạn cũng sẽ ngạc nhiên mà biết về khối lượng điên
khùng đang ẩn bên trong bạn nếu bạn chỉ ngồi im lặng trong một góc và suy ngẫm
về bản thân mình trong một khoảnh khắc. Cách thức bạn kiểm soát và ngăn chặn
cái điên khùng của mình tuy thế lại là vấn đề khác. Một thoáng thất bại xúc
động và bất kì người nào cũng đều có thể trở thành điên cuồng theo đúng nghĩa.
Hoàn
toàn có thể là trong thời gian một trăm năm toàn bộ thế giới sẽ trở thành một
nhà thương điên khổng lồ. Tất nhiên, một mặt, sẽ có nhiều ưu điểm: chúng ta sẽ
không cần chữa trị cho điên khùng; chúng ta không cần các nhà tâm thần để chữa
thần kinh. Không ai sẽ cảm thấy mình điên cả, bởi vì triệu chứng đầu tiên của
người điên là ở chỗ người đó sẽ không bao giờ thừa nhận mình điên. Căn bệnh này
cứ tăng lên mãi. Bệnh tật này, phiền não tinh thần này, bóng tối tinh thần này,
vẫn còn tăng lên nữa. Nhân loại mới không bao giờ có thể được sinh ra trừ phi
dục được thăng hoa, trừ phi hành động dục trở thành thiêng liêng.
Tôi
đã nhấn mạnh vào một ý tưởng chắn chắn trong ba ngày qua: con người mới phải
được sinh ra! Linh hồn của con người đang khắc khoải để leo lên các đỉnh cao,
để đạt tới bầu trời, để được chứng ngộ như mặt trăng và các vì sao, để nở hoa
như đoá hoa, để làm ra âm nhạc, để nhảy múa. Linh hồn con người đang trong
phiền não; linh hồn con người đang khát bỏng. Nhưng con người mù quáng. Con
người cứ du hành lòng vòng trong cái vòng luẩn quẩn: người đó không thể nào bứt
ra khỏi nó; người đó không thể nào vươn lên trên nó. Nguyên nhân là gì? Có một
nguyên nhân, và một nguyên nhân duy nhất: quá trình sinh sản hiện tại của con
người là ngớ ngẩn; nó đầy những cái điên khùng. Và nó là như vậy bởi vì chúng
ta đã không có khả năng làm cho dục trở thành cánh cửa tới samadhi. Hành động
dục có chứng ngộ có thể mở ra cánh cổng tới samadhi.
Trong
ba ngày nay tôi đã khởi thảo mới vài nguyên tắc. Bây giờ tôi muốn tóm tắt lại
một điểm và thế rồi kết luận cho bài nói hôm nay.
Tôi
muốn nói rằng những người đưa chúng ta ra xa khỏi chân lí của cuộc sống là kẻ
thù của nhân loại. Những người bảo bạn đừng bao giờ nghĩ về dục là kẻ thù của
bạn; họ đã không cho phép bạn nghĩ về điều đó, suy ngẫm về điều đó. Nếu không
thì làm sao có thể có việc chúng ta vẫn còn chưa phát triển thái độ hợp lí đối
với chủ đề này?
Hơn
nữa, những người nói rằng dục không có liên quan gì tới tôn giáo thì hoàn toàn
không đúng, bởi vì chính năng lượng dục, dưới dạng đã được biến đổi và được làm
thuần khiết, đi vào cõi tôn giáo. Việc làm thuần khiết năng lượng sống này nâng
con người lên những cõi mà chúng ta còn biết rất ít về chúng. Việc biến đổi
năng lượng dục của mình nâng con người lên một thế giới không có chết, không có
buồn, lên một thế giới không có gì ngoài niềm vui, niềm vui thuần khiết. Và bất
kì ai sở hữu năng lượng này, sinh lực này, đều có thể nâng mình lên cõi giới
của tâm thức vui vẻ, chân thực, tới satchitanand.
Nhưng
chúng ta đã lãng phí năng lượng này. Chúng ta giống như cái gầu với lỗ thủng ở
đáy, và chúng ta dùng cái gầu này để kéo nước từ giếng lên. Nhưng tất cả nước
dò rỉ hết trong quá trình này và cái chúng ta kết thúc là cái gầu rỗng. Chúng
ta giống như con thuyền với lỗ thủng ở đáy: chúng ta chèo thuyền chỉ để chìm.
Thuyền như vậy không bao giờ có thể đạt tới bờ bên kia; định mệnh của nó là
chìm ở giữa dòng. Tất cả dò rỉ này là do chệch hướng sai của luồng năng lượng dục.
Những
người trưng bầy ảnh khoả thân, viết sách khiêu dâm và sản xuất phim dâm đãng
không chịu trách nhiệm về dò rỉ năng lượng này. Trách nhiệm cho những loại hư
hỏng này nằm ở những người đã đặt rào chắn lên con đường của hiểu biết về dục.
Chính bởi vì những người này ảnh khoả thân mới thành nhu cầu, sách con lợn mới
được bán, phim cởi truồng mới được làm, và chúng ta thấy những kết quả bẩn thỉu
và ngớ ngẩn hàng ngày. Người chịu trách nhiệm là những người chúng ta gọi là
thánh nhân và thầy tu. Nhưng nếu bạn nhìn sâu vào trong nó, bạn sẽ thấy rằng họ
là những tác nhân quảng cáo thực cho khiêu dâm.
Một
câu chuyện nhỏ và tôi sẽ kết thúc bài nói hôm nay.
Một
linh mục nào đó vừa định tiến hành buổi lễ ở nhà thờ của làng gần đó. Ông ta
gần như chạy để tới đó đúng giờ. Đi ngang qua cánh đồng trên đường, ông ấy thấy
một người bị thương đang ngã sóng soài trong mương bên cạnh. Một con dao nhô ra
từ ngực người này và anh ta đang bị chảy máu. Ông linh mục cân nhắc việc nâng
anh ta dậy và chăm sóc anh ta, nhưng với ý nghĩ thứ hai, ông ta cảm thấy điều
đó có thể làm chậm mất việc tới nhà thờ của mình. Ông ta đã chọn “Tình yêu” làm
chủ đề cho buổi lễ; ông ấy đã quyết định bình về câu châm ngôn nổi tiếng của
Christ, “Tình yêu là Thượng đế.” Ông ta đã chuẩn bị về mặt tinh thần lời bình
luận của mình khi ông ta vội vã đi trên đường.
Nhưng
người bị thương này mở mắt ra và kêu lên, “Thưa cha, con biết rằng cha đang đi
tới nhà thờ để thuyết giảng buổi lễ về chủ đề tình yêu. Con đã tới dự nhà thờ
nữa, nhưng bọn cướp đã đâm con và ném con xuống đây. Xin cha nghe con, nếu con
còn sống con sẽ kể cho mọi người rằng một người sắp chết bên đường và rằng,
thay vì cứu anh ta, cha lại chạy đi để thuyết giảng trong buổi lễ về tình yêu.
Con cảnh cáo cha, chớ có bỏ con.”
Điều
này làm cho linh mục hoảng sợ chút ít. Ông ta hiểu rằng nếu người này mà còn
sống và kể lại sự vụ này, mọi người trong làng sẽ nói rằng buổi lễ của ông ấy
tất cả chỉ là trò bịp bợm. Vị linh mục không lo lắng về người sắp chết, nhưng
lo về ý kiến công chúng, cho nên ông ta tiến lại người này một cách bất đắc dĩ.
Khi ông ấy tới gần hơn ông ấy thấy khuôn mặt người này rõ ràng hơn: dường như
là quen quen nào đó. Ông ta nói, “Con ta, dường như là ta đã gặp con đâu đó
trước đây.”
Người
bị thương nói, “Ông phải đã gặp rồi. Ta là quỉ Satan, và ta có quan hệ rất lâu
đời với các linh mục và nhà lãnh đạo tôn giáo. Nếu ta không quen thuộc với ông,
thế thì còn ai khác sẽ có thể?”
Linh
mục thế rồi mới nhớ lại anh ta một cách rõ ràng; ông ta đã thấy ảnh của người
này trong nhà thờ. Ông ấy lùi lại. Ông ấy nói, “Ta không thể cứu mi. Tốt hơn cả
là mi chết đi. Mi là quỉ Satan. Chúng ta bao giờ cũng muốn mi chết đi và cũng
tốt là mi đang sắp chết. Tại sao ta phải cố gắng cứu mi? Thậm chí chạm vào mi
cũng là tội lỗi. Ta đi đường của ta đây.”
Satan
cười to và nói, “Nghe đây, cái ngày ta chết thì mi cũng thất nghiệp thôi; mi
không thể tồn tại mà thiếu ta được. Mi là người mi đang là bởi vì ta đang sống;
ta là cơ sở cho nghề nghiệp của mi. Tốt hơn cả là mi cứu ta đi, bởi vì nếu ta
chết thì tất cả các linh mục và các nhà truyền giáo sẽ thất nghiệp. Họ sẽ trở
nên tuyệt chủng; sẽ không có bất kì nhu cầu thêm nào về họ nữa.”
Linh
mục nghĩ đi nghĩ lại trong một lúc và thấy chân lí trong đó. Ngay lập tức, ông
ta nâng người sắp chết lên vai mình và nói, “Satan yêu mến của ta, đừng lo. Ta
đang mang mi tới bệnh viện để chữa trị. Nhanh chóng mạnh khoẻ lên. Chớ có chết,
lạy chúa, mi cũng phải đấy; nếu mi chết thì chúng ta sẽ thất nghiệp.”
Có
lẽ bạn không thể quan niệm nổi rằng Satan là gốc rễ của tu sĩ và rằng tu sĩ
đứng sau công trình của Satan, nhưng Satan rất bận rộn trong khai thác dục và
khai thác dục là ở gốc rễ của mọi điều. Qua sương mù, chúng ta không thể thấy
rằng tu sĩ đứng sau tất cả chấn động này, rằng dục đã trở thành ngày càng hấp
dẫn hơn bởi vì thoái hoá của nó do các tu sĩ gây ra, rằng con người đã trở
thành ngày một thèm khát hơn bởi vì việc nói xấu liên tục về dục của các tu sĩ.
Các tu sĩ càng cố gắng triệt tiêu ý nghĩ của người ta về dục thì nó lại càng
trở nên bí ẩn hơn, nó lại càng làm phát sinh tò mò hơn.
Con
người bất lực; con người là nô lệ cho dục, và bất lực này là bị coi thường.
Chúng ta muốn tri thức, không phải dốt nát. Tri thức về riêng nó là sức mạnh,
còn tri thức về dục thì thậm chí lại là sức mạnh lớn hơn. Thật nguy hiểm mà tiếp
tục sống trong dốt nát về dục.
Có
thể là chúng ta không lên tới mặt trăng. Không có nhu cầu thực để lên tới mặt
trăng. Loài người có thể chẳng lợi lộc gì nhiều nếu chúng ta lên tới mặt trăng,
mà thế giới cũng không đi tới kết thúc nếu chúng ta không thể đạt tới chiều sâu
tám cây số dưới Thái bình dương, nơi ánh mặt trời không thể xuyên thấu vào đó.
Việc đạt tới những điều này sẽ không làm lợi cho loài người mấy. Cũng chẳng
quan trọng ghê lắm liệu chúng ta có chẻ nguyên tử ra được hay không. Nhưng để thành
công trong việc tạo ra con người mới, vấn đề của mối quan tâm tối thượng và là
vấn đề cực kì cần thiết là chúng ta chấp nhận dục, là chúng ta đi tới biết đầy
đủ về dục, là chúng ta hiểu nó và là chúng ta siêu việt lên trên nó.
Tôi
đã giải thích đôi điều cho bạn trong ba ngày qua, và ngày mai tôi sẽ cố gắng để
trả lời các câu hỏi của các bạn. Các câu hỏi của các bạn nên được đưa ra một
cách trung thực; thái độ mà các bạn vừa hỏi về linh hồn và về Thượng đế sẽ
không có tác dụng đâu. Đây là câu hỏi về việc sống, về cuộc sống, và chỉ nếu
việc hỏi của bạn là trực tiếp và trung thực thì chúng ta có thể đào sâu vào chủ
đề này được. Chân lí bao giờ cũng sẵn sàng để được khám phá; chúng ta chỉ đòi
hỏi sự tò mò có ý thức, trung thực và đúng đắn để đi tới biết nó. Nhưng không
may là điều đó chúng ta lại thiếu.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment